1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

cơ sở khoa học của công tác xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức quản lý nhà nước của bộ công thương giai đoạn 2010 2015

108 813 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở khoa học của công tác xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức quản lý nhà nước của Bộ Công Thương giai đoạn 2010-2015
Tác giả Vũ Xuôn Chính, Ths. Đỗ Huy Lập
Người hướng dẫn PVT Vụ Tổ chức Cán Bộ, Bộ Công Thương
Trường học Bộ Công Thương
Chuyên ngành Quản lý nhà nước, Quy hoạch đội ngũ công chức
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 559,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước là một bộ phận quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức của Bộ Công Thương, đây là đội ngũ trực tiếp tham mưu và hoạch định chính sách đối

Trang 1

********

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ

BÁO CÁO KHOA HỌC

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÔNG TÁC XÂY DỰNG QUY HOẠCH

ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA

BỘ CÔNG THƯƠNG GIAI ĐOẠN 2010-2015

Chủ nhiệm: Vũ Xuân Chính-PVT

Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Công Thương Thư ký: Ths Đỗ Huy Lập, Chuyên viên

Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Công Thương

7660

04/02/2010

Hµ néi, THÁNG 12 NĂM 2009

Trang 2

Phần mở đầu 6Chương I: Cơ sở khoa học về quy hoạch đội ngũ công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước

39

Chương II: Thực trạng quy hoạch đội ngũ công chức hành chính nhà nước và đội ngũ công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công Thương hiện nay

44

2.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước ở nước ta 442.1.1 Quá trình hình thành đội ngũ cán bộ, công chức nước ta 442.1.2 Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay 48

2.2 Thực trạng công tác cán bộ và quy hoạch đội ngũ công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước

55

Trang 3

2.2.1 Thực trạng công tác cán bộ ở nước ta 552.2.2 Thực trạng công tác quy hoạch đội ngũ công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước

79

3.1 Quy hoạch đội ngũ công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công Thương đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hóa

Trang 4

3.2.2 Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện các nội dung cơ bản của công tác quy hoạch cán bộ, công chức

93

3.2.3 Triển khai đồng bộ các biện pháp hỗ trợ việc xây dựng và thực hiện quy hoạch đội ngũ công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công Thương

Trang 5

phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá thực chất là quá trình tạo dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động xã hội Đó là quá trình thúc

đẩy phát triển công nghiệp, sử dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đưa đất nước lên một trình độ phát triển mới Để thực hiện công việc này thì nhân tố quyết định sự thành công, trong đó đội ngũ cán bộ, công chức hoạch định và thực thi chính sach đóng vai trò quan trọng Công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước là một bộ phận quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức của Bộ Công Thương, đây là đội ngũ trực tiếp tham mưu và hoạch định chính sách đối với lĩnh vực công nghiệp và thương mại như: các dự án luật, pháp lệnh, các dự thảo nghị quyết, nghị định, cơ chế, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật khác về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

Quy hoạch công chức giữ một vai trò quan trọng trong quản lý và xây dựng nguồn nhân lực hành chính, nhất là trong thời đại nền kinh tế tri thức phát triển Những bất cập về quản lý và quy hoạch công chức trong những năm qua đang đặt ra nhiều vấn đề cần được nghiên cứu trên phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn Do vậy, để thực hiện đúng và đầy đủ chức năng của

Bộ đa ngành, đa lĩnh vực sau khi hợp nhất Bộ Công nghiệp và Bộ Thương mại thì việc đánh giá công tác xây dựng và phát triển đội ngũ của các cơ quan đơn

vị thuộc và trực thuộc Bộ Công Thương có chức năng quản lý nhà nước trên cơ

sở đó xây dựng, đề xuất và dự báo nhu cầu nhân lực của các tổ chức này là công việc cần được ưu tiên thực hiện ngay sau khi triển khai mô hình tổ chức

và quản lý của Bộ đa ngành, đa lĩnh vực là việc làm cần thiết và thiết thực Với cách tiếp cận đó, nhóm tác giả lựa chọn vấn đề “Cơ sở khao học của công tác xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức quản lý nhà nước của Bộ Công Thương giai đoạn 2010 - 2015 làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ trong chương trình nghiên cứu khoa học của Bộ năm 2009

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu của đề tai

Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo tinh thần Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 3 (khoá VII), việc quy hoạch

Trang 6

đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ tiêu chuẩn về năng lực, trình độ và phẩm chất đạo đức dáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới Tuy nhiên, trong thời gian qua việc xây dựng quy hoạch cán

bộ, công chức ở các cơ quan Nhà nước chưa được quan tâm, đầu tư nghiên cứu một cách có hệ thống để tìm ra những cơ sở lý luận và thực tiễn cho công tác xây dựng quy hoạch và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức Phương thức xây dựng quy hoạch cũng như biện pháp giải quyết những yêu cầu về công tác quy hoạch chưa dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn nên khi triển khai thực hiện quy hoạch các cơ quan còn nhiều vướng mắc, lúng túng Vì vậy, để đáp ứng

được yêu cầu nguồn lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước cần thiết phải tiến hành nghiên cứu đề tài “Cơ sở khoa học của công tác xây dựng quy hoạch nguồn đội ngũ công chức hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước”

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung luận giả những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác quy hoạch đội ngũ công chức quản lý nhà nước làm cơ sở cho các cơ quan, tổ chức đơn vị thuộc Bộ Công Thương nghiên cứu, vận dụng vào thực tiễn công tác quản lý nhà nước của Bộ Công Thương Cụ thể như sau:

a) Hệ thống hoá được một số cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quy hoạch cán bộ, công chức quản lý nhà nước;

b) Đánh giá được thực trạng và dự kiến nhu cầu phát triển để chuẩn bị

đội ngũ công chức quản lý nhà nước đáp ứng yêu cầu quản lý của Bộ đa ngành, đa lĩnh vực;

c) Đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng tạo nguồn cán bộ tương ứng với yêu cầu về cán bộ quản lý và công chức chuyên môn nghiệp vụ trong các cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công Thương d) Đề xuất nội dung và phương pháp quy hoạch cán bộ, công chức quản

lý nhà nước của Bộ Công Thương giai đoạn 2010 - 2015;

đ) Kiến nghị và đề xuất lựa chọn được cán bộ, công chức thực sự có phẩm chất, năng lực để quy hoạch vào các chức danh lãnh đạo, quản lý và chuyên môn nghiệp vụ theo từng chức vị trí, chức danh; đồng thời tạo điều kiện để họ nhằm phát huy năng lực, trách nhiệm của mình cho hiệu quả hoạt

Trang 7

h) Tạo cơ hội cho những người có đủ phẩm chất, năng lực tham gia thi tuyển để trở thành cán bộ lãnh đạo trong bộ máy hành chính nhà nước

4 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu

a) Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đội ngũ cán bộ, công chức hành chính làm việc trong các cơ quan, đơn vị có chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công Thương và đội ngũ công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị

sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Công Thương

b) Phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu:

Đề tài chỉ giới hạn đi sâu nghiên cứu cơ sở khoa học quy hoạch đội ngũ công chức hành chính trong phạm vi các cơ quan hành chính nhà nước và đơn

vị sự nghiệp công lập thuộc và trực thuộc Bộ Công Thương gồm:

- Quan điểm, nguyên tắc quy hoạch cán bộ, công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước

- Nội dung, phương pháp, tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình, thủ tục quy hoạch cán bộ, công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước

- Một số kinh nghiệm lịch sử Việt Nam về công tác quy hoạch cán bộ, công chức

- Kinh nghiệm nước ngoài và khu vực tư về tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, sử dụng công chức hành chính (Anh, Pháp, Mỹ, Canada, Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, )

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ và

Trang 8

thực tiễn trong công tác quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm, điều động cán bộ trong cơ quan hành chính nhà nước những năm qua; Kết luận của Hội nghị lần thứ chính Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020; đồng thời có kết hợp với việc nghiên cứu, tham khảo các công trình khoa học, tài liệu trong và ngoài nước

có liên quan đến nội dung của đề tài Sử dụng các tài liệu tổng hợp, phân tích

đánh giá tình hình thực tiễn công tác quy hoạch, đề bạt bổ nhiệm, điều động cán bộ công chức để hệ thống hoá những quan điểm có tính nguyên tắc về phương pháp và cách thức thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý

- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp điều tra, sưu tầm và thu thập thông tin từ thực tế, tiến hành phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá để rút ra những kết luận, nhận xét và đánh giá về thực trạng công tác quy hoạch cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước; phân tích, lý giải những nguyên nhân tồn tại từ góc độ quản lý, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp đối với lĩnh vực này

6 Sản phẩm của đề tài

- Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của đề tài

- Phụ lục số liệu về số lượng và cơ cấu đội ngũ công chức của Bộ Công Thương giai đoạn 2007- 2009

7 Nội dung kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài được kết cấu thành 3 chương:

- Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức hành chính nhà nước

- Chương II Thực trạng công tác xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức hành của Bộ Công Thương hiện nay

- Chương III Phương hướng và giải pháp xây dựng quy hoạch phát triển

đội ngũ công chức hành chính của Bộ Công Thương giai đoạn 2010 - 2015

Trang 9

Chương 1 Cơ sở khoa học về quy hoạch đội ngũ

công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước

1.1 Một số vấn đề chung về xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước 1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của đội ngũ công chức hành chính Nhà nước

1.1.1.1 Khái niệm công chức và công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước

Công chức là một trong những bộ phận quan trọng của nền hành chính nhà nước, là nhân tố bảo đảm cho việc quản lý đất nước theo pháp luật và bằng pháp luật, bảo đảm cho nền hành chính hoạt động thông suốt, liên tục, thống nhất và có hiệu quả Chính vì vậy, công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm và làm việc ổn định theo những chuyên môn nhất định, được Nhà nước trả lương và bảo đảm về vật chất, tinh thần để thi hành công vụ

Trên thế giới, chế độ công chức được hình thành cách đây hàng trăm năm

và ngày nay đang tiếp tục được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính hiện đại, hiệu lực và hiệu quả Tuy vậy, do mỗi quốc gia có đặc điểm lịch sử, điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội và cơ cấu bộ máy nhà nước khác nhau nên quan niệm về công chức cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau

ở Cộng hoà Pháp, công chức được hiểu là những người được tuyển dụng,

bổ nhiệm vào làm việc tại các công sở, cơ quan hành chính và các tổ chức dịch vụ công do Nhà nước thành lập từ trung ương đến địa phương được gọi là công chức theo chức nghiệp

