1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của trung quốc và một số nước đông á kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam

396 847 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của Trung Quốc và một số nước Đông Á: Kinh nghiệm và ý nghĩa đối với Việt Nam
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn PGS. TSKH Phùng Thị Huệ
Trường học Viện Nghiên Cứu Trung Quốc
Chuyên ngành Khoa học xã hội
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 396
Dung lượng 3,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý phát triển xã hội ở Trung Quốc và một số quốc gia Đông á Theo quan điểm tổng thể, quản lý phát triển x∙ hội được hiểu là hoạt động phối hợp giữa nhà nước với các tổ chức xã hội

Trang 1

VIỆN NGHIÊN CỨU TRUNG QUỐC

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI:

MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN

XÃ HỘI CỦA TRUNG QUỐC VÀ MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á -KINH NGHIỆM VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆT NAM

CNĐT : PHÙNG THỊ HUỆ

8118

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chúng ta đang sống trong thời đại phát triển như vũ bão của nền công nghệ thông tin hiện đại Mọi quốc gia đều ra sức tận dụng tối đa thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến của nhân loại vào mục tiêu phát triển đất nước Vào những thập niên cuối thế kỷ XX, bên cạnh các cường quốc Âu – Mỹ, thế giới bắt đầu chứng kiến và thừa nhận sự trỗi dậy mạnh mẽ của các nước châu

á Ngoài Nhật Bản – quốc gia được mệnh danh là “con hổ” trong khu vực, không thể không kể đến “bốn con rồng”: Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Xinhgapo và một số nước đang trên đà giàu có ở Đông Nam á

Từ thập niên cuối thế kỷ XX, thế giới ngày càng khâm phục và chú tâm

đến sự trỗi dậy của Cộng hoà Nhân dân (CHND) Trung Hoa – quốc gia đang

có sức cạnh tranh lớn với các siêu cường như Mỹ, Nhật, Tây Âu Tốc độ phát triển kinh tế bình quân của Trung Quốc trong 30 năm cải cách đạt 9,82%; tổng lượng kinh tế đứng thứ 4, tổng lượng xuất nhập khẩu đứng thứ 3 thế giới;

dự trữ ngoại tệ tính đến tháng 4-2008 đạt 1.760 tỷ Nhân dân tệ (NDT)1 Mặc

dù hiện vẫn chỉ là nước có mức thu nhập quốc dân vào loại trung bình, nhưng

ở góc độ nào đó, thu nhập bình quân đầu người đã chứng tỏ Trung Quốc đang tiến dần đến vị trí các nước giàu có trên thế giới

Tuy nhiên, bước vào thế kỷ XXI, bên cạnh những thành tựu kỳ diệu về kinh tế, loài người vẫn phải đối mặt với nhiều vấn đề gai góc, nan giải trong

đời sống xã hội Theo cách nói của GS Phạm Xuân Nam, đó là tình trạng

“phát triển xấu”, thực chất là một “nghịch lý” của sự phát triển: phát triển kinh

tế nhưng không có công bằng xã hội; tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, đô thị hoá nhưng lại dẫn đến sự tàn lụi của nông nghiệp, nông thôn; tăng trưởng kinh tế nhưng quần chúng lao động không có quyền làm chủ; tăng trưởng kinh tế nhưng văn hoá, đạo đức suy đồi và tăng trưởng kinh tế

1 http://www.101ms.com/lunwen/cnjj/2009-06-02/lunwen_150339.htm

Trang 3

nhưng môi trường bị suy thoái, cân bằng sinh thái bị phá vỡ1 Chênh lệch giàu nghèo, bất công về cơ hội và ô nhiễm môi sinh đang là những vấn đề thách đố

sự phát triển cân bằng và bền vững của hầu hết các quốc gia và khu vực Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, nguy cơ suy thoái và khủng hoảng ở nhiều nước không phải do nhân tố kinh tế, mà chính là những bất cập trong đời sống xã hội

Có lẽ, nguyên nhân cốt lõi đặt các nước vào tình trạng nói trên (tất nhiên

ở cấp độ khác nhau) chính là do chưa định dạng chuẩn xác một mô hình phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể của

đất nước và xu hướng hội nhập chung của quốc tế Một câu hỏi đang rất cần

được quan tâm lý giải: đó là các nước đã hoạch định chính sách phát triển xã hội ra sao và quản lý việc thực thi chính sách đó như thế nào? Có những nước chế định được hệ thống chính sách phát triển xã hội sát thực tiễn nhưng lại thất bại trong khâu quản lý, giám sát quá trình thực hiện Có những nước lại sai lầm ngay từ khâu định hình chính sách và biện pháp phát triển xã hội Trong trường hợp này, dù có áp dụng mô hình quản lý tối ưu cũng không thể

đem lại hiệu quả xã hội như mong muốn Thậm tệ nhất, đó là sự sai lầm cả về

đường hướng phát triển lẫn phương thức quản lý, đưa xã hội vào tình trạng rối ren, bế tắc Đây là bài toán không hề đơn giản đối với mọi quốc gia

Qua hơn 20 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được khá nhiều thành tựu

đáng khẳng định: tăng trưởng kinh tế cao và đều đặn; đời sống vật chất và tinh thần của đông đảo người dân được nâng cao; tỷ lệ đói nghèo giảm đáng kể… Mặc dù vậy, Việt Nam hiện và sẽ còn phải đối mặt với không ít vấn đề xã hội nan giải Các chỉ tiêu phát triển xã hội của nước ta còn quá thấp; chất lượng sống của đông đảo cư dân các vùng nông thôn và miền núi chưa được cải thiện; khoảng cách chênh lệch giàu nghèo đang ngày càng doãng rộng; môi sinh xuống cấp, dịch bệnh, thiên tai đe doạ đời sống nhân dân Đi kèm với điều đó

là tình trạng trì trệ, lạc hậu về phương thức quản lý Bộ máy công quyền vẫn

1

Phạm Xuân Nam (2002): Triết lý phát triển ở Việt Nam - mấy vấn đề cốt yếu, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội, trang 6-7

Trang 4

còn tình trạng hoạt động kém hiệu quả, thiếu công khai, minh bạch, khiến các chính sách phát triển xã hội khó đi vào đời sống

Vì vậy, lựa chọn một mô hình phát triển phù hợp, nhằm “sớm đưa nước

ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”1 đã trở thành yêu cầu cấp thiết Để lựa chọn và định dạng một mô hình phát triển xã hội phù hợp, bên cạnh yêu cầu xuất phát từ thực tiễn đất nước, không thể bỏ qua những kinh nghiệm có thể tham khảo và vận dụng từ con đường đi lên của các nước, nhất là các nước có nhiều đặc điểm và điều kiện tương đồng với Việt Nam như Trung Quốc và một số quốc gia Đông á Nghiên cứu mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của các nước này, từ đó chắt tìm kinh nghiệm có thể tham khảo, vận dụng đối với Việt Nam là việc làm hết sức quan trọng và cấp thiết

Bởi những lẽ trên, đề tài “Mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của Trung Quốc và một số nước Đông á - kinh nghiệm và ý nghĩa với Việt Nam” có ý nghĩa khoa học và thực tiễn vô cùng sâu sắc

2 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài

2.1 Phạm vi nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã tìm hiểu 3 nội dung lớn như sau:

2.1.1 Phát triển xã hội ở Trung Quốc và một số quốc gia Đông á

Theo nghĩa đầy đủ, phát triển x∙ hội là phát triển toàn bộ các lĩnh vực

liên quan đến các yếu tố cấu thành một quốc gia, dân tộc Nó bao gồm đời sống và chế độ kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội cùng mối bang giao quốc tế của một vùng lãnh thổ hay quốc gia có chủ quyền toàn vẹn

ở đây, đề tài triển khai nghiên cứu nội dung phát triển x∙ hội theo

nghĩa hẹp Đó là các vấn đề trong đời sống xã hội của con người, từ cá nhân

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2006): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị

Quốc gia, trang 23

Trang 5

đến cộng đồng Hơn thế, trong phạm vi cho phép, đề tài chỉ chọn lựa một số vấn đề được Trung Quốc và các quốc gia Đông á giải quyết tương đối thoả

đáng, có giá trị tham khảo với Việt Nam như: an sinh xã hội, xoá đói giảm nghèo, giáo dục, môi trường, chống tham nhũng,

2.1.2 Quản lý phát triển xã hội ở Trung Quốc và một số quốc gia Đông á

Theo quan điểm tổng thể, quản lý phát triển x∙ hội được hiểu là hoạt

động phối hợp giữa nhà nước với các tổ chức xã hội trong quá trình chế định, thực thi chính sách, hoàn thiện thể chế, phân bổ nguồn lực nhằm giải quyết thoả đáng các vấn đề xã hội, ổn định và nâng cao đời sống của cá nhân và cộng đồng, tạo đồng thuận xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện nền kinh tế, văn hoá, chính trị

Đề tài chú trọng phân tích, đánh giá thiết chế và chức năng quản lý xã hội của nhà nước; hoạt động phối hợp của các tổ chức xã hội, của người dân Trong đó chú trọng phân tích thể chế quản lý các lĩnh vực có tác dụng thúc đẩy sự phát triển xã hội như: an sinh; quản lý khu dân cư; dịch vụ xã hội; cơ chế phát huy nguồn lực từ các tổ chức ngoài nhà nước…

Điều cần nhấn mạnh là, mặc dù nghiên cứu phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội theo nghĩa hẹp, song các vấn đề vẫn được xem xét trong mối tương tác, chi phối từ các yếu tố khác như kinh tế, văn hoá, chính trị, điều kiện

tự nhiên, vai trò của đảng cầm quyền và nhà nước, xu thế hội nhập quốc tế,… của mỗi quốc gia

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài sẽ tiến hành tìm hiểu 3 nhóm đối tượng như sau:

2.2.1 Trung Quốc

Trung Quốc là quốc gia có nhiều điểm tương đồng nhất với Việt Nam, cũng là nước có nhiều kinh nghiệm gần gũi, đáng tham khảo nhất trong quá trình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Đề tài xem Trung Quốc là

đối tượng nghiên cứu chủ yếu

Trang 6

2.2.2 Một số quốc gia và khu vực Đông Bắc á

Trong các nước Đông Bắc á, đề tài chọn Nhật Bản làm đối tượng nghiên cứu chính Vì rằng, Nhật Bản đã khá thành công khi thực hiện mô hình xã hội phúc lợi hiện đại – kết hợp nhuần nhuyễn và hợp lý chức năng dịch vụ xã hội của nhà nước, của doanh nghiệp và vai trò tự chủ của cá nhân Đồng thời, Nhật Bản còn có cơ chế quản lý xã hội hết sức khoa học, hiệu quả, khiến xã hội phát triển theo hướng lành mạnh hoá Bên cạnh đó, đề tài cũng tham khảo, đối chiếu với Hàn Quốc và nhận xét so sánh với Đài Loan và Hồng Kông, qua những biểu hiện điển hình về phát triển giáo dục và thực hiện cân bằng mục tiêu phát triển kinh tế với xã hội

2.2.3 Một số quốc gia Đông Nam á

Các nước Đông Nam á vốn có truyền thống lịch sử và đặc điểm văn hoá gần gũi với Việt Nam, ngày càng có điều kiện học hỏi, giao lưu, vận dụng kinh nghiệm phát triển của nhau Tuy nhiên, đề tài chỉ lựa chọn 3 quốc gia có

hệ thống chính sách phát triển xã hội điển hình và phương thức quản lý phát triển xã hội công khai, minh bạch, có ý nghĩa tham khảo với Việt Nam là Malaixia, Xinhgapo và Thái Lan

3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục tiêu của đề tài

3.1.1 Phân tích, đánh giá những nét đặc trưng nhất về mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của Trung Quốc và một số nước Đông á 3.1.2 Đánh giá điểm mạnh, tích cực và tiêu cực trong mô hình phát triển

và quản lý phát triển xã hội của các quốc gia được nghiên cứu

3.1.3 Đúc kết những kinh nghiệm có thể tham khảo từ mô hình các nước;

đề xuất phương hướng, giải pháp phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

ở Việt Nam

Trang 7

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

3.2.1 Nghiên cứu chính sách phát triển và phương thức quản lý phát triển xã hội của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaixia, Xinhgapo, Thái Lan (phân tích so sánh thêm một số lĩnh vực với Đài Loan và Hồng Kông)

