1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung luật khoa học và công nghệ

83 431 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung luật khoa học và công nghệ
Tác giả Hoàng Ngọc Doanh
Trường học Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ
Chuyên ngành Khoa học và công nghệ
Thể loại Tổng hợp đề án
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 786,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật về KH&CN của các nước trên thế giới đều điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực KH&CN thuộc các nhóm chủ yếu sau: hoạt động NC-TK; dịch vụ KH&CN, CGCN, SHTT, tổ chức KH&C

Trang 1

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Trang 2

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG BÁO CÁO

KH&CN Khoa học và công nghệ

NCKH&PTCN Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ NC-TK Nghiên cứu - triển khai

SHCN Sở hữu công nghiệp

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

SX-KD Sản xuất-kinh doanh

UBND Uỷ ban nhân dân

CL&CSKH&CN Chiến lược và Chính sách khoa học và công nghệ

Trang 3

MỤC LỤC

Trang Một số thông tin chính về đề án 4

Phần mở đầu 5

Phần thứ nhất: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để sửa đổi, bổ

sung Luật KH&CN

9

I Tổng quan về điều chỉnh pháp luật về KH&CN 9

1 Điều chỉnh pháp luật về KH&CN, những vấn đề lý luận và thực tiễn 9

2 Sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN với vấn đề điều chỉnh pháp luật về

KH&CN

12

II Nghiên cứu kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về KH&CN của một số

nước trên thế giới

13

1 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về KH&CN của các nước phát triển 14

2 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của một số nước ở châu Á 16

3 Luận cứ về sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN (2000) với yêu cầu đổi mới

quản lý KH&CN ở Việt Nam và vấn đề hội nhập khu vực và thế giới

18

Phần thứ hai: Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN 20

I Luận cứ về những nội dung cơ bản cần sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN 20

II Nghiên cứu đề xuất Dự thảo Luật KH&CN (sửa đổi) và đề xuất khung

các văn bản hướng dẫn Luật và hoàn thiện pháp luật về KH&CN

34

1 Đề xuất những phương án sửa đi bổ sung luật KH&CN 34

2 Đề xuất khung văn bản hướng dẫn thi hành Luật KH&CN 42

3 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số luật liên quan đến sửa Luật KH&CN 43

Phụ lục II Dự thảo Luật KH&CN (sửa đôi) 58

Phụ lục III Bản so sánh Luật (2000) và Dự thảo Luật (sửa đổi) In riêng

Trang 4

MỘT SỐ THÔNG TIN CHÍNH CỦA ĐỀ ÁN

TÊN ĐỀ ÁN: Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN

THỜI GIAN THỰC HIỆN: 21 tháng, từ tháng 4 /2008 đến tháng 12/2009

Kinh phí thực hiện: 350.000 triệu đồng Trong đó:

- Nguồn ngân sách sự nghiệp khoa học: 350.000 triệu đồng

Phạm thế Trinh, Viện Hóa học, Bộ Công thương

Lê Đại Hải, Vụ Pháp luật Kinh tế và Dân sự Chu Đức Nhuận, Vụ Khoa học-Giáo dục, Văn phòng Chinh phủ

ĐƠN VỊ CHỦ TRÌ: Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN

ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH:

- Vụ pháp chế;

- Vụ Đánh giá-Thẩm định-Giám định công nghệ;

- Vụ Khoa học xã hội và tự nhiên;

- Vụ KHCN các ngành kinh tế kỹ thuật;

- Vụ Pháp luật Dân sự và Kinh tế, Bộ Tư pháp;

- Vụ KHCN&MT,Văn phòng Quốc hội;

-Viện hoá học công nghiệp;

Hoạt động cụ thể của Đề án xem tại phụ lục IV

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

LỜI MỞ ĐẦU

Luật KH&CN đã được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày

9-6-2000, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 Luật ra đời đã đánh dấu một mốc quan trọng trong việc xây dựng pháp luật về KH&CN ở Việt Nam Lần đầu tiên nước ta có riêng một đạo luật thống nhất điều chỉnh các quan hệ xã hội trong hoạt động KH&CN, đã tạo nên một số thay đổi lớn cho hoạt động KH&CN Tuy nhiên thời gian qua đất nước ta đã có nhiều thay đổi trong công cuộc đổi mới

và hội nhập, và vì vậy, cần nghiên cứu, phân tích, đánh giá việc thực thi Luật KH&CN trong 8 năm qua, để thấy được những quy định nào không còn phù hợp với thực tiễn, những quy định nào còn phù hợp cần phải sửa đổi cho hoàn thiện - để

từ đó sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN cho phù hợp với tình hình mới của đất nước Nhận thức rõ vấn đề này, Bộ KH&CN đã quyết định giao nhiệm vụ nghiên cứu cho nhóm Đề án “Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN năm 2000 (2000)

