bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách đồng bộ giúp nông dân tham gia vào chuỗi giá trị sản xuất nông sản toàn cầu, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống nông dân trong quá trình công
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH KHU VỰC I
-
BÁO CÁO TỔNG QUAN
ĐỀ TÀI KHOA HỌC ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC
CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NÔNG DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT
CỦA WTO
MÃ SỐ: ĐTĐL.2008 T/08
- Cơ quan chủ trì: HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH KHU VỰC I
- Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS NGUYỄN CÚC
8081
HÀ NỘI, 2010
Trang 2TS Đoàn Minh Huấn
TS Nguyễn Đăng Thảo
NCS Nguyễn Đức Chính
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU VÀ SƠ ĐỒ 6
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 8
MỞ ĐẦU 10
CHƯƠNG 1: NHỮNG LUẬN CỨ KHOA HỌC VỀ CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NÔNG DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CAM KẾT CỦA WTO 22
1.1 SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA HỖ TRỢ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NÔNG DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT CỦA WTO 22
1.1.1 Khó khăn và thách thức đối với nông dân, khi Việt Nam gia nhập WTO 22
1.1.2 Những khó khăn, thách thức do chính sự yếu kém của nông nghiệp và nông dân Việt Nam 27
1.1.3 Hỗ trợ và giúp đỡ nông dân là mục tiêu và nhiệm vụ của Đảng và
Nhà nước ta 34
1.2 CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NÔNG DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT CỦA WTO 36
1.2.1 Khái niệm, vai trò chính sách của Nhà nước đối với nông dân 36
1.2.2 Khái quát nội dung chính sách Nhà nước đối với nông dân trong điều kiện thực hiện các cam kết của WTO 43
1.2.3 Quy trình hoạch định, thực hiện, đánh giá chính sách của Nhà nước đối với nông dân 57
1.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách của Nhà nước đối với nông dân 60
1.3 KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VỀ CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NÔNG DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT WTO 64
1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 64
1.3.2 Kinh nghiệm của Đài Loan 66
1.3.3 Kinh nghiệm của Thái Lan 68
1.3.4 Kinh nghiệm của Malaysia 70
1.3.5 Kinh nghiệm của Ấn Độ 74
1.3.6 Kinh nghiệm của Hoa Kỳ 76
1.3.7 Một số bài học cho Việt Nam 79
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NÔNG DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY 84
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NÔNG DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY 84
2.1.1 Vai trò của nông dân Việt Nam trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 84
2.1.2 Hiện trạng đời sống, thu nhập và những vấn đề đặt ra đối với nông dân nước ta hiện nay 92
2.1.3 Sản xuất kinh doanh của nông dân dân Việt Nam sau khi thực hiện cam kết WTO 106
2.2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NÔNG DÂN TỪ KHI ĐỔI MỚI ĐẾN NAY 120
2.2.1 Chính sách ruộng đất 120
2.2.2 Chính sách đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn 130
Trang 42.2.3 Chính sách hỗ trợ tín dụng 133
2.2.4 Chính sách hỗ trợ về khoa học - công nghệ và khuyến nông 137
2.2.5 Chính sách hỗ trợ nông dân tổ chức kinh doanh nông nghiệp 142
2.2.6 Chính sách hỗ trợ tiếp cận thị trường quốc tế và giá đầu vào, đầu ra cho nông dân 145
2.2.7 Chính sách lao động, việc làm cho nông dân 149
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NÔNG DÂN Ở NƯỚC TA NHỮNG NĂM QUA 153
2.3.1 Những ưu điểm của hệ chính sách hiện tại và bài học kinh nghiệm 153
2.3.2 Những hạn chế của thống hệ chính sách hiện tại và nguyên nhân 161
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NÔNG DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT WTO 169
3.1 NHẬN DIỆN CÁC XU HƯỚNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG NÔNG DÂN 169
3.1.1 Dân số gia tăng 169
3.1.2 Quỹ đất hao hụt 170
3.1.3 Hỗ trợ thành tựu khoa học kĩ thuật trên thế giới 171
3.1.4 Năng lượng sinh học 171
3.1.5 Biến đổi khí hậu 172
3.2 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NÔNG DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT WTO 174
3.2.1 Quan điểm 174
3.2.2 Phương hướng 178
3.3 HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NÔNG DÂN TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT CỦA WTO 183
3.3.1 Xây dựng chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân 183
3.3.2 Đổi mới và hoàn thiện luật pháp và chính sách về đất đai nhằm tạo cơ sở kinh tế đảm bảo vị thế làm chủ của nông dân 187
3.3.3 Nâng cao tỷ lệ đầu tư từ ngân sách cho nông nghiệp, nông thôn và có chính sách hữu hiệu hơn để thu hút các nguồn lực khác nhằm nâng cao trình độ, năng lực cho nông dân 197
3.3.4 Mở rộng đầu tư tín dụng đối với nông dân 199
3.3.5 Đẩy mạnh thực hiện các chương trình khuyến nông nhằm thúc đẩy phát triển và ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất nông nghiệp để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả 200
3.3.6 Hỗ trợ phát triển giáo dục - đào tạo nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng lao động hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp trong phát triển sản xuất205 3.3.7 Hỗ trợ nông dân hình thành các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh hiệu quả 206
3.3.8 Hỗ trợ nông dân tiêu thụ nông sản thuận lợi 208
3.3.9 Hỗ trợ thu nhập và hệ thống an sinh xã hội cho nông dân 216
3.3.10 Xây dựng các tổ chức nông dân nhằm tăng vị thế và vai trò của nông dân 220
3.4 ĐỔI MỚI QUY TRÌNH HOẠCH ĐỊNH VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NÔNG DÂN 221
3.4.1 Đổi mới phương thức hoạch định chính sách đối với nông dân 221
3.4.2 Đổi mới công tác triển khai thực hiện chính sách 223
Trang 53.4.3 Tăng cường hệ thống thông tin về nông nghiệp, nông thôn, thị trường phục vụ
điều hành 224 3.4.4 Khuyến khích các hiệp hội ngành nghề và Hội Nông dân hỗ trợ kinh doanh
nông nghiệp 225 3.4.5 Tăng cường năng lực và đạo đức công chức thực thi chính sách đối với nông
dân 226 3.4.6 Coi trọng công tác tổng kết, đánh giá các chính sách đã được ban hành và
triển khai thực hiện 227
KẾT LUẬN 228 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 230
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ
Bảng 1.1: Tóm tắt mức cắt giảm thuế khi Việt Nam gia nhập WTO 22
Bảng 1.2 Mức thuế cam kết đối với một số nông sản của Việt Nam 23
Bảng 1.3: Hiện trạng sử dụng đất (Tại thời điểm 01/01/2007) 28
Bảng 1.4: Năng suất một số cây trồng của Việt Nam và các nước trên thế giới 30
Bảng 2.1: Giá trị sản xuất nông nghiệp Việt Nam 2001-2007 (nghìn tỷ đồng) 86
Bảng 2.2:Tài sản hiện có của các hộ nông dân 93
Bảng 2.3: Số nhân khẩu, số lao động bình quân của hộ 96
Bảng 2.4: Những nguồn thu nhập chính của hộ nông dân 96
Bảng 2.5: Số mảnh ruộng và diện tích đất canh tác bình quân của hộ 97
Bảng 2.6: Ý kiến về chính sách chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp 98
Bảng 2.7: Các nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi diện tích của hộ nông dân 98
(Tính trên những hộ có diện tích đất thay đổi) 98
Bảng 2.8: Chính sách thu hồi đất của Nhà nước chưa thoả đáng vì những nguyên nhân (Tính trên những hộ có diện tích đất bị thu hồi) 99
Bảng 2.9: Ý kiến về quy định mức hạn điền trong sử dụng đất nông nghiệp 99
Bảng 2.10: Nhận xét chính sách của Nhà nước về thời hạn giao đất nông nghiệp trồng cây lâu năm không quá 50 năm, đất nông nghiệp trồng cây hàng năm là 20 năm 100
Bảng 2.11: Lĩnh vực hộ dự định đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh 100
Bảng 2.12: Kỹ thuật được áp dụng trong sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân 100
Bảng 2.13: Các nguồn thông tin về khuyến nông mà hộ tiếp cận được 101
Bảng 2.14: Địa điểm tiêu thụ sản phẩm chủ yếu của nông dân 101
Bảng 2.15: Các đối tượng mua sản phẩm sau thu hoạch của nông dân 102
Bảng 2.16: Ý kiến của hộ nông dân về những khó khăn khi tiếp cận thị trường đầu vào cho sản xuất nông nghiệp 102
Bảng 2.17: Ý kiến của hộ nông dân về những khó khăn chủ yếu sau thu hoạch 103
Bảng 2.18: Nguồn vay vốn sản xuất, kinh doanh chủ yếu của hộ nông dân 103
Bảng 2.19: Nguyên nhân của những rủi ro mà hộ nông dân thường gặp 104
Bảng 2.20: Các biện pháp hộ nông dân thường sử dụng để giải quyết những rủi ro 105
Bảng 2.21: Những ý kiến về đổi mới chính sách để sản xuất nông nghiệp có hiệu quả 106
Bảng 2.22: Một số vật tư thiết yếu nhập khẩu phục vụ phát triển nông nghiệp 109
Bảng 2.23: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa năm 2007-2008 112
Bảng 2.24: Thị phần của một số chủng loại nông sản xuất khẩu Việt Nam tại 10 thị trường xuất khẩu trọng điểm năm 2008 ( %) 113
Bảng 2.25: Top 5 mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất năm 2007-2008 (Đvt: Lượng (1000 tấn); Giá trị (triệu USD) 118
Bảng 2.26 Hạn mức giao đất theo quy định của Luật Đất đai 123
Bảng 2.27: Đánh giá tác động của chính sách hỗ trợ vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc đến phát triển kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nông dân 136
Bảng 3.1: Tiến trình của sản lượng, lượng tiêu dùng và lượng dự trữ ngũ cốc trên thế giới, 1960-2006, triệu tấn 170
Trang 7Sơ đồ 1.1: Lộ trình chính sách đối với nông dân của một quốc gia 44
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa chính sách của Nhà nước đối với nông dân với các vấn đề kinh tế vĩ mô 45
Sơ đồ 1.3: Các lĩnh vực của chính sách đối với nông dân 49
Sơ đồ 1.4: Vòng tròn phát triển chính sách 57
Sơ đồ 1.5: Mô hình thể hiện hiệu quả chính sách 59
Hình 2.1: Tăng trưởng GDP của nền kinh tế và ngành nông nghiệp Việt Nam 2001 - 2009 (%) 85
Hình 2.2: Sản lượng một số loại cây lượng thực hàng năm 2008 - 2009 (nghìn tấn) 87
Hình 2.3: Sản lượng một số loại cây lượng thực hàng năm 2008 - 2009 (nghìn tấn) 88
Bảng 2.2: Top 5 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất năm 2007-2008 (Đvt: Lượng (1000 tấn); Giá trị (triệu USD) 89
Hình 2.4: 10 quốc gia, trong đó Việt Nam có tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu nông sản lớn nhất năm 2009 (triệu USD, %) 89
Hình 2.5: Số trang trại và Hợp tác xã 2003- 2008 90
Hình 2.6: Tỷ trọng nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản (%) 91
Hình 2.7: Tăng trưởng GDP của nền kinh tế và ngành nông nghiệp Việt Nam 2001 - 2009 (%) 107
Hình 2.8: Cơ cấu FDI trong ngành nông nghiệp 1998 - 2007 108
Hình 2.9: Đầu tư từ nguồn vốn ODA cho các lĩnh vực của nền kinh tế giai đoạn 2006 - 2010 109
Hình 2.10: Kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng nông sản năm 2009 (triệu USD) 113
Hình 2.12: Tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩu nông lâm thuỷ sản trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá chung (%) 114
Hình 2.13: Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng năm 2009 (triệu USD) 115
Hình 2.14: Xuất khẩu nông sản Việt Nam sang Trung Quốc năm 2009 tăng 10% trong bối cảnh 9/10 thị trường còn lại đều giảm (Triệu USD, %) 116
Hình 2.15: Đánh giá chính sách thu hồi đất để xây dựng các Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp, đô thị đối với người dân 128
Hình 2.16: Nguyên nhân khiến chính sách thu hồi đất không thoả đáng 129
Hình 2.17: Cơ cấu đầu tư từ ngân sách Nhà nước phân theo ngành, giai đoạn 2005-2007 (%) 131
Hình 2.18: Đánh giá tác động của chính sách đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đến phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân 132
Hình 2.19: Năng lực xây dựng dự án và phương án trả nợ vốn vay của nông dân 137
Hình 2.20: Tác động của chính sách đầu tư KHCN đến sự phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân 142
Hình 2.21: Nhận xét về cơ chế, chính sách của Nhà nước đối với nông nghiệp, nông dân và nông thôn 162
Hình 2.22: Tỷ lệ cán bộ tự đánh giá mức độ hiểu biết về WTO 168
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ADB Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển Châu Á
ASEAN Association of South-East Asian
Nation
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
BCC Business Cooperation Contract Hợp đồng hợp tác kinh doanh
BLT Build-Lease-Transfer Xây dựng - thuế - chuyển giao
BOO Build-Owned-Operate Xây dựng - sở hữu - kinh doanh BOOT Build-Owned-Operate-Transfer Xây dựng - sở hữu - kinh doanh-
chuyển giao BOT Build-Operate-Transfer Xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
BT Build-Transfer Xây dựng - chuyển giao
CDC Council for the Development of
Cambodia
Hội đồng phát triển Campuchia
CEPT Common Effective Preferential Tariff Hiệp định về ưu đãi thuế quan có
