1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đối với các vùng dân tộc thiểu số tây bắc, tây nguyên, tây nam bộ cơ sở lý luận và thực tiễn

519 788 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đối với các vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ
Tác giả TS Doãn Hùng
Người hướng dẫn PGS.TS Đoàn Minh Huấn, PGS.TS Ngô Ngọc Thắng, PGS.TS Phạm Thành Dung, PGS.TS Phạm Hảo, TS Lê Văn Định, TS Võ Thành Khối, Th/s Nguyễn Tấn Vinh, PGS.TS Phạm Đình Huỳnh, PGS.TS Khổng Diễn, TS Hà Hữu Nga, TS Bùi Minh Đạo, TS Bạch Hồng Việt, TS Võ Công Nguyện, TS Trần Nam Tiến, TS Trần Xuân Dung, Hoàng Bạn, TS Đậu Tuấn Nam, Th/s Nguyễn Thị Hải Yến
Trường học Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I
Chuyên ngành Chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đối với các vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ
Thể loại Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 519
Dung lượng 3,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Nghiên cứu về chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ là một nhu cầu khoa học cấ

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

(Mã số: KX.02.10/06-10)

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chủ nhiệm: TS Doãn Hùng

Cơ quan chủ trì đề tài: Học viện CT-HC Khu vực I

8165

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

LỰC LƯỢNG CHÍNH THAM GIA ĐỀ TÀI

1 TS Doãn Hùng, Chủ nhiệm đề tài

2 TS Nguyễn Ngọc Hà, Thư ký khoa học đề tài,

3 TS Lê Thị Phương Thảo, Liên hiệp các Hội khoa học Kỹ thuật VN

4 PGS.TS Đoàn Minh Huấn, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I,

5 PGS.TS Ngô Ngọc Thắng, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I,

6 PGS.TS Phạm Thành Dung, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I,

7 PGS.TS Phạm Hảo, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III,

8 TS Lê Văn Định, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III,

9 TS Võ Thành Khối, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực II,

10 Th/s Nguyễn Tấn Vinh, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực II,

11 PGS.TS Phạm Đình Huỳnh, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực IV,

12 PGS.TS Khổng Diễn, Viện nghiên cứu phát triển bền vững vùng Tây Nguyên,

13 TS Hà Hữu Nga, Viện Nghiên cứu phát triển bền vững vùng Bắc Bộ,

14 TS Bùi Minh Đạo, Viện nguyên cứu phát triển bền vững vùng Tây Nguyên,

15 TS Bạch Hồng Việt, Viện phát triển bền vững vùng Tây Nguyên,

16 TS Võ Công Nguyện, Viện Nghiên cứu phát triền bền vững vùng Nam Bộ

17 TS Trần Nam Tiến, Trường Đại học KHXH và NV Thành phố HCM

18 TS Trần Xuân Dung, Học viện An ninh nhân dân

19 Hoàng Bạn, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên

20 TS Đậu Tuấn Nam, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

21 Th/s Nguyễn Thị Hải Yến, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghiên cứu về chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở

các vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ là một nhu cầu

khoa học cấp thiết đồng thời là đòi hỏi thực tiễn bức xúc, được chế định bởi

mấy lý do sau đây:

Một, Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ là nơi tụ cư xen cài giữa dân

tộc đa số (Kinh) với các dân tộc thiểu số, giữa dân tộc thiểu số này với dân tộc thiểu số khác Thực tế, đây là vùng đa tộc người Nếu như phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở vùng đơn tộc người đã khó thì phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở vùng đa tộc người càng khó và phức tạp bội phần, do mỗi tộc người có đặc điểm riêng về văn hoá, phong tục, tập quán, trình độ phát triển, nếp nghĩ, cách làm, không gian sinh tồn,… cùng vô vàn

các yếu tố khác chi phối Đây là lý do thứ nhất quy định tính đặc thù trong

chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở vùng đa tộc người

mà cần phải có những nghiên cứu thấu đáo

Hai, vùng dân tộc thiểu số có nhiều tiềm năng về khoáng sản, lâm sản,

trồng cây công nghiệp, cây dược liệu, thủy điện, du lịch lịch sử - văn hoá… nhưng tiềm năng ấy chưa được khai thác có hiệu quả, thiếu tính bền vững Sự

nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng được đẩy tới thì nền kinh tế tế

đang được cơ cấu lại và theo đó làm thay đổi “đột ngột” kết cấu xã hội, đòi

hỏi việc hoạch định, thực thi chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển

xã hội phải cân nhắc kỹ lưỡng cả yêu cầu bảo tồn giá trị truyền thống và phát triển, đặc biệt đối với các khu vực tái định cư thuộc công trình thủy điện (Sơn

La, Than Uyên, Na Hang, Sê San…) Trong trường hợp như vậy, nếu áp đặt cách quản lý xã hội của vùng dân cư có trình độ phát triển cao đối với dân cư

có trình độ thấp, của vùng đơn tộc người với vùng đa tộc người,…thì chắc chắn sẽ phải trả giá và thất bại, mà những thí điểm xây dựng khu tái định cư

thuộc công trình thủy điện Sơn La một ví dụ điển hình Đây là lý do thứ hai

đòi hỏi phải khu biệt hoá được tính đặc thù trong chính sách phát triển xã hội

và quản lý phát triển xã hội ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam

Bộ

Trang 4

Ba, Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ đang nổi lên các điểm nóng bức xúc, như truyền đạo trái phép, di dân diễn biến phức tạp, buôn bán và sử

dụng ma tuý, mâu thuẫn và xung đột tộc người giữa cư dân tại chỗ và cư dân mới đến, tàn phá rừng đầu nguồn,… Những bức xúc nêu trên có mặt cần có thời gian và những nguồn lực tương ứng mới giải quyết được triệt để, nhưng cũng có mặt đòi hỏi phải xử lý bằng giải pháp tình thế Nhiều vấn đề xã hội bức xúc của vùng dân tộc thiểu số nếu không được giải quyết dứt điểm thì từ

“điểm” có nguy cơ bùng phát thành “diện”, từ tính chất đơn giản chuyển

thành phức tạp Đây là đặc điểm quy định lý do thứ ba về tính đặc thù trong

chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ

Bốn, trong khuynh hướng của “chủ nghĩa giải lãnh thổ”

(détrritorialisation) thì các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ nước

ta trở thành trọng điểm chống phá của các thế lực thù địch, đe doạ đến sự thống nhất quốc gia và mô hình nhà nước - dân tộc Các lực lượng li khai thường núp dưới ngọn cờ dân tộc và tôn giáo để mưu toan thực hiện chủ nghĩa ly khai Các cuộc bạo loạn chính trị ở Tây Nguyên năm 2001 và tái phát năm 2004 với cái âm mưu thành lập “Nhà nước Đề ga” cũng như tình hình phức tạp của khu vực người H’Mông ở Tây Bắc, người Khơme ở Nam Bộ,… đang đặt ra những thách thức to lớn đối với Đảng và Nhà nước ta trong những

năm trước mắt và cả chiến lược phát triển lâu dài Đây là lý do thứ tư đòi hỏi

cần xác định những phương thức đặc thù về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ

Năm, Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ có đường biên giới hàng

ngàn km tiếp giáp với Trung Quốc, Lào, Campuchia Do đó, đây là “phên dậu quốc gia”, có tầm quan trọng đặc biệt trên phương diện địa - chính trị, đảm bảo an ninh chủ quyền biên giới, giữ vững và thúc đẩy quan hệ hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng Nơi đây đang xuất hiện những xu hướng tích cực như thúc đẩy giao thương kinh tế, giao lưu văn hoá và mở rộng đối ngoại nhân dân, nhất là hình thành các khu kinh tế cửa khẩu với sự hợp tác chặt chẽ giữa các nước có chung đường biên giới Bên cạnh đó cũng nảy sinh hàng loạt vấn đề phức tạp như di dân xuyên quốc gia, buôn lậu hàng hoá, buôn bán ma tuý, buôn bán người, kiểm dịch động - thực vật,… Nhưng

Trang 5

nổi cộm nhất vẫn là vấn đề bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới với tính phức tạp của nó, có phần do di tồn lịch sử, có phần mới nảy sinh do sự chi phối bởi

động thái chính trị - xã hội phức tạp của các quốc gia láng giềng Đó là lý do

thứ năm đòi hỏi phải tính toán những đặc thù của chính sách phát triển xã hội

và quản lý phát triển xã hội ở vùng biên giới, đóng góp luận cứ khoa học vào hoạch định chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia trong tình hình mới

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

a Nghiên cứu của người nước ngoài

Nghiên cứu nước ngoài về chính sách quản trị và phát triển xã hội được

kế thừa trong thực hiện đề tài này rất phong phú, đặc biệt là các lý thuyết về

an sinh xã hội, nhân học tộc người, tương đối luận văn hóa, xung đột xã hội, nhóm lợi ích, quan hệ giữa tổ chức với đối tượng quản lý, con người trong các chính sách quản lý, triết lý phát triển xã hội hiện đại mà bất cứ hệ thống quản lý nào cũng phải xử lý Trực tiếp phục vụ cho đề tài này có các nhóm nghiên cứu nước ngoài sau đây được khảo cứu kỹ lưỡng

Một là: Nghiên cứu về khoa học vùng trong xu thế toàn cầu hoá và

những liên hệ với phát triển vùng kinh tế, vùng sinh thái, vùng văn hoá

Đã có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về khu vực học, có khi xem xét trên một không gian lịch sử - văn hoá rộng, trung bình hoặc hẹp để định dạng, mà

khu vực dân tộc thiểu số thường nhận được sự quan tâm đặc biệt, như Blench, Roger [1999] với: Language Phyla of the Indopacific Region: recent Recearch

and Classification (“Các nhóm ngôn ngữ của Khu vực Ấn Độ -Thái Bình

Dương: nghiên cứu và Phân loại gần đây”) Hoặc có những nghiên cứu đi

sâu vào mối quan hệ tương phản giữa khu vực hoá và toàn cầu hoá với đại

diện là Honnighausen L., Marc Frey, James Peacock, Niklaus Steiner [2005] với “Regionalism in the Age of Globalism – Volume Concepts of

Regionalism” (“Khu vực hoá trong Thời đại Toàn cầu hoá: Các khái niệm

khu vực hoá”)

Hai là: Những nghiên cứu tổng quan các dân tộc thiểu số ở Việt Nam,

trong đó các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ thường được xem là trọng điểm nghiên cứu Thuộc nhóm này, trước hết phải kể đến tên tuổi nhiều

nhà nhân học văn hoá, nhân học xã hội người Pháp như Parke E.H, H

Trang 6

Maspéro, mà kết quả nghiên cứu của họ đã được công bố trên Tập san của

Trường Viễn đông Bác cổ (BEFEO), Tập san Hội nghiên cứu Đông Dương

(BSEI), Tập san Pháp Á (FA) hoặc xuất bản thành chuyên khảo Gần đây

có nghiên cứu của Donovan D., Rambo T.A, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức

Viên: “Những xu hướng phát triển ở vùng núi phía Bắc Việt Nam’’ [1997] với việc xem xét cụ thể mỗi cộng đồng tộc người gắn với hệ sinh thái tộc người

(rẻo cao, rẻo giữa, thung lũng) và từ đó chi phối đến đặc trưng văn hoá mà mỗi chính sách phát triển xã hội tộc người cần phải tính toán đầy đủ Furuta

Mooto (Nhật Bản) với Luận án tiến sĩ “Chính sách dân tộc của Đảng Cộng

sản Việt Nam” (Luận án Tiến sĩ) [1989] không chỉ quan tâm đến đặc điểm

nhân chủng, văn hoá tộc người, mà hướng trọng tâm nghiên cứu thể chế, chính sách phát triển xã hội tộc người và quản lý phát triển tộc người của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Ba là: Những nghiên cứu chuyên biệt về từng tộc người thiểu số ở cả 3

vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ Bên cạnh những tên tuổi thời

thuộc địa như P Guileminet, P.B Lafont, Tơ lơi Djuat, J Cuisiner, thì gần đây có Gerald Hicke (Mỹ), Oscar Salemink (Hà Lan), Patricia Pelly (Mỹ), với một số nghiên cứu về các tộc người thiểu số ở Việt Nam, đặc biệt là Tây

Nguyên Các công trình nêu trên chủ yếu nghiên cứu dưới giác độ nhân học,

rồi từ đó đề cập đến chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với phát

triển xã hội tộc người và quản lý phát triển xã hội tộc người Một số tổ chức

phi chính phủ trong quá trình tài trợ cho các chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái, cải cách hành chính, ở vùng dân

tộc thiểu số nước ta, đã có các nghiên cứu cũng như báo cáo đánh giá iêu

biểu cho nhóm nghiên cứu này là công trình của Công ty ADUKI Pty Ltd với

“Poverty in Vietnam” (“Vấn đề nghèo đói ở Việt Nam”) [1995]; hoặc các báo

cáo tư vấn của Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á, các tổ chức phi chính phủ, đáng lưu ý là báo cáo của Neil Jamieson: “a Socio – economic Overview of the Northern Mountain Region and the Project and Poverty

Reduction in the Northern Mountain Region of Vietnam”, 2000 (a Tổng quan

về tình hình kinh tế – xã hội khu vực miền núi phía Bắc Dự án xoá đói giảm nghèo ở khu vực miền núi phía Bắc: Ngân hàng Thế giới) và “b Rethinking

Approaches to Ethenic Minority Developmen, The Case of Vietnam”

Trang 7

Concept Paper perpared for the World Bank, Unpublished, 2000 (“Nghĩ lại

cách tiếp cận chương trình phát triển dân tộc thiểu số, Trường hợp Việt Nam”) Những báo cáo này có khuyến nghị Chính phủ Việt Nam cần lưu

tâm đến chăm lo những đối tượng chịu nhiều thua thiệt trong trong quá trình chuyển đổi cơ chế, những nguy cơ xung đột tộc người, các bất bình đẳng mới nảy sinh trong xã hội tộc người, các nguồn vốn xã hội cần khai thác để phục

vụ yêu cầu phát triển bền vững

b Nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài càng phong phú hơn, nhất là

về phương diện chính sách phát triển xã hội Dưới đây là các nhóm nghiên cứu chính liên quan trực tiếp đến đề tài:

Một là: Nghiên cứu về vùng văn hoá, vùng kinh tế trong mối liên hệ với

sự PTXH và QLPTXH mang “đặc tính vùng” của Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ

Nhóm nghiên cứu này có ưu điểm là dựa trên lý thuyết khu vực học để

tìm ra đặc trưng của vùng, mà Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ thường được liên hệ là những không gian lịch sử - văn hoá đặc thù, độc đáo, nhưng đồng thời lại là vùng tăng trưởng thấp, chịu nhiều áp lực của cơ chế thị trường, của toàn cầu hoá, có nguy cơ phân rã các kết cấu xã hội truyền thống

Do vậy, những nghiên cứu về vùng văn hoá thường đặt ra yêu cầu bảo tồn,

lưu giữ giá trị truyền thống trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Tiêu biểu cho những nghiên cứu này là chuyên khảo của Ngô Đức Thịnh:

“Văn hoá, văn hoá tộc người và văn hoá Việt Nam” [2006]; của Phan Hữu Dật, Ngô Văn Thịnh, Lê Ngọc Thắng: “Sắc thái văn hoá địa phương và tộc

người trong chiến lược phát triển đất nước” [1999], các công trình của Trần

Văn Bính (chủ biên) [2004, 2005] về văn hóa Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, của Trần Hồng Liên về văn hóa người Hoa ở Tây Nam Bộ [2005]

Dưới góc độ kinh tế vùng gắn với quy hoạch phát triển các vùng lãnh thổ có

các công trình của Viện Chiến lược phát triển [2004], của Nguyễn Xuân Thu – Nguyễn Văn Phú (đồng chủ biên) [2006], Ngô Doãn Vịnh [1998]

Hai là: Nghiên cứu về chính sách xã hội nói chung, trong đó có đề cập

đến chính sách phát triển xã hội đối với vùng dân tộc thiểu số

Trang 8

Đáng chú ý là nghiên cứu của Doãn Hùng (chủ nhiệm): Đảng lãnh đạo

thực hiện chính sách xã hội trong thời kỳ đổi mới [1999]; của Phạm Xuân Nam

(chủ biên): “Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ và giải pháp” [1997]; của của Đặng Cảnh Khanh: “Gia đình trẻ em và sự kế thừa các giá trị truyền thống” [2003]; của Lê Thị Quý: “Bình đẳng giới trong phát triển vùng đa dân tộc miền

núi’’ [2005] Điểm đáng ghi nhận trong những nghiên cứu này là các vùng

Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ luôn được xem là những nơi khó khăn nhất nên được đề cập với tư cách những địa bàn đặc thù trong thực thi các chính sách xã hội như xoá đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, giáo dục – đào tạo, định canh định cư

Ba là: Nghiên cứu về thiết chế quản lý xã hội ở vùng dân tộc thiểu số Tây

Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, trong đó có nêu lên tính tộc người, tính địa phương trong quản lý phát triển xã hội

Thiết chế quản lý phi quan phương được quan tâm đặc biệt của giới

nghiên cứu, nhất là kết cấu buôn/làng/phum/sóc Đáng chú ý là nghiên cứu của Doãn Hùng (chủ nhiệm): “Đặc điểm truyền thống dân tộc Mường tỉnh Hoà

Bình và dân tộc Thái tỉnh Sơn La ảnh hưởng tới việc thực hiện quy chế dân chủ

ở cơ sở” [2001]; của Lê Ngọc Thắng (chủ biên), Lâm Bá Nam: “Thiết chế xã hội cổ truyền các dân tộc thiểu số Việt Nam” [1990]; của Lưu Hùng: “Buôn làng cổ truyền xứ Thượng” [1994]; của Nguyễn Quốc Phẩm: “Luật tục và ý thức pháp luật trong quản lý xã hội các dân tộc thiểu số” [2002]; Các nghiên

cứu loại này bước đầu đã cho thấy những tác động trực tiếp và gián tiếp của thiết chế xã hội truyền thống đối với sự phát triển xã hội và quản lý phát triển

xã hội ở từng vùng, từng tiểu vùng và từng cộng đồng tộc người

Theo một cách tiếp cận khác, có tác giả lại đi sâu tìm hiểu các thiết chế

quan phương do các thể chế nhà nước áp đặt lên vùng dân tộc thiểu số, với

nghiên cứu của Phan Hữu Dật và Lâm Bá Nam [2001]; của Tô Huy Rứa, Nguyễn Cúc, Trần Khắc Việt [2004], của Nguyễn Cúc, Ngô Ngọc Thắng, Đoàn Minh Huấn [2005]) Từ nghiên cứu thiết chế quản lý quan phương, những chuyên khảo này đã cho thấy độ “vênh” với thiết chế quản lý phi quan phương và xem đây là một trong những nguyên nhân cản trở hiệu quả quản lý phát triển xã hội và hạn chế sự tham gia của các dân tộc tại chỗ vào hoạt động

quản lý xã hội Vì vậy, nhiều nghiên cứu đã nêu ra các khả năng kết hợp, lồng

Trang 9

ghép giữa thiết chế quản lý quan phương với phi quan phương, nhất là ở hệ

thống chính trị cấp cơ sở, để nâng cao hơn năng lực và hiệu quả quản lý

Bốn là: Nghiên cứu các yếu tố “động” của đối tượng và chủ thể quản lý

phát triển xã hội vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ

Yếu tố “động” trong quản lý xã hội chính là con người, gồm cả con người với tư cách đối tượng quản lý và con người với tư cách là chủ thể quản

lý Con người với cách là chủ thể quản lý xã hội vùng dân tộc thiểu số rất

được đặc biệt coi trọng, nhất là cán bộ, trí thức, già làng, trưởng bản Thuộc

loại nghiên cứu này có công trình của Lê Hữu Nghĩa (chủ biên) [2001]; của

Lê Phương Thảo, Nguyễn Cúc, Doãn Hùng [2005]; của Doãn Hùng (chủ nhiệm) [2004]; của Nguyễn Ngọc Hà (chủ nhiệm) [2005]; của Trịnh Quang Cảnh [2005]; của Chu Thái Sơn [1997] Nhiều nghiên cứu đặt vấn đề hiệu

quả quản lý phát triển xã hội ở vùng dân tộc thiểu số với yêu cầu đan xen, kết

hợp giữa thiết chế quan phương và phi quan phương, giữa tri thức địa phương và tri thức khoa học, giữa luật tục và luật pháp, giữa đơn vị hành chính lãnh thổ và đơn vị dân cư (buôn/ làng) Đây là những hướng tiếp cận rất

được quan tâm trong sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ

Năm là: Nghiên cứu quan hệ tộc người, các “điểm nóng” chính trị - xã hội

ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và những vấn đề đặt ra trong đổi mới CSPTXH và QLPTXH vùng đa dân tộc

Nhóm nghiên cứu này rất phong phú, đa dạng, với cả chuyên khảo và bài viết công bố trên tạp chí, đáng chú ý là các công trình của Phan Hữu Dật [2001], của Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên) [2006], của Trương Minh Dục [2005], của

Nguyễn Văn Huy, Lê Duy Đại [1999], của Hoàng Chí Bảo (chủ nhiệm) [2006]., Nhiều chuyên khảo đặt ra những quan tâm sâu sắc vấn đề tôn giáo ở

cả 3 vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ của Hà Quốc, của Đỗ Quang

Hưng [2004]) Vấn đề di dân, đói nghèo, dân trí, thể chất con người, tàn phá

rừng đầu nguồn cũng nhận được sự quan tâm sâu sắc của giới nghiên cứu với

công trình của Đặng Nguyên Anh [2006], của Trần Văn Chử [2000], của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia [2002], của Mai Văn Mô [2004];

Trang 10

Cả 5 nhóm nghiên cứu nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình thực hiện đề tài này, bao gồm cả cung cấp một số tư liệu và cách tiếp

cận đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu chưa có hệ thống, còn thiếu những nghiên cứu liên ngành để tìm ra luận cứ và giải pháp

thích hợp nhằm phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ Do đó, việc thực hiện đề tài này là rất cần thiết, xét trên cả phương diện khoa học lẫn phương diện thực tiễn

3 Mục tiêu của đề tài

- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ

- Phân tích thực trạng, xu hướng và những vấn đề đặt ra trong chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ

- Đề xuất phương hướng, giải pháp đổi mới, hoàn thiện chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đối với các vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách quản lý và phát triển xã

hội tộc người ở cấp độ vùng, được xem xét cụ thể trong trường hợp của Tây

Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ

b Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Về mặt thời gian:

Đề tài tổng kết chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng công cuộc đổi mới hiện nay, chủ yếu tập trung tổng kết từ năm 2000

- Về không gian:

Tên đề tài đã giới hạn địa bàn nghiên cứu là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ Số liệu thống kê, điều tra chủ yếu dựa theo vùng kinh tế theo sự phân định của Tổng cục Thống kê hiện nay Tuy nhiên, trong

Trang 11

quá trình phân tích, đánh giá định tính đối với từng tình huống cụ thể đề tài

còn kết hợp với sử dụng các quan niệm vùng văn hoá, vùng sinh thái, vùng

địa lý, vùng ký ức – lịch sử… mà nhiều khi không đồng nhất với cách phân

định của Tổng cục Thống kê

- Về mặt nội dung:

Đây là một đề tài đặc thù thuộc Chương trình KX.02/06-10 tiếp cận

phương diện xã hội theo cơ cấu dân tộc, được quản lý ở cấp độ vùng Vì vậy,

chính sách quản lý và phát triển xã hội các vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ được giới hạn ở những nội dung sau:

Về mặt chủ thể quản lý: Bao gồm cả Trung ương và địa phương, cả hệ

thống quản lý nhà nước và quản lý phi nhà nước

Về đối tượng: Bao gồm cả dân tộc thiểu số và dân tộc đa số sinh sống

đan xen ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ

Về phân hệ chính sách phát triển xã hội, bao gồm: Bên cạnh những vấn

đề chung thì mỗi vùng có những chiều cạnh riêng về quản lý phát triển xã hội

mà đề tài căn cứ vào đó để tổng kết, phân tích, đánh giá Ngoài các chính sách

phát triển xã hội phổ biến được áp dụng ở tất cả các vùng như : (i) chính sách

phát triển giáo dục, (ii) chính sách sức khỏe, (iii) chính sách xóa đói giảm nghèo, (iv) chính sách lao động, việc làm thì mỗi vùng có có những đặc riêng

khi nghiên cứu chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Chẳng hạn, nổi cộm của Tây Bắc là du canh, du cư nên chính sách định canh, định cư rất quan trọng; trong khi đó ở Tây Nguyên lại không có du canh du

cư, mà chỉ có luân canh, luân khoảnh của cư dân tại chỗ và tình trạng nhập cư người từ nơi khác đến cho nên vấn đề ở đây là bố trí lại dân cư, ổn định dân cư; còn Tây Nam Bộ thì vấn đề này rất ít được đặt ra do không có du canh, du

cư hay luân canh, luân khoảnh, chủ yế là tổ chức lại dân cư do biến đổi khí hậu, tập quán cư trú Vì vậy, giới hạn của đề tài tập trung vào 4 chính sách cơ bản nêu trên, ngoài ra còn căn cứ vào đặc trưng vùng để nghiên cứu các chính sách xã hội khác

5 Cơ sở lý luận, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

a Cơ sở lý luận

Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin,

Trang 12

tư tưởng Hồ Chí Minh để tiếp cận những vấn đề mang tính bản chất luận của

quản lý và phát triển xã hội tộc người, đồng thời có vận dụng những lý thuyết

khác để xử lý các vấn đề mang tính thao tác luận trong nghiên cứu khoa học

b Cách tiếp cận

- Tiếp cận khu vực học (areas studies) là phương pháp nghiên cứu liên

ngành giữa lịch sử, dân tộc học, xã hội học, văn hoá học, nhân học thể chất

(Physical Anthropology), nhân trắc học (Anthro-metrics), nhân học xã hội, nhân học văn hoá, chính trị học, hành chính học, kinh tế học, sinh thái học nhân văn, tâm lý học tộc người, lịch sử di dân, quan hệ quốc tế, khoa học vùng (regional science), địa kinh tế học mới (New Economic Geography), qui hoạch phát triển vĩ mô…v.v

- Tiếp cận liên vùng sử dụng cả nghiên cứu quá trình tộc người trong

quá khứ và những vấn đề của đời sống đương đại, để thấy những giao thoa lẫn nhau giữa các vùng lãnh thổ mà cư dân các tộc người cư trú (thậm chí với cả các vùng giáp ranh của các nước láng giềng (Lào, Campuchia, Nam Trung Quốc)

- Tiếp cận liên cấp đòi hỏi phải xem xét ở cả 3 cấp độ vĩ mô, trung mô

và vi mô, đồng thời có sự đan xen, tác động qua lại lẫn nhau giữa các cấp

quản lý trong hoạch định các chính sách phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số

- Tiếp cận nội sinh kết hợp ngoại sinh với yêu cầu xem xét đầy đủ cả

yếu tố bên trong và các tác nhân bên ngoài, mà vấn đề cơ bản là phải chuyển hoá được các nguồn lực bên ngoài biến thành năng lực nội sinh bên trong của

cộng đồng cư dân ở vùng dân tộc thiểu số

- Tiếp cận tham gia đòi hỏi phải xem xét các DTTS không chỉ là đối tượng thụ hưởng kết quả nghiên cứu, mà còn phải được tham dự vào quá trình nghiên cứu để họ có điều kiện phản ánh nhu cầu, lợi ích của mình trong mỗi giải pháp phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

c Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây: Thống kê,

phân tích, tổng hợp, nghiên cứu định lượng, điền dã dân tộc học, phỏng vấn sâu, chuyên gia, đánh giá SWOT (dùng để phân tích Điểm mạnh (Strengths),

Trang 13

Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities), Rủi ro – Nguy cơ (Threats))

6 Kết cấu của báo cáo tổng hợp

Báo cáo tổng hợp ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, gồm ba phần sau đây:

Phần thứ nhất: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về hoạch định và

thực thi chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội các vùng dân tộc thiểu số

Phần thứ hai: Chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

các vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ - Thực trạng

và những vấn đề đặt ra

Phần thứ ba: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển xã

hội và quản lý phát triển xã hội các vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ

Trang 14

PHẦN THỨ NHẤT

Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về hoạch định và thực thi chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội vùng tộc người thiểu số

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÙNG TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ

I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ

1 Quan niệm về tộc người, tộc người thiểu số và tộc người bản địa trong quốc gia đa tộc người

Tộc người (ethnic) - theo thuật ngữ thường dùng - là một cộng đồng

người được hình thành trong lịch sử trên một lãnh thổ nhất định, cùng có

chung đặc điểm tương đối bền vững về ngôn ngữ, văn hóa tạo thành một tính

cách tộc người và đặc biệt là cùng có chung một ý thức tự giác tộc người,

được thể hiện ở tên tự gọi Một tộc người có thể bao gồm nhiều nhóm địa phương nhưng không nhất thiết phải có cùng một lãnh thổ, một cộng đồng sinh hoạt kinh tế; vì vậy, một tộc người có thể ở nhiều quốc gia khác nhau

Nhóm địa phương (local group) là một bộ phận của một tộc người nhất định,

cố kết với nhau thành một nhóm riêng, có một tên gọi riêng

Tộc người ra đời trước khi nhà nước - dân tộc hình thành, ban đầu có lãnh thổ tộc người, quản trị xã hội bằng tập tục và tín ngưỡng, bằng quyền lực công cộng Khi giai cấp ra đời, thủ lĩnh tộc người – liên tộc người trở thành lực lượng cai trị, lãnh thổ tộc người hoặc liên - lãnh thổ tộc người trở thành quốc gia, tập tục và tín ngưỡng trở thành luật pháp, quyền lực xã hội trở thành quyền lực nhà nước Từ đây quan hệ tộc người đan xen với quan hệ giai cấp, quyền lực xã hội tộc người bị chế ước bởi quyền lực chính trị, mà thường do giai cấp thống trị của tộc người chủ thể chi phối Có nhiều hình thái tộc người trong các nhà nước - dân tộc, phổ biến vẫn là hình thái nhà nước - dân tộc đa tộc người Cũng có những nhà nước - dân tộc đơn tộc người như Triều Tiên nhưng đó chỉ là những trường hợp hiếm hoi

Trang 15

Dân tộc (nation) có quan hệ mật thiết với tộc người (ethnic) nhưng

không đồng nhất Dân tộc (hay dân tộc - quốc gia) là một cộng đồng chính

trị-xã hội, được thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, được quản lý bởi một nhà nước, có chung một vận mệnh lịch sử, dùng chung một tiếng nói/ngôn ngữ hành chính (trừ trường hợp cá biệt), có chung một sinh hoạt kinh tế hay một thị trường và có chung một tính cách dân tộc thể hiện trong lối sống và những biểu tượng văn hóa, tạo nên đặc tính dân tộc

“Dân tộc thiểu số” được dùng trong trường hợp của đề tài này chính là

“tộc người thiểu số” (ethnic minorities) Việc gọi là “dân tộc” hay “tộc người”

chỉ theo thói quen hoặc ngữ cảnh Gọi tộc người thiểu số là để phân biệt với tộc người đa số mà tiêu chí phổ dụng là xem xét tỷ lệ dân số tộc người trong

tỷ lệ dân số quốc gia Một tộc người chỉ được xem là thiểu số khi đặt dân số tộc người đó với tổng dân số cả nước mà không xem xét ở phạm vi vùng hay địa phương Bởi vì, một tộc người thiểu số nào đó (của cả nước) nhưng đặt trong phạm vi một địa phương nhất định có khi lại chiếm đa số, như trường hợp người Thái ở Sơn La hay người Nùng ở Lạng Sơn Thuật ngữ “thiểu số” hay “ít người” cũng đều hàm nghĩa giống nhau, một bên nghĩa Hán - Việt,

còn bên kia là thuần Việt Tuy nhiên, khi nói “ít người” dễ hiểu lầm với các

tộc người thiểu số có dân số ít (thường dưới 10.000 người), nên thuật ngữ

“thiểu số” ít được sử dụng Còn nếu gọi “dân tộc thiểu số” ở nước ta thì được ngầm định là “tộc người thiểu số”, tức 53 tộc người còn lại ngoài người Kinh

“Sắc tộc thiểu số” trong nhiều trường hợp hay sử dụng thay thế cho thuật

ngữ “tộc người thiểu số” “Sắc tộc” chỉ đặc trưng màu da của nhóm cư dân - một dấu hiệu phân biệt chủng tộc này với chủng tộc khác Chủng tộc khác với tộc người ở chỗ, một bên là một quần thể (hay tập hợp quần thể) có dấu hiệu

đặc trưng bởi di truyền về hình thái - sinh lý mà nguồn gốc và quá trình hình

thành của chúng liên quan đến một vùng địa vực nhất định1, còn tộc người là một cộng đồng cư dân có chung nguồn gốc lịch sử, đặc trưng văn hoá, ngôn ngữ và ý thức tự giác tộc người Khái niệm sắc tộc ít được sử dụng vì nó thường gợi lên sự phân biệt chủng tộc

Khái niệm “tộc người bản địa” cũng cần phải được làm rõ, vì trong rất

1 Lê Sĩ Giáo (chủ biên), Hoàng Lương, Lâm Bá Nam, Lê Ngọc Thắng: Dân tộc học đại cương,

Nxb Giáo dục, H, 2005, tr 48

Trang 16

nhiều trường hợp thường bị hiểu lầm và sử dụng cho các mục đích chính trị,

có ảnh hưởng rất lớn đến quản lý và phát triển xã hội các vùng tộc người thiểu

số Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ “Tộc người bản địa” (indigennous ethnic) và “tộc người thiểu số” (minorities ethnic) là những khái niệm khác

nhau được sử dụng chính thức trong các văn kiện của Liên Hợp quốc Về mặt lịch sử, khái niệm “tộc người bản địa” có nguồn gốc gắn liền với sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân và di dân từ các nước phương Tây đến các nước thuộc địa, thậm chí có những nơi còn các tộc người ở giai đoạn tiền nhà nước, mà

sự di dân từ châu Âu sang châu Mỹ và châu Úc là một điển hình Tại các xã

hội này hình thành hai nhóm tộc người với vị thế chính trị, địa vị kinh tế,

nguồn gốc lịch sử, … khác nhau, giữa bên là nhóm cư dân phi bản địa đóng

vai trò thống trị, còn nhóm cư dân bản địa ở địa vị bị trị, thậm chí còn bị xua đuổi, tàn sát, diệt chủng, phải lùi dần vào trong rừng sâu Ở các quốc gia này, dân cư ngoại quốc (nhập cư) dần chiếm đa số, còn dân cư bản địa dần chỉ còn thiểu số Tại đây có sự đan xen giữa ách thống trị giai cấp với ách thống trị

tộc người Điều này diễn ra phổ biến ở các “thuộc địa di dân” như châu Mỹ

và châu Úc Còn đối với các quốc gia châu Á, vốn trước khi bị chủ nghĩa thực dân đế quốc thôn tính, đã hình thành nhà nước - dân tộc và nền văn minh lâu đời, các tộc người thiểu số cố kết với tộc người đa số trong xây dựng và bảo

vệ quốc gia - dân tộc Đây không phải là thuộc địa di dân Người ngoại quốc đến từ các nước chính quốc chỉ chiếm thiểu số trong kết cấu dân cư, mà người Pháp ở Việt Nam trước năm 1945 là một ví dụ Theo cách hiểu đó, ở Việt Nam hiện nay không có “tộc người bản địa” mà chỉ có các “tộc người thiểu số” Các tộc người thiểu số trên đất nước Việt Nam trong lịch sử đã từng gắn

bó, đoàn kết với người Kinh - tộc người chiếm đa số - để cấu trúc lại lãnh thổ,

tổ chức phát triển xã hội, không ngừng bảo tồn và phát triển quốc gia dân tộc

Xét trường hợp Việt Nam, khái niệm “người bản địa” (hay người bản xứ) mới

ra đời khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, chỉ toàn thể 54 tộc người sinh sống lâu đời trên đất nước Việt Nam, được phân biệt với người Pháp xâm lược và thống trị là người phi bản địa (hay kẻ thực dân) Còn khái niệm “tộc

người thiểu số” đã có từ lâu đời trong lịch sử, tiếp tục tồn tại sau quá trình phi

thực dân hoá Do đó, việc sử dụng khái niệm “tộc người bản địa” thay thế cho

các “tộc người thiểu số” ở Việt Nam không phản ánh đúng bản chất quan hệ

Trang 17

tộc người Kể cả sử dụng khái niệm này để chỉ các nhóm tộc người thiểu số sinh sống lâu đời ở một địa phương nào đó nhằm phân biệt với người Kinh mới nhập cư cũng không thích hợp, vì đây chỉ là việc xuất cư và nhập cư diễn

ra bình thường của dân cư, lao động gắn với quá trình phân bố lại nhân khẩu

và lao động trong một quốc gia dân tộc thống nhất, có chủ quyền, được luật pháp quốc tế công nhận Điều này cũng lý giải tại sao các quốc gia như Mỹ,

Úc, Canađa lại không ký vào “Tuyên ngôn về quyền của người bản địa” của

Liên Hợp quốc thông qua vào ngày 13-9-2007 Trên thực tế, từ sau quá trình phi thực dân hoá, vấn đề “tộc người bản địa” chỉ có ở các quốc gia này - vốn trước đó là thuộc địa di dân, rồi sau đó hình thành luôn quốc gia dân tộc với người ngoại quốc đóng vai trò chủ thể Còn các quốc gia còn lại chỉ có vấn đề

“tộc người thiểu số” được lý giải trên ba chiều cạnh: (i) vấn đề quan hệ giữa các nhóm tộc người thiểu số trong một quốc gia - dân tộc vốn tồn tại từ lâu trong lịch sử; (ii) vấn đề các nhóm tộc người thiểu số mới nhập cư từ các nước khác, kể cả nhập cư bất hợp pháp, diễn ra gắn với dịch chuyển lao động

và nhân khẩu, đặc biệt là dòng nhập cư từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển; (iii) vấn đề quan hệ giữa các nhóm địa phương trong một tộc người

Vấn đề quyền của “tộc người bản địa” được hâm nóng lên ở nhiều quốc

gia kể từ khi Liên Hợp quốc thông qua “Tuyên ngôn quyền của người bản

địa” ngày 13 tháng 9 năm 2007, trong đó có vấn đề “quyền dân tộc tự quyết”

và chúng được các thế lực dân tộc cực đoan ở Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ lợi dụng để thực hiện chủ nghĩa ly khai Ở đây, các lực lượng thù địch đã đánh đồng khái niệm “tộc người bản địa” với “tộc người thiểu số”,

“quyền dân tộc tự quyết” với “quyền của người bản địa” Theo các văn kiện của Liên hợp quốc thì “Quyền dân tộc tự quyết” (The Right of self determination) và quyền của người bản địa (The Rights of Indigenous Peoples) là hai khái niệm có quan hệ với nhau, song khác xa nhau về nội hàm, nhất là về ý nghĩa chính trị Quyền dân tộc tự quyết là quyền của quốc gia - dân tộc, với tư cách là chủ thể của luật quốc tế Còn quyền của người bản địa

là quyền của các tộc người thiểu số (Ethnic Minority Grops), hoặc nhóm sắc tộc (Race Grops), thường là những quyền về văn hóa- xã hội của một bộ phận dân cư trong lòng một quốc gia-dân tộc độc lập, thống nhất nào đó

Trang 18

“Tuyên ngôn quyền của người bản địa” ra đời là một ý tưởng nhân văn

tiến bộ, được đánh giá cao, nhất là ở châu Mỹ, châu Úc, châu Phi Bảo vệ quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thương là giá trị nhân văn chung của nhân loại, một nguyên tắc của Luật Nhân quyền và Luật Nhân đạo quốc tế Tuy vậy, bản Tuyên ngôn nói trên cũng không đưa ra định nghĩa thế nào là người bản địa, cho nên, mỗi quốc gia, mỗi nhóm cư dân diễn giải “người bản địa” theo một cách rất khác nhau để có thể tự nhận hoặc tự phủ định nếu nó phù hợp với động cơ của mình Trong phạm vi quyền tài phán, một nhà nước, một chính phủ hoàn toàn có quyền thừa nhận hoặc phủ nhận một nhóm, một bộ phận dân

cư, một tộc người nào đó là “người bản địa”, nếu điều đó phù hợp với lợi ích của quốc gia- dân tộc của mình Nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ tuyên bố rằng

ở đất nước họ không có “người bản địa” hay những vấn đề liên quan đến người bản địa mà chỉ có người thiểu số về chủng tộc, ngôn ngữ, văn hoá, tôn giáo… Mặt khác, các nhóm tộc người cực đoan cũng diễn giải khái niệm “tộc người bản địa” và “quyền của tộc người bản địa”, trong đó đặc biệt là “quyền tự quyết dân tộc”, gây nên những tác động to lớn và sâu rộng đến quản lý phát triển xã

hội các quốc gia đa tộc người cũng như làm phức tạp thêm bản đồ địa - tộc

người ở các khu vực và trên thế giới Các vùng tộc người thiểu số Tây Bắc, Tây

Nguyên và Tây Nam Bộ của Việt Nam cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó mà quá trình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội cần tính toán đầy đủ

