Tuy nhiên trong số các cơ quan, tổ chức của nhà nước có những nơi không có tổ chức thanh tra nhà nước chuyên nghiệp, chính vì vậy bản thân thủ trưởng, người đứng đầu các tổ chức, đơn vị
Trang 1b¸o c¸o Tæng thuËt
- Thư ký đề tài: DƯƠNG HỒNG THÀNH
Cục Chống tham nhũng - Thanh tra Chính phủ
7893
Hà Nội, 6 - 2009
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 5
DANH MỤC TÀI LIỆU VIẾT TẮT 6
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 7
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 8
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 11
5.1 Phương pháp chung 11
5.2 Phương pháp riêng 11
6 Kết cấu của Đề tài 11
CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG VÀ THANH TRA, KIỂM TRA TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG 14
I.1 Các loại hình đơn vị sự nghiệp công chủ yếu hiện nay và quy chế pháp lý của từng loại hình đơn vị sự nghiệp công 14
I.1.1 Khái niệm và phân loại các đơn vị sự nghiệp công hiện nay 14
I.1.1.1 Khái niệm 14
I.1.1.2 Khái niệm sự nghiệp và phục vụ 16
I.1.2 Vai trò của đơn vị sự nghiệp công trong quá trình đổi mới 23
I.1.3 Thực trạng về hoạt động của đơn vị sự nghiệp công 25
I.2 Một số vấn đề về công tác thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công 38
I.2.1 Sự cần thiết và một số đặc điểm của công tác thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công 38
I.2.1.1 Sự cần thiết của công tác thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công 38
I.2.1.2 Một số đặc điểm của công tác thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công 39
I.2.1.2 Trách nhiệm của thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp công trong công tác thanh tra, kiểm tra trong đơn vị 41
I.2.1.3 Những dạng sai phạm chủ yếu trong các loại hình đơn vị sự nghiệp công 43
I.2.1.4.Nội dung thanh tra, kiểm tra trong đơn vị sự nghiệp công 43
I.2.1.5 Tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra trong đơn vị sự nghiệp công 45
Trang 3CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA
TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG 49
II.1 Các quy định của pháp luật về đơn vị sự nghiệp công liên quan đến công tác thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công 49
II.2 Khái quát thực trạng chung về công tác tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công 52
II.2.1 Tổ chức và hoạt động thanh tra kiểm tra đơn vị sự nghiệp công những năm qua 52
II.2.1.1 Thanh tra thủ trưởng 52
II.2.1.1 Hoạt động thanh tra, kiểm tra của đơn vị chủ quản 54
II.2.1.2 Thanh tra nhân dân ở đơn vị sự nghiệp công 58
II.2.2 Những khó khăn vướng mắc trong hoạt động thanh tra, kiểm tra các đơn vị sự nghiệp công 61
II.2.2.1 Những khó khăn vướng mắc trong hoạt động thanh tra thủ trưởng trong các đơn vị sự nghiệp công 61
II.2.2.2 Những vướng mắc khó khăn trong công tác thanh tra đơn vị sự nghiệp công 62
II.2.2.3 Hạn chế, vướng mắc trong sự phối kết hợp giữa thanh tra, kiểm tra nội bộ với hoạt động của thanh tra nhân dân trong đơn vị sự nghiệp công 66
II.3.1 Công tác thanh tra, kiểm tra trong hoạt động của Đài Truyền hình Việt Nam 67
II.3.1.1 Khái quát về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Đài truyền hình Việt Nam 67
II.3.1.2 Đặc thù của công tác thanh tra, kiểm tra của Đài THVN 68
II.3.1.3 Vai trò Ban Kiểm tra trong hoạt động của Đài THVN 71
Trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo tăng cường ổn định nội bộ cơ quan 72
II.3.2 Công tác thanh tra, kiểm tra trong hoạt động tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh 75
II.3.2 1 Chức năng, nguyên tắc, hình thức hoạt động và nhiệm vụ thanh tra giáo dục tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia 75
II.3.2 2 Thực trạng về tổ chức, hoạt động của thanh tra giáo dục 76
II.3.2.3 Thực trạng về hoạt động thanh tra đào tạo 77
II.3.2 4 Sự cần thiết phải tăng cường tổ chức và nâng cao hiểu quả hoạt động của thanh tra đào tạo 79
II.3.3 Công tác thanh tra, kiểm tra tại trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội 82
II.3.3.1 Một vài nét về trường Đại học GTVT 82
II.3.3.2 Những quy định pháp luật liên quan đến công tác thanh tra, kiểm tra tại Trường Đại học giao thông vận tải 83
II.3.3.3 Tổ chức, hoạt động và quyền hạn của bộ phận Thanh tra, kiểm tra của Trường Đại học giao thông vận tải 84
Trang 4Đại học Giao thông vận tải và các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra 88
II.3.3.6 Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra ở Trường Đại học Giao thông vận tải 90
CHƯƠNG III PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG 94
III.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả của công tác tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công 94
III.1.1 Phương hướng đổi mới tổ chức, hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với đơn vị sự nghiệp công 94
III.1.2 Phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra nội bộ trong đơn vị sự nghiệp công 96
III.1.3 Phương hướng về xây dựng mô hình tổ chức thanh tra nội bộ trong đơn vị sự nghiệp công phù hợp với yêu cầu xã hội hóa các dịch vụ công 97
III.1.4 Tăng cường tính tự chủ, độc lập trong hoạt động thanh tra thủ trưởng 98
III.1.5 Đối mới phương thức tiến hành thanh tra 98
III.1.6 Tăng cường tính phối hợp 99
III.1.7 Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy trình về thanh tra nội bộ trong các đơn vị sự nghiệp 100
III.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công 101
III.2.1 Nâng cao nhận thức về thanh tra nội bộ như một công cụ hữu hiệu góp phần phục vụ công tác quản lý của thủ trưởng đơn vị sự nghiệp công 101
III.2.2 Xây dựng mô hình tổ chức thanh tra nội bộ phù hợp với yêu cầu quản lý theo xu hướng tăng cường vai trò tự chủ của đơn vị sự nghiệp công 102
III.2.3 Tăng cường phối kết hợp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra,kiểm tra trong đơn vị sự nghiệp công 104
III.2.4 Tăng cường năng lực cán bộ đảm nhiệm công tác thanh tra nội bộ trong đơn vị sự nghiệp công 105
III.2.5 Hoàn thiện cơ chế chính sách, pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động thanh tra nội bộ 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài khoa học cấp bộ: “Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công” Ban chủ nhiệm đề tài đã gặp nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu một lĩnh vực có nội dung sâu, rộng và liên quan đến nhiều khái niệm, nhiều kiến thức thuộc về nhiều ngành nghề khác nhau như: giáo dục, y tế, thể thao, nghiên cứu khoa học Để có thể đánh giá thực trạng tổ chức và cơ sở pháp lý của hoạt động thanh tra trong các đơn vị sự nghiệp công từ đó tìm ra những nguyên nhân và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này cần có sự giúp đỡ rất nhiều chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau
Chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các bạn đồng nghiệp trong
và ngoài cơ quan đã giúp Ban chủ nhiệm đề tài làm sáng rõ những vấn đề trong
mô hình tổ chức và hoạt động của công tác thanh tra, kiểm tra tại các đơn vị sự nghiệp công tại Việt Nam hiện nay
Ban chủ nhiệm đề tài xin chân thành cảm ơn tới Hội đồng Khoa học cơ quan Thanh tra Chính phủ, tập thể Viện Khoa học Thanh tra đã tạo điều kiện để chúng tôi hoàn thành đề tài này
Thay mặt Ban chủ nhiệm đề tài tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ đó./
Chủ nhiệm đề tài:
ThS.Nguyễn Thanh Hải
Trang 6DANH MỤC TÀI LIỆU VIẾT TẮT
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Công tác thanh tra, kiểm tra là một khâu không thể thiếu trong mọi hoạt động quản lý, kể cả quản lý mang tính chất nhà nước hay quản lý có tính chất nội bộ trong các cơ quan, tổ chức đơn vị, trong khu vực công và cả khu vực tư Hoạt động thanh tra ở mỗi thời kỳ khác nhau, đối với mỗi đối tượng khác nhau có những đặc điểm riêng đòi hỏi hoạt động này phải được tiến hành theo những trình tự, thủ tục
và phương pháp thích hợp Hiện nay theo quy định của Luật thanh tra đã phân chia thành hai loại hình là Thanh tra hành chính và Thanh tra chuyên ngành
Tuy nhiên sau khi Luật thanh tra năm 2004 có hiệu lực thì sự phân chia này thực chất cũng chỉ mang tính tương đối và đều do các cơ quan thanh tra nhà nước tiến hành; mọi hoạt động quyền hành của các cơ quan này đều mang tính quyền lực nhà nước Tuy nhiên trong số các cơ quan, tổ chức của nhà nước có những nơi không có tổ chức thanh tra nhà nước chuyên nghiệp, chính vì vậy bản thân thủ trưởng, người đứng đầu các tổ chức, đơn vị này phải tiến hành việc tự kiểm tra thanh tra trong đơn vị của mình, đó chính là hoạt động thanh tra kiểm tra mang tính chất nội bộ trong các đơn vị sự nghiệp công Như vậy, để bảo đảm các đơn vị sự nghiệp hoạt động đúng pháp luật vừa cần có sự thanh tra từ bên ngoài, do các cơ quan thanh tra nhà nước tiến hành, vừa kết hợp với công tác thanh tra kiểm tra nội
