1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sach hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ở nước ta trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

218 793 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ở nước ta trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn TS Đoàn Xuân Thủy
Trường học Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính sách và phát triển nông nghiệp
Thể loại báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 218
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5-8-2008 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã chỉ rõ những thành tựu chủ yếu của các chính sách hỗ

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

-

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ

NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC

CẤP BỘ NĂM 2009

Mã số: B.09.06

CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC TA

TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Cơ quan chủ trì: Viện Kinh tế

Chủ nhiệm đề tài: TS Đoàn Xuân Thủy Thư ký đề tài: Th.S Nguyễn Thị Minh Tân

7940

HÀ NỘI – 2009

Trang 2

CHỮ VIẾT TẮT

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá : CNH, HĐH

Đồng bằng sông Cửu Long : ĐBSCL

Đầu tư trực tiếp nước ngoài : FDI

Khuyến nông, khuyến ngư : KN, KN

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn : NN&PTNT

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: NHNN&PTNT

Trang 3

1 CN Nguyễn Kim Cam - Sở Lao động, thương binh và XH Hà Nội

2 TS Phạm Ngọc Dũng - Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh

3 CN Nguyễn Dũng - Huyện Ủy Chư Sê tỉnh Gia Lai

4 CN Đàm Thùy Dương - Đại học Thái Nguyên

5 CN Nguyễn Thị Đa - Trường Chính trị tỉnh Hòa Bình

6 CN Nguyễn Văn Đông - Liên đoàn Lao động tỉnh Hòa Bình

7 CN Đinh Xuân Hùng - Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Hà Giang

8 CN Vũ Thị Hiền - Hội Nông dân huyện Chí Linh, Hải Dương

9 CN Nguyễn Văn Khang - Trường Trung cấp nghề tỉnh Hòa Bình

10 CN Phạm Hoàng Lam - Văn phòng UBND TP Hồ Chí Minh

11 PGS.TS Hoàng Thị Bích Loan - Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh

12 TS Đặng Ngọc Lợi - Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh

13 TS Đào Thị Ngọc Minh - Đại học Sư phạm Hà Nội

14 CN Nguyễn Thanh Minh - Ban tổ chức Thành ủy Hà Nội

15 Th.S Ngô Tuấn Nghĩa - Học viên CT-HCQG Hồ Chí Minh

16 TS Đinh Văn Phượng - Học viện Chính trị quân sự

17 TS Nguyễn Minh Quang - Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh

18 CN Nguyễn Trọng Sơn - Sở Tài chính tỉnh Hà Tĩnh

19 Th.S Nguyễn Thị Minh Tân - Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh

20 PGS.TS Nguyễn Khắc Thanh - Học viên CT-HCQG Hồ Chí Minh

21 CN Nguyễn Văn Thanh - Trường chính trị Lê Hồng Phong, Hà Nội

22 TS Đoàn Xuân Thủy - Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh

23 CN Nguyễn Quang Thử - Sở Công thương tỉnh Quảng Nam

24 TS Nguyễn Thị Tú - Học viện Tài chính

25 CN Phạm Anh Tuấn - Huyện ủy huyện Ứng Hòa, Hà Nội

26 CN Võ Văn Tiến - Ngân hàng NN&PTNT tỉnh Quảng Nam

27 CN Bùi Xuân Vinh - Công đoàn ngành Giao thông Thái Bình

28 CN Nguyễn Thanh Xuân - Trường Cao đẳng thủy sản, Bộ Thủy sản

Trang 4

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá : CNH, HĐH

Đồng bằng sông Cửu Long : ĐBSCL

Đầu tư trực tiếp nước ngoài : FDI

Khuyến nông, khuyến ngư : KN, KN

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn : NN&PTNT

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: NHNN&PTNT

Trang 5

Trang

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ

SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

11

1.1 Chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường 11

1.2 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế tới chính sách hỗ trợ sản xuất

nông nghiệp

35

1.3 Kinh nghiệm một số quốc gia có điều kiện tương đồng với Việt Nam

về chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp

48

Chương 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ SẢN XUẤT NÔNG

NGHIỆP Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

64

2.1 Quá trình hình thành hệ thống luật pháp, chính sách hỗ trợ sản xuất

nông nghiệp ở Việt Nam

64

2.2 Thực trạng chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp 70

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CHÍNH

SÁCH HỖ TRỢ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

134

3.1 Những quan điểm cơ bản về hoàn thiện chính sách hỗ trợ sản xuất

nông nghiệp ở Việt Nam

134

3.2 Giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện chính sách hỗ trợ sản xuất nông

nghiệp thời gian tới

136

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nông nghiệp, nông dân và nông thôn luôn là những vấn đề thu hút sự quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam Xuất phát từ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nền tảng của vấn đề dân tộc là vấn đề nông dân … Nền tảng của cách mạng dân chủ cũng

là vấn đề nông dân … Muốn kháng chiến hoàn toàn thắng lợi, dân chủ nhân dân thật thà thực hiện, thì phải thiết thực nâng cao quyền lợi kinh tế và chính trị của nông dân…”1, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chủ trương và chính sách lớn nhằm hỗ trợ phát triển nông nghiệp với tư cách là cơ sở kinh

tế chủ yếu để không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân và nông thôn Những chủ trương chính sách hỗ trợ nông nghiệp ở nước

ta đã mang lại những hiệu quả tích cực to lớn đối với nông dân và nông thôn nước ta, đặc biệt kể từ sau đổi mới

Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5-8-2008 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã chỉ rõ những thành tựu chủ yếu của các chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp (SXNN) trong quá trình đổi mới như: nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng sản xuất hàng hoá (SXHH); năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp được nâng cao không ngừng, tạo cơ sở đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia; một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị thế cao trên thị trường thế giới; kinh tế nông thôn đã có bước chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề; các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổi mới; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường; đời sống vật chất và tinh thần của dân cư ở hầu hết các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện; công tác xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả to lớn, hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường,

an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, vị thế chính trị của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao

Bên cạnh đó Hội nghị cũng chỉ ra những hạn chế vướng mắc đang tồn tại trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta ngày nay như,

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, H.2000, Nxb CTQG, t.7, tr.16-17

Trang 7

những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu, chuyển giao khoa học-công nghệ (KH-CN) và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh SXHH Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, tỉ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu, nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc

Những hạn chế, yếu kém trên đòi hỏi phải tiếp tục có chính sách hỗ trợ đối với SXNN Tuy nhiên trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), những cam kết trong WTO về nông nghiệp không cho phép thực hiện nhiều hình thức hỗ trợ đã được thực hiện trước đây, đặc biệt là các chính sách trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp khuyến khích đầu tư nội địa hóa … cùng với sức ép cạnh tranh quốc tế về hàng hóa nông sản đang có xu hướng tăng dần Hội nhập đã đặt ra nhiều vấn

đề cần phải giải quyết về mặt lý luận cũng như thực tiễn như:

Những chính sách hỗ trợ SXNN như thế nào thì được coi là không vi phạm cam kết về nông nghiệp trong WTO?

Các chính sách hỗ trợ SXNN phù hợp với quy định của WTO có tác động như thế nào tới SXNN và tới nông dân với tư cách là chủ thể chủ yếu của hoạt động đó?

Làm thế nào để xây dựng được các chính sách hỗ trợ SXNN vừa không vi phạm các cam kết gia nhập WTO, vừa thúc đẩy sự phát triển của nền nông nghiệp nước ta theo hướng hiệu quả, bền vững …

Việc hoạch định và thực thi những chính sách hỗ trợ SXNN có hiệu quả phù hợp với thông lệ quốc tế đòi hỏi phải tiếp tục đào sâu nhận thức về

vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay cùng với các

Trang 8

cam kết hội nhập về nông nghiệp, từ đó hình thành một cách có hệ thống các quan điểm lý luận về phát triển nông nghiệp tạo cơ sở khoa học cho việc xây dựng và thực thi những cơ chế, chính sách và giải pháp hỗ trợ SXNN nước

ta thời gian tới Từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn vấn đề “Chính sách

hỗ trợ SXNN ở nước ta trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài

nghiên cứu khoa học cấp Bộ tuyển thầu năm 2009 theo Thông báo của Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Về chính sách hỗ trợ SXNN nói chung và chính sách hỗ trợ SXNN trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng, đã có nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu

Học giả kinh tế Nga Pavlov P.N đề cập tới vấn đề hỗ trợ SXNN thông qua các chương trình quản lý điều tiết đối với tài nguyên đất đai và các chính sách khuyến khích bảo vệ môi trường trong SXNN

Nổi bật trong số các công trình nghiên cứu về chính sách hỗ trợ SXNN nói chung và đối với Việt Nam nói riêng là các báo cáo của các tổ chức quốc

tế do các nhóm chuyên gia trong và ngoài nước tham gia soạn thảo

Nhóm các tổ chức Liên Hợp Quốc tại Việt Nam trong Báo cáo “Hội

nhập kinh tế quốc tế, khả năng cạnh tranh và đời sống nông thôn ở Việt Nam” (2002) khuyến nghị các chính sách hỗ trợ đối với mỗi mặt hàng nông

nghiệp xuất khẩu chủ chốt Hafiz A.Pasha và T.Planivel trong tác phẩm

“Chính sách và tăng trưởng vì người nghèo: Kinh nghiệm Châu Á” (2004)

cho rằng cần tăng chi tiêu công cho kinh tế nông thôn, nông dân để đa dạng hoá sản phẩm, cải cách chế độ thương mại và tiếp thị trong nước giúp cho việc giá cả nông sản được cải thiện

Theo họ, chính sách thúc đẩy phát triển nông nghiệp cần phải tập trung vào những điểm chủ yếu:

Thứ nhất, đa dạng hoá nông nghiệp theo hướng SXHH nông nghiệp

sử dụng nhiều lao động và có giá trị cao

Thứ hai, phát triển các doanh nghiệp nông thôn vừa và nhỏ về chế

biến nông sản và cung cấp đầu vào nông nghiệp, mở rộng tiếp cận tín dụng nông thôn cho cả hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp

Trang 9

Thứ ba, đặt ưu tiên cao hơn về phân bổ nguồn lực công vào phát triển

nông thôn; đầu tư vào đường, thuỷ lợi, điện khí hoá bản làng, nghiên cứu phát triển nông nghiệp, và khuyến nông có ảnh hưởng lớn nhất tới năng suất nông nghiệp

Thứ tư, tập trung phân bổ lại tài sản cho người nghèo thông qua chính

sách ruộng đất và các chương trình tín dụng vi mô nông thôn

Báo cáo của Oxfam Quốc tế, tháng 10-2004 “Gia nhập WTO: Liệu

Việt Nam có giành được những điều kiện có lợi cho phát triển?” cho rằng,

Việt Nam không những có thể sử dụng các hình thức và định mức hỗ trợ SXNN theo quy tắc de minimis là các nước đang phát triển được phép sử dụng tới 10 phần trăm giá trị sản xuất cho trợ cấp (trừ phần thanh toán theo

“hộp xanh” không định mức trần, và những trợ cấp cho nông dân nghèo thu nhập thấp và thiếu nguồn lực, không nằm trong các cam kết cắt giảm), mà còn có thể sử dụng những hình thức hỗ trợ nội địa khác có lợi cho nông dân thu nhập thấp và thiếu nguồn lực mà không có tác động làm biến dạng thương mại

Báo cáo “Việt Nam - Thúc đẩy Công Cuộc Phát triển Nông thôn - Từ

Viễn cảnh tới Hành động” do nhóm cán bộ của Ngân hàng Thế giới (WB)

soạn thảo năm 2005 đặc biệt nhấn mạnh đến đa dạng hóa nông nghiệp, cho rằng hỗ trợ cho người SXNN có thể chia thành 3 dạng:

Một là, áp đặt thuế nhập khẩu và giới hạn nhập khẩu, việc này làm

tăng giá trong nước (người tiêu dùng gánh chịu);

Hai là, hỗ trợ xuất khẩu (người dân đóng thuế gánh chịu),

Ba là, bao cấp cho người nông dân cả đầu vào và đầu ra (người dân

đóng thuế gánh chịu)

Kinh nghiệm từ khu vực Đông Á cho thấy những chính sách hỗ trợ nông nghiệp trung lập đối với các loại cây trồng sẽ giúp giảm chi ngân sách của chính phủ và thúc đẩy đa dạng hoá bền vững theo nhu cầu thị trường, tập trung vào chức năng dịch vụ công như xây dựng chính sách, các chức năng quản lý, kiểm soát và đánh giá Hỗ trợ sản xuất như nghiên cứu, khuyến nông, cơ sở hạ tầng công cộng, và tiếp thị là quan trọng và hợp lý; cần phải đảm bảo rằng ba trụ cột then chốt của phát triển nông thôn (định hướng thị

Trang 10

trường, quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững, tham gia và trao quyền cho cộng đồng) được lồng ghép với nhau trong tất cả các chương trình và dự án

Đa dạng hóa nông nghiệp hiệu quả có thể là một sợi chỉ đỏ liên kết ba yếu tố then chốt này Sự hỗ trợ của Ngân hàng dành cho Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn rất quan trọng và cần thiết trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO Các vấn đề cần được quan tâm là: Tăng cường các dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp; Phát triển thuỷ lợi nhỏ ở vùng miền núi và trung du; Công nghệ nông nghiệp; Quản lý thủy lợi; Quản lý đất đai; Ngư nghiệp và nuôi trồng thủy sản; Phát triển ngành chăn nuôi, và Phát triển ngành lâm nghiệp

Báo cáo phát triển Việt Nam 2007 của Ngân hàng thế giới “Hướng

đến tầm cao mới” nêu ra yêu cầu nâng cao chất lượng nông sản như cải thiện

an toàn vệ sinh thực phẩm, thú y, bảo vệ thực vật trước xu thế gia tăng nhu cầu của thị trường thế giới về hàng hóa nông sản có giá trị và chất lượng cao Để có được nâng cao chất lượng nông sản phải có hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp nông thôn và đặc biệt là kết cấu hạ tầng thương mại hiện đại cho hàng hóa nông sản, do đó hỗ trợ cho nông nghiệp là cần thiết Trong điều kiện phải xóa bỏ các hình thức trợ cấp khuyến khích đầu tư cho xuất khẩu theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam cần sử dụng tốt các hình thức

hỗ trợ đầu vào được phép trong hạn định như hỗ trợ về giống cây trồng, vật nuôi, hỗ trợ về dịch vụ công, đồng thời tăng cường các hình thức hỗ trợ không bị hạn chế như kiểm soát bệnh tật, hỗ trợ về kết cấu hạ tầng theo từng mặt hàng

Trong Báo cáo Phát triển Thế giới 2008 với tiêu đề “Tăng cường

Nông nghiệp cho Phát triển”, được Ngân hàng Thế giới (WB) và Bộ Nông

nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) chính thức công bố ngày 12-2007 tại Hà Nội nhận định rằng, đầu tư nhiều hơn vào nông nghiệp tại các nền kinh tế đang chuyển đổi, bao gồm cả Việt Nam, sẽ quyết định lợi ích của nông dân nghèo sống ở những nước này

11-Bản tổng hợp khuyến nghị chính sách (PAB) số 7 “Chính sách phát

triển nông thôn mới” của tác giả Jan Rudengre thuộc Chương trình hỗ trợ

quốc tế ISG ngày 8-1-2008 có đề xuất các giải pháp về tài chính cho phát triển nông thôn như phân bổ tài chính nhiều hơn cho phát triển nông thôn và

Trang 11

kêu gọi sự hỗ trợ hơn nữa từ các nhà tài trợ, đầu tư và quan tâm nhiều hơn nữa đối với duy tu và bảo dưỡng các công trình, đặc biệt là các công trình thủy lợi do miễn thuỷ lợi phí, quan tâm hợp lý tới tài chính cho công tác nghiên cứu, phát triển và marketing

Nhìn chung các công trình kể trên đều tập trung vào luận giải những khó khăn, thách thức mà nông nghiệp Việt Nam đang và sẽ phải đối mặt khi thực hiện các quy định của WTO về nông nghiệp Tuy nhiên, các báo cáo này cũng chỉ rõ những hình thức hỗ trợ có thể và cần phải tiếp tục thực hiện để thúc đẩy

sự phát triển của nông nghiệp Việt Nam trong xu thế tiếp tục hội nhập

Các công trình nghiên cứu của Việt Nam về chính sách hỗ trợ SXNN trong hội nhập kinh tế quốc tế cũng xuất hiện khá nhiều trong những năm gần đây dưới dạng tài liệu hội thảo, báo cáo và bài viết

Hội thảo khu vực Tây Bắc được hỗ trợ bởi SNV Việt Nam, Veco,

Oxfam Anh “Ảnh hưởng có thể của WTO đến sản phẩm nông nghiệp vùng

Tây Bắc, Việt Nam” ngày 12-5-2004, cho rằng nên sử dụng các hình thức hỗ

trợ nông nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế như chương trình nâng cao chất lượng giống, vật nuôi, cây trồng, hỗ trợ vật tư, thuốc thú y, bảo vệ thực vật, nâng cao năng suất, hạ giá thành đồng thời phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp phát triển nông thôn thông tin thương mại

Chính sách khuyến khích tiêu thụ hàng nông sản của chính phủ thông qua các hợp đồng của chính phủ Hỗ trợ cho nông dân về: phát triển cơ sở hạ tầng (đường, trụ sở công cộng, máy móc và trang thiết bị); tiếp cận tín dụng

và giống; cơ chế, chính sách ưu tiên về đất đai, trợ giá, trợ cước phí vận chuyển; lưu thông và phân phối hàng hoá; chuyển giao công nghệ và nghiên cứu phát triển; chế biến nông sản (bao gồm cả vấn đề bảo quản sau thu hoạch); nâng cao năng lực và đào tạo cho nông dân; tìm kiếm thị trường cho các sản phẩm về khía cạnh cung và cầu

“Báo cáo tình hình thực hiện chương trình hành động hội nhập kinh tế

quốc tế ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn” của Bộ NN&PTNT

ngày 28-5-2007 đã đề xuất nhanh chóng xây dựng chính sách trợ cấp nông sản theo hướng sử dụng tối đa các hình thức hỗ trợ như trợ cấp nhằm giảm chi phí tiếp thị xuất khẩu nông sản; chi phí vận chuyển nội địa, nâng chất

Trang 12

lượng nông sản; trợ cấp thuộc hộp hổ phách: 10% giá trị sản lượng nông nghiệp; khoản bảo trợ 4000 tỷ/đồng năm có trước khi gia nhập; trợ cấp Hộp xanh: Thuỷ lợi, tiện nghi thị trường, nghiên cứu, đào tạo, khuyến nông Kiểm soát dịch bệnh, môi trường, an ninh lương thực, an toàn thực phẩm, chuyển dịch cơ cấu v.v… Đẩy mạnh việc áp dụng các tiêu chuẩn quy trình của quốc tế và khu vực về chất lượng, an toàn thực phẩm, đầu tư ưu tiên cho ứng dụng công nghệ mới

Các bài viết đăng trên các tạp chí cũng rất đa dạng, đề cập tới nhiều phương diện của chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp trong hội nhập kinh

tế quốc tế Tác giả Lại Ngọc Hải (2007), trong bài “Tam nông” trong thực

hiện các cam kết WTO” đăng trên Website của Đảng Cộng sản Việt Nam

ngày 18-4-2007 đã nêu ra những biện pháp để phát triển nông nghiệp, kinh

tế nông thôn và cải thiện đời sống nông dân trong quá trình thực hiện các cam kết WTO như:

Một là, nghiên cứu xây dựng một chính sách “cả gói” giải quyết vấn

đề “tam nông” phù hợp với điều kiện Việt Nam trong khuôn khổ thực hiện các cam kết WTO

Hai là, có biện pháp tích cực và quyết liệt nhằm khắc phục cách nghĩ,

cách làm, cách sống của người “tiểu nông” trong quá trình hội nhập

Ba là, phát huy vai trò quản ký của nhà nước, tranh thủ thời gian để

thay đổi những tập quán sản xuất, kinh doanh không phù hợp với xu hướng hội nhập

Bốn là, khai thác tối đa những ưu đãi của WTO đối với các nước

thành viên thuộc diện đang phát triển để nông nghiệp, nông thôn và nông dân hội nhập có hiệu quả

Một số tác giả nghiên cứu về vòng đàm phán Doha theo phương diện những khó khăn trong đàm phán và thách thức đối với các nước đang phát

triển như Đỗ Phương Anh “Nông nghiệp trong vòng đàm phán Doha: Câu

hỏi chưa có lời giải đáp” (Tạp chí Tài chính, số 504/10-2006, tr.51-52); Võ

Trí Thành, Nguyễn Anh Tú “Một số vấn đề và thách thức của vòng đàm

phán Doha đối với các nước đang phát triển” (Tạp chí Những vấn đề kinh tế

thế giới, số 11, 2005, tr.13-21); Bùi Thanh Hải “Vòng đàm phán Doha: Các

Trang 13

nội dung về cắt giảm thuế quan và tác động đối với Việt Nam” (Tạp chí Tài

chính số 511/5-2007, tr.49-52); Lê Thanh Lâm (2007), “Đàm phán nông

nghiệp trong vòng đàm phán Doha: thực trạng và nguyên nhân”

(http://www.nciec.gov.vn)

Nhiều tác giả tiếp cận tới nghiên cứu các chính sách hỗ trợ SXNN

trong điều kiện của WTO như Chu Ngọc Sơn “Một số khuyến nghị về chính

sách thương mại nông nghiệp trong quá trình gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của nông nghiệp Việt Nam” (Tạp chí Nông nghiệp và phát

triển nông thôn 2005, số 8, tr.19-25); Thu Trang “Miễn thủy lợi phí như thế

nào” (Tạp chí Tài chính số 504, 10-2006, tr.24-26); Hà Ngọc (2006), “Luật WTO không cấm tất cả các loại trợ cấp” (http://www.agroviet.gov.vn); Ngô

Văn Khoa “Giải pháp tài chính bảo hộ nông sản” (Tạp chí Tài chính, số

510, 4/2007, tr.17-19); Lã Văn Lý “Giảm các khoản đóng góp của nông dân

thời gian tới” (Tạp chí Tài chính, số 513, 7-2007, tr.9-10)

Một số tác giả nghiên cứu về kinh nghiệm hỗ trợ SXNN của một số

quốc gia trên thế giới như Võ Đại Lược (chủ biên) (2004), “Trung Quốc gia

nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) - thời cơ và thách thức” (H., Nxb

Khoa học xã hội, 803tr); Nguyễn Thị Liên, Tôn Thu Hiền “Chính sách hỗ

trợ nông nghiệp của một số nước và bài học đối với Việt Nam” (Tạp chí

Thuế nhà nước 2006, số 14, tr.25-27); Nguyễn Văn Thanh (2007), “Thành

viên WTO thứ 150: Bài học từ các nước đi trước” Sách tham khảo (-H.,

Chính trị Quốc gia, 198 tr); “Nông nghiệp và nông thôn Trung Quốc hội

nhập quốc tế” (2006), (http://www.agroviet.gov.vn)

Các công trình kể trên đều đề cập tới chính sách hỗ trợ SXNN theo những phương diện đánh giá nhất định, trong đó vấn đề chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp thường được nghiên cứu với tư cách là vấn đề có liên quan Cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về chính sách hỗ trợ SXNN của nước ta trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế một cách có

hệ thống, đặc biệt chưa có công trình nào đánh giá nghiên cứu sâu sắc về sự phù hợp của các chính sách hỗ trợ SXNN hiện hành sơ với các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, đồng thời vấn đề làm thế nào để chính sách hỗ trợ

Trang 14

SXNN ở nước ta trong thời gian tới vừa không vi phạm các quy định của WTO, vừa tác động có hiệu quả tới phát triển nông nghiệp bền vững

3 Mục tiêu của đề tài

Phân tích, đánh giá mức độ phù hợp của các chính sách hỗ trợ SXNN

ở nước ta thời gian qua so với yêu cầu của thông lệ quốc tế, đặc biệt là các quy định của WTO, đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các chính sách hỗ trợ SXNN ở nước ta theo hướng vừa phù hợp với các cam kết quốc tế, vừa thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp hiện đại, tạo cơ sở bền vững cho giải quyết vấn đề nông dân và nông thôn trong thời gian tới, đặc biệt là đến 2018 khi Việt Nam trở thành một quốc gia có nền kinh tế thị trường đầy đủ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Để đạt được mục tiêu đó, đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các chính sách hỗ trợ SXNN tương thích với các cam kết của Việt Nam trong WTO Phạm vi nghiên cứu của đề tài là một số chính sách, chương trình, dự

án hỗ trợ SXNN chủ yếu từ Đại hội IX (năm 2001) đến nay Đồng thời, đề tài đề xuất hệ thống quan điểm, giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các chính sách hỗ trợ SXNN đến năm 2020 phù hợp với các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

- Sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn;

- Sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, lôgíc kết hợp với lịch sử, tổng kết, đánh giá quá trình hình thành thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam;

- Kế thừa một cách có chọn lọc kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây và cập nhật những thông tin mới về chủ đề nghiên cứu

- Khảo sát thực tiễn, lấy ý kiến chuyên gia

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách hỗ trợ SXNN trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế;

Trang 15

- Phân tích việc thực hiện các chính sách hỗ trợ SXNN ở nước ta từ năm 2001 đến nay, đánh giá mức độ phù hợp của các chính sách đó so với các cam kết về hỗ trợ nông nghiệp trong WTO;

- Đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ SXNN thời gian tới

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài có kết cấu 3 chương, 8 tiết:

Chương1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách hỗ trợ SXNN trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 2: Thực trạng hỗ trợ SXNN ở Việt Nam thời gian qua

Chương 3: Quan điểm và giải pháp tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ SXNN trong hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ

SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN

HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1.1 CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ SXNN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1.1 Khái niệm chính sách hỗ trợ SXNN

Chính sách hỗ trợ SXNN thuộc loại hình chính sách kinh tế đặc thù của nhà nước, vì vậy nó vừa có những tính chất chung của chính sách kinh tế lại vừa mang những đặc điểm riêng Để hiểu rõ về khái niệm chính sách hỗ trợ SXNN, trước hết cần làm rõ các khái niệm chính sách, chính sách kinh tế

Cho đến nay, khái niệm chính sách được đề cập tới trong nhiều công

trình nghiên cứu khác nhau Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở, “Chính

sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường”1

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư của Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, chính sách là “những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ; được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tuỳ thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Muốn định ra chính sách đúng phải căn

cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, phải vừa giữ vững mục tiêu, phương hướng được xác định trong đường lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể”2

Trong Tập bài giảng Chính trị học dùng cho hệ cao cấp lý luận chính trị của Viện Khoa học chính trị thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc

gia Hồ Chí Minh (2004) đã nêu ra: “Chính sách là khái niệm chi phối sự

hiểu biết của chúng ta về việc thực thi quyền lực nhà nước”3 Theo ý kiến

1 http://vi.wikipedia.org

2 http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn

3 Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Khoa học chính trị (2004): Tập bài giảng Chính trị học

(Hệ cao cấp lý luận chính trị), Nxb Lý luận chính trị, H.,tr.234

Trang 17

của tác giả cuốn sách này, “Cần phân biệt ba khái niệm: đường lối, chính sách và biện pháp Đường lối bao gồm những nguyên tắc và định hướng phát triển chung nhất Chính sách là cụ thể hóa và thể chế hóa của đường lối Các biện pháp là cụ thể hóa của chính sách, thường có ý nghĩa là các hành động thực tiễn Chính sách theo nghĩa rộng có thể bao gồm cả ba cấp độ trên”1

Từ những quan niệm kể trên về chính sách có thể nhận thức rằng, chính sách là phạm trù gắn bó chặt chẽ với quyền lực nhà nước và việc thực thi những quyền lực đó Chính sách thể hiện sự tác động của nhà nước tới xã hội nói chung hoặc tới một bộ phận nào đó của xã hội nói riêng, dựa trên những quan điểm, nguyên tắc, bằng những hình thức, biện pháp nhất định nhằm giải quyết những mối quan hệ xã hội nào đó với những mục tiêu đã xác định trong từng điều kiện lịch sử cụ thể Trong đề tài này, khái niệm chính sách được sử dụng theo nghĩa là hệ thống những công cụ, biện pháp

mà nhà nước sử dụng để tác động vào xã hội nhằm thay đổi những nhóm quan hệ xã hội nào đó trong những điều kiện lịch sử cụ thể nhất định

Theo định nghĩa trên, chính sách là phạm trù thuộc về hành động chủ quan phụ thuộc vào ý chí của nhà nước Tuy nhiên, mục tiêu tạo ra những biến đổi nhất định trong quan hệ xã hội của chính sách chỉ có thể đạt được hiệu quả khi bản thân chính sách có nội dung phù hợp với sự vận động khách quan của những quan hệ xã hội đó, do vậy bên cạnh tính chủ quan, chính sách luôn cần dựa trên cơ sở khách quan là hoạt động của các quy luật khách quan vốn có của xã hội nói chung cũng như của từng lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội nói riêng

Xuất phát từ tính chủ quan của chính sách với tư cách là tác động của một nhà nước cụ thể, trong điều kiện xã hội có giai cấp, chính sách luôn mang bản chất giai cấp, được hoạch định và thực thi trên cơ sở những lợi ích nhất định của giai cấp cầm quyền, do vậy thông thường khi giai cấp cầm quyền đại diện cho tiến bộ xã hội thì các chính sách của nhà nước đại điện cho những lợi ích đó cũng mang tính tiến bộ, có tác động đẩy nhanh sự phát triển của xã hội Ngược lại, khi giai cấp cầm quyền đã trở thành lỗi thời thì

1 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Khoa học chính trị (2004): Tập bài giảng Chính trị học

(Hệ cao cấp lý luận chính trị), Nxb Lý luận chính trị, H., tr.234-235

Trang 18

các chính sách của nhà nước đại diện cho lợi ích của giai cấp cầm quyền có thể trở thành vật cản đối với sự phát triển của xã hội Mặc dù vậy, với tư cách là hoạt động chủ quan của nhà nước với những mục tiêu xác định, trong những điều kiện lịch sử cụ thể, để duy trì và củng cố địa vị thống trị của mình, giai cấp cầm quyền có thể thông qua nhà nước thực hiện những chính sách có tác động thúc đẩy sự phát triển của xã hội trong những chừng mực nhất định

Tùy theo hình thức, biện pháp được sử dụng và đối tượng, lĩnh vực cần phải tác động cũng như mục tiêu cần đạt được, chính sách được phân chia thành nhiều loại Theo cấp độ chủ thể tác động có thể phân thành chính sách quốc gia, chính sách địa phương Theo lĩnh tác động có thể phân biệt các loại chính sách như chính sách kinh tế, chính sách xã hội, chính sách đối ngoại, chính sách dân tộc Từ đó có thể hiểu chính sách kinh tế là loại hình hay bộ phận cấu thành của hệ thống chính sách của nhà nước

Khái niệm chính sách kinh tế đã được đề cập tới với nhiều phương diện khác nhau Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở, “Chính sách kinh tế đề cập đến các hành động của chính phủ áp dụng vào lĩnh vực kinh tế Chính sách kinh tế thường bị chi phối từ các chính đảng, nhóm lợi ích có quyền lực trong nước, các cơ quan quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế, WB hay WTO Chính sách kinh tế bao gồm một số loại chủ yếu, đó là: chính sách kinh tế vĩ

mô, chính sách điều tiết hoạt động kinh tế, chính sách kinh tế đối ngoại và chính sách phát triển kinh tế”1

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư của Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, chính sách kinh

tế là “chính sách và biện pháp kinh tế mà nhà nước áp dụng trong một giai đoạn, một thời kì lịch sử, nhằm đạt được những yêu cầu và những mục tiêu kinh tế, chính trị nhất định Chính sách có thể mang tính chất đường lối, chiến lược lâu dài, có thể mang tính chất sách lược ngắn hạn Chính sách kinh tế được xây dựng trên cơ sở những điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước và những xu hướng phát triển của xã hội Ở Việt Nam, chính sách kinh

tế hiện nay của Nhà nước là xây dựng nền kinh tế SXHH nhiều thành phần

1 http://vi.wikipedia.org

Trang 19

phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước, nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, xây dựng một nền kinh tế phát triển với cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ mở rộng và hợp tác kinh tế quốc tế; xây dựng nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH)”1

Theo từ điển Bách khoa toàn thư của Nga, chính sách kinh tế là hệ thống những biện pháp kinh tế được thực thi bởi nhà nước trên cơ sở lợi ích của giai cấp thống trị trong các hình thái kinh tế-xã hội trước chủ nghĩa xã hội

và trên cơ sở lợi ích của toàn xã hội trong chủ nghĩa xã hội (CNXH) Chính sách kinh tế là một lĩnh vực của khoa học kinh tế Nội dung xã hội, mục đích

và việc lựa chọn phương tiện để thực hiện chính sách kinh tế được quyết định bởi tính chất của chế độ xã hội, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất Với tư cách là yếu tố chính trị, chính sách cũng là sự biểu hiện tập trung của kinh tế, của phương thức sản xuất lịch sử nhất định Chính sách kinh tế được hoạch định và thực thi bởi chính đảng cầm quyền chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: cán cân lực lượng giai cấp, mức độ phát triển của đấu tranh giai cấp trong nước và quốc tế, tình trạng hòa bình hay chiến tranh 2

Theo Từ điển abc.informbureau, chính sách kinh tế là hệ thống những biện pháp, phương tiện và hình thức tác động của nhà nước tới các quá trình kinh tế-xã hội, thực hiện một kiểu chiến lược kinh tế này hay khác Cơ cấu phức tạp của nền kinh tế thị trường hiện đại đòi hỏi phải áp dụng những công cụ và mức độ chính sách kinh tế đa dạng Tùy thuộc vào mức độ phát triển của đất nước và tình hình kinh tế - xã hội cụ thể và trong sự phù hợp với chiến lược kinh tế đã được thông qua, có thể chú trọng sử dụng những biện pháp và hình thức chính sách kinh tế khác nhau như: chính sách tài chính ngân sách, chính sách thuế hay chính sách tiền tệ tín dụng3

Điểm chung của những quan niệm kể trên là đều khẳng định rằng, chính sách kinh tế là tác động của nhà nước tới lĩnh vực kinh tế bằng những hình thức, công cụ, biện pháp nhất định nhằm những mục tiêu xác định Do vậy, cũng như các chính sách khác của nhà nước, chính sách kinh tế vừa

1 http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn

2 Xem: http://www.cultinfo.ru

3 Xem: http://abc.informbureau.com

Trang 20

mang tính chủ quan, xuất phát từ yêu cầu đảm bảo lợi ích kinh tế, chính trị cho giai cấp cầm quyền, lại vừa phải dựa trên cơ sở khách quan nhất định

Cơ sở khách quan của chính sách kinh tế là hoạt động của các quy luật kinh

tế trong những điều kiện lịch sử cụ thể nhất định Trong điều kiện nền kinh

tế thị trường hiện đại, việc hoạch định và thực thi chính sách kinh tế cần phải dựa vào hoạt động của các quy luật thị trường như quy luật giá trị, cung cầu, cạnh tranh, lưu thông tiền tệ

Sự cần thiết khách quan của chính sách kinh tế trong quá trình phát triển của kinh tế thị trường xuất phát từ yêu cầu phải nhận thức khoa học về hoạt động của các quy luật thị trường để khắc phục những mặt trái mang tính

tự phát và phát huy những điểm mạnh của cơ chế thị trường đẩy nhanh phát triển kinh tế-xã hội Sự cần thiết khách quan của chính sách kinh tế xuất phát

từ sự cần thiết khách quan của sự điều tiết kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường, do vậy, trong nền kinh tế thị trường, chính sách kinh tế đồng thời thể hiện chức năng nhiệm vụ kinh tế của nhà nước

Ngày nay đã hình thành nhận thức chung tương đối thống nhất về sự cần thiết của vai trò kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường, tuy nhiên vẫn còn những quan điểm khác nhau về phạm vi và mức độ chức năng, vai trò của nhà nước Các nhà kinh tế theo trường phái trọng cầu đặc biệt coi trọng và nhấn mạnh vai trò kinh tế của nhà nước, cho rằng cần mở rộng phạm vi, tăng cường mức độ điều tiết kinh tế của nhà nước, trong khi các học giả theo chủ nghĩa tự do kinh tế mới lại cho rằng cần giảm thiểu sự điều tiết kinh tế của nhà nước, nhà nước chỉ nên có mặt vào những lúc, những nơi mà cơ chế thị trường không thể phát huy tác dụng tích cực và phải ngừng ngay sự can thiệp khi cơ chế thị trường có thể tự giải quyết được vấn

đề, nói cách khác vai trò kinh tế chủ yếu của nhà nước là hỗ trợ thị trường Quan điểm tương đối phổ biến ngày nay cho rằng, nền kinh tế thị trường ngày nay là nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, hay nền kinh

tế hỗn hợp, trong đó nhà nước dứt khóat phải thực hiện một số chức năng nhất định như đảm bảo ổn định chính trị, kinh tế, xã hội, thiết lập khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động kinh doanh, định hướng phát triển kinh tế-xã hội, đầu tư phát triển hệ thống dịch vụ xã hội căn bản, xóa đói giảm nghèo, đảm

Trang 21

bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, bảo vệ lợi ích quốc gia Để thực hiện những chức năng này nhà nước cần có những công cụ nhất định, trong

đó chính sách kinh tế là một trong những công cụ đặc biệt quan trọng

Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ chủ yếu trong chính sách kinh tế của các nước phát triển thường được xác định là tạo ra và đảm bảo lợi thế cạnh tranh của quốc gia trên thị trường quốc tế Để làm được điều đó, thông thường các chính phủ tập trung vào tạo lập những điều kiện thuận lợi cho kinh doanh, phát triển môi trường cạnh tranh, hỗ trợ khả năng cạnh tranh cho một số lĩnh vực khi do nguyên nhân nào đó các lợi thế đó chưa được thực hiện theo cơ chế thị trường tự do cạnh tranh Để thực hiện nhiệm vụ này cần

có hệ thống biện pháp đồng bộ trong chính sách kinh tế như chính sách tài chính ngân sách, tiền tệ tín dụng, chống độc quyền, KH - CN, thúc đẩy sáng tạo, môi trường 1

Một trong những lĩnh vực của nền kinh tế đang thu hút sự quan tâm lớn của các nhà hoạch định chính sách kinh tế là SXNN Trình độ phát triển hiện tại của lĩnh vực nông nghiệp, sự cần thiết phải hoàn thiện cơ cấu kinh tế nông nghiệp, sự gia tăng mức độ căng thẳng của các mâu thuẫn xã hội trong nông nghiệp, nông thôn, đã dẫn tới cần thiết phải có sự điều tiết của nhà nước đối với sản xuất kinh doanh nông nghiệp Các cơ quan chính quyền nhiều khi phải can thiệp điều tiết giá cả nông sản, thiết lập mức giá sàn để đảm bảo thực hiện sản xuất bình thường trong phạm vi nhu cầu xã hội và cung cấp tín dụng nhà nước Việc sử dụng tín dụng ưu đãi khi nhà nước chịu một phần lãi suất hoặc cung cấp tín dụng nhà nước với lãi suất ưu đãi (theo thông lệ không quá 5%) đã trở thành phổ biến ở nhiều quốc gia Nhà nước thực hiện trợ cấp cho các hoạt động hiện đại hóa trong nông nghiệp cũng như những lĩnh vực kinh doanh nông nghiệp khác, xây dựng, nâng cấp, phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn (kho trữ nông sản, hệ thống giao thông Nhà nước tham gia điều tiết quan hệ sở hữu và sử dụng đất nông nghiệp, thực hiện biện pháp cắt giảm sản lượng một số loại nông sản bằng cách thu hẹp diện tích sản xuất, chi trả trợ cấp hưu trí cho nông dân Như vậy, trong

1 http://abc.informbureau.com

Trang 22

điều kiện ngày nay, nhà nước tại các quốc gia đang thực hiện những chính sách nông nghiệp nhất định

Trên thế giới ngày nay có nhiều quan niệm khác nhau về chính sách

nông nghiệp Theo từ điển Finam.ru, chính sách nông nghiệp là quan điểm

chiến lược của nhà nước hướng tới nâng cao hiệu quả SXNN và bảo vệ lợi ích kinh tế của các đại biểu lĩnh vực nông nghiệp1

Theo Jakovlev A.P (2002), chính sách nông nghiệp là tổng thể những nguyên tắc và công cụ mà nhà nước sử dụng để thực hiện những mục tiêu đặt ra trong ngắn hạn và dài hạn là thỏa mãn nhu cầu của dân cư về lương thực tương ứng với chất lượng nhất định và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp Sự lựa chọn chiến lược của chính sách nông nghiệp dựa trên cơ sở

so sánh hiệu quả và chi phí của các mô hình, giải pháp cụ thể Chiến lược chính sách nông nghiệp có thể hướng tới tạo động lực để thay đổi hành vi chủ thể hoặc trợ cấp Chính sách nông nghiệp là chính sách hướng tới sự phát triển ổn định và hiệu quả không những của SXNN, mà cả những thành

tố khác của cơ cấu kinh doanh nông nghiệp, trên cơ sở đó đảm bảo nâng cao mức sống của dân cư và tiến bộ xã hội trong đất nước Trong chính sách nông nghiệp, sự quan tâm chủ yếu được dành cho những kết quả hoạt động sản xuất cuối cùng ngày càng cao trong toàn bộ kinh doanh nông nghiệp, đảm bảo tốc độ tăng trưởng ổn định, nâng cao hiệu quả và sự phát triển xã hội ở nông thôn2

Theo giáo trình “Nhập môn lý thuyết kinh tế” (1997) của Học viện

Kinh tế Nga Plekhanov, việc phân tách chính sách nông nghiệp với tư cách

là lĩnh vực tương đối độc lập trong chính sách kinh tế chung của nhà nước xuất phát từ những đặc thù của SXNN và để điều tiết quan hệ SXNN Trong chính sách nông nghiệp sự quan tâm chủ yếu là đạt được kết quả cuối cùng ngày càng cao hơn trong SXNN cũng như kinh doanh nông nghiệp, đảm bảo tăng trưởng ổn định và nâng cao hiệu quả sản xuất đồng thời thúc đẩy phát triển xã hội ở nông thôn3

Trang 23

Theo tiêu chí chủ quan, chính sách nông nghiệp có thể phân thành chính sách hỗ trợ người tiêu dùng và chính sách hỗ trợ người sản xuất Nhóm chính sách thứ nhất hướng tới giảm giá đồng thời tăng cung nông sản trên thị trường nội địa Thông thường, tại các nước đang phát triển áp dụng chương trình mục tiêu chi trả trợ cấp lương thực cho các tầng lớp dân cư có thu nhập thấp, thực hiện sự can thiệp của nhà nước vào thị trường hàng hóa, thiết lập trợ cấp nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu bằng thuế và hạn ngạch Chính sách

hỗ trợ người sản xuất hướng tới nâng cao hiệu quả SXNN dựa vào tăng giá nông sản hoặc giảm chi phí sản xuất bằng cách trợ cấp trực tiếp1

Từ những quan niệm kể trên có thể rút ra, chính sách nông nghiệp là

bộ phận của hệ thống chính sách kinh tế của nhà nước, thể hiện tác động của nhà nước tới lĩnh vực nông nghiệp Trong điều kiện ngày nay, nông nghiệp, nông thôn, nông dân là lĩnh vực đặc biệt quan trọng của đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, sự ổn định trong lĩnh vực này là tiền đề cho sự ổn định của toàn xã hội, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Cho nên chính sách nông nghiệp tại mọi quốc gia ngày nay đều chủ yếu hướng vào hỗ trợ đảm bảo sức cạnh tranh của sản xuất nông nghiệp thông qua các hình thức, công cụ và biện pháp nhất định Từ đây, trong đề

tài này khái niệm chính sách hỗ trợ SXNN được sử dụng theo nghĩa là bộ

phận chính sách kinh tế của nhà nước, bao gồm tổng thể các hình thức, công

cụ và biện pháp dựa trên những quan điểm nhất định mà nhà nước sử dụng

để tạo thuận lợi cho SXNN trong phạm vi quốc gia nhằm đảm bảo cho nông nghiệp phát triển ổn định, hiệu quả trước sức ép cạnh tranh kinh tế quốc tế

1.1.2 Cơ sở hình thành chính sách hỗ trợ SXNN

Chính sách hỗ trợ SXNN được hoạch địch và thực thi tại các quốc gia nhằm mục tiêu thúc đẩy SXNN phát triển, từ đó tạo thuận lợi cho giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh quốc phòng

Do đó, cơ sở hình thành chính sách hỗ trợ SXNN là vai trò đặc biệt quan trọng của nông nghiệp trong phát triển kinh tế xã hội Bên cạnh đó, để các chính sách hỗ trợ có thể đạt được mục tiêu như trên cần tính tới tính đặc thù

1 http://www.lib.ua-ru.net

Trang 24

của SXNN so với các ngành kinh tế khác Đồng thời, với tư cách là phạm trù thuộc về hoạt động của nhà nước, chính sách hỗ trợ nông nghiệp trong từng thời kỳ phát triển phụ thuộc rất lớn vào nhận thức và thực thi vai trò kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường và đối với SXNN, cùng với yêu cầu không ngừng nâng cao đời sống, vị thế của nông dân và phát triển nông thôn theo hướng văn minh hiện đại

Thứ nhất, vai trò của nông nghiệp đối với phát triển kinh tế - xã hội:

Nông nghiệp là ngành sản xuất mà sản phẩm chủ yếu là nông sản, do đó vai trò của nông nghiệp đối với phát triển kinh tế - xã hội được thể hiện rõ thông qua các chức năng:

Một là, cung cấp lương thực, thực phẩm để nuôi sống xã hội Ngay từ

khi xã hội loài người mới hình thành, SXNN đã trở thành hoạt động kinh tế đầu tiên có tính xã hội, thể hiện văn minh nhân loại trong sự khác biệt với bộ phận còn lại của thế giới Nhờ sự hình thành và phát triển của SXNN mà loài người có thể duy trì và nâng cao được được đời sống của mình Kế thừa quan niệm duy vật về lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Muốn nâng cao đời sống của nhân dân thì trước hết phải giải quyết tốt vấn đề ăn (rồi đến vấn đề mặc và các vấn đề khác) Muốn giải quyết tốt vấn đề ăn thì phải làm thế nào cho có đầy đủ lương thực Mà lương thực là do nông nghiệp sản xuất ra Vì vậy, phát triển nông nghiệp là việc cực kỳ quan trọng”1

Trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, sự phát triển của nông nghiệp đã tạo ra và không ngừng củng cố, phát triển cơ sở của đời sống xã hội Mặc dù nông nghiệp ngày nay đã có bước phát triển vượt bậc nhờ nghiên cứu và ứng dụng KH-CN hiện đại, tuy nhiên việc ứng dụng những tiến bộ KH-CN để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của SXNN mới chỉ chủ yếu được thực hiện tại các quốc gia phát triển, còn tại các quốc gia đang phát triển thì thực trạng phát triển nông nghiệp nhìn chung vẫn đang trong trình độ rất thấp do nhiều nguyên nhân như thiếu vốn, công nghệ, nhân lực chất lượng cao, thị trường tiêu thụ nông sản , do đó, đói, nghèo vẫn đang là vấn đề vô cùng bức xúc đối với nhân loại nói chung và đặc biệt là

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.2000, t.10, tr.545

Trang 25

các quốc gia đang phát triển nói riêng, từ đó phát triển nông nghiệp với tư cách là ngành cung cấp lương thực, thực phẩm nuôi sống con người, tạo cơ

sở cho việc nâng cao đời sống của dân cư vẫn đang là thách thức lớn Thực

tế cho thấy, để giải quyết được vấn đề này ngoài việc dựa vào những năng lực nội sinh của ngành nông nghiệp, rất cần tới sự hỗ trợ của các chủ thể khác, đặc biệt là nhà nước thông qua các chính sách hỗ trợ SXNN Chủ tich

Hồ Chí Minh đã nhắc nhở rằng, “Từ Phủ Thủ tướng đến Ban công tác nông thôn của Đảng, đến các Bộ Nông nghiệp, Thuỷ lợi, Lâm nghiệp, Công nghiệp, Thương nghiệp, Tài chính, Ngân hàng, v.v đều phải có kế hoạch phục vụ nông nghiệp, giúp nông dân, hợp tác xã (HTX) phát triển sản xuất”1

Tại Việt Nam trong những năm qua, nông nghiệp đã góp phần rất lớn vào thực hiện mục tiêu đảm bảo nguồn lương thực, thực phẩm cho đất nước, nhờ đó đời sống của nhân dân được ổn định và không ngừng được nâng cao

Kể từ sau đổi mới 1986, những thành tựu về phát triển nông nghiệp đã cho phép nước ta chuyển từ quốc gia nhập khẩu lương thực sang xuất khẩu với khối lượng và kim ngạch ngày càng tăng Nhờ đó, về cơ bản đã xóa được đói

và từng bước giảm nghèo tại từng địa phương nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung theo hướng bền vững Những thành tựu về phát triển nông nghiệp không những cho phép đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, mà còn trực tiếp nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nông dân

Tại hầu hết các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam, nông dân đang chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng dân số và luôn là lực lượng kinh tế, chính trị đặc biệt quan trọng Việc thúc đẩy SXNN là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho nông dân thực hiện được hoạt động sản xuất chủ yếu và thực hiện lợi ích kinh tế của mình, do đó ở nước ta, các chính sách hỗ trợ nông nghiệp có tác dụng thúc đẩy SXNN phát triển phải được coi là công cụ đặc biệt quan trọng của giai cấp công nhân và nhà nước của dân, do dân và vì dân để tạo cơ sở kinh tế và chính trị vững chắc cho củng cố liên minh công -nông, từ đó đảm bảo ổn định chính trị, kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng cho sự phát triển của đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.2000, t.10, tr.414

Trang 26

Hai là, sự phát triển của nông nghiệp tạo cơ sở cho sự phát triển của

các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân Lịch sử phát triển kinh tế của nhân loại cho thấy, loài người bắt đầu hoạt động sản xuất vật chất đầu tiên mang tính phổ biến từ lĩnh vực nông nghiệp Chính sự phát triển của nông nghiệp đã tạo ra điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho sự phát triển của phân công lao động xã hội và cuộc phân công lao động lớn lần thứ nhất

đã diễn ra ngay trong SXNN với sự phân tách nông nghiệp thành hai tiểu ngành lớn là trồng trọt và chăn nuôi Nhờ sự phát triển của phân công lao động xã hội trong nông nghiệp, năng suất lao động nông nghiệp không ngừng tăng lên, cho phép giải phóng và cung cấp nguồn lực để tiếp tục đẩy nhanh sự phát triển của phân công lao động xã hội và sự hình thành, phát triển các ngành kinh tế khác Trong lịch sử nhân loại, điều đó được thể hiện thông qua quá trình tách thủ công nghiệp ra từ nông nghiệp và tiếp đó là sự hình thành thương nghiệp Với tư cách là ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt, như lý luận giá trị thăng dư tương đối của C.Mác đã chỉ ra, việc tăng năng suất lao động trong nông nghiệp đã tạo cơ sở không ngừng gia tăng sản phẩm thặng dư không những trong nông nghiệp mà trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, từ đó nông nghiệp có vai trò tạo vốn tích lũy cho tái sản xuất mở rộng và trở thành nhân tố đảm bảo các điều kiện cần thiết để thực hiện và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa

Vai trò cơ sở của nông nghiệp đối với sự phát triển của công nghiệp thể hiện thông qua những tác động cụ thể như tạo vốn, nhân lực, nguyên liệu

và thị trường cho các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến, đồng thời tạo nguồn hàng cho xuất khẩu thu ngoại tệ, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế đối ngoại Sự phát triển của ngành nông nghiệp nước ta những năm qua đã tạo tiền đề cho sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp chế biến nông sản, đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước, đồng thời không ngừng tăng kim ngạch xuất khẩu để thu ngoại tệ cho nhập khẩu những mặt hàng cần thiết mà trong nước chưa sản xuất được hoặc không có lợi thế, đặc biệt là các sản phẩm KH-CN

Thực tế phát triển kinh tế Việt Nam cho thấy, nông nghiệp không những có vai trò đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, góp phần không

Trang 27

ngừng nâng cao đời sống của nhân dân nói chung và nông dân nói riêng, thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp và các ngành kinh tế khác, mà trong các giai đoạn suy thoái và khủng hoảng kinh tế, nông nghiệp còn là ngành cứu cánh cho nền kinh tế Sự phát triển tương đối ổn định của nông nghiệp

đã tạo ra những điều kiện cần thiết cho quá trình khắc phục và đẩy lùi suy thoái kinh tế, đảm bảo ổn định kinh tế, chính trị xã hội cho phục hồi và phát triển kinh tế

Những vai trò quan trọng của nông nghiệp đối với phát triển kinh tế-

xã hội kể trên cho thấy, nông nghiệp phải trở thành lĩnh vực quan tâm hàng đầu của toàn xã hội đặc biệt là từ phía người đại diện tối cao cho toàn xã hội

là nhà nước Để nông nghiệp thực hiện được những vai trò đó, sự quan tâm

cụ thể của nhà nước phải được thể hiện rõ thông qua việc hoạch địch và thực thi các chính sách hỗ trợ SXNN qua các thời kỳ phát triển

Thứ hai, tính đặc thù của SXNN so với các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân

SXNN là ngành sản xuất đặc thù So với các ngành kinh tế khác, tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp biểu hiện trên nhiều phương diện, cả về các yếu tố căn bản của quá trình sản xuất, bản thân quá trình sản xuất, tái sản xuất, lẫn sản phẩm được sản xuất ra

Các yếu tố của quá trình sản xuất có thể phân thành hai nhóm là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất:

Theo phương diện lực lượng sản xuất, mặc dù để SXNN đều cần có những yếu tố căn bản chung cho mọi quá trình sản xuất vật chất như tư liệu sản xuất và sức lao động, song bản thân các yếu tố đó lại mang những đặc điểm hết sức đặc biệt:

Một là, đối tượng lao động chủ yếu là cây trồng, vật nuôi Loại đối

tượng lao động này trong sự khác biệt với đối tượng lao động của các hoạt động lao động sản xuất vật chất khác là những cơ thể sống, do đó quá trình SXNN gắn chặt chẽ với quá trình sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi Biểu hiện cụ thể của đặc điểm này là:

- SXNN phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên hiện có Quá trình sản xuất đòi hỏi phải có những điều kiện tự nhiên phù hợp Việc lựa chọn

Trang 28

sản xuất ra loại nông sản nào hay tiểu ngành sản xuất nông sản nào không thể chỉ do ý muốn chủ quan của các chủ thể, mà phụ thuộc chủ yếu vào những điều kiện hiện có để sản xuất ra chúng Từ đây có thể thấy rằng, mỗi địa phương, vùng, miền, quốc gia có thể chỉ có những lợi thế nhất định để phát triển một hoặc một số loại nông sản nhất định

- Thời gian sản xuất chủ yếu gắn với quá trình tác động của tự nhiên tới đối tượng lao động là các cơ thể sống, do đó quá trình sản xuất phải được thực hiện theo một quy trình thống nhất trong một khoảng thời gian nhất định, thể hiện tính thời vụ rõ rệt, đồng thời chứa đựng khả năng rủi ro cao hơn so với các hoạt động sản xuất khác Đặc điểm này đòi hỏi phải có sự quan tâm chu đáo, thường xuyên và kịp thời của chủ thể sản xuất tới quá trình sản xuất

- Bên cạnh đó, sự khác biệt của đối lượng lao động nông nghiệp với tư cách là những cơ thể sống còn là khả năng tái tạo rất lớn nếu như đảm bảo được những điều kiện cần thiết cho sự tái tạo đó Do đó, nông nghiệp là ngành có vai trò đáng kể trong phát triển bền vững

Hai là, về tư liệu lao động Tính đặc thù của đối tượng lao động

SXNN đòi hỏi phải sử dụng những tư liệu lao động đặc thù, trong đó tư liệu lao động căn bản, có vai trò nền tảng của quá trình SXNN là đất đai với những điều kiện tự nhiên khác về khí hậu, nguồn nước phù hợp với quá trình sinh trưởng của từng loại cây trồng, vật nuôi SXNN không thể tiến hành phổ biến nếu không có đủ quỹ đất nông nghiệp Tuy nhiên đất đai, và đặc biệt là đất nông nghiệp lại có hạn về diện tích, rất khác nhau về độ màu

mỡ cũng như vị trí địa lý với những địa hình và khí hậu khác nhau, do đó SXNN, đặc biệt là ngành trồng trọt vừa phải trải rộng theo không gian, lại vừa mang tính phân tán theo vùng Khả năng tập trung sản xuất về quy mô

có nhiều hạn chế so với công nghiệp và các ngành kinh tế khác

Những đặc thù về đối tượng lao động và tư liệu lao động nông nghiệp chủ yếu là đất đai đã đặt ra những yêu cầu đặc thù đối với các loại tư liệu lao động khác Việc sản xuất và cung cấp các loại vật tư nông nghiệp phải phù hợp với bản thân quá trình sản xuất từng loại nông sản trong những điều kiện hiện có về đất đai Một trong những ví dụ điển hình đã được thực tế

Trang 29

kiểm nghiệm trước đây là việc áp dụng phổ biến những loại máy cày, gặt đập liên hợp công suất lớn đã không chứng tỏ được hiệu quả lâu dài vì những tác động tới nâng cao năng suất lao động hiện tại lại song hành với sự phá vỡ kết cấu của đất, làm giảm độ màu mỡ của đất và cuối cùng đã làm giảm năng suất lao động nông nghiệp tại Liên xô trước đây

Những đặc thù về tư liệu sản xuất của sản xuất nông nghiệp gắn liền với những đặc thù về sức lao động nông nghiệp Chủ thể của SXNN tại các quốc gia, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển, cho đến nay chủ yếu vẫn là nông dân Mặc dù SXNN không ngừng phát triển, tuy nhiên so với các ngành kinh tế khác việc ứng dụng tiến bộ KH-CN trong nông nghiệp thường bị hạn chế do nhiều nguyên nhân, trong đó đặc biệt là trình độ nguồn nhân lực nông nghiệp chưa cao, do nông dân vừa chịu tác động rất lớn của tập quán sản xuất, tâm lý tiểu nông bảo thủ, lại vừa ít có cơ hội để tự nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và tiếp thu, ứng dụng KH-CN Trình độ hiện tại của lao động SXNN đã và đang đòi hỏi phải có những chính sách hỗ trợ tích cực và phù hợp từ phía nhà nước

Những đặc thù về lực lượng sản xuất trong nông nghiệp như đã kể trên không những đòi hỏi phải có cách tiếp cận đặc thù tới việc đảm bảo các yếu tố thuộc về lực lượng sản xuất cho nông nghiệp, mà còn tạo ra cơ sở cho

sự hình thành quan hệ SXNN với tư cách là hệ thống những quan hệ sản xuất đặc thù, trong đó quan hệ đất đai và các hình thức tổ chức sản xuất là những vấn đề hết sức phức tạp

Vì đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu của sản xuất nông nghiệp, cho nên trong quan hệ SXNN thì quan hệ ruộng đất luôn là một trong những điều kiện kinh tế-xã hội căn bản Thực tế cho thấy, việc thiết lập sở hữu tư nhân quy mô lớn về đất nông nghiệp trong thời gian dài của lịch sử nhân loại, đã trở thành nhân tố cản trở nông nghiệp phát triển Sở hữu phong kiến về đất nông nghiệp đã tách người nông dân ra khỏi tư liệu sản xuất chủ yếu, làm thui chột động lực SXNN, khiến cho nông nghiệp phát triển rất chậm trong thời kỳ phong kiến Sự thay thế phương thức sản xuất phong kiến bằng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với việc ứng dụng những tiến bộ KH -CN và hình thức tổ chức sản xuất mới trong nông nghiệp đã bước đầu tạo ra

Trang 30

nền nông nghiệp hợp lý Tuy nhiên sở hữu tư nhân lớn về đất nông nghiệp cùng các hình thức tổ chức SXNN quy mô lớn theo kiểu tư bản chủ nghĩa cũng không thể giúp cho nông nghiệp phát triển nhanh như các ngành kinh

tế khác, ngược lại tới một giới hạn nhất định đã thể hiện những hạn chế không tránh khỏi do vẫn dựa trên cơ sở tách biệt người lao động trực tiếp khỏi tư liệu sản xuất chủ yếu của mình

Thực tiễn phát triển nông nghiệp tại các quốc gia và vùng lãnh thổ đã phát triển cho thấy, sản xuất lớn tập trung không phải là loại hình SXNN phổ biến ngày nay do lao động làm thuê trong nông nghiệp không có hiệu quả tương tự như trong công nghiệp và các ngành khác Và hình thái tổ chức SXNN phổ biến ngày nay vẫn đang là các loại hình kinh tế trang trại và kinh

tế hộ nông dân

Ngay tại các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, trong đó có nước ta, việc chuyển đất đai, trong đó có đất nông nghiệp thành đối tượng của sở hữu toàn dân, nhưng thiếu cơ chế thực hiện quyền làm chủ thực sự của người lao động SXNN trực tiếp cũng không cho hiệu quả mong muốn, ngược lại, đã cản trở phát triển nông nghiệp Thực tiễn phát triển nông nghiệp trên thế giới nói chung và tại Việt Nam trong những năm đổi mới nói riêng cho thấy, việc xác lập địa vị làm chủ của người nông dân trên những ruộng đất mà họ đang canh tác đã có tác dụng lớn như thế nào đối với phát triển nông nghiệp Từ một quốc gia đang phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã nhanh chóng trở thành quốc gia xuất khẩu lương thực sau khi thực hiện Nghị Quyết 10 của

Bộ Chính trị năm 1988 Do đó, để phát triển nông nghiệp cần phải phát huy những tiềm năng tự nhiên hiện có bằng cách tìm ra những cơ chế, hình thức

tổ chức sản xuất phù hợp, cho phép khai thác tối đa những tác động tích cực của tự nhiên và giảm thiểu rủi ro đối với SXNN

Từ những đặc thù về yếu tố sản xuất dẫn đến quá trình sản xuất và tái sản xuất cũng như sản phẩm trong nông nghiệp cũng thể hiện rõ những đặc điểm đặc thù Với tư cách là quá trình kết hợp các yếu tố sản xuất đặc thù, hoạt động SXNN phụ thuộc rất lớn vào các điều kiện tự nhiên hiện có, đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa chủ thể của quá trình sản xuất là người nông dân với toàn bộ quá trình sản xuất gắn với quá trình sinh trưởng của cây

Trang 31

trồng và vật nuôi SXNN gắn liền với tự nhiên, chịu tác động rất lớn của các quy luật sinh học, nên phải đảm bảo tính liên tục Từ đó các khâu phân phối, trao đổi và tiêu dùng không những có mối quan hệ phụ thuộc vào quá trình sản xuất, mà còn có tác động trở lại rất lớn tới quá trình sản xuất Phân phối

và trao đổi với tư cách là các khâu trung gian của tái SXNN có vai trò cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, là những nhân tố đảm bảo cho quá trình sản xuất có thể diễn ra liên tục, hiệu quả hoặc có thể làm rối loạn quá trình sản xuất đó Trong điều kiện sự phân phối cho tiêu dùng sản xuất không được thực hiện đầy đủ kịp thời, ví dụ như vụ cấy đã tới mà chưa có nước, hoặc cây lúa đã đến lúc cần bón phân mà chưa có phân , có thể làm cho toàn bộ quá trình sản xuất bị phá vỡ Còn khi trao đổi sản phẩm có trục trặc thì hoặc

là một bộ phận lớn nông sản sẽ bị hủy hoại trong một khoảng thời gian tương đối ngắn hoặc là phải có những điều kiện vật chất rất lớn để chống lại quá trình đó Trong khi thực lực của các chủ thể SXNN còn yếu, nếu thiếu

sự hỗ trợ từ phía nhà nước và thậm chí nếu sự hỗ trợ đó không phù hợp với bản thân quá trình sản xuất và tái sản xuất trong nông nghiệp, thì rất khó có thể đảm bảo hiệu quả cho SXNN cũng như đời sống của nông dân, từ đó có thể đe dọa an ninh lương thực quốc gia, đe doa sự ổn định xã hội, kinh tế và

đề chính trị nóng bỏng tại các quốc gia Để giải quyết vấn đề nông dân, góp phần ổn định kinh tế, chính trị và xã hội cần phải phát triển nông nghiệp,

Trang 32

nông thôn theo hướng tăng thu nhập, đảm bảo nâng cao mức sống cho nông dân, đồng thời xây dựng nông thôn văn minh hiện đại Nhà nước không thể đứng ngoài quá trình này mà buộc phải thực hiện những chính sách hỗ trợ nông nghiệp nông dân và nông thôn nhất định

Thứ tư, tính tất yếu của sự điều tiết kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường và vai trò kinh tế của nhà nước đối với SXNN

Thực tiễn phát triển của kinh tế thị trường đã chứng tỏ đó là mô hình kinh tế hiệu quả buộc các quốc gia ngày nay phải lựa chọn, tuy nhiên những mặt trái của cơ chế thị trường cũng chỉ ra rằng, nền kinh tế thị trường không thể tự chữa bệnh cho mình, do đó sự điều tiết nhà nước trong nền kinh tế thị trường là một tất yếu kinh tế Trong quá trình phát triển của kinh tế thị trường, nông nghiệp ngày càng có xu thế trở thành lĩnh vực phải chịu nhiều thiệt thòi, khó thu hút đầu tư do hiệu quả kinh doanh không ổn định và khó

có thể đạt mức cao so với các ngành kinh tế khác Vì vậy, nhà nước tại các quốc gia ngày nay đều phải quan tâm tới nông nghiệp và thực hiện các chính sách hỗ trợ nhất định kể cả đối với các nền kinh tế phát triển cũng như đang phát triển

Tóm lại, hỗ trợ SXNN là một yêu cầu khách quan đối với mọi quốc

gia nhằm giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân để góp phần tạo ra sự ổn định về kinh tế, chính trị và xã hội cho sự phát triển Với tư cách

là chủ thể chủ yếu có vai trò điều tiết kinh tế trong nền kinh tế thị trường này nay, nhà nước phải đồng thời là chủ thể chủ yếu trong hỗ trợ SXNN Tuy nhiên, vì nông nghiệp là ngành kinh tế đặc thù, cho nên không thể tùy tiện trong việc hoạch định và thực thi các chính sách hỗ trợ SXNN Nội dung chính sách hỗ trợ SXNN phải phù hợp với những đặc điểm đặc thù đó

1.1.3 Nội dung chính sách hỗ trợ SXNN

Tính đặc thù của SXNN đòi hỏi phải có chính sách hỗ trợ tương ứng, phù hợp nhất định Để đảm bảo cho SXNN có hiệu quả cần phải làm rõ những khâu, yếu tố trong quá trình tái SXNN đang cần tới sự hỗ trợ, từ đó có thể phân biệt các chính sách hỗ trợ theo các khâu của chu trình tái sản xuất, theo các yếu tố của quá trình sản xuất và theo sự phân bố của bản thân hoạt động sản xuất Vì vậy, có thể tiếp cận tới nội dung chính sách hỗ trợ SXNN theo ba phương diện:

Trang 33

Thứ nhất, nhóm chính sách hỗ trợ theo các khâu của chu trình tái sản xuất trong nông nghiệp:

Quá trình tái sản xuất trong nông nghiệp gồm bốn khâu cơ bản là sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng Tính đặc thù của SXNN cùng với những tác động của cơ chế thị trường tới SXNN đòi hỏi phải có những chính sách hỗ trợ phù hợp với quá trình sản xuất và những điều kiện phân phối trao đổi hiện tại:

Một là, đối với quá trình SXNN Tính liên tục của quá trình sản xuất

gắn với quá trình sinh trưởng của cây trồng vật nuôi cùng tính phân tán của sản xuất theo lãnh thổ, đòi hỏi phải tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự gắn kết chặt chẽ, hữu cơ giữa người lao động trực tiếp với đối tượng và tư liệu lao động, do đó quá trình sản xuất trực tiếp phải được thực hiện dưới các hình thức tổ chức như kinh tế hộ nông dân và kinh tế trang trại Để đảm bảo tạo động lực cho SXNN, trước hết cần có chính sách thừa nhận và khẳng định tư cách người chủ của người sản xuất đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt là đối với đất đai Do đó, cần có chính sách đất đai phù hợp, hỗ trợ cho sự hình thành và củng cố cảm giác làm chủ của nông dân trên những ruộng đất mà họ đang canh tác Nội dung của chính sách đất đai bao gồm công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, các chính sách về giao đất nông nghiệp, chính sách hạn mức sử dụng đất nông nghiệp, chính sách về giá cả quyền sử dụng đất nông nghiệp…

Để tạo thuận lợi cho quá trình SXNN trong nền kinh tế thị trường cần

có hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật phù hợp và đồng bộ như hệ thống thủy lợi, hệ thống đường giao thông, hệ thống điện nông thôn…, đồng thời, sản phẩm nông nghiệp là những sản phẩm sinh học, dễ bị hỏng do tác động của môi trường, cho nên cần có đủ những điều kiện vật chất cần thiết sau thu hoạch để bảo quản và chế biến nông sản Trong khi năng lực tài chính của các trang trại và nông hộ còn nhiều hạn chế, sự hỗ trợ của nhà nước trong quy hoạch và xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn thông qua chính sách đầu tư là vô cùng quan trọng Từ đó, chính sách đầu tư đối với nông nghiệp cần tập trung vào hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn và công nghệ bảo quản, chế biến nông sản là chủ yếu

Trang 34

Hai là, đối với quá trình phân phối và trao đổi SXNN có các yếu tố

đầu vào không những từ nông sản như giống, phân bón hữu cơ, mà còn cần tới rất nhiều những tư liệu sản xuất là sản phẩm của các ngành khác, đồng thời sản phẩm của nông nghiệp được phân phối sử dụng rộng rãi trong phạm

vi toàn xã hội, cả trong và ngoài nước Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, quá trình tái sản xuất nói chung cũng như tái sản xuất của nông nghiệp nói riêng đều chịu tác động chi phối của các quy luật thị trường, do

đó sự vận động của các yếu tố sản xuất dưới hình thái hiện vật diễn ra song hành với sự vận động của chúng về giá trị và hai quá trình này không phải lúc nào cũng ăn khớp với nhau về không gian cũng như thời gian Bản thân quá trình tái sản xuất đòi hỏi phải được thực hiện liên tục trong một khoảng thời gian nhất định, từ đó đòi hỏi sự phân phối các yếu tố sản xuất cũng như sản phẩm làm ra phải phù hợp với đòi hỏi của bản thân từng quá trình sản xuất cụ thể Tuy nhiên, việc cung cấp các yếu tố đầu vào cũng như tiêu thụ sản phẩm đầu ra đều được thực hiện thông qua thị trường, do đó những thay đổi hay trục trặc trên thị trường có thể dẫn tới việc cung cấp các yếu tố đầu vào cũng như tiêu thụ sản phẩm bị gián đoạn, vi phạm, tính kịp thời và liên tục của sản xuất và có thể gây thiệt hại rất lớn cho SXNN Trong điều kiện trình độ của các chủ thể kinh doanh nông nghiệp chưa cao cùng với những hạn chế về thông tin, tài chính…, để đảm bảo cho quá trình sản xuất nông nghiệp có thể diễn ra bình thường rất cần đến sự hỗ trợ về vốn, về thông tin thông qua các chính sách tín dụng và chính sách thị trường, giá cả của nhà nước Chính sách tín dụng cũng như chính sách thị trường, giá cả đối với nông nghiệp, nông thôn phải phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của SXNN, đặc biệt là quy trình sản xuất với tính thời vụ

Hoạt động SXNN ngày nay không những gắn liền với các điều kiện tự nhiên hiện có, thể hiện trình độ chinh phục thiên nhiên của con người, mà còn chịu sự chi phối rất lớn của cơ chế thị trường Sự tồn tại khách quan phổ biến của kinh tế trang trại và kinh tế hộ nông dân với tư cách là những chủ thể sản xuất trực tiếp cũng đồng thời đặt ra yêu cầu không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của những chủ thể này thông qua quá trình hình thành và phát triển những mối quan hệ liên kết, hợp tác trong quá trình tái sản xuất Sự

Trang 35

phát triển các hình thức hợp tác và kinh tế tập thể trong nông nghiệp không những là xu thế khách quan, mà còn có vai trò đặc biệt quan trọng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Một cây làm chẳng nên non, nhiều cây tụ hợp thành hòn núi cao"1 Thực tế phát triển nông nghiệp nước ta trước đổi mới với việc áp dụng duy ý chí cơ chế kế hoạch hóa tập trung trong thời gian dài đã làm suy giảm vai trò của kinh tế tập thể trong nông nghiệp Để khắc phục tình trạng đó nhằm phát huy vai trò hỗ trợ đắc lực của kinh tế tập thể trong nông nghiệp cần có sự hỗ trợ tích cực từ phía nhà nước của dân, do dân và vì dân thông qua chính sách về xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp trong nông nghiệp nước ta nói chung và chính sách hỗ trợ đối với kinh tế tập thể nói riêng

Bên cạnh đó, do nhiều nguyên nhân, nông dân đang là bộ phận dân cư

có thu nhập thấp nhất trong xã hội, tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn là rất cao, do

đó để nông dân thoát nghèo, tạo thuận lợi cho phát triển nông nghiệp cũng cần tới các chính sách phân phối thu nhập có lợi cho nông dân

Thứ hai, nhóm chính sách hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực các nhân tố của SXNN

Cũng như đối với mọi quá trình sản xuất vật chất, các nhân tố chủ yếu của SXNN bao gồm sức lao động và tư liệu sản xuất Trình độ phát triển và kết hợp giữa các nhân tố đó là cơ sở của hiệu quả SXNN trong nền kinh tế thị trường Thực tế cho thấy để phát triển và nâng cao sức cạnh tranh của nông nghiệp không những cần có những công nghệ hiện đại, phù hợp, mà còn cần có nguồn nhân lực chất lượng cao đủ năng lực để nhân thức và sử dụng có hiệu quả những công nghệ đó Vì vậy, chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp và chính sách hỗ trợ nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng tiến bộ KH-CN là những nội dung đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính sách hỗ trợ SXNN của nhà nước

Một là, về chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp

Để đẩy nhanh tốc độ phát triển nông nghiệp cần phải không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua các chính sách đào tạo nghề nông cho

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, t.7, tr.511

Trang 36

nông dân nhằm bồi dưỡng cho nông dân kiến thức về khoa học kỹ thuật để SXNN có năng suất cao, chất lượng tốt, giá thành hạ, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phù hợp với yêu cầu của thị trường và đạt hiệu quả cao Trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp xu hướng giải phóng lao động là tất yếu, từ đó cần có chính sách đào tạo nghề mới nhất là cho thanh niên nông thôn nhằm tạo thuận lợi cho quá trình chuyển đổi hoạt động sang các nghề phi nông nghiệp, trong đó có dạy nghề, ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu lao động Để phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cơ sở cần có chính sách bồi dưỡng và bổ sung cho họ về kiến thức chuyên môn cũng như những kiến thức quản lý nhà nước về kinh tế-xã hội, về phát triển nông nghiệp

Để phát triển hệ thống đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp cần có những chính sách hỗ trợ và ưu đãi đặc biệt đảm bảo lợi ích cho các cơ sở đào tạo nghề, đồng thời hỗ trợ bằng nhiều hình thức đa dạng như cấp học bổng, cho vay vốn đối với thanh niên nông thôn học nghề