3.2.2 Phân tích những thành công và hạn chế của các mô hình đã được nghiên cứu

3.2.3 Đề xuất những kinh nghiệm có thể tham khảo, vận dụng với Việt Nam

4 Cách tiếp cận của Đề tài

Đề tài căn cứ vào hoàn cảnh, điều kiện và mục tiêu riêng, cụ thể của mỗi nước để phân tích, đánh giá ưu điểm và hạn chế của các quốc gia được nghiên cứu Đồng thời, bằng phương pháp nghiên cứu khu vực học, Đề tài tiến hành so sánh, làm sáng rõ những đặc trưng nổi bật nhất trong mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của Trung Quốc và một số quốc gia Đông á, cũng như những kinh nghiệm có thể tham khảo, vận dụng với Việt Nam, từ các mô hình đó

5 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề

5.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

5.1.1 Về mụ hỡnh phỏt triển của Trung Quốc

Đề tài tiếp cận được khối lượng tư liệu lớn và toàn diện, từ văn kiện chớnh thức của Đảng và Chớnh phủ Trung Quốc đến cỏc cụng trỡnh khoa học, trờn tất

cả cỏc lĩnh vực liờn quan đến nội dung cần nghiờn cứu

 Về quan điểm lý luận

Quan điểm lý luận của Trung Quốc được thể hiện tập trung trong văn kiện cỏc kỳ Đại hội Đảng toàn quốc; tuyển tập phỏt biểu quan trọng của cỏc nhà lónh đạo Trung Quốc như: Tuyển tập Mao Trạch Đụng; Văn tuyển Đặng

Trang 8

Tiểu Bình; Giang Trạch Dân bàn về CNXH có đặc sắc Trung Quốc;… do

Nxb Nhân dân ấn hành

Gần đây, giới học giả Trung Quốc đã cho ra đời những “chùm” sách

xoay quanh các quan điểm cơ bản về lý thuyết phát triển xã hội như: Quan

điểm phát triển một cách khoa học với việc xây dựng xã hội hài hoà xã hội

chủ nghĩa của Lãnh Dung, do Nxb Văn hiến KHXH ấn hành năm 2007;

Nghiên cứu phát triển ở Trung Quốc của Mã Hồng, Nxb Phát triển Trung

Quốc ấn hành năm 2003;… Đặc biệt phải kể đến cuốn sách: Báo cáo nghiên cứu phát triển của Trung Quốc, do Trịnh Hằng Sinh chủ biên, Nxb Đại học

Nhân dân Trung Quốc ấn hành năm 2006 Các tác giả đã dành một dung lượng đáng kể (104/422 trang) để luận giải toàn bộ quan điểm lý luận cơ bản,

từ Mác đến Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, quan điểm của các học giả phương Tây, kể cả quan điểm tư tưởng cổ đại Trung Quốc về

mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trên thế giới nói chung, Trung Quốc nói riêng Cuốn sách còn phân tích khá sâu sắc các yếu tố liên quan đến việc hoàn thiện thể chế quản lý xã hội như kinh tế thị trường, các tổ chức phi chính phủ, khu dân cư ; những yếu tố liên quan đến quá trình xây dựng và phát triển xã hội như: điều chỉnh lợi ích, chính sách xã hội, công tác

xã hội, các thiết chế xã hội… Có thể nói, đây là công trình có giá trị tham khảo và tra cứu rất hữu ích với đề tài

Một trong những vấn đề nổi bật được các học giả Trung Quốc và học giả nước ngoài đặc biệt quan tâm trong thời gian gần đây là lý thuyết về xây dựng

xã hội hài hoà XHCN Các văn kiện chính thức cũng như các công trình nghiên cứu của học giả Trung Quốc đã đi sâu phân tích, luận giải về mô hình, nội dung, các bước đi trong xây dựng xã hội hài hoà Có thể kể tới một số

công trình tiêu biểu như sau: Báo cáo về vấn đề xây dựng xã hội hài hoà của Trung Quốc: Vấn đề, hiện trạng, thách thức và đối sách (Nxb Phát triển

Trang 9

Trung Quốc, 2005); Kinh tế thị trường và xã hội hài hoà (Nxb Kinh tế Trung

Quốc, 2006); Bàn về xã hội hài hoà XHCN (Nxb Nhân dân, 2005);…

 Về mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của Trung Quốc

Có thể nói, đây là “điểm nóng” trong nghiên cứu học thuật ở Trung Quốc hiện nay, được thể hiện trên hàng trăm công trình có giá trị Nhiều cuốn sách phân tích, luận giải trực tiếp toàn bộ hệ thống chính sách phát triển xã hội của Trung Quốc, trên các lĩnh vực: an sinh, y tế, giáo dục, nhà ở, việc làm; các vấn

đề xã hội cần tháo gỡ như: tham nhũng, tội phạm, nghèo đói, chênh lệch thu nhập, mất cân bằng về cơ hội và lợi ích,… Hơn thế, các học giả còn đi sâu phân tích, đánh giá những cải cách quan trọng về thể chế việc làm, thể chế thu nhập, thể chế an sinh, thể chế y tế, thể chế giáo dục và thể chế quản lý xã hội,… Tiêu

biểu là hai cuốn sách: Xã hội học với xã hội Trung Quốc, dày 904 trang, do Lý

Bồi Lâm, Lý Cường, Mã Nhung chủ biên, Nxb Văn hiến KHXH ấn hành năm

2008 và: Cải cách thể chế xã hội Trung Quốc 30 năm nhìn lại và triển vọng, do

Tống Hiểu Ngô chủ biên, Nxb Nhân dân ấn hành năm 2008 Cũng có những

công trình chuyên sâu về một lĩnh vực cụ thể như: 30 năm an sinh xã hội Trung Quốc của Trịnh Công Thành, xuất bản năm 2008 tại Nxb Nhân dân Cuốn sách

đề cập một cách hết sức toàn diện các nội dung liên quan đến an sinh xã hội Trung Quốc, bao gồm dưỡng lão, y tế, cứu trợ, phúc lợi, nhà ở, thất nghiệp, bảo hiểm lao động,… Đồng thời, tác giả cuốn sách còn đưa ra ý kiến dự báo về triển vọng phát triển trong lĩnh vực an sinh xã hội ở Trung Quốc

Nhiều học giả phương Tây cũng đã nghiên cứu, đánh giá về con đường phát triển xã hội của Trung Quốc, từ nhiều góc độ và chiều cạnh khác nhau Một số lớn công trình cho rằng, đứng trước hàng loạt vấn đề xã hội nan giải nảy sinh trong quá trình tăng trưởng kinh tế, các nhà lãnh đạo Trung Quốc (nhất là giới lãnh đạo mới lên cầm quyền sau Đại hội XVI) đã tiến hành điều

chỉnh lại mô hình phát triển của Trung Quốc (Christin Wong, 2005; Dale Wen,

Trang 10

2005; OECD, 2005) Cỏc học giả cho rằng, mụ hỡnh mới mà Trung Quốc theo

đuổi là phỏt triển bền vững, lấy con người làm gốc, phỏt triển cõn bằng, giải quyết vấn đề tài chớnh của khu vực nụng thụn và chỳ ý đến mụi trường Tiờu biểu cho quan điểm này là ý kiến của Hon Donal J.Johnston tại Diễn đàn phỏt

triển Trung Quốc, Bắc Kinh năm 2006: Public Finances and Social Harmony

in China

Nhỡn chung, cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu về lý luận và thực tiễn phỏt triển, quản lý phỏt triển xó hội của Trung Quốc là rất phong phỳ, đa chiều, giỳp cỏc nhà nghiờn cứu cú cú cỏch nhỡn nhận và đỏnh giỏ chớnh xỏc hơn về đặc trưng

và bản chất của cỏc mụ hỡnh phỏt triển ở quốc gia này

5.1.2 Về mụ hỡnh phỏt triển của một số quốc gia Đụng Á

 Nhật Bản

Khụng ớt cụng trỡnh nghiờn cứu đó bàn sõu về vai trũ của Nhà nước, thể chế quản lý, cải cỏch nền hành chớnh,… trong quỏ trỡnh phỏt triển xó hội của Nhật Bản Cỏc vấn đề xó hội Nhật Bản luụn là mảng nghiờn cứu hấp dẫn đối

với học giả nước ngoài Chẳng hạn, trong cuốn Difference and Modernity: social theory and Contemporary Japanese Society, Kegan Paul Itenational,

1995, John Clammer đã làm rõ những khía cạnh về lý thuyết xã hội của Nhật Bản Còn Michael Shalev lại tập trung nghiên cứu việc t− nhân hoá các chính sách xã hội, trong đó Nhật Bản là một quốc gia mà tác giả này rất coi trọng

trong công trình: The privatization of social policy?, Nxb Micmilan, 1996…

Bờn cạnh đú, những mặt trỏi của xó hội và phương thức quản lý xó hội cũng

được chỉ rừ trong nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu nh−: Japanese Models of conflict Resolution, S.N Eisenstadt and Eyal Ben-Ari, Kegan Paul International, 1990 hoặc The Japanese social crisis của Jon Woronoff , Nxb

Massachusett, 1997,

Trang 11

 Malaixia

Một số công trình nghiên cứu đề cập đến cơ sở hình thành và chuyển đổi

mô hình phát triển xã hội của Malaixia như nền tảng lịch sử, đặc điểm văn

hoá, yếu tố tộc người… Chẳng hạn: Abdal Razak Baginada, Malaysia in transition: Politics and Society, London: ASEAN Academic Press, 2003 Cũng

có những công trình nhấn mạnh tầm quan trọng của giai tầng trung lưu trong

quá trình chuyển đổi và phát triển của xã hội như: Abdul Rahman, Social Transfomation, the State and Middle classes in Post independence Malaysia,

in the Reviw “Southeast Asian Stadies”, Vol 34, No.3, December 1996 Một

số học giả tập trung phân tích, đánh giá các chính sách quản lý, điều hành xã hội của Chính phủ Malaixia, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến các biện pháp thực hiện tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội; tính đặc thù của các yếu tố xã hội Malaixia; vai trò giáo dục trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của Malaixia…

 Xinhgapo

Nhiều công trình nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, chính trị như một tấm phông chung cho việc giải quyết các

vấn đề xã hội, tiêu biểu là History of Singapore, 1991, Singapore: Oxford

University Press Một số tác giả đi sâu nghiên cứu kinh nghiệm phát triển xã

hội thông qua chính sách nhà ở công cộng như Management of Success: The Moulding of Modern Singapore, Singapore, ISEAS, 1989; Augustine H.H Tan Phang Sock: The Singapore Experience in Pulic Housing, Singapore: Times

Academic Press, 1991,

 Thái Lan

Thái Lan thường được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu chung

về các nước trong khu vực như: Lim Chong Yah (2004), Southeast Asia: The

long road ahead, Nxb World Scientific Nhiều công trình khoa học đã nhấn

sâu đến việc thực hiện chính sách phúc lợi, xây dựng xã hội công dân và vai

Trang 12

trò Hoàng gia trong mô hình phát triển xã hội của Thái Lan, kinh nghiệm phát triển nông thôn của Thái Lan,… Năm 2001, John Funston (người Xinhgapo) công bố kết quản nghiên cứu về cải cách chính trị ở Thái Lan, trong cuốn sách:

Chính phủ và chính trị ở Đông Nam Á (Government and politics in Southeast Asia), do Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Xinhgapo xuất bản Tác giả đã phân

tích làm rõ các vấn đề chính trị ở Thái Lan hiện nay có ảnh hưởng quan trọng đến đời sống xã hội nước này Theo chúng tôi, đây là một công trình có giá trị tham khảo tốt khi nghiên cứu về mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Thái Lan

5.2 Những nghiên cứu trong nước

5.2.1 Về mô hình phát triển và quản lý phát triển xã hội của Trung Quốc

Mặc dù các công trình nghiên cứu về xã hội Trung Quốc không nhiều, song các học giả Việt Nam đã chú tâm luận giải những vấn đề có ý nghĩa gợi

mở nhất trong mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở quốc gia này Đã có một khối lượng khá lớn công trình mang tính khái quát cao về các bước tiến trong nhận thức lý luận xây dựng CNXH đặc sắc Trung Quốc

như: Những vấn đề lý luận của Đại hội XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc

(KHXH, 2003); CHND Trung Hoa 55 năm xây dựng và phát triển (KHXH,

2005); Trung Quốc 25 năm cải cách và mở cửa: Những vấn đề lý luận và thực tiễn (KHXH, 2004) Gần đây, một số học giả bắt đầu chú tâm lý giải về

mô hình “xã hội hài hoà XHCN”, về các lĩnh vực cụ thể trong phát triển xã hội của Trung Quốc Đó là một số bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu

Trung Quốc: Một số vấn đề về mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển

xã hội của Trung Quốc (Phùng Thị Huệ, số 4/2007); Trung Quốc với việc xây dựng nông thôn mới XHCN (Nguyễn Xuân Cường, số 2/2006); Xã hội Trung Quốc: Tình hình và dự báo (Phùng Thị Huệ, số 5/2005),…

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Trung Quốc tương đối đa chiều Tuy nhiên,

Trang 13

những công trình đó còn khá dàn trải, chưa khái quát được đặc điểm và bản chất, hoặc chí ít là những tiêu chí cụ thể về mô hình phát triển và quản lý phát triển xã hội của Trung Quốc Đây cũng là một khó khăn khi triển khai đề tài

5.2.2 Về mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một

số quốc gia Đông Á

 Nhật Bản

Nghiên cứu sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Nhật Bản từ những đặc tính dân tộc, văn hoá, các giá trị truyền thống,… nhằm luận giải tính độc đáo của mô hình xã hội và tìm ra những điểm chung và khác biệt của nước này là cách tiếp cận mà các nhà nghiên cứu Nhật Bản trong nước thường

sử dụng Tiêu biểu là công trình: Tìm hiểu nền hành chính Nhật Bản (Dương

Phú Hiệp chủ biên, KHXH, Hà Nội, 1996) Một mảng rất quan trọng được các học giả bỏ nhiều công sức tìm hiểu là phương thức quản lý Nhật Bản Chẳng hạn,

cuốn Phát triển nguồn nhân lực trong các công ty Nhật Bản hiện nay (Trần Thị

Nhung, Nguyễn Duy Dũng, KHXH, H 2005) đã chỉ ra đặc điểm quản lý nhân lực

ở các công ty Nhật Bản, tác động đến sự phát triển xã hội của quốc gia này Cuốn

Chính sách và biện pháp giải quyết phúc lợi xã hội Nhật Bản, Nxb KHXH, 1998 (Nguyễn Duy Dũng chủ biên), hoặc cuốn Tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ II đến nay, Nxb KHXH, 2002 (Trần

Thị Nhung) đã đi sâu phân tích những đặc trưng cơ bản của chế độ phúc lợi xã hội Nhật Bản và quan hệ của chúng với tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản

 Malaixia

Các học giả Việt Nam thường nghiên cứu những nhân tố đặc thù của Malaixia trong mối liên quan chặt chẽ với các thành viên của ASEAN Trong

cuốn: Malaixia trên đường phát triển, Nxb Chính trị Quốc gia ấn hành năm

1997, tác giả Phạm Đức Thành đã khái quát quá trình xây dựng và phát triển của Malaixia, giúp giới nghiên cứu chắt tìm những kinh nghiệm của nước này trong lĩnh vực phát triển và quản lý xã hội Nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu

Trang 14

quan điểm và chính sách của Malaixia trong việc tạo thế cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội Cũng có những công trình tìm hiểu các yếu tố địa lý, lịch sử và văn hoá tác động đến quá trình hình thành và phát

triển của Liên bang Malaixia Tiêu biểu phải kể đến cuốn sách: Địa lý kinh tế

- xã hội các nước ASEAN (tập 1, KHXH, 1999) của tác giả Phạm Mộng Hoa

 Xinhgapo

Đã có một số công trình điểm lại toàn bộ lịch sử phát triển của quốc gia này,

từ đó rút ra những yếu tố tác động đến sự phát triển của Xinhgapo Ví như cuốn

Cộng hoà Xinhgapo 30 năm xây dựng và phát triển của Trần Khánh, Nxb Khoa

học xã hội, 1995 hay Bí quyết hoá rồng: Lịch sử Xinhgapo: 1965-2000 của Lý

Quang Diệu, Nxb Trẻ 2001 Một số tác giả cũng nêu và phân tích rõ những hạn chế và thách thức mà Xinhgapo phải đối mặt trong quá trình xây dựng và phát triển Một trong những thành công tiêu biểu của Xinhgapo là nước này đã thực hiện khá tốt các chính sách xã hội, nhất là công bằng xã hội và chế độ nhà ở công cộng Nhiều quan điểm của các học giả cho rằng, quốc đảo này là một ví

dụ tương đối điển hình về bộ máy công quyền minh bạch, công khai Chính vì

thế, người dân được hưởng nhiều chính sách và lợi ích công bằng Bài viết: Phân phối thu nhập và công bằng xã hội: Trường hợp Xinhgapo (Trần Khánh, Xã hội

học, số 2/2004) đã phân tích tính ưu việt trong chế độ phân phối thu nhập, đảm bảo nguyên tắc công bằng của Xinhgapo Bài viết cho rằng, đây chính là một trong những thành công của Xinhgapo về quản lý phát triển xã hội, cũng là kinh nghiệm rất đáng tham khảo đối với nhiều nước trong khu vực

Trang 15

hay xảy ra cỏc sự biến chớnh trị như Thỏi Lan lại vẫn cú được một nền kinh tế phỏt triển đều đặn và cỏc chớnh sỏch xó hội tương đối ưu việt Chẳng hạn,

trong cụng trỡnh Chiến lược phỏt triển của cỏc nước Đụng Nam Á, (Đại học

Mở bỏn cụng TP Hồ Chớ Minh, 2001), tỏc giả Nguyễn Thu Mỹ đó phõn tớch chiến lược phỏt triển của Thỏi Lan, trong quan hệ so sỏnh với một số quốc gia Đụng Nam Á, từ đú rỳt ra những đặc điểm và cỏch đi riờng của Thỏi Lan trờn

lộ trỡnh phỏt triển Tương tự như vậy là cuốn Con đường phỏt triển của cỏc nước ASEAN (KHXH, 1996), do Phạm Đức Thành chủ biờn

Tuy nhiờn, hiện đang cũn thiếu vắng những cụng trỡnh mang tớnh khỏi quỏt về đặc điểm và bản chất của mụ hỡnh phỏt triển xó hội và quản lý phỏt triển xó hội ở cỏc quốc gia Đụng Á Càng chưa cú cụng trỡnh nào đỳc rỳt thành mụ hỡnh tiờu biểu, hay kinh nghiệm cần vận dụng cho Việt Nam từ kết quả nghiờn cứu sự phỏt triển và phương thức quản lý phỏt triển của cỏc quốc gia Đụng Á

6 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài chia làm 4 chương

- Chương I: Mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của

Trung Quốc thời kỳ cải cách mở cửa

- Chương II: Mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở

Nhật Bản và Hàn Quốc

- Chương III: Mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở

Malaixia, Xinhgapo và Thái Lan

- Chương IV: Những kinh nghiệm gợi mở với Việt Nam

Trang 16

CHƯƠNG I

Mễ HèNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN Lí PHÁT TRIỂN

Hội nghị Trung ương 3 Khoá XI Đảng Cộng sản (ĐCS) Trung Quốc (tháng 12-1978) quyết định chuyển trọng tâm công tác đất nước từ đấu tranh giai cấp sang xây dựng kinh tế Trong suốt thời gian dài, Trung Quốc hầu như tập trung đầu tư mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, chưa chú ý thích đáng

đến phát triển xã hội Chính vì thế, bên cạnh những thành tựu rực rỡ, đáng khâm phục về kinh tế, Trung Quốc ngày càng phải đối mặt với không ít các vấn đề nổi cộm, thách thức trong lĩnh vực xã hội Bước vào thế kỷ XXI, nhiều cuộc thăm dò ý kiến đã đi đến thống nhất cho rằng, trong tất cả các yếu tố dẫn

đến nguy cơ bất ổn, thậm chí đe doạ thành quả của công cuộc cải cách mở cửa thì yếu tố xã hội là đáng quan ngại hơn cả Trước thực trạng đó, từ sau Đại hội XVI (11-2002), các nhà lãnh đạo Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã hết sức chú trọng đến mục tiêu phát triển xã hội, tăng nhanh bước tiến đồng bộ với công cuộc cải cách và phát triển kinh tế Thông qua việc thực hiện các chính sách phát triển xã hội và đổi mới phương thức quản lý xã hội, Trung Quốc kỳ vọng sẽ không chỉ hoá giải được những vấn đề bất cập, mà còn tìm kiếm và tạo dựng thành công một mô hình phát triển xã hội thích ứng với điều kiện kinh tế thị trường

Từ sau Đại hội XVII, Trung Quốc đặcbiệt quan tâm đến nhiệm vụ cải cách thể chế xã hội, đặt nó ngang tầm với cải cách thể chế kinh tế, thể chế chính trị và thể chế văn hoá, coi đó là một nội dung không thể thiếu trong quá trình hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu “lấy con người làm gốc” Điều đó

được thể hiện cụ thể trong Báo cáo trình trước Hội nghị lần thứ 3 Quốc hội Khoá XI (tháng 3-2010) của Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo – coi cải cách thể chế xã hội là nhiệm vụ trọng tâm trong những thập niên tiếp theo của thế kỷ XXI Đây được xem là bước tiến mới trong tư duy cũng như đòi hỏi

Trang 17

thực tiễn trước mục tiêu phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của Trung Quốc

I Chuyển đổi mô hình phát triển x∙ hội và quản lý phát

triển x∙ hội của Trung Quốc

Cú thể núi, Trung Quốc đó ỏp dụng một mụ hỡnh phỏt triển khụng thành cụng trong 30 năm đầu dựng nước (1949-1978) Đú là kết quả của cỏch làm duy ý chớ, giỏo điều, được trả giỏ bằng sự suy thoỏi nghiờm trọng sau 10 năm Cỏch mạng văn hoỏ (1966-1976) Cụng cuộc cải cỏch đất nước được tiến hành sau quyết định của Hội nghị Trung ương 3 Khoỏ XI ĐCS Trung Quốc

đó mở ra trang sử mới trờn con đường phỏt triển của CHND Trung Hoa Hơn

30 năm qua là thời kỳ chuyển đổi mụ hỡnh phỏt triển cực kỳ quan trọng của Trung Quốc, với cỏc nội dung cải cỏch tương đối đồng bộ, sõu rộng về thể chế kinh tế, thể chế chớnh trị và thể chế văn hoỏ Hội nghị Trung ương 6 Khoỏ XVI ĐCS Trung Quốc (thỏng 10-2006) lần đầu tiờn đề cập đến vấn đề cải cỏch thể chế xó hội, đỏnh dấu chặng đường mới trong quỏ trỡnh điều chỉnh và tạo dựng một mụ hỡnh phỏt triển xã hội và quản lý phỏt triển xó hội mới của Trung Quốc

1 Chuyển đổi mụ hỡnh phỏt triển xó hội: những nội dung chủ yếu

Xõy dựng xó hội hài hoà là mục tiờu đang được Trung Quốc đặc biệt quan tõm, cũng là sự chuyển biến quan trọng trong nhận thức của Trung Quốc

về phương thức và nội dung phỏt triển xó hội trong điều kiện kinh tế thị trường Trung Quốc đang từng bước xỏc định lại cỏc tiờu chớ cụng bằng, điều hũa lợi ớch, xoỏ bỏ chủ nghĩa bỡnh quõn, trờn cơ sở đỏnh giỏ đỳng mức năng lực và đúng gúp cỏ nhõn, đồng thời tạo cơ hội phỏt triển bỡnh đẳng cho mọi thành viờn, tiến tới một xó hội cựng giàu cú Đú cũng chớnh là quỏ trỡnh chuyển đổi mụ hỡnh phỏt triển xó hội - từ bỡnh quõn quyền lợi sang hài hoà quyền lợi

Trang 18

1.1 Điều hoà cơ cấu lợi ớch: từ bỡnh quõn thu nhập đến ưu tiờn hiệu quả, tiến tới cựng giàu cú