ở Canađa, công chức là những người được tuyển dụng để thực thi công

vụ trong bộ máy hành chính Nhà nước, không bao hàm những viên chức làm

Trang 10

Tại Nhật Bản, công chức được chia thành 2 loại: loại thứ nhất là những người làm việc tại trung ương bao gồm các cơ quan Chính phủ, cơ quan Tư pháp, cơ quan Quốc hội, Quân đội và được hưởng lương từ ngân sách trung

ương; loại thứ hai, công chức làm việc trong các cơ quan địa phương được hưởng lương từ ngân sách địa phương

ở In đônêxia, công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm, làm việc thường xuyên trong các cơ quan trung ương và địa phương, kể cả những người làm việc trong các doanh nghiệp, dịch vụ của Nhà nước và cả sĩ quan trong quân đội

Tuy có sự khác nhau như vậy, nhưng qua nghiên cứu chế độ nhân sự về công chức ở mỗi nước cho thấy có những điểm chung như sau:

- Công chức là những người được tuyển dụng qua thi tuyển

- Công chức được giao giữ một công việc thường xuyên

- Công chức được xếp vào một ngạch, bậc nhất định trong hệ thống thang, bậc, ngạch công chức

- Được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước

ở Việt Nam ngay từ sau cách mạng tháng 8-1945 thành công, Hiến pháp năm 1946 ra đời là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng chế độ công chức mới Ngày 20-5-1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh 76/ SL về thực hiện quy chế công chức Sắc lệnh chỉ rõ: “Công chức là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ ở trong hay ở ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định” [26, tr 6-8]

Sau 1954 miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam tiếp tục tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc Thời kỳ này tuy không có văn bản nào bãi bỏ Sắc lệnh 76/SL về quy chế công chức Việt Nam, nhưng thuật ngữ công chức được thay thế bằng thuật ngữ cán bộ, công nhân, viên chức

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) trong Chiến lược phát triển và

ổn định kinh tế - xã hội đã chỉ rõ: “ Đổi mới căn bản công tác cán bộ phù hợp

Trang 11

với cơ chế mới Phân định rõ cán bộ dân cử hoạt động theo nhiệm kỳ với công chức, viên chức chuyên nghiệp và cán bộ công nhân, nhân viên các đơn vị sản xuất kinh doanh” [5, tr 231] Trên cơ sở quan điểm đó ngày 25-5-1991, Hội đồng

Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành nghị định 169/ HĐBT, quy định về công chức nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Công dân Việt Nam

được tuyển dụng và bổ nhiệm một công vụ thường xuyên trong một công sở Nhà nước ở trung ương, địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch bậc, hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp gọi là công chức” [21] Nghị định 169-HĐBT cũng đã xác định rõ những người làm việc trong các cơ quan cụ thể được gọi là công chức như: các cơ quan hành chính Nhà nước; Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước và Văn phòng Hội

đồng nhân dân các cấp; toà án, viện kiểm sát; đại sứ quán, tổng lãnh sự quán Việt Nam ở nước ngoài; trường học, bệnh viện, cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của Nhà nước và nhận lương từ ngân sách Nhà nước; các cơ quan Bộ quốc phòng, Bộ công an

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991) đã nêu nhiệm vụ “Đổi mới căn bản công tác cán bộ phù hợp với cơ chế mới, phân định rõ cán bộ dân cử hoạt động theo nhiệm kỳ và các loại công chức, viên chức trong tinh hình lĩnh vực quản lý Nhà nước, hoạt động sự nghiệp, sản xuất kinh doanh nhằm hình

thành đội ngũ cán bộ thạo nghề nghiệp, nắm vững pháp luật” [6, tr 43-44] Trên

tinh thần Nghị quyết Đại hội VII của Đảng và sự chỉ đạo của Bộ chính trị, ngày 26/3/1998, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức

Theo quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh Cán bộ, công chức thì khái niệm công chức được hiểu là: Trước hết họ phải là công dân Việt Nam trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, bao gồm các nhóm đối tượng sau:

- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội

Trang 12

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan Nhà nước; mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng

- Thẩm phán toà án nhân dân, kiểm sát viên viện kiểm soát nhân dân

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp” [24, tr 30-31]

Như vậy, theo Pháp lệnh cán bộ, công chức và Nghị định số

95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ thì công chức là công dân

Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan Nhà nước, mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng, ở trong biên chế được hưởng lương từ ngân sách nhà nước Theo quan niệm đó,

công chức Việt Nam không chỉ là những người công tác trong cơ quan hành chính Nhà nước, mà còn cả trong cơ quan tư pháp, các cơ quan tổ chức, đơn vị

sự nghiệp của Nhà nước

Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 khái niệm công chức được luật hóa như sau:

“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,

Trang 13

chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn

vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân

mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [31]

Nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong việc xây dựng, quy hoạch

đội ngũ công chức hành chính Nhà nước hiện nay, trước tiên phải xác định và phân loại chính xác đối tượng, nhu cầu đào tạo Từ đó xây dựng nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính để có đủ năng lực, trình độ Để xác định rõ công chức hành chính Nhà nước - cần căn cứ vào những tiêu thức sau:

- Là công dân Việt Nam

- Giữ một công vụ thường xuyên

- Do được tuyển dụng và bổ nhiệm vào một ngạch công chức

- Được phân loại theo trình độ đào tạo

- Hưởng lương từ ngân sách Nhà nước

Như vậy, công chức nhà nước là công dân Việt Nam, được tuyển dụng,

bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn

vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của

Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên

Trang 14

chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

1.1.1.2 Đặc điểm của công chức hành chính Nhà nước

Công chức hành chính nhà nước ở nước ta có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, hoạt động của công chức hành chính có tính chất phục vụ

Hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước, thực chất là thiết chế quyền lực để quản lý xã hội, phục vụ cho nhân dân và sự phát triển của đất nước Cho nên, nó mang tính chất giai cấp rõ rệt Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, vì thế hoạt

động của công chức hành chính phải luôn luôn thực hiện tốt các chủ trương,

đường lối của Đảng và phục vụ cho lợi ích của nhân dân (là công bộc của dân) Hay nói cách khác, công chức hành chính là những người thực hiện chức năng, nhiệm vụ của bộ máy cơ quan hành pháp, nên hoạt động của nó mang tính chất phục vụ Đây là đặc điểm phân biệt công chức hành chính với hoạt

động tư pháp là xét xử, phán quyết liên quan đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, cũng như những người làm việc trong các cơ quan đơn vị, thuộc Quân đội nhân dân, công an nhân dân chuyên nghiệp, sĩ quan và hạ sĩ quan

Thứ hai, thực hiện chức năng quản lý hành chính

Trong quá trình hoạt động, công chức hành chính gắn với “quyền lực công” tức là hoạt động “phục vụ công quyền” Do vậy, hoạt động của công chức hành chính bảo đảm bằng quyền lực Nhà nước và sử dụng quyền lực đó

để thực hiện các nhiệm vụ quản lý Nhà nước Người công chức là người đại diện cho Nhà nước, quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá - xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu chung của xã hội Đồng thời, thực hiện thi hành pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống, bảo đảm kỷ cương xã hội và quản lý ngân sách Nhà nước, xây dựng một nền hành chính chính vững mạnh, hiệu lực

và hiệu quả

Trang 15

Thứ ba, công chức hành chính nhà nước mang tính chuyên môn hóa và nghề nghiệp cao

Tính chuyên chuyên môn hóa và nghề nghiệp cao nhằm bảo đảm cho công chức nhà nước hoạt động liên tục, thông suốt để đi sâu vào chuyên môn nghiệp vụ, có đủ năng lực và kỹ năng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quản lý hành chính, góp phần ổn định và phát triển nền hành chính quốc gia

Thứ tư, công chức hành chính được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước

Đặc điểm này xác định hoạt động của công chức hành chính Nhà nước là hoạt động riêng biệt Công chức được hưởng lương tháng cố định, làm việc không vì mục đích lợi nhuận Đây là điều mà công chức khác với người hoạt

động sản xuất kinh doanh

1.1.1.3 Vai trò của công chức hành chính Nhà nước

Một là, công chức hành chính nhà nước là người đưa chủ trương đường

lối của Đảng và chính sách của Nhà nước vào cuộc sống

Hoạt động của công chức hành chính không những là người tổ chức thực hiện đường lối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước mà còn lãnh đạo, tổ chức quần chúng, thực hiện tốt các Nghị quyết của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là gốc của mọi công việc Muốn thành công hay thất bại,

đều do cán bộ tốt hay kém” [19, tr 240] Do đó, đội ngũ công chức hành chính có năng lực, trí tuệ thì thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước sẽ đạt hiệu quả cao Nếu đội ngũ công chức hành chính không đủ năng lực trí tuệ, trình độ chuyên môn không ngang tầm với thời đại thì dù đường lối chủ trương của Đảng, chính sách luật pháp Nhà nước phù hợp với quy luật khách quan đến mấy cũng khó có thể thực hiện thành công được

Hai là, công chức hành chính có vai trò trong việc đề xuất, kiến nghị để

điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung chủ trương, đường lối chính sách, pháp luật của

Đảng và Nhà nước

Trang 16

Thông qua việc tổ chức thực hiện chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, công chức hành chính nhà nước kiến nghị với Đảng, Nhà nước sửa đổi, bổ sung đường lối chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước sao cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Như Bác Hồ đã khẳng

định: “Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ để thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng” [19, tr.269] Công chức hành chính không những là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân để thực hiện chính sách của Đảng Nhà nước mà còn nắm tình hình thực tiễn, để làm căn cứ cho việc hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước phù hợp với quy luật phát triển kinh tế - xã hội

Ba là, công chức hành chính nhà nước có vai trò trong việc thực hiện

chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính Nhà nước

Những nhiệm vụ chủ yếu của cơ quan hành chính Nhà nước bao gồm:

- Quản lý Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá - xã hội nhằm đáp ứng những nhu cầu chung của xã hội

- Thi hành pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống, bảo đảm kỷ cương xã hội, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân theo luật định

- Quản lý tài sản công và ngân sách nhà nước, xây dựng một nền tài chính vững mạnh và có hiệu quả cao

Đội ngũ công chức hành chính là người trực tiếp thực hiện chức năng, nhiệm vụ thẩm quyền của mỗi cơ quan hành chính Nhà nước Nếu không có

đội ngũ công chức Nhà nước mạnh thì bộ máy nhà nước không thể duy trì và vững mạnh được