bộ của bản thân đơn vị sự nghiệp công đó (từ trước đến nay vẫn thường được gọi là thanh tra của thủ trưởng) Trên thực tế do quá trình sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp
và việc đổi mới cơ chế quản lý đối với các loại đơn vị này nên tổ chức và hoạt động của nó có nhiều thay đổi, các đơn vị sự nghiệp đã được ngày càng được trao quyền
tự chủ tự chịu trách nhiệm nhiều hơn dưới sự giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tổ chức và hoạt động thanh tra trong các đơn vị sự nghiệp là vấn đề chưa từng được nghiên cứu và cũng chưa được pháp luật quy định cụ thể mặc dù đã
Trang 8có rất nhiều quy chế pháp lý quy định chức năng quyền hạn và nhiệm vụ, trách nhiệm của các đơn vị này Chính vì vậy cho đến nay, tổ chức và hoạt động thanh tra của các đơn vị sự nghiệp được thực hiện một cách tuỳ tiện, tự phát thiếu tính chuyên nghiệp do vậy, hiệu quả, hiệu lực chưa cao Trong khi đó, chúng ta biết rằng, công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ càng tốt bao nhiêu thì những khó khăn vướng mắc và những hành vi vi phạm pháp luật, những vụ việc sai phạm về kinh tế lớn càng có cơ hội được hạn chế ngay từ ban đầu Chính vì vậy cần thiết phải có sự nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này để từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản thích hợp điều chỉnh vấn đề này
Có thể thấy vấn đề này trước mắt là là một trong những nội dung cần sửa đổi, bổ
sung của Luật thanh tra Đó là lý do của việc nghiên cứu đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công”
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công nói chung và kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của bộ phận này đã được nhiều nhà khoa học quan
tâm nghiên cứu, có thể kể ra một số công trình và bài viết sau đây:
- Văn Tiến Mai: Những quy định pháp luật về thanh tra chuyên ngành trong một số lĩnh vực – các vướng mắc và giải pháp(Kỷ yếu nghiên cứu khoa học thanh tra 1999 -2002, tập 5);
- Nguyễn Hữu Lượng: Suy nghĩ về thanh tra Việt Nam và đổi mới hệ thống thanh tra giáo dục (Kỷ yếu nghiên cứu khoa học thanh tra 1999 -2002, tập 5);
- Nguyễn Đức Doanh: Thanh tra Y tế những mặt được và một số vấn đề cần nghiên cứu(Kỷ yếu nghiên cứu khoa học thanh tra 1999 -2002, tập 5);
- Phạm Văn Khanh: Một số vấn đề về phương án lựa chọn mô hình tổ chức, hoạt động thanh tra (Kỷ yếu nghiên cứu khoa học thanh tra 1999 -2002, tập 6);
- Lê Văn Võ: Thanh tra nhân dân trong các doanh nghiệp và cơ quan hành
Trang 9chính sự nghiệp (Kỷ yếu nghiên cứu khoa học thanh tra 1999 -2002, tập 3);
- Nguyễn Bá Thu: Thanh tra nhân dân trong nhà trường – Thực trạng và giải pháp(Kỷ yếu nghiên cứu khoa học thanh tra 1999 -2002, tập 3);
- Đồng Quang Hưng: Những vấn đề đặt ra từ thực tế triển khai thực hiện Luật thanh tra(Tạp Chí Thanh tra số 10/2007);
- Ths Nguyễn Tiến Tùng: Cần có những quy định riêng cho hoạt động thanh
tra chuyên ngành(Tạp Chí Thanh tra số 7/2007);
- Tuấn Đạo Thanh: Thanh tra, kiểm tra trong hoạt động công chứng (Theo Tạp chí Thanh tra, Số 2/2007)
-PGS,TS Trần Hậu Kiêm: Hoạt động thanh tra nhân dân – thực trạng và giải
pháp
Những tài liệu nói trên là nguồn tư liệu quý, có giá trị tham khảo, kế thừa để tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài của mình Tuy nhiên, những công trình nói trên mới đề cập đến hoạt động và phân tích mô hình tổ chức và hoạt động thanh tra kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công, tuy nhiên cách tiếp cận của các tác giả đều tập trung vào việc thanh tra, kiểm tra với tư cách là việc làm của các cơ quan thanh tra nhà nước hoặc thanh tra nhân dân! Thực tế cho thấy, hiện nay chưa có công trình nào đi sâu phân tích, tìm ra những kinh nghiệm sâu về quy chế pháp lý, đặc điểm của các đơn vị sự nghiệp công dưới góc độ vừa là đơn vị thuộc sự quản lý đặc thù của nhà nước và dưới góc độ là đơn vị hoạt động độc lập một cách tương đối nhằm mang lại lợi nhuận như một doanh nghiệp từ đó để đưa ra những mô hình
tổ chức tối ưu nhất
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Trang 10- Đề tài nghiên cứu những mô hình thanh tra của một số đơn vị sự nghiệp công cũng như một số quy chế pháp lý quy định cho hoạt động này tại Việt Nam trong thời gian vừa qua từ đó làm cơ sở pháp lý cho việc đổi mới và nâng cao hoạt động này
Nhiệm vụ:
- Làm rõ một số khái niệm về sự nghiệp công, thanh tra, kiểm tra tại đơn vị
sự nghiệp công tại Việt Nam;
- Nghiên cứu một số mô hình hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị
sự nghiệp công;
- Thực trạng chung của hoạt động động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị
sự nghiệp công trong thời gian vừa qua;
- Đánh giá thực trạng tổ chức và cơ sở pháp lý của hoạt động thanh tra trong các đơn vị sự nghiệp công trong thời gian qua, từ đó tìm ra những nguyên nhân và những giải pháp nhằm đổi mới tổ chức và nâng cao hoạt động này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu mô hình một số khái niệm căn bản về đơn vị sự nghiệp công, Những ưu điểm, hạn chế của một số quy chế pháp lý dành cho hoạt động thanh tra trong các đơn vị này;
- Đề tài tập trung nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của hoạt động thanh tra tại các đơn vị sự nghiệp công đặc thù như Đài truyền hình, các tổ chức giáo dục
- Chỉ ra những điểm bất cập quá trình hoạt động thanh tra trong đơn vị sự nghiệp công từ đó đề xuất các giải pháp trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm đã thực hiện ở một số đơn vị để đưa ra mô hình, tổ chức, quy chế pháp lý cho hoạt động này trong thời gian tới
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp chung
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Lênin về chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền và CCHC trong hoạt động thanh tra kiểm tra mang tính quyền lực nhà nước nói chung và hoạt động thanh tra, kiểm tra tại các đơn vị sự nghiệp công nói riêng
5.2 Phương pháp riêng
Nhóm thực hiện đề tài có sử dụng phương pháp thống kê, điều tra xã hôi học
để đánh giá chính xác thực trạng của hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị
sự nghiệp công hiện nay, qua đó sử dụng phương pháp phân tích, đối chiếu so sánh kết hợp kinh nghiệm thực tiễn công tác thanh tra hành chính với nghiên cứu lý luận nhằm làm sáng tỏ những nội dung đặc thù mà đề tài nghiên cứu
6 Kết cấu của Đề tài
Đề tài: “Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra , kiểm tra trong các đơn
vị sự nghiệp công” có kết cấu như sau:
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG VÀ THANH TRA, KIỂM TRA TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG
I Các loại hình đơn vị sự nghiệp công chủ yếu hiện nay và quy chế pháp lý của từng loại hình đơn vị sự nghiệp công
1 Khái niệm và phân loại các đơn vị sự nghiệp công
2 Vai trò của đơn vị sự nghiệp công trong quá trình đổi mới
3 Một số đặc điểm về hoạt động của đơn vị sự nghiệp công
Trang 124 Cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp công
II Một số vấn đề chung về công tác thanh tra, kiểm tra trong đơn vị sự nghiệp công
1 Sự cần thiết và một số đặc điểm của công tác thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công
2 Trách nhiệm của thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp công trong công tác thanh tra,kiểm tra đơn vị
3 Nội dung thanh tra, kiểm tra trong đơn vị sự nghiệp công
4 Tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra trong đơn vị sự nghiệp công
5 Mối quan hệ giữa công tác thanh tra, kiểm tra của đơn vị sự nghiệp công với hoạt động thanh tra của các tổ chức thanh tra nhà nước
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG
I Các quy định của pháp luật liên quan đến công tác thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công, những đặc thù và bất cập trong các quy định này
II Khái quát thực trạng chung về tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công những năm qua
1.Tổ chức và hoạt động thanh tra kiểm tra đơn vị sự nghiệp công những năm qua
2 Những khó khăn vướng mắc trong tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công
III Thực trạng về mô hình, tổ chức, hoạt động và một số vướng mắc, hạn chế trong hoạt động thanh tra, kiểm tra tại một số đơn vị sự nghiệp công tại Việt Nam
1 Công tác thanh tra, kiểm tra trong hoạt động đặc thù của Đài Truyền hình Việt Nam
2 Công tác thanh tra, kiểm tra trong hoạt động tại Học viện Hành chính Chính trị Quốc gia