Lợi ớch là yếu tố quan trọng nhất, cú tỏc dụng gắn kết hay làm lỏng lẻo, thậm chớ gõy mõu thuẫn trong cỏc quan hệ xó hội Lợi ớch được điều phối cõn bằng sẽ gúp phần thỳc đẩy xó hội phỏt triển; ngược lại, sẽ trở thành lực cản cỏc hoạt động xó hội Nhận thức để tuõn thủ quy luật này là quỏ trỡnh khụng

hề đơn giản với Trung Quốc, bởi quan điểm và thúi quen từ mụ hỡnh kinh tế

kế hoạch đó hằn sõu trong tư tưởng của người dõn nước này Cỏc nhà lónh đạo Trung Quốc - từ thế hệ Mao Trạch Đụng đến Hồ Cẩm Đào đều nhấn mạnh mục tiờu đem lại lợi ớch cụng bằng cho mọi người dõn, nhưng phương thức thực hiện phải trải qua một quỏ trỡnh điều chỉnh, hoàn thiện nhiều thập kỷ Thời kỳ Mao Trạch Đụng, Trung Quốc đặc biệt coi trọng chủ nghĩa phõn phối bỡnh quõn, thể hiện rừ nhất trong lĩnh vực việc làm và an sinh xó hội Hiến pháp đầu tiên nước CHND Trung Hoa (9-1954) quy định: “Công dân nước CHND Trung Hoa có quyền được làm việc Thông qua quá trình phát triển nền kinh tế kế hoạch, từng bước mở rộng việc làm, cải thiện điều kiện làm việc và tiền lương, nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động”1 Để giải quyết việc làm, Mao Trạch Đông chủ trương rải đều công việc cho mọi đối tượng, theo cơ chế “bao cấp” ở thành phố, các cơ quan xí nghiệp đều cố sức

bố trí việc làm cho người lao động; tương tự như vậy, toàn bộ lực lượng lao

động nông thôn đều tham gia sản xuất theo cơ chế tính công điểm đồng đều như nhau Vì thế, trong suốt thời gian hơn 3 thập kỷ, tính từ năm 1949, ở Trung Quốc không chấp nhận khái niệm “thất nghiệp” Để thực hiện mục tiêu

an sinh toàn dân, Chính phủ Trung Quốc ban hành Điều lệ an sinh công chức

xí nghiệp và Điều lệ an sinh cán bộ trong cơ quan nhà nước; thực hiện chính

sách cứu tế, phúc lợi và nhiều biện pháp đưa lại quyền lợi an sinh cho đông

đảo người dân Ngày 30-6-1956, Hội nghị lần thứ 3 Đại hội đại biểu nhân dân

toàn quốc Khoá I thông qua Điều lệ mẫu hợp tác xã sản xuất nông nghiệp cao

1

Mao Trạch Đông văn tuyển , Nxb Nhân dân, 1999, trang 228.

Trang 19

cấp, đề cập 5 nội dung an sinh xã hội chủ yếu ở nông thôn là “5 bảo đảm” (ăn,

ở, mặc, chất đốt, ma chay) và chế độ cứu tế, trợ cấp Từ năm 1959, chế độ y tế hợp tác nông thôn được thừa nhận và bắt đầu thực hiện vào năm 1960 Trung Quốc gọi đó là chế độ đảm bảo sức khoẻ y tế tập thể Sau năm 1968, phong trào y tế nông thôn được dấy lên mạnh mẽ Đến năm 1976 đã có tới 90% các

đại đội sản xuất ở nông thôn Trung Quốc thực hiện y tế hợp tác, giải quyết một phần khó khăn trong khâu khám chữa bệnh cho nông dân1 Cơ chế quản

lý theo mô hình “Công xã nhân dân”, “ăn nồi cơm chung” thời kỳ này cũng chính nhằm mục tiêu chia đều lợi ích cho toàn bộ người dân nông thôn, không quan tâm đến mức đóng góp, cống hiến hay năng lực làm việc Công xã nhân dân trên thực tế đã thực hiện chế độ sở hữu toàn dân Nguyên tắc “phân phối theo lao động” của CNXH cơ bản bị xoá bỏ2 Thực chất của chủ nghĩa bình quân là cào bằng lợi ích, bất kể năng lực và mức độ đóng góp – cả sức lực, tài lực và vật lực của người lao động Nguy hại hơn, nó đã triệt tiêu sức sáng tạo của nguồn lực con người, kìm hãm sự phát triển xã hội

Bước sang thời kỳ cải cách, song song với quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường XHCN, Trung Quốc từng bước chấp nhận chế độ sở hữu đa thành phần, phân phối nhiều hình thức Theo đó, đóng góp của các tầng lớp xã hội có sự chênh lệch khác nhau, lợi ích của từng bộ phận cư dân cũng bộc lộ sự biến đổi và phân hoá mới Trong bối

cảnh đó, Trung Quốc chủ trương phát triển xã hội theo quan điểm ưu tiên hiệu quả, chiếu cố công bằng, tiến tới cùng giàu có Đặng Tiểu Bình từng phát biểu:

“Các ngành văn hoá tư tưởng, y tế giáo dục đều phải coi hiệu quả xã hội là chuẩn mực duy nhất trong mọi hoạt động, các doanh nghiệp trực thuộc các ngành này cũng phải coi hiệu quả xã hội là chuẩn mực cao nhất”3 Từ quan

điểm đó, Đặng Tiểu Bình đã đề xướng một tư tưởng chỉ đạo hết sức mới mẻ:

cho phép một số vùng, một số người giàu lên trước Đây là bước chuyển lịch

1

Khổng Tường Trí chủ biên (2005): Báo cáo triển vọng của vấn đề Tam nông ở Trung Quốc, Nxb

Kinh tế, Bắc Kinh, trang 135

Trang 20

sử trong quan điểm phát triển xã hội của Trung Quốc so với thời đại Mao Trạch Đông Vì thế, ngay trong giai đoạn đầu cải cách, Trung Quốc đã thực hiện chiến lược phát triển hết sức quan trọng và táo bạo: mở cửa toàn diện các vùng ven biển, khiến nền kinh tế khu vực miền Đông phát triển nhanh chưa từng thấy Theo đó, chất lượng sống của đông đảo người dân tại đây được nâng cao rõ rệt Cho phép một số vùng, một bộ phận cư dân giàu lên trước, trong chừng mực nào đó cũng có nghĩa là chấp nhận một cơ cấu lợi ích mới, chấp nhận sự phân hoá giàu nghèo và những mâu thuẫn xã hội mới

Tuy nhiên, lý luận phát triển của Đặng Tiểu Bình không chỉ coi trọng ưu tiên hiệu quả, mà còn hết sức quan tâm đến công bằng xã hội Ông Đặng cho rằng, “bản chất của CNXH là giải phóng sức sản xuất, phát triển sức sản xuất, tiêu diệt bóc lột, xoá bỏ phân hoá hai cực, cuối cùng đạt tới mục tiêu cùng giàu có”1 Vì thế, “vùng phát triển có trách nhiệm lôi kéo vùng lạc hậu, vùng giàu có trước sẽ nộp thuế nhiều hơn để hỗ trợ các vùng chưa phát triển”2; “một

số người sau khi làm giàu cần tự nguyện bỏ tiền hỗ trợ giáo dục hoặc đóng góp xây dựng đường sá”3 Ông Đặng cũng khẳng định: Đối với những địa phương hoặc người nghèo khó, nhà nước cần thực hiện các chính sách trợ giúp tích cực trên mọi phương diện, đặc biệt là vật chất Theo ông Đặng, khuyến khích một số vùng, một số người giàu lên trước không có nghĩa là chấp nhận xã hội phân hoá hai cực Bởi “phân hóa hai cực làm cho mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn vùng, mâu thuẫn giai cấp đều phát triển; đi kèm với nó là mâu thuẫn giữa trung ương với địa phương cũng sẽ phát triển Điều đó sẽ dẫn đến tình trạng hỗn loạn trong toàn xã hội”4

Tuy nhiên, thực tế phát triển xã hội ở Trung Quốc đã không hoàn toàn diễn ra đúng ý tưởng “cùng giàu có” của các nhà lãnh đạo nước này Sau gần

30 năm cải cách, mặc dù mức sống của đông đảo nhân dân được cải thiện và nâng cao rõ rệt, song Trung Quốc lại lâm vào tình trạng phân hoá giàu nghèo

1

Đặng Tiểu Bình văn tuyển, tập 3, trang 373

2

Lý luận kinh tế Đặng Tiểu Bình – Trích yếu, Nxb Kinh tế Trung Quốc, trang 47

3Đặng Tiểu Bình văn tuyển, tập 3, trang 111.

4 Đặng Tiểu Bình văn tuyển, tập 3, trang 24-25

Trang 21

ngày càng nghiêm trọng Cũng có nghĩa là mục tiêu cân bằng lợi ích chưa đạt hiệu quả mong muốn Trước thực trạng đó, Hội nghị Trung ương 6 Khoá XVI

ĐCS Trung Quốc (8-11/10/2006) đã công bố “Quyết định một số vấn đề quan trọng về xây dựng xã hội hài hoà XHCN” Những nội dung nêu trong “Quyết

định” phản ánh rõ hơn mục tiêu chuyển đổi mô hình phát triển xã hội của Trung Quốc, nhằm đem lại lợi ích cân bằng hơn cho các vùng miền và các nhóm xã hội:

Một là, xây dựng hài hoà cơ cấu thành thị với nông thôn, thu hẹp tới mức thấp nhất khoảng cách chênh lệch quá lớn về trình độ phát triển vùng;

Hai là, xây dựng hài hoà kết cấu khu vực cư dân, từng bước xoá bỏ tình

trạng mất cân bằng nghiêm trọng về thu nhập giữa các nhóm cư dân;

Ba là, xây dựng hài hoà cơ cấu giai tầng, tạo lập một xã hội cùng giàu có,

giảm thiểu mâu thuẫn giữa các tầng lớp cư dân, tạo môi trường phát triển xã hội ổn định và lành mạnh;

Bốn là, xây dựng hài hoà cơ cấu việc làm, giải quyết tình trạng dư thừa

lao động ở nông thôn và thất nghiệp ở thành phố, thực hiện đô thị hoá và mở rộng giai tầng có thu nhập ổn định trong xã hội;

Năm là, xây dựng hài hoà kết cấu nhân khẩu hợp lý, với hệ thống an sinh

xã hội đủ mạnh, thu nhập và tích luỹ cá nhân cao, nhằm duy trì sức sống bền vững cho cộng đồng;

Sáu là, xây dựng hài hoà quan hệ giữa con người với tự nhiên;

Bảy là, xây dựng hài hoà quan niệm giá trị giữa truyền thống và hiện đại,

phù hợp với mục tiêu phát triển mới;

Tám là, xây dựng hài hoà môi trường quan hệ quốc tế, góp phần thực

hiện mục tiêu phát triển xã hội hài hoà1

1

Xem Lý Bồi Lâm (2006): Mười bài giảng về xã hội hài hoà, Nxb Văn hiến Khoa học xã hội

(Trung Quốc), trang 30-35

Trang 22

Xây dựng xã hội hài hoà cũng chính là xử lý tốt các mối quan hệ về lợi ích, điều hoà lợi ích theo nguyên tắc công bằng, chính đáng, tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển lành mạnh, bền vững của xã hội

Có thể thấy rõ, ưu tiên hiệu quả, quan tâm công bằng nhằm điều hoà và cân bằng lợi ích, tiến tới cùng giàu có là nội dung hết sức quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình triển xã hội của Trung Quốc Nghĩa là, trước hết phải ưu tiên tốc độ phát triển của những địa phương có điều kiện tốt hơn, ưu tiên lợi ích của những người có năng lực và trình độ cao hơn; đồng thời cần tích cực trợ giúp các vùng khó khăn, lạc hậu, trợ giúp giai tầng yếu thế, ít khả năng và cơ hội phát triển hơn Mục tiêu cao nhất là cùng thoát nghèo, cùng giàu có Mô hình phát triển xã hội mới của Trung Quốc đã phát huy tối đa tính tích cực, sáng tạo và ý chí vươn lên của mọi thành viên trong xã hội – người

có năng lực nhiều hơn có thể nhanh chóng làm giàu, người yếu kém hơn không bị tước đoạt cơ hội Nó tiến bộ và tích cực hơn nhiều so với mô hình phát triển xã hội theo chủ nghĩa bình quân - đúng hơn là cào bằng lợi ích, làm nghèo xã hội Tuy vậy, trong chừng mực nhất định, mô hình mới này cũng chấp nhận sự chênh lệch tương đối về trình độ phát triển giữa các vùng miền, giữa các bộ phận cư dân Đây thật sự là tình trạng khó tránh khỏi đối với các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi mô hình phát triển