Bốn là, công chức hành chính có vai trò trong việc thực thi nhiệm vụ

Công chức hành chính là người thực hiện chức năng quản lý hành chính Nhà nước Mỗi vị trí công tác của mỗi công chức hành chính là tổng thể những chức năng, nhiệm vụ, nghĩa vụ, trách nhiệm và thẩm quyền do Nhà nước quy định Do công chức phụ thuộc vào công việc, chứ không phải công việc phụ thuộc vào công chức, nên đòi hỏi trình độ năng lực, trí tuệ, khả năng

Trang 17

của công chức hành chính phải phù hợp với công việc được giao

Năm là, công chức hành chính có vai trò trong việc thực hiện quyền và

nghĩa vụ của công dân

Người công chức là người đại diện cho Nhà nước có quyền và nghĩa vụ

được quy định theo pháp luật Thẩm quyền của công chức, suy cho cùng là nghĩa vụ, không phải là quyền riêng của cá nhân

Công chức hành chính Nhà nước là người thường xuyên tiếp xúc, giải quyết những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của nhiều tầng lớp nhân dân trong xã hội và bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp đó Vì thế, “giải quyết đúng đắn về phương diện thể chế mối quan hệ giữa hành chính với công dân, tạo sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa Nhà nước và công dân” [11, tr 14] Bởi vì nhân dân là nguồn gốc và là chủ thể quyền lực của xã hội, là người uỷ thác quyền lực của mình cho Nhà nước Cho nên, những người làm trong cơ quan Nhà nước nói chung và cơ quan hành chính nói riêng phải là người công bộc của nhân dân Bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, công chức hành chính Nhà nước phải có nghĩa vụ tận tuỵ phục vụ nhân dân

1.1.2 Khái niệm, nội dung và phương pháp xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước

Xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức nói chung và công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước nói riêng là vấn đề hết sức quan trọng để nâng cho chất lượng đội ngũ công chức hành chính nhà nước Do đó, cần làm

rõ khái niệm, những nội dung cơ bản và phương pháp quy hoạch công chức nhà nước

1.1.2.1 Quan niệm về quy hoạch cán bộ, công chức hành chính nhà nước

Quy hoạch là việc lập kế hoạch dài hạn căn cứ vào các phép tắc, quy chế

và quy cách đã có Cụm từ "quy hoạch cán bộ'' xuất hiện ở Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và được dùng nhiều trong công tác cán bộ của

Đảng từ thời kỳ đổi mới đến nay Hiện tại, quy hoạch cán bộ đã trở thành một

Trang 18

thuật ngữ chuyên ngành trong công tác tổ chức - cán bộ của Đảng và trong môn khoa học tổ chức được hình thành dựa trên sự tổng kết thực tiễn công tác này Theo quan điểm của Đảng ta, quy hoạch cán bộ là một công việc cơ bản trong công tác cán bộ, thuộc trách nhiệm của chủ thể lãnh đạo, trước hết là tập thể cấp uỷ và cá nhân người đứng đầu tổ chức, nhằm chủ động tạo nguồn nhân

sự trẻ, tập hợp được nhiều nhân tài; làm cơ sở cho việc đào tạo bố trí sử dụng

và phát triển đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị đảm bảo về số lượng và chất lượng, có cơ cấu hợp lý và sự chuyển tiếp vững vàng giữa các thế hệ [30, tr.7-9]

Quy hoạch cán bộ, công chức nói chung là một nội dung quan trọng của hoạt động quản lý cán bộ, công chức (bao gồm: chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách đối với cán bộ, công chức) và là một khâu trọng yếu của công tác cán

bộ (bao gồm: quy hoạch, đánh giá, đào tạo - bồi dưỡng, bố trí - sử dụng) Hội nghị

Trung ương lần thứ ba (khoá VIII) về công tác cán bộ trong thời kỳ công nghiệp

hoá, hiện đại hoá đã khẳng định: “Quy hoạch cán bộ là một nội dung trọng yếu

của của công tác cán bộ” [9]

Tiếp cận vấn đề này từ góc độ lý luận cho thấy, đến nay có nhiều quan

niệm khác nhau về quy hoạch cán bộ, công chức Có ý kiến cho rằng: “Quy

hoạch cán bộ là việc lập dự án xây dựng đội ngũ cán bộ; dự kiến bố trí, sắp xếp tổng thể đội ngũ cán bộ theo một ý đồ nhất định với một trình tự hợp lý, trong thời gian nhất định” [17, tr 17] Có ý kiến khác cho rằng: “Quy hoạch cán

bộ là quá trình thực hiện đồng bộ các chủ trương, biện pháp để tạo nguồn và xây dựng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là người đứng đầu, trên cơ sở dự báo nhu cầu cán bộ” [16, tr 66] và [1, tr 90] Ngoài ra, còn nhiều ý kiến khác như: “Quy hoạch cán bộ là việc bố trí, sắp xếp theo một trình tự hợp lý lực lượng cán bộ trong từng thời gian, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ” [10, tr.54]; Có ý kiến quan niệm quy hoạch cán bộ khá hẹp: “Quy hoạch cán

bộ là dự kiến bố trí công việc (chức vụ) cho một số cán bộ có triển vọng đảm

đương được nhiệm vụ”, nhưng lại có quan niệm khá rộng về quy hoạch cán

bộ, đó là “toàn bộ các công tác chuẩn bị một đội ngũ cán bộ đủ sức đáp ứng mọi nhu cầu về cán bộ lãnh đạo, quản lý, tham mưu, tổng hợp để luân tạo

Trang 19

thế ổn định, đồng bộ, kế thừa và phát triển của cả đội ngũ cán bộ” [25]

Nhìn chung, quy hoạch cán bộ là quá trình tạo nguồn và xây dựng đội ngũ cán bộ một cách chủ động, có tầm nhìn xa Kết quả của quá trình này

được đưa thành đề án bao gồm các nội dung cơ bản như: Một là, làm rõ mục

tiêu của quy hoạch cán bộ, công chức Mục tiêu này phụ thuộc vào phạm vi, cấp độ và tính chất của quy hoạch trong cả nước hay ở địa phương, toàn bộ

công chức hay một loại cán bộ nào đó Hai là, xác định đúng tiêu chuẩn các

chức danh cán bộ, công chức thuộc diện quy hoạch làm cơ sở cho việc lựa

chọn, đánh giá, đào tạo cán bộ Ba là, xác định cơ cấu cán bộ hợp lý về độ

tuổi và chất lượng (cả năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức) để bảo

đảm tính đồng bộ, sự kế thừa và phát triển Bốn là, xác định nguồn cán bộ,

tạo nguồn cán bộ, bao gồm nguồn trực tiếp và có chính sách thu hút để tạo

nguồn cán bộ Ngoài ra, quy hoạch cán bộ còn phải dự kiến các công việc

sau quy hoạch như dự kiến bộ trí, sắp xếp, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

Việc xây dựng quy hoạch công chức hành chính phải gắn với kế hoạch xây dựng đội ngũ và kế hoạch đào tạo bồi dưỡng công chức Đây là 2 công việc trọng yếu có quan hệ hữu cơ với nhau Do vậy, cần phân biệt rõ quy hoạch công chức hành chính với chiến lược cán bộ và chiến lược xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ Chiến lược cán bộ là các quan điểm, phương châm,

kế hoạch có tính toàn cục, xác định mục tiêu và sắp xếp lực lượng trong suốt cả thời kỳ

Kế hoạch công chức là những chương trình, cách thức và biện pháp xây dựng đội ngũ công chức trong một thời gian nhất định Căn cứ vào chiến lược cán bộ để hoạch định quy hoạch công chức, trên cơ sở chiến lược cán bộ, quy hoạch cán bộ, công chức đúng mới có căn cứ để xây dựng kế hoạch cán bộ, công chức tốt

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, do các yếu tố khách quan và chủ quan quy định, ở mỗi thời kỳ, Đảng ta đều có một cách thức làm công tác cán

bộ và quy hoạch cán bộ đặc thù, với mức độ thành công và hiệu quả khác nhau Nghiên cứu quá trình phát triển trong nhận thức và thực tiễn của Đảng

Trang 20

học giá trị đối với công tác quy hoạch đội ngũ công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công Thương hiện nay

1.1.2.2 Nội dung và phương pháp xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước

Hội nghị Trung ương lần thứ ba, khoá VIII, (tháng 10- 1997) đã ra Nghị quyết chuyên đề "Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" Về nhiệm vụ quy hoạch cán bộ, Nghị quyết đã chỉ ra:

"Quy hoạch cán bộ là một nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, bảo đảm cho công tác cán bộ đi vào nền nếp, chủ động, có tầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài'' Nghị quyết đã đúc kết nên tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ mới, trước hết là tiêu chuẩn chung:

''- Có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tuỵ phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả

đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước

- Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư Không tham nhũng và kiên quyết

đấu tranh chống tham nhũng Có ý kỷ luật tốt Trung thực, không cơ hội, gắn

bó mật thiết với nhân dân, được nhân đần tín nhiệm

- Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của

Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hoá, chuyên môn, đủ năng lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ được giao

Các tiêu chuẩn đó có quan hệ mật thiết với nhau Coi trọng cả đức và tài,

đức là gốc"

Ngoài các tiêu chuẩn chung nói trên trong bốn loại cán bộ (cán bộ lãnh

đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân; cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang; cán bộ khoa học, chuyên gia; cán bộ quản lý kinh doanh) còn phải đảm bảo các tiêu chuẩn đặc thù của mỗi loại cán bộ Ví dụ, loại cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân còn phải:

"- Có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công

Trang 21

nhân, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Có năng lực dự báo và định hướng sự phát triển, tổng kết thực tiễn, tham gia xây dựng đường lối, chính sách pháp luật; thuyết phục và tổ chức nhân dân thực hiện Có ý thức và khả năng bảo vệ quan

điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước

- Gương mẫu về đạo đức, lối sống Có tác phong dân chủ, khoa học, có khả năng tập hợp quần chúng, đoàn kết cán bộ

- Có kiến thức về khoa học lãnh đạo và quản lý Đã học tập có hệ thống ở các trường của Đảng, Nhà nước và đoàn thể nhân dân; trải qua thực tiễn có hiệu quả"

Các tiêu chuẩn chung và riêng trên là cơ sở cho công tác tuyển chọn, sử dụng đánh giá, quy hoạch cán bộ một cách khách quan, khoa học Tuy nhiên, Nghị quyết không nêu rõ mỗi loại cán bộ trên có bao nhiêu tiêu chuẩn và mức