Trang 13CHƯƠNG III MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA, KIỂM TRA TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG
I Phương hướng nâng cao hiệu quả của công tác tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công
1 Phương hướng đổi mới tổ chức, hoạt động thanh tra, kiểm tra, nói chung đối với đơn vị sự nghiệp công
2 Phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra nội bộ trong đơn vị sự nghiệp công nhằm tăng cường tính tự chủ trong quản lý tại các đơn
vị này theo hướng phát huy hết năng lực của các đơn vị này tiến tới xã hội hóa việc cung cấp dịch vụ cho xã hội
II Giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công
1 Nâng cao nhận thức về thanh tra nội bộ như một công cụ hữu hiệu góp
phần phục vụ công tác quản lý của thủ trưởng đơn vị sự nghiệp công
2 Xây dựng mô hình tổ chức thanh tra nội bộ phù hợp với yêu cầu quản lý theo xu hướng tăng cường vai trò tự chủ của đơn vị sự nghiệp công
3 Tăng cường phối kết hợp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra,kiểm tra trong đơn vị sự nghiệp công
4 Tăng cường năng lực cán bộ đảm nhiệm công tác thanh tra nội bộ trong
5 Hoàn thiện cơ chế chính sách, pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động thanh tra nội bộ
PHẦN KẾT LUẬN
Trang 14CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG
VÀ THANH TRA, KIỂM TRA TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG I.1 Các loại hình đơn vị sự nghiệp công chủ yếu hiện nay và quy chế pháp lý của từng loại hình đơn vị sự nghiệp công
I.1.1 Khái niệm và phân loại các đơn vị sự nghiệp công hiện nay
I.1.1.1 Khái niệm
“Sự nghiệp” là một từ có nguồn gốc từ Trung quốc Theo nghĩa rộng, đó là mục tiêu cao cả mà con người theo đuổi, ví dụ như: “vì sự nghiệp độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội”, hoặc là chiến tích trong một ngành, một lĩnh vực như trong cụm từ “thân thế và sự nghiệp của ” hay “sự nghiệp văn học của Nguyễn Du”,
"sự nghiệp quân sự của Trần Quốc Tuấn" v.v
Theo nghĩa hẹp dùng trong ngành kinh tế, nhất là trong lĩnh vực ngân sách
và kế hoạch, từ “sự nghiệp” dùng để chỉ những hoạt động không tạo ra sản phẩm vật chất những cần thiết để thỏa mãn nhu cầu xã hội và của cá nhân con người, ví
dụ như giáo dục, y tế, khoa học, văn hoá, xã hội , những hoạt động này thường không lấy lợi nhuận làm mục tiêu nên thường do Nhà nước sử dụng ngân sách để thực hiện Do đó, trong ngân sách có phần chi phí dành cho “sự nghiệp”, trong kế hoạch Nhà nước có lĩnh vực “sự nghiệp” bên cạnh lĩnh vực sản xuất kinh doanh và lĩnh vực hành chính, hoặc nói cụ thể về “sự nghiệp kinh tế”, "sự nghiệp văn hoá giáo dục", "sự nghiệp khoa học, điều tra cơ bản” v.v Các đơn vị sự nghiệp (trường học,bệnh viện ) trước đây hoạt động không khác các đơn vị hành chính bao nhiêu, cũng là những đơn vị dự toán, kế hoạch do cấp trên giao, nhân sự do cấp trên quyết, kinh phí do cấp trên duyệt và chi, vì vậy mà hai từ sự nghiệp và hành chính hay đi liền cùng nhau, nhiều khi còn gọi chung là “các đơn vị hành chính sự nghiệp”
Trang 15Nhiều nhà nghiên cứu xem “sự nghiệp” là một từ được phát sinh từ nền kinh
tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, chủ yếu bao gồm: khoa học, giáo dục, văn hoá,
y tế, thể thao cộng với phúc lợi xã hội và cứu tế xã hội… Khi chuyển sang nền kinh
tế thị trường, vấn đề được mở rộng tương ứng với khái niệm “dịch vụ công” dùng rộng rãi trên thế giới mà nhiều nhà nghiên cứu gọi là “sự nghiệp công doanh” hay
“sự nghiệp công” Như vậy có thể nói sự nghiệp công được coi là tên gọi chung các ngành giá trị phi vật chất mà xã hội cộng đồng lựa chọn, sắp xếp và sản xuất, bao gồm:
- Các ngành công ích xã hội đã có từ thời kỳ kế hoạch hoá tập trung (khoa, giáo, văn, y, thể, phúc lợi, cứu tế);
- Các ngành sự nghiệp công cộng (đường xá, giao thông, vận tải, cấp nước, cấp điện, cấp khí );
- Các ngành bảo vệ tài nguyên công cộng (rừng, nguồn nước, đất núi, công viên )
Khái niệm sự nghiệp công được xuất hiện cách đây gần 2000 năm khi nhà Hán-TQ bắt đầu cho thành lập một số trường đào tạo các quan chức mới cho triều đình mà thời đó gọi là trường đào tạo khoa bảng (written examinations), một điều thú vị là ở châu Âu vào giữa thế kỷ 18 đã xuất hiện khái niệm sự nghiệp công khi tồn tại một cơ quan chuyên giải quyết tham quan và sự thiên vị được tách khỏi bộ phận xét xử của quân đội thời kỳ bấy giờ Cơ quan này hoạt động không vì lợi nhuận cơ quan này tồn tại tới cuối thế kỷ 18 và trở thành cơ quan mang quyền lực
nhà nước (theo wikipedia org)
Theo đại từ điển bách khoa Trung Quốc đơn vị sự nghiệp công được định nghĩa là “tổ chức phục vụ xã hội hoạt động vì mục đích công ích trong giáo dục, khoa học, văn hoá, y tế v.v do cơ quan nhà nước thành lập hoặc do cơ quan khác
Trang 16thành lập nhưng dùng tài sản nhà nước” Như vậy, hiểu theo định nghĩa này thì có
3 yếu tố được coi là quan trọng trong khái niệm “sự nghiệp công”:
- Tổ chức phục vụ xã hội
- Hoạt động công ích
- Do nhà nước thành lập
I.1.1.2 Khái niệm sự nghiệp và phục vụ
Theo quan niệm truyền thống trước đây, nhiều người cho rằng phải làm ra sản phẩm vật chất mới gọi là sản xuất, còn các hoạt động không tạo ra sản phẩm vật chất nhưng thoả mãn những yêu cầu thiết yếu của xã hội được gọi là “phục vụ”; những sản phẩm vô hình làm ra có thể gọi là “sản phẩm phục vụ” Sản phẩm phục
vụ có thể bao gồm cả phục vụ sản xuất (như vận tải, viễn thông ), phục vụ đời sống (như ăn uống, du lịch ) và phục vụ phát triển (như giáo dục, y tế, khoa học ), song cũng chưa bao trùm toàn bộ khu vực kinh tế thứ ba như khái niệm
“dịch vụ” hiện nay Riêng trong các kế hoạch kinh tế quốc dân các nước xã hội chủ nghĩa trước đây đã đưa vào một “ngành phục vụ”, nhưng nội dung chủ yếu lại chỉ nói về các nghề phục vụ đời sống (như ăn uống, sửa chữa v.v ) Thời gian gần đây, kinh tế và khoa học công nghệ thế giới phát triển rất nhanh, khu vực thứ ba chiếm tỷ trọng ngày càng cao (ở các nước phát triển có thể chiếm tới 3/4 tổng sản phẩm xã hội), sản phẩm phục vụ được coi là có giá trị sử dụng và giá trị trao đổi như các hàng hoá khác; phạm vi sản xuất không còn giới hạn ở sản phẩm vật chất
mà sản xuất được đánh giá ở giá trị gia tăng tạo ra, bao gồm cả hàng hoá vật chất
và hàng hoá dịch vụ So sánh với “sự nghiệp”, phạm vi của “phục vụ” rộng hơn, không bị bó hẹp trong hoạt động không vụ lợi và chủ yếu do nhà nước làm, đồng thời cũng có thể không chỉ giới hạn ở một số ngành đơn lẻ như giáo dục, khoa học v.v ; song theo cách hiểu thông thường, từ “phục vụ” vẫn được coi là có nghĩa hẹp hơn từ “dịch vụ”, thậm chí nằm trong phạm vi của “dịch vụ” Ở Trung quốc là nơi
Trang 17xuất xứ của cả hai từ “sự nghiệp” và “phục vụ” (nhưng không có từ “dịch vụ”), có
xu hướng dùng từ “phục vụ” để dịch từ “service” của nước ngoài, nhưng cũng chưa thấy dùng với nghĩa bao quát nhất cải tiến Còn lĩnh vực sự nghiệp chỉ bao gồm một ít ngành trong khu vực dịch vụ, có những đặc thù riêng, đang cần được nghiên cứu cải cách bằng những phương pháp thống nhất để đạt được những kết quả thống nhất Trong nhiều tài liệu nước vẫn dùng từ sự nghiệp công đồng nghĩa với từ “dịch
vụ công” (public service), được hiểu là những hoạt động vì lợi ích công (công ích), thực hiện dưới sự chỉ đạo hay bảo trợ của Nhà nước, theo một quy chế pháp lý riêng
Dịch vụ công bao gồm các dịch vụ liên quan đến chủ quyền quốc gia (toà án, quốc phòng, an ninh, hành chính, thuế ), các dịch vụ về văn hoá xã hội (giáo dục,
y tế, khoa học, bảo hiểm xã hội ) và các dịch vụ thương mại (năng lượng, vận tải, truyền thông và kết cấu hạ tầng kèm theo) Các dịch vụ công phải bảo đảm nguyên tắc liên tục không gián đoạn, nguyên tắc bình đẳng, mọi người công dân đều có quyền tiếp cận như nhau, và nguyên tắc thích ứng, tổ chức và hoạt động có thể và phải phù hợp với các yêu cầu thay đổi hoặc yêu cầu mới của xã hội như vậy hoạt động sự nghiệp chỉ tương ứng với một phần dịch vụ công thứ hai, dịch vụ văn hoá xã hội Loại thứ nhất thuộc lĩnh vực hành chính, phải do Nhà nước trực tiếp thực hiện; loại thứ ba thuộc hoặc gần với lĩnh vực kinh doanh, có thể uỷ thác cho các tổ chức ngoài Nhà nước thực hiện Loại thứ hai thuộc trách nhiệm Nhà nước nhưng có thể xã hội hoá để bảo đảm đủ nguồn hoạt động và đạt hiệu quả, chất lượng cao nhất
Tóm lại lĩnh vực “sự nghiệp công” đối tượng nghiên cứu trong đề tài được giới hạn ở một số đơn vị có chung các đặc điểm sau:
- Không tạo ra sản phẩm vật chất và cũng không tham gia trực tiếp vào việc sản xuất của cải vật chất, nhưng thoả mãn trực tiếp nhu cầu thiết yếu về phát triển của cả xã hội hoặc của các thành viên trong xã hội