1.2 Từ tập trung phát triển kinh tế sang chú trọng cải cách dân sinh

Trong thời gian hơn hai mươi năm cải cỏch, Trung Quốc luụn đặt nhiệm

vụ phỏt triển kinh tế lờn hàng đầu, ra sức tập trung mọi nguồn lực vào mục tiờu tăng trưởng và nõng cao thu nhập quốc dõn Với những cố gắng vượt bậc, Trung Quốc đó đạt được nhiều thành tựu kinh tế rực rỡ, đỏng khõm phục Tuy nhiờn, trong lĩnh vực xó hội, Trung Quốc ngày càng phải đối mặt với nhiều vấn đề gai gúc, nan giải, đặc biệt là những biểu hiện bất bỡnh đẳng trong đời sống dõn sinh Để phỏt triển cõn bằng, nhanh chúng giải quyết mõu thuẫn giữa tăng trưởng và cụng bằng xó hội, Trung Quốc đề xuất quan điểm “phỏt triển một cỏch khoa học”, theo phương chõm “lấy con người làm gốc; phỏt triển

Trang 23

toàn diện, cân bằng và bền vững; phát triển hài hoà kinh tế, chính trị, văn hoá

và xã hội; phát triển con người toàn diện”1 Bước vào thế kỷ XXI, dân sinh đã ngày càng trở thành mối quan tâm lớn của các nhà lãnh đạo Trung Quốc Báo cáo Chính trị Đại hội XVII ĐCS Trung Quốc nêu cụ thể 6 nội dung xây dựng

xã hội lấy dân sinh làm trọng điểm Đó là: (1) Ưu tiên phát triển giáo dục, xây dựng cường quốc nguồn nhân lực; (2) Thực hiện chiến lược phát triển việc làm, thúc đẩy quá trình lập nghiệp để mở rộng việc làm; (3) Đi sâu cải cách chế độ phân phối thu nhập, tăng thu nhập cho cư dân thành thị và nông thôn; (4) Đẩy mạnh xây dựng hệ thống an sinh xã hội phủ rộng cả thành thị lẫn nông thôn nhằm đảm bảo mức sống cơ bản cho người dân; (5) Xây dựng chế độ y tế cơ bản, nâng cao sức khỏe cộng đồng; (6) Hoàn thiện thể chế quản lý xã hội, duy trì cục diện đoàn kết ổn định xã hội2 Đây là lần đầu tiên, vấn đề dân sinh được chính thức nêu thành mục riêng, quan trọng trong Báo cáo chính trị Đại hội ĐCS Trung Quốc “Dân sinh” thể hiện nội hàm mới, thực tiễn hơn Đó là: (1) Giải quyết dân sinh trên cơ sở bình đẳng, “công bằng chính nghĩa”; (2) Dân sinh đặt trong hệ thống an sinh phủ rộng toàn xã hội, theo phương châm “3 cơ sở, 3 trọng điểm và 2 bổ trợ” (lấy bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội, phúc lợi xã hội làm cơ sở; lấy dưỡng lão cơ bản, y tế cơ bản, bảo đảm mức sống tối thiểu làm trọng điểm; lấy từ thiện, bảo hiểm thất nghiệp làm bổ trợ), nhanh chóng hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội”3; (3) Chú trọng đến giai tầng yếu thế trong xã hội

Hồ Cẩm Đào cho rằng,coi cải cách dân sinh là trọng điểm cũng chính là biện pháp quan trọng để thúc đẩy quá trình xây dựng xã hội hài hoà Ông chỉ rõ: “Xây dựng xã hội hài hoà và hạnh phúc của nhân dân liên quan mật thiết với nhau Trên cơ sở phát triển kinh tế, phải chú trọng hơn xây dựng xã hội, ra

Trang 24

sức bảo đảm và cải thiện dân sinh, thúc đẩy cải cách thể chế xã hội, mở rộng dịch vụ công, hoàn thiện cơ chế quản lý xã hội, thúc đẩy công bằng chính nghĩa, ra sức phấn đấu làm cho toàn thể nhân dân được học hành, được lao động, được khám chữa bệnh, được dưỡng lão, có nhà ở, thúc đẩy xây dựng xã hội hài hoà”1 Cũng chính vì chú trọng đến vấn đề dân sinh nên lần đầu tiên khái niệm “văn minh sinh thái” – yếu tố quan trọng liên quan đến chất lượng sống - được chính thức đưa vào Báo cáo chính trị của ĐCS Trung Quốc (Khoá XVII), sau khái niệm “văn minh vật chất” và “văn minh tinh thần” được nhấn mạnh từ Đại hội XII đến Đại hội XV; “văn minh chính trị” được nêu ra trong Đại hội XVI

Báo cáo chính trị tại Đại hội XVI ĐCS Trung Quốc cũng đã nhấn khá rõ những nội dung chuyển đổi trong mô hình phát triển xã hội, nhằm vào mục tiêu dân sinh như vậy

Một là, hợp lý hoá quan hệ phân phối bằng cách điều tiết và quy phạm

hoá quan hệ phân phối giữa nhà nước, xí nghiệp và cá nhân; xác lập nguyên tắc phân phối theo mức đóng góp của các yếu tố sản xuất như sức lao động, vốn, kỹ thuật và khả năng quản lý,… hoàn thiện chế độ phân phối đa dạng, nhiều hình thức, trong đó phân phối theo lao động là chủ thể Duy trì phương thức ưu tiên hiệu quả, chú ý công bằng, vừa chống chủ nghĩa bình quân, vừa ngăn ngừa tình trạng thu nhập quá chênh lệch Phân phối lần đầu phải ưu tiên hiệu quả, phát huy tác dụng của thị trường; phân phối lại cần chú ý đến công bằng, tăng cường chức năng điều tiết thu nhập của chính phủ, nhất là với các ngành có tính lũng đoạn cao, xoá bỏ thu nhập bất hợp pháp

Hai là, kiện toàn hệ thống an sinh phù hợp với trình độ phát triển kinh tế

Kết hợp nguồn thu chung của xã hội và đóng góp của cá nhân Hoàn thiện chế

độ bảo hiểm dưỡng lão, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và đảm bảo mức

1 http://news.xinhuanet.com/newscenter/2007-10/24/content_6938568.htm

Trang 25

sống tối thiểu cho cư dân thành phố và nông thôn Phát triển sự nghiệp cứu trợ và phúc lợi xã hội, xây dựng chương trình giúp đỡ người tàn tật

Ba là, mở rộng kênh tạo việc làm, tích cực phát triển các ngành tập trung

lao động; thực hiện chính sách ưu đãi đối với những xí nghiệp cung cấp việc làm mới và thu nạp người thất nghiệp Giáo dục, hướng dẫn làm thay đổi quan niệm việc làm trong toàn xã hội Hoàn thiện hệ thống dịch vụ việc làm; đảm bảo quyền lợi người lao động theo quy định pháp luật

Bốn là, tăng cường công tác xoá đói giảm nghèo, nhanh chóng giải quyết

vấn đề ăn no, mặc ấm, cải thiện điều kiện khám chữa bệnh, nâng cao sức khoẻ cho cư dân các vùng nông thôn1

Trong mô hình phát triển xã hội mới, Trung Quốc còn đặc biệt coi trọng chiến lược “khoa giáo hưng quốc”, nhấn mạnh mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Trung Quốc chủ trương “từng bước xây dựng và hoàn thiện chế độ giáo dục có lợi cho tiêu chí học tập suốt đời Các trường học phải

mở cửa rộng hơn ra xã hội, phát huy chức năng của các loại hình giáo dục chính quy và không chính quy, giáo dục thường xuyên và bồi dưỡng kỹ thuật ngành nghề”2 Theo ông Giang Trạch Dân, cần tạo điều kiện và môi trường làm việc, học tập tốt nhất cho tầng lới trí thức; hậu đãi và trọng thưởng tài năng đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp phát triển đất nước

Có thể thấy, Trung Quốc đã ngày càng chú trọng đến lĩnh vực xã hội, nhằm tìm kiếm sự phát triển cân bằng hơn Xây dựng xã hội hài hoà theo tiêu chí điều chỉnh lợi ích và cải cách dân sinh là nội dung quan trọng trong quá trình tạo dựng mô hình phát triển xã hội mới, phù hợp với yêu cầu hiện đại hoá và nâng cao toàn diện đời sống người dân Đây cũng chính là nhân tố hết sức quan trọng tạo nên cấu trúc mới trong mô hình xây dựng xã hội XHCN ở

Trang 26

Trung Quốc: từ “tam vị nhất thể”– bao gồm kinh tế, chớnh trị và văn hoỏ sang

“tứ vị nhất thể” – bao gồm kinh tế, chớnh trị, văn hoỏ và xó hội Cũng cú nghĩa là, với quan điểm phỏt triển một cỏch khoa học, Trung Quốc đó làm rừ hơn nội hàm của CNXH đặc sắc Trung Quốc Đú là: Nền kinh tế thị trường XHCN, nền văn hoỏ tiờn tiến, nền chớnh trị dõn chủ và xó hội hài hoà

2 Điều chỉnh và chuyển đổi mụ hỡnh quản lý phỏt triển xó hội

Trước thời kỳ cải cỏch, Trung Quốc quản lý xó hội bằng mụ thức hết sức cứng nhắc, theo nguyờn tắc tập quyền cao độ Quyền lợi và cơ cấu quyền lợi của mọi cụng dõn đều nằm dưới sự điều hành “vạn năng” của nhà nước Sau năm 1978 là thời kỳ chuyển đổi thể chế quản lý kinh tế - từ mụ hỡnh kế hoạch hoỏ tập trung sang mụ hỡnh kinh tế thị trường XHCN đặc sắc Trung Quốc Đi kốm với quỏ trỡnh đú là cỏc bước cải cỏch tương đối đồng bộ về thể chế chớnh trị và thể chế văn hoỏ, thớch ứng với yờu cầu hiện đại hoỏ đất nước Tiến trỡnh cải cỏch thể chế xó hội ở Trung Quốc diễn ra chậm hơn, thiếu đồng bộ hơn, song cũng thể hiện khỏ rừ nột sự biến đổi tất yếu, xuất phỏt từ yờu cầu bức thiết phải xử lý tốt mối quan hệ giữa 3 yếu tố cốt lừi trong thời đại mới, đú là nhà nước, thị trường và xó hội

2.1 Từ cơ chế nhất nguyờn sang cơ chế đa nguyờn hoỏ

Sau khi thành lập nước, Mao Trạch Đông áp dụng cơ chế quản lý xã hội theo “đơn vị công tác” ở thành phố và “công xã nhân dân” ở nông thôn “Đơn vị” không chỉ là nơi làm việc, mà còn là nơi tổ chức và quản lý mọi phương diện trong đời sống xã hội của công nhân, viên chức các cơ quan, xí nghiệp ở thành phố như sinh đẻ, ốm đau, tử tuất Tại nông thôn, “công xã nhân dân” (thành lập năm 1958) là mô hình hợp nhất giữa đơn vị sản xuất và chính quyền, thực hiện chế độ bao cấp hoàn toàn (“7 bao”): bao ăn, bao ở, bao mặc, bao sinh

đẻ, bao chữa bệnh, bao cưới hỏi, bao tang ma Cả công xã “ăn nồi cơm chung”,

Trang 27

hưởng thụ đồng đều mọi thành quả lao động, không kể đóng góp nhiều hay ít Nguyên tắc “phân phối theo lao động” của CNXH cơ bản bị xoá bỏ1

Cơ chế quản lý ở thành thị và nông thôn Trung Quốc khi đó đã tạo nên cục diện “nhất nguyên hoá”, trong đó quyền uy của Đảng là tối thượng, chức năng Nhà nước là vạn năng, cá nhân phụ thuộc hoàn toàn vào “đơn vị” hay

“công xã” Nhà nước điều phối mọi hoạt động trong đời sống xã hội thông qua mệnh lệnh hành chính; chức năng giám sát của xã hội là vô cùng yếu ớt, thậm chí không có vai trò Phương thức quản lý xã hội thời kỳ này được coi là chế

độ “quân sự hoá”2 Nó làm giảm tối đa hiệu quả dịch vụ xã hội; thiếu cơ chế cạnh tranh nhân tài và hạn chế mức luân chuyển nguồn lực lao động, kìm hãm sức sống lành mạnh của xã hội

Về biện pháp quản lý, các nhà lãnh đạo thế hệ Mao Trạch Đông coi đấu tranh giai cấp là công cụ quan trọng hàng đầu, là nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng và phát triển đất nước Mọi hoạt động kinh tế - xã hội đi chệch quỹ