độ, tầm quan trọng của từng tiêu chuẩn đó trong hệ thống các tiêu chuẩn Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, khoá VIII, Chỉ thị số 18-CT/TW của Bộ Chính trị, Ban Tổ chức Trung ương đã ban hành Hướng dẫn số 11- HDLTCTW ngày 05- 11- 1997 Về công tác quy hoạch cán bộ cho các cấp uỷ trong hệ thống chính trị Đây là sự hướng dẫn khá chi tiết về mục tiêu, yêu cầu, nội dung, phương pháp và kiểm tra thực hiện việc quy hoạch cán bộ

Tiếp đó, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết Số 11-NQ/TW ngày 25-01-2002

Về việc luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý, để cụ thể hoá chủ trương

"luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý theo quy hoạch ở các ngành và địa phương của Đại hội IX

Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (khoá IX), tháng 7-2002, đã tiến hành kiểm điểm việc thực hiện 3 nghị quyết Trung ương về công tác tổ chức, cán bộ: Nghị quyết Trung ương 3 khoá VII, Nghị quyết Trung ương 3 khoá VIII

và nghị quyết Trung ương khoá VIII về công tác tổ chức, cán bộ nhằm "đổi mới nhận thức và cách làm quy hoạch cán bộ,, Nghị quyết Trung ương 6 khoá

IX nhấn mạnh: Lần này cần xem việc quy hoạch cán bộ lãnh đạo và quản lý gắn với luân chuyển và đào tạo là một khâu đột phá trong công tác tổ chức và

Trang 22

cán bộ để tập trung lãnh đạo, tổ chức thực hiện Cũng trong Nghị quyết này, nguyên tắc "động" và "mở" của công tác quy hoạch cán bộ đã được khẳng

định [30, tr.48]

Tổng kết thực hiện 3 nghị quyết của Trung ương về công tác tổ chức và cán bộ Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương (khoá IX) đã đề ra nhiệm vụ: Tăng cường công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo và quản lý Đặc biệt quan tâm tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý trẻ có thành tích xuất sắc, những cán bộ xuất thân công nhân, con em công nông, gia đình có công với cách mạng, cán bộ dân tộc thiểu số cán bộ nữ Trên cơ sở quy hoạch, đẩy mạnh việc đào tạo, đào tạo lại cán bộ theo chức danh và cán bộ dự nguồn

Thực hiện Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 (khoá IX) và trên cơ sở kinh nghiệm của các cấp uỷ, tổ chức Đảng trong một số năm thực hiện quy hoạch cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII) về chiến lư-

ợc cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Hướng dẫn số 11, Ban Tổ chức Trung ương đã ban hành Hướng dẫn Số 17- HD/TCTW ngày 23 tháng 4 năm 2003 về "Công tác quy hoạch cán bộ lãnh

đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước'', trong

đó làm rõ thêm yêu cầu, quan điểm, nguyên tắc, cách thức và quy trình xây dựng quy hoạch cán bộ

Đánh giá khái quát chung, từ sau khi có Nghị quyết Hội nghị Trung ương

3 (khoá VIII) có ưu điểm chính là: có sự chuyển biến tích cực về nhận thức của các cấp uỷ, tổ chức Đảng về công tác quy hoạch cán bộ, làm cho công tác này từng bước đi dần vào nền nếp, có tiến bộ, có sự kế thừa, đồng thời có bước phát triển, góp phần tạo được nguồn cán bộ tương dối dồi dào, chất lượng cán

bộ dự nguồn tốt hơn, từng bước khắc phục tình trạng bị động, lúng túng trong công tác cán bộ

Công tác quy hoạch cán bộ mà trọng tâm là quy hoạch bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị với cáo quan điểm, nguyên tắc, nội dung và cách làm mới, đã đem lại kết quả bước đầu, thiết thực, được đông

đảo cán bộ, đảng viên đồng tình

Trang 23

Để thực hiện tốt việc lập quy hoạch đội ngũ công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước cần thực hiện tốt các khâu sau đây:

a) Xác định mục tiêu, đối tượng, yêu cầu của quy hoạch

Quán triệt và thống nhất quan điểm chung đối với các cấp, các ngành có liên quan từ trung ương đến địa phương về mục đích, yêu cầu của đối tượng quy hoạch công chức hành chính Nhà nước theo hướng dẫn số 11 - HDTC/TW ngày 5-11-1997 thì: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức từ Trung ương đến cơ sở đặc biệt là cán bộ đứng đầu, có phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, đủ về số lượng, đồng

bộ về cơ cấu, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữa các thế hệ cán

bộ nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững độc

lập tự chủ đi lên chủ nghĩa xã hội” [20, tr.113-114]

Do gắn với quyền lực Nhà nước, hoạt động của công chức luôn gây tác

động đến lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan trực tiếp đến các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức nên mục tiêu chung là: “Nâng cao kiến thức năng lực quản lý, điều hành và thực thi, công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [23,

tr 44] Cho nên, công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước phải có trình độ tiêu chuẩn nhất định Hiện nay, tiêu chuẩn hàng đầu và quan trọng của công chức là phẩm chất chính trị và năng lực thể hiện rõ nét ở 3 yêu cầu sau:

- Yêu cầu về tiêu chuẩn chính trị: Có hiểu biết về chính trị (Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của

Đảng), tích cực tham gia công cuộc đổi mới, trung thành với Tổ quốc

- Yêu cầu về chuyên môn: Có trình độ hiểu biết chung và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với công việc của công chức Hiểu biết lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước, có kiến thức sâu về ngành lĩnh vực của công chức và thành thạo nghề nghiệp chuyên môn

- Yêu cầu về phẩm chất cá nhân: Có ý chí cách mạng, sáng tạo, năng

động và kiên định, có ý thức tổ chức kỷ luật, có khả năng nhạy cảm và dự kiến

Trang 24

được tình huống, đồng thời năng động giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực thi công vụ

b) Khảo sát, đánh giá hiện trạng đội ngũ công chức và dự báo nhu cầu

cán bộ, công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong tương lai

Đánh giá cán bộ, công chức, nhất là công chức nhà nước là vấn đề hệ trọng, nhạy cảm, là khâu mở đầu có ý nghĩa quyết định trong công tác quy hoạch công chức Vì vậy, khi đánh giá công chức phải khách quan, bảo đảm tính toàn diện, tính lịch sử và khả năng phát triển của cán bộ, công chức

Để việc đánh giá cán bộ, công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước được chính xác, phải tuân thủ những vấn đề có tính nguyên tắc sau đây:

+ Thứ nhất, phải nắm vững và dựa vào tiêu chuẩn từng chức danh công

chức và dựa vào chức trách, nhiệm vụ của từng vị trí việc làm của mỗi cán bộ, công chức đó

- Thứ hai, phải thực sự lấy hiệu quả công việc và sự đóng góp thực tế của

cán bộ, công chức trong cả quá trình lâu dài với đầy đủ các thành tích được kiểm nghiệm trong thực tiễn làm thước đo về phẩm chất và năng lực

- Thứ ba, đặt cán bộ, công chức trong môi trường, điều kiện công tác cụ

thể; trong mối quan hệ biện chứng giữa đường lối chính sách, với tổ chức và cơ chế để xem xét và đánh giá toàn diện trong cả quá trình phát triển của công chức

- Thứ tư, kết hợp tốt việc cán bộ, công chức tự nhận xét đánh giá với ý

kiến nhận xét của tập thể và thủ trưởng đơn vị, với lãnh đạo cấp trên và những

ý kiến nhận xét của quần chúng cốt cán nơi cán bộ, công chức công tác và cư trú

- Thứ năm, tạo sự chủ động, có tầm nhìn chiến lược trong công tác cán

bộ; khắc phục tình trạng hẫng hụt trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, bảo

đảm tính kế thừa, phát triển và sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế

hệ cán bộ, giữ vững đoàn kết nội bộ và sự ổn định chính trị

- Thứ sáu, chuẩn bị từ xa và tạo nguồn cán bộ dồi dào làm căn cứ để đào

Trang 25

tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ đảm nhận các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị vững vàng về chính trị, trong sáng về

đạo đức, thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, có trình độ và năng lực, nhất

là năng lực trí tuệ và thực tiễn tốt, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trên cơ sở kế thừa đánh giá cán bộ theo Quy định 50-QĐ/TW ngày 3/5/1999 của trung mà xác định rõ phạm vị và đối tượng điều tra đánh giá công chức trong quy hoạch Cần phân tích thêm về số lượng, cơ cấu cán bộ công chức theo lĩnh vực công tác, về trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, tuổi đời, thâm niên công tác Từ đó phân tích thành 4 loại theo yêu cầu quy hoạch: cán bộ đào tạo cơ bản, hoàn thành tốt nhiệm vụ, có khả năng đảm nhiệm chức vụ cao hơn; có triển vọng phát triển, những cán bộ cần được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kiến thức, năng lực tổ chức thực tiễn; hoàn thành nhiệm vụ, ổn định công tác; cần phân công bố trí lại công tác

c) Xác định nguồn và tạo nguồn để quy hoạch

Để lựa chọn đúng cán bộ, công chức phục vụ cho công tác quy hoạch, cần xác định nguồn công chức ở phạm vi rộng, có tầm nhìn xa, không khép kín trong một cơ quan đơn vị, một ngành, một địa phương Ngoài ra còn phải chú trọng tới việc dự báo nguồn nhân lực từ các cơ sở, tổ chức làm công tác

đào tạo trong và ngoài nước

Nhận thức và thực hiện công tác quy hoạch cán bộ công chức là cả một quá trình, là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp, các ngành và các tổ chức

Đảng Song phải xác định nguồn quy hoạch có trọng tâm, trọng điểm để phục

vụ cho nhiệm vụ chính trị trong từng thời gian, từng thời điểm Trước mắt cần chủ động tạo nguồn cho đội ngũ cán bộ, công chức trong trong từng giai đoạn phát triển của đất nước và cho những năm tiếp theo, bảo đảm sự kế thừa liên tục giữa quy hoạch công chức đương nhiệm với việc mở rộng đào tạo, bồi dưỡng tạo nguồn công chức trước mắt cũng như lâu dài

- Nguồn quy hoạch trong thời gian trước mắt là những công chức trong mỗi ngành, mỗi cấp có triển vọng phát triển và những người được thử thách từ

Trang 26

thực tiễn công việc Những người này ít nhiều tích luỹ được vốn sống, kinh nghiệm trong công tác và đang hoạt động gần với tính chất công việc của chức danh quy hoạch hoặc cùng với chức danh quy hoạch Trách nhiệm này thuộc

về người đứng đầu trong các cơ quan, đơn vị, trong các tổ chức và trong các cấp, các ngành Phải coi trọng việc phát hiện, nuôi dưỡng, duy trì nguồn cán

bộ này qua phong trào thi đua, giao việc để đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, trình độ mọi mặt cho họ