Trang 18- Nhà nước, ngoài trách nhiệm bảo đảm an ninh, an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động phát triển kinh tế, tổ chức quản lý xã hội theo luật pháp và đạo đức xã hội, công bằng xã hội, còn có chức năng phục vụ xã hội, dùng tiền thuế thu được để chi vào việc nâng cao dân trí, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, nâng cao thẩm mỹ và đời sống tinh thần, nâng cao trình độ khoa học công nghệ của người dân và của đất nước…
- Phần lớn hoặc toàn bộ tài sản của đơn vị được coi là thuộc trách nhiệm Nhà nước nên nguồn kinh phí hoạt động dựa vào ngân sách nhà nước, có nghĩa là hoạt động sự nghiệp là hoạt động “không vụ lợi, không đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu”
Trước kia khi các tổ chức sự nghiệp rất dễ bị hành chính hoá và ỷ lại vào sự bao cấp của Nhà nước: kế hoạch do trên giao, tổ chức do trên quyết, chi tiêu do trên duyệt, kết quả nộp cấp trên Các ngành sự nghiệp thuộc lĩnh vực dịch vụ công về văn hoá xã hội, trong đó nổi bật là 4 ngành: giáo dục, y tế, khoa học, văn hoá thể thao là những ngành sử dụng kinh phí lớn, liên quan đến nhiều người và cả xã hội, cũng là nơi dễ tồn đọng tệ nạn quan liêu, tham nhũng, dễ tạo sự lạm dụng công quỹ nhà nước Nếu tiến hành xây dựng hoàn chỉnh mô hình thanh tra, kiểm tra trong 4 ngành quan trọng trên thì kinh nghiệm có thể tham khảo để áp dụng cho các ngành
sự nghiệp công khác Hơn nữa, trong quá trình đổi mới đang tiến hành, cải cách hành chính và cải cách doanh nghiệp đang được thực hiện theo các chương trình đã định; nếu có thêm sự giám sát của tổ chức thanh tra, kiểm tra tại đơn vị thì mới đảm bảo công cuộc đổi mới thực sự toàn diện, đồng bộ và có hiệu quả hơn rất nhiều
Như vậy đề tài này tập trung làm rõ vào việc đánh giá thực trạng tổ chức và
cơ sở pháp lý của hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công trong 4 ngành sự nghiệp lớn là giáo dục, y tế, khoa học và văn hoá nói riêng và các
Trang 19đơn vị sự nghiệp công nói chung với hy vọng những biện pháp xem xét có thể áp dụng rộng hơn
Cho tới hiện nay rất khó tìm được một đơn vị sự nghiệp không có một nguồn
thu khác (có cơ chế thu còn thu được hay không lại là vấn đề khác) Vì vậy, khái
niệm sư nghiệp công có thu hay không có thu sẽ không được tách biệt trong đề tài Nếu cần phân biệt trong giai đoạn hiện nay thì nên dựa vào mức độ hạch toán độc lập của các tổ chức sự nghiệp và phân loại thành các đơn vị tự hạch toán hoàn toàn, các đơn vị tự hạch toán một phần và các đơn vị dự toán Mỗi loại cần có chế độ tài chính riêng: một số đơn vị tự hạch toán hoàn toàn có điều kiện có thể chuyển thể thành doanh nghiệp, hoạt động theo luật doanh nghiệp; loại đơn vị còn giữ chế độ đơn vị dự toán có thể áp dụng cơ chế tài chính của nghị định 10/2002/NĐ-CP; các đơn vị còn lại cần theo một chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm đầy đủ về tài chính)
Về mặt tổ chức cán bộ, những quy định mới về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm mới ban hành còn ít nhiều mang tính chất thăm dò, thí điểm, nên còn cần thêm thời gian để đánh giá hiệu quả Về quyền chủ động của các đơn vị sự nghiệp trong kế hoạch và chương trình hoạt động, các luật giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ v.v đã giải quyết một số vấn đề cơ bản, song trong quá trình thực hiện cũng bộc
lộ một số yếu tố cần được đi sâu hơn nữa, chính vì vậy đề tài cũng sẽ không đi vào hoạt động đặc thù của đơn vị sự nghiệp công có thu hay không có thu
Muốn có một cái nhìn tương đối tổng hợp và về những biến đổi tích cực cũng như những vấn đề tồn tại của hoạt động thanh tra, kiểm tra trong những ngành
sự nghiệp nêu trên, cần tiến hành khảo sát một cách nghiêm túc và khách quan của
chính hoạt động này trong thực tế
I.1.1.3 Phân loại các đơn vị sự nghiệp công
Theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định cụ thể các đơn vị sự nghiệp được chia làm 3 loại cơ bản là gồm: Đơn
Trang 20nghiệp có thu tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên và đơn vị sự
nghiệp không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp; mọi kinh phí hoạt động đều do
ngân sách nhà nước cung cấp
* Để xác định được chính xác các loại đơn vị sự nghiệp cần dựa vào phương
thức xác định như sau:
Mức tự bảo đảm chi phí Tổng số nguồn thu sự nghiệp
hoạt động thường xuyên = - x 100 % của đơn vị (%) Tổng số chi hoạt động thường xuyên
Trong đó:
Tổng số nguồn thu sự nghiệp:
+ Nguồn thu sự nghiệp đối với đối với đơn vị bảo đảm toàn bộ và bảo đảm 1
phần gồm (a) Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí cho đơn vị sử dụng theo quy
định của nhà nước (b) Thu từ hoạt động dịch vụ phù với lĩnh vực chuyên môn và
khả năng của đơn vị (thu từ hợp đồng đào tạo với các tổ chức trong và ngoài nước,
dịch vụ khám chữa bệnh ) (c) Thu khác (nếu có) (d) Lãi được chia từ các hoạt
động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng từ các hoạt động dịch vụ
+ Nguồn thu sự nghiệp đối với đơn vị NSNN bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt
động quy định: (a) Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí cho đơn vị sử dụng theo
quy định của nhà nước; (b) Thu từ hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên
môn và khả năng của đơn vị; (c) Thu khác
Tổng số chi hoạt động thường xuyên:
+ Đối với các đơn vị tự bảo đảm kinh phí hoạt động và bảo đảm một phần kinh
phí hoạt động, gồm:
-> Chi hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm
quyền giao, gồm: Tiền lương; tiền công; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích
Trang 21nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo quy định hiện hành; dịch vụ công cộng; văn phòng phẩm; các khoản chi nghiệp vụ; sửa chữa thường xuyên tài sản cố định và các khoản chi khác theo chế độ quy định;
-> Chi hoạt động thường xuyên phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí, gồm: Tiền lương; tiền công; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo quy định hiện hành cho số lao động trực tiếp phục vụ công tác thu phí và lệ phí; các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn; sửa chữa thường xuyên tài sản cố định và các khoản chi khác theo chế độ quy định phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí;
-> Chi cho các hoạt động dịch vụ; gồm: Tiền lương; tiền công; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo quy định hiện hành; nguyên, nhiên, vật liệu, lao vụ mua ngoài; khấu hao tài sản cố định; sửa chữa tài sản cố định; chi trả lãi tiền vay, lãi tiền huy động theo hình thức vay của cán bộ, viên chức; chi các khoản thuế phải nộp theo quy định của pháp luật và các khoản chi khác (nếu có);
-> Đối với các đơn vị NSNN bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động gồm (a) Chi hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao; (b) Chi hoạt động thường xuyên phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí (nếu có); (c) Chi cho các hoạt động dịch vụ (nếu có)
Tổng số nguồn thu sự nghiệp và tổng số chi hoạt động thường xuyên tính theo dự toán thu, chi của năm đầu thời kỳ ổn định
Căn cứ vào mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên, đơn vị sự nghiệp được phân loại như sau:
- Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động, gồm:
+ Đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức trên, bằng hoặc lớn hơn 100%
Trang 22+ Đơn vị sự nghiệp đã tự bảo đảm chi phí hoạt động từ nguồn thu sự nghiệp,
từ nguồn ngân sách nhà nước do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đặt hàng
- Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động: Là đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức trên, từ trên 10% đến dưới 100%
- Đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động, gồm:
+ Đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức trên, từ 10% trở xuống
+ Đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu
Đối với các đơn vị sự nghiệp đặc thù trực thuộc Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, các đơn vị sự nghiệp có quy trình hoạt động đặc thù quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ, thì các đơn vị sự nghiệp đặc thù được phân loại theo loại của đơn vị sự nghiệp cấp trên
Tóm lại có 03 loại hình đơn vị sự nghiệp như sau :
- Đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên là đơn vị có các nguồn thu từ nguồn thu sự nghiệp, từ các hoạt động dịch vụ
có tổng nguồn thu sự nghiệp bằng hoặc lớn hơn tổng chi hoạt động thường xuyên, ngân sách Nhà nước không phải cấp kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên cho đơn vị (Loại 1)
- Đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên: là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp, nhưng chưa tự trang trải được toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên Tổng nguồn thu sự nghiệp nhỏ hơn tổng chi phí hoạt động thường xuyên, ngân sách Nhà nước phải cấp một phần chi phí hoạt động thường xuyên cho đơn vị (Loại 2)
Trang 23- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động) (Loại 3)
Việc phân loại đơn vị sự nghiệp như trên được ổn định trong thời gian 3 năm nhằm tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp chủ động trong kế hoạch tài chính, nhân sự khi thực hiện các nhiệm vụ Sau thời hạn 3 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp với tính chất hoạt động của từng đơn vị sự nghiệp Việc phân loại này không chỉ có ý nghĩa trong việc bảo đảm tự chủ về tài chính mà còn có ý nghĩa trong việc phân cấp quản lý biên chế và sử dụng nhân sự của các đơn vị sự nghiệp Thông tư số 10/2004/TT- BNV ngày 19/02/2004 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 116/2003/NĐ-CP đã chỉ rõ việc phân cấp quản lý viên chức của các đơn vị sự nghiệp thông qua việc phân loại các đơn vị sự nghiệp như sau:
Đối với đơn vị sự nghiệp Loại 1 thì các Bộ, tỉnh phân cấp cho đơn vị sự nghiệp đó được tự chủ việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức của đơn vị mình;
- Đối với đơn vị sự nghiệp Loại 2 thì tuỳ theo mức độ tự chủ và tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên của từng đơn vị sự nghiệp mà Bộ, tỉnh phân cấp cho đơn vị sự nghiệp đó được tự chủ từng phần về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức của đơn vị mình;
- Đối với đơn vị sự nghiệp Loại 3 thì bộ, tỉnh thực hiện quản lý việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức của đơn vị sự nghiệp đó
I.1.2 Vai trò của đơn vị sự nghiệp công trong quá trình đổi mới
Trong công cuộc phát triển và công nghiệp hoá của mỗi nước, khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo nói riêng và các lĩnh vực sự nghiệp nói chung bao giờ
Trang 24cũng giữ một vai trò rất quan trọng Kinh nghiệm mấy thập kỷ qua của các nước mới công nghiệp hoá (NIC) và các quốc gia khu vực Châu Á đã chứng minh rõ điều đó Cũng với ý nghĩa ấy, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước
ta, giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ được coi vừa là nền tảng, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội; do đó, giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ (và cả các ngành sự nghiệp công khác) trở thành một trong những điều kiện tiền đề quyết định khả năng triển khai, phát triển và thành công của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá Chiến lược phát triển quốc gia trong những năm sắp tới đặt ra những nhiệm vụ rất đặc biệt: trong khoảng 15-20 năm phải đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Vì vậy có thể nói, nếu giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là động lực của phát triển và công nghiệp hoá thì đối với yêu cầu công nghiệp hoá theo hướng hiện đại và công nghiệp hoá rút ngắn thời gian thì phải coi khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo là động lực chủ yếu
và không thể thiếu Định đề trên càng có ý nghĩa quyết định khi chúng ta đặt vấn đề như trong nghị quyết Đại hội X đã khẳng định, chúng ta vừa phải tiến hành công nghiệp hoá, vừa phải từng bước xây dựng nền kinh tế tri thức; vì không thể hình dung một nền kinh tế tri thức mà thiếu những con người làm chủ được kiến thức mới và công nghệ mới Dĩ nhiên, ngoài giáo dục, khoa học, các ngành sự nghiệp khác như văn hoá, y tế cũng có một vị trí và vai trò tương tự
Nước ta đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, lấy mục tiêu lâu dài là dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong suốt quá trình phát triển, những mục tiêu xã hội mới thực sự là mục tiêu cuối cùng, sự phát triển tự do của con người là tâm điểm của mọi chính sách phát triển Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, chúng ta vẫn phải đặt phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm do điểm xuất phát về kinh tế của chúng ta quá thấp và có phát triển kinh tế thì mới có điều kiện cần thiết để phát triển các mặt xã hội Do vậy, suốt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chúng ta phải bảo đảm sự phát triển cân đối, hài hoà giữa
Trang 25kinh tế và xã hội, vừa đẩy mạnh tăng trưởng, vừa thu hẹp dần khoảng cách giữa các vùng, các miền và giữa các cộng đồng, nhóm dân cư Có thể trong một thời gian, khoảng chênh lệch về kinh tế chưa thể rút ngắn do cần phải tạo ra một số vùng phát triển trọng điểm có đủ sức mạnh kinh tế để đẩy nhanh bước tăng trưởng chung, song về mặt xã hội (giáo dục, y tế, văn hoá v.v ) cần giữ cho khoảng chênh lệch không mở rộng và dần dần thu hẹp lại bằng các chính sách tài chính, chính sách đầu tư thích hợp Như vậy, với định hướng xã hội chủ nghĩa, các lĩnh vực giáo dục, khoa học, y tế, văn hoá v.v , nói chung lại là các lĩnh vực về phát triển con người, càng cần được đặt vào vị trí xứng đáng Nói tóm lại, phát triển các lĩnh vực sự nghiệp là điều kiện tiền đề, là nền tảng và động lực cho sự phát triển và công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đó cũng là động lực chủ yếu cho sự phát triển bền vững, kết hợp công nghiệp hoá với hiện đại hoá, vừa công nghiệp hoá, vừa từng bước phát triển kinh tế tri thức Với mục tiêu xã hội chủ nghĩa, những lĩnh vực
sự nghiệp trên gắn bó chặt chẽ với sự phát triển con người, càng cần được coi trọng đúng mức Nhấn mạnh như trên cũng là nhấn mạnh đến chất lượng của sự phát triển, chất lượng sự sống của con người và xã hội
I.1.3 Thực trạng về hoạt động của đơn vị sự nghiệp công
Hiện nay, chính sách đối với lĩnh vực sự nghiệp đã có nhiều thay đổi, nhà nước cũng đã tạo các điều kiện tối đa trong hoạt động của nhóm đơn vị này tuy nhiên kết quả thực sự còn chưa đáng kể, cụ thể:
- Hiệu quả và chất lượng các hoạt động sự nghiệp công nói chung còn thấp, không theo kịp yêu cầu của công cuộc đổi mới nói riêng và của tiến trình phát triển nói chung Tuy về mặt số lượng có tiến bộ đáng kể (số trường học, số giường bệnh,
số thuốc cung cấp, số đề tài nghiên cứu hoàn thành, số người được hưởng thụ về văn hoá v.v ), tuy nhiên nhìn về chất lượng nhiều vấn đề đáng quan ngại, đơn cử như chất lượng giáo dục, đào tạo, chất lượng chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ, chất
Trang 26lượng báo cáo khoa học, chất lượng sản phẩm văn hoá (phim ảnh, âm nhạc v.v ) chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế
- Trình độ và chất lượng các hoạt động sự nghiệp là một thước đo trình độ văn hoá, văn minh của mỗi quốc gia; nếu so sánh với các nước trong vùng, chúng
ta chưa khôi phục được vị trí so sánh của nước ta 30-40 năm về trước và hiện nay còn đang để lại một khoảng cách đáng kể, mặc dầu tự so sánh với ta vài chục năm
về trước thì nước ta đã đạt được nhiều tiến bộ, nhất là về số lượng Chúng ta biết rằng muốn theo kịp các nước về mặt kinh tế thì trước hết khoảng cách về sự nghiệp giáo dục, văn hoá và con người phải tiến kịp Chính vì vậy, sự so sánh quốc gia về các hoạt động sự nghiệp là một tiêu chí rất đáng quan tâm về phát triển Nguyên nhân gây ra những sự chậm trễ trên có nhiều, song đáng chú ý có mấy vấn đề liên quan với nhau sau đây:
+ Thứ nhất, khi đi vào kinh tế thị trường, các đơn vị sự nghiệp có nhiều bỡ ngỡ, bị động nên những thay đổi trong chủ trương của các ngành và chính sách của nhà nước thường đi vào tìm cách giải quyết những vướng mắc cụ thể, không tạo ra được một chuyển biến căn bản và toàn diện về chất của công cuộc đổi mới lĩnh vực
sự nghiệp, tương thích với yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
+ Thứ hai, các hoạt động sự nghiệp còn dựa quá nhiều vào nhà nước, cả về cán bộ, về tổ chức và về kinh phí hoạt động; tất cả đều thuộc về sở hữu nhà nước Mặc dù một nhiệm vụ quan trọng của nhà nước là phải lo về sự nghiệp giáo dục, y
tế, khoa học, văn hoá v.v cho cả xã hội và cho mỗi người dân, trong thực tế, khả năng nguồn lực của Nhà nước có giới hạn; cơ chế hoạt động dựa chủ yếu vào ngân sách và biên chế của Nhà nước có những nhược điểm khó tránh khỏi là hiệu quả thấp, lãng phí thất thoát nhiều, trách nhiệm không trực tiếp và rõ ràng Trong kinh
tế thị trường mà không sử dụng đúng đắn các quy luật về giá trị, về cạnh tranh, về cung cầu thì khó có thể đạt hiệu quả cao được