Báo cáo này là kết quả nghiên cứu của Đề án Đề án chân thành cám ơn các nghiên cứu viên của Ban N/C Chính sách nhân lực và Hệ thống KH&CN, Ban Thông tin tư liệu và Đào tạo sau đại học, các chuyên gia của Vụ Pháp chế và Lãnh đạo Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN đã đóng góp nhiều ý kiến và giúp đỡ trong quá trình thực hiện Đề án

1 Mục tiêu của đề tài/ đề án:

Xây dựng các phương án sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN (2000) của Việt Nam, để từ đó xây dựng dự thảo Luật KH&CN (sửa đổi), trên cơ sở phân tích, tổng kết, đánh giá kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về KH&CN của Việt Nam và kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về KH&CN của các nước trên thế giới

2 Tính cấp thiết của đề án

Nghiên cứu về lý luận và thực tiễn điều chỉnh pháp luật về KH&CN nói chung, kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về KH&CN của thế giới, tổng kết kinh

nghiệm điều chỉnh pháp luật về KH&CN của Việt Nam để từ đó luận cứ cho việc

sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN năm 2000 cho phù hợp với tình hình mới của đất

nước trong điều kiện hội nhập và bản thân hệ thống pháp luật về KH&CN đã có nhiều thay đổi khi ở Việt Nam đã có thêm một số luật chuyên ngành như: Luật SHTT, Luật CGCN, Luật năng lượng nguyên tử Và vì vậy, việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung những nội dung cơ bản của Luật KH&CN và đưa ra các phương án cho việc sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN (2000) và xây dựng dự thảo Luật KH&CN là vấn đề rất cấp thiết

Trang 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề án

Đối tượng nghiên cứu của Đề án là kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về

KH&CN của Việt Nam và của các nước trên thế giới, gồm có luật KH&CN (2000)

và các văn bản quy định chi tiết thi hành luật KH&CN và một số luật có liên quan đến hoạt động KH&CN như luật CGCN, luật SHTT, Luật Giáo dục, luật Đầu tư, luật Doanh nghiệp và các luật về thuế, Luật thương mại, Luật xuất bản, các đạo luật về KH&CN của các nước trên thế giới

Phạm vi nghiên cứu của Đề án là nghiên cứu lý luận và thực tiễn điều chỉnh

pháp luật về KH&CN của Việt nam và của các nước trên thế giới để từ đó luận cứ cho việc sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN (2000) của Việt Nam

Giới hạn nghiên cứu Do điều chỉnh pháp luật về KH&CN rất rộng và các

nước trên thế giới có truyền thống điều chỉnh rất khác nhau và được điều chỉnh ở rất nhiều loại văn bản khác nhau, song do mục đích của Đề án là nghiên cứu để luận cứ cho việc sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN (2000) nên Đề án chỉ tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của những nước khả dĩ áp dụng cho việc sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN của Việt Nam, để phục vụ trực tiếp cho việc sửa đổi bổ sung Luật KH&CN của Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong nghiên cứu, Đề án thực hiện các cách tiếp cận chủ yếu sau:

Tiếp cận hệ thống: Đề án đã nghiên cứu, phân tích, đánh giá một cách tổng

quát về lý luận và thực tiễn điều chỉnh pháp luật về KH&CN của các nước trên thế giới và của Việt Nam thời gian qua, để từ đó luận cứ cho việc sửa đổi, bổ sung cho từng quy phạm và từng chế định của Luật KH&CN

Tiếp cận lịch sử và logic: Đề án đã phân tích, đánh giá sự ra đời của các QPPL

trong bối cảnh lịch sử cụ thể đặt trong tiến trình phát triển của đất nước để luận cứ cho việc sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN(2000) cho phù hợp với yêu cầu mới

Trong nghiên cứu Đề án sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đề án đã thu thập hơn 200 văn bản QPPL

Luật, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật KH&CN và các QPPL liên quan đến KH&CN trong các luật có liên quan của Việt Nam và hơn 30 Luật về KH&CN của các nước trên thế giới trong các thời kỳ gần đây, để phân tích đánh giá biến động

về điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực này

Phương pháp phi thực nghiệm, Đề án đã thực hiện điều tra xã hội học:

Trang 7

nghiên cứu, các trường đại học, các doanh nghiệp trong cả nước về sửa đổi, bổ sung những vấn đề chủ yếu của Luật KH&CN (2000)

b) Tổ chức 30 hội nghị bàn tròn tại các viện nghiên cứu, các trường đại học, các doanh nghiệp tại 3 miền (Bắc, Trung, Nam) về việc sửa đổi, bổ sung những vấn

đề chủ yếu nào của Luật KH&CN Tổ chức 10 hội thảo khoa học với các nhà khoa học, nhà quản lý, nhà sản xuất ở các cơ quan quản lý, tổ chức KH&CN, doanh nghiệp tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng để lấy ý kiến đóng góp cho Dự thảo Luật KH&CN (sửa đổi)

5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ ÁN

Đề án tập trung nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:

1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN

1.1 Nghiên cứu tổng quan về điều chỉnh pháp luật KH&CN

- Điều chỉnh pháp luật về KH&CN, những vấn đề lý luận và thực tiễn

- Sửa đổi Luật KH&CN (2000) với vấn đề điều chỉnh pháp luật về KH&CN 1.2 Nghiên cứu kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về KH&CN của một số nước trên thế giới

- Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về KH&CN của các nước phát triển (Mỹ, Nga, Nhật);

- Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của một số nước ở châu Á (Trung Quốc, Hàn Quốc)

1.3 Nghiên cứu luận cứ về sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN (2000) với yêu cầu đổi mới quản lý KH&CN ở Việt Nam với vấn đề hội nhập khu vực và thế giới

2 Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN (2000)

2.1 Nghiên cứu luận cứ về những nội dung cơ bản cần sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN (2000) theo các chế định của Luật: Quản lý hoạt động KH&CN; Tổ chức NCKH&PTCN; Tổ chức dịch vụ KH&CN; - Tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN; Hợp đồng KH&CN; Chế độ tài chính cho hoạt động KH&CN; Cơ chế khuyến khích phát triển KH&CN

2.2 Nghiên cứu, đề xuất những phương án sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN(2000) và đề các văn bản hướng dẫn Luật để hoàn thiện các văn bản pháp luật về KH&CN

2.3 Nghiên cứu đề xuất Dự thảo Luật KH&CN (sửa đổi)

3 Kết cấu báo cáo tổng hợp của Đề án gồm:

Mở đầu

Trang 8

Phần thứ nhất: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để sửa đổi, bổ sung Luật

KHCN

I Nghiên cứu tổng quan (lý luận và thực tiễn) về điều chỉnh pháp luật về KH&CN

1 Điều chỉnh pháp luật về KH&CN, những vấn đề lý luận và thực tiễn

2 Sửa đổi Luật KH&CN (2000) với vấn đề điều chỉnh pháp luật về KH&CN

II Nghiên cứu kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật KH&CN của một số nước trên thế giới

1 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về KH&CN của các nước phát triển

2 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của một số nước ở châu Á

3 Nghiên cứu luận cứ về sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN với yêu cầu đổi mới quản lý KH&CN ở Việt Nam với vấn đề hội nhập khu vực và thế giới của Việt Nam

Phần thứ hai : Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN năm 2000

I Nghiên cứu luận cứ về những nội dung cơ bản cần sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN (2000) theo các chế định của Luật

1 Quản lý hoạt động KH&CN

2 Tổ chức NCKH&PTCN

3 Tổ chức dịch vụ KH&CN

4 Tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN

5 Hợp đồng KH&CN

6 Chế độ tài chính cho hoạt động KH&CN;

7 Cơ chế khuyến khích phát triển KH&CN

II Nghiên cứu đề xuất những phương án sửa đổi bổ sung Luật KH&CN

1 Nghiên cứu, đề xuất những phương án sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN (2000) và đề xuất khung để hoàn thiện các văn bản pháp luật về KH&CN

