Những năm gần đây, hoạt động xuất nhập khẩu của các tỉnh miền núi, vùng cao, nhất là các tỉnh có chung biên giới với Trung Quốc, Lào, Campuchia phát triển mạnh mẽ cả về hình thức, kim ng
Trang 2Uỷ ban dân tộc
Đề tài cấp bộ năm 2010
cơ sở khoa học để hoạch định chính sách thương mại hai chiều (cung ứng vật tư, hàng hoá và thu mua nông sản hàng hoá) ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
miền núi phía Bắc
(báo cáo tổng hợp)
Cơ quan quản lý đề tài: Uỷ ban Dân tộc
Đơn vị thực hiện đề tài: Trường Cán bộ dân tộc Chủ nhiệm đề tài: ThS NCS Nguyễn Văn Dũng Thư ký Đề tài: ThS Phạm Thị Kim Cương
Hà Nội, tháng 12 năm 2010
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Những năm vừa qua, nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước với chính sách cải cách, mở cửa và hội nhập, với sự cố gắng nỗ lực của đồng bào dân tộc thiểu số, kinh tế xã hội nói chung và thương mại, thị trường miền núi đã có nhiều khởi sắc, giao lưu hàng hoá ngày một phát triển Thế mạnh tiềm năng của đất rừng, tài nguyên rừng đang từng bước đưa miền núi trở thành nền kinh tế hàng hoá gắn với thị trường trong nước và thế giới, các loại hình dịch vụ gắn liền với lưu thông hàng hoá cũng dần dần phát triển Hàng hoá phong phú, đa dạng về chủng loại đã đáp ứng được cơ bản nhu cầu sản xuất, đời sống và góp phần ổn định giá cả thị trường Trên bình diện cả nước nói chung và các tỉnh vùng dân tộc và miền núi nói riêng, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội gia tăng với tốc độ khá nhanh Nhiều tỉnh miền núi đang hình thành những thị trấn, trung tâm cụm xã như những điểm giao lưu kinh tế - xã hội Hệ thống chợ phát triển sôi động, phong phú, cơ sở hạ tầng được nâng cấp, sửa chữa; đời sống văn hoá, tinh thần được cải thiện, bộ mặt nông thôn miền núi đổi mới
Để thực hiện chính sách có hiệu quả cho đồng bào dân tộc thiểu số phải kể đến hệ thống thương nghiệp nhà nước trong việc cung ứng các mặt hàng chính sách cho đồng bào miền núi, với hơn 75% cụm xã có điểm bán hàng của thương nghiệp nhà nước Trong những năm qua 1 số mặt hàng thiết yếu được nhà nước trợ giá, trợ cước đã góp phần quan trọng bình ổn thị trường, cải thiện đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số Thương nghiệp dân doanh phát triển nhanh và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong bán lẻ, góp phần làm phong phú sôi động thị trường Số liệu thống
kê cho thấy hiện có 1.859.218 cơ sở kinh doanh cá thể phi nông nghiệp đang hoạt động ở các tỉnh miền núi vùng cao Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch
vụ tiêu dùng của các tỉnh vùng cao miền núi trong 5 năm qua, trung bình đạt hơn 280.000 tỷ đồng (giá thực tế) tăng bình quân 19,35%/ năm Những năm gần đây, hoạt động xuất nhập khẩu của các tỉnh miền núi, vùng cao, nhất là các tỉnh có chung biên giới với Trung Quốc, Lào, Campuchia phát triển mạnh mẽ cả về hình thức, kim ngạch và mặt hàng
Trong tổng số 43 cửa khẩu của cả nước có hơn 80% cửu khẩu nằm ở các tỉnh miền núi, với 7/8 cửu khẩu quốc tế và 7/19 cửu khẩu quốc gia được áp dụng chính sách ưu đãi
Hàng xuất khẩu có trên 100 mặt hàng, chủ yếu là nguyên liệu thô (chiếm 40%), nông sản, hải sản, lâm sản (chiếm 30%), hàng công nghiệp 30% Hàng nhập khẩu gần 200 mặt hàng, trong đó nguyên liệu và thiết bị công nghiệp (chiếm 35%), hàng tiêu dùng (chiếm 65%)
Trang 4Bên cạnh các loại hình thương nghiệp, chợ được xem là bộ phận cấu thành quan trọng của mạng lưới thương nghiệp xã hội ở mỗi vùng, địa phương, nhất là ở các tỉnh miền núi vùng cao Mặc dù hơn 60% cụm xã đã có chợ, song nhìn chung ở các tỉnh miền núi, nhất là vùng cao, mạng lưới chợ còn rất thưa thớt, quy mô nhỏ,
cơ sở vật chất còn nghèo nàn
Theo kết quả điều tra tính đến năm 2005, trên địa bàn cả nước có 7.719 chợ các loại chợ tập trung chủ yếu ở khu vực đồng bằng (chiếm 19,1%) Vùng Tây Bắc
Bộ (chiếm 3,1%), Tây Nguyên (chiếm 4,9%), số liệu cho thấy vùng dân tộc thiểu
số chiếm tỷ thấp hơn hẳn so với khu vực khác
Chợ biên giới, cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu chiếm 1,9% tổng số chợ trên phạm vi cả nước Khu vực có chợ biên giới, cửa khẩu, chợ trong khu kinh
tế cửa khẩu nhiều nhất là vùng Đông Bắc Bộ chiếm 45,6% của cả nước Nhiều tỉnh
ở vùng Đông Bắc Bộ có đường biên giới rất dài với Trung Quốc, hơn nữa, hoạt động biên mậu giữa Việt Nam và Trung Quốc đang ngày càng phát triển đã kéo theo sự phát triển của các chợ tại các xã biên giới Riêng tỉnh Hà Giang đã có 29 chợ biên giới, cửa khẩu, khu kinh tế cửa khẩu, nhiều nhất trong cả nước
Bên cạnh kết quả đạt được, việc cung ứng vật tư, hàng hoá thiết yếu cho đồng bào các dân tộc thiểu số còn hạn chế nhất định; hệ thống chợ nông thôn còn nhiều bất cập (mạng lưới, quy mô, phương thức hoạt động v.v…), những hạn chế, bất cập đó là:
Những thành tựu của hoạt động thương mại và thị trường miền núi đạt được trong thời kỳ mở cửa hội nhập mới chủ yếu diễn ra ở những thị trấn, huyện lỵ, thị
tứ, vùng có cây công nghiệp, tập trung, cụm xã, chợ nơi gần đường giao thông… Vùng sâu, vùng xa nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn Những thành tựu bước đầu rất đáng trân trọng, song vẫn chưa thể rút ngắn được khoảng cách chênh lệch giữa miền xuôi và miền ngược, vùng thấp và vùng cao, biên giới, hải đảo
Hiệu quả kinh tế đạt được do phát triển giao lưu kinh tế đem lại chưa tương xứng với điều kiện thuận lợi, thế mạnh và tiềm năng vốn có Trong xuất nhập khẩu: nhập siêu còn lớn, hàng xuất khẩu phần lớn là sản phẩm thô, dạng nguyên liệu, giá trị kinh tế không cao
Hoạt động buôn lậu, vận chuyển hàng hoá trái phép qua biên giới, gian lận trong thương mại vẫn diễn ra khá phức tạp gây thất thu lớn cho ngành và ảnh hưởng xấu tới sản xuất trong nước
Thương nghiệp nhà nước mới đảm nhiệm được chủ yếu 1 số mặt hàng chính sách (muối Iốt, dầu hoả, giấy viết, cây, con giống…) Các mặt hàng khác cơ bản do dân doanh tổ chức Khó khăn chung của thương nghiệp nhà nước là thiếu vốn Hợp tác xã mua bán hầu hết chỉ hoạt động cầm chừng, hoặc tan rã Mức luôn chuyển bình quân đầu người ở các tỉnh miền núi chỉ bằng 22-28% bình quân chung của cả
Trang 5nước, ở vùng sâu vùng xa, chỉ bằng 38-45% mức bình quân chung của tỉnh Sản vật
do bà con các dân tộc thiểu số sản xuất ra chủ yếu tự cung tự cấp, tỷ suất hàng hoá nhiều nơi chỉ đạt 15-20% Xuất khẩu còn bấp bênh, phân tán, bình quân đầu người chỉ đạt 15- 22% mức chung của cả nước Số dự án đầu tư nước ngoài cũng giảm dần Nông lâm sản vẫn khó tìm được đầu ra Chính sách triển khai thường chậm và chưa kịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc
Công tác xây dựng chính sách thương mại cho miền núi còn nhiều bất cập, chưa được quan tâm đúng mức: hơn 20 năm mới có được một Nghị định của Chính phủ, một Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị Định (Nghị định số 02/2002/NĐ-CP ngày 03/1/2002 của Chính phủ sửa đổi Nghị định số 20/NĐ-CP về phát triển thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc; Thông tư liên tịch số 07/2002/TTLT/BTM-UBDTMN-BTC-BKHĐT ngày 12/8/2002 liên tịch giữa Bộ Thương mại, Uỷ ban Dân tộc và Miền núi, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 02/2002/NĐ-CP ngày 03/01/2002 và Nghị định số 20/1998/NĐ-CP ngày 31/3/1998 của Chính phủ về phát triển thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc); thị trường miền núi, vùng cao nơi tập trung sự yếu kém sơ khai của nền thương nghiệp nhỏ đang trong giai đoạn quá độ
đi lên sản xuất hàng hoá và vẫn được xem là bộ phận kém phát triển nhất của thị trường cả nước
Sự kết hợp 4 nhà: “Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nông” còn chưa được chặt chẽ, thiếu tính lâu dài, bền vững, thiếu những cơ chế chính sách kích hoạt cho sự phát triển dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh chưa được cao Công tác dự báo nhu cầu thị trường chưa được quan tâm đúng mức Cung cấp đầy
đủ thông tin về nhu cầu thị trường nông sản trên thể giới và trong nước giúp định hướng cho đồng bào đầu tư sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu cầu của thị trường, tránh hiện tượng sản xuất vượt quá khả năng tiêu thụ của thị trường
Từ sự phân tích trên, việc “cơ sở khoa học để hoạch định chính sách thương mại 2 chiều (cung ứng vật tư, hàng hoá và thu mua nông sản hàng hoá) ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc” là hết sức cấp bách và có nhiều giá trị
cả về lý luận lẫn thực tiễn trong thời kỳ hội nhập kinh tế hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn của chính sách
phát triển thương mại nông thôn miền núi trong thời kỳ hội nhập; đề xuất mục tiêu, nội dung phát triển thương mại và giải pháp xây dựng chính sách, tổ chức thực hiện chính sách phát triển thương mại ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi
Mục tiêu cụ thể:
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn của chính sách thương mại vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới
Trang 6- Chỉ ra thực trạng chính sách phát triển thương mại nông thôn miền núi đồng thời tìm ra nguyên nhân tồn tại hạn chế của thương mại miền núi trong điều kiện hội nhập kinh tế
- Phân tích kết quả đạt được thương mại nông thôn miền núi đồng thời tìm nguyên nhân tồn tại hạn chế của thương mại miền núi trong điều kiện hội nhập kinh
tế thế giới
- Đề xuất mục tiêu phát triển và giải pháp xây dựng chính sách, tổ chức thực hiện chính sách phát triển thương mại ở vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: chính sách thương mại hai chiều (cung
ứng vật tư hàng hóa, thu mua nông sản hàng hóa) ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Cơ sở khoa học để hoạch định chính sách thương mại hai chiều (cung ứng vật
tư hàng hóa, thu mua nông sản hàng hóa) ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
+ Không gian nghiên cứu: vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điền dã dân tộc học
Ngày 29/10/2010 nhóm tác giả đề tài tổ chức hội thảo khoa học về thương mại miền núi tỉnh Cao Bằng, có 23 đại biểu tham dự và có 9 báo cáo tham luận trình bày tại hội thảo Nhóm tác giả đã thu thập được rất nhiều tài liệu phản ánh thực trạng và các giải pháp về phát triển thương mại miền núi của tỉnh Cao Bằng, bên cạnh việc tổ chức hội thảo ở Trung ương và địa phương, nhóm tác giả đã điều tra thông qua phiếu phỏng vấn cán bộ làm công tác dân tộc ở Trung ương và địa phương, các hộ gia đình nông dân tỉnh Cao Bằng
- Phương pháp kế thừa:
Kế thừa các công trình nghiên cứu có nội dung liên quan đến đề tài đã công
bố ở trong và ngoài nước; ở Trung ương và địa phương; nhất là các kết quả điều tra, các đề tài, dự án nghiên cứu do Uỷ ban Dân tộc, các Bộ ngành đã thực hiện trong những năm gần đây
- Phương pháp chuyên gia:
+ Ký hợp đồng viết chuyên đề và các báo cáo khoa học với các nhà khoa học
và các nhà quản lý, các chuyên gia
+ Tổ chức các cuộc hội thảo, toạ đàm tranh thủ các ý tưởng của các nhà khoa học phục vụ cho đề tài
5 Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài kết cấu gồm 3 phần chính:
Trang 7Chương1: Một số vấn đề lý luận về thương mại và các chính sách thương mại của
Đảng và Nhà nước trong thời gian qua
Chương2: Thực trạng thương mại vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
Chương3: Giải pháp và kiến nghị về thương mại vùng dân tộc thiểu số miền núi
phía Bắc
Trang 8CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI VÀ CÁC CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TRONG THỜI GIAN QUA
1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về thương mại
1.1.1 Khái niệm về thương nghiệp và thương mại
Theo Đại từ điển tiếng Việt, thương nghiệp là ngành kinh tế quốc dân chuyên mua, bán hàng hóa trên thị trường Thương nghiệp là ngành kinh tế độc lập chuyên về tổ chức lưu thông hàng hóa Thương nghiệp là hình thức phát triển, là kết quả của quá trình trao đổi hàng hóa, là sản phẩm xã hội loài người phát triển đến một trình độ nhất định, là phạm trù lịch sử liên quan chặt chẽ với kinh tế hàng hóa Theo pháp luật của một số nước có nền kinh tế phát triển, thương mại có một nội dung rộng hơn bao gồm tất cả các hoạt động thương nghiệp thuần túy (mua và bán hàng hóa) mà cả hoạt động sản xuất công nghiệp, hầu hết các dịch vụ trên thị trường như dịch vụ hàng không, dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm v.v Ở nước ta, quan điểm của nhiều nhà khoa học, nhiều nhà chuyên môn và như Nghị quyết 12 của Bộ Chính trị khóa VII (13-1-1996) về “Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động thương nghiệp, phát triển thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, thì thương mại không chỉ là hoạt động mua bán thuần túy, mà gồm cả những dịch vụ thương mại liên quan đến mua bán hàng hóa như đại diện thương mại, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa, đại lý mua bán hàng hóa, quảng cáo thương mại, gia công thương mại, vv Như vậy, khái niệm thương mại ở đây được hiểu rộng hơn khái niệm thương nghiệp