- Nguồn cán bộ, công chức trong quy hoạch lâu dài là những người ưu tú,

có thành tích, có triển vọng và có sáng kiến trong công tác và học sinh, sinh viên xuất sắc ở các trường đại học, cao đẳng Trong xây dựng tạo nguồn, cần

đặc biệt chú ý con em các gia đình có công với nước, dân tộc thiểu số Nguồn

bổ sung, cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp là những cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức có thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực công tác còn tương đối trẻ có lịch sử chính trị rõ ràng và có triển vọng phát triển tốt

và cho cả chức danh cán bộ lãnh đạo Việc lập quy hoạch đòi hỏi sự chuẩn bị phải chu đáo, có lập trường quan điểm rõ ràng, bảo đảm cả về chất lượng và về

số lượng, đồng bộ về cơ cấu, bảo đảm tính kế thừa và phát triển

đ) Gắn với đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ, công chức

Có cán bộ dự nguồn thì phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng Vì vậy, cần

Trang 27

xây dựng phương án và lựa chọn phương án tối ưu trong việc đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính Nhà nước Nội dung đào tạo, bồi dưỡng phải thiết thực, phù hợp với yêu cầu từng loại cán bộ, chú trọng cả phẩm chất, đạo

đức và kiến thức, cả lý luận và thực tiễn, bồi dưỡng kiến thức cơ bản và kỹ năng thực hành Chú trọng bồi dưỡng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các kiến thức về lịch sử, địa lý, văn hoá Bồi dưỡng về kiến thức quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, quản lý kinh tế, khoa học, công nghệ, chuyên môn nghiệp vụ, phong cách lãnh đạo

Quy hoạch đào tạo công chức, còn phải gắn với bố trí, sử dụng Việc bố trí công chức không đòi hỏi phải đúng hoàn toàn như quy hoạch vì còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố: Yêu cầu nhiệm vụ và tổ chức, kết quả phấn đấu của cán bộ, công chức Nhưng việc bố trí và sử dụng cán bộ phải đúng tiêu chuẩn, phù hợp với sở trường của công chức

Bố trí đúng người, đúng việc chính là tìm được cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực thực sự vào cương vị công tác xứng đáng với tài năng,

từ đó mà cổ động cho cán bộ thêm hăng hái vươn lên hoàn thành nhiệm vụ

1.2 Một số quan điểm và nguyên tắc xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước

1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

về vai trò của cán bộ và công tác cán bộ

C Mác và Ăngghen là người đặt nền móng cho vấn đề cán bộ của giai cấp vô sản Giành được quyền lãnh đạo, giữ vững được chính quyền thì phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ trung thành và tài năng, đáp ứng được nhiệm vụ cách mạng Vì vậy, đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, Mác và Ăngghen cho rằng cần phải có một đội ngũ vừa có lòng trung thành với lý tưởng của giai cấp, vừa có tri thức lý luận, vừa có năng lực thực tiễn mới có khả năng đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đó

Trong điều kiện lịch sử cụ thể của cách mạng đang ở thời kỳ Đảng chưa nắm chính quyền, Các Mác và Ăng ghen chưa có thực tế để bàn nhiều về cán

Trang 28

bộ và công tác cán bộ Nhưng hai ông rất quan tâm đến đội ngũ những nhà tuyên truyền, cổ động, truyền bá tư tưởng cộng sản; lãnh đạo, tổ chức các phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản, trên cơ sở đó kết hợp với phong trào công nhân để lập ra những chính đảng của giai cấp công nhân Các nhà tuyên truyền cổ động đó chính là những cán bộ cách mạng chuyên nghiệp của Đảng trong thời kỳ hoạt động bí mật

Kế thừa và phát triển tư tưởng của Mác và Ăngghen về Đảng của giai cấp công nhân, V.I Lênin đã đề cập đến vấn đề Đảng kiểu mới và những quan

điểm về cán bộ rất có ý nghĩa cả phương diện lý luận và thực tiễn

Theo Lênin vai trò cán bộ và công tác cán bộ chỉ được thể hiện rõ ràng,

cụ thể có hiệu lực khi gắn với đường lối, nhiệm vụ chính trị của Đảng Người

đòi hỏi giai cấp công nhân phải xây dựng được cho mình một đội ngũ những người “tâm huyết”, lấy đấu tranh cách mạng làm “chuyên nghiệp” Lênin chỉ rõ: “Chính trị là một khoa học và một nghệ thuật không phải từ trên trời xuống, mà đòi hỏi một sự cố gắng, rằng giai cấp vô sản muốn thắng giai cấp tư sản phải đào tạo lấy “những nhà chính trị giai cấp” thực sự của mình, những nhà chính trị vô sản và không thua kém các nhà chính trị của giai cấp tư sản” [14 tr 80-81]

Vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ trước hết là ở chỗ đảm bảo tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối chính trị của Đảng Người lãnh đạo tuỳ theo cương vị của mình là xây dựng đường lối, lựa chọn phương án và chỉ đạo quá trình vận

động, hướng tới mục tiêu đặt ra Khi giành được chính quyền, nhiệm vụ mới mẻ,

đầy khó khăn của giai cấp công nhân và Đảng của nó là quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế nhằm xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội Nhiệm vụ ấy đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ đóng vai trò tổ chức các quá trình thực tiễn một cách có hiệu quả Lênin khẳng định: “Nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh, hiện nay đó là then chốt, nếu không thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quy định sẽ chỉ là một mớ giấy lộn”[15, tr 449]

Trong bất cứ giai đoạn nào của cách mạng, cán bộ luôn luôn giữ vai trò

đặc biệt quan trọng, bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng vô sản “Người cộng sản lãnh đạo chỉ có một cách duy nhất để chứng

Trang 29

minh quyền lãnh đạo của mình, đó là tìm cho mình được nhiều, càng ngày càng nhiều, những người phụ tá biết giúp đỡ họ làm việc, biết đề bạt họ, biết giới thiệu và chú ý đến kinh nghiệm của họ” [14, tr 30]

Thời kỳ 1945 - 1954 có nhiều biến cố phức tạp, gian khổ, vô cùng quyết liệt nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh, nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cách mạng Việt Nam Trong hoàn cảnh và điều kiện của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra một hệ thống các quan điểm, đường lối, chủ trương và phương pháp về công tác cán bộ của Đảng, tập trung chủ yếu trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc năm 1947 Thời kỳ đó, Hồ Chí Minh không dùng khái niệm "quy hoạch cán bộ" như hiện nay, chỉ dùng các từ có nội hàm liên quan là "kế hoạch",

"bồi dưỡng'', "lựa chọn cán bộ","phân phối cán bộ" Sau này, trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Người đã nhấn mạnh đến chiến lược "trồng người", đến nhiệm vụ "bồi dưỡng'' thế hệ cách mạng cho đời sau [30, tr.16-22] Thực chất của quy hoạch cán bộ là tạo nguồn cán bộ, là phát hiện, bồi dưỡng nhân tài trong Đảng và ngoài Đảng, là tạo ra những điều kiện, những cơ hội để cán bộ phấn đấu, trưởng thành, trở thành những người đi tiên phong trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc Với ý nghĩa như vậy, quy hoạnh cán

bộ là nền tảng, mang tính chiến lược của công tác cán bộ

Hồ Chí Minh khẳng định: "nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều'' Lựa chọn cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm nhiều nội dung: đánh giá cán bộ; tiêu chuẩn đức - tài; phương pháp, nguyên tắc, quy trình, mục tiêu; sử dụng và huấn luyện cán bộ, Nhưng điều cần nhận thức sâu sắc chiều sâu giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh đó chính là chữ "khéo" "Khéo" là thái độ trân trọng, nâng niu khi vun trồng và sử dụng con người; là cách ứng xử "có lý, có tình'', vừa khoa học, lại vừa là nghệ thuật trong công tác cán bộ Cơ sở đảm bảo cho sự thành công của công tác cán bộ và sự nghiệp cách mạng dân tộc là lý tưởng n-

ước nhà được độc lập, thống nhất, nhân dân được tự do, ấm no và hạnh phúc; cái gốc của người cán bộ là không ngừng rèn luyện tu dưỡng nâng cao đạo đức cách mạng và chống chủ nghĩa cá nhân Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ

Trang 30

- Những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề trong những hoàn cảnh khó khăn;

- Những người luôn luôn giữ đúng kỷ luật

Đánh giá cán bộ - khâu đầu tiên của quy hoạch cán bộ, được Hồ Chí Minh đưa ra nhiều chỉ dẫn quý báu: đánh giá cán bộ trước hết là đánh giá con người cụ thể, có mặt tốt và mặt xấu, có quyền lợi và nghĩa vụ, có sự hài hoà về vật chất và tinh thần Cán bộ, đảng viên cũng là con người, ai cũng có cả mặt tốt lẫn mặt xấu Đánh giá cán bộ cần có những tiêu chuẩn cụ thể, tựu trung lại

ở hai mặt đức - tài tác động biện chứng với nhau; trong đó, đức là gốc, là nền tảng, là điều kiện tiên quyết của người cán bộ Theo Hồ Chí Minh, biện chứng của sự đánh giá, của tiêu chuẩn cán bộ là đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể, con người cụ thể, lấy hiệu quả hoạt động thực tiễn làm tiêu chuẩn Hồ Chí Minh

đưa ra một cách đánh giá đơn giản nhưng rất chính xác đó là: "Ai mà hay khoe công việc, hay a dua, tìm việc nhỏ mà làm, hay công kích người khác, hay tự tâng bốc mình, những người như thế, tuy họ làm được việc, cũng không phải cán bộ tốt Ai cứ cắm đầu làm việc, không ham khoe khoang, ăn nói ngay thẳng, không che giấu khuyết điểm của mình, không ham việc dễ, tránh việc khó, dù công tác kém một chút cũng là cán bộ tốt"

Đồng thời, trong các cơ quan chỉ huy, chọn người phải thích đáng, quyền hạn phải phân minh, phải liên lạc mật thiết, hợp tác chặt chẽ, phải tuyệt đối tránh cái tệ lạm quyền, bao biện, xung đột, phù hiện (hình thức) Dùng đúng cán bộ, theo Hồ Chí Minh còn ở chỗ dùng đúng người, đúng việc, tuỳ tài mà

Trang 31

dùng, tài to dùng vào việc to, tài nhỏ dùng vào việc nhỏ Nếu việc to quá, họ không làm nổi, tốt nhất là đổi việc khác cho thích hợp Từ đó; vấn đề có lên,

có xuống, có vào, có ra là chuyện bình thường trong quy hoạch, bố trí cán bộ Cán bộ phải có trách nhiệm với dân, với nước, lên xuống không sao, đi đâu cũng được: ''đâu cần thì cán bộ có, đâu khó thì cán bộ đến" Nhưng như thế không có nghĩa là tuỳ tiện, chủ quan, việc chọn người và thay người là một vấn đề quan trọng trong lãnh đạo "Biết rõ ràng cán bộ, mới có thể cất nhắc cán bộ một cách đúng mực Cất nhắc cán bộ không nên làm như "giã gạo", Một cán bộ bị nhắc lên thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời"

Công tác cán bộ nói chung, công tác quy hoạch cán bộ nói riêng cần kết hợp giữa xây và chống; cần đấu tranh chống những nhận thức, tư tưởng, tập quán, thói quen, cách làm không đúng Ngay trong những ngày đầu tiên của chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh đã đề cập đến vấn đề này Trong các bài nói, viết, thư gửi như: Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà (9-1945), Chính phủ

là công bộc của dân (9-1945), Thư gửi Uỷ ban nhân các các kỳ, tỉnh, huyện và làng (10-1945), Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ (3-1947), Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (2-/969), Hồ Chí Minh đã chỉ ra rất nhiều thứ bệnh, tệ: địa phương cục bộ, bè phái, quan liêu, chủ quan, kém lý luận, lời biếng, hiếu danh, thiếu kỷ luật, tham lam, tham nhũng, quy tụ lại là chủ nghĩa cá nhân mà Hồ Chí Minh gọi là "kẻ thù bên trong', "nguy hiểm",

"hung ác", "xấu xa" của chủ nghĩa xã hội, của người cán bộ cách mạng Trong cộng tác quy hoạch cán bộ, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý tới vai trò của người đứng đầu, của cơ quan tham mưu về công tác cán bộ Người nhắc nhở những căn bệnh cán bộ lãnh đạo, cán bộ tổ chức thường mắc phải và cần hết sức phòng chống: Tự cao, tự đại, ưa người ta nịnh mình; do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người; đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình mà chán ghét những người chính trực Ham dùng những người tính tình hợp với mình, Theo Hồ Chí Minh ''mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng'' và

"nơi nào mà các cán bộ cấp trên biết lựa chọn và dìu dắt, thì có nhiều cán bộ

Trang 32

mới nảy nở và công việc rất phát triển Trái lại, nơi nào cán bộ cấp trên không biết lựa chọn dìu dắt, thì vẫn thiếu người mà công việc cứ luộm thuộm" Nếu các chứng bệnh đó không được khắc phục, thì khiến cho Đảng xuệch xoạc, ý kiến lung tung, kỷ luật lỏng lẻo, công việc bê trễ, chính sách không thi hành triệt để Đảng xa rời dân chúng

Trong tư tưởng và việc làm của Hồ Chí Minh luôn mong muôn thu hút và

sử dụng được nhiều nhân tài làm cán bộ và nguồn cán bộ cần mở rộng đến toàn xã hội, đến cả những người tài đức ở ngoài Đảng Đây chính là cách thức

có hiệu quả để Đảng quy tụ được mọi tầng lớp giai cấp, giới, lứa tuổi và lãnh

đạo toàn thể nhân dân dân tộc xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất

1.2.2 Quan điểm của Đảng ta về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức

Ngay từ khi ra đời, Đảng ta và Bác Hồ đã nhận thức đúng về vị trí và tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ cán bộ cách mạng, coi “cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ

dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt” [19, tr 54] Xuất phát từ nhiệm vụ chính trị của từng thời kỳ, từ đặc điểm của đất nước Đảng ta rất chú trọng các kinh nghiệm về xây dựng, đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đảng ta chủ trương: Xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền là phải tạo ra một lớp cán bộ mới, khác hẳn về chất so với các quan chức trong chế độ phong kiến trước

đây Đó là những người cán bộ xuất thân từ nhân dân lao động (bao gồm công nhân, nông dân, trí thức) có lòng yêu nước sâu sắc, giác ngộ lý tưởng cộng sản, có lập trường giai cấp công nhân dám hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, tận tâm, tận lực với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của giai cấp và của dân tộc

Trong những năm vừa kháng chiến vừa kiến quốc (1945-1975), đặc điểm nổi bật trong công tác cán bộ của Đảng thời kỳ kháng chiến là ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, được sự bồi dưỡng, giáo dục trực tiếp của Người cho nên đã đạt được chất lượng và hiệu quả cao

Trang 33

Do đó, quan điểm của Đảng ta về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời

Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được sự định hướng trực tiếp bởi tư tưởng và đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh nên đã đạt chất lượng hiệu quả cao Kết quả của công tác cán bộ thời kỳ này là Đảng ta đã xây dựng, rèn luyện một đội ngũ cán bộ có phẩm chất cách mạng "cần kiệm, liềm, chính, chí công, vô tư", có tinh thần chiến

đấu, ''đồng cam cộng khổ" với nhân dân lãnh đạo nhân dân đánh cho Mỹ cút,

đánh cho nguỵ nhào", hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Như vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán

bộ trong thời kỳ này là đồng thời 2 nhiệm vụ chiến lược vừa chiến đấu vừa xây dựng

Sau 1975, cả nước bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đại hội lần thứ

IV của Đảng (1976) chủ trương đưa cả nước tiến nhanh tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH Nhiệm vụ chính trị lúc này đòi hỏi phải xây dựng một đội ngũ cán bộ tương xứng Vì vậy, nhiều nghị quyết của Đảng và Nhà nước đã chỉ rõ “bồi dưỡng, nâng cao nhanh chóng trình độ và năng lực công tác của các loại cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý” Nhưng trong thực tế chúng ta đã có nhiều thiếu sót là chưa kịp thời đưa những cán bộ ưu tú

đi đào tạo một cách cơ bản Đặc biệt từ 1982 - 1986 hậu quả của những sai lầm chủ quan duy ý chí trong lãnh đạo kinh tế và trong bố trí cán bộ Nhận thức đúng đắn vấn đề này, Đảng và Nhà nước bắt đầu chú ý lựa chọn và sử

Trang 34

dụng những người có học vấn, hiểu biết khoa học kỹ thuật, có chuyên môn nghiệp vụ Song ta lại mắc sai lầm là nhấn mạnh đơn thuần học vị, bằng cấp

mà không chú ý đầy đủ đến thực chất trình độ cũng như năng lực lãnh đạo, quản lý và quá trình rèn luyện thử thách trong thực tế

Như vậy, thời kỳ 1975 - 1985 Đảng ta đã nhìn ra những hạn chế khuyết

điểm của công tác cán bộ trong thời bình theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung

và đã có những tư tưởng, chủ trương, chỉ thị về công tác quy hoạch cán bộ Nhưng do ảnh hưởng nặng nề của cuộc chiến tranh kéo dài, đội ngũ cán bộ tổ chức thời kỳ này chủ yếu từ lực lượng vũ trang chuyển sang nên tác phong, phương thức làm việc bị quân sự hóa; việc điều động, bố trí cán bộ mang tính

bí mật và thực hiện bằng mệnh lệnh một chiều thì ít xuất hiện nhu cầu phải làm công tác quy hoạch trước Trước Đại hội VI, trong các văn kiện chính thức, quá trình nhận thức về sự cần cải tiến chủ trương vô phương thức thực hiện công tác cán bộ đã bắt đầu Đại hội V đã tự phê bình: công tác đề bạt cán

bộ còn bị chi phối khá nặng nề bởi quan điểm đánh giá và lựa chọn người theo lối cũ, quá nhấn mạnh đến quá trình công tác, nặng về tác phong thái độ, về cấp bậc, chức vụ theo bằng cấp đã qua, chưa thực sự lấy hiệu quả làm thước đo chủ yếu của phẩm chất và năng lực Về tiêu chuẩn cán bộ, cũng bắt đầu nhấn mạnh tới những yêu cầu mới; yêu cầu về năng lực lãnh đạo kinh tế, kỹ thuật; yêu cầu xây dựng đội ngũ kế thừa và trẻ hoá đội ngũ lãnh đạo Trước thực tế trì trệ của công tác cán bộ, đã nêu ra quan điểm "có lên, có xuống là bình th-

ường", đưa ra chủ trương "đề bạt vượt cấp"; đã cố gắng cụ thể hoá tiêu chuẩn cán bộ bằng cách nêu các tiêu chuẩn chính trị, chuyên môn và khả năng lãnh

đạo; nhắc lại quan điểm lấy hiệu quả công tác làm thước đo cuối cùng của tiêu chuẩn cán bộ Trong cách làm này đã nhấn mạnh công tác cán bộ, quy hoạch,

đào tạo bồi dưỡng; nhấn mạnh yêu cầu đổỉ mới phương pháp chọn và quản lý cán bộ; trách nhiệm quyết đinh tập thể, và vấn đề dân chủ hoá

Tuy nhiên, trong thực tế việc thực hiện những quyết định nói trên hiệu quả không đáng kể Đây cũng là thời kỳ cái mới còn non yếu, cái cũ thì quá mạnh: có sự phân ly rõ nhất giữa chủ trương và việc thực hiện chủ trương, giữa nói và làm, giữa mong muốn và thực tế trong công tác cán bộ Đây cũng

Trang 35

là giai đoạn những biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ của cơ chế cũ nổi lên gay gắt nhất, như biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, địa vị, tư lợi, chủ nghĩa

địa phương, chủ nghĩa cục bộ và bệnh quan liêu trong công tác cán bộ; quan

điểm đẳng cấp, tôn ti trật tự phong kiến; cơ chế quản lý cán bộ thiếu chặt chẽ, không bảo đảm quyết định tập thể trên cơ sở dân chủ; người phụ trách không

có quyền, trách nhiệm trong việc lựa chọn cán bộ do mình phụ trách Đây cũng là giai đoạn cơ chế đúng đắn lấy kết quả công tác làm thước đo phẩm chất và năng lực của cán bộ bị vận dụng lệch lạc, thể hiện rõ nhất ở bệnh thành tích, báo cáo láo, nguy tạo những thành tích ảo để thăng tiến Đây cũng

là giai đoạn có sự cách biệt mâu thuẫn rõ nhất giữa sự đánhgiá của chủ thể với thực tế khách quan Nhiều cán bộ kể cả cán bộ chủ chốt cấp cao, được chủ thể

đánh giá cao, được quy hoạch vào những trọng trách quan trọng, nhưng không

được thực tiễn và quần chúng thừa nhận; ngược lại, một số đồng chí nhạy cảm với cái mới, đi sát cuộc sống của nhân dân, dám đi theo con đường cuộc sống

đã gợi ra, đề nghị đổi mới đã có lúc không được chủ thể đánh giá đúng, thậm chí có lúc bị bác bỏ bị phủ nhận, nhưng cuối cùng sự đúng đắn của họ đã được cuộc sống kiểm nghiệm, được Đảng khẳng định Đồng chí Kim Ngọc Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc là một trường hợp điển hình về một cán bộ công tâm có tinh thần đổi mới, dám nghĩ dám làm Trong giai đoạn này mặc dù cấp ủy không làm quy hoạch nhưng vẫn xuất hiện những nhân tố mới của đội ngũ cán

bộ khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới sau này

Từ 1986 trở lại đây, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới Đại hội lần thứ

VI của Đảng (12-1986) là một bước đột phá, mở ra thời kỳ mới cho sự phát triển của đất nước Thời kỳ đổi mới toàn diện, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường, mở rộng giao lưu quốc tế, thực hiện dân chủ hoá xã hội Trong bối cảnh ấy, đòi hỏi đội ngũ cán bộ tiếp tục có bước phát triển mới và trưởng thành trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế khoa học, giáo dục, văn hoá, xã hội an ninh quốc phòng, đối ngoại Đại hội

Đảng lần thứ VI chỉ rõ “đổi mới đội ngũ lãnh đạo có nghĩa là đánh giá, lựa chọn, bố trí lại đi đôi với đào tạo, bồi dưỡng để có một đội ngũ cán bộ đủ những tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị và năng lực lãnh đạo, quản lý ngang

Trang 36

Do tầm quan trọng đặc biệt, then chất của công tác xây dựng Đảng, văn kiện Đại hội X có một báo cáo riêng về vấn đề này Trong đó, một bài học kinh nghiệm mà Đảng ta rút ra qua 20 năm đổi mới là: "Phải tạo sự chuyển biến thực sự và đồng bộ trong công tác cán bộ trên tất cả các khâu đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và chính sách

Đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt, trọng dụng nhân tài"

Đây là một bước tiến mới trong công tác tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận về xây dựng Đảng và công tác cán bộ của Đảng ta Như vậy, quy hoạch cán bộ là một khâu không thể thiếu trong các khâu của công tác cán bộ, thực hiện tốt khâu này sẽ góp phần tạo ra sự chuyển biến thật sự trong đổi mới công tác xây dựng Đảng Cũng trong các văn kiện của Đại hội X, vấn đề nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác tổ chức, cán bộ được nhắc đi, nhắc lại nhiều lần vì nó tác động trực tiếp tới năng lực, phẩm chất và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị

Nghị quyết của Đại hội X, theo chúng tôi, còn có một số quan điểm, giải pháp liên quan tới việc nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác cán bộ nói chung, công tác quy hoạch nói riêng đó là:

- Kiên trì đường lối đổi mới, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán

bộ cho toàn bộ hệ thống chính trị

- Gắn bó mật thiết với dân, dựa vào dân để tiến hành công tác cán bộ Chú ý lắng nghe ý kiến của dân trong quá trình thực hiện công tác cán bộ Phát huy dân chủ cũng có nghĩa là phát huy chức năng giám sát của dân trong công tác quy hoạch cán bộ

- Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, xử lý kịp thời, công minh, công khai những cán bộ vi phạm pháp luật, vi phạm kỷ luật

Đảng, không thể để những người như vậy dự nguồn quy hoạnh hoặc bố trí vào các chức vụ lãnh đạo, quản lý

- Mở rộng nguồn quy hoạch, thu hút nhân tài vào những lĩnh vực quan trọng, không phân biệt người trong Đảng hay ngoài Đảng Điểm mới nổi bật

Trang 37

của Đại hội X là Đảng ta cho phép không chỉ những đảng viên làm kinh tế tư nhân được tiếp tục sinh hoạt mà còn cho phép kết nạp mới những chủ doanh nghiệp tư nhân có đủ điều kiện được vào Đảng

- Đổi mới công tác cán bộ cần tiên hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; cần tiếp tục thể chế hoá nguyên tắc "tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách" theo hướng nâng cao trách nhiệm, hiệu quả của người đứng đầu tổ chức trong công tác quy hoạch, sử dụng cán bộ, dưới sự kiểm tra của cấp uỷ sự giám sát, phản biện của các đoàn thể nhân dân, của toàn xã hội

Như vậy, cơ sở lý luận để nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác quy hoạnh cán bộ lãnh đạo, quản lý đã được Đảng ta xây dựng qua 5 kỳ đại hội của thời kỳ đổi mới đến nay, đã đạt được một nhận thức khá đầy đủ, toàn diện, sáng rõ Giữa các kỳ Đại hội, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban

Bí thư, cùng các cơ quan tham mưu, giúp việc của Trung ương còn cụ thể hoá các Nghị quyết trên thành các nghị quyết chuyên đề, quyết định chỉ thị, hướng dẫn nhằm mục đích tổ chức thực hiện nghị quyết đạt hiệu quả cao

Nhận thức rõ vị trí vai trò của công tác cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta cần phải tiến hành cải cách nền hành chính nhà nước làm tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội Một trong những nội dung của cải cách hành chính là xây dựng đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước nói chung và đội ngũ công chức hành chính Nhà nước nói riêng là vấn đề con người Nghị quyết Hội nghị TW 3 (khoá VIII) đã khẳng

định: “ Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”[9, tr 38] Trong đó, quy hoạch cán bộ là nội dung trọng yếu của chiến lược cán bộ

Để thực hiện tốt chiến lược cán bộ cho thời kỳ mới, đòi hỏi chúng ta phải chủ động, có tầm nhìn xa, có quy hoạch, kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cụ thể không chỉ cho trước mắt, mà cho cả thời kỳ tương đối lâu dài

Trang 38

Ngày nay, trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phải cải cách nền hành chính nhà nước làm tiền đề phát triển kinh tế - xã hội Một trong những nội dung của cải cách hành chính là xây dựng đội ngũ công chức hành chính nhà nước, đòi hỏi phải quán triệt sâu sắc 5 quan

điểm về xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

đã được Hội nghị trung ương 3 (khoá VIII) xác định như sau:

- Quan điểm xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng

- Quan điểm giai cấp công nhân của Đảng phát huy truyền thống yêu nước và đoàn kết dân tộc

- Gắn xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng tổ chức và đổi mới cơ chế chính sách

- Thông qua thực tiễn và phong trào cách mạng của quần chúng để tuyển chọn giáo dục, bồi dưỡng cán bộ

- Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung, dân chủ, đồng thời phát huy trách nhiệm của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị

Như vậy, quy hoạch công chức hành chính nhà nước là thể hiện tập trung

và cụ thể mức độ quán triệt và vận dụng các quan điểm của Đảng và Nhà nước

về tổ chức, cán bộ đồng thời vận dụng các quan điểm đó vào đơn vị, địa phương và của ngành mình

1.2.3 Những nguyên tắc cơ bản về xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước

Trong quy hoạnh cán bộ phải giữ vững nguyên tắc công tác cán bộ của

Đảng đó là: công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý phải đặt dưới sự lãnh

đạo tập trung, thống nhất của các cấp uỷ đảng đồng thời có sự phân cấp hợp lý

về thẩm quyền quy hoạch cán bộ phù hợp với phân cấp quản lý, sử dụng cán bộ; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác quy hoạch cán bộ;

Đảng thống nhất lãnh đạo và quản lý đội ngũ cán bộ, bảo đảm vai trò lãnh đạo tập trung của cấp uỷ đi đôi với việc phát huy trách nhiệm của các tổ chức

Trang 39

trong hệ thống chính trị, nhất là người đứng đầu; đồng thời mở rộng dân chủ trong việc phát hiện nguồn lợi, phát hiện tài năng Do vậy, việc xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước cũng phải tuân thủ theo nguyên tắc sau:

Một là, công tác quy hoạch đội ngũ công chức hành chính phải được tiến

hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ

Quy hoạch đội ngũ công chức hành chính là quá trình thực hiện đồng bộ các chủ trương, biện pháp để tạo nguồn nhằm bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ trong một thời gian nhất định Vì vậy, hơn lúc nào hết, trong lĩnh vực này phải thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, phải hết sức thận trọng và thật

sự dân chủ

- Phải luôn nắm vững và thực hiện đúng những quan điểm và nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán

bộ, chủ động có tầm nhìn xa, dự báo đúng tình hình, bám sát yêu cầu nhiệm

vụ chính trị để có quy hoạch, kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ, trong đó đặc biệt chú trọng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, trước hết là cấp chiến lược, nhất là người chủ trì phải thật sự là những cán bộ vững vàng, có đủ bản lĩnh, phẩm chất và năng lực giải quyết nhiệm vụ trong thời kỳ mới, trước mắt và lâu dài

- Những cán bộ được bố trí vào các cương vị lãnh đạo trước hết phải được

đào tạo và thử thách hoạt động thực tiễn trong phong trào cách mạng của nhân dân, thể hiện rõ bản lĩnh, trình độ, phẩm chất cách mạng, hết lòng vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, phấn đấu xây dựng thành công CNXH ở nước ta

- Đánh giá cán bộ phải có quan điểm, phương pháp công tâm, khách quan, khoa học Xử lý đúng các mối quan hệ giữa đức và tài, giai cấp và dân tộc, nghĩa vụ và quyền lợi, cống hiến và đãi ngộ, tiêu chuẩn và cơ cấu, giữa năng lực thực tế, trong phong trào cách mạng với bằng cấp được đào tạo trong nhà trường, như lời Bác Hồ dạy: "Nhận xét cán bộ không nên chỉ nhận xét bề ngoài, chỉ nhận xét một lúc, một việc mà phải xét toàn bộ công việc của cán

Trang 40

bộ"

- Nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ để bố trí đúng người, đúng việc, đúng lúc, là nguyên tắc cơ bản, then chốt xuyên suốt trong quá trình đánh giá, sử dụng cán bộ, nhất thiết phải do tập thể lãnh đạo có thẩm quyền sau khi đã tập hợp đầy đủ ý kiến các cơ quan liên quan và ý kiến đóng góp của quần chúng nhân dân tại cơ sở Tuy nhiên, trong thực tế cần phải kết hợp đúng đắn giữa chế độ tập thể và trách nhiệm cá nhân giữa tập trung và dân chủ, những loại công việc nào cần mở rộng dân chủ, những loại việc nào cần tập trung để phát huy được vai trò và trách nhiệm của Lãnh đạo đơn vị, của Thủ trưởng đơn vị theo quy định của pháp luật Muốn vậy cần phải sớm thể chế hoá thành các quy định, quy chế cụ thể trong quá trình mở rộng dân chủ hoá của công tác đề bạt bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp Vì vậy dân chủ hoá phải đi đôi tăng cường kỷ luật dân chủ được thể chế hoá thành pháp luật, dân chủ trong khuôn khổ pháp luật, khắc phục tình trạng vô kỷ luạt, dân chủ cực đoan, lợi dụng dân chủ để gây rối, thực hiện những mưu đồ và mục đích cá nhân Muốn vậy cần thực hiện đúng chủ trương nhiệm vụ của Nghị quyết Trung ương 3 đã được đưa ra là: "Điều quan trọng hàng đầu là nâng cao chất lượng chế độ dân chủ, đại diện, mở rộng và có cơ chế từng bước thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp một cách thiết thực, đúng hướng và có hiệu quả"

Trong tình hình hiện nay, dân chủ là một khâu then chốt trong việc đánh giá, bổ nhiệm, cất nhắc và quy hoạch cán bộ Lâu nay việc quy hoạch thường

được coi là công tác “bí mật” là việc riêng của thủ trưởng và của cơ quan cán

bộ Cách làm này, đã làm cho việc quy hoạch cán bộ công chức thiếu khách quan Để khắc phục những sai lầm có thể xảy ra, việc quy hoạch công chức, cần đưa vào những chuẩn mực nhất định Điều đó phải được coi như là một nguyên tắc

Để bảo đảm dân chủ, việc quy hoạch công chức phải tuân theo nguyên tắc tập thể Nghĩa là phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa thủ trưởng bộ phận tổ chức và tập thể cấp uỷ Hàng năm cấp uỷ, thủ trưởng phải xem xét, đánh giá,

điều chỉnh công chức trong diện quy hoạch, từ đó mà cử cán bộ công chức đi

Ngày đăng: 15/04/2014, 14:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hồng Cơ. Quy hoạch và luân chuyển cán bộ - những giải pháp thúc đẩy thực hiện, Kỷ yếu hội thảo khoa học Ch −ơng trình nghiên cứu khoa học cấp nhà n−ớc KX 05“Một số vấn đề về công tác quy hoạch cán bộ”, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch và luân chuyển cán bộ - những giải pháp thúc đẩy thực "hiện", Kỷ yếu hội thảo khoa học Ch−ơng trình nghiên cứu khoa học cấp nhà n−ớc KX 05 “Một số vấn đề về công tác quy hoạch cán bộ
2. Ban bí th− Trung −ơng Đảng. Quyết định số 55 QĐ/TW về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo các cấp từ nay đến năm 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 55 QĐ/TW về công tác quy hoạch cán bộ
3. Đảng Cộng sản Việt Nam -Ban Chấp hành Trung −ơng. Chỉ thị số 45 - CT/TƯ về khẩn trương đẩy mạnh việc xây dựng quy hoạch cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 45 - CT/TƯ về khẩn trương đẩy mạnh việc xây dựng quy hoạch cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam -Ban Chấp hành Trung −ơng
4. Đảng Cộng sản Việt Nam -Ban Chấp hành Trung −ơng. Thông tri số 32 - TT/TƯ về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng quy hoạch cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý ở các ngành, các cấp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tri số 32 - TT/TƯ về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng quy hoạch cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý ở các ngành, các cấp
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam -Ban Chấp hành Trung −ơng
5. Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb ST, H, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: Nxb ST
6. Đảng cộng sản Việt nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sù thËt, H, 1991, tr. 43 - 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Nhà XB: Nxb Sù thËt
7. Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
8. Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện Hộinghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung −ơng khoá VII, Nxb CTQG, H, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hộinghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung "−ơng khoá VII
Nhà XB: Nxb CTQG
9. Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện Hộinghị lần thứ 3 BCH Trung −ơng khoá VIII, Nxb CTQG, H, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hộinghị lần thứ 3 BCH Trung −ơng khoá "VIII
Nhà XB: Nxb CTQG
10. Đỗ Xuân Định. Vấn đề đào tạo nguồn trong quy hoạch cán bộ, Kỷ yếu hội thảo khoa học Ch ương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước KX 05 “Một số vấn đề về công tác quy hoạch cán bộ”, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đào tạo nguồn trong quy hoạch cán bộ
Tác giả: Đỗ Xuân Định
Nhà XB: Kỷ yếu hội thảo khoa học Chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước KX 05
Năm: 1998
11. Trần Ngọc Đường. Chủ động cải cách bộ máy Nhà nước trong xu thế của thời đại, Nghiên cứu lý luận, số 3, 1999, tr. 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ động cải cách bộ máy Nhà nước trong xu thế của thời "đại
12. Trần Đìnhg Hoan. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đẩy mạnh cải cách tổ chức, hoạt động của Nhà nước, Tạp chí Cộng sản, số 2 năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đẩy mạnh cải cách tổ chức, "hoạt động của Nhà n−ớc
13. Phạm Quang H−ng. Hội nghị tổng kết công tác cán bộ, Tạp chí Cộng sản, số 24 (tháng 12) năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị tổng kết công tác cán bộ
16. Nguyễn Ngọc Liễu. Quy hoạch cán bộ và việc bố trí, sử dụng cán bộ, Kỷ yếu hội thảo khoa học Chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước KX 05 “Một số vấn đề về công tác quy hoạch cán bộ”, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch cán bộ và việc bố trí, sử dụng cán bộ", Kỷ yếu hội thảo khoa học Chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước KX 05 “Một số vấn đề về công tác quy hoạch cán bộ
17. PGS Lê Văn Lý. Quan niệm khoa học về quy hoạch cán bộ và quá trình tiếp cận, Kỷ yếu hội thảo khoa học Ch−ơng trình nghiên cứu khoa học xã hội cấp nhà n−ớc KX 05 “Một số vấn đề về công tác quy hoạch cán bộ”, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm khoa học về quy hoạch cán bộ và quá trình tiếp cận", Kỷ yếu hội thảo khoa học Ch−ơng trình nghiên cứu khoa học xã hội cấp nhà n−ớc KX 05 “Một số vấn đề về công tác quy hoạch cán bộ
18. Nguyễn Văn Mạnh. Cải cách nền hành chính Nhà n−ớc - thực trạng và giải pháp, Tạp chí lý luận chính trị số 2, 2000, tr.17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách nền hành chính Nhà n−ớc - thực trạng và giải "pháp
19. Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H, 2000, tr. 240 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 5
Nhà XB: Nxb CTQG
20. Một số quyết định, quy định, quy chế, hướng dẫn về công tác cán bộ, Tạp chí Xây dựng Đảng xuất bản, Hà Nội, 1999, tr. 113 - 114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số quyết định, quy định, quy chế, h−ớng dẫn về công tác cán bộ
21. Nghị định 169/ HĐBT ngày 25/ 5/ 1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 169/ HĐBT
22. Vũ Hữu Ngoạn. Tìm hiểu một số khái niệm văn kiện đại hội IX của Đảng, Nxb CTQG, H, 2002, tr. 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số khái niệm văn kiện đại hội IX của Đảng
Nhà XB: Nxb CTQG

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Số l−ợng và cơ cấu công chức cả n−ớc năm 2008 - cơ sở khoa học của công tác xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức quản lý nhà nước của bộ công thương giai đoạn 2010 2015
Bảng 2.1. Số l−ợng và cơ cấu công chức cả n−ớc năm 2008 (Trang 48)
Bảng 2.2. Trình độ đào tạo của công chức trong cả nước năm 2008 - cơ sở khoa học của công tác xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức quản lý nhà nước của bộ công thương giai đoạn 2010 2015
Bảng 2.2. Trình độ đào tạo của công chức trong cả nước năm 2008 (Trang 50)
Bảng 2.3. Trình độ lý luận chính trị và ngoại ngữ - cơ sở khoa học của công tác xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức quản lý nhà nước của bộ công thương giai đoạn 2010 2015
Bảng 2.3. Trình độ lý luận chính trị và ngoại ngữ (Trang 51)
Bảng 2.4 Số l−ợng và cơ cấu công chức thực hiện chức năng quản lý nhà  n−ớc của Bộ Công nghiệp và Bộ Th−ơng mại năm 2001 - cơ sở khoa học của công tác xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức quản lý nhà nước của bộ công thương giai đoạn 2010 2015
Bảng 2.4 Số l−ợng và cơ cấu công chức thực hiện chức năng quản lý nhà n−ớc của Bộ Công nghiệp và Bộ Th−ơng mại năm 2001 (Trang 66)
Bảng 2.5 Số l−ợng và cơ cấu công chức thực hiện chức năng quản lý nhà  n−ớc của Bộ Công nghiệp và Bộ Th−ơng mại năm 2005 - cơ sở khoa học của công tác xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức quản lý nhà nước của bộ công thương giai đoạn 2010 2015
Bảng 2.5 Số l−ợng và cơ cấu công chức thực hiện chức năng quản lý nhà n−ớc của Bộ Công nghiệp và Bộ Th−ơng mại năm 2005 (Trang 67)
Bảng 2.6 Số l−ợng và cơ cấu công chức thực hiện chức năng quản lý nhà n−ớc  của Bộ Công Th−ơng năm 2008 (sau khi hợp nhất 2 Bộ) - cơ sở khoa học của công tác xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức quản lý nhà nước của bộ công thương giai đoạn 2010 2015
Bảng 2.6 Số l−ợng và cơ cấu công chức thực hiện chức năng quản lý nhà n−ớc của Bộ Công Th−ơng năm 2008 (sau khi hợp nhất 2 Bộ) (Trang 68)
Bảng 2.7 Cơ cấu công chức quản lý nhà n−ớc dự kiến giai đoạn 2010-2015 - cơ sở khoa học của công tác xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức quản lý nhà nước của bộ công thương giai đoạn 2010 2015
Bảng 2.7 Cơ cấu công chức quản lý nhà n−ớc dự kiến giai đoạn 2010-2015 (Trang 69)
Bảng 2.8 Thực trạng quy hoạch cán bộ lãnh đạo của Bộ Công Thương 2009 - cơ sở khoa học của công tác xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức quản lý nhà nước của bộ công thương giai đoạn 2010 2015
Bảng 2.8 Thực trạng quy hoạch cán bộ lãnh đạo của Bộ Công Thương 2009 (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w