Trang 27+Thứ ba, các tổ chức sự nghiệp thường được quản lý như các đơn vị hành chính: về tài chính, họ được coi là những đơn vị dự toán; về tổ chức, họ là những đơn vị trực thuộc có cấp trên trực tiếp quyết định hầu như tất cả các vấn đề tổ chức, nhân sự, thu chi, kế hoạch Sự thiếu quyền tự chủ đó làm cho các tổ chức sự nghiệp không tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình, ít sát và nhạy cảm với yêu cầu của thực tiễn phát triển cũng như của các đối tác và đối tượng trực tiếp, không thể bảo đảm hiệu quả cuối cùng của hoạt động sự nghiệp Tuy nhiên cả hai hoạt động này lại không có một cơ chế thanh tra, kiểm tra chặt chẽ
+Thứ năm, giá cả sản phẩm sự nghiệp và tiền công trả cho lao động sự nghiệp đều do Nhà nước quy định, không sát với giá trị của loại lao động đặc thù trong các ngành sự nghiệp Lao động khoa học công nghệ, lao động quản lý và lao động nghệ thuật trong nhiều ngành sự nghiệp không thể đơn giản đánh giá bằng
“thời gian lao động xã hội cần thiết”; nhiều sản phẩm công nghệ, nghệ thuật nếu tính theo hiệu quả cuối cùng (tính theo đầu ra) có giá trị cao hơn rất nhiều lần so với sản phẩm phổ thông cùng loại Trong thực tế hiện nay, vấn đề quyền sở hữu, quyền sử dụng và quyền tác giả đối với nhiều loại sản phẩm sự nghiệp chưa được làm rõ và đặt đúng về mặt giá trị nên không thể khuyến khích chất lượng cao trong hoạt động sự nghiệp
Trước thực trạng hoạt động của đơn vị sự nghiệp công, để khắc phục những tồn tại, hạn chế chúng ta cần có cơ chế phù hợp cho sự vận hành của nhóm các đơn
vị này Cơ chế vận hành đó hướng tới khắc phục những quy định đang "bó" các đơn vị sự nghiệp và giúp cho các đơn vị sự nghiệp công phát huy hết tiềm năng hoạt động có hiệu quả trong khuôn khổ pháp luật
I.1.4 Cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công- thời cơ, thách thức và yêu cầu cần thiết tồn tại tổ chức thanh tra ngay trong mỗi đơn vị sự nghiệp công
Trang 28Trước đây, chúng ta thường quen với hình ảnh một xã hội chỉ có một vai chính là Nhà nước toàn năng thực hiện cả quá trình sản xuất, phân phối, cung ứng, dịch vụ và quản lý xã hội Tuy nhiên sự xuất hiện tự nhiên trong nền kinh tế mà không mang quyền lực quản lý nhà nước nhưng lại chiếm một vị trí quan trọng là các sự nghiệp xã hội thiết yếu: giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học công nghệ, y
tế, văn hoá, xã hội, thể thao v.v Các tổ chức này tạo ra những sản phẩm phi vật chất là những dịch vụ, không hoạt động kinh doanh vì lợi nhuận như các doanh nghiệp; mặt khác, những dịch vụ này thuộc loại dịch vụ phát triển (nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, nâng cao sức khoẻ, trình độ văn hoá, khoa học v.v.), không phải là công việc quản lý như các cơ quan nhà nước Lĩnh vực này có đóng góp quan trọng vào tổng sản phẩm quốc nội (nhiều quốc gia lĩnh vực này đạt trên 10%), và về nhân số là một lực lượng đông đảo gấp 5-6 lần số công chức của các
cơ quan nhà nước, chưa kể gần như toàn bộ giới trí thức trong nước đều hoạt động trong các tổ chức sự nghiệp Quy chế nhân sự cũng khác với quy chế công chức Vì những lẽ trên, lĩnh vực sự nghiệp là một mảng tổ chức quan trọng trong xã hội; tuy
có một số đơn vị có thể chuyển thể thành doanh nghiệp, nhưng nói chung đều hoạt động khác doanh nghiệp; đồng thời cũng cần được tách ra khỏi khối hành chính vì chức năng sự nghiệp không đồng nhất với chức năng hành chính Trong nền kinh tế thị trường, mảng sự nghiệp là một lĩnh vực tương đối độc lập, về cơ chế hoạt động đứng giữa tổ chức hành chính và tổ chức kinh doanh hay là giữa Nhà nước và thị trường
Xuất phát từ vị trí nhà nước trong xã hội, quan hệ Nhà nước với thị trường
và trách nhiệm thanh tra, kiểm tra đối với lĩnh vực phúc lợi xã hội, đồng thời nhìn thiên về kinh tế, có thể quy về 3 nhóm chức năng giám sát Nhà nước như sau:
- Nhóm chức năng về chủ quyền quốc gia, gồm chức năng hành chính, chấp pháp, trật tự xã hội, quốc phòng, thuế khoá v.v
Trang 29- Nhóm chức năng về kinh tế: tạo cơ sở thể chế cho kinh tế thị trường, phân
bổ nguồn lực nhà nước, ổn định kinh tế vĩ mô, điều tiết kinh tế vĩ mô, tái phân phối thu nhập v.v
Với hai nhóm này thì cần phải có sự thanh tra, kiểm tra của các đơn vị thanh tra nhà nước (thanh tra chính phủ và hệ thống thanh tra các cấp);
- Nhóm chức năng về phục vụ công ích xã hội: bảo đảm các dịch vụ xã hội phục vụ lợi ích của toàn xã hội và của mỗi thành viên, về tinh thần như giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, văn hoá v.v và về vật chất như điều kiện giao thông, cung cấp điện nước, thông tin, an toàn môi trường v.v
Nếu nhóm này nhà nước không thể tiến hành việc giám sát mang tính quyền lực nhà nước hết được bởi vậy cần phải có sự tự giám sát của chính đơn vị được trao quyền và thực hiện hoạt động sự nghiệp Cách chia nhóm chức năng trên cũng phù hợp với các giai đoạn phát triển của Nhà nước và chức năng nhà nước Trong thời kỳ đầu, các nhà nước nói chung chỉ làm chức năng giám sát, thanh tra, kiểm tra các hoạt động chủ quyền quốc gia, bảo đàm an ninh, thu thuế Thời kỳ tiếp theo, chức năng nhà nước mở rộng ra về kinh tế thành nhà nước toàn năng, quyết định mọi việc chính trị, kinh tế của quốc gia và mỗi công dân Đến khi kinh tế thế giới phát triển và đi vào toàn cầu hoá, khả năng quốc gia có hạn, mặc dù chức năng giám sát không đổi nhưng muốn tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp hoạt động
và thị trường phát triển, đồng thời quan tâm đến phúc lợi của người dân, và trong giai đoạn sắp đến, chức năng nhà nước sẽ ngày càng tập trung vào các vấn đề phục
vụ xã hội, phục vụ công cộng Tuy không “đẩy” sự nghiệp sang thị trường, song trong kinh tế thị trường, Nhà nước có thể vận dụng thích hợp cơ chế thị trường để nâng cao hiệu quả và chất lượng của hoạt động sự nghiệp Loại sự nghiệp nào có thuận lợi về tự hạch toán đầy đủ thì có thể tạo điều kiện để chuyển thể thành doanh nghiệp, như Viện thiết kế, Trung tâm việc làm v.v Một số nhiệm vụ sự nghiệp mà kinh tế và tổ chức ngoài quốc doanh có thể thực hiện có hiệu quả (như đào tạo tay
Trang 30nghề, dịch vụ tư vấn, tin học hoá v.v ) thì Nhà nước nên uỷ thác, giao thầu Còn trong nội bộ các đơn vị sự nghiệp hiện có của Nhà nước thì nên áp dụng các phương pháp có hiệu quả của cơ chế thị trường để đổi mới tổ chức và hoạt động như phương pháp cạnh tranh, phương pháp đánh giá, phương pháp hạch toán v.v Hiện nay vì muốn khắc phục có kết quả các nhược điểm cố hữu hoạt động của các đơn vị sự nghiệp là tập trung, quan liêu, bao cấp, nâng cao rõ rệt hiệu quả
và chất lượng sự nghiệp cũng như việc đóng góp cao nhất vào sự phát triển của cả nước, giải pháp đổi mới đương nhiên và cơ bản là mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức sự nghiệp công tại Việt Nam với việc hoạt động theo
cơ chế tự chủ để tồn tại và phát triển) Chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm cũng sẽ giúp vào việc tách riêng hệ thống sự nghiệp và hệ thống hành chính vốn vẫn phân biệt không rõ ràng thành hai hệ thống có quan hệ với nhau nhưng không đồng nhất với nhau Các bộ ngành và cấp hành chính sẽ giảm trách nhiệm chủ quản hiện nay
để tập trung năng lực đi sâu vào các nhiệm vụ quản lý nhà nước không kém nặng
nề của thời kỳ mới
Điều đạt được lớn nhất của việc mở rộng quyền tự chủ và nâng cao ý thức tự chịu trách nhiệm của các tổ chức sự nghiệp, cũng giống như đối với doanh nghiệp, các tổ chức và cán bộ sự nghiệp sẽ thực sự chủ động trong công việc, phát huy được tính năng động, dám nghĩ dám làm, quan tâm nhiều hơn đến những yêu cầu
cụ thể và trực tiếp của bên đặt hàng (khách hàng), do đó đáp ứng tốt hơn các đòi hỏi thiết yếu của xã hội Từ đó, hiệu quả và chất lượng sự nghiệp công được nâng cao, vai trò các ngành sự nghiệp chiếm được vị trí xứng đáng trong công cuộc phát triển và công nghiệp hoá, hiện đại hoá Để đạt được những yêu cầu trên, việc mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức sự nghiệp thuộc Nhà nước cần được thực hiện trên cả ba mặt: kế hoạch, tổ chức và tài chính
- Tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kế hoạch thực chất là tự quản về các hoạt động sự nghiệp mà tổ chức phải thực hiện
Trang 31- Đương nhiên, tổ chức sự nghiệp công thuộc nhà nước do nhà nước thành lập và đầu tư trang bị ban đầu, phải tuân theo phương hướng chức năng, nhiệm vụ chung do Nhà nước quy định khi thành lập Trong kế hoạch hàng năm của mình, tổ chức sự nghiệp tiếp nhận những nhiệm vụ nhà nước giao dưới hình thức đơn đặt hàng nhà nước, có kèm theo các điều kiện vật chất (kinh phí, phương tiện) để thực hiện các đơn đặt hàng đó
Ngoài ra, tổ chức sự nghiệp phải tự tìm các nguồn đặt hàng khác từ các khách hàng (cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tập thể, cá nhân) và có quyền ký kết các hợp đồng khách hàng phù hợp với khả năng của mình; Kế hoạch hoạt động từng thời kỳ không cần có sự phê duyệt của cấp trên, tuy nhiên cần được báo cáo lên và chịu sự kiểm tra của các cơ quan nhà nước hữu quan khi thực hiện Tổ chức