Hai là, về chính sách KH-CN, khuyến nông, khuyên lâm, khuyến ngư,

nhà nước cần khuyến khích hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu khoa học, đặc biệt là tập trung vào hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học và sinh học hiện đại chọn tạo kết hợp nhập nội và khu vực hoá các giống cây trồng vật nuôi, cây lâm nghiệp có năng suất và chất lượng cao phát triển các quy trình nuôi trồng tiên tiến; hỗ trợ nghiên cứu và ứng dụng những công nghệ chế biến và bảo quản nông sản tiên tiến; công nghệ tiến bộ trong xây dựng

và quản lý các hệ thông thuỷ lợi, cấp nước sinh hoạt, nghiên cứu phát triển các quy trình nuôi trồng tiên tiến

Nhà nước cần đảm bảo dành vốn đầu tư từ ngân sách với mức độ thỏa đáng cho nghiên cứu và chuyển giao KH - CN trong lĩnh vực nông nghiệp, khuyến khích, tạo động lực cho cán bộ nghiên cứu khoa học nông nghiệp củng cố hệ thống khuyến nông, nhất là ở cấp xã, để làm tốt cả vai trò đào tạo, nâng cao kiến thức cho nông dân và dân cư sống ở nông thôn Hỗ trợ các chủ thể kinh doanh nông nghiệp trong nhận chuyển giao và ứng dụng tiến bộ KH-CN mới

Trang 37

Thứ ba, chính sách hỗ trợ theo tiểu ngành và theo vùng lãnh thổ

Nông nghiệp ngày nay là nhóm ngành lớn, bao gồm nhiều tiểu ngành như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản … với những đặc thù riêng rất khác nhau Đồng thời sự phân bố của các tiểu ngành theo vùng cũng rất khác nhau tùy theo những điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của từng vùng Do đó, không thể áp dụng một cách máy móc, dập khuôn chính sách

hỗ trợ đối với tất cả các tiểu ngành cũng như các vùng Trong hoạch định và thực hiện chính sách hỗ trợ đối với SXNN cần phải chú trọng phát huy triệt

để các lợi thế của từng vùng nhằm hình thành các vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung với chất lượng đáp ứng yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước, đồng thời chính sách hỗ trợ phải hướng vào giải quyết cụ thể các khó khăn đang hạn chế ở từng vùng, nhất là những vùng kém phát triển,

để nhanh chóng thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, bảo đảm phát triển hài hòa, bền vững

Từ những trình bày ở trên có thể rút ra kết luận rằng, chính sách hỗ trợ SXNN là một hệ thống các chính sách có tác động tới nhiều mặt của quá trình sản xuất và tái SXNN Hệ thống chính sách đó phải mang tính đồng bộ

để có thể vừa đảm bảo cho quá trình sản xuất có thể diễn ra một cách ổn định trong điều kiện của kinh tế thị trường, vừa hướng tới phát huy những lợi thế tuyệt đối và so sánh, đồng thời củng cố và tăng cường sức cạnh tranh của nền nông nghiệp quốc gia Việc thực hiện các chính sách hỗ trợ SXNN

kể trên có vai trò to lớn đối với phát triển nông nghiệp cũng như giải quyết các vấn đề về nông dân và nông thôn, tạo thuận lợi cho quá trình phát triển bền vững của đất nước

1.1.4 Vai trò của chính sách hỗ trợ đối với phát triển nông nghiệp

và giải quyết vấn đề nông dân, nông thôn

Chính sách hỗ trợ SXNN có vai trò tạo thuận lợi cho các chủ thể kinh doanh nông nghiệp thực hiện quá trình sản xuất và tái sản xuất, từ đó thúc đẩy SXNN phát triển theo hướng văn minh hiên đại, không ngừng nâng cao đời sống của dân cư nông thôn Vai trò đó được thể hiện trên các mặt chủ yếu như sau:

Trang 38

Thứ nhất, thúc đẩy CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, tạo cơ sở nâng cao năng lực và sức cạnh tranh của SXNN

Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá quá trình bao hàm nội dung rất lớn và rộng Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã nêu rõ, “CNH, HĐH nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng SXHH lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng các thành tựu KH-CN, trước hết là công nghệ sinh học đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu SXNN nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị trường CNH, HĐH nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỉ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỉ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân

ở nông thôn”1 Để thực hiện thành công quá trình này cần tới không những

nỗ lực rất lớn của các chủ thể SXNN cũng như toàn thể nhân dân nông thôn,

mà còn phải có sự hỗ trợ đặc biệt tích cực từ phía nhà nước Thực tế những năm đổi mới cho thấy, những những thành tích về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong những năm đổi mới có nguyên nhân quan trọng từ sự quan tâm hỗ trợ của nhà nước Các chính sách hỗ trợ SXNN không những có tác dụng tạo cơ chế ngày càng thông thoáng, thuận lợi cho hoạt động của các chủ thể nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH, mà còn có vai trò quan trọng trong thu hút, bổ sung vốn, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, kích thích nghiên cứu và ứng dụng KH-CN Nhờ đó, năng lực và sức cạnh tranh của nông nghiệp nước ta ngày càng được nâng cao

Thứ hai, nâng cao thu nhập cho nông dân, từ đó đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống, vị thế của nông dân

Nhờ thực hiện các chính sách hỗ trợ SXNN mà quá trình sản xuất và tái SXNN có thể diễn ra ổn định, từ đó vừa tạo việc làm, vừa không ngừng

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2002): Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa

IX Nxb CTQG, tr.93-94

Trang 39

nâng cao thu nhập cho nông dân với tư cách là chủ thể sản xuất chủ yếu Những kết quả tích cực trong phát triển nông nghiệp là điều kiện vật chất trực tiếp để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của nông dân, đồng thời khẳng định vị thế của nông dân trong nền sản xuất

xã hội và trong đời sống chính trị xã hội của đất nước Theo số liệu của Bộ NN&PTNT, những thành tựu trong phát triển nông nghiệp của Việt Nam trong giai đoạn 1996 đến 2006 đã nâng cao thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn lên hơn 2,7 lần (năm 2006, bình quân đạt 6,1 triệu đồng/người theo giá hiện hành); thu nhập bình quân 1 hộ nông thôn đạt 26,1 triệu đồng, tăng 11,3 triệu đồng (tăng 75,8% so với năm 2002)1 Nhờ thu nhập của người dân tăng nên điều kiện sinh hoạt của hộ nông thôn ngày càng được cải thiện, nhất là về nhà ở, mua sắm vật dụng lâu bền, phương tiện đi lại và các vật dụng đắt tiền

Thứ ba, góp phần xóa đói giảm nghèo theo hướng bền vững

Những chính sách hỗ trợ SXNN đã tạo thuận lợi cho nhiều nông dân

có thêm vốn, kinh nghiệm làm ăn để tự tạo việc làm, thu nhập và vươn lên thoát khỏi đói nghèo Việc thực hiện Chiến lược xoá đói giảm nghèo từ những năm 2001 ở nước ta với những chính sách và các chương trình cụ thể như: Chương trình 134, Chương trình 135, Chương trình Quốc gia về giảm nghèo đã mang lại những thành tựu to lớn Đến nay, về cơ bản, nước ta đã xóa được đói Công tác giảm nghèo được tập trung đẩy mạnh, hướng vào các đối tượng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số Nhờ thực hiện các chính sách hỗ trợ hỗ trợ cho người nghèo phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế để tự vươn lên xóa đói giảm nghèo thông qua các chính sách về tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người nghèo như chính sách cho vay tín dụng với cơ chế ưu đãi chính sách hỗ trợ đất sản xuất chính sách khuyến nông, khuyến lâm - ngư chính sách trợ giá, trợ cước; và các chính sách hỗ trợ thông qua cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo như hỗ trợ người nghèo về y tế, về giáo dục, dạy nghề về nhà ở, tỷ lệ

hộ nghèo ở khu vực nông thôn giảm nhanh, từ 66,4% năm 1993, 45,5% năm

1998, 35,6% năm 2002, 27,5% năm 2004 xuống còn 18% năm 2007, mặc dù

1 Website của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 40

chuẩn nghèo đã tăng lên1 Xoá đói giảm nghèo nhanh là thành tựu lớn của nước ta được cộng đồng quốc tế đánh giá cao

Tóm lại, hoạch định và thực thi chính sách hỗ trợ SXNN là yêu cầu

cần thiết, khách quan và vô cùng quan trọng trong phát triển nông nghiệp nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung của mọi quốc gia và vùng lãnh thổ, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam Để chính sách hỗ trợ SXNN phát huy được vai trò tích cực thúc đẩy phát triển nông nghiệp và không ngừng nâng cao đời sống của nông dân cần phải quan tâm xây dựng chính sách hỗ trợ nông nghiệp trên cơ sở đặc thù của SXNN và thực hiện lợi ích kinh tế của nông dân

1.2 TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TỚI CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ SXNN

1.2.1 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với lĩnh vực nông nghiệp

Sự phát triển của nền kinh tế thế giới từ những năm cuối của thế kỷ

XX đã và đang thể hiện những sự thay đổi rất lớn, biểu hiện thông qua sự không ngừng gia tăng của phân công lao động quốc tế cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, sự phát triển nhanh của mậu dịch quốc tế trở thành sợi dây gắn kết quan trọng tất cả các nền kinh tế trên thế giới, sự gia tăng nhanh chóng tốc

độ lưu thông các yếu tố sản xuất như: vốn, lao động, công nghệ … và theo

đó, làm thay đổi nhanh lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh giữa các quốc gia, sự bành trướng mạnh mẽ và liên kết thành một mạng sản xuất khổng lồ của các các công ty xuyên quốc gia với tư cách là chủ thể dẫn dắt và chi phối các hoạt động sản xuất kinh doanh thế giới cùng với sự hình thành và phát triển rầm rộ các tổ chức kinh tế thế giới nhằm quản lý và điều tiết các quá trình liên kết kinh tế toàn cầu Thực tế đó chứng tỏ toàn cầu hóa kinh tế với tư cách là quá trình khách quan đã, đang trở thành khuôn khổ phát triển mới cho mọi nền kinh tế quốc gia và vùng lãnh thổ, buộc các quốc gia và vùng lãnh thổ nếu muốn phát triển thì phải hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu

Trên cơ sở nhận thức về toàn cầu hóa là xu thế khách quan, Đảng ta

đã chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế thông qua nghiên cứu, đàm

1 Website của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Ngày đăng: 15/04/2014, 14:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình cam kết cắt giảm thuế khi trở thành thành viên của WTO của Việt Nam - Chính sach hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ở nước ta trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Hình cam kết cắt giảm thuế khi trở thành thành viên của WTO của Việt Nam (Trang 50)
Bảng 1.2: Các biện pháp hỗ trợ trong nước của Thái Lan - Chính sach hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ở nước ta trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 1.2 Các biện pháp hỗ trợ trong nước của Thái Lan (Trang 61)
Bảng 2.3: Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo bằng cấp - Chính sach hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ở nước ta trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.3 Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo bằng cấp (Trang 101)
Bảng 2.4  Mạng lưới có cơ sở dạy nghề phân theo 8 vùng kinh tế - Chính sach hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ở nước ta trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.4 Mạng lưới có cơ sở dạy nghề phân theo 8 vùng kinh tế (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w