2 Nghiên cứu đề xuất Dự thảo Luật KH&CN (sửa đổi)

Kết luận và kiến nghị

Trang 9

Phần thứ nhất NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG

LUẬT KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

I TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT VỀ KH&CN

1 Điều chỉnh pháp luật về KH&CN những vấn đề lý luận và thực tiễn

1.1 Điều chỉnh pháp luật về KH&CN của các nước trên thế giới

1.1.1 Điều chỉnh pháp luật nói chung của các nước trên thế giới

Pháp luật luôn gắn liền với sự phát triển của chính trị, kinh tế, văn hoá, KH&CN, phong tục tập quán và truyền thống luật pháp của mỗi nước Vì vậy, mỗi quốc gia khi ban hành pháp luật nói chung, pháp luật về KH&CN nói riêng có những quy định phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và theo sự phát triển của chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học và công nghệ và phong tục tập quán của nước đó Đây là các yếu tố quyết định các nguyên tắc pháp luật của mỗi nước Như vậy, các nguyên tắc điều chỉnh pháp luật ở các nước khác nhau là không cố định, muốn xác định chúng cần phải dựa vào cấu trúc xã hội, mô hình tổ chức bộ máy nhà nước, các quan hệ xã hội đặc trưng cần điều chỉnh, truyền thống văn hoá, pháp luật, của nước đó Với cách tiếp cận như vậy, khi nghiên cứu pháp luật về KH&CN của

các nước, chúng ta có thể thấy được các nguyên tắc trong việc xác định đối tượng,

phạm vi điều chỉnh, phương pháp và mức độ điều chỉnh, từ đó hiểu rõ những nội

dung mà các đạo luật điều chỉnh

Luật pháp là một phạm trù lịch sử, các QPPL điều chỉnh các quan hệ xã hội

ổn định trong thời kỳ lịch sử nhất định, nó không mang tính bất biến Và vì thế, các nước trên thế giới, các đạo luật sau một thời gian thực thi, họ đều nghiên cứu đánh giá hiệu quả thi hành luật, nghiên cứu thực tiễn khách quan xem những quy định nào của luật không còn phù hợp, tại sao? những quy định nào cần sửa đổi cho hoàn thiện, những quan hệ xã hội nào mới nảy sinh hoặc phái sinh từ việc thi hành luật cần quy định bổ sung, để từ đó luận cứ cho việc sửa đổi hoàn thiện luật

Về đặc điểm điều chỉnh pháp luật nói chung của các nước trên thế giới có thể chia làm 5 hệ thống chính như sau: Hệ La Mã- Đức; Hệ Ăng lê-Xắc xông; Hệ theo Hồi giáo; Hệ theo xã hội chủ nghĩa; Hệ theo Ấn độ giáo

Điều chỉnh pháp luật theo truyền thống La Mã - Đức truỳên thống này

được bắt đầu ở La mã thời trung cổ, sau đó phát triển sang Đức và pháp, đến nay phần lớn các nước tây Âu như Đức, Pháp, italia áp dụng phương pháp điều chỉnh này Nguyên tắc điều chỉnh của nó là nhà nước đặt ra pháp luật, quan toà chỉ được

xử theo các quy định của pháp luật và toàn xã hội phải thượng tôn pháp luật Pháp luật trong hệ thống này gồm có l.uất và các văn bản dưới luật Có các đạo luật chủ yếu sau: đạo luật điều chỉnh chung trong một lĩnh vực rộng; các đạo luật chuyên ngành điều chỉnh tương đối cụ thể trong một lĩnh vực hẹp; (3) các luật đơn hành điều chỉnh một số vấn đề cụ thể trong một lĩnh vực cụ thể

Trang 10

Đối với các đạo luật (1) điều chỉnh chung thì có 2 mức điều chỉnh: những vấn

đề có tính nguyên tắc thì điều chỉnh chung để các văn bản dưới luật (nghị định) sẽ quy định cụ thể; đối với những vấn đề có thể điều chỉnh cụ thể thì quy định chi tiết ngay trong luật để thực hiện được ngay không cần có văn bản hướng dẫn Luật loại này gọi là luật khung tương đối chi tiết

Đối với (2) các đạo luật chuyên ngành điều chỉnh chung thì cũng có 2 mức điều chỉnh: những vấn đề có tính nguyên tắc (với một số ít quan hệ xã hội) thì điều chỉnh chung để các văn bản dưới luật (nghị định) sẽ quy định cụ thể; đối với những vấn đề có thể điều chỉnh cụ thể thì quy định chi tiết trong luật để thực hiện được ngay không cần có văn bản hướng dẫn