đạo của mô hình tập trung quan liêu bao cấp, không tuân thủ mệnh lệnh từ trên dội xuống - dù đúng hay sai - đều bị xem là đi ngược với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội

Các nhà lãnh đạo sau Mao cho rằng, quản lý xã hội phải nhằm đạt tới mục tiêu khơi nguồn động lực tổng hợp, phát huy tối đa tính sáng tạo, chủ

động và trách nhiệm của cả chủ thể lẫn khách thể quản lý Muốn thế, cần xây dựng một cơ chế quản lý đa nguyên, vừa có khả năng tổ chức, điều hành quá trình phát triển xã hội để đảm bảo lợi ích của đông đảo người dân, vừa có tác dụng giám sát, khống chế để giữ nghiêm kỷ cương, tạo môi trường xây dựng xã hội công bằng, lành mạnh Vì thế, trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản

lý nói chung, phát triển xã hội nói riêng, Trung Quốc đã hết sức chú trọng hai khâu cơ bản:

Trang 28

2.1.1 Tách chức năng lãnh đạo của đảng với chức năng quản lý của chính quyền

Các nhà cải cách Trung Quốc nhận thức rõ nguyên nhân sâu xa dẫn Trung Quốc đến tình trạng bế tắc về mô hình phát triển trong 30 năm xây dựng nền kinh tế kế hoạch tập trung Đó là công tác quản lý của Trung Quốc trên mọi lĩnh vực đều mắc dị tật nghiêm trọng: quyền lực quá tập trung vào các cơ quan Đảng, quyền lực không được chia sẻ hợp lý cho các đơn vị cơ sở

và người dân “Cơ quan lãnh đạo các cấp đều quản rất nhiều lĩnh vực không nên quản, những lĩnh vực cần quản thì lại quản không tốt, quản không nổi Những mảng việc đó vốn rất dễ làm, song do tất cả đều nằm trong tay các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, đều do Trung ương quản lý, vì thế trở nên rất khó làm”1 Đảng bao biện, can thiệp trực tiếp và quá sâu vào công việc quản lý của chính quyền, kinh doanh của doanh nghiệp Điều đó không chỉ làm nhoà ranh giới giữa chức năng của Đảng với chính quyền, mà còn hạn chế tính chủ động, sáng tạo của cơ sở, giảm vai trò, thậm chí uy tín của Đảng Trung Quốc khẳng định, kiên trì sự lãnh đạo của ĐCS là một trong 4 nguyên tắc bất di bất dịch, đảm bảo thắng lợi của công cuộc cải cách mở cửa Nhưng,

để đổi mới phương thức quản lý, Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh: phải tách chức năng của Đảng với chức năng của chính quyền, giải quyết thấu đáo mối quan

hệ giữa Đảng với chính quyền trong công tác quản lý Điều đó vừa có tác dụng nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng, vừa nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước Đồng thời với việc tách chức năng đảng và chính quyền, phải trao quyền quản lý, điều hành nhiều hơn cho các doanh nghiệp, cho các địa phương, cho người dân, khuyến khích và tạo điều kiện, cơ hội cho họ tham gia quản lý các công việc xã hội Thực hiện cơ chế phân công trách nhiệm, quyền lực không quá tập trung, quyền lực không được vượt quá chức trách là nội dung quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình quản lý, thúc đẩy sự phát triển xã hội của Trung Quốc

1

Đặng Tiểu Bình văn tuyển, tập 2, trang 328.

Trang 29

2.1.2 Thực hiện quyền quản lý xã hội của nhân dân

Muốn công tác quản lý đạt hiệu quả cao, nhà nước không chỉ thực hiện chức năng điều hành mọi thành viên xã hội tuân thủ nghiêm minh quy định pháp luật, mà còn phải khích lệ, phát huy được vai trò tham gia quản lý của họ, nhất là trong các hoạt động xã hội Báo cáo Chính trị Đại hội XVI ĐCS Trung Quốc (11-2002) nêu rõ: “Đảng Cộng sản cầm quyền tức là lãnh đạo và ủng hộ nhân dân làm chủ đất nước, động viên và tổ chức đông đảo người dân tham gia quản lý đất nước và công tác xã hội, quản lý kinh tế, văn hoá theo quy

định của pháp luật, bảo vệ và thực hiện quyền lợi căn bản của quần chúng nhân dân”1 Để huy động ngày càng nhiều thành viên tham gia vào quá trình quản lý xã hội, Trung Quốc đặc biệt nhấn mạnh yếu tố dân chủ cơ sở ở cả nông thôn và thành phố Cơ sở là cấp trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách, đường lối của đảng và nhà nước, cũng là nơi thể hiện trực tiếp lợi ích của người dân Thực hiện dân chủ cơ sở là điều kiện đảm bảo quyền con người,

đảm bảo quyền tham gia quản lý xã hội của công dân Giang Trạch Dân

đã từng nêu trong Báo cáo Chính trị Đại hội XVI: “Mở rộng dân chủ cơ sở là công tác cơ bản để phát huy dân chủ XHCN , giúp nhân dân thực hiện quyền dân chủ theo pháp luật, quản lý sự vụ công cộng và sự nghiệp công ích cấp cơ

sở, thực hiện giám sát dân chủ đối với cán bộ”2 Trong các hình thức thực hiện dân chủ cơ sở, Giang Trạch Dân đặc biệt nhấn mạnh việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế thôn dân tự trị ở nông thôn và quản lý khu dân cư ở thành thị Năm 1989, Trung Quốc thông qua “Luật tổ chức khu dân cư” ở thành thị Giang Trạch Dân cho rằng, cần thông qua việc xây dựng khu dân cư để phát huy đầy đủ sức mạnh của quần chúng và chi bộ Đảng ở khu phố và cụm dân cư Điều đó có tác dụng không ngừng nâng cao trình độ dịch vụ công và trình

độ quản lý thành phố, nâng cao tố chất và trình độ văn minh của cư dân, tăng

Trang 30

cường quản trị xã hội tổng hợp, đảm bảo cho nhân dân an cư lạc nghiệp, thúc

đẩy xã hội ổn định và phát triển

Tháng 11-1998, Uỷ ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc thông qua “Luật Uỷ ban thôn dân”, quy định các nội dung quan trọng trong công tác quản lý nông thôn như bầu cử dân chủ, quyết sách dân chủ, quản lý dân chủ và giám sát dân chủ Theo đó, tình trạng mất dân chủ nghiêm trọng trong đời sống xã hội nông thôn Trung Quốc có chiều hướng thuyên giảm; quyền bầu cử, quyền bàn thảo, giám sát các công việc liên quan đến đời sống người dân được đảm bảo tốt hơn, thường xuyên hơn Tính đến năm 2000, Trung Quốc có 734.715 uỷ ban thôn dân được hình thành theo đúng luật định1 Năm

2003, Trung Quốc có 663.000 uỷ ban thôn dân, 5,19 triệu tổ thôn dân và 3,19 thành viên uỷ ban thôn dân2 Các uỷ ban thôn dân này đã phát huy vai trò quan trọng trong hoạt động tự quản và thúc đẩy dân chủ hoá chính trị nông thôn Trong quan điểm phát triển xã hội, Trung Quốc đề cao tư tưởng “lấy con người làm gốc”, chú trọng lợi ích chính đáng và các quyền cơ bản của nhân dân Vì thế, để quản lý tốt xã hội, Trung Quốc khẳng định phải “mãi mãi duy trì quan hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúng nhân dân; kiên trì

đường lối công tác căn bản là tất cả vì dân, tất cả dựa vào dân, từ nhân dân

mà ra, vì nhân dân mà phục vụ”3

2.2 Chuyển từ cơ chế quản lý hành chính quan liêu sang quản lý bằng pháp luật

Trước cải cách, mặc dù luôn đề cập đến vai trò của Hiến pháp và pháp luật trong công tác quản lý, nhưng trên thực tế, mọi hoạt động kinh tế – xã hội của Trung Quốc đều tuân theo cơ chế hành chính quan liêu, theo quyền uy tối cao của nhà nước Đó là nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất bình đẳng trước pháp luật, vi phạm nguyên tắc dân chủ trong quản lý phát triển xã hội Vì vậy,

1

Đỗ Tiến Sâm chủ biên (2005): Vấn đề thực hiện dân chủ cơ sở ở nông thôn Trung Quốc, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội, trang 82

Trang 31

trong suốt thời gian hơn 30 năm cải cách, Trung Quốc đặc biệt nhấn mạnh phương châm quản lý đất nước bằng pháp luật, thực hiện nguyên tắc công bằng và dân chủ trong đời sống xã hội

Đảng; từng bước thực hiện chế độ hoá, luật pháp hoá nền dân chủ XHCN”1 Mọi hoạt động diễn ra trong đời sống kinh tế, xã hội đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật cùng những nguyên tắc, tập quán chuẩn mực Theo đó, mọi thành viên xã hội đều phải nghiêm chỉnh và tự giác tuân thủ luật pháp; người quản lý phải thực hiện nghiêm minh mọi quy định trong hệ thống luật, không thể tuỳ tiện, vô nguyên tắc Có như vậy thì xã hội mới loại trừ được các hiện tượng tiêu cực, giảm thiểu tệ quan liêu, tham nhũng trong bộ máy quản lý nhà nước, đảm bảo quyền lợi công bằng của người dân, giữ vững bình diện ổn định Trong nhiều thập kỷ trước cải cách, công tác phòng chống tội phạm và tiêu cực xã hội ở Trung Quốc thực hiện chưa thật sự nghiêm minh và chuẩn xác Bên cạnh những hành vi vi phạm pháp luật không được xử lý nghiêm minh là tình trạng xử lý chưa đúng người đúng tội Đặc biệt là trong thời kỳ Cách mạng văn hoá, nhiều án oan, án giả, án sai đã khiến xã hội Trung Quốc trở nên hỗn loạn, bất minh Quyền lực của cán bộ Đảng và Nhà nước khi đó trùm lên hết thảy mọi hoạt động xã hội; công tác quản lý hầu như không được vận hành lành mạnh và nghiêm ngặt theo Hiến pháp và các quy định luật pháp

1

Giang Trạch Dân (2002): Bàn về chủ nghĩa xã hội có đặc sắc Trung Quốc, Nxb Văn hiến Trung

ương, Bắc Kinh, trang 326.

Trang 32

Bởi vậy, sau khi kết thúc Cách mạng văn hoá, đời sống xã hội Trung Quốc lâm vào tình trạng khủng hoảng và hỗn mang trầm trọng Quản lý xã hội hồ như không có hướng đi, quần chúng nhân dân không có quyền giám sát xã hội Chính bởi lẽ đó, khi đặt ra mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền, Trung Quốc đã hết sức coi trọng việc tạo lập nền pháp chế XHCN hoàn bị, đưa mọi hoạt động xã hội vào khuôn khổ pháp lý nghiêm minh Cũng có nghĩa là Trung Quốc sẽ từng bước xoá bỏ tận gốc cơ chế quản lý theo kiểu hành chính quan liêu, coi mệnh lệnh nhà nước là tối thượng, quyền uy nhà nước là “vạn năng”; thực hiện cơ chế quản lý bằng luật pháp, đảm bảo tính công bằng, minh bạch trong đời sống xã hội

Bên cạnh quan điểm trị quốc bằng pháp luật, các nhà lãnh đạo Trung Quốc còn đề xuất ý tưởng quản lý xã hội theo phương châm “đức trị” Trung Quốc cho rằng, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, cần tạo lập một hệ thống luật pháp nghiêm minh, hoàn bị, kết hợp với hệ thống tư tưởng

đạo đức XHCN, thích ứng với yêu cầu xây dựng CNXH đặc sắc Trung Quốc Cả luật pháp và đạo đức đều có vai trò và tác dụng quan trọng trong quá trình vận hành và quản lý hoạt động xã hội Theo Giang Trạch Dân, “…Luật pháp

và đạo đức đều là bộ phận của cấu trúc thượng tầng, đều là thành tố quan trọng duy trì trật tự xã hội và quy phạm tư tưởng, hành vi của con người Chúng luôn luôn có mối liên hệ và bổ sung lẫn nhau Pháp trị quy phạm hành

vi con người bằng uy quyền và biện pháp cưỡng chế; đức trị nâng cao nhận thức tư tưởng và giác ngộ đạo đức bằng sức thuyết phục và khuyên răn, hướng dẫn”1 Trong quản lý, điều hành đất nước thì pháp trị và đức trị xưa nay đều bổ sung cho nhau, thúc đẩy lẫn nhau; không thể thiếu vế nào, càng không thể vứt

bỏ mặt nào

1Giang Trạch Dân (2002): Bàn về chủ nghĩa xã hội có đặc sắc Trung Quốc, Nxb Văn hiến Trung

ương, Bắc Kinh, trang 337 Dẫn từ Bài nói chuyện tại Hội nghị công tác chính trị tư tưởng Trung

ương, ngày 28-6-2000.