sự nghiệp được tự quyết định việc lựa chọn đối tác để hợp tác trong hoạt động sự nghiệp của mình, kể cả việc mời các chuyên gia trong và ngoài nước cũng như cử chuyên gia của mình đến các tổ chức trong và ngoài nước làm việc theo các quy định chung của Nhà nước Tổ chức sự nghiệp cũng được tự quyết định kế hoạch đầu tư phát triển từ nguồn vốn tự có, hoặc vay của các tổ chức tín dụng hoặc nguồn khác theo quy định của các văn bản pháp luật của Nhà nước
- Tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tổ chức nhân sự bao gồm:
Quyền tự quyết định về tổ chức bộ máy làm việc theo hướng dẫn chung của văn bản pháp luật nhà nước về tổ chức và hoạt động của các tổ chức sự nghiệp; quyền thành lập, sát nhập, giải thể và quy định chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trực thuộc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của toàn tổ chức sự nghiệp
Quyền quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức vụ quản lý trong tổ chức
sự nghiệp, trừ cấp lãnh đạo của tổ chức Việc khen thưởng, kỷ luật tuân theo quy định chung của Nhà nước.Quyền quyết định biên chế cán bộ và nhân viên của đơn
vị phù hợp với khả năng và yêu cầu của đơn vị; quyền quyết định tuyển dụng và sử
Trang 32trong các tổ chức sự nghiệp chịu sự điều chỉnh của quy chế viên chức, tách khỏi biên chế công chức, trừ một số nhỏ chức vụ do cơ quan hành chính Nhà nước cử
I.1.5 Tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính
Nguồn tài chính cho tổ chức sự nghiệp công bao gồm:
Vốn đầu tư ban đầu do Nhà nước cấp toàn bộ hoặc một phần, phần còn lại thuộc nguồn vốn khác Vốn hoạt động gồm có: phần do Nhà nước cấp theo hợp đồng giữa tổ chức sự nghiệp và cơ quan đặt hàng của Nhà nước (đơn đặt hàng Nhà nước) và phần do hợp đồng trực tiếp giữa tổ chức sự nghiệp và khách hàng đặt hàng (tổ chức hay cá nhân) Phần nguồn khác: kinh phí bảo trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; viện trợ của nước ngoài; bảo trợ của các doanh nghiệp quan tâm đến hoạt động của tổ chức sự nghiệp Vốn vay tín dụng của các ngân hàng và tổ chức tài chính Như vậy vốn hoạt động sự nghiệp thường là từ nhiều nguồn,nên cách quản lý vốn cũng cần tổ chức theo hình thức hội đồng hoặc ban có đại diện các nguồn đó cùng tham gia
Quyền tự chủ về tài chính của các tổ chức sự nghiệp bao gồm cả phần thu và phần chi Ngoài nhiệm vụ ưu tiên thực hiện các đơn đặt hàng của Nhà nước, các tổ chức sự nghiệp tự thoả thuận về giá trị các hợp đồng với các bên đối tác theo một khung chung thống nhất trong ngành hoặc trong hiệp hội ngành nghề; chủ động tiếp nhận các nguồn cung cấp tài chính khác Tổ chức sự nghiệp được quyền quyết định nội dung chi và mức chi để bảo đảm hoàn thành các nhiệm vụ được ký kết, mức kinh phí chuyên gia trong nước và ngoài nước được mời; được quyền quyết định việc thành lập quỹ tiền lương của đơn vị sau nộp thuế (theo khung quy định nếu có) và lập các quỹ theo quy định của pháp luật
- Chế độ tự chịu trách nhiệm của các tổ chức sự nghiệp: tổ chức sự nghiệp là
tổ chức có tư cách pháp nhân, trừ những trường hợp không hoạt động độc lập, như trạm xá cơ quan, lớp học vỡ lòng của doanh nghiệp v.v
Trang 33Dưới sự điều chỉnh của luật hoặc pháp lệnh chuyên đề về tổ chức sự nghiệp các tổ chức này chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước tổ chức thành lập về các hoạt động của mình và trước các đối tác về các cam kết đã thoả thuận
Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ được xem là bước cởi trói tiếp tục cho các đơn vị sự nghiệp công lập Sẽ có khoảng 75.000/110.000 đơn vị sự nghiệp thuộc đối tượng điều chỉnh của NĐ này, mà điều đáng lưu tâm là các đơn vị
sự nghiệp đảm bảo đủ chi phí hoạt động được tự quyết định biên chế và tổng mức thu nhập hàng năm cho người lao động
Với Nghị định 43, các đơn vị sự nghiệp công đã có những cơ hội mới đó chính là việc tăng tính tự chủ về tài chính Trước khi NĐ 43 được ban hành, đã có 5.900 đơn vị sự nghiệp có thu thực hiện giao quyền tự chủ về tài chính theo quy định của Nghị định 10 (chiếm khoảng 42,4% số đơn vị sự nghiệp có thu khi đó) Trên thực tế, khi được giao quyền tự chủ, các đơn vị sự nghiệp đã thực sự chú trọng hơn trong việc phát triển và mở rộng các hoạt động dịch vụ để tăng thu Đối với các đơn vị do T.Ư quản lý, số thu sự nghiệp năm 2002 đã tăng 73% so với năm
2001 (năm chưa thực hiện theo NĐ10), năm 2003 tăng 23,2% so với năm 2002 Các đơn vị do địa phương quản lý cũng có số tăng tương ứng là 20,4% và 29,6% Mức thu nhập của người lao động tăng bình quân từ 10-15% Nhiều đơn vị đạt mức tăng thêm bằng 2-2,5 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ Cá biệt có đơn vị đạt mức tăng gấp 7 lần Hoạt động nội bộ của các đơn vị sự nghiệp đã không còn bị can thiệp sâu nữa
Bên cạnh thời cơ Nghị định 43 mang đến cho những đơn vị sự nghiệp công
có đủ năng lực tiếp nhận thì cũng là thách thức mà một số đơn vị sự nghiệp công khác phải đối mặt Mặc dù, những kết quả ban đầu của việc giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp đã khẳng định một hướng đi đúng Tuy nhiên, trên thực tế, trong khi những đơn vị có nguồn thu lớn đều hưởng ứng tích cực việc thực hiện theo NĐ10, thì các đơn vị có nguồn thu thấp hoặc không đáng kể lại chưa muốn
Trang 34chuyển đổi, vì e ngại số kinh phí ngân sách đảm bảo sẽ bị cắt giảm Bên cạnh đó, các đơn vị thực hiện tự chủ về tài chính lại chưa được tự chủ về tổ chức thực hiện nhiệm vụ và bộ máy, biên chế, lao động nên lại chưa phát huy được tự chủ ngay trong tổ chức hoạt động của mình
Nhìn chung, Nghị định 43 ra đời được xem như một bước khai thông, mở rộng việc giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp Với nghị định mới này, các đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ trên cả 3 mặt: Nhiệm vụ, tổ chức
bộ máy, biên chế và tài chính
Dù vậy, nhà nước vẫn quan tâm đầu tư để hoạt động sự nghiệp ngày càng phát triển Đơn vị sự nghiệp được thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc xác định nhiệm vụ, xây dựng kế hoạch và tổ chức hoạt động Đối với những đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo hoặc đảm bảo một phần kinh phí hoạt động, tuỳ theo khả năng của đơn vị, được quyền quyết định mua sắm tài sản, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, được sử dụng tài sản để liên doanh, liên kết hoặc góp vốn liên doanh với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư xây dựng, mua sắm máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị
Đơn vị sự nghiệp được quyền thành lập, sáp nhập, giải thể các đơn vị trực thuộc Đối với đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí hoạt động, được tự quyết định biên chế Thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp cũng được quyền quyết định việc tuyển dụng cán bộ, viên chức, được quyết định bổ nhiệm vào ngạch viên chức, chấm dứt hợp đồng
Đối với lĩnh vực tài chính, Nhà nước vẫn đảm bảo cấp từ ngân sách kinh phí cho hoạt động thường xuyên, kinh phí cho hoạt động khoa học, công nghệ, kinh phí đào tạo cán bộ, thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế, vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm thiết bị theo dự toán hàng năm đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt Nhưng với đơn
Trang 35vị sự nghiệp tự đảm bảo được chi phí hoạt động được quyết định tổng mức thu nhập trong năm cho người lao động, sau khi đã trích lập quỹ phát triển hoạt động
sự nghiệp (25%) Những đơn vị đảm bảo được một phần chi phí hoạt động được tự quyết định mức thu nhập trong năm cho người lao động, nhưng tối đa không quá 3 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm do Nhà nước quy định Việc chi trả thu nhập cho người lao động được thực hiện theo nguyên tắc tính đến hiệu suất và đóng góp của cá nhân với đơn vị và công việc được giao
Với những bước "cởi trói" này, các đơn vị sự nghiệp đã có "cây gậy" trong tay để phát huy mọi tiềm năng, đem lại hiệu quả cao nhất cho hoạt động của mình
và người lao động kỳ vọng sẽ được hưởng đồng lương xứng đáng hơn với kết quả lao động Nhà nước khuyến khích các đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi sang hoạt động theo loại hình doanh nghiệp, loại hình ngoài công lập, nhằm phát huy mọi khả năng của đơn vị trong việc thực hiện các hoạt động của đơn vị theo quy định của pháp luật Các đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi sang loại hình ngoài công lập được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, tài sản nhà nước đã đầu tư theo quy định của pháp luật (Điều 4, NĐ43) Như vậy, các đơn vị sự nghiệp