2 Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng minh triết Hồ Chí Minh về tộc người và quản lý phát triển xã hội tộc người thiểu số

a Chủ nghĩa Mác - Lênin về quản lý và phát triển xã hội tộc người thiểu

chỉ mới đề cập một cách giản lược trong các bản thảo sau đó được xuất bản

với tiêu đề “Những hình thái kinh tế tiền tư bản chủ nghĩa” (Pre - Capitalist

Economic Formations) nhưng rất có ý nghĩa đối với khoa nghiên cứu nhân học Ngoài ra, vấn đề các xã hội tiền nhà nước còn được trình bày rải rác

trong “Hệ tư tưởng Đức”, mà ở đó các ông đã chỉ ra con đường chuyển từ tổ

Trang 19

chức bộ lạc lên nhà nước, từ tính địa phương lên dân tộc Với K Marx và F

Enghen, những nghiên cứu này nhằm tìm ra quy luật phát triển của lịch sử để xây dựng nên chủ nghĩa duy vật về lịch sử, rồi từ đó thiết kế nên một xã hội tương lai hợp quy luật Nhưng điều đó lại giúp giới nghiên cứu hình dung thêm về các xã hội tiền nhà nước được tổ chức dựa trên các lãnh địa, tập tục

và cộng đồng dân cư Nhiều nghiên cứu về xã hội ngoài phương Tây rất có ý nghĩa khi quy chiếu với các không gian tộc người thiểu số trên thế giới, đặc biệt với trường hợp vùng Tây Nguyên nước ta

Trong những nghiên cứu này, K Marx đã chỉ ra rằng trong các xã hội tiền nhà nước thì quan hệ thân tộc trong gia đình là cơ sở của tất cả mọi quan

hệ xã hội Không có khái niệm sở hữu đất đai và mỗi nhóm tạm thời khai thác một vùng đất trước khi chuyển sang vùng đất khác K Marx cho rằng, việc phân tích quá trình xã hội phải có chiều kích lịch sử và cần phải trở về “hình thái phát triển tự phát mà chúng ta bắt gặp ở ngưỡng cửa lịch sử của tất cả những chủng tộc văn minh” Quy chiếu lý thuyết này trong trường hợp Tây Nguyên cho thấy nhiều lý thú, nhất là cắt nghĩa vai trò của sở hữu cộng đồng buôn/làng, tình trạng hưu canh và luân khoảnh trong canh tác đất rừng mà có lúc bị ngộ nhận là “du canh, du cư”

Lý luận của K Marx về ba con đường ra khỏi xã hội công xã nguyên

thuỷ rất có ý nghĩa rất khi xem xét quá trình chuyển sang xã hội văn minh

theo lối đa tuyến của nhân loại, nhất là với những tộc người đang trong quá trình chớm xuất hiện tư hữu và phân tầng xã hội như các nhóm cư dân Malayo - polinesien ở Tây Nguyên K Marx hình dung rằng trong các xã hội tiền nhà nước, phân công lao động chỉ giản đơn tuỳ thuộc vào tuổi và giới tính của từng thành viên trong cộng đồng Mỗi cá nhân là một công cụ nỗ lực sản xuất của nhóm Một phần sản phẩm do hộ làm ra được dành cho việc sản xuất trong tương lai và một phần được tiêu dùng ngay để nuôi sống gia đình Khi năng suất lao động tăng lên, nhờ cải tiến công cụ sản xuất, của cải dư thừa xuất hiện, đã phá vỡ tính chất công hữu trước đó Điều này đã dẫn tới các cộng đồng dân cư trước đó bình đẳng về phương diện xã hội, bình quân về phương diện phân phối kết quả sản xuất và các cơ hội khác, đã bị phân hoá thành thủ lĩnh và thường dân Tuỳ theo những điều kiện ngẫu nhiên của địa lý

và nhân khẩu mà hệ thống xã hội có thể biến đổi theo con đường này hay con

Trang 20

đường kia để ra khỏi chế độ nguyên thuỷ1

Ba mô hình mà các tộc người thoát khỏi xã hội nguyên thuỷ để đến với

xã hội có nhà nước là: phương thức sản xuất châu Á, Hy - La và Giéc-manh

Phương thức sản xuất châu Á mà K Mark để cập tiêu biểu là ở Ấn Độ thời kỳ tiền thuộc địa, được xem là phương thức ổn định nhất Ở đó cá nhân không bao giờ tách khỏi cộng đồng của mình Công xã vẫn là một đơn vị tự cấp tự túc về nông nghiệp và sản xuất thủ công, có tất cả những phương tiện để tự sinh tồn và sản xuất một số lượng sản phẩm thặng dư Nếu dân số gia tăng, một phần cư dân cộng đồng sẽ tách ra và thành lập một làng mới với cùng cấu trúc như làng cũ Mức cầu đối với lao động của từng thợ thủ công và chuyên gia thì cố định Những ông vua nuôi dưỡng hệ thống quản lý của mình bằng cách thu sản phẩm thặng dư dưới hình thức cống nạp có thể sáp nhập những cộng đồng này vào hệ thống quản lý rộng lớn hơn; nhưng thành phố thì không phải như vậy và có khuynh hướng chỉ phát triển ở những nơi có giao thương với những hệ thống quản lý khác bên ngoài Sự ổn định của tổ chức cộng đồng theo phương thức sản xuất châu Á giúp phương thức này trường tồn, dù cho các triều đại có thay đổi2 Tuy nhiên, K Marx chưa có điều kiện khảo cứu

các cộng đồng tộc người nằm ngoài rìa các trung tâm quyền lực mà theo cách gọi của nhiều nhà nghiên cứu phương Tây sau này đó là khu vực chủ quyền đa

phương 3 Tại đây, trước khi có sự thôn tính của chủ nghĩa thực dân phương Tây vẫn còn duy trì các hình thức công xã nông thôn, các thủ lĩnh tộc người quản trị xã hội bằng luật tục, bằng tri thức bản địa và tôn giáo phi thể chế (tín ngưỡng), tư hữu chưa hoặc chớm xuất hiện, sở hữu cộng đồng của bản/làng còn chiếm địa vị thống trị trong xã hội Dưới tác động của các trung tâm quyền lực, nhất là chủ nghĩa thực dân, hệ thống quản lý xã hội và các tập tục, tín ngưỡng cũng như lãnh địa tộc người dần biến thể Tây Nguyên ở trong trường hợp như vậy

Lý luận của K Marx về động lực của sự bất định xã hội trong khả năng

của con người, bằng chính lao động của con người, về vai trò quan trọng của

Trang 21

hệ thống xã hội kiểm soát sự tiếp cận của con người đối với nguồn tài nguyên,

về tiến hoá xã hội là hệ quả của một động lực nội sinh của xã hội hơn là sự thích ứng với môi trường,… có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ xem xét các

xã hội có giai cấp và nhà nước mà cả những xã hội tiền nhà nước hoặc tộc

người thiểu số trong quốc gia đa tộc người

V.I Lênin trong quá trình lãnh đạo Cách mạng Tháng Mười, tổ chức lại các dân tộc vốn là thuộc địa của đế quốc Nga, đã nêu lên nhiều luận điểm có giá trị về mặt khoa học lẫn thực tiễn Liên bang Xô viết ra đời trên cơ sở xử lý

những di tồn lịch sử về quan hệ dân tộc đan gài với quan hệ tộc người giữa

nước Nga và các nước thuộc đế quốc Nga trước đây Trong rất nhiều tác

phẩm quan trọng như “Ý kiến phê phán về vấn đề dân tộc”, “Quyền dân tộc tự

quyết”, “Chủ nghĩa xã hội và quyền dân tộc tự quyết”, “Sơ thảo đề cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa”, “Những kết quả thảo luận về quyền tự quyết”, … Lênin đã nêu nhiều luận điểm quan trọng cho giải quyết vấn đề dân

tộc đan gài với vấn đề tộc người Ba luận điểm sau đây của Lênin có đóng góp lớn cho lý luận về dân tộc - tộc người và quan hệ dân tộc - tộc người

Luận điểm về các xu hướng của vấn đề dân tộc: (i) sự thức tỉnh của ý

thức dân tộc và của các phong trào dân tộc trong cuộc đấu tranh chống áp bức dân tộc và thành lập các quốc gia dân tộc; (ii) phát triển và tăng cường quan

hệ giữa các dân tộc trong việc xoá bỏ những hàng rào ngăn cách các dân tộc

và trong việc thiết lập sự thống nhất quốc tế của tư sản, của đời sống kinh tế nói chung, của chính trị, của khoa học1

Luận điểm về bình đẳng dân tộc Đây là một luận điểm cực kỳ quan

trọng và đóng góp lớn của Lênin vào chủ thuyết phát triển dân tộc, trở thành

nguyên tắc của Liên bang Xô-viết và nhiều nước xã hội chủ nghĩa trong giải quyết vấn đề dân tộc Bình đẳng giữa các dân tộc theo quan niệm của Lênin phải được thể hiện trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá Lênin cho rằng: Người nào không thừa nhận và không bảo vệ quyền bình đẳng giữa các dân tộc và bình đẳng giữa các ngôn ngữ, không đấu tranh chống áp bức hay mọi bất bình đẳng dân tộc, người đó không phải là người mác-xít, thậm chí cũng không phải là người dân chủ nữa2 Phải hoàn toàn xoá bỏ mọi đặc quyền

1 V.I Lênin: Ý kiến phê phán và vấn đề dân tộc, Nxb Sự thật, H, 1963, tr.8

2 V.I Lênin: Ý kiến phê phán về vấn đề dân tộc, Sđd, tr.10-15

Trang 22

của bất cứ dân tộc nào cũng như của bất cứ ngôn ngữ nào và không dung thứ bất kỳ một đặc quyền dân tộc nào, bất kỳ một sự bất bình đẳng nào về mặt dân tộc1 Trong các quyền bình đẳng dân tộc, Lênin rất chú ý đến bình đẳng

về mặt văn hoá, trước nhất là quyền sử dụng tiếng mẹ đẻ trong trường học, văn học, nhà hát,… đồng thời các dân tộc thiểu số cũng phải học tiếng của dân tộc đa số

Luận điểm về quyền tự quyết dân tộc Luận điểm này trở thành nguyên

tắc quan trọng thứ hai trong cương lĩnh của Lênin về vấn đề dân tộc Tự quyết dân tộc có nghĩa là các dân tộc thuộc đế quốc Nga có quyền tách ra thành lập quốc gia độc lập Tuy vậy, trong khi nêu lên luận điểm về tôn trọng quyền tự quyết dân tộc thì Lênin cũng lưu ý cần hiểu đúng đắn nguyên tắc quyền tự quyết dân tộc Tự quyết dân tộc không có nghĩa là nhất thiết mọi dân tộc phải tách khỏi nước lớn trong mọi điều kiện Ông lưu ý rằng, chúng ta đòi quyền

tự do tự quyết không phải là chúng ta mơ ước sự phân nhỏ kinh tế hay mơ ước xây dựng các nước nhỏ bé, mà ngược lại vì chúng muốn những quốc gia

to lớn và sự xích lại của liên bang các dân tộc nhưng trên cơ sở thực sự dân chủ, thực sự quốc tế, và trở nên vô nghĩa nếu không có sự tự do tách ra Từ

nguyên tắc này có nảy sinh vấn đề xây dựng các khu vực tự trị - một hình

thức để giải quyết vấn đề dân tộc trong một quốc gia đa tộc người Khu vực tự trị được xây dựng trên một vùng lãnh thổ nhất định với thành phần đặc biệt của dân cư, do sự khác biệt về những điều kiện kinh tế, đời sống, ngôn ngữ,

đặc trưng về văn hoá Ông cho rằng: “Hoàn toàn hiểu là người ta không thể

quan niệm một quốc gia hiện đại thật sự dân chủ mà lại không có quyền tự trị như thế cho mọi vùng có những đặc điểm dù là không lớn lắm về kinh tế hoặc

về lối sinh sống, và có một thành phần dân tộc đặc biệt”2 Luận đề này rất có

ý nghĩa đối với việc tổ chức lãnh thổ ở những quốc gia mà có tộc thiểu số cư trú một cách riêng biệt, mật tập cao kiểu như Liên bang Xô viết hay Trung Quốc

Ngoài ra còn có thể kể đến những luận điểm khác nữa như đoàn kết dân

tộc hay vấn đề dân tộc - tộc người chỉ được giải quyết triệt để khi không còn

1 V.I Lênin: Sơ thảo đề cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa Tuyển tập, quyển II, Nxb Sự

thật,, H, 1959, tr.4, 27

Trang 23

ách áp bức giai cấp… Các luận đề nêu trên ra đời trong bối cảnh nước Nga

phải giải quyết các di tồn lịch sử về ách áp bức dân tộc của đế quốc Nga, chủ yếu là vấn đề giữa dân tộc chính quốc và dân tộc thuộc địa Vì vậy, nó có ý nghĩa chủ yếu về phương diện quan hệ dân tộc - quốc gia, dù trong đó có đan gài quan hệ tộc người Xu hướng thức tỉnh tộc người hay tự quyết dân tộc của Lênin là hàm nghĩa dân tộc - quốc gia trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc

Điều này đã làm cho luận đề của Lênin có sức hấp dẫn đối với Hồ Chí Minh trên hành trình tìm đường cứu nước, giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam

Tuy vậy, Lênin chưa có điều kiện nghiên cứu sâu những đặc thù về quan hệ tộc người trong một quốc gia đa tộc người, nhất là quan hệ đa tộc người cư trú xen kẽ và phân tán như Việt Nam Nếu nhầm lẫn những luận điểm như vậy về giải quyết quan hệ dân tộc với quan hệ tộc người trong quốc gia đa tộc người

có lịch sử và hình thái cư trú đặc trưng như Việt Nam sẽ dẫn tới những hệ luỵ khó đoán định, nhất là vấn đề tự quyết và tự trị dân tộc

b Tư tưởng minh triết tộc người của Hồ Chí Minh

Có hai cách tư duy khác nhau giữa phương Tây và phương Đông trong

nhận thức về tự nhiên, về xã hội và về bản thân con người Lối duy lý hoá

kiểu phương Tây đã tạo điều kiện cho sự phát triển vượt bậc của khoa học và công nghệ, đặc biệt từ thế kỷ Ánh sáng đến nay Tuy nhiên, cách tư duy đó

cũng có hạn chế là thường đối lập các mặt trong sinh giới và ngoại giới để

khu trú hóa đối tượng cần nhận thức mà các thực thể trong tự nhiên, xã hội và

tư duy con người lại không bao giờ đối lập và cắt rời cơ học như trong khái

niệm Chúng luôn tồn tại trong một hợp thể như trong thái dương có thiếu âm

và trong thái âm có thiếu dương vậy Lối tư duy phương Tây thường đối lập các tộc người “văn minh” với tộc người “dã man”, giữa dân tộc “trung tâm” với dân tộc “ngoại vi”, từ đó dễ dẫn tới áp đặt cách nghĩ của họ cho các tộc

người ngoài phương Tây Vì vậy, cần phải “giải duy lý hoá” cách tư duy

phương Tây thì mới có khả năng tiếp cận các xã hội tộc người thiểu số một cách sát hợp

Tiếp cận từ minh triết tộc người cho phép “giải duy lý hoá” lối tư duy

phương Tây nêu trên, mà minh triết tộc người của Hồ Chí Minh là một ví dụ tiêu biểu Minh triết hình thành không chỉ bằng lối duy lý, mà cơ bản bằng

nghiệm sinh của bản thân mỗi con người cũng như cộng đồng tộc người Nếu

Trang 24

triết gia thường thể hiện tư tưởng của mình bằng những trước tác đồ sộ, bằng tranh luận kiểu thắng - thua thì các nhà minh triết trong nhiều trường hợp không hẳn như vậy mà lại thể hiện trong “vô vi” hoặc bằng hành động Nếu

triết gia muốn nhận thức thế giới thì nhà minh triết cần ngộ, cảm, nếu như

triết gia thường thể hiện sự ganh đua giữa các trường phái thì nhà minh triết

quan trọng hơn là sự thoả đáng, sự hẳn hoi Biết và ngộ là hai cấp độ khác

nhau Biết không dễ, nhưng ngộ khó hơn rất nhiều Biết rất nhiều nhưng chưa

hẳn đã ngộ được một điều giản đơn Muốn giải quyết thỏa đáng vấn đề tộc

người thì cần phải tiếp cận từ góc độ minh triết Tiếp cận các tộc người thiểu

số bằng lối duy lý kiểu phương Tây nhiều khi không chỉ khó nhận thức đời sống mà còn dễ định hình nên các chính sách quản lý và phát triển xa lạ với

tâm thức tộc người Tiếp cận từ góc độ minh triết tộc người sẽ cho phép thấu

hiểu và thấu cảm được đời sống xã hội tộc người Minh triết Hồ Chí Minh

thuộc dạng thức như vậy, được thể hiện ở cả hình thức hữu ngôn và vô ngôn,

trở thành một di sản tư tưởng quý giá cần được nhận diện và vận dụng thấu đáo

Hồ Chí Minh, trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng, kế thừa minh triết phương Đông, triết học phương Tây, đặc biệt là minh triết của dân tộc,…

đã có quan niệm đúng đắn về vấn đề tộc người và giải quyết quan hệ tộc người ở Việt Nam Minh triết tộc người của Hồ Chí Minh không chỉ phản ánh trong các trước tác, câu nói, mà còn cả trong cách ứng xử với các tộc người thiểu số Nhờ đó, Hồ Chí Minh đã xây dựng được chính sách dân tộc đúng đắn, tập hợp, đoàn kết các tộc người thiểu số thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam Có thể nhận thấy những luận điểm sau đây trong giá trị minh triết tộc người của Hồ Chí Minh:

- Các tộc người thiểu số là một bộ phận của cộng đồng quốc gia - dân

tộc Việt Nam thống nhất, đã từng gắn bó keo sơn trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai

hay Ê Đê, Xê Đăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”1 Tính thống nhất giữa các tộc người do đặc điểm lịch sử quy định, mà cốt lõi là các tộc người thiểu số quy tụ xung quanh

Trang 25

dân tộc Kinh đóng vai trò chủ thể trong quá trình chinh phục tự nhiên và đấu tranh với địch hoạ để xây dựng, bảo vệ đất nước, được tổ chức dẫn dắt bởi một nhà nước trung ương tập quyền mà ở đó các tộc người thiểu số tham gia vào cấu trúc quyền lực bằng nhiều hình thức “cứng” và “mềm” khác nhau Đoàn kết dân tộc trở thành một nội dung trọng yếu trong tư tưởng minh triết tộc người của Hồ Chí Minh, trong đó có sự đoàn kết giữa các tộc người thiểu

số với tộc người đa số, giữa tộc người thiểu số này với tộc người thiểu số

khác, khắc phục các định kiến tộc người và vị chủng tộc người, phòng và chống các biểu hiện chia rẽ tộc người Ngay từ năm 1946, trong Thư gửi Đại

hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plâycu, Hồ Chí Minh đã viết: “Ngày

nay nước Việt Nam là nước chung của chúng ta… Giang sơn, chính phủ là giang sơn, chính phủ chung của chúng ta Vậy nên tất cả các dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta

Chúng ta phải yêu thương nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau

để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta

Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết chúng ta không bao giờ giảm bớt”1

- Đa tộc người là một đặc điểm tốt, một vốn quý đối với nước ta2 - mà

nguồn gốc của nó chính là sự đa dạng của sinh giới Bên cạnh nét tương

đồng, mỗi tộc người còn có sắc thái riêng, được Hồ Chí Minh xem là một trong những tiềm năng to lớn của đất nước và của mỗi tộc người cần được khai thác phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bằng lối nhìn minh

triết, Hồ Chí Minh luôn phát hiện được hệ giá trị của các tộc người thiểu số

như “rất trung thành, chịu khó”, “rất thật thà và rất tốt” mà những người cách mạng cần nhận diện và phát huy đầy đủ Các phẩm chất đó của đồng bào

“nhập với hình thế hiểm trở của núi sông, trở thành sức mạnh vô địch” cho cách mạng nước ta Điều này cũng quy định chính sách tộc người đặc thù mà Đảng và Nhà nước không bao giờ được xem nhẹ - vấn đề mà Hồ Chí Minh hết sức lưu ý và nỗ lực thực hiện

- Đoàn kết và bình đẳng tộc người là một tư tưởng minh triết quan trọng

của Hồ Chí Minh, được nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần, đặc biệt trong bài phát

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H, 1995, tr 217

2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, H, 1995, tr.137

Trang 26

biểu tại Hội nghị toàn Đảng bộ khu Việt Bắc1 hoặc trong bài nói chuyện với

đồng bào các dân tộc tỉnh Tuyên Quang: “Về vấn đề dân tộc: Dưới chế độ

thực dân và phong kiến đồng bào rẻo cao sống rất cực khổ Ngày nay, đồng bào rẻo cao được tự do, bình đẳng, không bị áp bức bóc lột như trước kia Nhưng đời sống vật chất và văn hoá chưa được nâng cao mấy Đó là vì cán

bộ lãnh đạo chú ý không đầy đủ đến đồng bào rẻo cao Bác thay mặt Trung ương và Chính phủ giao cho cán bộ từ tỉnh đến xã phải ra sức giúp đỡ hơn nữa đồng bào rẻo cao về mọi mặt Đồng bào tất cả các dân tộc phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau như anh em một nhà”2 Đoàn kết xuất phát từ nhu cầu tạo nên sức mạnh để kháng chiến chống thực dân, phong kiến, làm thất bại âm mưu chia rẽ của kẻ thù dân tộc Bình đẳng trong quan niệm

của Hồ Chí Minh là một quyền tự nhiên mà tạo hoá đã ban cho con người,

được viện dẫn ngay trong Tuyên ngôn độc lập Thực hiện bình đẳng đòi hỏi phải xoá bỏ các bất bình đẳng tộc người được tạo nên từ hệ thống thể chế, gồm cả giải quyết mối quan hệ giữa tộc người đa số với tộc người thiểu số và giữa tộc người thiểu số dân số lớn với tộc người thiểu số dân số ít Điều này được Hồ Chí Minh nói rõ trong bài phát biểu trước đồng bào, cán bộ, bộ đội

tại huyện Yên Châu (Sơn La) ngày 8-5-1959: “Hồi còn Tây, còn vua quan,

đồng bào Kinh ăn hiếp đồng bào Thái, đồng bào Thái ăn hiếp đồng bào Puộc, đồng bào Xá, có phải thế không? Hồi trước như thế là vì sao? Vì Tây và vua quan muốn chia rẽ đồng bào, muốn làm cho đồng bào yếu đi Bây giờ chúng

ta, tất cả các dân tộc Kinh, Thái, Mường, Mèo, Mán, Xá, Puộc v.v… đều là anh em ruột thịt một nhà, chứ không phải Kinh ăn hiếp Thái, Thái ăn hiếp Xá, Puộc như trước nữa”3 Để làm được điều đó Hồ Chí Minh yêu cầu phải khắc

phục tư tưởng vị chủng và định kiến tộc người, được biểu hiện ở cả tư tưởng

dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi và dân tộc tự ti Tại Hội nghị tuyên giáo miền núi

ngày 31-8-1963, Người nhấn mạnh: “Phải khắc phục tư tưởng dân tộc lớn,

dân tộc hẹp hòi, tự ty dân tộc Người dân tộc lớn dễ mắc bệnh kiêu ngạo Cán

bộ địa phương, nhân dân địa phương lại dễ cho mình bé nhỏ, tự ti, cái gì cũng cho là mình không làm được, rồi không cố gắng Đó là những điều phải

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, H, 1995, tr.456-457

2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, H, 1995, tr 317

Trang 27

tránh”1

- Tương trợ tộc người là một tư tưởng minh triết đầy tính nhân văn, phù

hợp thực tế, không chỉ vì bản thân các tộc người thiểu số mà vì quyền lợi cả quốc gia - dân tộc Tương trợ tộc người xuất phát từ trình độ phát triển và mức sống chênh lệch giữa các tộc người thiểu số với tộc người đa số, giữa miền núi với đồng bằng, giữa nông thôn với thành thị Tương trợ tộc người

trong tư tưởng minh triết Hồ Chí Minh là quan hệ tương hỗ, không chỉ tộc

người đa số giúp đỡ tộc người thiểu số, mà cả tộc người thiểu số cũng phải

giúp đỡ tộc người đa số Tinh thần đó được Người phát biểu: “Hiện nay có

hàng chục vạn đồng bào miền xuôi lên tham gia phát triển kinh tế miền núi Đồng bào miền núi phải đoàn kết giúp đỡ đồng bào miền xuôi Và đồng bào miền xuôi phải đoàn kết giúp đỡ đồng bào miền núi Đó là hai phía, đó là chính sách dân tộc của Đảng Bác có nghe báo cáo thế này: Đồng bào miền xuôi lên, được đồng bào miền núi giúp đỡ, có nhiều cố gắng sản xuất tốt, ăn ở tốt với đồng bào địa phương Nhưng có một số rất ít đồng bào miền xuôi còn

có những hành động không đúng, cho nên ảnh hưởng đến tình đoàn kết anh

em Cái đó không phổ biến lắm đâu, nhưng cũng có Như thế không tốt Phải đoàn kết dân tộc, phải đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt”2 Tương trợ tộc người trong tư tưởng minh triết Hồ Chí Minh rất toàn diện bao

gồm từ tương trợ trí lực, vật lực đến tài lực, trong đó tương trợ trí lực chiếm

một vị trí đặc biệt quan trọng nhằm góp phần rút ngắn khoảng cách về trình

độ phát triển giữa các tộc người Vì vậy, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở, phát động các phong trào vận động trí thức, giáo viên từ miền xuôi tình nguyện lên mở mang dân trí miền núi, vùng tộc người thiểu số

- Thường xuyên chăm lo phát triển xã hội tộc người nhằm khắc phục tình

trạng kém phát triển, đảm bảo đồng bào được hưởng thụ ngày càng đầy đủ hơn các quyền lợi về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Về chính trị, phải tạo

các điều kiện cho bình đẳng tham chính, ở đào tạo bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ các tộc người thiểu số, dù ban đầu cán bộ các tộc người thiểu số yếu hơn cán bộ người Kinh nhưng qua thực tế sẽ dần trưởng thành Không ngừng củng cố hệ thống chính trị ở vùng tộc người thiểu số làm công cụ quản lý, tổ chức phát triển xã hội tộc người, hướng dẫn nhân dân sản xuất và xây dựng

1 Hồ Chí Minh: Sđd, tr 174

2 Hồ Chí Minh: Sđd, tr 172 - 173

Trang 28

đời sống mới Phải biết khai thác, tranh thủ kinh nghiệm, vốn sống của những người uy tín trong các tộc người phục vụ cho quản lý phát triển xã hội Về kinh tế, động viên, lãnh đạo đồng bào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, trong đó đặc biệt là phát triển nông - lâm nghiệp Phát triển kinh tế phải tuỳ theo điều kiện từng địa phương, từng tộc người, kết hợp giữa khai thác kinh nghiệm, giống cây con của địa phương với đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào ứng dụng Về văn hoá - xã hội, phát triển bình dân học vụ, xoá mù chữ trong đồng bào, tôn trọng phong tục tập quán, tiếng nói các tộc người tại chỗ, “cán

bộ đi làm việc ở chỗ nào, phải học tiếng ở đấy”1 Chú ý khôi phục hệ thống chữ viết của các dân tộc Thái, Tày, Nùng, Mông; xây dựng thêm trường lớp, đào tạo thầy giáo, cô giáo, nhất là thầy cô giáo các tộc người thiểu số Đẩy mạnh công tác y tế, chăm lo sức khoẻ, phòng chống tật bệnh trong đồng bào các tộc người…

Tư tưởng Hồ Chí Minh ngoài thể hiện ở chiều cạnh minh triết hữu ngôn còn có những giá trị thể hiện ở minh triết vô ngôn, tức bộc lộ qua hành động,

qua tác phong hàng ngày trong quan hệ ứng xử với đồng bào, với cán bộ, với thủ lĩnh, người có uy tín trong các tộc người thiểu số Minh triết vô ngôn đó

chỉ có thể ngộ, cảm, chứ khó đo đạc bằng các phương pháp trắc lượng thuần

tuý Điều đó thể hiện ở cách ứng xử của Hồ Chí Minh với thủ lĩnh người H’Mông Vương Chí Sình, với anh hùng Núp, với cán bộ, chiến sĩ, đồng bào các tộc người thiểu số trên vùng căn cứ Việt Bắc… Chính tư tưởng minh triết

vô ngôn ấy tạo nên đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh Nhờ đó Hồ Chí Minh hiện thân với tư cách là không chỉ là lãnh tụ của Đảng, của dân tộc, mà còn là biểu tượng tinh hoa của mọi tộc người đoàn kết, thống nhất, đồng thuận trên đất nước ta Tư tưởng minh triết tộc người của Hồ Chí Minh cũng trở thành triết lý dẫn dắt việc hoạch định chính sách dân tộc phù hợp tâm lý, văn hoá tộc người

II NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VÙNG VÀ VÙNG TỘC NGƯỜI THIỂU

SỐ

1 Định nghĩa vùng và bản chất của phân vùng

Trong sinh giới và ngoại giới luôn diễn ra hai quá trình đối lập nhau là

tổng hợp hoá và phân hoá Trên tổng thể hành tinh, xét từ chiều cạnh tự

nhiên, tổng hợp hoá đã định hình nên cấu trúc tổng thể trái đất, còn phân hoá

Trang 29

lại tạo nên các cấu phần châu lục; xét từ chiều cạnh xã hội, tổng hợp hoá định hình nên tính toàn cầu - nhân loại, còn phân hoá tạo nên các cấu phần khu vực, quốc gia Trong một quốc gia, xét từ chiều cạnh tự nhiên, tổng hợp hoá hình thành cấu trúc quốc gia - dân tộc thống nhất về mặt lãnh thổ, còn phân hoá tạo nên các cấu phần miền, vùng, địa phương; xét từ chiều cạnh xã hội, tổng hợp hoá hình thành nên tính quốc gia, còn phân hoá tạo nên tính vùng và tính địa phương Sự vận động của hai quá trình này tạo ra các không gian với những quy mô khác nhau mà bên trong mỗi thực thể đó lại tiếp tục diễn ra quá trình “kép” gồm cả tổng hợp hoá và phân hoá để hình thành nên một kết cấu mới các kích thước và sắc thái khác nhau

Vùng là khái niệm được sử dụng khá phổ biến trong các tài liệu khoa học

lẫn trong lĩnh vực tổ chức thực tiễn Tuy vậy, cho đến nay xung quanh khái niệm vùng vẫn còn nhiều tranh luận khác nhau, nhất là phân biệt ranh giới giữa khái niệm “vùng” với “miền”, “khu vực”, “địa bàn” Điểm nhận được sự thống nhất trong giới khoa học là xác định vùng có một diện tích nhỏ hơn diện tích một tổng thể (thế giới, quốc gia, lưu vực sông, rặng núi…) và lớn hơn một vị trí hoặc một địa điểm cụ thể nào đó trên bền mặt trái đất Một vùng thường được xét ở hai chiều cạnh: (i) là cấu phần của một tổng thể lớn hơn, (ii) một tập hợp của các đơn vị nhỏ hơn; (iii) xem xét trong một phạm vi quốc gia Những diện tích nhỏ hơn thế giới, lớn hơn quốc gia người ta thường

gọi là châu lục, khu vực, tất nhiên vẫn có cả vùng khi người ta mô tả những

chỗ chồng lấn giữa các quốc gia có chủ quyền, nhất là khi nói về quyền chủ quyền trên biển trong luật quốc tế như “vùng tiếp giáp”, “vùng đặc quyền kinh tế” Trong xu thế khu vực hoá, quá trình tổ chức lãnh thổ đã vượt ra khỏi

biên giới quốc gia, hình thành nên liên lãnh thổ giữa các quốc gia trong hợp

tác thực hiện những mục tiêu tổng hợp về kinh tế - xã hội - nhân văn - môi trường nhất định Từ đó đã hình thành nhiều khái niệm mới như “tam giác phát triển”, “hành lang phát triển”, “tiểu vùng” mà thực chất hàm nghĩa chỉ một không gian địa lý nhất định vắt qua các nước khác nhau trong quá trình thực hiện một mục tiêu phát triển1

Trang 30

Tiêu chí xác định vùng thường dựa trên các dấu hiệu đặc trưng về vật

chất, xã hội - nhân văn, hình thức hoặc chức năng Mỗi ngành có thể mô tả các diện tích vùng bằng thuật ngữ khác nhau tuỳ theo cách tiếp cận của ngành khoa học đó, ví như: vùng sinh thái của địa - môi trường, vùng văn hoá trong địa - văn hoá, vùng sinh học trong địa - sinh học, vùng tộc người trong địa - nhân học, vùng kinh tế trong địa - kinh tế, vùng biên giới trong luật quốc tế, vùng biểu thị mục tiêu hay vùng chức năng (đô thị, nông thôn)…trong quản

lý Vì thế, diện tích, cấu trúc, hình thức của vùng được nhận thức rất khác nhau tuỳ theo bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá và tuỳ thuộc từng chủ thể nhận thức Chẳng hạn, nếu địa - môi trường xác định vùng thường dựa vào đặc trưng địa lý tự nhiên (khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng…) mà ranh giới thường xác định ở các dấu hiệu của sông ngòi, rặng núi, dải đất - cát…, thì địa - nhân học lại dựa vào không gian sinh tồn và sáng tạo văn hoá của các cộng đồng cư dân có cùng đặc trưng (nhân chủng, văn hoá, xã hội) mà ranh giới không chồng xếp với ranh giới địa lý do sự di dân Hoặc địa - hành chính thường xác định vùng theo ý chí chủ quan của các nhà làm luật, trước hết dựa vào yếu tố địa lý, thì vùng văn hoá không tuỳ thuộc vào ranh giới hành chính

do tính lan toả của văn hoá Điều này có thể được viện dẫn ở trường hợp vùng Tây Nguyên, nếu theo cách phân vùng kinh tế thì tương ứng với địa giới hành chính của 5 tỉnh: Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng, nhưng nếu xét về vùng tộc người hay vùng văn hoá thì rộng hơn rất nhiều, gồm cả phía Đông phình ra vùng núi các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ (Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận), phía Nam kéo dài xuống tận các tỉnh Đông Nam Bộ (Bình Phước, Tây Ninh…), phía Bắc kéo ra tận các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, mà các nhà văn hoá học thường gọi bằng vùng văn hoá Trường Sơn - Tây Nguyên Tương tự như vậy, xét về mặt vùng địa - kinh tế, Tổng cục Thống kê xếp các tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai thuộc Tây Bắc, nhưng trên chiều cạnh vùng văn hoá thì Tây Bắc rộng hơn rất nhiều, gồm cả chồng lấn sang phía đông của vùng Đông Bắc và kéo dài xuống cả miền tây Thanh - Nghệ Đó là chưa kể vùng biểu thị mục tiêu trong

Hà Nội - Hải Phòng), “Tiểu vùng Mêkông” với không gian gồm các nhóm nước Việt Nam, Lào,

Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc, Miến Điện

Trang 31

từng giai đoạn cụ thể lại không tuân theo ranh giới của vùng kinh tế hay vùng văn hoá nêu trên mà hoạt động của các Ban Chỉ đạo Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ là một ví dụ với quan niệm vùng rộng hơn nhằm giải quyết các mục tiêu do tình huống quản lý đặt ra

Từ phân tích nêu trên có thể đi đến nhận diện một số dấu hiệu đặc trưng

của vùng:

- Vùng là một không gian địa lý - lãnh thổ xác định có hình dáng, quy

mô, kích thước nhất định thuộc chủ quyền hoặc quyền chủ quyền (đối với một

số vùng biển) của một quốc gia nhất định Ranh giới xác định vùng có thể dựa trên phân định hành chính hoặc các dấu vết tự nhiên Tất nhiên, ranh giới, quy

mô, diện tích đó có thể thay đổi do sự biến đổi của các yếu tố cấu tạo nên vùng, do sự phát triển các cơ cấu, chức năng mà chủ thể phân định vùng có sự điều chỉnh về mặt nhận thức hoặc hành chính

- Vùng được cấu tạo nên bởi cả yếu tố tự nhiên và xã hội, yếu tố “tĩnh”

và yếu tố “động” Yếu tố tự nhiên bao gồm đất đai, khí hậu, nguồn nước, địa hình, sông ngòi, ao hồ, thảm thực vật, khoáng sản, tài nguyên… Yếu tố xã hội gồm dân cư, lao động, dân tộc, văn hoá, lịch sử Yếu tố “tĩnh” gồm cả ngoại giới và sinh giới, tức những yếu tố vật chất hoặc phi vật chất của nội vùng, tham gia vào quá trình trao đổi, tạo nên kết cấu cố định của vùng Yếu tố

“động” gồm các nguồn lực kinh tế, xã hội của vùng như nhân khẩu, lao động, vốn hàng hoá, dịch vụ và thông tin liên lạc… Chính yếu tố “động” này tạo cho nội vùng thường xuyên diễn ra các quá trình tự nhiên, nhân khẩu, kinh tế

và xã hội Các quá trình này có bản chất khác nhau, cùng tồn tại và hoạt động theo những quy luật riêng của nó, nhưng đều là những khâu tất yếu của chu trình trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin vận hành liên tục của không

gian và thời gian Các yếu tố cấu thành nêu trên quy định sự đồng nhất bên

trong và khác biệt với bên ngoài, nhờ đó tạo nên bản sắc vùng, không có sự

đồng nhất giữa các vùng

- Trên giác độ quản lý nhà nước, vùng được hiểu là đơn vị trung gian giữa quốc gia và địa phương Vùng có thể bao gồm một số địa phương và một quốc gia có số lượng vùng bao nhiêu tuỳ theo cách phân chia trong từng giai đoạn cụ thể Đối với các nhà nước Liên bang, trong rất nhiều trường hợp, vùng được đồng nhất với đơn vị hành chính - lãnh thổ bang Đối với nhà nước

Trang 32

đơn nhất như Việt Nam, vùng chỉ là một cấu trúc - chức năng phi hành chính, được hợp thành bởi một số đơn vị hành chính - lãnh thổ cấp tỉnh Đó thường

là vùng tổng hợp đa năng (hay còn gọi là vùng kinh tế - xã hội) nhằm giải

quyết những giới hạn của cấp tỉnh, nhất là trong điều kiện các tỉnh chia tách quá nhỏ bé, cạnh tranh lẫn nhau thiếu lành mạnh cản trở đến sự phát triển toàn vùng

Như vậy, vùng là một bộ phận lãnh thổ giữa quốc gia và địa phương, có

các đặc trưng đồng nhất bên trong và khác biệt với bên ngoài với những cơ cấu rất đa dạng và phức tạp Vùng ở nước ta không phải là cấp hành chính

mà là liên hợp một số đơn vị hành chính - lãnh thổ cấp tỉnh, là đối tượng của

tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội, là công cụ không thể thiếu trong hoạch định các chiến lược, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã hội

Phân tích và định nghĩa nêu trên cho thấy bản chất của phân định vùng

là sự chủ quan hóa quy luật tổng hợp hóa và phân hóa lãnh thổ thông qua xác định các quy mô và kích thước khác nhau Hay nói cách khác, vùng là một thực thể khách quan chứ không phải do ý muốn chủ quan của con người tạo

ra Tuy nhiên, khả năng chủ quan hoá khách quan lại tuỳ thuộc vào từng chủ thể nhận thức, do đó, quan niệm về vùng rất khác nhau Sự khác nhau đó không hẳn do tính ngẫu hứng của chủ thể nhận thức mà do đối tượng nghiên cứu của từng ngành khoa học hoặc mục tiêu cụ thể của quản lý lãnh thổ quy định Phân định vùng chính là nhằm giải quyết mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái toàn thể và cái bộ phận, nhằm phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu cũng như tổ chức lãnh thổ

2 Phân loại vùng

Do tính chất phức tạp của vùng, cho nên, có nhiều cách phân loại vùng khác nhau

a Dựa vào bản chất của các quy luật, quá trình vận động của các yếu tố

tạo vùng, người ta phân thành các vùng tự nhiên, vùng kinh tế, vùng xã hội,

vùng văn hoá Vùng tự nhiên hình thành và vận động do tác động chủ yếu của các quy luật tự nhiên, trải qua một quá trình thành tạo lâu dài của thạch quyển, địa quyển, khí quyển, sinh quyển, thuỷ văn và đây cũng là quá trình cổ xưa nhất trong các yếu tố tạo vùng Vùng kinh tế hình thành từ quá trình vận

Trang 33

động của các quy luật, quá trình kinh tế diễn ra các trên các lãnh thổ khác nhau, từ đó xuất hiện các tổ hợp kinh tế - lãnh thổ Vùng xã hội hình thành từ tác động của các quá trình dân cư và hoạt động của dân cư, mà ở đó con người với tư cách cá nhân và cộng đồng đóng vai trò chủ yếu liên kết yếu tố vùng Vùng văn hoá hình thành từ quan hệ ứng xử giữa con người với giới tự nhiên và giữa con người với con người để hình thành nên những giá trị đặc trưng của vùng Tuy vậy, không có hoạt động nào tách rời khỏi điều kiện tự nhiên trong các cấu trúc tự nhiên, kinh tế, văn hoá và xã hội cũng như không

có hoạt động xã hội hay văn hoá nào lại không xuất phát từ hoạt động kinh tế làm cơ sở, do đó, sự phân loại vùng như vậy chỉ mang tính tương đối Trong nghiên cứu có thể phân chia thành từng loại vùng chuyên biệt để thuận lợi cho thao tác hoá, nhưng trong quản lý người ta thường có xu hướng phân chia thành các vùng kinh tế - xã hội Tuy nhiên, do sự dẫn dắt của quan điểm đồng nhất giữa phát triển với phát triển kinh tế, cho nên, trong một thời gian dài người ta lấy tăng trưởng kinh tế vùng là mục tiêu, còn các yếu tố tự nhiên, xã hội chỉ được xem như nguồn lực “đầu vào” cho tăng trưởng kinh tế Điều đó

đã dẫn tới nhanh chóng huỷ hoại môi trường tự nhiên vùng, cư dân tại chỗ bị gạt bỏ vào các quá trình kinh tế và thụ hưởng thành quả kinh tế, bản sắc văn hoá vùng bị đơn nhất hoá do các tác nhân kinh tế, rồi dẫn tới cả xung đột xã hội ở các vùng đa tộc người Vì vậy, người ta ngày càng đã chú ý hơn đến các yếu tố văn hoá và xã hội của vùng, mà thực chất là yếu tố con người trong sự phát triển vùng Từ đó, cách phân loại tổng hợp đã ra đời để dung nạp đầy đủ hơn các yếu tố tạo vùng và tính hướng đích của các chính sách phát triển vùng

b Dựa vào quy mô, người ta thường phân vùng ra các cấp độ khác nhau: vùng lớn (macroregion), vùng trung bình (mezoregion), vùng nhỏ hay

tiểu vùng (microregion) Các vùng là một bộ phận cấu thành vùng lớn hơn và tiểu vùng lại được được phân ra các vùng nhỏ hơn nữa Các tiểu vùng tiếp tục

được phân chia cho đến tận đơn vị nhỏ nhất là điểm Từ đó tạo nên một trật

tự, thứ bậc theo mô hình bậc thang về các vùng từ quy mô lớn đến quy mô

nhỏ mà ở mỗi kích thước như vậy có thể phục vụ cho nhu cầu khác nhau của con người cả về mặt nhận thức lẫn mặt tổ chức Trong mô hình bậc thang đó thì diện tích, dân số - nhân khẩu, quy mô kinh tế của từng vùng, tiểu vùng

Trang 34

không được định lượng rõ ràng ở từng quốc gia Xét riêng trong trường hợp nước ta, có thể xem các vùng lớn nhất sau diện tích quốc gia là Bắc Bộ, Trung

Bộ và Nam Bộ; phân định nhỏ hơn nữa là các tiểu vùng Tây Bắc, Đông Bắc, đồng bằng Bắc Bộ (thuộc vùng Bắc Bộ), Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên (thuộc vùng Trung Bộ), Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ (thuộc vùng Nam Bộ); hoặc chia nhỏ hơn nữa thì các tỉnh, huyện, rồi xã, rồi làng, rồi xóm

- những vùng hành chính hoặc bán hành chính, đan xen với nó lại có các vùng chức năng hoặc địa lý như nông thôn và đô thị, vùng biên giới, vùng đồi…

c Dựa theo chức năng hoạt động, có thể phân chia thành vùng đơn năng hoặc vùng đa năng Vùng đơn năng là các vùng được phân theo một chức

năng hoạt động chủ yếu mà ở đó người ta dựa vào từng yếu tố, thành phần của môi trường tự nhiên (đất đai, khí hậu, thuỷ văn, địa hình, địa chất - địa mạo) hay theo từng ngành/phân ngành, từng lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh (vùng nông nghiệp, vùng công nghiệp, vùng tiêu thụ, vùng sinh thái, vùng tộc người, vùng biên giới, vùng nước lịch sử, vùng chống lấn,…) Vùng đa năng là các vùng được phân chia theo một tổ hợp các tiêu chí với sự tính toán tất cả các yếu tố tạo vùng mà chúng có quan

hệ tương tác với nhau để thực hiện nhiều chức năng (vùng tự nhiên tổng hợp, vùng kinh tế - xã hội, vùng sinh thái - nhân văn)

d Dựa vào lịch sử hình thành và trình độ phát triển, có thể phân thành

các vùng phát triển, vùng đang phát triển và vùng kém phát triển, vùng đất cổ (lâu đời) và vùng đất mới Gọi là vùng đất cổ hay vùng đất mới không hẳn nói

về quá trình kiến tạo địa chất, địa mạo, mà cơ bản là nói đến lịch sử khai phá, định cư của con người để tạo thành tính quần cư trên vùng đất đó Còn gọi là vùng phát triển, vùng đang phát triển và vùng kém phát triển trước đây thường phản ánh toàn diện trên tất cả mọi mặt nhưng ngày nay thường chủ yếu nói đến trình độ kinh tế - xã hội Bởi theo quan điểm phát triển hiện đại người ta cho rằng về phương diện văn hoá không thể nói rằng vùng này lại

kém phát triển hơn các vùng khác mà giữa chúng chỉ có sự khác biệt, điều đó

tạo nên tính đa dạng của văn hoá

đ Dựa vào tiềm năng phát triển, có thể phân ra các vùng giàu tiềm năng

(tiềm năng lớn và đa dạng), các vùng nghèo tiềm năng (tiềm năng ít và đơn điệu) Các vùng giàu tiềm năng thường hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi cho sự

Trang 35

phát triển như điều kiện tự nhiên thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú, có giá trị lớn, hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển, dân cư và lực

lượng lao động dồi dào, có trình độ cao Ngày nay người ta còn xem vị trí địa

lý cũng là một loại tài nguyên, gồm cả tài nguyên địa - kinh tế và tài nguyên

địa - chính trị Điều đó được kiểm chứng ở những vùng lãnh thổ nghèo tài nguyên tự nhiên, nhưng nhờ khai thác tài nguyên địa - kinh tế và địa - chính trị mà có được sự phát triển ngoạn mục Chính dựa theo các tiêu chí về tiềm năng phát triển, lợi thế và bất lợi thế của từng vùng, mà chiến lược phát triển vùng của mỗi quốc gia có thể lựa chọn những cách thức khác nhau: (i) phát triển vượt trước của những vùng có tiềm năng để tạo động lực tăng trưởng lan toả, kích hoạt các vùng kém phát triển; (ii) phát triển dàn đều giữa vùng giàu tiềm năng và vùng nghèo tiềm năng, tạo bình đẳng giữa các vùng, không để tạo khoảng cách phát triển giữa các vùng

e Dựa vào đặc tính của hoạt động phát triển và hình thái quần cư, có

thể phân ra các vùng đô thị, vùng nông thôn và vùng ven đô Vùng đô thị là nơi có độ mật tập cao về dân số, kết tụ cao về kết cấu hạ tầng kỹ thuật, dịch

vụ xã hội, cơ cấu kinh tế phần lớn là ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ nên cơ cấu dân cư phần lớn là phi nông nghiệp Vùng nông thôn là lãnh thổ tập trung phần lớn hoạt động sản xuất nông nghiệp phổ biến, dân cư thưa thớt, phân bố rải rác, trải ra trên diện rộng, tỷ lệ lao động nông nghiệp lớn, hạ tầng dịch vụ yếu Vùng ven đô là những lãnh thổ nằm trong quá trình đô thị hoá với sự đan xen cả nông thôn và đô thị, sản xuất nông nghiệp và công nghiệp - dịch vụ, kết cấu hạ tầng - kỹ thuật, hạ tầng xã hội từng bước thay đổi về độ kết tụ, di động xã hội với tốc độ nhanh mà thực chất là dịch chuyển cơ cấu lao động và vị thế xã hội của cư dân

g Dựa vào nhu cầu hiểu biết hoặc quản trị lãnh thổ, người ta phân chia thành: vùng thể chế, vùng biểu thị mục tiêu và vùng cộng đồng1

Vùng thể chế xuất hiện từ khi con người bước vào thời kỳ có nhà nước

và có lẽ đó đây là loại hình quản lý quen thuộc nhất đối với hầu hết các dân tộc Về phương diện này, nhà địa lý học Sack đã thể hiện một cách hết sức thuyết phục rằng việc thể chế hóa các vùng là một khuynh hướng cơ bản của

1 Ostergren R.C and Rice J G, The Europeans: A Geography of People, Culture and

Environment New York: Guiford Press 2004

Trang 36

việc xác định lãnh thổ nhân văn thường được thúc đẩy bởi nhu cầu thực hiện những mục tiêu hoàn toàn riêng biệt Một khi đã được thể chế hóa thì các vùng này nghiễm nhiên được thừa nhận là những thực thể hiện tồn với những ranh giới được xác định một cách rõ ràng trên giấy tờ, mặc dù trong thực tế không phải bao giờ các ranh giới đó cũng được xác định rõ ràng trên mặt đất Vùng thường được thể chế hóa thành những hệ thống phân cấp, có thể được thể hiện bằng những cách thức khác nhau, chẳng hạn như các đơn vị hành chính liên bang, bang, quận, và các đơn vị hành chính địa phương ở Mỹ; hoặc các giáo phận, giáo khu, và giáo xứ thuộc Nhà thờ Công giáo La Mã, các vùng theo tỉnh ở các nước Đông Âu, v.v

Vùng biểu thị mục tiêu thường được các nhà khoa học, các nhà phân tích,

các nhà lập kế hoạch, hoặc các nhà tổ chức tạo ra nhằm giảm thiểu tính chất phức tạp của cấu trúc không gian, phần nhiều là các không gian nhân văn sao cho có thể nhận thức và quản lý được dễ dàng hơn Quá trình tạo ra các vùng biểu thị mục tiêu trong địa lý học cũng giống như quá trình phân loại tổng quát của hầu hết các bộ môn khoa học Các vùng biểu thị mục tiêu bao gồm hai loại: vùng hình thức và vùng chức năng Các vùng hình thức, còn được gọi là các vùng đồng dạng, chúng tương đồng hoặc đồng dạng liên quan đến các hiện tượng được lựa chọn ngẫu nhiên Chẳng hạn như đó là những vùng đồi savane, những vùng trũng, những dải cát ven biển v.v ; các vùng đó là sản phẩm tư duy của các nhà địa mạo, là người hiểu biết về các lĩnh vực có liên quan Đó hoàn toàn là một khái niệm tri thức được định danh, không tồn tại độc lập con người đã tạo ra chúng Các vùng chức năng đôi khi được gọi là

“nút” cũng được định danh dựa trên cơ sở tính đồng nhất, nhưng trong trường hợp này người ta thường nhấn mạnh vào một vị trí trung tâm hoặc một điểm nút nào đó liên quan đến sự vận động, các hoạt động của con người, tư tưởng hoặc sự vật Nói cách khác, toàn bộ các địa điểm trong vùng trải qua các tương tác về không gian với vị trí trung tâm hoặc nút nhiều hơn là với bất cứ

vị trí nào khác Trong trường hợp này sự sáng tạo vùng hoàn toàn phụ thuộc vào các tiêu chuẩn phân tích được xây dựng để đo lường mức độ tương tác bởi một nhóm người nào đó

Vùng cộng đồng (hay còn gọi là vùng cảm nhận): khác với vùng thể chế

và các vùng biểu thị mục tiêu là những sáng tạo có mục đích của các nhà chức

Trang 37

trách hoặc các nhà phân tích không gian, vùng cộng đồng được tạo ra một cách không chính thức Chúng tồn tại thông qua nhận thức của công chúng và

có thể không được hệ thống quan phương phê chuẩn Vì vậy, yếu tố trung tâm tạo nên vùng cảm nhận, quyết định sự tồn tại của vùng cảm nhận chính là bản sắc địa phương Việc thừa nhận bản sắc của một vùng có thể phát sinh từ những người đang sống cả ở bên trong lẫn bên ngoài phạm vi vùng Đó là tâm thức về một nơi chốn cụ thể nào đó Việc xác định các vùng cảm nhận không giống với các kiểu loại vùng khác vì nó mang tính chủ quan nhiều hơn Nhận thức về vùng có thể chỉ được kết nối một cách thụ động, và mức độ rộng lớn cũng như các ranh giới của vùng chỉ có thể được nhận thức hoặc được hiểu đại khái, chứ không phải bao giờ cũng được hiểu một cách chính xác tuyệt đối Tuy nhiên, vùng cảm nhận lại có một sức sống rất mãnh liệt của ký ức và thoại tích, của tâm thức và các hệ thống biểu tượng tạo nên một sự đồng nhất sâu sắc

3 Một số loại hình vùng với tư cách không gian vật chất cho phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội tộc người

Có rất nhiều cách phân loại vùng nêu trên, nhưng cách phân loại vùng đơn năng và đa năng được sử dụng rất phổ biến cho phục vụ các mục tiêu tổng hợp hoặc mục tiêu chuyên biệt Để phục vụ cho mục tiêu chuyên biệt (đơn năng), người ta đã định ra các loại vùng chủ yếu sau đây:

vùng vùng sinh thái – nhân văn Vùng sinh thái - nhân văn, mà cụ thể trong

trường hợp này chính là sinh thái - tộc người, được phân định dựa trên sự cư trú, sinh hoạt của từng tộc người với tính thích ứng của nó với điều kiện cảnh

Trang 38

quan, môi trường nhất định Hay nói cách khác, ở đây có sự trùng hợp giữa địa bàn phân bố cư trú tộc người với cảnh quan, môi trường Sinh sống từ đời này sang đời khác trong một môi trường tự nhiên quen thuộc như vậy nên mỗi tộc người đã hình thành những kiểu thích ứng với môi trường đó, tạo nên những truyền thống kinh tế, văn hoá, xã hội riêng Do vậy mà việc phát triển kinh tế, xã hội của các tộc người không thể tách rời với kiểu thích ứng môi trường riêng như vậy, thậm chí còn có những thế mạnh cần phải khai thác,

phát huy Phân định kiểu này có 5 loại hình: sinh thái - tộc người rẻo thấp

đồng bằng châu thổ như người Kinh ở các châu thổ hay người Khơme ở Tây

Nam Bộ; sinh thái - tộc người thung lũng như người Thái, Mường ở Tây Bắc, Tày ở Đông Bắc; sinh thái - tộc người rẻo giữa như người Môn- Khơme hay người Dao ở Tây Bắc; sinh thái - tộc người rẻo cao như người H’Mông, các nhóm tộc người nói ngôn ngữ Tạng - Miến ở Tây Bắc; sinh thái - tộc người

cao nguyên như các nhóm tộc người nói ngôn ngữ Malayu - Polinesien và

Môn - Khơme ở Tây Nguyên1

b Vùng văn hoá - tộc người

Vùng văn hoá là khái niệm chỉ một không gian văn hoá nhất định mà trong không gian đó được tập hợp thành những đặc trưng về văn hoá có thể khác biệt với những vùng khác Đó là các đặc trưng về hoạt động sản xuất; về