Trang 33

2.2.2 Hoàn hiện cơ chế giám sát xã hội

Giám sát xã hội là đảm bảo quan trọng để xã hội phát triển một cách lành mạnh, có trật tự Có thể nói, khâu yếu nhất trong công tác quản lý (không chỉ riêng lĩnh vực xã hội) hiện nay của Trung Quốc chính là chưa tạo dựng được một cơ chế giám sát hoàn thiện Vì vậy, lạm dụng quyền lực hoặc không thực hiện đúng chức trách quyền hạn; tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy đảng và chính quyền vẫn tồn tại phổ biến ở Trung Quốc Tình trạng này thậm chí còn hết sức nghiêm trọng trong một số lĩnh vực, một số cơ quan đơn vị và trở thành lực cản lớn đối với mục tiêu xây dựng xã hội hiện đại, văn minh; xây dựng chính phủ công khai, minh bạch và trong sạch ở Trung Quốc

Bàn về vai trò giám sát xã hội, Đặng Tiểu Bình cho đó là khâu không thể lơi lỏng trong suốt quá trình phát triển Ông đề ra hai nhiệm vụ cốt yếu nhất

trong việc hoàn thiện cơ chế giám sát xã hội Một là: xây dựng và kiện toàn

mọi chế độ pháp quy, theo nguyên tắc chế độ hoá, pháp luật hoá, nhằm đảm

bảo quyền dân chủ của mọi công dân, bao gồm cả khâu giám sát dân chủ Hai là: phát huy vai trò giám sát của các tổ chức xã hội và mọi thành viên trong

xã hội, tăng cường chức năng chấn chỉnh, uốn nắn các biểu hiện sai lệch trong quản lý, tạo điều kiện tốt hơn cho mục tiêu phát triển và quản lý phát triển xã hội Trong cơ chế giám sát, cần phải có sự tham gia ngày càng nhiều, ngày càng hiệu quả của dư luận xã hội, bao gồm các cơ quan truyền thông đại chúng và đông đảo người dân bình thường Đặng Tiểu Bình nhiều lần nhấn mạnh: “Cần phải xây dựng chế độ giám sát của quần chúng, để quần chúng và

đảng viên giám sát cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo Những người có hành

vi đặc quyền đặc lợi, nếu qua giáo dục, phê bình vẫn không chuyển biến thì người dân có quyền tố giác, tố cáo, khiếu kiện, bãi chức, bãi nhiệm theo quy

định của pháp luật; buộc những người này bồi thường về kinh tế và bị xử lý theo pháp luật”1 Tương tự như vậy, Giang Trạch Dân cho rằng, cần phải có một cơ chế giám sát hiệu quả, từ trung ương đến địa phương, trong tất cả các

1

Đặng Tiểu Bình văn tuyển, tập 2, trang 332.

Trang 34

ban ngành, theo nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật Theo ông: “Phải chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật; tăng cường giám sát việc chấp hành luật pháp Kiên quyết uốn nắn hiện tượng dùng lời thay luật, dùng hình phạt thay hình luật; đảm bảo tính độc lập trong hoạt động xét xử của toà án và hoạt động điều tra của viện kiểm sát, theo quy định của luật pháp”1 Trung Quốc thường xuyên nhấn mạnh nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước Có như vậy thì các quan chức chính phủ mới thực hiện đúng chức trách và bổn phận của mình, tránh tình trạng “việt vị” hoặc lơ là, thiếu trách nhiệm Bởi điều đó liên quan trực tiếp đến hiệu quả quản lý và lợi ích thiết thân của nhân dân

Như vậy: Từ sau ngày thành lập nước đến nay, Trung Quốc đã trải qua

quá trình điều chỉnh, cải biến và chuyển đổi mô hình phát triển xã hội và quản

lý phát triển xã hội tương đối quanh co, phức tạp Đó là quá trình thực hiện từng bước mục tiêu công bằng về lợi ích, xoá dần chủ nghĩa bình quân trong thu nhập, ưu tiên năng lực và hiệu quả, quan tâm thoả đáng đến phúc lợi, tiến tới cùng giàu có Để xây dựng xã hội khá giả toàn diện, nâng mức sống người dân đạt trình độ các nước phát triển trung bình vào năm 2020, Trung Quốc đặc biệt chú trọng mục tiêu cải cách dân sinh, chủ trương hoàn thiện chế độ an sinh thành “mạng an toàn xã hội”, coi nhà ở là “điểm nóng mới trong tiêu dùng toàn dân”, đưa đô thị hoá nông thôn vào “con đường cao tốc”2 Để đạt

được mục tiêu đó, Trung Quốc tích cực điều chỉnh mô hình quản lý xã hội – từ cơ chế “nhất nguyên hoá” sang “đa nguyên hoá”, từ quan liêu, mệnh lệnh hành chính sang nhà nước pháp quyền XHCN Hội nghị Trung ương 4 Khoỏ XVI (thỏng 6-2004) đó đề ra mục tiờu xõy dựng xó hội hài hoà XHCN, chớnh thức xỏc định “xõy dựng cơ cấu quản lý xó hội theo phương thức “cấp uỷ đảng lónh đạo, chớnh quyền phụ trỏch, xó hội hiệp đồng, quần chỳng tham

1 Giang Trạch Dân (2002): Bàn về chủ nghĩa xã hội có đặc sắc Trung Quốc, Nxb Văn hiến Trung

ương, Bắc Kinh, trang 332 Dẫn từ Tuyển chọn các văn kiện quan trọng từ Đại hội XIV đến nay, tập

1, trang 29

2 Xem Dư Mạo Băng chủ biờn(2002): Trung Quốc sau Đại hội XVI, Nxb Nhõn dõn (Trung Quốc)

Trang 35

dự”1 Đặc biệt, Trung Quốc đang tích cực xây dựng và hoàn thiện cơ chế giám sát đa hình thức, nhiều cấp độ, nhằm công khai hoá, minh bạch hoá công tác chính phủ, tạo môi trường phát triển xã hội lành mạnh và ổn định Mặc dù chưa hoàn hảo, song Trung Quốc đang từng bước định dạng và hoàn thiện dần mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội theo mục tiêu dân sinh, công bằng, dân chủ và pháp chế

II Một số chính sách phát triển x∙ hội của Trung Quốc thời

kỳ cải cách mở cửa

Trên cơ sở điều chỉnh những nội dung cơ bản về mô hình phát triển xã hội, Trung Quốc đã chế định và thực thi hệ thống chính sách ngày càng tiệm cận với lợi ích của đông đảo quần chúng nhân dân, phù hợp với tiêu chí hài hoà xã hội Hoàn thiện hệ thống an sinh, cải cách thể chế việc làm, đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực, đều là những yếu tố quan trọng, tác

động trực tiếp đến chất lượng sống người dân và quá trình vận hành, phát triển của đời sống xã hội Hơn 30 năm qua, Trung Quốc đã đạt được nhiều kết quả rất

đáng quan tâm trong lĩnh vực này

1 An sinh xã hội – con đường huyết mạch để duy trì hài hoà xã hội

Trải qua gần ba thập kỷ cải cách mở cửa, hệ thống an sinh xã hội ở Trung Quốc cũng từng bước được cải cách và hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu và

đặc điểm của nền kinh tế thị trường Đó là một quá trình không ngừng tìm tòi, thử nghiệm đầy gian truân, khúc khuỷu và phức tạp: chuyển từ chế độ dựa vào cấu trúc nhà nước - đơn vị làm chủ đạo sang cấu trúc nhà nước – xã hội cùng

sẻ chia trách nhiệm Trải qua 20 năm thử nghiệm (1978-1998), Trung Quốc tuyên bố bước vào thời kỳ “xây dựng toàn diện chế độ an sinh xã hội theo mô hình mới” Đến nay, hệ thống an sinh của Trung Quốc đã trở thành bộ phận cấu thành quan trọng của toàn bộ công cuộc cải cách, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững, ổn định của nền kinh tế – xã hội nước này

1Quyết định của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về vấn đề tăng cường năng lực cầm quyền của Đảng, Nxb Nhõn dõn, 2004, trang 25

Trang 36

1.1 Chế độ bảo hiểm x∙ hội

Trung Quốc thực hiện nhiều chế độ bảo hiểm liên quan trực tiếp đến đời sống sinh hoạt và làm việc của người lao động Đó là bảo hiểm y tế, bảo hiểm dưỡng lão, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm lao động, bảo hiểm quân nhân, Trong đó, bảo hiểm y tế và dưỡng lão là hai loại hình được Trung Quốc coi là cơ bản nhất; các loại hình bảo hiểm khác được coi là có ý nghĩa bổ sung trong

hệ thống an sinh xã hội Trong phạm vi cho phép, chúng tôi chỉ đề cập đến hai hình thức bảo hiểm cơ bản của Trung Quốc

1.1.1 Chế độ bảo hiểm y tế

Chế độ bảo hiểm y tế (BHYT) được Trung Quốc quy định trong “Điều

lệ bảo hiểm lao động nước CHND Trung Hoa” năm 1953 Phí BHYT được

trích từ 5-7% tổng quỹ lương Theo đó, công chức xí nghiệp quốc hữu và cơ quan hành chính sự nghiệp được hưởng 100% BHYT; bố, mẹ, vợ, con được hưởng 1/2 chi phí khám chữa bệnh Từ năm 1955, “chế độ y tế hợp tác” được thực hiện ở các vùng nông thôn Trung Quốc và chính thức ghi vào Hiến pháp năm 1978 Những nội dung chính bao gồm:

a/ Phủ rộng diện bảo hiểm y tế công chức thành phố

Từ thập niên 1980, các xí nghiệp công hữu Trung Quốc chuyển dần sang chế độ kinh doanh tự chủ Việc chi trả BHYT đôi lúc gặp khó khăn, thậm chí không được thực hiện, nếu xí nghiệp làm ăn kém hiệu quả hoặc thua lỗ Bắt

đầu từ giữa những năm 80 thế kỷ XX, Trung Quốc tiến hành cải cách từng bước chế độ BHYT, với các nội dung chủ yếu như sau:

Thí điểm cải cách (thập niên 1980) Trọng điểm cải cách giai đoạn này

là thực thi chế độ công nhân viên gánh vác một phần chi phí khám chữa bệnh (khoảng 10-20%) Phần chi phí phụ trội do cơ sở y tế, đơn vị đóng bảo hiểm

và Bộ Tài chính chịu trách nhiệm; cơ sở y tế được sử dụng phần chi phí tiết kiệm được vào mục đích cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị và phát triển y tế cộng đồng Tuy nhiên, cách làm này vẫn không đáp ứng được yêu

Trang 37

cầu khám chữa bệnh của người lao động, nhất là trong trường hợp thuyên chuyển nơi làm việc Nghĩa là không thích ứng với nhu cầu cải cách thể chế kinh tế của Trung Quốc

Đi sâu cải cách (1990-1998) Trọng tâm cải cách trong thời kỳ này là dự

trù tổng thể chi phí khám chữa bệnh toàn xã hội Nội dung cải cách nhằm xoá

bỏ khung chế độ BHYT công phí và BHYT người lao động theo cấu trúc nhà nước - đơn vị, từng bước thực hiện chế độ bảo hiểm y tế xã hội ngoài đơn vị Cách làm thông dụng là quản lý thống nhất kinh phí BHYT do các cơ quan, xí nghiệp đóng góp Tiền BHYT và dưỡng lão của công nhân viên ở thành phố, thị trấn do đơn vị và cá nhân cùng gánh vác, thực hiện phương thức kết hợp dự trù tổng thể toàn xã hội với đóng góp của cá nhân Cuộc cải cách này có tác dụng loại trừ các yếu tố tiêu cực trong chế độ BHYT theo đơn vị, nâng cao ý thức trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm

Ngày 14-11-1993, Hội nghị Trung ương 3 Khoá XIV ĐCS Trung Quốc nêu rõ: “Bảo hiểm dưỡng lão và bảo hiểm y tế công chức thành thị do đơn vị

và cá nhân chịu trách nhiệm, kết hợp dự trù tổng hợp toàn xã hội với đóng góp của cá nhân” Đầu năm 1994, phương án này được thực hiện thí điểm tại tỉnh Giang Tô và Giang Tây, sau đó mở rộng dần ra 57 thành phố trong cả nước vào tháng 4-19961

Cải cách toàn diện (1998 đến nay) Hơn 10 năm qua, Trung Quốc ra sức

cải cách và hoàn thiện mô hình BHYT “kết hợp dự trù toàn xã hội với đóng góp của cá nhân” Nội dung cải cách rất phong phú, liên quan đến hầu khắp các lĩnh vực BHYT như: xây dựng hệ thống y tế dự phòng; chuyển đổi cơ chế vận hành các cơ sở y tế công lập; hạch toán và quản lý độc lập khâu khám chữa bệnh với khâu cung ứng thuốc men; quy phạm hoá phạm vi và phương thức hỗ trợ tài chính; điều chỉnh giá cả dịch vụ y tế; cải cách thể chế lưu thông, điều chỉnh giá thuốc chữa bệnh, tăng cường kiểm tra giám sát hệ thống thuốc y tế; Mục tiêu cải cách là bảo đảm nhu cầu chữa bệnh cơ bản của công

1

Trịnh Công Thành (2008): 30 năm an sinh xã hội Trung Quốc, Nxb Nhân dân, trang 103

Trang 38

nhân viên, phù hợp khả năng tài chính của ngân sách, doanh nghiệp và cá nhân, thích ứng với nhu cầu kinh tế thị trường, theo tiêu chí mức độ đóng góp thấp, diện bao phủ rộng, xã hội và cá nhân cùng gánh vác trách nhiệm

b/ Tích cực phát triển y tế hợp tác nông thôn mô hình mới

Từ đầu những năm 1950, cùng với sự ra đời của công xã nhân dân, chế

độ y tế hợp tác nông thôn Trung Quốc được vận hành theo nguyên tắc “bao cấp bình quân” – nông dân đóng góp một phần rất nhỏ (2 xu theo thời giá khi

đó) “phí sức khoẻ”, hợp tác xã hỗ trợ bằng quỹ công ích và thu nhập y tế (chủ yếu là doanh thu từ thuốc chữa bệnh)

Bước vào thời kỳ cải cách, nhất là từ sau khi thực hiện khoán hộ, chế độ y

tế hợp tác nông thôn theo phương thức này dần dần suy yếu và tan rã Tuy nhiên, hơn 20 năm, kể từ năm 1978, mặc dù công bố rất nhiều văn kiện, quyết

định tăng cường bảo hiểm y tế nông thôn, nhưng Chính phủ Trung Quốc hầu như không đầu tư thích đáng cho sự nghiệp y tế nông thôn Đi kèm với điều

đó là tình trạng tăng giá thuốc, giá dịch vụ y tế, khiến y tế nông thôn ngày càng đối mặt với nhiều vấn đề gai góc “Khám bệnh khó, chữa bệnh đắt” trở thành mối đe doạ đối với sức khoẻ người dân nông thôn, nhất là các hộ nghèo Trước tình hình đó, ngày 24-5-2001, Quốc vụ viện Trung Quốc ra thông tri nêu rõ quan điểm “ủng hộ thực hiện biện pháp bảo vệ sức khoẻ nông dân dưới nhiều hình thức” Thông tri yêu cầu: “Tiếp tục hoàn thiện và phát triển chế độ

y tế hợp tác, theo nguyên tắc đóng góp tự nguyện, phù hợp điều kiện địa phương, dân làm, nhà nước hỗ trợ Huy động kinh phí y tế hợp tác theo phương thức cá nhân đóng góp là chính, tập thể bổ xung, nhà nước trợ giúp thích hợp; thực hiện tài chính công khai và quản lý dân chủ Những nơi có

điều kiện sẽ thực hiện dự trù tổng thể trợ giúp chữa các chứng bệnh nan y, giúp nông dân vượt qua bệnh tật hiểm nghèo”1 Năm 2003, Trung Quốc bắt

đầu thực hiện thí điểm “Quỹ bảo hiểm y tế hợp tác nông thôn mô hình mới” tại khu vực miền Trung và miền Tây (vùng nghèo), bao gồm 3 nguồn: mỗi

1

Trịnh Công Thành (2008): 30 năm an sinh xã hội Trung Quốc, Nxb Nhân dân, trang 113.

Trang 39

năm chi ngân sách 10 NDT/người tham gia bảo hiểm (ngoài phần hỗ trợ của thành phố hoặc địa khu); chi ngân sách địa phương không thấp dưới 10 NDT

và đóng góp của nông dân không thấp hơn 10 NDT Tháng 8-2004, Trung Quốc quyết định tích cực thực hiện thí điểm và tổng kết kinh nghiệm chế độ này, chuẩn bị mở rộng ra toàn quốc Năm 2007, Bộ Y tế, Bộ Tài chính và Cục quản lý thuốc đông y Quốc gia Trung Quốc ra thông tư liên tịch, quy chuẩn hoá một bước cơ chế quản lý quỹ bảo hiểm hợp tác y tế nông thôn mới, nâng cao mức thụ hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế nông thôn Bắt đầu từ năm 2008, Trung Quốc nâng mức hỗ trợ ngân sách đối với người tham gia bảo hiểm hợp tác y tế nông thôn lên 80 NDT/năm Trong đó ngân sách nhà nước

40 NDT, ngân sách địa phương 40 NDT (những địa phương thật sự khó khăn

có thể chi mức này trong 2 năm) Đóng góp của người nông dân tham gia bảo hiểm tăng từ 10 NDT lên 20 NDT (nhân dân vùng nghèo cũng có thể chi mức này trong 2 năm) Mục tiêu đến năm 2010 sẽ thực hiện bao phủ chế độ y tế hợp tác tới toàn bộ người dân nông thôn, giảm gánh nặng kinh tế do bệnh tật gây ra và nâng cao sức khoẻ cho người nông dân

c/ Bảo hiểm y tế đối với cư dân thành phố

Trong thời kỳ bao cấp, đại đa số cư dân thành phố đều là cán bộ công chức trong các cơ quan, xí nghiệp Theo quy định, người nhà (bố mẹ, vợ, chồng, con cái) của họ đều được hưởng BHYT bằng “chế độ ăn theo” Bước sang thời kỳ cải cách, chế độ đãi ngộ đó dần mất hẳn, khiến một bộ phận cư dân thành phố lâm vào tình trạng khó khăn trong khâu khám chữa bệnh Những năm gần đây, bảo hiểm y tế cư dân thành phố trở thành vấn đề nóng,

được dư luận quan tâm và đòi hỏi Nhà nước Trung Quốc tháo gỡ Ngày

7-10-2007, Quốc vụ viện Trung Quốc công bố “ý kiến chỉ đạo triển khai thí điểm chế độ bảo hiểm y tế cơ bản đối với cư dân thành phố” Kế hoạch thực hiện là: Năm 2007 tiến hành thí điểm; năm 2008 mở rộng thí điểm; năm 2009 thực hiện trên phạm vi 80% thành phố và năm 2010 phủ rộng toàn bộ cư dân thành phố Chế độ bảo hiểm y tế cơ bản cư dân thành phố có những đặc trưng sau:

Trang 40

(1) Đối tượng đóng bảo hiểm: bao gồm học sinh tiểu học, trung học cơ sở, trẻ nhỏ và những người không công ăn việc làm ở thành phố; (2) Kinh phí: trong thời gian thí điểm, mức đóng bảo hiểm được quy định theo tình hình tài chính

và thu nhập đầu người thực tế ở từng địa phương; phân biệt mức đóng góp giữa người lớn và trẻ vị thành niên; nguồn đóng góp từ gia đình là chủ yếu, nhà nước hỗ trợ một phần thích hợp (mỗi năm không dưới 40 NDT cho người bình thường; không dưới 10 NDT cho học sinh và trẻ em thuộc những gia đình chỉ có khả năng đóng bảo hiểm ở mức thấp; không dưới 60 NDT cho người trên 60 tuổi có hoàn cảnh gia đình khó khăn); những đơn vị, doanh nghiệp có

điều kiện có thể hỗ trợ người nhà công chức; (3) Phạm vi bảo hiểm: phí nằm viện và khám các bệnh hiểm nghèo; (4) Hệ thống quản lý: cơ bản thực hiện theo quy định BHYT công chức

Có thể nói, nhiều năm qua, Trung Quốc đã rất tích cực hoàn thiện chế độ BHYT, theo mục tiêu phủ rộng đến toàn bộ cư dân thành thị, nông thôn, với mức thụ hưởng ngày càng cao Theo tính toán của Trung Quốc, đến năm

2011, chế độ bảo hiểm y tế sẽ phủ rộng 90% dân số (Mỹ là 96%) Từ năm 2009-2011, các cấp chính quyền Trung Quốc sẽ đầu tư 850 tỷ NDT, trong đó Trung ương đầu tư 331,8 tỷ NDT1 Đương nhiên, BHYT, nhất là y tế nông thôn và y tế cư dân thành phố còn là vấn đề gai góc, nan giải với Trung Quốc trong thời gian dài tới đây – cả về đối tượng tham gia lẫn kinh phí đầu tư

1.1.2 Chế độ bảo hiểm dưỡng lão

a/ Bảo hiểm dưỡng lão thành phố

Ngày 5-2-1951, Quốc vụ viện Trung Quốc công bố “Điều lệ bảo hiểm lao động nước CHND Trung Hoa”, xây dựng chế độ bảo hiểm dưỡng lão (BHDL) đối với công chức thành phố Theo quy định, người lao động nộp 3% lương vào quỹ bảo hiểm, trong đó xí nghiệp nộp 30% tổng số tiền bảo hiểm cho nhà nước, 70% còn lại dùng cho quỹ BHDL Năm 1969, Trung Quốc bãi

1

Nhữ Tín, Lục Học Nghệ, Lý Bồi Lâm chủ biên (2010): Phân tích và dự báo tình hình xã hội Trung Quốc năm 2010, Nxb Văn hiến Khoa học xã hội, Bắc Kinh, 2010, trang 51

Ngày đăng: 15/04/2014, 14:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Giáo dục cơ bản (phổ thông) năm 2000-2008 1 - Mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của trung quốc và một số nước đông á kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Bảng 1 Giáo dục cơ bản (phổ thông) năm 2000-2008 1 (Trang 68)
Bảng 2: Chỉ số BPI của Tổ chức Minh bạch Quốc tế, 2002 - Mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của trung quốc và một số nước đông á kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Bảng 2 Chỉ số BPI của Tổ chức Minh bạch Quốc tế, 2002 (Trang 161)
Bảng 3: Giáo dục thông qua ngôn ngữ ở Xinhgapo (năm 1985) - Mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của trung quốc và một số nước đông á kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Bảng 3 Giáo dục thông qua ngôn ngữ ở Xinhgapo (năm 1985) (Trang 205)
Bảng 4: Chỉ số thu nhập tháng của hộ gia đình Xinhgapo (1973-1988) - Mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của trung quốc và một số nước đông á kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Bảng 4 Chỉ số thu nhập tháng của hộ gia đình Xinhgapo (1973-1988) (Trang 212)
Bảng 5: Thu nhập tháng của các hộ gia đình Xinhgapo (1997-2000) - Mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của trung quốc và một số nước đông á kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Bảng 5 Thu nhập tháng của các hộ gia đình Xinhgapo (1997-2000) (Trang 213)
Bảng 6: Chỉ số bất bình đẳng về thu nhập của các hộ gia đình Xinhgapo - Mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của trung quốc và một số nước đông á kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Bảng 6 Chỉ số bất bình đẳng về thu nhập của các hộ gia đình Xinhgapo (Trang 214)
Bảng 7 : Các dạng nhà ở và sở hữu nhà ở tại Xinhgapo - Mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của trung quốc và một số nước đông á kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Bảng 7 Các dạng nhà ở và sở hữu nhà ở tại Xinhgapo (Trang 218)
Bảng 8: Tham nhũng trong ngành tư pháp Thái Lan 1 - Mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của trung quốc và một số nước đông á kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Bảng 8 Tham nhũng trong ngành tư pháp Thái Lan 1 (Trang 245)
Bảng 9: Mua phiếu bầu trong các cuộc bầu cử gần đây 1 - Mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của trung quốc và một số nước đông á kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Bảng 9 Mua phiếu bầu trong các cuộc bầu cử gần đây 1 (Trang 246)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm