1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận môn luật phòng chống tham nhũng đề tài quản trị nhà nước tốt và mối quan hệ với phòng, chống tham nhũng

20 10 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản trị nhà nước tốt và mối quan hệ với phòng, chống tham nhũng
Tác giả Bùi Quang Hưng
Người hướng dẫn PGS.TS. Đặng Minh Tuấn
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Tiểu luận cuối kỳ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 233,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ********* TIỂU LUẬN CUỐI KỲ Môn Luật phòng chống tham nhũng Đề tài Quản trị nhà nước tốt và mối quan hệ với phòng, chống tham nhũng Giảng viên PGS TS Đặng Minh Tuấn H[.]

Trang 1

KHOA LUẬT

*********

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ Môn: Luật phòng chống tham nhũng

Đề tài: Quản trị nhà nước tốt và mối quan hệ với phòng, chống tham nhũng

Giảng viên: PGS.TS Đặng Minh Tuấn

Họ và tên sinh viên: Bùi Quang Hưng

MSSV: 17031771

Hà Nội, 01/2022

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU: 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Câu hỏi nghiên cứu 1

4 Giả thuyết nghiên cứu 1

5 Phương pháp nghiên cứu 1

PHẦN NỘI DUNG 1

Chương I Cơ sở lý luận 1

1 Quản trị nhà nước là gì? 1

2 Phòng, chống tham nhũng 3

Chương II Quản trị nhà nước tốt và mối quan hệ với phòng, chống tham nhũng 4

1 Giải thích quản trị nhà nước tốt 4

1.1 Pháp Quyền 4

1.2 Sự tham gia của người dân 7

1.3 Minh bạch 8

1.4 Trách nhiệm giải trình 9

1.5 Kịp thời hiệu quả 10

1.6 Định hướng đồng thuận 11

1.7 Bình đẳng và không loại trừ chủ thể nào 12

Trang 3

2.1 Khái quát về tình hình phòng, chống tham nhũng ở nước ta 12

2.2 Quan hệ phòng chống tham nhũng 14

PHẦN KẾT LUẬN 17

PHẦN TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Lịch sử nhân dân ta đã trải qua bao nhiêu thế hệ, và ở thế hệ nào cũng bị các nước lớn dòm ngó, xâm chiếm Tất cả đều phải đắm chìm trong những khổ đau rồi mới dành lại được độc lập vinh quang như ngày hôm nay Cùng nhìn lại về quá khứ, cứ thời kì nào vua quan đồng lòng vững chí quản trị tốt thì đất nước sẽ hùng mạnh và ngược lại cứ ở thời nào nhà nước rối ren là nhân dân lầm than khổ cực và

ắt hẳn sẽ bị xâm chiếm Chính những điều này đã chứng tỏ rằng việc quản trị nhà nước là một yếu tố cực kì quan trọng và có ý nghĩa sống còn đối với một đất nước

PHẦN NỘI DUNG Chương I Cơ sở lý luận

1 Quản trị nhà nước là gì?

“Quản trị nhà nước tốt” (good governance - hay thường được gọi tắt là “quản trị tốt”) không phải là một khái niệm mới được đề cập trong xã hội hiện đại Trong thực tế, một số quan điểm về vấn đề này đã được nhắc đến bởi một số nhà tư tưởng

Hy Lạp, La Mã cổ đại Ví dụ, Aristotle, trong Chính trị luận (Politics), thông qua việc phân tích đặc điểm, các nguyên tắc hoạt động của các dạng chế độ chính trị, cách thức tổ chức quốc gia và các mô hình dân chủ thực chất đã tạo lập những nền tảng lý luận về quản trị nhà nước tốt

Mặc dù vậy, trong một thời gian dài, vấn đề quản trị nhà nước tốt hầu như không được nhắc đến Chỉ trong khoảng vài thập kỷ gần đây, cùng với khái niệm quản trị nhà nước (public governance – hay “quản trị công”), khái niệm quản trị nhà nước tốt mới được đề cập đến ngày càng nhiều Đầu tiên, quản trị nhà nước tốt được các thể chế tài chính quốc tế, đặc biệt là Ngân hàng thế giới - WB) cổ vũ vào đầu những năm 1990 như một điều kiện tiên quyết cho phát triển tại các quốc gia đang phát triển, sau đó dần trở thành nguyên tắc mang tính phổ biến trong quản trị công đương đại Hiện nay, quản trị nhà nước tốt trở thành một yếu tố quan trọng

Trang 5

trong các chương trình nghị sự về chính trị và kinh tế cả ở cấp độ quốc tế, khu vực

và quốc gia Cùng với việc dân chủ hoá hệ thống chính trị, bảo đảm tính độc lập của hệ thống tư pháp, kiểm soát quyền lực nhà nước và dân chủ đại diện, các tiêu chí quản trị nhà nước tốt đã trở thành một trong những yếu tố căn bản trong các nhà nước dân chủ

Theo Cao uỷ nhân quyền Liên Hợp Quốc: “ quản trị nhà nước tốt liên quan đến các tiến trình và kết quả chính trị và thể chế mà cần thiết để đạt được các mục tiêu phát triển Đó là một tiến trình mà các cơ quan công quyền giải quyết các vấn

đề công cộng, quản lý các nguồn lực công và bảo đảm việc thực hiện các quyền con người theo cách thức hoàn toàn không có sự tham nhũng và lạm dụng và thực

sự tuân thủ nguyên tắc pháp quyền Tuỳ thuộc vào bối cảnh và mục đích sử dụng, thuật ngữ quản trị nhà nước tốt có thể được dùng để nói đến các vấn đề như: tôn trọng đầy đủ các quyền con người (full respect of human rights); nguyên tắc pháp quyền (the rule of law), sự tham gia hiệu quả [của người dân] (effective participation), sự cộng tác của nhiều chủ thể (multi-actor partnerships), chính trị cạnh tranh (political pluralism), các tiến trình và thể chế minh bạch và có trách nhiệm giải trình (transparent and accountable processes and institutions), khu vực công hiệu lực, hiệu quả (efficient and effective public sector), tính hợp pháp (legitimacy), tiếp cận với kiến thức, thông tin và giáo dục (access to knowledge, information and education), trao quyền chính trị của người dân (political empowerment of people), sự công bình (equity), sự ổn định (sustainability), thái độ

và các giá trị giúp thúc đẩy trách nhiệm, sự đoàn kết và sự khoan dung (attitudes and values that foster responsibility, solidarity and tolerance)

Tóm lại: có thể hiểu quản trị nhà nước tốt là một tập hợp những nguyên tắc

và tiêu chí về quản lý xã hội nhằm hướng đến mục tiêu thúc đẩy, bảo đảm sự phát triển hài hoà, bền vững của một quốc gia.12 Về bản chất, quản trị nhà nước tốt không phải là một phương thức hay mô hình tổ chức, hoạt động của một nhà nước hay một hệ thống chính trị, mà là các nguyên tắc định hướng cho việc thiết kế và vận hành bộ máy nhà nước hoặc hệ thống chính trị đó Do tính chất rộng lớn của

Trang 6

nó, việc bảo đảm tất cả các nguyên tắc của quản trị nhà nước tốt là không dễ dàng Trong thực tế, hiện mới có rất ít quốc gia trên thế giới đạt được tất cả các tiêu chí của quản trị nhà nước tốt Tuy nhiên, đây là một mục tiêu mà các quốc gia trên thế giới đều đang nỗ lực đạt được để tồn tại và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá

2 Phòng, chống tham nhũng

Khái niệm tham nhũng hiện nay được nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế sử dụng là “Việc lạm dụng quyền lực được trao để trục lợi cá nhân Dạng phổ biến nhất của tham nhũng là hối lộ, được định nghĩa là việc đưa hoặc nhận tiền, quà tặng hoặc các lợi ích khác để làm điều gì đó không trung thực, bất hợp pháp hoặc làm tổn hại niềm tin trong quá trình kinh doanh”

Công ước Liên hợp quốc về Chống tham nhũng (UNCAC) cũng đưa ra quy định nghiêm cấm các hành vi như đưa hối lộ, nhận hối lộ, tham ô, gây ảnh hhưởng, lạm dụng quyền hạn, làm giàu bất chính của các quan chức và các hành vi đưa hối

lộ, nhận hối lộ, tham ô và các hành vi chiếm đoạt khác trong khu vực tư nhân UNCAC khuyến nghị các quốc gia thành viên quy định là tội phạm đối với những hành vi này, mặc dù không đòi hỏi sự thống nhất về tên gọi và các dấu hiệu cấu thành hành vi vi phạm

Tham nhũng, theo Luật Phòng, Chống tham nhũng (năm 2018) được hiểu là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi Các hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước và trong khu vực ngoài nhà nước được quy định rất rõ, trong đó có 12 hành vi tham nhũng liên quan tới khu vực nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện và quy định 03 hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước do người

có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước thực hiện gồm tham ô tài sản; nhận hối lộ; đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi

Chương II Quản trị nhà nước tốt và mối quan hệ với phòng, chống tham nhũng.

Trang 7

1 Giải thích quản trị nhà nước tốt

Một nhà nước tốt là nhà nước có những đặc trưng như sau:

1.1 Pháp Quyền

Pháp quyền (Rule of Law) là khái niệm được hình thành từ truyền thống văn hóa chính trị ở nước Anh trong một thời gian dài, bắt đầu từ khoảng thế kỷ XII, mà

ý nghĩa chính của nó là tinh thần “thượng tôn luật pháp” Tư tưởng cốt lõi của pháp quyền là xã hội được tổ chức và vận hành dựa trên nền tảng của luật pháp, trong đó không chỉ người dân mà cả chính quyền cũng bị ràng buộc và phải hành xử phù hợp với luật pháp Khái niệm pháp quyền khác với khái niệm “pháp trị” (rule by law – hay việc “cai trị bằng luật pháp” - mà hàm ý nhà nước sử dụng pháp luật để quản lý xã hội nhưng nhà nước đôi khi tự cho mình quyền “đứng ngoài” hay “đứng trên” luật pháp Theo Liên hợp quốc, pháp quyền mang tính chất là một nguyên tắc

cơ bản trong quản trị nhà nước và xã hội Liên minh châu Âu cũng xem pháp quyền là một trong ba nguyên tắc chung trong tổ chức và hoạt động của các quốc gia trong châu lục, bao gồm: dân chủ, quyền con người và pháp quyền Rộng hơn, pháp quyền còn được xem là một trong những nguyên tắc phổ quát, có tính toàn cầu (universal principle) đóng vai trò là một yếu tố nền tảng cho các quan hệ quốc tế

Theo Dự án Công lý thế giới (World Justice Project – WJP), có bốn nguyên tắc tổng quát (universal principles) của pháp quyền, đó là: Thứ nhất, trách nhiệm giải trình (accountability) [của nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội]: Nguyên tắc này có nghĩa là bản thân nhà nước cùng các chủ thể khác trong xã hội, kể cả khu vực tư nhân, đều có trách nhiệm giải trình theo pháp luật Thứ hai, pháp luật phải công bằng (just laws): Nguyên tắc này đòi hỏi luật pháp phải rõ ràng, công khai, công bằng, ổn định, được áp dụng một cách bình đẳng và phải bảo vệ các quyền cơ bản của con người, bao gồm các quyền về an ninh, tài sản và các quyền con người cốt lõi khác

Thứ ba, chính quyền mở (open government): Nguyên tắc này đòi hỏi pháp luật phải được xây dựng, thực thi và bảo đảm thực hiện một cách công khai, công

Trang 8

bằng và hiệu quả,

Thứ tư, cơ chế giải quyết xung đột vô tư, có thể tiếp cận (accessible & impartial dispute resolution): Theo nguyên tắc này, công lý phải được bảo đảm kịp thời bởi các thiết chế và chủ thể độc lập, có đủ nguồn lực cần thiết, dễ tiếp cận với người dân và phản ánh quan điểm của cộng đồng mà đang phục vụ

Từ góc nhìn tổng quát hơn, có thể xác định những thành tố cơ bản của pháp quyền bao gồm:

Thượng tôn pháp luật: Nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó các quan chức chính quyền và công dân đều phải tuân thủ pháp luật Đây là nội dung cốt lõi tối thiểu của pháp quyền Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu khắt khe hơn đối với nhà nước: trong khi công dân được làm những gì pháp luật không cấm, thì nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép; mọi hành động của chính quyền đều phải tuân theo đúng thẩm quyền, đúng quy trình, thủ tục đã được xác lập

Tôn trọng, bảo đảm quyền con người: Nhà nước phải thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm quyền con người cả trong pháp luật và thực tế Quyền của công dân chính

là nghĩa vụ của các nhà nước Quyền của công dân có thể phải chịu những giới hạn nhất định nhưng phải do luật định và chỉ khi cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn, đạo đức của cộng đồng và quyền, lợi ích hợp pháp của người khác Giới hạn và kiểm soát quyền lực nhà nước: Nhà nước phải xây dựng và vận hành các cơ chế kiểm soát cả bên trong (kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước) với nhau và bên ngoài (kiểm soát quyền lực nhà nước của người dân và các

tổ chức xã hội) Quyền lực nhà nước phải được giám sát thường xuyên và hiệu quả Các hành vi lạm dụng quyền lực nhà nước phải bị xử lý kịp thời, nghiêm minh Bảo vệ công lý: Công lý thể hiện dưới cả hai dạng: quy trình, thủ tục và mặt nội dung Về mặt thủ tục, công lý thể hiện qua các yếu tố như: Cách thức ban hành luật (ví dụ, có đúng thẩm quyền không); Sự rõ ràng (có đủ rõ để công dân theo đó mà

xử sự hay không)

Chất lượng của pháp luật: trong một nhà nước pháp quyền, pháp luật phải có

Trang 9

tính chắc chắn, tính tiên liệu, ổn định trong khoảng thời gian đủ dài nhằm bảo đảm

an toàn pháp lý cho mọi chủ thể trong xã hội, pháp quyền liên quan đến không chỉ luật hôm nay, mà cả ngày mai; các thiết chế, luật lệ, chính sách không được phụ thuộc vào ý chí chủ quan của bất kỳ cá nhân hay nhóm người nào

Từ góc độ quản trị nhà nước, có thể thấy pháp quyền đặt ra một nguyên tắc nền tảng mà bắt buộc các chủ thể nắm giữ quyền lực nhà nước phải tuân thủ, đó là mọi hoạt động của chính quyền phải dựa trên luật pháp, phải chịu sự giám sát cũng như phải có trách nhiệm giải trình với người dân Điều này đặt dấu chấm hết cho thời kỳ nhà nước có thể hành xử tuỳ tiện, chuyên chế trong quản lý xã hội Chính

vì vậy, nguyên tắc pháp quyền được xem là yếu tố nền tảng, là tiêu chí đầu tiên để đánh giá một nền quản trị nhà nước tốt

1.2 Sự tham gia của người dân

Sự tham gia của người dân cũng được xem là một yếu tố cốt lõi và là một tiêu chí đánh giá quản trị nhà nước tốt Quản trị nhà nước tốt đòi hỏi phải có sự tham gia của người dân một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện (representatives) hoặc các thiết chế trung gian hợp pháp (legitimate intermediate institutions) Điều này là bởi việc có thiết chế dân chủ đại diện không đủ để bảo đảm rằng những vấn đề của các nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội sẽ luôn được quan tâm xem xét trong quá trình ra quyết định Chính vì vậy, cần có các hình thức dân chủ trực tiếp và các thiết chế trung gian để bổ sung

Để bảo đảm sự tham gia hiệu quả của người dân vào quản trị nhà nước đòi hỏi người dân phải có những năng lực nhất định Năng lực đó giúp người dân có thể nhận định, đánh giá và thảo luận, đề xuất các phương án, giải pháp có giá trị tham khảo với nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề nảy sinh trong xã hội

Để có được năng lực đó đòi hỏi sự nỗ lực, cố gắng của bản thân mỗi công dân, song cũng đặt ra những yêu cầu với nhà nước và cộng đồng trong việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao dân trí và chia sẻ, cung cấp thông tin về tình hình của đất nước và của địa phương Không

Trang 10

chỉ vậy, nó còn đòi hỏi các nhà nước phải xây dựng cơ chế tiếp thu, phản hồi ý kiến đóng góp của người dân một cách kịp thời và hiệu quả

1.3 Minh bạch

Nhìn một cách tổng quát, minh bạch có nghĩa là cho phép mọi người nhìn thấy sự thật mà không hề che đậy hoặc bị làm mờ đi hay gây nhiễu; làm cho quan sát sự vật hiện tượng một cách chính xác và dễ dàng hơn.22 Minh bạch trong quản trị nhà nước có nghĩa là khi các cơ quan, công chức nhà nước đưa ra các quyết định, và quá trình thực hiện các quyết định phải công khai để công chúng biết, ngoại trừ những trường hợp cần giữ bí mật vì an ninh quốc gia hay để bảo đảm tính hiệu quả của hoạt động quản lý (ví dụ, các giấy tờ, hồ sơ trong hoạt động tố tụng )

Trong quản trị nhà nước, minh bạch đòi hỏi sự công khai xuyên suốt trong cả quá trình từ khi thiết kế chính sách, xây dựng và tổ chức thực hiện, đánh giá hiệu lực, hiệu quả của chính sách, pháp luật Các công đoạn của quá trình này đều cần công khai (trừ những trường hợp đặc biệt theo luật định) để người dân có thể biết

và tham gia ý kiến cũng như thực hiện quyền giám sát của mình Theo nghĩa cụ thể hơn, trong hoạt động quản trị nhà nước, minh bạch được hiểu là khả năng truy cập thông tin của người dân và những điều kiện thuận lợi để người dân hiểu rõ quá trình ra quyết định của các cơ quan công quyền Chính vì vậy, minh bạch mang tính chủ động và đặt nhiều trách nhiệm hơn vào các tổ chức và cơ quan quản lý Công khai, minh bạch có ý nghĩa rất lớn đối với hiệu quả quản trị nhà nước,

là một trụ cột của quản trị nhà nước tốt, là một lợi thế cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp, là yếu tố cùng với trách nhiệm giải trình giúp giảm thiểu bất ổn kinh

tế vĩ mô Bên cạnh đó, minh bạch còn giúp tăng cường các chỉ số khác của quản trị nhà nước tốt như pháp quyền, sự tham gia của nhân dân, trách nhiệm giải trình, sự đồng thuận, hiệu lực, hiệu quả của quản trị Theo nghĩa rộng hơn, công khai, minh bạch

Ngày đăng: 23/03/2023, 18:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w