ăn, mặc, ở, đi lại, vận chuyển; về cách tổ chức xã hội cổ truyền và giao tiếp cộng đồng; về tín ngưỡng, phong tục và lễ hội; về các sinh hoạt văn hoá nghệ thuật; về vui chơi giải trí; về các sắc thái tâm lý của cư dân Các đặc trưng văn hoá đó hình thành và định hình trong quá trình lịch sử lâu dài, do cư dân các tộc người trong vùng thích ứng cùng một điều kiện môi trường, có sự tương đồng về trình độ phát triển xã hội, đặc biệt là có mối quan hệ giao lưu văn hoá mật thiết2

Các vùng văn hoá khác nhau thường không giới hạn phạm vi của chúng vào trong biên giới quốc gia hoặc đơn vị nhỏ hơn quốc gia do các chủ thể quản lý tạo ra Người ta cũng thấy trên thực tế có những vùng văn hoá rất khó định danh như vùng văn hoá tôn giáo hay vùng văn hoá dân gian Tuy vậy, các vùng văn hoá vẫn thường gắn liền với các ranh giới địa lý mà các nhà địa

1,2 Ngô Đức Thịnh: Văn hoá, văn hoá tộc người và văn hoá Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội,

Trang 39

- văn hoá thường sử dụng để phục vụ nghiên cứu, đó là:

Vùng văn hoá hình thức bao gồm những những cư dân có chung một số

đặc điểm văn hoá chẳng hạn như ngôn ngữ, tôn giáo hoặc các hệ thống sinh

kế Nó là một vùng tương đối đồng nhất liên quan đến một hoặc một số đặc điểm văn hoá chung Vì các vùng văn hoá thường đan xen và chồng chéo với nhau cho nên ranh giới phân biệt vùng văn hoá không phải bao giờ cũng rõ ràng, ngay cả khi chỉ vẽ bản đồ về một số đặc điểm văn hoá duy nhất nào đó

Vì vậy có thể nhận thấy các khu vực hoặc các vùng văn hoá dễ hơn là vạch ra các ranh giới văn hoá Các vùng này được mở rộng bằng mỗi đặc điểm văn hoá bổ sung, vì không thể có hai đặc điểm cùng phân bố trong một không gian Kết quả là, thay vì có ranh giới rõ ràng, các vùng văn hoá hình thức lại thể hiện một trung tâm hoặc một lõi bao gồm tất cả các đặc điểm nhất định Bên ngoài vùng lõi, các đặc trưng yếu dần và bị biến mất Vì vậy, nhiều vùng văn hoá hình thức thể hiện một mô thức quan hệ trung tâm - ngoại vi khá điển hình

Vùng văn hoá chức năng: Dấu hiệu của một vùng văn hoá hình thức là

tính đồng nhất văn hoá Nó trừu tượng chứ không cụ thể Ngược lại, một vùng văn hoá chức năng không cần phải đồng nhất về phương diện văn hoá; thay vào đó, nó là một vùng được tổ chức để thực hiện chức năng kinh tế, chính trị hoặc xã hội với tư cách là một đơn vị Một thành phố, một bang độc lập, một tỉnh, một giáo khu hoặc giáo xứ, một khu thương mại hoặc một vùng nông trang Các vùng văn hoá chức năng có các điểm nút hoặc các điểm trung tâm trong đó các chức năng được điều phối và hướng dẫn Các vùng văn hoá chức năng có cấu trúc trung tâm - ngoại vi giống như các vùng văn hoá hình thức Nhiều vùng chức năng được vạch ranh giới rõ ràng bao gồm toàn bộ một vùng đất thuộc quyền của một chính quyền đô thị riêng biệt, được xác định rõ ràng trên bản đồ bằng một tuyến phân biệt giữa khu vực hành chính này với khu vực hành chính khác1 Ví như, Thăng Long - Hà Nội không chỉ là địa danh, là đơn vị hành chính - lãnh thổ, mà còn là vùng văn hoá có chức năng

“trung tâm” hội tụ và phát tán văn hoá đối với các vùng “ngoại vi”, chí ít là trong lãnh thổ Việt Nam ngày nay

1 Hà Hữu Nga: Cấu trúc và đặc trưng vùng, tác động của chúng đối với quản lý phát triển xã

hội vùng, chuyên đề tham gia đề tài, tr.3

Trang 40

Vùng văn hoá ngôn ngữ: Loại vùng này tồn tại phụ thuộc vào nhận thức

của cư dân sinh sống trong vùng đó như đã thấy phổ biến cùng với việc sử dụng tên vùng đặc biệt Một số vùng ngôn ngữ được phân biệt dựa trên các đặc điểm môi trường vật chất; các loại vùng khác được xác định dựa trên đặc trưng lịch sử, chính trị, hoặc kinh tế Các vùng ngôn ngữ giống như hầu hết các vùng văn hoá, nhìn chung không có ranh giới rõ ràng, và các cư dân của một vùng nào đó có thể khẳng định quyền cư trú trong các vùng như vậy Những loại vùng như vậy thường vượt ra khỏi ý thức của mọi người về sự gắn kết và việc xác định một cách đầy đủ Chẳng hạn, vùng ngôn ngữ Xlavơ với

sự ám chỉ cả khu vực rộng lớn của Nga, một phần Trung - Đông Âu và phần nào cả Trung Á hoặc vùng chữ Hán chỉ không gian các nước sử dụng ngôn ngữ tượng hình kiểu Hán bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và vùng lãnh thổ Đài Loan Xét trong một quốc gia, vùng Việt Bắc được đồng nhất với vùng ngôn ngữ tiếng Tày - Nùng, vùng Tây Bắc tương đồng với vùng ngôn ngữ Thái - những loại tiếng phổ thông của vùng mà các tộc người khác (kể cả người Kinh) đều chấp nhận sử dụng giao tiếp dân sự hàng ngày

Vùng văn hoá - lịch sử được sử dụng phổ biến trong ngôn ngữ khoa học

lẫn đời thường Với Việt Nam, vùng văn hoá - lịch sử phổ biến như chỉ Tây

Âu, Lạc Việt, Việt Thường, rồi vùng được gọi là “bộ” (15 bộ) thời kỳ Hùng Vương, sau đó là châu như Phong Châu, Lục Châu, Hoàng Châu, Hoan Châu,

Ái Châu Mới đây còn có các tên gọi mới chỉ vùng văn hoá - lịch sử như Vùng đất Tổ, vùng Quê Lụa, vùng quê Năm tấn, vùng Kinh Bắc, hoặc các tên gọi khác của vùng cũng rất phổ biến, đặc biệt là “xứ” theo lối gọi địa danh như Xứ Bắc, Xứ Đông, Xứ Đoài, Xứ Sơn Nam Hạ, Xứ Thanh, Xứ Nghệ, Xứ Quảng Vùng văn hoá - lịch sử còn được gọi theo lối địa lý mới như vùng Đông Bắc, vùng Tây Bắc, Vùng Việt Bắc, vùng Trung Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Nam Trung BỘ, vùng Đông Nam Bộ, vùng Tây Nam Bộ…1

Để thuận tiện cho việc nghiên cứu cũng như tiến hành bảo tồn, phát triển văn hoá ở từng không gian nhất định người ta cũng thường phân định thành

các vùng văn hoá Lý thuyết khu vực lịch sử - dân tộc học được xem là một cơ

sở cho việc phân định vùng văn hoá phổ biến ở nước ta Theo các tiếp cận đó,

Ngày đăng: 15/04/2014, 14:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Adams, D [1995]: Education for Extinction: American Indians and the Boarding School Experience, 1875 - 1928, University Press of Kansas, Kansas Sách, tạp chí
Tiêu đề: Education for Extinction: American Indians and the Boarding School Experience, 1875 - 1928
2. ADUKI Pty Ltd [1995]: “Poverty in Vietnam”; A Report for SIDA, Canbera, April Sách, tạp chí
Tiêu đề: Poverty in Vietnam
3. Armitage, A [1995]. Comparing the Policy of Aboriginal Assimilation: Australia, Canada, and New Zealand. UBDC Press, Vancouver Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparing the Policy of Aboriginal Assimilation
4. Aruchiunốp S.A, Mukhơlinốp A.I [1972]: Về đặc trưng dân tộc học các nhóm Xá (nước Việt Nam dân chủ cộng hoà), Viện dân tộc học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đặc trưng dân tộc học các nhóm Xá (nước Việt Nam dân chủ cộng hoà)
Tác giả: Aruchiunốp S.A, Mukhơlinốp A.I
Nhà XB: Viện dân tộc học
Năm: 1972
5. Asch, M., & Xlotkin, N [1997]. Affirming Aboriginal title: A new basis for comprehensive claims negotiation. In Michael Asch, ed., Aboriginal and Treaty Rights in Canada: Essays on Law, Equality, and Respect for Difference, UBC, Vancouven Sách, tạp chí
Tiêu đề: Affirming Aboriginal title: A new basis for comprehensive claims negotiation
6. Austin, D. [1993]. I Can Picture the Old Home So Clearly: The Commonwealth and “Half - caste” youth in the Northern Territory 1911 - 1939, Aboriginal Studies Press, Canberra Sách, tạp chí
Tiêu đề: I Can Picture the Old Home So Clearly: The Commonwealth and “Half - caste” youth in the Northern Territory 1911 - 1939
7. Backer Gary S: Human Capital: A Theoretical and Empirical Analysis, with Special Reference to Education… Chicago, University of Chicago Press, 1964, 1993 (3 rd ed) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human Capital: A Theoretical and Empirical Analysis, with Special Reference to Education…
8. Barman J., Herbert, Y., and Mc Caskill, D [1986]. The Legacy of the Past: An Overview. In Jean Barman, Y. Herbert, and D. Mc Caskill, eds, Indian Education in Canada: Volume 1: The Legacy, University of British Columbia Press, Vancourver Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Legacy of the Past: An Overview
9. Beckmann K.V.B [2000]: Đa dạng pháp luật – “Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam”, Nxb CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng pháp luật – “Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Na"m
Nhà XB: Nxb CTQG
10. Beresford, Q., Omajj, P [1998]. Our State of Mind: Racial Planing and the Stolen Generations, Fremantle Arts Centre Press, Fremantle Sách, tạp chí
Tiêu đề: Our State of Mind: Racial Planing and the Stolen Generations
12. Bourdieu, Piere and Jean Claude Paseron: Reproduction in Education, Society and Culture, Sage Publication Inc, ISBN: 0803983202, 1973, 1990 (st 2 ed) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reproduction in Education, Society and Culture
13. Bourdieu, Pierre: Okonomisches Kapital, kulturelles Kapital, soziales Kapital. In Soziale Ungleichheiten (Soziale Welt, Sonderheft 2), edited by Reinhard Kreckel. Goettingen: Otto Schartz & Co, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Okonomisches Kapital, kulturelles Kapital, soziales Kapital
14. Broome, R.[1994]: Aboriginal Australians: Black Responses to White Dominance 1788 - 1994, 2 nd Ed., Allen & Unwin, Sydney Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aboriginal Australians: Black Responses to White Dominance 1788 - 1994
15. Bulletin de la Société des Études Indochinoises (Nouvelle série, Tome XX). Sài Gòn: 1945 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bulletin de la Société des Études Indochinoises
16. Cherry-Choonan L. (Cordinator of the study) [2000]: UNFPA and Government Decentralization: A Study of Country Experiences. Office of Oversight and Evaluation- United Nations Population Fund - March, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: UNFPA and Government Decentralization: A Study of Country Experiences
17. Chesterman, J., and Galligan, B [1997]: Citizens Without Rights: Aborigines and Australian Citizenship, Cambridge University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Citizens Without Rights: "Aborigines and Australian Citizenship
18. Cullen, C., & Libesman, T (1995). Indigenous People and the Law in Australia, Butterworths, Sydney Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indigenous People and the Law in Australia
Tác giả: Cullen, C., & Libesman, T
Năm: 1995
19. De Graaf, N., De Graaf, P., & Kraaykamp, G: Parental cultural capital and educational attainment in the Netherlands: a refinement of the culrural capital perspective. In Sociology of Education, v.73, i.2, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Parental cultural capital and educational attainment in the Netherlands: a refinement of the culrural capital perspective
20. Deyer June Teufel [2005]: China’s Vulnerability to Minority Separatism, In Asian Affairs: An American Review 32, Issue 2 (Summer 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: China’s Vulnerability to Minority Separatism
Tác giả: Deyer June Teufel
Nhà XB: Asian Affairs: An American Review
Năm: 2005
21. Dickason, O [1997]: Canada’s First Nations: A History of Founding Peopes from Earliest Times, 2nd Ed., Oxford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Canada’s First Nations: A History of Founding Peopes from Earliest Times

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 24: Cơ cấu phân bố lực lượng lao động ở Tây Nguyên các năm - Chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đối với các vùng dân tộc thiểu số tây bắc, tây nguyên, tây nam bộ   cơ sở lý luận và thực tiễn
Bảng 24 Cơ cấu phân bố lực lượng lao động ở Tây Nguyên các năm (Trang 479)
Bảng 46: Trình độ học vấn của cán bộ y tế xã/ phòng khám khu vực, 2006 - Chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đối với các vùng dân tộc thiểu số tây bắc, tây nguyên, tây nam bộ   cơ sở lý luận và thực tiễn
Bảng 46 Trình độ học vấn của cán bộ y tế xã/ phòng khám khu vực, 2006 (Trang 493)
Bảng 50: Dịch vụ y tế và thuốc ở cấp xã, năm 2006 - Chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đối với các vùng dân tộc thiểu số tây bắc, tây nguyên, tây nam bộ   cơ sở lý luận và thực tiễn
Bảng 50 Dịch vụ y tế và thuốc ở cấp xã, năm 2006 (Trang 494)
Bảng 51: Thu chi khám chữa bệnh cấp xã, 2006 - Chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đối với các vùng dân tộc thiểu số tây bắc, tây nguyên, tây nam bộ   cơ sở lý luận và thực tiễn
Bảng 51 Thu chi khám chữa bệnh cấp xã, 2006 (Trang 495)
Bảng 55: Các biện pháp cải tiến chất lượng dịch vụ của Trạm y tế/ - Chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đối với các vùng dân tộc thiểu số tây bắc, tây nguyên, tây nam bộ   cơ sở lý luận và thực tiễn
Bảng 55 Các biện pháp cải tiến chất lượng dịch vụ của Trạm y tế/ (Trang 496)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w