có thu như bệnh viện, trường học, cơ quan báo chí sẽ được trao thêm quyền và nếu họ tự chủ hoàn toàn kinh phí sẽ được quyết định tổng mức thu nhập trong năm cho người lao động, sau khi đã trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp Đây là một điểm mới sửa đổi để khắc phục những quy định đang "bó" các đơn vị sự nghiệp Nghị định 10 đang có hiệu lực, dù đã trao quyền tự chủ nhưng các đơn vị
sự nghiệp có thu vẫn bị khống chế quỹ tiền lương
Vấn đề cơ bản về đổi mới cơ chế tài chính của tổ chức sự nghiệp là chuyển
từ chế độ dự toán của cơ quan hành chính sang cơ chế tự hạch toán hay hạch toán độc lập tương tự như của doanh nghiệp (đây là cơ chế hạch toán của doanh nghiệp, không phải là cơ chế hoạt động kinh doanh vì lợi nhuận của doanh nghiệp) Nếu tổ chức sự nghiệp được quyền tự chủ về nguồn thu và tự chủ về các khoản chi theo
Trang 36quy định của pháp luật thì sẽ có cơ sở để thực hiện tự hạch toán Hiện nay có thể có
ba mức hạch toán: một số đơn vị chưa có khả năng thu, chủ yếu là thực hiện các dịch vụ phục vụ công tác quản lý hành chính vẫn tiếp tục thực hiện chế độ dự toán; một số đơn vị có điều kiện tự hạch toán, có thể cân đối thu chi, thì thực hiện cơ chế hạch toán độc lập đầy đủ (như các Viện quy hoạch, Viện công nghệ, Trung tâm đào tạo, dạy nghề v.v ) Còn lại số đơn vị nằm ở khoảng giữa, có thu nhưng không đủ chi, thì áp dụng cơ chế tự hạch toán một phần, lấy thu bù chi và nhận một phần nguồn tài chính từ ngân sách Trong quá trình cải cách từng bước, những đơn vị dự toán sẽ chuyển thể thành đơn vị tự hạch toán một phần, những đơn vị hạch toán một phần sẽ chuyển thể thành đơn vị tự hạch toán đầy đủ và một số đơn vị hạch toán độc lập có điều kiện có thể chuyển thể thành doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp hỗn hợp Quá trình chuyển hoá từ đơn vị dự toán qua đơn vị lấy thu
bù chi sang đơn vị hạch toán độc lập cần có một thời hạn để hoàn thành
Có thể thấy cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công, đặc biệt là những đổi mới trong cơ chế tài chính của các đơn vị này đã khiến cho các đơn vị mở rộng được quyền năng của mình nhưng vấn đề là sử dụng quyền đó như thế nào cho hiệu quả Vấn đề quản lý đơn vị sự nghiệp công cũng không nằm ngoài chu trình quản
lý nhà nước nói chung gồm 03 khâu không thể thiếu là: ban hành văn bản, thực thi
và giám sát, kiểm tra, thanh tra Để sử dụng hiệu quả tiềm năng và quyền tự chủ của mình, các đơn vị sự nghiệp công cần thiết phải có cơ chế kiểm tra, thanh tra ngay trong nội bộ mình để thường xuyên thu thập được thông tin, phát hiện ra sai sót và có giải pháp khắc phục kịp thời Tuy nhiên, những hoạt động mang tính đặc thù riêng khác đối với các đơn vị sự nghiệp so với hoạt động mang tính quản lý nhà nước của các đơn vị hành chính Cũng như cơ chế tài chính tự chủ về nguồn thu và khoản chi vì sự nghiệp so với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chỉ vì lợi nhuận khiến cho hoạt động thanh tra, kiểm tra tại các đơn vị này cũng cần phải có
sự điều chỉnh riêng biệt và những cơ chế đặc thù
Trang 37Một câu hỏi được đặt ra là có nên đặt những hoạt động thanh tra, kiểm tra của đơn vị sự nghiệp công trong hoạt động của hệ thống thanh tra nhà nước các cấp hay tự bản thân các đơn vị thiết lập hệ thống thanh tra, kiểm tra tại đơn vị
Theo xu hướng phát triển của thuyết quản lý nhà nước hiện đại thì với những hoạt động đặc thù của các đơn vị sự nghiệp công thì không nhất thiết phải đặt hoạt động thanh tra, kiểm tra (hoạt động giám sát mang tính nhà nước) của các đơn vị sự nghiệp công trong hệ thống thanh tra các cấp, bản thân Luật thanh tra và các quy định có liên quan của hệ thống thanh tra các cấp cũng đề cập rất ít tới vấn đề này Trong khi đó một số các đơn vị sự nghiệp công có những nơi không có tổ chức thanh tra nhà nước chuyên nghiệp, chính vì vậy bản thân Thủ trưởng, người đứng đầu các tổ chức, đơn vị này phải tiến hành việc tự kiểm tra thanh tra trong đơn vị của mình, đó chính là hoạt động thanh tra kiểm tra mang tính chất nội bộ trong các đơn vị sự nghiệp công Như vậy để bảo đảm các đơn vị sự nghiệp hoạt động đúng pháp luật vừa cần có sự thanh tra từ bên ngoài, do các tổ chức thanh tra nhà nước tiến hành, vừa kết hợp với công tác thanh tra kiểm tra nội bộ của bản thân đơn vị sự nghiệp công đó (từ trước đến nay vẫn thường được gọi là thanh tra của thủ trưởng) Trên thực tế do quá trình sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp và việc đổi mới
cơ chế quản lý đối với các loại đơn vị này nên tổ chức và hoạt động của nó có nhiều thay đổi, các đơn vị sự nghiệp đã được ngày càng được trao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm nhiều hơn dưới sự giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tổ chức và hoạt động thanh tra trong các đơn vị sự nghiệp là vấn đề chưa từng được nghiên cứu và cũng chưa được pháp luật quy định cụ thể Chính vì vậy cho đến nay, tổ chức và hoạt động thanh tra của các đơn vị sự nghiệp được thực hiện một cách tuỳ tiện, tự phát thiếu tính chuyên nghiệp nên vì thế mà hiệu quả, hiệu lực không cao Trong khi đó, chúng ta đều biết rằng, công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ càng tốt bao nhiêu thì những khó khăn vướng mắc và những hành vi vi
Trang 38phạm pháp luật, những vụ việc sai phạm về kinh tế lớn càng có cơ hội được giải quyết ngay từ ban đầu
I.2 Một số vấn đề về công tác thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công
I.2.1 Sự cần thiết và một số đặc điểm của công tác thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công
I.2.1.1 Sự cần thiết của công tác thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự
Trên ý nghĩa đó, xét riêng về những chủ thể mang tính nhà nước thì ở Việt Nam ta hình thành nhiều cơ chế thanh tra, kiểm tra giám sát:
- Giám sát của cơ quan quyền lực (Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp); Giám sát của nhân dân; Giám sát của báo chí;
- Thanh tra kiểm tra trong hệ thống cơ quan hành chính, chủ yếu thông qua hoạt động của hệ thống các cơ quan thanh tra nhà nước (Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ, ngành, Thanh tra cấp tỉnh, Thanh tra cấp huyện);
- Kiểm toán nhà nước;
- Thanh tra, kiểm tra trong từng cơ quan, đơn vị, trong các doanh nghiệp của
nhà nước
Trang 39Đó là chưa kể công tác kiểm tra của Đảng, một lĩnh vực gắn bó chặt chẽ với các hình thức thanh tra nhà nước
Nhìn vào các hình thức thanh tra nói trên, chúng ta thấy rõ ràng một vấn đề: nếu như các phương thức thanh tra khác đều đã được quy định một cách khá đầy đủ trong các văn bản pháp luật của nhà nước thì riêng hình thức thanh tra trong nội bộ các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công hay trong bản thân doanh nghiệp nhà nước là chưa được đề cập nhiều thậm chí chưa được đề cấp đến, mặc dù nhu cầu đó luôn luôn tồn tại và trên thực tế với các cách thức khác nhau các tổ chức này
Trang 40- Về cơ bản hoạt động thanh tra, kiểm tra được thực hiện bởi những cán bộ không chuyên nghiệp và chuyên trách Do tính chất và quy mô của đơn vị sự nghiệp cũng rất khác nhau Có đơn vị bao gồm nhiều đơn vị, bộ phận trực thuộc ở nhiều địa bàn cùng với số lượng cán bộ nhân viên rất lớn nhưng cũng có đơn vị quy mô nhỏ hơn, số lượng cán bộ, nhân viên ít hơn và hoạt động cũng “thuần” hơn vì ít có quan hệ với bên ngoài công chúng Chính vì vậy mà mặc dù nhu cầu thanh tra, kiểm tra là có nhưng lại không bắt buộc phải có một tổ chức thanh tra riêng với những cán bộ thanh tra chuyên trách Thêm nữa sự tự chủ về tài chính và nhân sự và những yêu cầu về công tác chuyên môn cũng không cho phép các đơn vị làm điều này Chính vì vậy quyền hạn của người tiến hành thanh tra, kiểm tra không được pháp luật quy định cụ thể mà do chính người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công giao trên cơ sở quyền hạn của chính người đứng đầu
Vì những lẽ trên đây mà người ta thường gọi hoạt động này là “thanh tra của thủ trưởng”
Chính vì hoạt động thanh tra, kiểm tra có tính chất “tự thân”, nội bộ như vậy cho nên vấn đề quan trọng đầu tiên là người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công phải nắm chắc những trách nhiệm cũng như quyền hạn của mình mà pháp luật trao cho
họ để từ đó xác định được phạm vi và nội dung của công tác thanh tra kiểm tra cũng như tổ chức công việc này sao cho có hiệu quả
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này chúng tôi chỉ đề cập vấn đề thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công, với việc phân tích nhu cầu thanh tra, kiểm tra cũng như trách nhiệm của người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp công trong việc
tổ chức hoạt động thanh tra, kiểm tra đó