Đối với (3) các đạo luật đơn hành thì quy định cụ thể chi tiết ngay trong luật

để thực hiện được ngay không cần có văn bản hướng dẫn

Điều chỉnh pháp luật theo truyền thống Ăng lê - Xắc xông truỳên thống

này được bắt đầu ở Anh quốc từ thế kỷ thứ 16 Ban đầu nó là Luật án lệ - quan toà sau sử một vụ án theo lệ như quan toà nào đó trước đã sử như trước đây đã được chấp nhận Ví dụ ăn cắp một con cừu thì quan toà trước sử bị tội gì, thì đối với người sau mắc tội đó quan toà cũng thẹo lệ cũ mà sử Như vậy quan toà làm ra luật chứ không phải là nhà nước làm ra luật Việc này dẫn đến sự lộng hành của các chúa đất, nên đến thế kỷ thứ 17 hoàng đế Anh quốc đã cho ra đời Luật công lý, đây

là luật của nhà nước ban hành để hạn chế bớt sự lộng hành của các quan toà và của các chúa đất Hiện nay khá nhiều nước (chủ yếu là các nước thuộc địa của Anh trước đây) như Mỹ, Úc áp dụng theo truyền thống này

Điều chỉnh pháp luật theo truyền thống Xã hội chủ Nghĩa Được bắt

nguồn từ Liên xô trước đây Sau đó tất cả các nước XHCN (trước đây trong đó có Việt Nam) đều theo truyền thống này Nhìn chung về hệ thống pháp luật này thì phương pháp điều chỉnh, mức độ điều chỉnh của các đạo luật và đối tượng điều chỉnh của các đạo luật thì tương tự như điều chỉnh của pháp luật theo truyền thống Luật La Mã - Đức nhưng nguyên tắc điều chỉnh thì khác nhau một cách căn bản -

đó là ý chí của giai cấp lãnh đạo phải được đưa lên thành luật (hay nói cách khác luật phải thể hiện ý chí của Nhà nước XHCN)

Điều chỉnh pháp luật theo truyền thống Hồi giáo và Ấn độ giáo Các quy

tắc của đạo Hồi và Ấn độ giáo được đưa lên thành Luật ở các đạo luật của các hệ thống này Kinh nghiệm điều chỉnh cả hai truyền thống này không có thể áp dụng cho Việt Nam nên trong báo cáo này chỉ điểm qua như vậy

1.1.2 Điều chỉnh pháp luật về KH&CN nói chung của các nước trên thế giới

Điều chỉnh pháp luật về KH&CN của các nước nói chung phụ thuộc vào truyền thống xây dựng nhà nước và pháp luật của nước đó, tức là có thể điều chỉnh khung (luật khung), điều chỉnh chung (luật ngành, chuyên ngành), điều chỉnh cụ thể (luật đơn hành) Tuy nhiên, đối tượng và phương pháp điều chỉnh là tương đối giống nhau, song phạm vi điều chỉnh và mức độ điều chỉnh của các đạo luật về KH&CN của các nước lại tương đối khác nhau, thậm chí rất khác nhau

Trang 11

a) Đối tượng, phương pháp điều chỉnh pháp luật về KH&CN

Đối tượng điều chỉnh pháp luật về KH&CN Pháp luật về KH&CN của các

nước trên thế giới đều điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực KH&CN thuộc các nhóm chủ yếu sau: hoạt động NC-TK; dịch vụ KH&CN, CGCN, SHTT,

tổ chức KH&CN, các biện pháp chính sách phát triển KH&CN phục vụ phát triển KT-XH, quản lý KH&CN Các nhóm đối tượng xã hội này sẽ được quy phạm hoá

để hình thành các chương, mục trong các đạo luật khung, luật chung hay thành các đạo luật đơn hành tuỳ thuộc cách điều chỉnh của mỗi nước

Ví dụ luật khung, Phạm vi điều chỉnh của nó chủ yếu tập trung quy định về các vấn đề sau: Công bố chính sách và đặt ra các nguyên tắc thiết lập chính sách nghiên cứu và phát triển KH&CN; Đề ra các biện pháp để thực hiện các mục tiêu

ưu tiên và các chính sách cơ bản về nghiên cứu và phát triển KH&CN; Bảo hộ của Nhà nước đối với hoạt động NCKH-PTCN cũng như các thành quả của nó; Đề ra các biện pháp về tổ chức và hoạt động nhằm bảo đảm phát triển KH&CN