Trước đó, khi nghiên cứu tư bản kinh doanh hàng hóa, C.Mác đã xuất phát từ tính hai mặt của hàng hóa để xem xét chức năng thuần túy của thương nghiệp, đó là mua và bán Ngày nay các nhà kinh tế học hiện đại cũng coi thương mại hoạt động với chức năng chủ yếu là mua và bán hàng hóa và các dịch vụ mua bán kèm theo
Thương nhân là cá nhân, pháp nhân hoặc tổ chức kinh tế hoạt động thương
mại một cách độc lập và thường xuyên, nhằm mục tiêu là đạt được lợi nhuận
Như vậy, thương mại là hình thức trao đổi hàng hóa giữa cá nhân và nhóm,
thông qua việc mua và bán (trong nước và quốc tế) và dịch vụ thương mại Công thức chung trao đổi hàng hóa của thương mại là: “T - H - T” Thương mại ứng tiền trước để mua, dự trữ trong lưu thông, bán hàng và các dịch vụ để thu tiền về (trong
đó có các loại chi phí và lợi nhuận thu được từ bán hàng)
Thương mại là ngành độc lập trong nền kinh tế quốc dân, nó không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, nhưng lại phục vụ cho quá trình sản xuất và tái sản xuất Trong toàn bộ hoạt động của nền kinh tế quốc dân, người ta chia thành ba lĩnh vực, đó là: sản xuất công nghiệp, sản xuất nông nghiệp cà các hoạt động dịch vụ
Trang 9Theo nghĩa rộng thì toàn bộ các ngành nghề hoạt động trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa như: thương mại, ngân hàng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, đầu tư; các hoạt động phục vụ cho đời sống nhân dân như y tế, giao dục, nghệ thuật, bảo hiểm vv đều thuộc về lĩnh vực dịch vụ Theo nghĩa hẹp thì dịch vụ là những hoạt động phục vụ cho một ngành, một lĩnh vực cụ thể nào đấy, dịch vụ ngân hàng, dịch
vụ du lịch, dịch vụ đầu tư…Như vậy, thương mại là một ngành trong lĩnh vực dịch
vụ Đối tượng của thương mại là hàng hóa Hàng hóa được phân theo tính chất của sản phẩm, theo tiêu thức này người ta chia hàng hóa ra làm hai loại, một vật tư – hàng hóa phục vụ cho sản xuất và hai là, hàng hóa phục vụ cho tiêu dùng
Vật tư, là những sản phẩm dùng cho sản xuất, đó là nguyên liệu, nhiên liệu, điện lực, các loại bán thành phẩm, thiết bị máy móc, phụ tùng…Hàng tiêu dùng,
bao gồm các nông sản, thực phẩm, công nghệ phẩm, sản phẩm văn hóa, y tế… Trong xã hội có sự phân công lao động đã tạo ra một khối lượng hàng hóa và dịch vụ nhiều hơn, cho nên có sự trao đổi các sản phẩm hàng hóa với nhau Nhưng
để các hình thức trao đổi trở thành thương mại thì phải thỏa mãn những yêu cầu chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, trao đổi (mua, bán, dịch vụ) phải bằng tiền, dù đó là tiền mặt hay ngân phiếu, tín phiếu hoặc kim loại quý
Thứ hai, hoạt động mua bán phải được thực hiện trên thị trường, theo những quy luật của thị trường chứ không phải theo những quy định hành chính, những luật
lệ cứng nhắc Ở đâu có bán là ở đó có mua, có nghĩa là có “cầu” là có “cung”
Thứ ba, mua bán theo giá cả thị trường Đây là loại giá cả được hình thành trên thị trường trong môi trường cạnh tranh do quan hệ cung - cầu quyết định
Như vậy, thương mại là lĩnh vực trao đổi hàng hóa, dịch vụ trên thị trường (trong nước và quốc tế) được thực hiện thông qua mua và bán bằng tiền mặt, mua bán tự do và theo giá cả thị trường
Từ giữa thế kỷ XVIII, hai nhà kinh tế học người Anh là A Smith và D Ricardo đã đưa ra lý thuyết về lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh
Lợi thế tuyệt đối đề cập đến một số lượng của một loại sản phẩm có thể được sản xuất, khi sử dụng cùng một nguồn lực ở hai nước khác nhau
Lợi thế so sánh hoặc còn gọi là lợi thế tương đối, là các quốc gia có thể sản xuất ra các mặt hàng giống nhau, cùng sử dụng các nguồn lực như nhau nhưng với chi phí khác nhau
Từ đó sẽ xuất hiện lợi ích từ việc sản xuất và tham gia vào thương mại quốc
tế Tuy nhiên, lợi thế tuyệt đối chỉ giải thích một phần nhỏ của thương mại quốc tế trong một phạm vi hẹp
Giữa những năm 30 của thế kỷ XX, hai nhà kinh tế người Thụy Điển là Eli Heckscher và Bertil Ohlin dựa vào sự phong phú của nguồn lực từng quốc gia và
Trang 10đưa ra kết luận: mỗi nước sẽ xuất khẩu loại hàng hóa, mà việc xuất khẩu nó cần sử dụng nhiều yếu tố rẻ và tương đối sẵn có của nước đó; và ngược lại nhập khẩu hàng hóa, mà việc sản xuất nó cần nhiều yếu tố đắt và khan hiếm ở nước đó Có thể giải thích bản chất cơ bản của học thuyết như sau: nếu nước giầu về vốn thì sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm cần nhiều vốn hơn, và ngược lại, nước có lao động với giá nhân công rẻ thì sản xuất và xuất khẩu nhiều sản phẩm sử dụng nhiều lao động Ngày nay, một số nhà kinh tế học hiện đại như P.A Samuelson, W Stolper…cũng rất đề cao vai trò của thương mại (đặc biệt là thương mại quốc tế), gắn hoạt động thương mại với tăng trưởng và phát triển kinh tế của từng quốc gia, gắn thương mại với phân phối thu nhập, gắn thương mại với bảo vệ môi trường… Những lý thuyết ít nhiều đã giải thích được vai trò, lợi thế của các quốc gia Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một lý thuyết nào giải thích đầy đủ và thấu đáo về khái niệm, bản chất của thương mại trong nước và thương mại quốc tế Do đó, đây
là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu và cần phải vận dụng vào những điều kiện nhất định của từng quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển Nước ta chuyển
từ nền kinh tế hành chính quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì thương mại, nhất là thương mại quốc tế càng cần được nghiên cứu và vận dụng đầy đủ hơn
Sự tồn tại và phát triển của thương mại được xây dựng trên cơ sở sản xuất hàng hóa và phân công lao động xã hội Do đó, trình độ phát triển của sản xuất và phân công lao động càng sâu sắc thì thương mại càng phát triển đa dạng phong phú hơn
Ngoại thương, là phạm trù kinh tế phản ánh sự trao đổi hàng hóa nước này
với nước khác thông qua hoạt động và nhập khẩu hàng hóa với nước ngoài Hoạt động xuất khẩu nhằm tăng thu ngoại tệ, khuyến khích phát triển sản xuất trong nước, nâng cao mức tiêu dùng của dân cư
Xuất khẩu, là khai thác lợi thế tuyệt đối và tương đối của từng nước tham gia
vào hoạt động thương mại quốc tế Xuất khẩu để góp phần tăng tích lũy vốn (ngoại tệ) nhằm mở rộng sản xuất, thay đổi cơ cấu ngành, tăng năng suất lao động xã hội vv Xuất khẩu tạo điều kiện khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống, thúc đẩy tiêu dùng và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân
Nhập khẩu, là hoạt động kinh tế nhằm nhập những mặt hàng trong nước chưa
sản xuất được, hoặc sản xuất chưa đủ, hoặc giá thành cao Nhập khẩu có tác động trực tiếp đến sản xuất và kinh doanh thương mại Đối với nước ta, hoạt động nhập khẩu cung cấp cho nền kinh tế từ 60 đến 100% nguyên liệu chủ yếu (xăng, dầu, sắt thép, phân bón, bông sơ chế cho công nghiệp dệt…) Nhập khẩu tăng thêm nguồn máy móc, thiết bị có trình độ công nghiệp hiện đại và một số hàng hóa tiêu dùng có chất lượng cao Cần có chính sách tốt để kết hợp giữa xuất khẩu và nhập khẩu, hạn
Trang 11chế nhập siêu, kết hợp đa dạng các loại hình xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm thô, sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu và chính sách hướng ngoại Vì vậy, cần tạo ra các mặt hàng chủ lực để kết hợp xuất khẩu, giành thế chủ động trên thị trường thế giới Kết hợp xuất khẩu để phát triển và tạo nguồn hàng Hoạt động ngoại thương phải đảm bảo nguyên tắc là lợi ích lâu dài và trước mắt
Thương mại, tiếng Anh là Trade, vừa có ý nghĩa là kinh doanh, vừa có ý
nghĩa là trao đổi hàng hóa dịch vụ Ngoài ra, tiếng Anh còn dùng một thuật ngữ nữa là Business hoặc Commerce (tương đương với từ Business, Trade của tiếng Anh) là sự buôn bán, mậu dịch hàng hóa dịch vụ Tiếng La tinh, thương mại là
“Commercium” vừa có ý nghĩa mua bán hàng hóa, vừa có ý nghĩa hoạt động kinh doanh Theo từ điển Nga-Việt xuất bản năm 1977 thì thương mại (TOPROBLR) cũng được hiểu là mua bán kinh doanh hàng hóa Như vậy, khái niệm thương mại cần được hiểu cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng, thương mại là toàn bộ các loại hoạt động kinh doanh trên thị trường Thương mại đồng nghĩa với kinh doanh được hiểu như là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lợi của các chủ thể kinh doanh trên thị trường Theo Pháp lệnh trọng tài thương mại, ngày 25/5/2002 thì hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện; đại lý thương mại;
ký gửi; thuê và cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li-xăng; đầu tư; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò khai thác; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật
Theo nghĩa hẹp, thương mại là quá trình mua bán hàng hóa dịch vụ trên thị trường, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa Nếu hoạt động trao đổi hàng hóa (kinh doanh hàng hóa) vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì người ta gọi là ngoại thương (kinh doanh quốc tế) Với cách tiếp cận này, theo luật Thương mại-1998, thì các hành vi thương mại bao gồm: mua bán hàng hóa; đại diện cho thương nhân; môi giới thương mại; ủy thác mua bán hàng hóa; đại lý mua bán hàng hóa; gia công thương mại; đấu giá hàng hóa; đấu thầu hàng hóa; dịch vụ giám định hàng hóa; khuyến mại; quảng cáo thương mại; trưng bày giới thiệu hàng hóa và hội chợ triển lãm thương mại
Trên thực tế, thương mại có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau:
- Theo phạm vi hoạt động, có thương mại nội địa (nội thương), thương mại quốc tế (ngoại thương), thương mại khu vực, thương mại thành phố, nông thôn, thương mại nội bộ nghành…
Trang 12- Theo đặc điểm và tính chất của sản phẩm trong quá trình tái sản xuất xã hội, có thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại hàng tư liệu sản xuất, thương mại hàng tiêu dùng…
- Theo các khâu của quá trình lưu thông, có thương mại bán buôn, thương mại bán lẻ
- Theo mức độ can thiệp của Nhà nước vào quá trình thương mại, có thương mại tự do hay mậu dịch tự do và thương mại có sự bảo hộ
- Theo kỹ thuật giao dịch, có thương mại truyền thống và thương mại điện tử Việc xem xét thương mại theo các góc độ như vậy tuy mang tính tương đối nhưng có ý nghĩa rất lớn cả về mặt lý luận và thực tiễn, đặc biệt trong việc hình thành các chính sách và biện pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện, bền vững thương mại
1.1.2 Khái niệm chính sách thương mại và phân loại chính sách thương mại
Chính sách thương mại là hệ thống các quan điểm, chuẩn mực, thể chế, biện pháp, thủ thuật, mà nhà nước sử dụng tác động vào thị trường để điều chỉnh các hoạt động phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn nhất định
Chính sách thương mại có cấu trúc khá phức tạp bao gồm nhiều bộ phận, nhiều loại, có thể phân loại theo các tiêu chí sau đây:
- Theo cơ cấu của hệ thống chính sách thương mại, có chính sách thương mại nội địa; chính sách thương mại quốc tế
- Theo đối tượng tác động của chính sách, có các chính sách khác nhau về thương mại đối với từng thành phần kinh tế (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh
tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài); các chính sách thương mại đặc thù đối với một số sản phẩm hoặc những khu vực đặc biệt (ví
dụ chính sách thương mại đối với miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa)
- Theo cơ chế quản lý, có chính sách bảo hộ mậu dịch (ngăn sông cấm chợ); chính sách tự do hóa thương mại
- Theo các công cụ của chính sách thương mại, có các chính sách thuế quan, phi thuế quan
Đến lượt mình, các công cụ của chính sách thương mại thường được phân loại thành các nhóm cụ thể khác
Sự phân loại trên đây chỉ có tính chất tương đối bởi vì các đối tượng quản lý khác nhau đều chịu tác động của chính sách thương mại chung, đồng thời chịu tác động của các chính sách thương mại đặc thù Đặc biệt, trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, chính sách thương mại nội địa và chính sách thương mại quốc tế
có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau, rất khó phân biệt một cách rạch ròi Chính sách thương mại có quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô
Trang 13khác như chính sách đầu tư, chính sách tài chính…Chính sách thương mại quốc tế nếu tách ra, gộp với chính sách đầu tư và hợp tác quốc tế sẽ thành nhóm chính sách kinh tế đối ngoại của quốc gia Còn chính sách thương mại nội địa nếu ghép với các thể chế hoạt động của doanh nghiệp sẽ thành thể chế, chính sách quản lý của doanh nghiệp
Hơn nữa, bản thân chính sách thương mại là công cụ quản lý của nhà nước đối với hoạt động thương mại nhưng trong chính sách thương mại lại phải sử dụng nhiều công cụ cụ thể khác
1.1.3 Khái niệm hàng hóa nông sản và thị trường hàng hóa nông sản