hiệu lực chung CIB Cambodian Investment Board ủy ban đầu tư Campuchia
EDB Economic Development Board ủy ban phát triển kinh tế
FAO Food and Agriculture Organization Tổ chức Lương thực và N ông nghiệpFDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
GSP Generalized System of Preferences Sự ưu đãi về thuế quan
SamuelsonIMF International Manetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
MFN Most Favoured Nation Đãi ngộ tối huệ quốc
NAFTA North America Free Trade Area Khu mậu dịch tự do Bắc Mỹ
NDP New Development Policy Chính sách phát triển mới
NEP New Economy Policy Chính sách kinh tế mới
NICs New Industrialized Countries Các nước công nghiệp mới
ODA Official Development Assistance Tài trợ phát triển chính thức
OECD Organisation for Economic
Cooperation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh
tế TNCs Transnational Corporation Các công ty xuyên quốc gia
UNCTAD United Nations Conference on Trade
and Development
Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển UNDP United Nations Development
Trang 9UNICEF United Nations International
Children’s Emergency Fund
Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc UNIDO United Nations Industrial
USD United State Dollar Đô la Mỹ
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nông dân là lực lượng chủ yếu, trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc Khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” thể hiện khá đầy đủ
sự đóng góp to lớn của nông dân Sau hơn 20 năm đổi mới, trong thành quả chung, đời sống nông dân đã được cải thiện Nhưng do sản xuất nhỏ, manh mún, thiên tai, nông dân vẫn đang phải đối mặt với những khó khăn Hiện nay, khoảng 73% lực lượng lao động làm việc ở nông thôn, 13,2 triệu hộ, trong đó 11 triệu hộ chuyên sản xuất nông nghiệp Đây là khu vực có mức thu nhập thấp và không ổn định Khó khăn về kinh tế tiềm ẩn những bất ổn về chính trị, nếu những vấn đề này không được giải quyết hợp lý để hình thành cầu nối gắn chặt nông dân với quá trình xây dựng, triển khai chính sách Việt Nam sẽ gặp khó khăn trong việc ổn định phát triển kinh tế bền vững trong thời gian tới
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành một số chủ trương, chính sách: thừa nhận hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự chủ, giao ruộng đất cho nông dân sử dụng lâu dài, hỗ trợ nông dân tiếp cận các nguồn vốn, khoa học và công nghệ, xoá đói giảm nghèo, giảm thuế nông nghiệp, miễn thuỷ lợi phí đã tạo động lực giải phóng sức sản xuất phát triển nông nghiệp, nông thôn và từng bước nâng cao đời sống nông dân Nhưng đến nay, do thiếu chiến lược tổng thể, cơ bản
về nông nghiệp, nông thôn, nông dân; thiếu sự chuẩn bị cho hội nhập, một số chính sách tuy đã phát huy tác dụng nhưng nay đã bão hoà, không còn động lực, thực tế sản xuất hộ nông dân vẫn là quy mô nhỏ lẻ, phân tán, biệt lập (bình quân 1 hộ nông dân sử dụng 5 - 15 mảnh ruộng), năng suất thấp Đầu tư cho nông nghiệp chiếm khoảng 10% trong tổng vốn đầu tư của Nhà nước Thu nhập của nông dân thấp nhất
xã hội, so với thành thị có xu hướng ngày càng doãng ra,
Thực hiện các cam kết WTO, nền kinh tế Việt Nam phải thực hiện một số cải cách theo hướng: cần có chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn, tiến hành những điều chỉnh cơ cấu liên quan đến hộ nông dân Do phải xóa bỏ nhiều khoản trợ cấp nông nghiệp và cắt giảm thuế nhập khẩu nông sản, nên có thể diễn ra xu hướng: thu nhập của hộ nông dân giảm sút do giá đầu vào ngày càng tăng, khoảng cách thu nhập giữa cư dân thành thị và nông thôn gia tăng và có khả năng tăng tỷ lệ
hộ nghèo và đói Sự giảm sút một cách tương đối thu nhập của hộ nông dân sản xuất những sản phẩm nông nghiệp bị sản phẩm nhập khẩu cạnh tranh trực tiếp, tình trạng kém khả năng cạnh tranh của hàng hoá nông sản, đặc biệt là những sản phẩm dựa trên lợi thế đất đai, vốn không phải là thế mạnh của Việt Nam Do đó, sẽ giảm lượng lao động phổ thông nông nghiệp, cũng tức là làm giảm thu nhập của bộ phận này
Sự dôi dư lao động nông nghiệp làm tăng nguồn cung lao động phổ thông dẫn đến tình trạng thiếu việc làm gây sức ép cho xã hội Một đất nước khoảng trên 50% dân số làm nông nghiệp và khi hơn 10 triệu hộ nông dân phải đương đầu với những khó khăn do sức ép cạnh tranh từ hàng nông sản nước ngoài tất yếu đời sống của họ sẽ bị ảnh hưởng, từ đó sẽ nảy sinh những vấn đề xã hội không nhỏ Đây cũng
là điều đã được các chuyên gia nước ngoài cảnh báo Rõ ràng, chúng ta cần khẩn trương hoàn tất kế hoạch tổng thể về giải quyết vấn đề “tam nông” khi phải thực
Trang 11Với những cam kết nói trên, nhìn một cách tổng thể, trong quá trình thực hiện sẽ có sự thay đổi hết sức quan trọng về hoạt động thương mại, thị trường Việt Nam sẽ mở rộng cửa đối với hàng hóa nông sản và dịch vụ của các nước thành viên,
và đổi lại, Việt Nam cũng sẽ được hưởng những quyền đó khi hàng nông sản của Việt Nam thâm nhập thị trường các nước WTO Tuy nhiên, khả năng thực hiện quyền này của Việt Nam và các nước không ngang nhau Sản xuất nông nghiệp của Việt Nam hiện nay vẫn là sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, tập quán sản xuất nhỏ, năng suất, chất lượng thấp, trong khi đó, nhiều thành viên của WTO có nền nông nghiệp sản xuất lớn phát triển ở trình độ cao Nông dân Việt Nam phải đối diện ngay với bốn luật chơi cực kỳ khó khăn Đó là:
Luật chơi về an toàn thực phẩm: suốt trong quá trình sản xuất, nông sản Việt Nam phải có Chứng chỉ “nông nghiệp an toàn” hay “nông nghiệp tốt” (Good Agricultural Practices, GAP) để chứng minh mặt hàng này luôn an toàn vệ sinh, trong khi nông dân chưa thực sự quan tâm, quen với tập quán cũ hoặc chưa có điều kiện thực hiện
Luật chơi về chất lượng: mặt hàng nông sản Việt Nam phải cần rất nhiều chứng chỉ, chẳng hạn như chứng chỉ xác nhận nguồn gốc giống (chứng chỉ xác nhận giống không thuộc loại cây biến đổi gen, GMO), chứng chỉ báo cáo chất lượng (hàm lượng protein, chống oxy hóa, vitamine, đồng bộ về giống, độ chín, kích cỡ và màu sắc) để chứng minh mặt hàng có chất lượng cao và bổ dưỡng
Luật chơi về số lượng: lượng hàng hóa lưu hành trong thị trường nông sản thế giới ngày nay vừa lớn về số lượng (trăm tấn, ngàn tấn, vạn tấn), vừa đồng bộ (giống, kích cỡ, màu sắc, bao bì) và chính xác về thời gian giao hàng (đúng ngày quy định hoặc thứ Tư mỗi tuần, tuần đầu mỗi tháng ), trong khi nông nghiệp nước
ta chủ yếu là sản xuất phân tán, quy mô nhỏ lẻ, biệt lập
Luật chơi về giá cả: để yểm trợ cho cạnh tranh, giá cả là một yếu tố quyết định Đây là một thứ “luật bất thành văn” của bất cứ một cơ sở sản xuất hay một quốc gia nào trên thế giới muốn tham dự cuộc chơi Nông dân Việt Nam phải hết sức quan tâm đến điểm này để mặt hàng luôn có giá rẻ - vốn là một lợi thế của Việt
Trang 12bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách đồng bộ giúp nông dân tham gia vào chuỗi giá trị sản xuất nông sản toàn cầu, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống nông dân trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hạn chế những yếu kém, bất lợi và chủ động hội nhập kinh tế thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Ngoài nước
Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân là những vấn đề mang tính quy luật tất yếu phải giải quyết ở tất cả các nước, đặc biệt là các nước nghèo, thực hiện công nghiệp hoá muộn
- Đáng chú ý là tác phẩm “Nguyên lý kinh tế nông nghiệp - thị trường và giá
cả trong các nước đang phát triển” của tác giả David Colman và Trevor Youg, Nhà xuất bản Nông nghiệp, 1994 - Tác phẩm đã phân tích nhiều nội dung liên quan đến phát triển nông nghiệp hàng hoá gắn với phúc lợi của nông dân ở các nước đang phát triển Điểm nổi bật của tác phẩm là xem xét sự liên hệ, tác động tương quan giữa các chính sách đến thương mại nông sản trong điều kiện nền nông nghiệp hàng hoá Nhiều nội dung cuốn sách đã nêu cách thức lượng hoá để xác định sự ảnh hưởng của các chính sách, phương pháp quản lý đến phát triển nông nghiệp và thương mại nông sản Những nội dung của cuốn sách đã cung cấp nhiều thông tin
bổ ích cho việc nghiên cứu giải quyết những vấn đề phát triển nông nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân của các nước đang phát triển
- Tác phẩm “Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển” của tác giả Frank Elliss, Nhà xuất bản Nông nghiệp, 1994 được coi là công trình khảo cứu công phu về chính sách nông nghiệp của các nước đang phát triển được tổng kết thông qua thực tiễn phát triển nông nghiệp của nhiều quốc gia Nhiều nội dung của cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề thời sự trong quản lý Nhà nước đối với nông nghiệp Việt Nam như chính sách tác động đến đầu vào (như thuỷ lợi, phân bón, cơ
Trang 13- Kinh nghiệm giải quyết thành công của Nhật Bản (được Kanamori H đề cập trong cuốn sách “Thành công của Nhật Bản”) của bốn con rồng châu Á (được Nguỵ Kiệt - Hà Diệu phân tích trong cuốn sách “Bí quyết cất cánh của bốn con rồng nhỏ”, của Đài Loan (trong “40 năm kinh nghiệm Đài Loan” của Cao Hy Quân và
Lý Thành (chủ biên), của các nước ASEAN (trong Công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, Aiff M và Hill.H), cũng đặt ra nhiều gợi mở về lý luận cho việc nghiên cứu vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân của Việt Nam
- Ngoài ra Roman Gibson (biên tập) trong “Tư duy lại tương lai”, Joseph E Stiglitz và Shachid Yusuf trong “Suy nghĩ lại sự thần kỳ Đông Á”, Indermmti Gill
và Homi Kharas trong “Đông Á phục hưng - Ý tưởng phát triển kinh tế” cũng đã đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn để trên cơ sở đó có tư duy mới về phát triển nông nghiệp và nông dân trong thế giới toàn cầu và hội nhập kinh tế quốc tế, trong cuộc đấu tranh chống đói nghèo, thu hẹp bất bình đẳng xã hội, phát triển con người
- Đối với Trung Quốc, chính sách của Nhà nước đối với nông dân, gắn liền với vấn đề nông nghiệp, nông thôn (tam nông) luôn được coi là vấn đề cơ bản của xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc Vì lẽ đó, vấn đề tam nông luôn được sự quan tâm đặc biệt của Đảng Cộng sản, Quốc vụ viện và giới học giả Trung Quốc Tất cả các Nghị quyết Đại hội của Đảng Cộng sản Trung Quốc đều có những quyết sách về vấn đề này Năm 1982, Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung quốc và Quốc vụ Viện Trung quốc đã ban hành 8 văn kiện số 1 về Tam nông, bắt nguồn từ kết quả cải cách và mở cửa, của đổi mới và phát triển lý luận xây dựng CNXH mang đặc sắc Trung Quốc Đặc biệt Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã dành 2 phiên họp toàn thể thảo luận chuyên đề và ra Nghị Quyết về tam nông, đó là Nghị Quyết Hội nghị lần thứ 3, khoá XV (1998) và lần thứ 5, khoá XVI
Các học giả Trung Quốc đã có đóng góp vào lý luận về Tam nông như sau: Coi chế độ khoán hộ là sáng tạo vĩ đại nhất của nông dân Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng, là sự phát triển mới trong thực tiễn Trung Quốc của lý luận về hợp tác hoá nông nghiệp của Chủ nghĩa Mác (năm 1983); Bác bỏ chế độ thống nhất thu mua nông sản tồn tại trong 30 năm qua, thực hiện thu mua theo hợp đồng và theo kế hoạch (năm 1986); Thực hiện khoán sản đến hộ, khoán công đến hộ; coi chế độ khoán là bộ phận hợp thành của kinh tế nông nghiệp XHCN (năm 1992); Áp dụng thể chế kinh doanh hai tầng, coi kinh doanh khoán hộ gia đình là cơ sở; đi sâu vào cải cách chế độ lưu thông, phân phối nông sản, phát triển thị trường nông sản; dựa vào tiến bộ khoa học kỹ thuật để tối ưu hoá cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, thúc đẩy xây dựng nông thôn khá giả, nhanh chóng xoá bỏ đói nghèo, tăng
Trang 14cường xây dựng văn minh tinh thần XHCN, (năm 1998); Thực hiện chính sách
“cho nhiều, thu ít, làm sống động nông thôn” Coi việc tăng cường xây dựng cơ sở
hạ tầng nông thôn, đẩy nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp, nâng cao năng lực sản xuất tổng hợp nông nghiệp là một nhiệm vụ chiến lược quan trọng và cấp thiết (năm 2005); Thúc đẩy xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa, lấy công nghiệp thúc đẩy nông nghiệp, lấy thành thị kéo nông thôn; mở rộng con đường tăng thu nhập cho nông dân, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của nông dân làm thuê ở thành phố và các khu công nghiệp, phát triển giáo dục nghĩa vụ ở nông thôn, từng bước xây dựng chế độ bảo hiểm xã hội ở nông thôn, xây dựng xã hội nông thôn hài hoà, (năm 2006)
Tuy những công trình nghiên cứu ở nước ngoài có nhiều gợi mở tốt, nhưng việc vận dụng nó không dễ dàng bởi đặc thù của Việt Nam, đặt ra trong tiến trình phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam, đòi hỏi phải có thời gian