- Hàng hóa nông sản là sản phẩm của sản xuất nông nghiệp do lao động của con người tạo ra để bán Sản xuất hàng hóa nông sản là sản xuất ra các nông sản để bán cho người tiêu dùng Khác với sản xuất tự cung tự cấp, ngay từ khi mới bắt đầu sản xuất hàng hóa nông sản, người sản xuất đã phải xác định sản phẩm của họ để cho ai tiêu dùng và được đưa ra tiêu thụ trên thị trường nào Sản xuất hàng hóa nói chung
và sản xuất hàng hóa nông sản nói riêng ra đời và phát triển dựa trên cơ sở của sự phát triển sản xuất, sự phát triển của phương thức sản xuất và sự phân công lao động xã hội Quan hệ giữa sản xuất hàng hóa và phân công lao động xã hội là mối quan hệ nhân quả Khi sản xuất hàng hóa càng phát triển, môi trường cho sự tự do hóa thương mại càng cao thì chuyên môn hóa ngày càng cao và phân công lao động
xã hội càng sâu sắc và ngược lại Khi mức sống càng cao thì nhu cầu tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ ngày càng cao và càng đa dạng Trong khi đó người sản xuất chuyên môn hóa chỉ sản xuất một hoặc một số sản phẩm nào đó, vì vậy nảy sinh nhu cầu trao đổi mua bán hàng hóa ngày càng nhiều và sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển
- Thị trường hàng hóa nông sản: Theo Đại từ điển kinh tế thị trường, Viện nghiện cứu và phổ biến tri thức bách khoa xuất bản tại Hà Nội năm 1998, tr.114: Thị trường là nơi trao đổi hàng hóa được sản xuất ra và hình thành trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa cùng với mọi quan hệ kinh tế giữa người với người liên kết với nhau thông qua trao đổi hàng hóa Vì vậy, thị trường theo nghĩa rộng là chỉ các hiện tượng kinh tế được phản ánh thông qua trao đổi và lưu thông hàng hóa, cùng quan hệ kinh tế và mối quan hệ kinh tế giữa người với người, do đó mà liên kết lại Nghĩa hẹp của thị trường là chỉ khu vực và không gian trao đổi hàng hóa Thị trường phát triển cùng với sản xuất hàng hóa và trao đổi hàng hóa sản xuất hàng hóa và trao đổi hàng hóa phát triển đến trình độ nào thì thị trường cũng phát triển theo trình độ đó
Đối chiếu với những khái niệm này, có thể thấy trong nhiều năm trước đây, ở miền núi luôn tồn tại nhận thức hàng hóa là những sản phẩm dùng không hết, được đưa bán ở ngoài chợ, vì vậy nền nông nghiệp không thể thoát khỏi tình trạng manh
Trang 14mún, kém hiệu quả và người dân miền núi chỉ có thể thỏa mãn được nhu cầu tối thiểu ở trình độ thấp với mức nghèo hoặc thoát nghèo chứ không thể làm giàu trong điều kiện hạn hẹp về nguồn lực Mặc dù những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp
ở miền núi nước ta có những biến chuyển tích cực theo tính chất nền kinh tế thị trường, chuyển từ sản xuất mang tính tự cung tự cấp, hoặc sản xuất hàng hóa nhỏ sang phát triển sản xuất hàng hóa với việc bước đầu hình thành vùng sản xuất tập trung, chuyên canh lớn trên cơ sở khai thác lợi thế của từng vùng; Từ mở rộng sản xuất theo số lượng sang từng bước coi trọng chất lượng phục vụ nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao; Từ tính toán chủ yếu bằng hiện vật sang tính toán giá trị, nâng cao thu nhập, hiệu quả sử dụng đất đai Những kết quả bước đầu ở một số vùng miền núi đã gợi mở những cách thức làm ăn mới cho người dân miền núi trong cơ chế thị trường và để giúp đỡ những người nông dân miền núi phát triển sản xuất hàng hóa, một trong những vấn đề quan trọng cần phải tính đến trong quá trình phát triển sản xuất hàng hóa ở miền núi là thị trường tiêu thụ Đây là vướng mắc lớn nhất lâu nay chưa được giải quyết một cách căn bản Nguyên lý cơ bản của nền kinh tế thị trường là ‘‘ sản xuất và đưa ra thị trường cái mà thị trường cần, chứ không phải đưa
ra thị trường cái mà mình sẵn có’’ Trong thời gian qua, những khó khăn trong tiêu thụ nhiều loại nông sản ở miền núi có nguyên nhân chủ yếu từ chỗ sản xuất theo khả năng, chưa tính đến hoặc tính chưa đầy đủ yêu cầu của thị trường tiêu thụ, người sản xuất tự phát theo tín hiệu giá cả của thị trường hoặc theo phong trào Vì vậy, cả các cơ quan quản lý nhà nước, ngành và các doanh nghiệp, các nhà sản xuất đều cần nắm vững những khái niệm cơ bản về thị trường hàng hóa nông sản với những đặc trưng riêng của nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất và nhu cầu tiêu dùng cá nhân để quyết định việc lựa chọn và xây dựng chiến lược phát triển, thực thi kế hoạch sản xuất, kinh doanh phù hợp cho từng vùng Điều đó giúp cho nền nông nghiệp ở miền núi sẽ phát triển năng động và bền vững trong cơ chế thị trường nhờ thích ứng và định hướng theo nhu cầu thị trường
Đồng thời, từ khái niệm cũng có thể thấy rõ, thị trường chỉ có thể phát triển trên cơ sở phân công lao động xã hội và sản xuất hàng hóa, quy mô của thị trường gắn chặt với trình độ chuyên môn hóa của lao động xã hội, vì vậy để phát triển thị trường hàng hóa ở miền núi, cần trú trọng nâng cao trình độ chuyên môn hóa ở từng vùng, đảm bảo nâng cao năng suất và chất lượng, giảm chi phí trong cả dây chuyền tạo giá trị gia tăng của từng ngành sản phẩm Điều này phụ thuộc rất lớn vào không chỉ nhận thức của người sản xuất, kinh doanh để họ chủ động tham gia vào quá trình chuyên môn hóa, mà còn phụ thuộc vào việc xây dựng và thực hiện các chiến lược phát triển cho từng ngành và các chính sách của nhà nước để thúc đẩy nhanh quá trình này
Trang 15Thị trường được hiểu là tổng hợp các điều kiện thực hiện sản phẩm xã hội trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa và phân công lao động xã hội, vì vậy để phát triển thị trường hàng hóa nông sản ở miền núi, cũng cần phải đầu tư phát triển đồng
bộ các thị trường hàng hóa và dịch vụ khác, như thị trường nguyên liệu đầu vào, công nghệ, tài chính, lao động, dịch vụ phát triển kinh doanh (thông tin thị trường, nghiên cứu thị trường, tư vấn, bán buôn bán lẻ, vận chuyển, bao bì và bao gói, kho
dự trữ và bảo quản…) Hỗ trợ cho thị trường hàng nông sản miền núi phát triển không thể xem nhẹ việc hỗ trợ tạo lập và phát triển các loại thị trường như trên
Do vậy, có thể thấy để phát triển thị trường tiêu thụ hàng nông sản cho miền núi một cách bền vững, cần phải quan tâm đồng bộ đến khía cạnh phát triển của cung, cầu và môi trường kinh tế với những điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất, mua bán hàng hóa
1.1.4 Mục tiêu, nội dung, công cụ của chính sách thương mại
* Mục tiêu chính sách thương mại
Mục tiêu tổng quát của chính sách thương mại là phát triển thị trường trong nước gắn với mở rộng thị trường quốc tế, cuối cùng để thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn
Mục tiêu cụ thể của chính sách thương mại bao gồm:
- Phát triển hoạt động thương mại tương xứng với yêu cầu sản xuất và tiêu dùng, mở rộng giao lưu quốc tế, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế;
- Phát triển thị trường ngày càng văn minh, hiện đại, giảm dần các tiêu cực của cơ chế thị trường;
- Bảo vệ lợi ích của các chủ thể tham gia thị trường bao gồm người sản xuất, người buôn bán, người tiêu dùng, nhà nước, cộng đồng;
- Tăng quy mô và hiệu quả của hoạt động xuất nhập khẩu, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại
Trong nền kinh tế thị trường, chính sách thương mại thường được coi là phương cách, đường lối hoặc tiến trình dẫn dắt hành động trong khi phân bổ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp và nền kinh tế quốc dân Nó được coi như là phương tiện để đạt được các mục tiêu Chính sách bao gồm: Những hướng dẫn, các quy tắc, quy định và thủ tục được thiết lập để hậu thuẫn cho các nỗ lực hành động
Như vậy, chính sách thương mại là một hệ thống các quy định, công cụ và biện pháp thích hợp mà Nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt động thương mại trong và ngoài nước ở những thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đã đề
ra trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Chính sách thương mại quy định các vấn đề thương nhân và hoạt động của thương nhân, chính sách phát triển thương mại trong nước và quốc tế, chức trách
Trang 16của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực thương mại, tổ chức lưu thông hàng hóa, phát triển thương mại ở các vùng khó khăn, chính sách thuế quan và bảo
hộ, chính sách phi thuế quan, trách nhiệm và quyền hạn của các doanh nghiệp thương mại khi kinh doanh thương mại trong nước hay với nước ngoài, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thương mại
Chính sách thương mại là một bộ phận của chính sách kinh tế-xã hội của Nhà nước, nó có quan hệ chặt chẽ và phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nó tác động mạnh mẽ đến quá trình tái sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của đất nước, đến quy mô và phương thức tham gia của nền kinh tế mỗi nước vào phân công lao động quốc tế và thương mại quốc tế Chính sách thương mại còn
có vai trò to lớn trong việc khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nước, phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ đến quy mô tối ưu…Vì vậy, chính sách thương mại có một vị trí đặc biệt quan trọng trong các chính sách của Nhà nước Vai trò chính sách thương mại còn thể hiện cụ thể trên các mặt sau:
Chính sách thương mại có tác động rất lớn đến việc mở rộng giao lưu hàng hóa trong nước và xuất khẩu, mà tăng trưởng trong thương mại, nhất là thương mại quốc tế là một động lực phát triển kinh tế quan trọng
Chính sách thương mại tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các ngành công nghiệp sản xuất hàng thay thế nhập khẩu cho thị trường trong nước cạnh tranh với hàng nhập, bắt buộc các doanh nghiệp trong nước phải giảm phí, tăng năng suất và nâng cao chất lượng sản phẩm và có sức cạnh tranh tốt hơn
Chính sách thương mại được coi là một trong các yếu tố cấu thành của một chiến lược tổng hợp, nhằm khuyến khích xuất khẩu và phát triển công nghiệp Cùng với các chính sách khác có liên quan, chính sách thương mại tác động đồng
bộ đến việc tạo lập môi trường vĩ mô ổn định, cơ sở hạ tầng tốt, lực lượng lao động
có học vấn và được đào tạo ở trình độ cao, hệ thống tài chính nhạy bén; Chính sách thương mại khuyến khích việc tiếp nhận công nghệ mới và thúc đẩy cạnh tranh
Như vậy, nhiệm vụ của chính sách thương mại có thể thay đổi qua mỗi thời
kỳ, nhưng đều có mục tiêu chung là điều chỉnh các hoạt động thương mại theo hướng phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Mục tiêu chính của chính sách thương mại xuất phát từ mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và nhà nước và bảo đảm thực hiện thắng lợi các mục tiêu ấy
* Nội dung chính sách thương mại ở Việt Nam
- Chính sách thương nhân
Đây là chính sách rất quan trọng của nhà nước trong lĩnh vực thương mại Chính sách này quy định các điều kiện, thủ tục đăng ký kinh doanh và phạm vi hoạt động của thương nhân
Trang 17Chính sách thương nhân quy định việc đăng ký kinh doanh được thực hiện tại các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Theo quy định của Chính phủ, cơ quan đăng ký kinh doanh được tổ chức ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) và huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), bao gồm: phòng đăng ký kinh doanh trong sở kế hoạch và đầu tư và phòng đăng ký kinh doanh thuộc ủy ban nhân dân huyện có con dấu riêng Trình tự thành lập và đăng ký kinh doanh được quy định
cụ thể cho từng loại hình doanh nghiệp thương mại Thẩm quyền của cơ quan đăng
ký kinh doanh được xác định cụ thể là:
Giải quyết việc đăng ký kinh doanh và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
Xây dựng, quản lý hệ thống thông tin về doanh nghiệp Cung cấp thông tin cho các cơ quan nhà nước, cho tổ chức và cá nhân có yêu cầu theo quy định của pháp luật
Yêu cầu doanh nghiệp báo cáo tình hình kinh doanh của mình khi xét thấy cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật Đôn đốc các doanh nghiệp thực hiện chế độ báo cáo
Trực tiếp kiểm tra hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra doanh nghiệp theo những nội dung trong hồ sơ đăng ký kinh doanh
Xử lý vi phạm các quy định về đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Thu hồi giấy phép đăng ký kinh doanh và yêu cầu doanh nghiệp giải thể theo quy định
Chính sách thương nhân quy định rõ quyền hạn và nghĩa vụ của thương nhân Với mỗi loại hình doanh nghiệp thương mại như doanh nghiệp thương mại nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn đều được quy định quyền
và nghĩa vụ cụ thể Quyền cơ bản của các doanh nghiệp là tự do lựa chọn lĩnh vực
và ngành hàng kinh doanh, tự do tổ chức hoạt động kinh doanh, quản lý và sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực, tuyển chọn và thuê mướn lao động, quyết định việc sử dụng phần thu nhập còn lại sau khi hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước trong khuôn khổ quy định của pháp luật
Các doanh nghiệp có nghĩa vụ kinh doanh đúng pháp luật; bảo đảm quyền lợi của người lao động; chấp hành các quy định của Nhà nước; có trách nhiệm bảo
vệ môi trường, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội nơi doanh nghiệp hoạt động; thành lập quỹ dự trữ theo quy định của Nhà nước; thực hiện đầy đủ và trung thực chế độ kế toán thống kê theo pháp lệnh kế toán thống kê của nhà nước Chính sách thương nhân còn quy định những lĩnh vực và ngành hàng thương nhân không được kinh doanh
Trang 18Đối với thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam phải theo đúng pháp luật của Việt Nam đã quy định Thương nhân nước ngoài có đủ điều kiện theo quy định pháp luật Việt Nam được phép đặt văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt Nam Tổ chức và hoạt động của văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam được quy định tại Luật Thương mại năm
2005 và các văn bản pháp luật của Chính phủ và Bộ Công Thương
- Chính sách thị trường
Chính sách thị trường có tầm quan trọng đặc biệt cho sự phát triển của nền kinh tế và dẫn dắt các doanh nghiệp hoạt động, hạn chế các rủi ro Chính sách thị trường của Nhà nước đặt ra những nhiệm vụ ở cấp Chính Phủ, cấp Bộ nhằm khai thông những cản trở trên thị trường
Đối với thị trường trong nước phải bảo đảm tập trung nguồn lực để thúc đẩy sản xuất hàng hóa, quy hoạch và cơ cấu lại để có những vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa lớn; bảo đảm hệ thống lưu thông hàng hóa thông suốt giữa các vùng, các địa phương Chính sách thị trường trong nước phải bảo đảm cho sản xuất lưu thông
và tiêu dùng hàng hóa cân đối, tránh những khủng hoảng, bất ổn trên thị trường
Chính sách thị trường trong nước còn phải thúc đẩy để hình thành đồng bộ các loại thị trường, thực hiện chính sách nhất quán, ổn định để các chủ thể kinh doanh chủ động với các tình thế trên thị trường Xây dựng thị trường thống nhất trong phạm vi toàn quốc với nhiều cấp độ thị trường và chủ chương phát triển các thị trường trọng điểm quốc gia, vùng lãnh thổ
Chính sách thị trường ngoài nước hướng vào mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu Trong những thập niên đầu thế kỉ XXI vẫn phải chú trọng phát triển các thị trường truyền thống như thị trường Hoa Kỳ, thị trường Châu
Á Thái Bình Dương, thị trường EU, thị trường Nga Đồng thời tiếp cận và phát triển các thị trường mới và nhiều tiềm năng như thị trường Trung cận Đông, Châu Phi và Mỹ La tinh, Tăng cường chính sách khuyến khích động viên tìm kiếm thị trường xuất khẩu, đối tác nước ngoài của các doanh nghiệp
Một nội dung quan trọng của chính sách thị trường là hoạt động nghiên cứu thị trường và công tác thông tin về thị trường Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo thị trường trong nước và thị trường quốc tế của các cơ quan quản lý bảo đảm kênh thông tin thường xuyên, thông suốt, nhiều chiều giữa các bộ, ngành với các doanh nghiệp, công bố rộng rãi các thông tin dự báo dài hạn về thị trường trong nước và quốc tế Kết hợp chặt chẽ mạng lưới thu nhập thông tin chuyên ngành và đa ngành, mạng thông tin trong nước và mạng thông tin ngoài nước Đặc biệt, nâng cao trách nhiệm của các tham tán, tùy viên thương mại ở nước ngoài trong việc cung cấp thông tin, tìm kiếm thị trường
- Chính sách mặt hàng
Trang 19Chính sách mặt hàng là nền tảng của chính sách thương mại Trên cơ sở chính sách mặt hàng để xác định đầu tư và cơ cấu lại sản xuất hàng hóa hợp lý Chính sách mặt hàng quốc gia còn giúp các doanh nghiệp định hướng chiến lược sản phẩm của mình Chính sách mặt hàng gồm một số nội dung chủ yếu sau đây:
Trước hết là chính sách mặt hàng cấp quốc gia Đây là những mặt hàng quan trọng đưa vào cân đối của nhà nước và do nhà nước quản lý tập trung Danh mục mặt hàng này bao gồm tư liệu sản xuất và mặt hàng tiêu dùng có ý nghĩa quyết định đến an ninh quốc gia, những mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn của đất nước, các mặt hàng cạnh tranh cấp quốc gia Các vùng, các địa phương, các bộ ngành cùng xây dựng chính sách mặt hàng của cấp mình Chính sách mặt hàng bao gồm nhiều tầng, vừa bảo đảm tính đa dạng, phong phú về chủng loại, vừa có mũi nhọn, chiều sâu ở cấp quốc gia, cũng như các cấp, các đơn vị của nền kinh tế quốc dân Chính sách mặt hàng quốc gia phải bảo đảm được cơ cấu mặt hàng hợp lý Cơ cấu mặt hàng phải phù hợp với nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu Cơ cấu mặt hàng là quan
hệ tỷ lệ giữa các mặt hàng, nhóm hàng so với tổng số Mặt hàng đi vào lưu thông phải có chất lượng, mặt hàng qua chế biến phải chiếm tỷ trọng ngày càng cao
Nội dung chủ yếu thứ hai của chính sách mặt hàng là chính sách thay thế mặt hàng nhập khẩu Đây là những mặt hàng mà sản xuất trong nước đã đáp ứng được yêu cầu về số lượng, chất lượng và đủ sức cạnh tranh Những mặt hàng này dựa trên lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, lao động và công nghệ sản xuất tiên tiến Đây cũng là những mặt hàng chiếm ưu thế trong cạnh tranh với hàng nhập khẩu trên thị trường trong nước Nhà nước có chính sách hợp lý để phát triển các mặt hàng thay thế nhập khẩu và tiến tới xuất khẩu
Chính sách mặt hàng còn quy định các mặt hàng lưu thông có điều kiện và mặt hàng cấm lưu thông trên thị trường trong nước, cấm xuất khẩu, nhập khẩu Danh mục mặt hàng này do Chính phủ quy định Đây là những mặt hàng có ảnh hưởng lớn đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Các mặt hàng bị cấm buôn bán theo quy định của công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia…
- Chính sách đầu tư phát triển thương mại
Phát triển thị trường và thương mại từ nay đến năm 2015 và những năm tiếp theo, cần có chính sách và giải pháp phát triển vốn đầu tư cho thương mại thích hợp
ở cả tầm vĩ mô và vi mô Một mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp kinh doanh thương mại nâng cao khả năng cạnh tranh, mặt khác, bảo đảm nguồn vốn cho đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật thương mại, tạo điều kiện mở rộng giao lưu hàng hóa và phát triển thị trường
Đầu tư cho thương mại có thể từ nhiều nguồn: nguồn vốn ngân sách, vốn đầu
tư nước ngoài, vốn vay của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, vốn huy động của các doanh nghiệp và tư nhân Vì vậy, cần có chính sách và giải pháp thu hút, sử
Trang 20dụng vốn thích hợp với từng nguồn vốn trong quá trình tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển thương mại ở Việt Nam Tập trung thúc đẩy nhanh quá trình phát triển thị trường vốn dài hạn, trung hạn và ngắn hạn, thị trường chứng khoán, hoàn thiện cơ chế tín dụng, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thương mại thuộc mọi thành phần kinh tế đều tự do tham gia vào vòng luân chuyển vốn của xã hội và huy động mọi tiềm năng về vốn trên thị trường theo quy định của pháp luật
Đối với các công trình và các dịch vụ hỗ trợ thương mại cần đầu tư vốn với quy mô lớn như các trung tâm đầu mối giao dịch thương mại, trung tâm thương mại nhập khẩu và phân phối hàng nhập khẩu, hệ thống tổng kho ở các vùng sản xuất tập trung hoặc bến cảng, các trung tâm giới thiệu và bán hàng Việt Nam; hoặc các công trình ở các vùng khó khăn như đầu tư xây dựng chợ đầu nguồn ở các vùng nông thôn, ở các trung tâm cụm xã miền núi; các cửa hàng của thương mại nhà nước và hợp tác xã thương mại ở vùng cao, hải đảo, vùng sâu và vùng xa…cần được xem như các cơ sở hạ tầng cho hoạt động thương mại của xã hội
Những năm gần đây, đầu tư cho thương mại thiếu sự tập trung Vốn của doanh nghiệp thương mại bình quân thấp Do đó, đi đôi với tổ chức lại doanh nghiệp thương mại nhà nước phải tập trung đầu tư vốn để hình thành các doanh nghiệp thương mại nhà nước có quy mô lớn đủ sức cạnh tranh cả trên thị trường trong và ngoài nước, tăng cường năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp thương mại
Cần áp dụng tổng hợp các chính sách và giải pháp tạo vốn, sử dụng vốn, tăng cường khả năng tài chính cho doanh nghiệp thương mại; tạo điều kiện tái đầu tư phát triển kinh doanh; tăng cường phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động thương mại có hiệu quả cũng là nhằm mục tiêu thúc đẩy sự hình thành và phát triển các thị trường hàng hóa, tăng trưởng nhanh nền kinh tế đất nước
- Công cụ chủ yếu của chính sách thương mại
Thuế quan: là thuế đánh vào hàng hóa khi di chuyển qua biên giới giữa hai nước Nếu nhập khẩu phải chịu thuế thì được gọi là thuế nhập khẩu, khi xuất khẩu hàng hóa phải chịu thuế thì được gọi là thuế xuất khẩu Ngoài ra, hàng quá cảnh phải chịu thuế quá cảnh Mục đích của thuế quan có thể rất khác nhau; tăng thu ngân sách nhà nước, bảo hộ thị trường nội địa, điều tiết cung cầu, giá cả trên thị
Trang 21trường nội địa… Hiện nay, trong xu thế tự do hóa thương mại, công cụ thuế quan được ưu tiên sử dụng nhưng thuế ngày càng giảm để khuyến khích xuất nhập khẩu
+ Các công cụ không mang tính chất thuế quan (phi thuế quan)
Hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu: là mức hạn chế về số lượng hay giá trị xuất, nhập khẩu cao nhất của một loại hàng hóa nào đó do Chính phủ đặt ra trong một thời kỳ nhất định Tác động của hạn ngạch là nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, điều tiết cung cầu, trên thị trường nội đia nhưng người được hưởng lợi nhiều nhất là các nhà xuất, nhập khẩu được cấp giấy phép chứ không phải là nhà nước Ngoài ra, hạn ngạch còn gây ra nhiều tiêu cực như đặc quyền, hối lộ, tự do tăng giá… Tuy nhiên, hạn ngạch xuất, nhập khẩu cũng có tác dụng nhất định khi công
cụ thuế quan tỏ ra kém hiệu lực, khi cần bảo vệ tài nguyên, môi trường và bản sắc văn hóa dân tộc…
Trong xu thế tự do hóa thương mại, công cụ hạn ngạch xuất, nhập khẩu ngày càng bị hạn chế
Trợ cấp xuất khẩu: là khoản chi trả của Chính phủ cho công ty hay cá nhân xuất khẩu hàng ra nước ngoài, có thể theo khối lượng, hay theo giá trị xuất khẩu Mục đích của trợ cấp xuất khẩu là tăng sức cạnh tranh cho hàng xuất khẩu, giải quyết hàng loạt
ứ đọng vượt quá khả năng dự trữ của quốc gia, hỗ trợ cho nhà sản xuất khỏi bị phá sản khi giá thế giới xuống quá thấp …Trợ cấp xuất khẩu có thể có nhiều hình thức: trực tiếp hoặc gián tiếp Ngày nay, trợ cấp gián tiếp thường được sử dụng phổ biến hơn Tuy nhiên, trợ cấp xuất khẩu cũng gây ra những tác động tiêu cực: Chính phủ mất một khoản chi phí cho trợ cấp, xã hội chịu tổn thất do giá cả nội địa bị nâng lên Ngoài ra, trợ cấp xuất khẩu còn có thể bị coi là phá giá gây ra mâu thuẫn về kinh tế và chính trị giữa các quốc gia cùng xuất khẩu một loại hàng hóa
Ngoài hai công cụ chính trên đây, các công cụ phi thuế quan còn có một số công cụ khác như tự nguyện hạn chế xuất khẩu, ký quỹ nhập khẩu, trợ cấp tín dụng xuất khẩu, mua sắm của Chính phủ, những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, về vệ sinh an toàn, về môi trường sinh thái, các quy định về thủ tục hải quan… nhằm hạn chế hay khuyến khích xuất nhập khẩu
+ Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là giá của một đơn vị tiền tệ nước này tính theo đồng tiền của nước khác Tỷ giá hối đoái tác động mạnh tới cán cân thanh toán quốc tế do nó có tác động trực tiếp đến xuất, nhập khẩu và đến đầu tư của một quốc gia Trong hoạt động xuất, nhập khẩu, tỷ giá hối đoái tác động trực tiếp tới sức cạnh tranh của hàng hóa Khi tỷ giá tăng sẽ khuyến khích xuất khẩu, tỷ giá giảm sẽ khuyến khích nhập khẩu Do đó, nhà nước có thể phá giá đồng nội tệ để khuyến khích xuất khẩu Tuy nhiên, sử dụng công cụ tỷ giá để điều tiết xuất, nhập khẩu có thể gây tác động tiêu
Trang 22cực tới những cân đối vĩ mô khác của nền kinh tế nên chính phủ phải rất thận trọng khi sử dụng
1.1.5 Chức năng, nhiệm vụ của thương mại
- Chức năng của thương mại
Thương mại được tổ chức thành một ngành kinh tế có những chức năng cơ bản sau đây:
+ Quá trình lưu thông hàng hóa, dịch vụ trong nước và với nước ngoài Với chức năng này, ngành thương mại phải nghiên cứu và nắm vững nhu cầu thị trường hàng hóa, dịch vụ; huy động và sử dụng hợp lý các nguồn hàng nhằm thỏa mãn tốt mọi nhu cầu của xã hội; thiết lập hợp lý các mối quan hệ kinh tế trong nền kinh tế quốc dân và thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ trong quá trình kinh doanh Để thực hiện chức năng này, ngành thương mại phải có đội ngũ lao động chuyên nghiệp, có hệ thống quản lý kinh doanh và có tài sản cố định và tài sản lưu động riêng
+ Thông qua quá trình lưu thông hàng hóa, Chức năng của thương mại thực hiện tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông Thực hiện chức năng này, Chức năng và nhiệm vụ của thương mại phải tổ chức công tác vận chuyển hàng hóa, tiếp nhận, bảo quản, phân loại, đóng gói và ghép đồng bộ hàng hóa…
+ Thông qua hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa trong và ngoài nước cũng như thực hiện các dịch vụ, Chức năng của thương mại gắn sản xuất với thị trường
và gắn nền kinh tế nước ta với nền kinh tế thế giới, thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế
+ Chức năng thực hiện giá trị hàng hóa, dịch vụ, qua đó Chức năng của thương mại đáp ứng tốt mọi nhu cầu của sản xuất và đời sống, nâng cao mức hưởng thụ của người tiêu dùng Chuyển hóa hình thái giá trị của hàng hóa là chức năng quan trọng của thương mại Thực hiện chức năng này, thương mại tích cực phục vụ
và thúc đẩy sản xuất phát triển, bảo đảm lưu thông thông suốt, là thực hiện mục tiêu của quá trình kinh doanh thương mại dịch vụ
- Nhiệm vụ chủ yếu của thương mại
+ Nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh thương mại dịch vụ, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
+ Phát triển thương mại dịch vụ, bảo đảm lưu thông hàng hóa thông suốt, dễ dàng trong cả nước, đáp ứng tốt nhất mọi nhu cầu của đời sống
+ Góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội quan trọng của đất nước: vốn, việc làm, công nghệ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế quốc dân nói chung và lĩnh vực thương mại dịch vụ nói riêng
+ Chống trốn thuế, lậu thuế, lưu thông hàng giả, hàng kém phẩm chất, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với nhà nước, xã hội và người lao động
Trang 23+ Đảm bảo sự thống nhất giữa kinh tế và chính trị trong hoạt động thương mại-dịch vụ, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại quốc tế
1.1.6 Đặc điểm cơ bản của thương mại trong nền kinh tế thị trường ở nước ta
Thương mại là một lĩnh vực hoạt động kinh tế, trong đó các chủ thể thực hiện việc mua bán, trao đổi hàng hóa bằng các phương thức khác nhau Thương mại ra đời cùng với nền kinh tế hàng hóa và ngày càng phát triển Cho đến nay, thương mại là một ngành kinh tế phát triển ở trình độ cao với quy mô rộng lớn trong nền kinh tế quốc dân của các nước, chiếm tỷ trọng đáng kể trong cấu thành khu vực dịch vụ
Thương mại tuy không phải là một ngành sản xuất vật chất độc lập, nhưng lại có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với sản xuất, góp phần thúc đẩy sản xuất
và quá trình chuyên môn hóa, giải quyết vấn đề kinh tế - xã hội của đất nước
Thương mại trong điều kiện hiện nay chịu ảnh hưởng của xu hướng toàn cầu hóa kinh tế và phát triển nền kinh tế tri thức Nó không chỉ đóng vai trò cung cấp đầu vào và giải quyết đầu ra cho sản xuất, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về hàng hóa của toàn xã hội mà còn đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc góp phần khai thác tiềm năng và lợi thế so với từng vùng, từng địa phương, từng quốc gia; phân bổ nguồn lực một cách hợp lý và có hiệu quả; thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới Chính vì thế, hoạt động thương mại ngày càng không hạn chế ở việc buôn bán các hàng hóa vật thể truyền thống mà còn mở rộng sang các lĩnh vực mới như cả thương mại dịch vụ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ… Ở nhiều nước phát triển, thương mại thường được hiểu rộng đến mức nhiều khi rất khó phân biệt gianh giới hoạt động thương mại với các hoạt động khác
Ở nước ta, Điều 5 Luật thương mại ban hành năm 1997 qui định: “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội”, trong đó thương mại được hiểu là tất cả các cá nhân, pháp nhân,
hộ gia đình có đăng ký kinh doanh hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên
Thương mại hàng hóa, dịch vụ phát triển dựa trên cơ sở nền kinh tế nhiều thành phần (thương mại nhiều thành phần) Cơ sở khách quan của sự tồn tại nhiều thành phần đó là do còn nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất Đại hội Đảng IX đã khẳng định tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN, tạo mọi điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp
và công dân đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh; tập trung sửa đổi bổ sung cơ
Trang 24chế, chính sách, pháp luật, đổi mới công tác chỉ đạo thực hiện để đảm bảo các thành phần kinh tế đều được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác cạnh tranh lành mạnh…đó là kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và tiểu chủ, kinh
tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Nền kinh tế nhiều thành phần trong sự vận động của cơ chế thị trường ở nước ta là nguồn lực tổng hợp to lớn để phát triển nền kinh tế đưa thương mại phát triển trong điều kiện hội nhập
Ta thấy rằng, hoạt động thương mại trong giai đoạn hiện nay có vai trò to lớn, có nội dung và phạm vi rộng lớn, có sự liên kết và đan xen giữa nhiều lĩnh vực, nhiều lực lượng, giữa thương mại trong nước và thương mại quốc tế và đang có tác động sâu sắc tới mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của các quốc gia trên toàn thế giới
1.1.7 Vai trò, chính sách của thương mại
- Vai trò của thương mại:
Là một ngành của nền kinh tế quốc dân, thương mại có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường ở nước ta Xác định rõ vai trò của thương mại cho phép tác động đúng hướng và tạo được những điều kiện cho thương mại phát triển Vai trò của thương mại được biểu hiện như sau:
Phát triển thương mại là điều kiện để thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển Thông qua hoạt động thương mại trên thị trường, các chủ thể kinh doanh mua bán được các hàng hóa, dịch vụ Điều đó bảo đảm cho quá trình tái sản xuất được tiến hành bình thường, lưu thông hàng hóa dịch vụ thông suốt Vì vậy, không có hoạt động thương mại phát triển thì sản xuất hàng hóa không thể phát triển
Thông qua việc mua bán hàng hóa dịch vụ trên thị trường, thương mại có vai trò quan trọng trong việc mở rộng khả năng tiêu dùng, nâng cao mức hưởng thụ của các cá nhân và doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy sản xuất và mở rộng phân công lao động xã hội, thực hiện cách mạng khoa học công nghệ trong các ngành của nền kinh tế quốc dân
Trong xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế diễn ra mạnh mẽ, thị trường trong nước có mối liên hệ chặt chẽ với thị trường ngoài nước thông qua hoạt động thương
mại Sự phát triển mạnh mẽ của ngoại thương sẽ bảo đảm mở rộng thị trường các
yếu tố đầu vào, đầu ra của thị trường trong nước và bảo đảm sự cân bằng giữa hai thị trường đó Vì vậy, thương mại có vai trò là cầu nối gắn kết nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, thực hiện chính sách mở cửa
Thương mại tăng cường mối liên kết kinh tế trong nước và quốc tế, giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng trong cả nước Trong xu thế toàn cầu hóa, mở cửa
và hội nhập là một tất yếu, thì việc phát triển ngoại thương nhằm phát huy những lợi thế so sánh của Việt Nam là vấn đề rất quan trọng và cấp bách Do vậy, hoạt
Trang 25động của thương mại là phải hướng về xuất khẩu những mặt hàng cạnh tranh, tìm kiếm và mở rộng thị trường quốc tế Xuất nhập khẩu phát triển sẽ thúc đẩy, mở rộng, khai thác các nguồn lực của đất nước, tạo nhiều việc làm, thu nhập ổn định,
từ đó đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng nền kinh tế Hiệu quả hoạt động ngoại thương của một quốc gia được đánh giá qua “cán cân thanh toán xuất nhập khẩu”, hiệu quả này có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng hay giảm thu nhập của quốc gia đó
Khi nói đến thương mại là nói đến sự cạnh tranh giữa các chủ thế kinh doanh trên thị trường trong mua bán hàng hóa, dịch vụ Quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh là quan hệ bình đẳng, thuận mua vừa bán Nói cách khác là các quan hệ đó được tiền tệ hóa Vì vậy, trong hoạt động thương mại đòi hỏi các doanh nghiệp tính năng động sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy cải tiến, phát huy sáng kiến để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường Điều
đó góp phần đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng, giúp các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt hiện nay
Thương mại tổ chức mua, bán và các dịch vụ sau khi mua và bán hàng hóa ở thị trường nội địa và quốc tế Thương mại góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế, trong đó đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu nhằm khai thác có hiệu quả lợi thế của đất nước trên cơ sở phân công lao động quốc tế để năng cao năng suất lao động, đa dạng hóa sản phẩm, mẫu mã, bao bì, chất lượng hàng hóa, hạ giá thành… Thương mại là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, gắn sản xuất với thị trường, giữa thị trường trong nước với thị trường quốc tế Mua và bán những sản phẩm từ sản xuất, vừa là điều kiện bắt buộc, vừa là kết quả của sản xuất hàng hóa Thương mại càng phát triển sẽ thúc đẩy sản xuất càng mở rộng, thương mại tạo điệu kiện cho sản xuất sử dụng có hiệu quả lợi thế và tiềm năng của từng địa phương, từng quốc gia C.Mác quan niệm rằng: khi thị trường, nghĩa là lĩnh vực trao đổi mở rộng
ra, thì quy mô sản xuất cũng sẽ tăng lên, sự phân công trong sản xuất cũng trở nên sâu sắc hơn
Nước ta là một nước nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp rất cần máy móc, phân bón, thuốc trừ sâu của công nghiệp và ngược lại, công nghiệp phát triển rất cần nguyên liệu, lương thực do nông nghiệp sản xuất ra Như vậy, thương mại có chức năng vô cùng quan trọng là cầu nối thúc đẩy sản xuất phát triển, đồng thời phục vụ sản xuất Ở đây, thương mại không chỉ bán tư liệu, nguyên liệu sản xuất, mà còn làm nhiệm vụ môi giới để tiêu thụ sản phẩm của những người sản xuất hàng hóa, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa, đáp ứng yêu cầu của thị trường
Thương mại, ngoài vai trò phục vụ và thúc đẩy sản xuất phát triển, còn hướng dẫn sản xuất làm cho sản xuất ngày càng đa dạng, phù hợp với nhu cầu và thị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng Thương mại (nội thương) tìm hiểu nhu
Trang 26cầu, tiếp cận thị trường (marketing) nhằm biến các quỹ tiền tệ của dân cư thành quỹ hàng hóa, đó là vật phẩm tiêu dùng hàng ngày và vật phẩm sử dụng dài ngày
Thương mại càng phát triển thì làm cho sản xuất càng hướng vào người tiêu dùng hơn, tức là sản xuất để bán, do đó thương mại góp phần nâng cao mức tiêu dùng và kích thích tiêu dùng, nước ta, gần 80% dân cư sống ở nông thôn nên thị trường nông thôn có một vị trí hết sức quan trọng Ngành thương mại cần phải có chính sách, công cụ và biện pháp nắm bắt và sử dụng thị trường này một cách hợp lý; cần phải nắm nguồn hàng, mặt hàng đa dạng, chất lượng tốt để cung cấp cho nông dân, thông qua hoạt động kinh doanh của ngành mà mọi người dân đều có thể mua sắm những hàng hóa có chất lượng, giá cả hợp lý so với thu nhập của họ
Nước ta, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì thương mại nhà nước, ngoài chức năng kinh doanh, còn có chức năng phục vụ, trong đó cần phải lưu ý đến nhiệm vụ của các cán bộ và nhân viên của hệ thống doanh nghiệp thương mại nhà nước Bác Hồ đã từng nói: “Cán bộ thương nghiệp cần phải nâng cao hơn nữa tinh thần phục vụ nhân dân, phục vụ sản xuất Mua những thứ để khuyến khích đồng bào bán, bán những thứ đồng bào mua Giá
cả cần đúng mức, thái độ cần khiêm tốn” Ngành thương nghiệp phải mua bán công bằng, chớ nên chèn cấp ép giá…Thông thường người mua muốn mua rẻ, người bán muốn bán đắt Đối với chúng ta, không thể làm thế được Giá cả phải đảm bảo cho Nhà nước, hợp tác xã và xã viên cùng có lợi để xây dựng nước nhà Thương mại còn góp phần ổn định sức mua của đồng tiền Việt Nam bằng nguồn hàng và giá cả, tăng nhanh tốc độ chuyển tiền tệ Thương mại còn thực hiện những chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trong hoạt động phục vụ sản xuất, nâng cao đời sống và phát triển kinh tế
Thương mại thực hiện chức năng giá trị hàng hóa, dịch vụ, chuyển giá trị hàng hóa thành giá trị sử dụng và tiêu dùng Mua hàng, bán hàng nhằm thu lợi nhuận nhiều hơn, đó là mục tiêu của thương mại Vận động của tư bản thương mại
là T - H - T, nên lợi nhuận của thương nhân có được là do thực hiện hai hành vi mua và bán
Thông qua hoạt động mua và bán trên thị trường, thương mại góp phần làm cho hàng hóa phát triển, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, thúc đẩy phân công lao động xã hội, hình thành các vùng, các trung tâm sản xuất, kinh doanh và dịch vụ Thương mại góp phần mở rộng quan hệ kinh tế thông qua xuất nhập khẩu phát huy được lợi thế so sánh, tận dụng những ưu thế của thời đại, khắc phục những trở ngại
và khiếm khuyết trong hoạt động sản xuất kinh doanh
- Vai trò chính sách thương mại:
Để thực hiện vai trò và chức năng quản lý đối với hoạt động thương mại, nhà nước sử dụng một hệ thống các công cụ quản lý, trong đó chính sách thương mại là
Trang 27một công cụ chủ yếu để nhà nước định hướng, hướng dẫn hoạt động thương mại của các thương nhân thuộc các thành phần kinh tế nhằm phát triển thương mại trong nước và thương mại quốc tế một cách linh hoạt, có hiệu quả, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Chính sách thương mại là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô, có vai trò hết sức quan trọng, thể hiện nội dung chủ yếu sau đây:
+ Chính sách thương mại góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả Chính sách thương mại tích cực là một tác nhân gắn sản xuất với thị trường trong nước và thế giới, dẫn dắt sản xuất đi theo tín hiệu của thị trường, từ đó thúc đẩy phân bố và sử dụng nguồn lực một cách hợp lý, hình thành cơ cấu kinh tế
có hiệu quả
+ Chính sách thương mại là nhân tố quan trọng trong việc khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phương và của cả nước để phát triển sản xuất, mở rộng thị trường trong nước và tham gia thị trường thế giới, phục
vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
+ Chính sách thương mại là công cụ hữu hiệu để nhà nước thực hiện cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, tăng cường thu hút vốn đầu tư để phát triển kinh tế
+ Chính sách thương mại phù hợp sẽ có tác dụng khuyến kích các doanh nghiệp đầu tư tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước, đồng thời bảo hộ cho một số sản phẩm sản xuất trong nước trước sức cạnh tranh khốc liệt của nước ngoài, tạo điều kiện cho hàng hóa sản xuất trong nước vươn ra thị trường thế giới
+ Chính sách thương mại còn góp phần mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước, nâng cao vị thế nước ta trên thế giới, góp phần vào việc củng cố hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc
1.2 Một số chính sách thương mại cho vùng dân tộc thiểu số miền núi của Đảng và Nhà nước trong thời gian qua
1.2.1 Chính sách thương mại cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi
Ngay sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Đảng và Nhà nước ta
đã sớm quan tâm đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi Với mỗi giai đoạn lịch sử của dân tộc, của đất nước Đảng và Nhà nước ta luôn
đề ra chủ trương, chính sách thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước nhằm sớm đưa miền núi tiến kịp miền xuôi Thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến nay) thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế thế giới Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều Nghị quyết quan trọng, chính sách lớn “mang tính đột phá” cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi tiêu biểu đó là:
Trang 28- Nghị Quyết 22/NQ/TW ngày 27/12/1989 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi
Đây là một Nghị Quyết quan trọng chi phối cơ bản chính sách, tình hình phát triển kinh tế - xã hội tạo nên nét mới trong quốc sách phát triển vùng dân tộc thiểu
số và miền núi so với các chính sách trước đó Để triển khai cụ thể các nội dung Nghị Quyết 22/NQ/TW của Bộ Chính trị, Hội đồng Bộ trưởng (nay là chính phủ)
đã ban hành Quyết định số 72-HĐBT ngày 13/3/1990 về một số chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi Thời kỳ này, nhiều chính sách đã tập trung vào giải quyết các vấn đề xác định quền làm chủ đất đai gắn với môi trường sống của đồng bào các dân tộc thông qua giao đất giao rừng, khắc phục tranh chấp đất đai, định canh, định cư, bảo vệ và phát triển vốn rừng…Mặt khác, từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, thúc đẩy trao đổi hàng hóa giữa các vùng…; điều chỉnh quan hệ sản xuất và cơ chế quản lý, phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế, thông qua các chương trình, dự án Nhà nước Chính sách còn tập trung ưu tiên đầu tư vốn, chuyển giao khoa học, công nghệ, xây dựng kết cấu hạ tầng phù hợp với tình hình và nhu cầu phát triển cụ thể của từng vùng; gắn tăng trưởng kinh tế với an ninh, quốc phòng và giải quyết các vấn đề bức xúc về mặt xã hội của các dân tộc
- Quyết định số 186/2001/QĐ-TTg ngày 06/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội ở 6 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi đồng bào dân tộc
- Quyết định số 138/2000/QĐ-TTg ngày 29/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ về hợp nhất Dự án Định canh định cư Dự án hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn, chương trình xây dựng trung tâm cụm xã miền núi, vùng cao, chương phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa
- Chính phủ ban hành Nghị định số 20/1998/NĐ-CP Ngày 31/3/1998 về phát triển thương mại miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc, trong đó chương III gồm 16 điều (12 đến 27) quy định chính sách trợ giá, trợ cước để bán hang chính sách xã hội, mua sản phẩm ở miến núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc (thay thế Văn bản số 7464/KTTH của Thủ tướng Chính phủ) Nội dung chính sách trợ giá, trợ cước của Nghị định 20/1998/NĐ-CP quy định cụ thể đối tượng thụ hưởng chính sách và cơ chế thực hiện trợ giá, trợ cước vận chuyển đối với muối Iốt, giống cây trồng và trợ cước vận chuyển đối với dầu, thuốc trừ sâu, than mỏ Thực hiện trợ cước vận chuyển để tiêu thụ nông, lâm sản sản xuất ở miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc
Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 20/1998/NĐ-CP, Uỷ ban Dân tộc và Miền núi và các Bộ, Ngành đã ban hành văn bản hướng dẫn các địa phương tổ chức thực hiện chính sách theo chức năng quản lý của ngành
Trang 29- Bộ Thương mại, Ủy ban Dân tộc và Miền núi, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 11/1998/TTLT/BTM-UBDTMN-BKHDT-BTC ngày 31/7/1998 hướng dẫn thực hiện
- Ban Vật giá Chính phủ ban hành Thông tư số 06/1998/TT/BVGCP ngày 22/8/1998 hướng dẫn địa phương nguyên tắc xác định đơn giá trợ cước, xác định mức giá bán lẻ các mặt hàng được trợ giá, trợ cước
- Bộ Y tế ban hành Thông tư số 02/1999/TT-BYT ngày 12/3/1999 hướng dẫn bán thuốc chữa bệnh có trợ cước vận chuyển
- Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 112/1998/TT-BTC ngày 4/8/1998 hướng dẫn thực hiện giảm thuế doanh thu, thuế lợi tức theo Nghị định số 20/1998/NĐ-CP
Căn cứ Thông tư liên tịch số 11/1998/TTLT, thông tư của các Bộ, Ngành và khả năng ngân sách nhà nước, Uỷ ban Dân tộc và Miền núi cùng các Bộ, Ngành liên quan xây dựng kế hoạch, kinh phí trợ giá, trợ cước hằng năm
Có thể nói Nghị định số 20/1998/NĐ-CP ngày 31/3/1998 Về phát triển thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc, là một trong những chính
sách toàn diện, quan trọng tạo tiền đề phát triển thương mại vùng dân tộc thiểu số
và miền núi để từ đó có những bổ sung, hoàn thiện chính sách thương mại trên địa bàn cho đến hôm nay.Nghị định này quy định các chính sách đối với thương nhân hoạt động thương mại tại địa bàn miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc; chính sách cung ứng và tiêu thụ các mặt hàng thiết yếu có ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của đồng bào các dân tộc sinh sống, hoạt động trên địa bàn miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc Ngoài các chính sách quy định tại Nghị định này, thương nhân hoạt động trên địa bàn miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc còn được hưởng các chính sách ưu đãi khác theo quy định của pháp luật có liên quan
Theo Nghị định này, Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để mọi tổ chức, cá nhân, không phân biệt thành phần kinh tế tham gia vào việc phát triển thương mại ở địa bàn miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc Xây dựng mối liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp nhà nước, giữa doanh nghiệp nhà nước với thương nhân thuộc các thành phần kinh tế khác, tạo ra hệ thống các kênh lưu thông hàng hoá thông suốt từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ Đồng thời, khuyến khích xây dựng chợ có cửa hàng mua, bán hàng hoá của thương nghiệp nhà nước hoặc hợp tác xã thương mại dịch vụ tại các cụm xã trên địa bàn miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc gắn với quy hoạch, kế hoạch xây dựng trung tâm cụm xã phù hợp với sự phân bố và mật độ dân cư ở địa bàn để chợ thực sự trở thành trung tâm giao dịch, tiếp xúc, mua bán hàng hoá của nhân dân trong vùng, tạo điều kiện thúc đẩy
Trang 30giao lưu hàng hoá ở từng địa phương miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc và giữa các vùng trong từng khu vực với nhau
Sau 5 năm thực hiện, ngày 03 tháng 01 năm 2002, thủ tướng Chính phủ đã
ban nhành Nghị định số 02/2002/ NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 20/1998/ NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 1998 của Chinh phủ về phát triển thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc Nghị định đã tập trung và
sửa đổi các điều liên quan đến “Thuế thu nhập doanh nhiệp” (điều 9), “lãi suất cho vay” (điều 10) mang tính ưu tiên đối với thương nhân hoạt động trên địa bàn; ưu tiên kinh phí đào tạo bồi dưỡng cán bộ thương mại miền núi ( điều 11); các vấn đề liên quan đến “trợ giá, trợ cước để bán hàng chính sách xã hội, mua, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá sản xuất ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc”, “mặt hàng thiết yếu có trợ giá, trợ cước vận chuyển”, đến phát triển doanh nghiệp, thu mua sản phẩm trên địa bàn
Ngoài hai Nghị định quan trọng và cơ bản trên, Nhà nước còn ban hành nhiều chính sách cụ thể khác song có thể xem đó là hai văn bản chính sách toàn diện và cơ bản nhất để phát triển thương mại miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số từ 1998 đến nay
Năm 2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết dịnh số 92/QĐ-TTg về chính sách tín dụng ưu đãi đối với thương nhân hoạt động các vùng khó khăn Chính sách này được xem là đòn bẩy kích thích sự phát triển và hoạt động thương mại vùng khó khăn lên một bước so với các vùng khác trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi Theo Quyết định 92, đối tượng thương nhân trong vùng khó khăn được vay vốn phải là thương nhân hoạt động thương mại thường xuyên ở vùng khó khăn Mức vốn cho vay đối với thương nhân là cá nhân không thực hiện
mở sổ sách kế toán và nộp thuế khoán theo quy định của cơ quan thuế tối đa là 30 triệu đồng Những thương nhân là cá nhân thực hiện mở sổ sách kế toán và kê khai nộp các loại thuế theo quy định được hưởng mức cho vay tối đa là 100 triệu đồng Thương nhân là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp có mức cho vay tối đa là
500 triệu đồng Thương nhân vùng khó khăn được hưởng mức lãi suất cho vay áp dụng bằng mức lãi suất cho vay đối với hộ gia đình sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn và lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất cho vay Thời hạn cho vay được xác định theo các loại cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhưng tối đa không quá 5 năm Thời hạn gia hạn nợ đối với các khoản vay vốn ngắn hạn tối đa không quá 1 năm Các khoản cho vay trung và dài hạn, thời hạn gia hạn nợ tối đa bằng 1/2 thời hạn cho vay ghi trong hợp đồng tín dụng Để được vay vốn, thương nhân phải được ủy ban nhân dân cấp xã nơi thương nhân hoạt động thương mại xác nhận có thực hiện hoạt động thương mại thường xuyên trên địa bàn Ngoài ra phải
có vốn tự có tham gia tối thiểu bằng 20% tổng nhu cầu vốn vay Bên cạnh đó phải
Trang 31thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay theo quy định, riêng trường hợp thương nhân vay vốn đến 30 triệu đồng không phải thực hiện bảo lãnh tiền vay
Trong chính sách Thương mại, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến phát triển chợ vì chợ là một bộ phận quan trọng trong tổng thể hạ tầng kinh tế - xã hội Bởi vậy, trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch phát triển thương mại của từng địa phương phải bao gồm quy hoạch phát triển chợ Đó là một trong những điểm mới về phát triển và quản lý chợ được quy định trong Nghị định 114/2009/NĐ-CP ngày 23/12/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 02/2003/NĐ-CP ngày 14/1/2003 Ngoài các loại chợ đã được quy định trước đây như chợ đầu mối, chợ kiên cố, chợ bán kiên cố, Nghị định sửa đổi cũng bổ sung thêm một số khái niệm chợ khác như: chợ chuyên doanh, chợ tổng hợp, chợ dân sinh, chợ biên giới, chợ tạm, chợ nông thôn, chợ miền núi, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế (KKT) cửa khẩu và khái niệm doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh, quản lý chợ
Chính phủ tăng vốn đầu tư chợ ở nông thôn, miền núi, hải đảo.Theo Nghị định cũ, chính sách hỗ trợ vốn đầu tư xây dựng từ ngân sách Nhà nước còn bất hợp
lý Cụ thể, mới chỉ dành vốn cho chợ hạng 1 (chỉ chiếm 3% tổng số chợ và chủ yếu tập trung ở trung tâm các thành phố, thị xã lớn, là địa bàn có thể huy động vốn của doanh nghiệp và hộ kinh doanh) Trong khi đó, chợ hạng 2 (chiếm 11%) và chợ hạng 3 (chiếm 86%) ở địa bàn nông thôn, miền núi nơi người dân có nhu cầu cấp bách về chợ nhưng không có vốn đầu tư thì nằm ngoài chính sách hỗ trợ vốn Để khắc phục tình trạng trên, theo quy định mới, Nhà nước sẽ tăng nguồn vốn đầu tư phát triển chợ, đặc biệt là các chợ nông thôn, miền núi, hải đảo Theo đó, nguồn vốn đầu tư phát triển của Nhà nước bao gồm vốn từ ngân sách trung ương, ngân sách địa phương và các nguồn viện trợ không hoàn lại Trong đó, vốn từ ngân sách địa phương hỗ trợ đầu tư xây dựng các chợ đầu mối nông sản, thực phẩm và chợ hạng 2, hạng 3 ở địa bàn nông thôn, miền núi, hải đảo
Vốn từ ngân sách trung ương sẽ hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của chợ đầu mối chuyên doanh hoặc tổng hợp bán buôn hàng nông sản, thực phẩm để tiêu thụ hàng hóa ở các vùng sản xuất tập trung về nông, lâm, thủy sản; chợ trung tâm các huyện thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn Đồng thời, hỗ trợ đầu tư xây dựng chợ biên giới và chợ dân sinh xã của các huyện thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn Mức hỗ trợ cụ thể theo quy mô của từng dự án Ngoài ra, dự án đầu tư chợ của các thành phần kinh tế được hưởng các chính sách ưu đãi đầu tư như đối với các ngành nghề sản xuất, dịch vụ thuộc Danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư quy định tại Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/6/2006; được hưởng chính sách ưu đãi về tín dụng
Trang 32đầu tư theo Nghị định 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 và Nghị định 106/2008/NĐ-CP ngày 19/9/2008 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định 151
Nghị Quyết số 24-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc Đây là Nghị quyết quan trọng chuyên đề về công tác dân tộc của Trung ương Đảng trong thời kỳ đổi mới Nghị quyết đã nhìn nhận đánh giá một cách toàn diện tình hình dân tộc, công tác dân tộc, chính sách dân tộc đến năm 2010 Nghị quyết chỉ rõ: “ưu tiên đầu tư phát triển kinh
tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái, phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời, tăng cường sụ quan tâm của Đảng trong việc tập trung lãnh đạo các vấn đề búc xúc, cấp thiết đặt
ra cần được ưu tiên trong “lộ trình” giải quyết hệ thống các vấn đề kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn
Thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi biên giới, Đảng và Nhà nước ta có nhiều chính sách thương mại biên giới Việt Nam – Trung Quốc và Việt Nam - Lào
1.2.2 Chính sách thương mại biên giới của Việt Nam với Trung Quốc
Việt Nam đã xây dựng được những cơ sở pháp lý cho hoạt động thương mại biên giới, trong đó bao gồm chính sách thương mại biên giới với Trung Quốc Ngày 24/11/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 252/2003/QĐ-TTg về quản lý hoạt động buôn bán hàng hóa qua biên giới với các nước có chung biên giới Ngày 17/8/2004, Bộ Thương mại, Bộ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế, Bộ Thủy sản và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư liên tịch số 05/2004/TTLT-BTM-BTC-BGTVT-BNN&PTNT-BYT-BTS- NN hướng dẫn thực hiện Quyết định số 252/2003/QĐ-TTg ngày 24/11/2003 của Thủ tướng chính phủ về quản lý hoạt động buôn bán hàng hóa qua biên giới với các nước có chung biên giới
Do hoạt động thương mại biên giới Việt – Trung phát triển với tốc độ nhanh, văn bản quy phạm pháp luật đã không đáp ứng được yêu cầu quản lý, ngày 07/11/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 254/QĐ-TTg về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới thay thế cho Quyết định số 252/2003/QĐ-TTg Ngày 31/01/2008, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Y tế và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư Liên tịch số 01/2008/TTLT-
Trang 33BCT-BTC- BGTVT-BNN&PTNT-BYT-NHNN hướng dẫn thực hiện Quyết định
số 254/2006/QĐ-TTg ngày 07 tháng 11 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới Sau 3 năm triển khai thực hiện, ngày 23/12/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 139/2009/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg ngày 07 tháng 11 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về quản
lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới
Về chính sách mặt hàng: cho đến nay, Việt Nam chưa ban hành chính sách mặt hàng cụ thể trong hoạt động thương mại biên giới Theo quy định về hàng hoá thương mại biên giới hiện hành thì “Hàng hóa mua, bán, trao đổi, xuất khẩu, nhập khẩu theo hình thức thương mại biên giới được thực hiện theo những quy định tại Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài”
Về chính sách đối với các Khu kinh tế cửa khẩu biên giới Việt – Trung: Ngày 18 tháng 9 năm 1996, tại Quyết định số 675/TTg lần đầu tiên Thủ tướng Chính phủ cho phép áp dụng thí điểm một số chính sách tại khu vực cửa khẩu Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh (Quyết định số 103/1998/QĐ-TTg ngày 6/4/1998 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách tại khu vực cửa khẩu Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, bổ sung Quyết định số 675/TTg) Sau 5 năm cho phép một số khu được thực hiện mô hình thí điểm, ngày 19 tháng 4 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 53/2001/QĐ-TTg chính thức tạo khuôn khổ pháp lý cho mô hình Khu kinh tế cửa khẩu đi vào vận hành ổn định và lâu dài Theo Quyết định số 53/2001/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm 2001 về chính sách đối với khu kinh tế cửa khẩu biên giới và Quyết định số 273/2005/QĐ-TTg ngày 31 tháng 10 năm 2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 53/2001/QĐ-TTg thì các Khu kinh tế cửa khẩu được hưởng một số cơ chế ưu đãi đặc biệt như: đầu tư xây dựng
hạ tầng cơ sở, thương mại, du lịch, đất đai và thuế cùng cơ chế thông thoáng trong đầu tư, xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, ngân hàng…
Từ sau Quyết định 53/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, các khu kinh
tế cửa khẩu mới thực sự phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Thủ tướng Chính phủ đã cho phép một số cửa khẩu biên giới Việt – Trung được phép áp dụng chính sách Khu kinh tế cửa khẩu như: Quyết định 185/2001/QĐ-TTg ngày 06-12-2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc cho phép cửa khẩu Chi Ma, tỉnh Lạng Sơn được
Trang 34áp dụng chính sách Khu kinh tế cửa khẩu; Quyết định 83/2002/QĐ-TTg ngày 06-2002 của Thủ tướng Chính phủ về phạm vi áp dụng chính sách đối với các Khu kinh tế cửa khẩu biên giới của tỉnh Cao Bằng; Quyết định 184/2001/QĐ-TTg ngày 21-11-2001 Về việc cho phép cửa khẩu Thanh Thủy, tỉnh Hà Giang được áp dụng chính sách Khu kinh tế cửa khẩu; Quyết định 187/2001/QĐ-TTg ngày 07-12-2001 của Thủ tướng Chính phủ Về việc cho phép cửa khẩu Tây Trang và cửa khẩu Ma
26-Lù Thàng, tỉnh Lai Châu được áp dụng chính sách Khu kinh tế cửa khẩu biên giới Đặc biệt, Quyết định số 748/TTg ngày 11 tháng 9 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc áp dụng thí điểm một số chính sách tại một số khu vực cửa khẩu tỉnh Lạng Sơn, trong đó có Khu Kinh tế cửa khẩu Tân Thanh (huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn) đã thúc đẩy phát triển mạnh mẽ và hoạt động sôi nổi, trở thành một trong những cửa khẩu có hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá lớn nhất tuyến biên giới Việt – Trung
Bên cạnh đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã thành lập các khu kinh tế cửa khẩu biên giới Việt – Trung như: Quyết định 115/2002/QĐ-TTg ngày 13-09-2002 của Thủ tướng Chính phủ Về việc thành lập Khu kinh tế cửa khẩu và áp dụng chính sách Khu kinh tế cửa khẩu đối với khu vực Hoành Mô - Đồng Văn Tuy nhiên, ngày 14 tháng 3 năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/2008/NĐ-CP
quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, trong đó quy định “Khu kinh tế cửa khẩu là khu kinh tế hình thành ở khu vực biên giới đất liền có cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu chính và được thành lập theo các điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này” Nghị định 29/2008/NĐ-CP đã bãi bỏ Quyết định
số 53/2001/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm 2001 về chính sách đối với khu kinh tế cửa khẩu biên giới và Quyết định số 273/2005/QĐ-TTg ngày 31 tháng 10 năm
2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 53/2001/QĐ-TTg, đồng thời xây dựng một khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh hơn cho sự phát triển của các Khu kinh tế cửa khẩu Căn cứ Nghị định số 29/2008/NĐ-CP, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 33/2009/QĐ-TTg ngày 02 tháng 3 năm 2009 về việc ban hành cơ chế, chính sách tài chính đối với khu kinh tế cửa khẩu
Căn cứ Nghị định 29/2008/NĐ-CP, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thành lập các Khu kinh tế cửa khẩu tuyến biên giới Việt – Trung như: Quyết định
số 44/2008/QĐ-TTg ngày 26 tháng 3 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc banh hành Quy chế hoạt động của Khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Quyết định số 138/2008/QĐ-TTg ngày 14 tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng
Trang 35Chính phủ về việc thành lập Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; Quyết định số 136/2009/QĐ-TTg ngày 26 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thuỷ, tỉnh Hà Giang Các Khu kinh tế cửa khẩu tuyến biên giới Việt - Trung đã và đang trở thành những trung tâm thương mại, dịch vụ, du lịch và công nghiệp, là đầu mối giao thông cho hoạt động thương mại biên giới Việt - Trung nói chung và hoạt động xuất khẩu tiểu ngạch hàng hoá sang Trung Quốc nói riêng
1.2.3 Chính sách thương mại biên giới Việt Nam - Lào
Đối với vùng biên giới Việt – Lào, ngoài chính sách Thương mại biên giới nói chung cho đến nay, Việt Nam chưa đưa ra được nhiều chính sách thương mại sát thực, hiệu quả đối với vùng biên giới Việt – Lào Tuy nhiên, Đảng và Nhà nước
ta đã từng bước xây dựng những hành lang pháp lý phục vụ cho hoạt động quản lý thương mại khu vực biên giới này, như:
Quyết định số 482/QĐ-TTg ngày 14 tháng 4 năm 2010 ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế đối ngoại vùng biên giới Việt Nam – Lào và Việt Nam – Campuchia
Bộ Công thương Việt Nam đã ban hành Thông tư số 04/2010/TT-BCT ngày 25/1/2010 về thực hiện quy tắc xuất xứ áp dụng cho các mặt hàng được hưởng ưu đãi thuế suất thuế nhập khẩu Việt Nam – Lào; Thông tư sô 10/2010/TT-BCT, ngày
29 tháng 3 năm 2010, quy định hàng hóa được sản xuất từ nước có chung biên giới nhập khẩu vào nước CHXHCN Việt Nam dưới hình thức mua, bán, trao đổi hàng hóa cư dân biên giới thời kỳ 2010-2012; Thông tư số 34/2009/TT-BCT về việc nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan năm 2010 với thuế suất, thuế nhập khẩu 0% đối với hàng hóa có xuất xứ từ Lào, quy định áp dụng hạn ngạch thuế quan năm
2010 đối với hai nhóm mặt hàng nhập khẩu có xuất xứ từ Lào gồm: thóc và gạo các loại, lá và cọng thuốc lá với thuế suất thuế nhập khẩu bằng 0%, đồng thời kèm theo phụ lục mã hàng hóa và tổng lượng hạn ngạch thuế quan của các nhóm mặt hàng được hưởng ưu dãi thuế suất thuế nhập bằng 0% Tiếp đó, ngày 16 tháng 6 năm
2010, Bộ Công thương ban hành Thông tư số 27/2010/TT-BCT về việc điều chỉnh, sửa đổi Phụ lục số 1 về Mã số hàng hóa và tổng lượng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu từ Lào năm 2010 ban hành kèm theo Thông tư số 34/2009/TT-BCT
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THƯƠNG MẠI VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN
NÚI PHÍA BẮC
2 1 Đặc điểm tự nhiên và xã hội ảnh hưởng đến thương mại vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
Vùng miền núi phía Bắc bao gồm: Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình,
Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh Tổng diện tích tự nhiên của toàn vùng
là 100.964km2 (chiếm 30,7% diện tích cả nước) Dân số năm 2008 là 11.207,8 nghìn người (khoảng 13% dân số toàn quốc năm 2008) Mật độ dân số bình quân 118người/km2 Cộng đồng dân cư trong vùng bao gồm 36 dân tộc, trong đó các dân tộc chính: Kinh, Tày, Thái, Nùng, Hmông, Dao… Các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc có khoảng 1.478,6 nghìn ha đất nông nghiệp, trong đó đất trồng cây hằng năm
là 1.136,8 nghìn ha, đất trồng cây lâu năm là 341,7 nghìn ha, diện tích đất nương rẫy là 524,25 nghìn ha (bằng 35,46% diện tích đất nông nghiệp và 46,12% đất cây hằng năm)
Các tỉnh miền núi phía Bắc là địa bàn cư trú chủ yếu của nhiều dân tộc thiểu
số thuộc các nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, Việt - Mường, Hmông – Dao, Hán, Tạng – Mianma, Môn – Khơ me, Nam Á khác… Điều kiện địa lý thuận lợi là lợi thế quan trọng đối với các tỉnh vùng miền núi phía Bắc phát triển kinh tế - xã hội Đây
là vùng có vị trí phía Bắc giáp với Trung Quốc, phía Tây giáp với Lào, nhiều cửa khẩu quốc tế (Tân Thanh ở Lạng Sơn, Móng Cái ở Quảng Ninh, Mà Lù Thành ở Lai Châu, và các cửa khẩu khác ở các tỉnh Điện Biên, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh…), quốc gia và chợ đường biên giữa nước ta với các quốc gia láng giềng… Đây chính là lợi thế để các địa phương trong vùng phát triển các khu kinh tế cửa khẩu , mở rộng giao lưu biên giới tạo mũi đột phá quan trọng cho sự phát triển kinh
tế vùng Việc khai thác được tiềm năng phát triển của khu kinh tế cửa khẩu không chỉ tạo điều kiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế của bản thân mỗi tỉnh mà còn tạo sự liên kết kinh tế mới để phát huy thế mạnh của vùng về giao lưu kinh tế, thương mại cũng như du lịch… Bên cạnh tiềm năng phát triển kinh tế cửa khẩu, với việc nằm giáp vùng đồng bằng Bắc Bộ và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, một vùng phát triển các ngành kinh tế phụ trợ, cung cấp lao động, nguyên liệu… Đây chính là cơ hội cho phát triển và giảm nghèo của vùng
Về tài nguyên thiên nhiên: các tỉnh miền núi phía Bắc giàu có bậc nhất Đó chính là lợi thế cơ bản, là tiền đề tạo điều kiện cho vùng miền núi phía Bắc đẩy mạnh nhịp độ tăng trưởng Với hệ thống sông suối dày đặc, chảy trên địa hình có
độ dốc cao có khả năng xây dựng nhiều nhà máy thủy điện lớn và nhỏ với quy mô
Trang 37thích hợp… Miền núi phía Bắc chứa đựng nguồn tài nguyên khoáng sản có tầm quan trọng đặc biệt đối với phát triển kinh tế đất nước Các loại khoáng sản có trữ lượng lớn như than chiếm 90%, aptít chiếm 100%, đất hiếm chiếm 100%, đồng chiếm 70% trữ lượng của cả nước Bên cạnh đó vùng này còn có những loại khoáng sản quý như vàng, titan, thiếc (Cao Bằng) và Ruby (Yên Bái)… thêm vào
đó những loại khoáng sản khác như vật liệu xây dựng, nước khoáng, antimoan, cao lanh (Hà Giang), phốt phát (Yên Bái)…
Về văn hóa các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc với những cảnh quan thiên nhiên, cảnh quan văn hóa trên địa bàn là tiềm năng quan trọng của ngành công nghiệp không ống khói – du lịch Tiềm năng phát triển du lịch đó còn khá lớn, đặc biệt là các loại hình du lịch văn hóa, du lịch sinh thái… Văn hóa đa dạng, giàu bản sắc của các dân tộc thiểu số tạo cho miền núi phía Bắc không chỉ có một bức tranh hài hòa giữa thiên nhiên và con người mà còn là nguồn tiềm năng quý giá để phát triển du lịch trước mắt và lâu dài Từ vùng Tây Bắc, Đông Bắc đến các tỉnh Bắc Trung Bộ nguồn tài nguyên về bản sắc văn hóa tộc người, di tích lích sử, sinh thái… có thể được thấy rất phong phú và đa dạng Đây chính là lợi thế mang lại nguồn thu trực tiếp và thu nhập xã hội cho các tỉnh, góp phần thúc đẩy quá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng của ngành dịch
vụ, du lịch
Rừng là một nguồn tài nguyên gắn với đời sống của cộng đồng các dân tộc Lâm nghiệp không chỉ được xem là một thế mạnh nổi bật của miền núi phía Bắc về tài nguyên, cảnh quan mà còn có giá trị lớn về kinh tế, môi truờng, văn hóa,… Diện tích rừng hiện có khoảng 4,36 triệu ha chiếm 35% tổng diện tích rừng hiện có của cả nước, điều kiện khí hậu và đất đai phù hợp với sinh trưởng và phát triển nhiều loại động vật, thực vật phong phú Ngoài ra ở đây còn giữ được những nguồn gien quý của vùng rừng rậm nhiệt đới và á nhiệt đới núi cao như vườn quốc gia Hoàng Liên Sơn, Cúc Phương, Hạ Long,… Do ưu thế về đồng cỏ và khí hậu một số vùng của miền núi phía Bắc có tiềm năng phát triển đàn trâu bò thịt chất lượng cao
để cung cấp thực phẩm cho vùng đồng bằng sông Hồng và các thành phố phía Bắc,
và cung cấp gia súc, gia cầm trong vùng
Trong bối cảnh đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế, cũng như nhiều vùng khác trên địa bàn toàn quốc, vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc được tạo nhiều điều kiện, cơ hội trong xóa đói giảm nghèo, từng bước vươn lên hội nhập vào
sự phát triển chung của cả nước
Cơ hội từ hội nhập kinh tế của quốc gia: từ năm 2006, nước ta tham gia vào
AFTA (Khu mậu dịch tự do ASEAN) và WTO Sự hội nhập sâu rộng này sẽ tạo điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của toàn quốc trong đó
có vùng miền núi phía Bắc Các xu hướng trên có tác động rất thuận lợi cho vùng
Trang 38miền núi phía Bắc mở rộng thêm quy mô sản xuất, phát triển thêm nhiều sản phẩm mới, đẩy mạnh xuất khẩu… Trước hết là thị trường nông sản, nhu cầu ngày càng tăng các sản phẩm nông sản Việt Nam của các thị trường truyền thống như các nước Tây Âu, Bắc Mỹ, các nước công nghiệp mới Châu Á… Trong quan hệ thương mại với Lào và Trung Quốc, do vùng giáp biên giới với Việt Nam thuộc Tây Bắc lại thường là các vùng khó khăn của nước bạn với địa hình núi cao, hệ thống giao thông nối với các trung tâm kinh tế của các nước này đều chưa phát triển Vì vậy nhu cầu thị trường nước bạn về thực phẩm, hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng đều lớn Theo các chuyên gia kinh tế, vùng miền núi phía Bắc có thể tăng cường sản xuất các loại rau xanh cao cấp, ớt, tỏi, trái cây, đậu tương, lạc, sắn, đậu xanh, chè, hoa quả tươi, hoa quả hộp, thịt cá, hàng mây tre mỹ nghệ, gỗ chế biến, thiếc, da trâu bò, các loại dược liệu như quế, sa nhân, long nhãn, thiếc, chì, kẽm…
để xuất khẩu ra thị trường các nước láng giềng và từ đó có thể mở rộng xuất khẩu sang Thái Lan, các nước ASEAN khác
Trong những vùng công nghiệp, vùng miền núi phía Bắc có lợi thế mạnh chủ
yếu là về thủy điện, khoáng sản và sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến lâm sản… Khoáng sản hiện vẫn khai thác và bán ở dạng quặng thô hoặc qua sơ chế với giá trị không cao Hiện nay thực hiện chiến lược thu gom tài nguyên không tái sinh ở một
số nước nghèo trong khu vực, Trung Quốc đang triển khai các hoạt động khai thác hoặc mua một số loại quặng có giá trị dạng thô (kể cả quặng có hàm lượng khoáng hóa thấp) như vàng, đồng, chì, kẽm, sắt, aptit thô… Việc khai thác và bán khoáng sản thô là lãng phí tài nguyên cần được xem xét, nghiên cứu thêm không chỉ để có hiệu quả kinh tế cao hơn mà còn liên quan đến chiến lược tài nguyên và sự phát triển bền vững
Việc tạo lập và phát triển hành lang Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh và chủ trương phát triển hai hành lang, một vành đai của hai nước Việt Nam – Trung Quốc là cơ hội lớn cho việc tập trung các nguồn đầu tư, mở rộng buôn bán nội địa và xuyên biên giới, mở rộng các quan hệ hợp tác đầu tư giữa Tây Bắc, Đông Bắc với địa bàn giáp biên giới của Trung Quốc và Việt Nam Đó là điều kiện tốt để tận dụng các tiềm năng cho tăng trưởng, xóa đói giảm nghèo và hội nhập kinh tế quốc tế trên địa bàn Về mặt xã hội, quan hệ buôn bán với Trung Quốc góp phần giảm bớt những khó khăn về các mặt hàng tiêu dùng, giá cả phù hợp với sức mua vùng nghèo, giao lưu kinh tế góp phần nâng cao dân trí; bộ mặt thị xã, thị trấn vùng khó khăn được cải thiện… Quan hệ ngoại thương giữa hai nước sẽ phát triển ngày càng mạnh mẽ, nhiều triển vọng theo chiều hướng tích cực tác động quan trọng đến địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc
Việc ký kết và thực hiện các hiệp định về hợp tác kinh tế và thương mại giữa nước ta với Lào đã và đang tạo ra các cơ hội phát triển cho vùng miền núi phía Bắc,
Trang 39vùng có chung 600 km đường biên giới với Lào Các cơ hội mà vùng có thể được hưởng lợi từ mối quan hệ hợp tác giữa hai quốc gia là hoạt động xuất nhập cảnh, xuất nhập khẩu hàng hóa và vận chuyển hàng hóa quá cảnh qua các cửa khẩu được đẩy mạnh, đầu tư cho kết cấu hạ tầng ngày càng tăng, đồng thời cơ hội thu hút vốn đầu tư ngày càng lớn
Không chỉ hưởng lợi từ các cơ hội trực tiếp từ việc thúc đẩy quan hệ hợp tác với Lào và Trung Quốc, vùng miền núi phía Bắc còn có các cơ hội thông qua các tác động của quan hệ hợp tác với các nước trong khối ASEAN Vùng miền núi phía Bắc có nhiều mặt hàng phù hợp với thị trường ASEAN dựa vào nguồn tài nguyên phong phú như nguồn thủy điện, khoáng sản, nông lâm sản…
Cơ hội trong mối quan hệ với nền kinh tế quốc dân và các vùng khác trong nước: trước yêu cầu của nền kinh tế quốc dân, nhiều công trình, dự án lớn sẽ được
triển khai trong vùng (các dự án thủy điện Sơn La, Na Hang…, Dự án trồng rừng) Đây là cơ hội để các địa phương phát triển hạ tầng, thu hút đầu tư, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho nhân dân Trong mối quan hệ với các vùng kinh tế khác, tác động của chúng đối với vùng miền núi phía Bắc vừa có tính chất hỗ trợ vừa có tính chất cạnh tranh trên nhiều lĩnh vực Vùng miền núi phía Bắc có thể cung ứng các mặt hàng nông, lâm sản, khoáng sản, điện…, cho các vùng khác nhưng lại cần hóa chất, sắt thép, máy móc thiết bị…, kể cả công nghệ, chất xám từ các vùng khác Các hoạt động dịch vụ quan trọng ở các vùng, các tỉnh lân cận như nghiên cứu khoa học, thiết kế, xây dựng, marketing, thương mại, xuất nhập khẩu, tài chính - tiền tệ, vận tải, du lịch sẽ góp phần phát triển kinh tế - xã hội của vùng
Thị trường nước ta với khoảng 88,6 triệu dân vào năm 2010, mức sống ngày càng cao, nhu cầu ngày càng đa dạng Kinh tế của vùng miền núi phía Bắc có thể được cải thiện theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo nhiều sản phẩm cung cấp cho thị trường và các vùng khác trong cả nước Đồng thời phát triển mạng lưới dịch vụ xuất nhập khẩu, trên cơ sở đó tạo thế vươn không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước
mà còn vươn ra thị trường quốc tế
Cơ hội về cơ chế chính sách: việc ban hành Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày
01 tháng 7 năm 2004 của Bộ Chính trị đã định các phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi phía Bắc Thực hiện Nghị quyết này, nhiều chủ trương chính sách mới đồng bộ, toàn diện với cơ chế đặc thù đang được nghiên cứu, ban hành Đây chính là cơ hội hết sức thuận lợi để các địa phương trong vùng tận dụng, cụ thể hóa bằng các chính sách của địa phương, tạo bước chuyển biến toàn diện đối với kinh tế - xã hội của cả vùng…
Sự phát triển mạnh của nền kinh tế thị trường sẽ tác động mạnh và làm biến đổi các tập quán canh tác, sản xuất lạc hậu; thay đổi tư duy cũ trong tổ chức, hoạt
Trang 40động kinh tế của các hộ gia đình, cộng đồng các dân tộc thiểu số Các cộng đồng các dân tộc thiểu số có cơ hội đẩy nhanh hơn quá trình hội nhập vào nền kinh tế quốc gia và quốc tế
Lao động trẻ các dân tộc có điều kiện tiếp cận với các yếu tố của nền kinh tế thị trường và đi đôi là các yếu tố văn hóa mới của quốc tế sẽ du nhập và tác động mạnh mẽ hơn so với 20 năm đổi mới vừa qua Sự chuyển đổi nhận thức và cơ hội phát triển về khả năng lao động, trí tuệ của tuổi trẻ các dân tộc là cơ hội và nhân tố
có ý nghĩa trước mắt và lâu dài đối với các dân tộc…
Bên cạnh tiềm năng, thế mạnh vùng miền núi phía Bắc cũng đứng trước những khó khăn, thách thức trong hội nhập và phát triển trên nhiều bình diện về điều kiện tự nhiên, tình hình xã hội, thực trạng phát triển kinh tế, chính sách, bộ máy…
Miền núi phía Bắc có địa hình núi cao, hiểm trở, thường xuyên xảy ra thiên tai, phân bố dân cư phân tán nên việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho vùng gặp nhiều khó khăn, suất đầu tư cao, thời gian hoàn thành thường bị kéo dài và thường
bị thiên tai tàn phá như lở đất, lũ quét… Đây là các khó khăn khách quan có ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội, các nỗ lực cải thiện đời sống nhân dân, phát triển, hội nhập… trong vùng
Xuất phát điểm kinh tế - xã hội thấp, quy mô nền kinh tế còn nhỏ bé nên mặc
dù mức tăng trưởng tương đối khá do có đầu tư của Nhà nước, song tăng trưởng tuyệt đối vẫn còn ở mức thấp Những hạn chế cơ bản của nền kinh tế có xuất phát điểm thấp thể hiện ở một loạt các yếu tố: GDP bình quân đầu người thấp, nền kinh
tế không có tích lũy, cơ cấu kinh tế lạc hậu, nặng về nông nghiệp, tỷ trọng các ngành kinh tế khác nhỏ, cơ cấu nội bộ các ngành cũng chưa hợp lý, việc huy động đầu tư xã hội còn hạn chế, sự tham gia của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh còn rất hạn chế
Kết cấu hạ tầng nghèo nàn, nhỏ bé là trở ngại lớn đối với phát triển kinh tế -
xã hội vùng miền núi phía Bắc Về hệ thống giao thông, các tuyến quốc lộ lớn nối
Hà Nội và các tỉnh đều đang trong quá trình đầu tư, nâng cấp, chưa hoàn thiện, hệ thống giao thông nội tỉnh, giao thông nông thôn mặc dù đã được đầu tư của Nhà nước song chất lượng còn rất kém, ở một số vùng chỉ đi lại được một mùa do chất lượng không đảm bảo vững chắc do thiên tai như mưa lớn, lũ quét… Giao thông đi lại khó khăn cản trở việc phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa, ảnh hưởng tới việc đi lại của nhân dân trong vùng cũng như khách du lịch Hệ thống hạ tầng thủy lợi cũng chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất và đời sống Hiện còn khoảng gần một triệu người ở các tỉnh miền núi phía Bắc thường xuyên thiếu nước sinh hoạt từ
3 - 6 tháng trong năm Nạn hạn hán, thiếu nước sản xuất đặc biệt vào mùa đông vẫn