và đầu tư nghiên cứu
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Hiện nay trong nước chưa có nhiều công trình nghiên cứu độc lập về Chính sách của Nhà nước đối với nông dân trong điều kiện Việt Nam thực hiện các cam kết của WTO Tuy nhiên, xung quanh nội dung đề tài này có khá nhiều công trình của các tác giả được xuất bản, đăng tải trên tạp chí và các phương tiện khác nhau Trong đó, đáng chú ý là kết quả nghiên cứu của một số công trình sau:
- Cuốn sách “Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam” của PGS.TS Nguyễn Văn Bích và TS Chu Tiến Quang, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 1996 Công trình đã luận giải những vấn đề có tính lý thuyết về chính sách kinh tế như quan niệm về chính sách, các loại chính sách kinh tế và đi sâu phân tích những thay đổi chính sách nông nghiệp và tác động của chúng đến phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam
- Cuốn sách “Chính sách nông nghiệp, nông thôn sau Nghị Quyết 10 của Bộ Chính trị” Nxb Chính trị Quốc gia của PGS.TSKH Lê Đình Thắng, năm 1998 Tác giả đã đi sâu phân tích các chính sách ở cả 3 khía cạnh: các chính sách nông nghiệp, nông thôn được ban hành, quá trình hoàn thiện từng chính sách và tác động, hạn chế của các chính sách đã ban hành sau Nghị Quyết 10 đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân
- Cuốn sách “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới”, Nhà xuất bản Thống kê, năm 2003 của tác giả Nguyễn Sinh Cúc đã luận giải rõ quá trình đổi mới, hoàn thiện chính sách nông nghiệp, những thành tựu và những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển nông nghiệp Việt Nam Bên cạnh đánh giá cao những thành tựu, mô hình tốt về phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, tác giả đã nêu rõ những vấn đề đặt ra trong quản ký nông nghiệp Việt Nam ảnh hưởng tới người nông dân như vấn đề đầu tư, khả năng cạnh tranh, xuất khẩu nông sản,
- Cuốn sách Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới: quá khứ và hiện tại của PGS.TS Nguyễn Văn Bích, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2006 Cuốn sách được coi như một bản tổng kết về lĩnh vực nông nghiệp Việt
Trang 15Nam: đã làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn trong nông nghiệp, nông thôn, về quan hệ sản xuất, cơ chế quản lý Đặc biệt, đã nêu lên được bối cảnh về sự phát triển của nền kinh tế nước ta nói chung, nền nông nghiệp, nông thôn nói riêng
- Sách “Chính sách xã hội nông thôn - kinh nghiệm Cộng hoà Liên bang Đức
và thực tiễn Việt Nam” do GS.TS Mai Ngọc Cường (chủ biên), nhà xuất bản Lý luận Chính trị, ấn hành năm 2006 Cuốn sách đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
và thực tiễn liên quan đến phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn Việt Nam trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Cộng hoà Liên bang Đức Đã đưa
ra những khuyến nghị bước đầu xây dựng chính sách về việc làm, xoá đói giảm nghèo, an sinh xã hội, các chính sách cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản trong nông thôn Việt Nam những năm tới
- Sách Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam - 20 năm đổi mới và phát triển của
TS Đặng Kim Sơn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2006 Tác giả cho rằng, qua 20 mươi năm đổi mới, thắng lợi rõ rệt nhất của nông nghiệp Việt Nam là tạo ra và duy trì được một quá trình tăng trưởng sản xuất với tốc độ nhanh, trong thời gian dài Sản xuất nông nghiệp đã đảm bảo an ninh lương thực, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của dân cư, hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung, tăng nhanh xuất khẩu, môi trường tự nhiên được cố gắng bảo vệ Tuy vậy, quá trình đổi mới nông nghiệp, nông thôn vẫn còn một số yếu kém, tồn tại: chuyển dịch cơ cấu chậm, sản xuất nhỏ, manh mún, phân tán, tăng trưởng theo chiều rộng, chất lượng hiệu quả, khả năng cạnh tranh nhiều loại nông sản còn thấp, tăng trưởng chưa bền vững, thu nhập thấp, chênh lệch cao, khả năng tích luỹ thấp, lao động nông thôn
dư thừa Để tiếp tục đưa công cuộc đổi mới nông nghiệp, nông thôn nước ta tiến những bước vững chắc, cần quan tâm giải quyết một số vấn đề đặt ra : cần xác định mối quan hệ nông nghiệp - công nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá, đầu tư thích đáng cho nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển phải phù hợp với quy luật của kinh tế thị trường, làm rõ nội hàm của “định hướng xã hội chủ nghĩa”, nội dung
“công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn”, chủ trương chính sách phải xuất phát từ thực tiễn, quản lý Nhà nước phải đổi mới căn bản
- Sách Phát triển nông nghiệp và chính sách đất đai ở Việt Nam (web của ACIAR www.aciar.gov.au) Nội dung của cuốn sách đề cập khá toàn diện về vấn đề nông nghiệp và chính sách đất đai của Việt Nam thời gian qua, với các nội dung cơ bản như: Phát triển nông nghiệp và chính sách đất đai ở Việt Nam; Sử dụng linh hoạt đất nông nghiệp ở Việt Nam; Phân tích hiện tượng manh mún đất đai ở miền Bắc Việt Nam; Thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp và sự thay đổi qui mô hộ
ở Việt Nam từ sau 1993; Chính sách thuế và sử dụng đất nông nghiệp;
- Sách Hoạt động khuyến nông Việt Nam - Ý nghĩa chính trị - xã hội, Nhà xuất bản Lý Luận Chính Trị, năm 2005 Công trình đề cập chủ yếu với 3 nội dung
cơ bản: i) Khuyến nông và hoạt động khuyến nông Việt Nam (1993-2005) (với các nội dung cụ thể như khái quát về khuyến nông; về hoạt động khuyến nông Việt Nam (1993-2005); 2i) Những đóng góp mang ý nghĩa chính trị-xã hội của họat
động khuyến nông Việt Nam hiện nay; Những thách thức và các giải pháp phát triển họat động khuyến nông ở nước ta hiện nay, trong đó chỉ ra những thách thức của họat
Trang 16- Tác phẩm “Xây dựng mô hình nông thôn mới từ làng xã truyền thống đến văn minh hiện đại” của PGS.TS Vũ Trọng Khải, Nhà xuất bản Nông nghiệp, ấn hành năm 2004 Đây là công trình nghiên cứu công phu, đề cập nhiều vấn đề lý luận
và thực tiễn của Phát triển nông thôn Việt Nam: nông thôn truyền thống làng xã và những đặc trưng, hạn chế của nó; những tác động vừa qua của nông nghiệp đối với phát triển nông thôn; quan niệm về mô hình nông thôn hiện đại và giải pháp thực hiện Đặc biệt, tác giả đã có những kiến nghị mới, khác với chính sách hiện hành như bỏ chính sách hạn điền cứng nhắc và cho rằng chính sách đất đai thuần tuý là chính sách kinh tế, không phải là chính sách xã hội Mặc dù công trình còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu luận giải thêm, nhưng đây là nghiên cứu gợi mở nhiều vấn
đề quan trọng trong phát triển nông thôn, chính sách đối với nông dân
- Công trình nghiên cứu Giải pháp, chính sách ưu đãi phát triển sản xuất nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới, của Nguyễn Bích Hằng, năm 2006, Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Theo tác giả, sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam cần rà soát lại các quy định của thành phố về ưu đãi phát triển sản xuất nông nghiệp, đánh giá những quy định nào còn phù hợp, những quy định nào cần điều chỉnh và đề xuất bổ sung thêm một số quy định nhằm hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp trong thời gian tới Trước hết, cần xem xét sự cần thiết hỗ trợ, ưu đãi phát triển nông nghiệp, thứ hai là đánh giá thực trạng giải pháp, chính sách phát triển nông nghiệp thời gian qua và thứ ba là đề suất bổ sung giải pháp, chính sách ưu đãi phát triển sản xuất nông nghiệp thành phố sau khi Việt Nam gia nhập WTO
- Công trình nghiên cứu của GS.TS Bùi Xuân Lưu “Bảo hộ hợp lý nông nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Nxb Thống kê, năm
2004 đã trình bày nhiều vấn đề rất cơ bản của quản lý Nhà nước đối với nông nghiệp Việt Nam Sau khi trình bày khái quát về Hiệp định nông nghiệp của WTO, tác giả đã đi sâu phân tích cụ thể năng lực cạnh tranh của nhiều mặt hàng nông sản Việt Nam và nêu những khuyến nghị về giải quyết vấn đề bảo hộ nông nghiệp Việt Nam khi thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế
- TS Nguyễn Từ và đồng nghiệp với công trình “Hội nhập kinh tế và tác động của nó tới phát triển nông nghiệp Việt Nam” Nhà xuất bản Nông nghiệp, năm
2004 Công trình đã khái quát những nhận thức chung về hội nhập nông nghiệp,
Trang 17những cam kết quốc tế về thương mại - đầu tư của Việt Nam liên quan đến nông nghiệp, đánh giá các chính sách nông nghiệp hiện hành và nêu lên những giải pháp cần thực hiện trong quản lý Nhà nước đối với nông nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
- Công trình “Tăng cường năng lực hội nhập quốc tế cho ngành nông nghiệp
và phát triển nông thôn” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và AUSAID nghiên cứu (năm 2004) đề cập nhiều vấn đề cơ bản liên quan đến hội nhập nông nghiệp như những quy định về nông nghiệp trong AFTA, WTO và các quốc gia tham gia phải thực hiện, đánh giá một số văn bản hiện hành về nông nghiệp của Việt Nam, những khó khăn mà các nước tham gia WTO gặp phải và những khuyến nghị cho việc hoàn thiện chính sách nông nghiệp của Việt Nam khi gia nhập WTO
- Bài “Tam nông” trong thực hiện các cam kết WTO” của Lại Ngọc Hải, Tạp chí Cộng sản, số 7 (127), năm 2007 Theo nội dung các “biểu cam kết” đã công bố,
có thể thấy trong quá trình thực hiện các cam kết WTO, lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân sẽ chịu những ảnh hưởng không nhỏ, từ đó nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế - xã hội phức tạp, đòi hỏi Nhà nước có những giải pháp thích hợp để nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam nhanh chóng thích ứng với tình hình mới Theo tác giả, cả trước mắt và lâu dài, cần coi những nội dung dưới đây như những giải pháp cho vấn đề đặt ra để tập trung mọi nỗ lực thực hiện: Một là, nghiên cứu xây dựng một chính sách “cả gói” giải quyết vấn đề “tam nông” phù hợp với điều kiện Việt Nam trong khuôn khổ thực hiện các cam kết WTO; Hai là, có biện pháp tích cực và quyết liệt nhằm khắc phục cách nghĩ, cách làm, cách sống của người
“tiểu nông” trong quá trình hội nhập; Ba là, phát huy vai trò quản lý của Nhà nước, tranh thủ thời gian để thay đổi những tập quán sản xuất, kinh doanh không phù hợp với xu hướng hội nhập; Bốn là, khai thác tối đa những ưu đãi của WTO đối với các nước thành viên thuộc diện đang phát triển để nông nghiệp, nông thôn và nông dân hội nhập có hiệu quả
- “Gia nhập WTO tác động thế nào đến nông dân?” Thời báo kinh tế Việt
Nam của TS Phan Minh Ngọc, Đại học Kyushu, Nhật Bản Theo tác giả bài viết, để
giảm bớt khó khăn cho người nông dân thời kỳ hậu WTO, một số giải pháp chính sách hỗ trợ khác mà Nhà nước có thể thực hiện là: cải thiện chất lượng giáo dục, đào tạo nghề, chăm sóc y tế, sức khỏe cho dân cư nông thôn để giúp giảm được rủi
ro đói nghèo và giúp họ hòa nhập được vào lực lượng lao động công nghiệp (thành thị), nâng cao năng suất lao động, kể cả khi họ ở lại với nông thôn; cải thiện cơ sở
hạ tầng nông thôn để tăng liên kết nông thôn-thành thị, thu hút đầu tư công nghiệp
về nông thôn; tăng cường công tác nghiên cứu ứng dụng nông nghiệp, khuyến nông, sản xuất và marketing sản phẩm mới để tăng thu nhập cho hộ nông dân sản xuất nông nghiệp, đặc biệt từ các hoạt động sản xuất hướng xuất khẩu; trợ cấp cho những hộ nghèo các phương tiện để tham gia vào sản xuất, trong một thời gian ngắn Những trợ cấp này được phép của WTO với điều kiện không vượt quá 10% tổng trị giá sản phẩm làm ra; cải thiện công tác tài chính nông thôn, cắt giảm thuế
và các nghĩa vụ tài chính trả từ nông dân
- Bài viết "Vào WTO nông dân ta được gì và mất gì" của GS Nguyễn Lân Dũng, trong Vietsciences ngày 25/06/2006 Theo tác giả gia nhập WTO có nghĩa là tranh thủ cơ hội và chấp nhận thách thức Đối với nông dân nước ta thì Cơ hội và
Trang 18Thách thức ấy gồm những gì? Cần biết rằng cư dân nông thôn hiện chiếm đến 73,7% cư dân và chiếm 67% lực lượng lao động của cả nước, với 13,2 triệu hộ trong đó có 11 triệu hộ chuyên sản xuất nông nghiệp, nguồn lực tạo ra từ nông nghiệp chiếm 21% GDP
Những công trình cứu kể trên và nhiều cuốn sách và bài viết trên các tạp chí,
ở các góc nhìn khác nhau đã đánh giá toàn diện, hay từng mặt, mức độ sâu hay nông, về cơ bản đã cung cấp nhiều tư liệu quý cho việc nghiên cứu đề tài này:
- Đã phác hoạ được bức tranh toàn cảnh về những vấn đề lý luận và thực tiễn chủ yếu của 20 năm đổi mới trong nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong tiến trình đổi mới theo hướng kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập
- Khẳng định những thành tựu cơ bản: vượt qua được cửa ải lương thực, trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới, cơ cấu kinh tế được chuyển dịch, kết cấu hạ tầng được tăng cường, đời sống của nông dân được từng bước cải thiện, ;
- Luận giải những yếu kém, khuyết điểm: công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn quá chậm; nông dân, nông thôn ít được hưởng những thành quả của đổi mới và phát triển, chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, giữa nghèo
và giàu ngày càng doãng ra, bất bình đẳng có xu hướng ngày càng tăng, môi trường sinh thái ở nông thôn bị huỷ hoại nghiêm trọng, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đáng báo động,
Tuy nhiên các tác giả chưa giành nhiều sự quan tâm cho việc nghiên cứu làm
rõ luận cứ khoa học về chính sách của Nhà nước đối với nông dân trong việc thực hiện các cam kết WTO; đánh giá thực trạng chính sách và thực thi chính sách của Nhà nước đối với nông dân sau hơn 20 năm đổi mới; đề xuất có cơ sở khoa học khuyến nghị, quan điểm, giải pháp về chính sách của Nhà nước đối với nông dân trong việc thực hiện các cam kết WTO vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu
3 Mục tiêu của đề tài
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách của Nhà nước đối với nông dân
- Kinh nghiệm thế giới về chính sách của Nhà nước đối với nông dân trong điều kiện thực hiện các cam kết WTO và một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Phân tích thực trạng chính sách Nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn
và nông dân và sự tác động của nó đối với nông dân
- Hoàn thiện chính sách của Nhà nước đối với nông dân trong việc thực hiện các cam kết của WTO
Trang 194 Đối tương, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định là chính sách của Nhà nước
đối với nông dân trong điều kiện thực hiện các cam kết của WTO Phạm vi của các chính sách sẽ được tiếp cận theo nghĩa rộng, ảnh hưởng đến nông dân Tuy nhiên, góc độ xem xét chủ yếu là về kinh tế Các khía cạnh về bảo tồn giá trị văn hoá, môi trường, ổn định chính trị… ở nông thôn sẽ không là đối tượng xem xét của đề tài Khách thể là nông dân: sản xuất nông sản (trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản) đây được coi là bộ phận lớn nhất trong nông nghiệp Đặt nông dân trong mối quan hệ tam nông: nông nghiệp - nông dân - nông thôn Về thời gian: từ năm 2001 -
2009 có thời gian chuẩn bị 5 năm và 3 năm sau khi gia nhập WTO;
+ Tham chiếu kinh nghiệm thế giới, đặc biệt là những nước có điều kiện tương đồng
- Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng: Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm những phương pháp sau:
+ Phân tích tài liệu sẵn có: Đề tài đã tiến hành khảo cứu các báo cáo, nghiên cứu, bài viết của các chuyên gia trong và ngoài nước trong lĩnh vực xây dựng và đánh giá chính sách của Nhà nước đối với nông dân Kết quả của bước tổng hợp tài liệu này sẽ cung cấp cơ sở lý thuyết cho việc tiến hành phân tích, đề xuất và triển khai các chính sách của Nhà nước đối với nông dân
+ Phương pháp thảo luận nhóm tập trung: Đề tài sẽ thực hiện các buổi thảo luận nhóm tập trung đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tại các địa phương Các buổi toạ đàm nhóm cũng sẽ được tổ chức đối người tham gia thảo luận là đại diện nông dân và chính quyền địa phương
+ Tham vấn chuyên gia: Nghiên cứu cũng sẽ tiến hành tham vấn một số chuyên gia tại các Bộ, Ban, ngành tại Trung ương và địa phương am hiểu về các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân ở Việt Nam hoặc trên thế giới Thông tin đầu vào do các chuyên gia cung cấp qua các cuộc thảo luận nhóm được tổng hợp và được sử dụng làm một trong những căn cứ để đưa ra những nhận xét và đánh giá về hiệu quả của các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua Đồng thời những thông tin đầu vào này cũng được sử dụng trong việc đề xuất những sáng kiến chính sách hỗ trợ nông dân Việt Nam trong điều kiện thực hiện các cam kết của WTO
+ Kỹ thuật đánh giá nhanh về chính sách có sự tham gia của người dân nhằm trực tiếp lắng nghe những đánh giá khác nhau của họ về từng chủ đề nghiên cứu
Trang 20+ Phương pháp điều tra xã hội học: Điều tra chọn mẫu bằng các câu hỏi được chuẩn bị sẵn dành cho đối tượng là: cán bộ lãnh đạo quản lý các địa phương; đại diện các chủ trang trại và nông dân tại các địa phương
Hai loại mẫu này đều được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên theo cụm (theo địa lý) Chọn 8 tỉnh/thành đại diện cho 8 vùng lãnh thổ trên toàn quốc: Đồng Nai (vùng Đông Nam bộ); Cần thơ (Tây Nam bộ); Đăk Lăk (vùng Tây Nguyên); Quảng Nam (Trung bộ); Hà Tĩnh (Bắc Trung bộ); Thái Bình (vùng Bắc Bộ); Điện biên (vùng Tây Bắc); Bắc Giang (vùng Đông bắc)
Tại mỗi tỉnh/thành chọn 2 huyện Tại mỗi huyện chọn 2 xã Như vậy sẽ chọn được 32 xã, thuộc 16 huyện của 8 tỉnh/thành vào diện khảo sát
- Đối với mẫu cán bộ:
+ Tại cấp tỉnh: Lựa chọn một số thành viên tỉnh uỷ, UBND tỉnh, cán bộ lãnh đạo các Sở là trưởng các phòng chức năng của các sở này, lãnh đạo hội nông dân (tổng số 15 người/tỉnh x 8 tỉnh = 120 người)
+ Tại cấp huyện: lựa chọn các thành viên của Huyện uỷ, UBND huyện, cán
bộ phòng nông nghiệp, phòng địa chính, hội nông dân (tổng số 12 người/huyện x 16 huyện = 192 người)
+ Tại cấp xã: Lựa chọn trong các công chức xã (Theo Nghị định 114/CP) và các trưởng thôn, bản (và tương đương) (tổng số 10 người/xã x 32 xã = 320 người)
Tổng mẫu cán bộ: 120 người + 192 người + 320 người = 632 người
* Đỗi với mẫu đại diện nông dân và các chủ trang trại: Người được chọn sẽ
là chủ hộ gia đình và các chủ trang trại (chỉ thay thế bằng người khác khi không thể gặp được người này) Tại mỗi xã sẽ chọn 90 đối tượng (80 hộ nông dân và 10 chủ trang trại nông nghiệp) của xã theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống
Như vậy tổng số mẫu đại diện nông dân và các chủ trang trại là 90 người/xã
x 32 xã = 2.880 người
Tổng phiếu điều tra: 632 + 2.880 = 3.512
Sau điều tra, phiếu được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS Còn các thông tin định tính thu được từ các phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm sẽ được xử lý bằng chương trình N - Vivo
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng nông nghiệp, nông thôn, nông dân nước ta hiện nay; nghiên cứu sự tác động của việc gia nhập WTO và những giải pháp đẩy nhanh quá trình hội nhập của khu vực này; đề tài sẽ góp phần bổ sung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về:
- Chuyển nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, phân tán lạc hậu của nước ta hiện nay thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá đủ điều kiện để chủ động hội nhập quốc tế
- Vai trò của Nhà nước đối với khu vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn nước ta trong quá trình hội nhập, đặc biệt là hoạch định và thực thi chính sách
Trang 21- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tế trong nước và quốc tế đề xuất, khuyến nghị các quan điểm giải pháp chính sách của Nhà nước đối với nông dân Việt Nam trong quá hội nhập
- Xây dựng lộ trình mang tính định hướng cho nông dân trong quá trình hội nhập
Trang 22Chương 1 NHỮNG LUẬN CỨ KHOA HỌC VỀ CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NÔNG DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CAM KẾT
CỦA WTO
1.1 SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA HỖ TRỢ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
NÔNG DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT CỦA WTO 1.1.1 Khó khăn và thách thức đối với nông dân, khi Việt Nam gia nhập
WTO
Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization - WTO) ra đời trên
cơ sở kế tục tổ chức tiền thân là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (The General Agreement on Tariffs and Trade – GATT) Đây là tổ chức quốc tế duy nhất đề ra những nguyên tắc thương mại giữa các quốc gia trên thế giới Đặc trưng thương mại trong khuôn khổ các quy định của WTO là các nước thành viên phải dỡ
bỏ rào cản thương mại không cần thiết, mở cửa thị trường nội địa cho hàng hoá nước khác và thực thi thương mại theo một số chuẩn mực chung Do đó, khi nông dân thực hành thương mại theo quy định của WTO sẽ gặp các khó khăn, thách thức, đòi hỏi Nhà nước cần có những chính sách phù hợp để hỗ trợ, đó là:
Thứ nhất, thuế nhập khẩu phải được ban hành theo hệ thống mã số chung và
phải cam kết giảm dần (cam kết thuế trần và lộ trình giảm) Khi là thành viên WTO, trong điều kiện thương mại bình thường, Chính phủ nước thành viên không được tuỳ tiện nâng mức thuế nhập khẩu vượt quá trần cam kết
Bảng 1.1: Tóm tắt mức cắt giảm thuế khi Việt Nam gia nhập WTO
Mức cắt giảm thuế chung tại Vòng Uruguay
Thuế suất cam kết vào cuối
lộ trình (%)
Mức giảm so với thuế MFN hiện hành (%)
Cam kết WTO của Trung Quốc Nước
phát triển
Nước đang phát triển Nông sản 23,5 25,2 21,0 10,6 16,7 giảm
40%
giảm 30% Hàng
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Thuế nhập khẩu chỉ được phép vượt trần cam kết trong trường hợp tự vệ khẩn cấp hoặc hàng nhập khẩu bán phá giá Tuy nhiên, các thủ tục thực thi quyền tự
vệ đặc biệt và áp dụng thuế chống bán phá giá là khá phức tạp, chi phí lớn, thích hợp nhiều hơn cho các nước phát triển đã có thể chế thị trường hoàn chỉnh, có các
tổ chức ngành nghề lớn mạnh và có hệ thống luật pháp đầy đủ Các nước đang và chậm phát triển thường không có đủ các điều kiện cần thiết để thực thi các thủ tục
Trang 23cho phép áp dụng thuế tự vệ khẩn cấp hoặc thuế chống bán phá giá đối với hàng hoá
nhập khẩu do các thể chế kinh tế thị trường chưa phát triển, các tổ chức ngành nghề
còn non yếu, người sản xuất và chính quyền không có nguồn lực trang trải cho các
hoạt động thu thập bằng cứ… Nói cách khác, thương mại trong môi trường WTO
vừa làm cho Chính phủ bị thu hẹp quyền can thiệp hành chính nhằm bảo hộ hàng
sản xuất trong nước chống lại hàng nhập khẩu, vừa buộc Nhà nước và người sản
xuất phải chi phí nhiều hơn mới có thể tự bảo vệ được mình Do đó nếu Nhà nước
không thay đổi các biện pháp hỗ trợ người sản xuất, trong đó có nông dân, thì hàng
hoá trong nước sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi cạnh tranh với hàng nước ngoài trên
thị trường nội địa
Hơn nữa, nông sản của các nước đang phát triển còn được sản xuất ở trình độ
thấp nên chi phí cao, chất lượng hàng hoá chưa đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế nên vừa
khó khăn khi nhập khẩu vào nước khác, vừa khó cạnh tranh với nông sản nhập khẩu
ở thị trường nội địa Trong điều kiện hàng rào thuế quan bị hạ thấp, nông dân sẽ gặp
khó khăn khi tiêu thụ trong nước, đồng thời phải nỗ lực rất nhiều mới có thể hưởng
lợi từ đẩy mạnh xuất khẩu Để tăng năng lực cạnh tranh, nông dân cần sự hỗ trợ
tăng cường của Nhà nước theo những cách mà WTO không cấm
Thứ hai, giảm dần đi tới xoá bỏ các hạn chế số lượng nhập khẩu
Bảng 1.2 Mức thuế cam kết đối với một số nông sản của Việt Nam
Mặt hàng Thuế suất MFN hiện
hành (%)
Thuế suất cam kết (%)
Thời gian cắt giảm (năm)
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Các hiệp định của WTO quy định Chính phủ các nước phải dỡ bỏ dần (theo
tốc độ đàm phán) các hạn chế về số lượng nhập khẩu (công khai, thu hẹp danh mục
cấm xuất, nhập khẩu; thuế quan hoá hạn ngạch; đơn giản, công khai thủ tục cấp
phép xuất, nhập khẩu…) Chính phủ các nước thành viên không được dùng quyền
lực Nhà nước để ngăn cản thương mại quốc tế thông qua việc ban hành và thực thi
Trang 24các thủ tục liên quan đến xuất nhập khẩu Như vậy, hàng hoá sản xuất trong nước
và hàng hoá nhập khẩu chỉ còn khác biệt trong đối xử Nhà nước về mức thuế quan không lớn Do đó, nếu hàng hoá trong nước không có sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu thì sự cứu nguy bằng các biện pháp hành chính Nhà nước không còn Trong điều kiện đó, nông dân sản xuất các mặt hàng không có lợi thế cạnh tranh sẽ có nguy cơ phá sản hàng loạt Vì vậy, Nhà nước cần hỗ trợ nông dân để họ chuyển nghề hoặc cải thiện hiệu quả sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh
Thứ ba, thủ tục cần thiết liên quan đến xuất nhập khẩu được từng bước chuẩn
hoá theo tiêu chuẩn quốc tế để các nhà xuất nhập khẩu không phải chịu những chi phí không cần thiết, nhất là các thủ tục về hải quan, về công nhận tiêu chuẩn hàng hoá, về vận chuyển… Rất nhiều thủ tục này đã quen thuộc với nông dân nước phát triển, nhưng nông dân nước ta còn hết sức bỡ ngỡ Vì thế, để giúp nông dân chủ động trong tham gia thương mại cũng như để giảm chi phí giao dịch cho nông dân, ngoài việc hướng dẫn, tuyên truyền, cần đào tạo kỹ năng thương mại theo chuẩn mực quốc tế cho người nông dân
Thứ năm, các nước thành viên không những phải mở cửa thị trường trong
nước cho hàng hoá mà còn mở cửa cho thương gia, vốn và lao động nước ngoài,
nhất là trong lĩnh vực dịch vụ Chính vì thế, nông dân không những phải cạnh tranh
về đầu ra trên thị trường nội địa mà còn phải cạnh tranh với doanh nghiệp và lao động nước ngoài Nếu Nhà nước không hỗ trợ để nông dân mau chóng trưởng thành, có được kỹ năng lao động cần thiết thì nông dân sẽ mất cơ hội đầu tư và việc làm ngay trong ngành nông nghiệp và ở chính quê hương mình
Thứ sáu, ngoài ra còn các quy định về quyền sở hữu trí tuệ, về vệ sinh, kiểm
dịch, về minh bạch hoá, về môi trường, về nhân quyền… mà muốn áp dụng được, nông dân nước ta phải được học, phải được hỗ trợ kinh phí, thông tin và hệ thống tổ chức thích hợp Những quy định trên áp dụng bình đẳng cho mọi thành viên của WTO Về mặt pháp lý, nông dân các nước được đối xử như nhau trên thị trường WTO Về mặt kinh tế, nông dân của các nước đang phát triển sẽ được hưởng lợi ít hơn và chịu áp lực thua thiệt nhiều hơn nông dân ở các nước phát triển, do: cơ sở hạ tầng hỗ trợ thương mại nông sản ở các nước đang phát triển thấp kém hơn, nhất là
về thông tin dự báo, quản lý chất lượng, năng lực phòng dịch của Nhà nước…; điều kiện sản xuất nông nghiệp ở các nước đang phát triển thấp kém, quy mô nhỏ, phân tán nên nông sản và nông dân thực hành sản xuất, thương mại khó đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế; hỗ trợ của Nhà nước đang phát triển ít hơn do tiềm lực tài chính hạn chế Chính vì thế, trong điều kiện thương mại bình thường của WTO, nông dân ở các nước đang phát triển vấp phải nhiều khó khăn hơn nông dân các nước phát triển, nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước, nhiều nhóm nông dân ở các nước đang phát triển sẽ thua thiệt, trở nên đói nghèo hơn trước
Ngoài những quy định chung trong các quy định thương mại của WTO, thương mại nông sản được giành cho những quy định đặc biệt có liên quan đến thu nhập, việc làm, mức sống và sự phát triển của nông dân ở nông thôn đòi hỏi vai trò của Nhà nước, đó là:
- Khác với thương mại sản phẩm công nghiệp chế biến, thương mại nông sản trong WTO không những được thực hành trong điều kiện các nước đi trước có
Trang 25quyền duy trì các mức thuế và hạn ngạch thuế quan cao, mà Hiệp định nông nghiệp còn cho phép các Chính phủ duy trì hệ thống trợ cấp và hỗ trợ nhiều mặt cho nông sản và nông dân, nhất là ở các nước phát triển, nhằm bảo hộ cho ngành nông nghiệp
ở nước họ Chính vì thế, nhiều ý kiến cho rằng thương mại nông sản hiện là lĩnh vực thương mại bất bình đẳng nhất, đặc biệt là bất bình đẳng giữa các nước giàu và nước nghèo Cụ thể là Hiệp định nông nghiệp cho phép các Chính phủ thực thi hệ thống hỗ trợ nông nghiệp và nông dân theo các mức:
+ Trợ cấp hộp xanh: là các khoản trợ cấp không bị hạn chế như trợ cấp nghiên cứu, kiểm soát dịch bệnh, giám định, phân cấp sản phẩm riêng biệt trong nông nghiệp, dịch vụ tiếp thị thị trường và xúc tiến thương mại, đóng góp của Chính phủ trong các chương trình bảo hiểm thu nhập và bảo đảm thu nhập cho nông dân; trợ cấp thiên tai, trợ cấp theo chương trình bảo vệ môi trường Về mặt pháp lý, Chính phủ các nước đều được phép áp dụng các biện pháp hỗ trợ nông dân nước mình theo hộp xanh không hạn chế số lượng Đó là khía cạnh bình đẳng hình thức của Hiệp định Nông nghiệp Về mặt kinh tế, các nước phát triển có số lượng nông dân ít hơn và có nguồn tài chính dồi dào hơn các nước phát triển lớn gấp nhiều lần
so với chỉ tiêu tương ứng ở các nước đang phát triển Trong khi đó, nông sản là hàng hoá chiếm tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu lớn gấp nhiều lần so với các nước phát triển Đây chính là khía cạnh bất bình đẳng thực tế và sâu sắc trong các quy định của WTO về thương mại nông sản mà các vòng đàm phán gần đây không tìm được giải pháp đồng thuận giữa hai nhóm nước
+ Trợ cấp hộp màu hổ phách: là những khoản trợ cấp không bị cấm, nhưng không khuyến khích sử dụng như trợ cấp dựa trên khu vực và sản lượng; trợ cấp chăn nuôi tính theo đầu gia súc… Trên thực tế, đây là đặc quyền được bảo lưu của các nước phát triển do lịch sử đàm phán để lại Để duy trì mức sản lượng mong muốn, Chính phủ ở các nước phát triển đã tài trợ cho nông dân các khoản tài chính rất lớn (tính bình quân trên số sản phẩm được trợ cấp cũng như tính bình quân đầu người nông dân) Những khoản trợ cấp này giúp nông dân ở các nước phát triển xuất khẩu nông sản với giá thấp, tạo nên tình trạng cạnh tranh không công bằng với nông sản của các nước đang phát triển Trong điều kiện vòng đàm phán Doha chưa giải quyết được yêu sách của các nước đang phát triển đòi Chính phủ các nước phát triển giảm trợ cấp cho nông dân, Chính phủ các nước đang phát triển cũng phải tìm nguồn tài chính hỗ trợ nông dân nước họ nếu như không muốn nông dân nước họ phá sản
+ Trợ cấp màu đỏ: là những trợ cấp mà WTO cho rằng bóp méo thương mại nên cần cam kết giảm như trợ giá, trợ cước vận chuyển,…
+ Trợ cấp xuất khẩu nhìn chung bị cấm trong thương mại theo nguyên tắc của WTO, nhưng trong Hiệp định Nông nghiệp vẫn chừa chỗ cho trợ cấp xuất khẩu dưới hình thức viện trợ lương thực cho các nước khó khăn, trợ cấp tín dụng cho nông dân Hình thức trợ cấp này, một lần nữa, chỉ có thể vận dụng bởi chính phủ các nước phát triển Đa phần Chính phủ ở các nước đang phát triển thường xuyên bị thâm hụt ngân sách, nguồn tài chính công nhỏ bé nên khả năng hỗ trợ xuất khẩu nông sản bằng trợ cấp lương thực rất nhỏ bé
Trang 26Ngoài các khoản trợ cấp kể trên, các thoả thuận trong WTO còn cho phép Chính phủ các nước thành viên hỗ trợ phát triển nông thôn, đào tạo nghề cho nông dân, đặc biệt là hỗ trợ trực tiếp thu nhập cho nông dân bị giảm thu nhập do giảm sản lượng và giảm giá nông sản trên thị trường thế giới…
WTO quy định mức trợ cấp theo % giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp Chính vì thế, nước sản xuất nhiều được phép trợ cấp nhiều hơn nước sản xuất ít Hơn nữa, Chính phủ nước giàu có khả năng hỗ trợ nông nghiệp và thương mại nông sản gấp nhiều lần các nước nghèo Trong khi đó các nước nghèo, nước sản xuất ít, một mặt, cần phải hỗ trợ nhiều hơn để phát triển hết năng lực của ngành nông nghiệp thì lại bị hạn chế; mặt khác, nước nghèo còn dựa nhiều vào xuất khẩu nông sản để thu ngoại tệ sẽ rất khó khăn khi phải cạnh tranh với nông sản giá thấp (do được trợ cấp) của các nước phát triển Do đó, nông dân các nước nghèo như nước ta rất khó có sức mạnh trên thị trường nông sản thế giới và càng khó thu được lợi ích từ thương mại nông sản nếu Nhà nước ta không có chính sách hỗ trợ hữu hiệu
- Những quy định về tiêu chuẩn nông sản, nhất là tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và phòng dịch trong thực hành thương mại nông sản với các nước phát triển rất phức tạp Trong khi đó, cả Nhà nước và nông dân nước ta hầu như chưa biết, chưa quen và chưa quan tâm đến việc đề ra và thực thi các tiêu chuẩn nông sản quốc
tế Tình hình đó dẫn đến hai bất lợi: một là, nông sản của nước ta khó xâm nhập các thị trường phát triển do chưa có uy tín, chưa được công nhận đạt tiêu chuẩn quốc tế Hai là, nông sản kém chất lượng của các nước có điều kiện xâm nhập thị trường nội địa nước ta làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của dân cư và cạnh tranh không lành mạnh với nông sản trong nước Để giúp nông dân đứng chân được trên thị trường WTO, Nhà nước cần chủ động đề hệ thống các biện pháp tổng thể, một mặt, hỗ trợ nông dân
để họ hiểu, quan tâm và có năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn hàng hoá quốc tế nhằm tăng năng lực cạnh tranh của nông sản xuất khẩu; mặt khác, thiết lập hệ thống tiêu chuẩn chất lượng quốc gia, tăng cường năng lực quản lý chất lượng hàng hoá ở thị trường trong nước, hạn chế sức cạnh tranh của hàng hoá nhập khẩu kém chất lượng
- WTO cũng nhân nhượng các nước phát triển trong việc chấp nhận cho Chính phủ các nước thực hành mua nông sản theo giá cao để dự trữ hoặc viện trợ nhằm hỗ trợ nông dân nước họ Trong bối cảnh đó, nếu Nhà nước ta không có những biện pháp tương ứng, nông dân Việt Nam rất khó cạnh tranh trực diện với nông dân ở các nước phát triển, nhất là khi thị trường nông sản thế giới biến động bất lợi
- Một số nông sản khi nhập khẩu vào các nước phát triển phải đáp ứng các tiêu chuẩn về nhân quyền và môi trường mà nhiều yêu cầu trong số đó mang tính bảo hộ trá hình Nông dân nước ta có mức tích luỹ thấp, điều kiện sản xuất nhiều mặt hàng nông sản chưa tiếp cận được chuẩn mực quốc tế nên dễ bị chèn ép, bắt bí
về các tiêu chuẩn đó Chính vì thế, Nhà nước, một mặt, cần hỗ trợ nông dân cải thiện điều kiện sản xuất hướng tới các chuẩn mực quốc tế, mặt khác, cần đấu tranh
để loại bỏ các yêu cầu có tính bảo hộ đó
Trang 271.1.2 Những khó khăn, thách thức do chính sự yếu kém của nông nghiệp
và nông dân Việt Nam
1.1.2.1.Nông nghiệp Việt Nam chưa được chuẩn bị tốt để hội nhập kinh tế
quốc tế
* Cơ cấu kinh tế nông nghiệp lạc hậu và chuyển dịch chậm Sự lạc hậu của
cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta thể hiện ở chỗ ngành trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng giá trị sản xuất của toàn ngành nông nghiệp, trong khi đó tỷ trọng ngành chăn nuôi tương đối thấp và tỷ trọng ngành dịch vụ không đáng kể Hơn thế nữa, cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong những năm qua chuyển dịch rất chậm chạp Tỷ trọng các ngành biến động trồi sụt không theo xu hướng rõ ràng Trong vòng 25 năm qua, tỷ trọng trồng trọt chỉ dao động trong khoảng 75,4-77,9%;
tỷ trọng chăn nuôi dao động trong khoảng 17,8-22,4%; và tỷ trọng dịch vụ dao động trong khoảng 2,1-2,98%
Thực tế cho thấy, nông nghiệp nước ta vẫn là ngành sản xuất sản phẩm thô là chính, chăn nuôi và dịch vụ chưa phát triển Đây thực sự là một khó khăn, thách thức lớn đối với việc đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Bởi vì cơ cấu nông nghiệp lạc hậu có thể gây cản trở đối với những động lực phát triển nội sinh của ngành; chẳng hạn, phần đông người lao động nông thôn hiện đang bị kìm hãm trong các hoạt động trồng trọt mang nặng tính thời vụ là một sự lãng phí lớn Cơ cấu nông nghiệp lạc hậu cũng cho thấy sản xuất nông nghiệp chưa tiếp cận được với thị trường, với cơ cấu tiêu dùng, và phương thức sản xuất còn lạc hậu, chưa phù hợp với yêu cầu của nông nghiệp hàng hoá
* Tình trạng manh mún đất nông nghiệp Sự ra đời của Nghị định số
64-NĐ/CP ngày 27-09-1993 của Chính phủ về giao quyền sử dụng ruộng đất ổn định lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân được coi là động lực thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, tạo lập cho người nông dân yên tâm đầu tư sản xuất, gia tăng đáng kể lương thực và nông sản thực phẩm và đã làm nên điều kì diệu chưa từng thấy trong hai mươi năm đổi mới vừa qua
Tuy nhiên, do việc giao đất sử dụng theo nguyên tắc bảo đảm công bằng cho người sử dụng đất nên mỗi hộ phải có: vừa có tốt vừa có xấu, có gần có xa Chính nguyên tắc ấy đã không khắc phục được tình trạng manh mún, sản xuất nhỏ lẻ và khi thực hiện chỉ thị 100/CT lại càng manh mún hơn Tình trạng manh mún đất đai của
cả nước nói chung, nhất là đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ nói riêng đang là vấn đề bức xúc và cản trở quá trình chuyển dịch từ nền nông nghiệp tự cấp tự túc sang nền nông nghiệp hàng hóa
Trang 28đó, công tác quy hoạch phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung lại rất yếu kém Hàng loạt các quy hoạch sai về sản xuất mía đường, cà phê, nuôi cá lồng bè,… đã gây ra những hậu quả tiêu cực không nhỏ
Tính chất nhỏ lẻ cũng thể hiện rõ ở quy mô của các chủ thể sản xuất, kinh doanh trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn Mặc dù các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh ngày càng được đa dạng hoá do tác động của chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, song số chủ thể là các hộ nông dân vẫn chiếm đa số
Cả nước hiện có hơn 13 triệu hộ nông dân, với diện tích đất nông nghiệp bình quân chỉ đạt chưa đến 0,7 ha/hộ, phân tán ở 76 triệu thửa đất nhỏ và manh mún Tình trạng này đã ràng buộc chặt hơn nông dân với ruộng đất, với trồng trọt, dẫn đến lao động nông thôn dư thừa, thiếu việc làm và hàng loạt vấn đề khác Các trang trại và doanh nghiệp nông thôn phát triển khá nhanh trong những năm gần đây, được coi là động lực mới khắc phục tính chất nhỏ lẻ và manh mún, nhưng số lượng còn hạn chế
và quy mô vẫn rất nhỏ Các doanh nghiệp Nhà nước, hợp tác xã, nông trường quốc
Trang 29doanh, lâm trường quốc doanh đang trong quá trình chuyển đổi và tái cơ cấu, nên nhiều đơn vị bị thua lỗ, khó khăn kéo dài, chưa có định hướng phát triển rõ ràng, trong khi đó, mối liên kết sản xuất, kinh doanh giữa các chủ thể còn rất hạn chế;
Đối với các ngành, nghề phi nông nghiệp ở nông thôn, xu hướng đi lên sản xuất quy mô lớn mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu Việc hình thành các khu, các cụm công nghiệp ở nhiều địa phương hiện nay là một hướng đi thích hợp, song phần lớn các khu, các cụm này thường gắn với các làng nghề sản xuất hàng tiểu, thủ công nghiệp, với các cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ Điều đáng quan tâm là công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp chế biến nông sản chưa phát triển, quy mô nhỏ bé, công nghệ lạc hậu Vì vậy, tác động của công nghiệp đến nông nghiệp và kinh tế nông thôn còn yếu và không đồng bộ Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho sức cạnh tranh của hàng hoá nông sản nước ta thấp trên thị trường
* Trình độ khoa học và công nghệ năng suất lao động trong nông nghiệp thấp Tuy đã đạt được một số thành tựu ứng dụng khoa học và công nghệ vào nông
nghiệp, nhưng nhìn chung, trình độ khoa học và công nghệ trong nông nghiệp nước
ta còn thấp Trình độ cơ giới hoá và thuỷ lợi hoá trong nông nghiệp được đánh giá
là thấp Phần lớn các tiến bộ kỹ thuật áp dụng trong sản xuất (giống cây, giống con, mẫu máy móc…) có nguồn gốc nhập khẩu từ nước ngoài Hoạt động nghiên cứu chưa được xã hội hóa, các mảng nghiên cứu chính sách, thị trưởng, môi trường, nông thôn, nông dân chưa được chú ý đáng kể Nghiên cứu ứng dụng cho các vùng sinh thái (nhất là ven biển miền Trung, miền núi) và nghiên cứu cơ bản chưa được đầu tư thích đáng Công nghệ sinh học (ngoài một số giống mới), công nghệ thông tin chưa được áp dụng rộng rãi để đóng góp đáng kể cho sự phát triển nông nghiệp
Cơ chế quản lý khoa học chung còn nhiều bất cập Hoạt động nghiên cứu chưa gắn với thực tiễn, chương trình đào tạo và khuyến nông Tỷ lệ công trình được áp dụng thấp Chính sách đãi ngộ đối với cán bộ nghiên cứu chưa thỏa đáng, trở thành yếu tố cản trở khiến cho cán bộ giỏi bỏ đi, những người ở lại dành nhiều công sức làm các công việc ngoài nghiên cứu để cải thiện đời sống
Hệ quả là năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh của đa số các loại cây trồng, vật nuôi còn thấp, sản phẩm làm ra khó tiêu thụ Năng suất lúa của Việt Nam bằng 65% của Trung Quốc; năng suất cao su bằng 50% của Malaysia, Thái Lan; chi phí thức ăn cho một đơn vị tăng trọng lợn cao hơn khoảng 1,5 lần so với các nước tiên tiến Trong lĩnh vực công nghệ sinh học, Việt Nam đã tụt hậu so với một số nước trong khu vực Mặc dù trong những năm qua, các kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm là khá phong phú và đa dạng, nhưng việc thương mại hoá kết quả nghiên cứu để triển khai ở quy mô công nghiệp lại rất hạn chế Hiện nay, các nước ASEAN như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippin đều đã có văn bản của Nhà nước hướng dẫn việc thử nghiệm, đánh giá và cho phép sử dụng sinh vật biến đổi gien (GMO), trong khi chúng ta chưa ban hành văn bản này Đây cũng là một cản trở lớn làm chậm tiến độ hội nhập trong lĩnh vực công nghệ sinh học của Việt Nam
Trang 30* Nông nghiệp tăng trưởng chưa bền vững Nông nghiệp và kinh tế nông
thôn đang đứng trước nhiều thử thách đe dọa sự bền vững của quá trình phát triển Sau khi tăng lên mức 22,1% trên tổng GDP năm 2008, khu vực nông lâm thuỷ sản lại sụt xuống mức 20,7% - mức gần bằng với các năm 2006 -2007 Mức sụt giảm về
tỷ trọng đóng góp của khu vực nông nghiệp trên tổng GDP năm 2009 so với năm
2008 (giảm tới 1,5%) được ghi nhận là mức sụt giảm lớn nhất kể từ năm 2000 trở lại đây
Các dịch vụ công bảo vệ sản xuất như bảo vệ thực vật, thú y, thủy lợi, phòng chống dịch bệnh, hạn úng, lụt bão, bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, thông tin thị trường, phòng chống gian lận thương mại, đăng ký chất lượng, đăng ký thương hiệu đang có nhiều bất cập, dẫn đến thiệt hại cho sản xuất, kinh doanh, như dịch bệnh phá hoại cây trồng, dịch cúm gia cầm và bệnh lở mồm long móng của gia súc, tình trạng cháy rừng trong mùa khô, các vụ vi phạm thương hiệu hiện nay Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu kinh tế nông nghiệp diễn ra với tốc độ nhanh, thay đổi cơ cấu mạnh mẽ sẽ thay đổi phương thức sử dụng tài nguyên tự nhiên, đất, nước, sinh học trên quy mô lớn Công tác điều tra khảo sát, quy hoạch, thiết kế, kiểm tra giám sát, còn nhiều bất cập làm xuất hiện nguy cơ
mở rộng sản xuất phá vỡ cân bằng sinh thái và giới hạn tối ưu kinh tế, xã hội, đe dọa khả năng cạnh tranh bền vững của ngành hàng, đó là trường hợp diễn ra với cà phê ở Tây Nguyên lấn vào đất rừng, vượt khả năng nước tưới, là trường hợp ô nhiễm các cánh đồng nuôi tôm vùng ven biển duyên hải Trung Bộ và Nam Bộ…
Rừng vẫn tiếp tục bị phá hoại trong khi nhiều nơi đất trống, đồi trọc trên diện rộng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến hạn hán, lũ quét, sạt lở, xói mòn gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp và tính mạng, tài sản của nhân dân Tình trạng ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm và thoái hóa đất đang tiếp tục gia tăng đe dọa không chỉ sản xuất và sức khỏe của người dân mà làm yếu khả năng cạnh tranh và
Trang 311.1.2.2 Nông dân Việt Nam còn yếu về tăng lực tài chính và kinh nghiệm
thực hiện thương mại theo các quy định của WTO
* Nông dân chưa hiểu rõ các quy tắc thương mại trong WTO và còn thiếu
nhiều kỹ năng cơ bản Các hoạt động sản xuất của người nông dân nước ta cho đến
nay chủ yếu vẫn dựa trên nền tảng kinh nghiệm cha truyền con nối từ đời này sang đời khác Người nông dân rất ít được đào tạo về mặt chuyên môn, nghiệp vụ Nhiều nông dân không coi trọng học hỏi kỹ năng sản xuất kinh doanh, ngại đọc sách Chính vì thế, đa phần nông dân, hoặc phụ thuộc vào tư thương và chịu bất lợi, hoặc chấp nhận buôn bán nhỏ lẻ, không tính toán làm ăn lớn, sợ mạo hiểm Tình trạng nông dân xù hợp đồng với các doanh nghiệp hoặc nông dân bị bắt chẹt thường diễn
ra ở Việt Nam cho thấy tính tổ chức và ý thức chính trị của nông dân chưa cao Do thiết chế hiện hành, nông dân còn coi các tổ chức chính trị - xã hội là tổ chức của giới lãnh đạo, nên chưa ý thức được trách nhiệm xây dựng và thực hiện các nguyên tắc liên kết nhằm tự bảo vệ lợi ích của mình Trong những năm gần đây đã xuất hiện một số tổ chức ngành nghề như Hiệp hội cà phê, Hiệp hội cao su… nhưng đó chủ yếu là tổ chức của các doanh nghiệp, đa phần nông dân còn thờ ơ, vừa không có
ý tưởng tham gia để bảo vệ mình, vừa không có năng lực tài chính và tổ chức để làm chủ các hiệp hội đó Hội nông dân với tư cách là tổ chức chính trị - xã hội to lớn của nông dân Việt Nam, đã có nhiều đóng góp trong hỗ trợ nông dân giảm nghèo, tiếp cận tín dụng chính thức, khuyến khích nông dân làm giàu, nhưng nông dân chưa tìm đến hội như một tổ chức phản ánh ý nguyện và sức mạnh của mình,
mà còn ít nhiều trông mong vào sự bao cấp, hỗ trợ một chiều của Hội đối với hội viên Vì thế, về mặt kinh tế, Hội Nông dân chưa hỗ trợ thích đáng để nông dân khẳng định vị thế của mình trên thương trường
* Nông dân là tầng lớp rất thiếu các điều kiện để phát triển các hoạt động
sản xuất kinh doanh, dịch vụ Sản xuất của người nông dân trước hết và chủ yếu là
sản xuất nông nghiệp Nhưng muốn sản xuất nông nghiệp điều kiện hàng đầu là người nông dân phải có ruộng đất Vì đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, không thể thay thế được của sản xuất nông nghiệp Điều đáng nói là nông dân nước ta hiện nay rất thiếu đất Cả nước ta hiện chỉ có 9,4 triệu ha đất nông nghiệp, nhưng lại có tới tới trên 12 triệu hộ nông dân với 24,1 triệu lao động và 61,3 triệu nhân khẩu Như vậy, bình quân một hộ chỉ có 0,78 ha đất nông nghiệp, một lao động chỉ có 0,3
ha và một nhân khẩu chỉ có 0,15 ha Đó là bình quân chung, còn trên thực tế có những vùng như đồng bằng sông Hồng, bình quân 1 nhân khẩu chỉ có vẻn vẹn 1 sào Bắc bộ (360 m2) Như vậy là một nhân khẩu ở nông thôn đồng bằng sông Hồng, mọi nhu cầu của cuộc sống, từ ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, văn hóa, thể thao, ma chay, cưới xin…trong một ngày chỉ dựa trên 1 m2 đất mà thôi
Trang 32Đất ít, và mỗi ngày lại còn bị giảm đi do quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa không ngừng được mở rộng Việc thu hồi đất, trong đó có đất nông nghiệp để phục vụ cho các công việc đó là cần thiết, song thu hồi như thế nào, loại đất gì và ở đâu, sử dụng nó vào mục đích gì cho nó hiệu quả mới là điều đáng bàn và cần phải được tính toán kỹ Rất tiếc là thời gian qua việc thu hồi đất đã tiến hành rất không bình thường Ở nước ta, diện tích mỗi tỉnh không lớn, dân số không nhiều, kinh tế chưa phát triển mạnh, đời sống của người dân còn khá khó khăn, song hầu như tỉnh nào cũng muốn có sân bay, các tỉnh ven biển còn muốn có cảng biển lớn, rồi tỉnh nào cũng muốn có nhiều khu công nghiệp, khu đô thị mới, muốn có các sân gôn, thậm chí vài ba sân… và thế là đua nhau lấy đất để làm việc đó Vì thế người nông dân ở nhiều vùng không còn đất để tiến hành sản xuất nông nghiệp nữa
Điều đáng nói là đất nông nghiệp bị thu hồi quá nhiều, song việc sử dụng nó thì không hiệu quả Đất bị thu hồi, người dân được đền bù một số tiền, họ dùng tiền
đó vào việc xây nhà, mua xe, ti vi, và tiêu xài, thậm chí còn cờ bạc, Chẳng mấy chốc tiền hết, họ trở thành những người thất nghiệp, tạo ra gánh nặng cho xã hội Đương nhiên, cùng với sự phát triển của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
đô thị hóa, nhiều loại hình sản xuất kinh doanh, dịch vụ mới phi nông nghiệp cũng
ra đời và phát triển ở khu vực nông thôn Song phải nói rằng đa phần người nông dân ít có điều kiện để tiếp cận với các lĩnh vực hoạt động này bởi các hoạt động đó đòi hỏi phải có lượng vốn nhất định, phải có hiểu biết về chuyên môn, và cũng phải
am hiểu thị trường Tiếc rằng những thứ đó người nông dân đều dường như không
có, hoặc là hết sức hạn chế
Ngay trong sản xuất nông nghiệp, muốn có năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt, đòi hỏi phải có giống cây trồng, con vật nuôi tốt, có thức ăn gia súc tốt, và phải thực hiện đúng các quy trình kỹ thuật Để có được những thứ đó, đòi hỏi phải
có tiền, mà tiền thì như trên đã nói, người nông dân lại không có nhiều
* Bị tác động nhiều nhất của thiên tai và sự biến động của thị trường Vì sản
xuất của nông dân hết sức nhỏ bé và phân tán, tiềm lực kinh tế của họ lại rất hạn chế, nên mỗi lần có thiên tai (hạn hán, lũ lụt…), dịch bệnh, hoặc có biến động của thị trường là người nông dân không sao có thể chống đỡ được Mỗi lần như vậy họ gần như trắng tay và trở lại điểm xuất phát ban đầu Điều đáng nói là, trong những năm vừa qua những tác động này diễn ra liên tục, làm cho người nông dân nước ta vô cùng khốn đốn Gần đây nhất là trong những tháng đầu năm 2008, đợt rét lịch sử dài 38 ngày đã làm cho hàng triệu nông dân ở khu vực phía Bắc, đặc biệt là các tỉnh miền núi rơi vào cảnh nghèo và tái nghèo; dịch rầy nâu, vàng lùn và lùn xoắn lá ở phía Nam đã làm cho nhiều nghìn ha lúa bị mất trắng, dịch bệnh tai xanh xuất hiện trên cả 3 miền của đất nước làm chết trên nửa triệu con lợn nái,…
Cùng với thiên tai, dịch bệnh là sự tăng đột biến của giá nguyên liệu đầu vào của sản xuất nông nghiệp Đầu năm 2008, giá phân hóa học bình quân tăng 40% so với năm 2007, giá ngô làm thức ăn gia súc tăng 48,5%, giá khô dầu đỗ tương tăng 88,5%, giá cám gạo tăng 50%, thức ăn cho gà thịt tăng 72% Với sự tác động này của giá đầu vào, nhiều hộ nông dân đã buộc phải bỏ sản xuất, vì càng sản xuất càng thua lỗ Có thể nói thiên tai và biến động của thị trường năm 2007, 2008 đã đẩy
Trang 33hàng triệu nông dân vốn đã nghèo càng nghèo hơn, và hàng triệu người khác đã thoát nghèo nay lại tái nghèo trở lại
* Nông dân Việt Nam đa phần thu nhập thấp, nghèo khó, mức tích luỹ thấp
nguyên nhân chủ yếu là do nhỏ lẻ manh mún, phương thức canh tác lạc hậu Xét
một cách tổng thể, trong lịch sử nông dân là tầng lớp đông đảo nhất, chịu nhiều hi sinh mất mát nhất và đóng vai trò quyết định nhất trong sự nghiệp cách mạng, trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Nhưng đến nay nông dân vẫn là tầng lớp chịu nhiều bất công nhất: ít được hưởng các thành quả xã hội nhất, nghèo nhất, ít được đào tạo nhất, dân trí thấp nhất, khả năng tự bảo vệ yếu nhất nên dễ bị tổn thương nhất trước mọi biến động của tự nhiên và xã hội Sau hơn 20 năm đổi mới, đến nay ở nước ta vẫn còn hơn 70% dân số, gần 60% lao động ở nông thôn, do vậy một mặt họ vẫn
là lực lượng cơ bản bảo đảm sự ổn định xã hội như cha ông ta vẫn nói “phi nông bất ổn”, nhưng mặt khác họ lại là tầng lớp yếu nhất trong xã hội Quá trình CNH, đô thị hóa như một tất yếu để phát triển, nhưng do sự bất cập của chính sách đã và đang đẩy hàng vạn hộ nông dân nước ta rơi vào cảnh mất ruộng đất, phải bỏ nghề,
di dân, vật lộn với biết bao khó khăn do biến đông cuộc sống mang lại Mảnh vườn, ngôi nhà mà cha ông từ bao đời để lại, có giếng nước cây đa, đình làng, có nhà thờ,
mồ mả ông bà tổ tiên nay phải nhường lại cho các dự án Họ nhường lại mảnh đất máu thịt của mình với giá đền bù của Nhà nước lúc giải phóng mặt bằng Cũng chính mảnh đất đó khi vào tay dự án, sẽ được chuyển nhượng với giá cao gấp hàng chục lần so với giá đền bù Đó chính là phần mà nông dân – có lẽ là tầng lớp duy nhất trong xã hội phải hy sinh đóng góp cho CNH Tuy nhiên nông dân lại là tầng lớp ít được hưởng những những thành quả của CNH, HĐH nhất Giàu lên trong CNH, HĐH phần lớn là những người không làm nông nghiệp Thành quả về y tế, văn hóa, giáo dục, điện, cơ sở hạ tầng giao thông vận tải…người được hưởng trước hết và nhiều nhất là dân thành phố Nhưng chất thải từ các thành phố, khu công nghiệp lại được đưa về các bãi thải ở nông thôn Ô nhiễm môi trường, nguồn nước
do các thành phố, khu công nghiệp gây ra, nông thôn phải chịu phần lớn…
Không tính đến những thiệt hại do thiên tai, do đặc điểm mùa vụ của nghề nông, và do cả những chính sách thiếu thực tiễn của Nhà nước gây ra, ngay trong những quá trình sản xuất bình thường, thuận lợi nhất, nông dân vẫn là người phải gánh chịu mọi thiệt thòi do xã hội mang lại Chúng ta đều biết, mọi vật phẩm tiêu dùng có nguồn gốc nông sản đều được tạo ra bắt đầu từ nông dân Để đưa những sản phẩm này đến tay người tiêu dùng phải trải qua nhiều công đoạn với sự tham gia của nhiều lực lượng như: thu mua nông sản => vận chuyển => bảo quản => chế biến => vận chuyển => bảo quản => bán buôn => vận chuyển => bán lẻ Tuy nhiên quá trình phân chia lợi ích kinh tế từ những sản phẩm này lại đươc được xử lí theo quy trình ngược lại, và trong quá trình đó nông dân đứng ở vị trí cuối cùng như một cái túi hứng chịu mọi thiệt hại từ những khâu trước dồn về Các tổ chức tham gia vào quá trình này như bán lẻ, bán buôn, vận chuyển, chế biến, bảo quản, thu mua, xuất khẩu đều tính đủ cho mình “phí” và “lãi” Mọi hư hao, mất mát thiệt hại trong quá trình dù vì lí do khách quan hay chủ quan đều được tính vào “phí” ở những khâu có liên quan Và như vậy tất cả những tổn thất này đều được dồn lại, khấu trừ vào giá thu mua nông sản của nông dân Đơn giản những tổ chức này nều không đủ “phí” và “lãi”, họ không mua, còn nông dân đã sản xuất ra rồi thì vẫn phải
Trang 34bán, và năm sau vẫn vậy Là người đứng ở khâu đầu tiên, có vai trò quan trọng nhất trong việc tạo ra sản phẩm nuôi sống con người, nhưng nông dân không có tiếng nói nào trong viêc phân chia lợi ích từ những sản phẩm đó Nông dân không có quyền tính cho mình “phí” và “lãi”, và phải cam chịu “việc nhà nông lấy công làm lãi”
Ngoài ra, bản thân kinh doanh nông nghiệp chứa đựng nhiều rủi ro hơn các lĩnh vực khác do giá cả biến động không lợi cho người sản xuất, do phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, do trải ra trên diện rộng nên khó bảo vệ, khó thu hồi vốn… Chính vì thế, các tổ chức tài chính, ngân hàng không thu được nhiều lợi ích khi cho nông dân và doanh nghiệp nông nghiệp vay vốn Thị trường đất nông nghiệp cũng không hoàn hảo làm cho các trao đổi thương mại về đất thường khó khăn, chi phí giao dịch lớn Nông thôn cũng thường ở xa các trung tâm thương mại và đô thị nên vận chuyển và phân phối thường chiếm phần đáng kể trong chuỗi giá trị của ngành
mà người nông dân riêng lẻ khó lòng tham gia một cách hiệu quả Với rất nhiều khó khăn như vậy, nông nghiệp trở nên lĩnh vực kém hấp dẫn lao động có kỹ năng Đến lượt mình, sự thiếu vắng lao động có kỹ năng cao làm cho năng suất và thu nhập của nông dân càng thấp hơn các lĩnh vực khác trong nền kinh tế
Do thu nhập thấp và ít tích luỹ, thiếu điều kiện thu hút lao động có kỹ năng nên nông nghiệp và nông dân không thể tự mình nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ, kỹ thuật vào sản xuất Trong khi đó, nền nông nghiệp hiện đại đòi hỏi hàm lượng chất xám trong sản phẩm ngày càng cao, đòi hỏi thâm canh và liên tục cải tiến kỹ thuật không chỉ để có năng suất cao mà còn để tiết kiệm tài nguyên và bảo tồn môi trường sinh thái
Nói cách khác, trong quá trình CNH, HĐH mặc dù nông nghiệp đóng vai trò rất lớn, vừa là điểm khởi đầu, vừa là ngành chia xẻ giá trị với các ngành khác nhưng bản thân nó, vì thế lại trở thành kém sức cạnh tranh trong thu hút vốn và lao động
có kỹ năng Dù kém lợi thế so sánh, nhưng không một quốc gia nào dám coi thường
an ninh lương thực để bỏ qua sự phát triển nông nghiệp Muốn duy trì nông nghiệp
ở mức cần thiết và để giữ nông dân ở lại làm nông nghiệp, Nhà nước buộc phải hỗ trợ nông dân và nông nghiệp
1.1.3 Hỗ trợ và giúp đỡ nông dân là mục tiêu và nhiệm vụ của Đảng và
Nhà nước ta
Đối với cách mạng nước ta nông dân, nông nghiệp, nông thôn luôn luôn là một vấn đề chiến lược Trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng và Bác Hồ kính yêu luôn luôn đánh giá vị trí to lớn của giai cấp nông dân Khẳng định nông dân là đội quân chủ lực, Đảng ta giương cao khẩu hiệu chiến lược: "Độc lập dân tộc, người cày có ruộng" thành ngọn cờ tập hợp toàn dân đấu tranh làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, giành chính quyền về tay nhân dân, lập nên Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược để bảo vệ thành quả của cách mạng, nền độc lập dân tộc, vị trí, vai trò của giai cấp nông dân tiếp tục được nhân lên và phát huy cao độ Bước vào thời kỳ đổi mới nông dân nước ta lại chính là những người thực tiễn để ra đời Chỉ thị 100 của Ban Bí thư và Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (Khoá VI); đồng thời cũng là một
Trang 35trong những lực lượng cơ bản đưa các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống làm nên những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của đất nước trong hai thập kỷ vừa qua Chính vì lẽ đó mà trong đường lối lãnh đạo phát triển kinh tế- xã hội đất nước Đảng ta luôn luôn coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu và trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng ta đặt ra mục tiêu trước mắt là phải công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và chính sách
hỗ trợ nông dân
Tuy nhiên, hỗ trợ và cải thiện cuộc sống cho người nông dân là một nhiệm
vụ khó khăn, đòi hỏi những khoản đầu tư và chính sách dài hạn đúng đắn, do đặc tính gắn liền với đất, phụ thuộc vào khí hậu thời tiết, quy luật sinh trưởng của động, thực vật, cung theo thời vụ … nên nông nghiệp có nhiều điểm yếu khi đối diện với các ngành kinh tế khác trong trao đổi thương mại Chính vì thế, lịch sử phát triển kinh tế của các nước trên thế giới, nhất là giai đoạn công nghiệp hoá, đã diễn ra quá trình phân phối lại trong cả một thời gian dài, trong đó người nông dân trằn mình để nuôi dưỡng xã hội, tích lũy cho phát triển công nghiệp thông qua quan hệ giá cánh kéo bất lợi cho sản phẩm nông nghiệp Nhưng để nông dân không bị thiệt thòi thì cần hỗ trợ thu nhập trực tiếp hoặc giảm chi phí sản xuất cho họ Những hoạt động này cần một lượng tài chính rất lớn mà chỉ có Nhà nước mới kham nổi
Trong điều kiện của nước ta hiện nay, cấu trúc xã hội của các quá trình kinh
tế là kinh tế thị trường, do đó, quá trình hiện đại hoá nông nghiệp và hiện đại hoá người nông dân vẫn phải dựa trên quan hệ sản xuất hàng hoá, trong đó hộ nông dân
là đơn vị kinh tế tự chủ Trong điều kiện đó, hàng hoá, động lực phát triển nông nghiệp nói chung, kinh tế hộ nông dân nói riêng phụ thuộc rất lớn vào các quyết định của bản thân nông hộ Nhưng hộ phải có quy mô hợp lý có năng lực nội sinh
và chủ quyền để có quyết định của mình về giá cả, nhu cầu thị trường và chi phí sản xuất sao cho có lợi nhất Chính sách của Nhà nước không còn hiệu lực ép buộc đối với nông dân như thời bao cấp mà trở thành một trong những căn cứ để nông hộ quyết định sản xuất Chính vì vậy, chính sách hỗ trợ của Nhà nước chỉ có hiệu lực đối với nông dân nếu đem lại lợi ích cho họ Tuy nhiên, nông dân thường coi trọng lợi ích ngắn hạn, chính sách của Nhà nước phải hướng người nông dân đến các mục tiêu dài hạn Mà mục tiêu dài hạn quan trọng nhất là xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả Hơn nữa, chính sách Nhà nước phải phù hợp với kinh tế thị trường và
sử dụng các công cụ thị trường để tác động đến nông dân
Mặt khác, thị trường nông sản thường biến động khó lường, nhất là trong điều kiện giới đầu cơ và các tổ chức phân phối của các nước phát triển có khả năng lũng đoạn thị trường thế giới như hiện nay thì người nông dân, mặc dù có quyền tự
do quyết định sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, sản xuất với chi phí như thế nào
và bán cho ai, nhưng lại hoàn toàn phụ thuộc thụ động vào biến động của thị trường Có thể nói, nông dân Việt Nam hiện nay còn đi sau biến động thị trường nên gánh chịu thua thiệt và được chia xẻ lợi ích ít ỏi Đã không ít lần nông dân Việt Nam thiệt thòi khi được mùa rớt giá, hoặc bán ồ ạt khi giá thấp, lúc giá cao lại hết hàng… Để hỗ trợ nông dân trong việc thích nghi với thị trường, Nhà nước cần hỗ trợ nông dân thông tin dự báo về thị trường, hỗ trợ nông dân tích cực tham gia chuỗi giá trị từ cung ứng đầu tư vào, sản xuất đến chế biến và phân phối đầu ra Ngoài ra,
Trang 36Ngoài ra, trong quá trình phân phối lại qua Ngân sách Nhà nước, nông dân phải được coi trọng là đối tượng ưu tiên của các chính sách an sinh xã hội, phát triển văn hoá và giáo dục cộng đồng, chính sách sức khỏe, môi trường… để tạo điều kiện cho con em nông dân có điểm xuất phát công bằng như con em các tầng lớp dân cư khác…
Như vậy, hỗ trợ của Nhà nước đối với nông dân không chỉ để giảm thiểu tác động tiêu cực của thị trường đến thu nhập và đời sống của nông dân mà còn tạo ra
sự bình đẳng và công bằng giữa nông dân và các tầng lớp dân cư khác trong hưởng thụ thành quả phát triển kinh tế Hỗ trợ nông dân không những là một trong những nghĩa vụ chính trị của Nhà nước nhằm tạo sự ổn định về chính trị, xã hội và củng cố lòng tin của nông dân vào chế độ xã hội chủ nghĩa, mà còn là điều kiện, tiền đề và bản chất của Nhà nước ta
1.2 CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NÔNG DÂN TRONG
ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT CỦA WTO
1.2.1 Khái niệm, vai trò chính sách của Nhà nước đối với nông dân
1.2.1.1 Khái niệm chính sách của Nhà nước đối với nông dân
Cho đến nay chưa có một khái niệm hoàn chỉnh về chính sách, ở mỗi quốc gia, mỗi lĩnh vực, mỗi giai đoạn lịch sử có những quan niệm khác nhau về chính sách Tuy nhiên, có thể thấy những từ khóa chính của khái niệm chính sách gồm: vấn đề, chính quyền và sự lựa chọn Khi một vấn đề kinh tế-xã hội nào đó xuất hiện, Chính quyền sẽ lựa chọn nội dung, mục tiêu và cách thức giải quyết vấn đề đó (để cho vấn đề tự phát triển cũng là một cách giải quyết) Sự lựa chọn đưa đến quyết định và toàn bộ quy trình này được đặt trong một môi trường tương tác của các tác nhân chính sách, tạo ra hàng loạt các ràng buộc trước khi chính sách xuất hiện và các tác động sau đó từ sự chi phối của những điều kiện này, dẫn đến các cách thể hiện khác nhau trong các vai trò chính sách (policy actor) và quy trình chính sách (policymaking processing) Một số nước công khai thể hiện vai trò của các nhóm lợi ích, một số khác là sự chi phối của các đảng phái chính trị, ở nơi này quy trình chính sách nặng về kỹ thuật, ở nơi khác lại là sự thỏa hiệp hay áp đặt
Khi đề cập đến phạm trù chính sách thì nội hàm của nó phải bao gồm các yếu
tố cấu thành sau đây:
- Chủ thể đề ra và triển khai thực hiện chính sách là chủ thể quản lý của hệ thống quản lý, tại đó chính sách được đề ra và tổ chức thực hiện Tuỳ theo các hệ
Trang 37thống quản lý khác nhau có chính sách khác nhau như chính sách của một cơ quan, doanh nghiệp, ngành, quốc gia, quốc tế…, trong đó bộ máy quản lý tương ứng của cơ quan, doanh nghiệp, ngành, quốc gia, tổ chức quốc tế… là chủ thể của chính sách
- Chính sách luôn gắn với những mục tiêu cụ thể Mục tiêu của chính sách có thể được hiểu theo nghĩa rộng, có nghĩa là đạt tới trạng thái mong đợi của hệ thống quản lý, cũng có thể được hiểu theo nghĩa hẹp, tức giải quyết một nhu cầu, một vấn
đề mới xuất hiện của hệ thống quản lý Mục tiêu của chính sách có thể xét trên giác
độ tổng thể hệ thống, do đó mang tính toàn diện như mục tiêu tăng trưởng, mục tiêu phát triển…, cũng có thể xét trên một mặt nào đó của hệ thống như mục tiêu thu nhập, mở rộng quy mô, cải cách cơ cấu… Mục tiêu khác nhau quy định chính sách khác nhau
- Chính sách còn bao hàm trong nó cả cách thức mà chủ thể cần hành động
để đạt tới mục tiêu mong muốn, bao hàm nhiều nội dung từ hệ quan điểm chỉ đạo hành động của chủ thể chính sách đến phương hướng, phương án, phương tiện, công cụ và nguồn lực thực thi chính sách trong thực tiễn, các tiêu chí đánh giá chính sách Phương thức hành động có thể bao hàm cả sự phân chia trách nhiệm và quyền hạn trong bộ máy quản lý của hệ thống nếu mục tiêu của chính sách đòi hỏi một sự
cơ cấu lại
Vấn đề “nông nghiệp, nông dân, nông thôn” có mối quan hệ chặt chẽ và không tách rời nhau Phát triển nông nghiệp là quá trình gia tăng giá trị và cải biến cấu trúc ngành nông nghiệp theo hướng tiến bộ, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đóng góp quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển của các quốc gia Nông dân là lực lượng lao động chủ yếu trong ngành nông nghiệp và công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn; đồng thời nông dân là chủ thể của đời sống chính trị, kinh tế
xã hội ở khu vực nông thôn Sự đòi hỏi đó là cơ sở khách quan hình thành nên chính sách đối với nông dân
Chính sách phát triển nông nghiệp tác động đến người nông dân với tư cách
là quá trình cải biến tổ chức lao động sản xuất đối với người nông dân, góp phần nâng cao năng suất lao động, hiện đại hóa nền sản xuất nông nghiệp và người nông dân được hưởng thụ tương xứng với những thành quả do sự phát triển của ngành nông nghiệp tạo ra Do đó các chính sách cần tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để người nông dân được hưởng thụ đầy đủ hơn giá trị gia tăng được tạo ra trong quá trình sản xuất
Chính sách phát triển nông thôn bao hàm những biện pháp thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, đầu tư kết cấu hạ tầng, tổ chức sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp, đời sống chính trị xã hội khu vực nông thôn Người nông dân được hưởng thụ thành quả của quá trình phát triển nông thôn với tư cách sử dụng các hàng hóa công cộng như kết cấu hạ tầng, dịch vụ xã hội cơ bản, an ninh, môi trường Sự hội tụ chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn đem lại lợi ích cho
nông dân khi người nông dân được coi là mục tiêu của chính sách, không thể có
chính sách nông nghiệp, phát triển nông thôn mà không hướng vào mục tiêu phát triển toàn diện đời sống vật chất và tinh thần cho người nông dân, tạo năng lực nội sinh để người nông dân là chủ thể của quá trình chính sách ấy Nếu nói "con người
vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển" thì thật dễ hiểu khi cho rằng
Trang 38"nông dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển nông nghiệp, nông thôn" Đó là triết lý cơ bản để xác định tầm nhìn dài hạn, xây dựng chiến lược phát triển và hoạch định chính sách đối với nông nghiệp, nông dân và nông thôn
Sự kết hợp giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội mới đảm bảo cho việc thực hiện nâng cao đời sống của người nông dân Chính sách kinh tế có thể được kể đến như: chính sách ruộng đất, xây dựng cơ sở hạ tầng, tín dụng, khoa học công nghệ, chuyển nông dân sang sản xuất công nghiệp, dịch vụ Chính sách xã hội như: xóa đói, giảm nghèo, an sinh xã hội, cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản
Chính sách của Nhà nước đối với nông dân cần được đặt trong bối cảnh cải biến cấu trúc của nền kinh tế - xã hội Do đó cần định dạng con đường phát triển nông nghiệp xem chúng ta đang ở đâu trong mô hình 3 giai đoạn phát triển nông nghiệp của Todaro - đó là sự quá độ sang nền nông nghiệp hỗn hợp và đa dạng Bên cạnh đó quy luật chuyển dịch cơ cấu lao động theo mô hình của Fisher hay Todaro đều tiềm ẩn những rủi ro cho người nông dân Khi có chủ trương, chính sách đúng
và phù hợp với thực tiễn, rủi ro đó sẽ được giảm thiểu và đem lại cuộc sống tốt hơn cho người nông dân Còn ngược lại, chính sách đối với nông dân có khiếm khuyết thì rủi ro sẽ tăng lên, hơn thế nữa còn tiềm ẩn những nguy cơ mất ổn định cả về kinh tế cũng như về mặt xã hội, không thể xem thường Do vậy chính sách của Nhà nước đối với nông dân cần được đặt trong tổng thể lợi ích của nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi và phát triển, thể hiện ở sự hài hòa và hiệu quả trong kết nối công nghiệp - nông nghiệp; đô thị - nông thôn Chính sách có hiệu quả đối với nông dân còn được thể hiện ở chỗ: chuyển người nông dân sang lao động của các khu vực khác như: trở thành công nhân, thị dân, chủ doanh nghiệp nhỏ, thậm chí là doanh nghiệp cực nhỏ và từ đó tăng dần các cơ hội lựa chọn cho người nông dân trong quá trình phát triển theo hướng hiện đại, bền vững Điều đó chỉ có thể thực hiện được khi người nông dân được đào tạo, nâng cao dân trí, chuyển biến thái độ, tác phong kỹ năng lao động phù hợp với giai đoạn phát triển mới Như vậy quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp, xây dựng các khu công nghiệp và đô thị không thể tách rời quy hoạch về nông nghiệp Các dự án về tái định cư, xây dựng các điểm dân cư nông thôn, hệ thống hạ tầng, phát triển ngành nghề, dịch vụ cho nông dân phải là một phần không tách rời của dự án đầu tư phát triển các khu công nghiệp, đô thị Đó là cơ sở khoa học cho đổi mới chính sách phát triển công nghiệp
và đô thị hiện nay Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa không thể làm tăng thêm rủi ro và gánh nặng cho nông dân mà ngược lại Nhà nước cần có chính sách
để người nông dân tận dụng được ưu thế của quá trình đó cho phát triển bản thân và cộng đồng với phương châm: lấy công nghiệp tác động vào nông nghiệp, doanh nghiệp tác động vào nông dân, văn minh đô thị tác động vào nông thôn
Phát triển, theo Goulet, có 3 bộ phận cấu thành hay giá trị cốt lõi được coi là
cơ sở nhận thức và chỉ dẫn thực tế để nắm bắt được ý nghĩa bên trong của sự phát triển, đó là: phương tiện sinh sống, lòng tự trọng và quyền tự do, đại diện cho những mục tiêu chung mà tất cả các cá nhân và xã hội tìm kiếm Đó là biểu hiện tổng hợp của đời sống vật chất, tinh thần và ý nghĩa chính trị xã hội mà chính sách của Nhà nước đối với nông dân hướng tới
Với môi trường trong nước và quốc tế luôn thay đổi, các nước đang phát triển cần đánh giá lại những cơ hội mở ra nhằm xác định chính sách công nghiệp có
Trang 39hiệu quả và nhất quán với chính sách công nghiệp của Tổ chức Thương mại Thế giới( WTO) Cùng với quá trình gia tăng tự do hoá thương mại trong khuôn khổ của các hiệp định thương mại trên phạm vi toàn cầu (WTO), khu vực (NAFTA, MERCOSUR, AFTA,…), cũng như các hiệp định thương mại tự do song phương (FTAs), các nước đang phát triển ngày càng có ít sự lựa chọn hơn đối với các công
cụ chính sách đối với nông dân để phù hợp với những luật lệ thương mại quốc tế mới Câu hỏi đặt ra là cần phải thiết kế chính sách đối với nông dân thế nào để đạt được mục tiêu chính sách, đồng thời không mâu thuẫn với các hệ thống luật lệ thương mại quốc tế
Với phương pháp tiếp cận một cách tổng thể chính sách của Nhà nước đối với nông dân trong hệ thống chính sách kinh tế - xã hội, cho thấy:
- Chính sách đối với nông dân bao gồm chính sách kinh tế và chính sách xã hội
- Tiếp cận từ quan điểm, mục tiêu và giải pháp theo Nghị quyết TW 7; trong mối quan hệ nông nghiệp - nông dân - nông thôn, chính sách đối với nông dân được hội tụ và cộng hưởng từ chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn Ngược lại tác động của chính sách đầu tư phát triển con người với đối tượng nông dân tăng cường hiệu lực, hiệu quả của chính sách đối với nông nghiệp, nông thôn Chính sách đối với nông dân phải góp phần tăng cường năng lực nội sinh của khu vực nông nghiệp, nông thôn Quy trình hoạch định chính sách theo mô hình kết hợp "từ dưới lên" và
"từ trên xuống", trong đó từ dưới lên là xu hướng chủ đạo
- Chính sách của Nhà nước đối với nông dân cần phát huy, đón nhận những ảnh hưởng lan tỏa trong chính sách phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị Chính sách đối với nông dân đúng thì không chỉ thúc đẩy phát triển khu vực nông nghiệp, nông thôn mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển công nghiệp và đô thị, cũng như toàn bộ nền kinh tế Do vậy chính sách phát triển công nghiệp và đô thị cần hướng quá trình đô thị hóa vào thúc đẩy hiện đại hóa nông thôn thông qua định hướng quy hoạch và hỗ trợ phát triển khu vực nông thôn, hình thành đồng bộ cơ sở vật chất và các yếu tố thị trường
- Chính sách đối với nông dân trên phạm vi cả nước cần được cụ thể hóa theo đặc điểm từng vùng sinh thái và khu vực; đối với tỉnh cần cụ thể hóa theo các khu vực: đô thị hóa mạnh, phát triển làng nghề, công nghiệp nông thôn; phát triển nông nghiệp với các vùng sản xuất chuyên canh; nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp đô thị; những vùng sản xuất còn gặp nhiều khó khăn
- Xác định trọng điểm chính sách trong từng giai đoạn; mối liên hệ giữa các chính sách; coi trọng việc phân tích đánh giá chính sách
Trên cơ sở quan niệm như vậy, có thể hiểu: chính sách của Nhà nước đối với
nông dân là tổng thể các quan điểm, chủ trương, đường lối, phương pháp và công
cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động vào lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhằm thực hiện các mục tiêu mà Nhà nước mong muốn
Như vậy, khi đề cập đến chính sách đối với nông dân cần lưu ý một số điểm sau đây:
Trang 40Thứ nhất, chủ thể của chính sách đối với nông dân được đề cập trong đề tài
này là Nhà nước, chủ thể Nhà nước ở đây cũng chỉ giới hạn ở Quốc hội, Chính phủ, các bộ, không đề cập tới chính sách cụ thể của chính quyền địa phương Cũng cần lưu ý, do Đảng ta có vai trò lãnh đạo Nhà nước thực hiện đường lối phát triển kinh
tế - xã hội, nên chính sách đối với nông dân của Nhà nước cũng là chính sách của Đảng, thể hiện quan điểm và triển khai thực hiện đường lối, chính sách của Đảng Chính vì thế, khi trình bày thực trạng chính sách đối với nông dân ở Việt Nam, chúng tôi sẽ đồng nhất chính sách của Đảng và Nhà nước
Thứ hai, mục tiêu của chính sách đối với nông dân bao gồm cả khía cạnh
kinh tế, chính trị và xã hội Mục tiêu kinh tế là, tạo điều kiện cho nông dân thực thi nền nông nghiệp tiên tiến, hiện đại, trên cơ sở đó có thu nhập và đời sống tốt hơn Mục tiêu xã hội là góp phần xoá đói giảm nghèo, giảm độ chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn, xây dựng đời sống mới ở nông thôn; Mục tiêu chính trị
là xây dựng giai cấp nông dân vững mạnh, chỗ dựa và là hậu thuẫn của Đảng cộng sản, của Nhà nước XHCN, thắt chặt tình đoàn kết công - nông - trí thức cùng đi lên CNXH
Thứ ba, mỗi Nhà nước có hệ quan điểm riêng và có xuất phát lịch sử riêng
trong đối xử với nông dân, đến lượt nó, hệ quan điểm này lại ảnh hưởng sâu sắc đến cách thức, phương tiện và công cụ để thực thi chính sách đối với nông dân Chẳng hạn, các Nhà nước tư bản phát triển hỗ trợ nông nghiệp, do đó hỗ trợ thu nhập được coi trọng Nhà nước ở các nước đang phát triển không có khả năng hỗ trợ thu nhập thường xuyên cho nông dân nên thiên về hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, do đó hỗ trợ thu nhập thường xuyên cho nông dân nên thiên về hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và đầu vào
Do bị chi phối bởi các hệ quan điểm không giống nhau nên hệ thống các phương pháp, công cụ mà các Nhà nước sử dụng để hỗ trợ nông dân cũng không giống nhau Nhà nước tư bản phát triển hàng năm chi những khoản tiền lớn hỗ trợ thu nhập cho nông dân Nước Mỹ mỗi năm chi 4 tỷ USD để trợ cấp cho 25.000 nông dân sản xuất bông vải quy mô nhỏ Các Nhà nước XHCN sử dụng các công cụ
hỗ trợ nông dân không chỉ hỗ trợ đầu vào, thủy lợi, đường giao thông và hệ thống truyền tải điện Nhà nước cũng hỗ trợ nông dân xây dựng hợp tác xã, hỗ trợ chuyển giao tiến bộ khoa học - công nghệ…
Không những chính sách đối với nông dân khác biệt ở các nước do chế độ chính trị, do tiềm lực của Nhà nước, mà còn do trình độ phát triển kinh tế và truyền thống lịch sử Lịch sử cho thấy, trong một giai đoạn phát triển kinh tế và truyền thống bảo tồn những kinh nghiệm, tập tục sản xuất lạc hậu Đặc biệt, các hình thức
tổ chức sản xuất ở quy mô gia đình của người tiểu nông có sức sống dai dẳng qua các phương thức sản xuất khác nhau vì hình thức sản xuất này giúp nông dân tận dụng tối đa sức lao động của gia đình và hạn chế tối đa chi phí sản xuất Ngoài ra, tình trạng sản xuất ở quy mô gia đình có sức sống dai dẳng còn do nông nghiệp là ngành kinh tế đặc biệt, ngành sinh thái gắn bó với vật nuôi và cây trồng, ngành mà con người phải tự chủ, tận tâm mới có thể thích ứng được với sự thay đổi của tự nhiên và của sinh vật sống