Phương pháp điều chỉnh pháp luật về KH&CN Mỗi ngành luật có một

phương pháp điều chỉnh riêng, nếu như phương pháp điều chỉnh của luật hình sự là trừng phạt, luật hành chính là mệnh lệnh quyền uy, luật dân sự là bình đẳng ngang bằng, thì luật KH&CN là khuyến khích động viên hỗ trợ về tinh thần và vật chất

Và vì thế trong luật về KH&CN của các nước thường thấy có những quy định có vẻ như khẩu hiệu, chẳng hạn như Nhà nước khuyến khích, nhà nước có biện pháp hỗ

Ví dụ: Luật về chính sách KH&CN của Mỹ tiêu biểu cho hệ thống pháp luật

Ănglê Xăc xông Đây là luật khung, chủ yếu là tuyên bố về chính sách KH&CN,

vì vậy có thể thấy các quy phạm trong luật chỉ mang tính nguyên tắc (giống như

Nghị quyết về KH&CN của Việt Nam) Luật về nghiên cứu KH&CN của Pháp

tiêu biểu cho hệ thống pháp luật La mã – Đức, ít nhiều có ảnh hưởng đến truyền thống pháp luật Việt Nam Các luật này điều chỉnh tương đối cụ thể, chi tiết về các vấn đề của NCKH&PTCN Trung Quốc có cả một hệ thống pháp luật về KH-KT khá hoàn chỉnh, trong đó có một luật khung – Luật thúc đẩy tiến bộ KH-KT của

nước CHND Trung Hoa và một số luật ngành, luật đơn hành Luật thúc đẩy tiến

bộ KH-KT của Trung Quốc là luật khung tương đối cụ thể Căn cứ luật khung này,

Trung Quốc đã ban hành trên 20 văn bản quy định cụ thể khác để hướng dẫn thi

Trang 12

hành Luật này Liên bang Nga đã ban hành Luật khoa học và chính sách khoa

học – kỹ thuật Đây là luật khung quy định những vấn đề có tính nguyên tắc và có

một số quy định cụ thể đối với những vấn đề đã rõ, cho nên trong Luật có nhiều quy định chung xen lẫn các quy định chi tiết Luật KH&CN của Nhật Bản là luật khung (luật cơ bản), chỉ quy định về nguyên tắc, còn các vấn đề cụ thể được quy định ở các luật đơn hành, cho nên Luật rất ngắn gọn, chỉ có 19 điều

Các luật khung của các nước làm nguồn cho việc xây dựng các văn bản luật chuyên ngành hay luật đơn hành

Sửa đổi, bổ sung luật Vì pháp luật là một phạm trù lịch sử, cho nên luật về

KH&CN của các nước trên thế giới sau một thời gian thực hiện đều được sửa đổi,

bổ sung hoặc bãi bỏ.Tuy nhiên, cách sửa đổi bổ sung cũng rất khác nhau Ví dụ: Luật thúc đẩy phát triển KH&CN của Hàn quốc ban hành năm 1968 (sớm nhất thế giới) đến nay đã sửa 14 lần, song mỗi lần sửa chỉ sửa đổi bổ sung từng điều khoảng của Luật (và cũng chỉ công bố những gì sửa đổi nên chúng ta rất khó theo dõi); Luật thúc đẩy tiến bộ KH-KT của nước CHND Trung Hoa ban hành và có hiệu lực thi hành từ 01/10/1993 đến nay đã sửa đổi, bổ sung tới 4 lần, lần cuối cùng là 29/12/2007 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2008 (rất mới), mỗi lần sửa Luật Trung Quốc chỉ sửa đổi, bổ sung từng điều khoản cụ thể song vẫn công bố toàn văn văn bản Luật sửa đổi để thi hành; Luật khoa học và chính sách KH – KT quốc gia Liên bang Nga ban hành 23/8/1996 đã sửa 4 lần và lần cuối cùng là 30/6/2005 đây

là đạo luật điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể hoạt động KH-KT, các cơ quan chính quyền nhà nước và các bên sử dụng sản phẩm KH&CN, nên việc sửa đổi bổ sung gắn liền với việc sửa đổi bổ sung các đạo luật có liên quan, việc sửa đổi bổ sung lược bỏ được thực hiện với từng điều khoản cụ thể gắn với lý giải đi kèm, và công bố toàn văn văn bản để thực hiện

2 Sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN với vấn đề điều chỉnh pháp luật về KH&CN ở Việt Nam

Cho đến nay, Việt Nam đã có một hệ thống văn bản QPPL trong lĩnh vực KH&CN khá đầy đủ, trong đó có những luật rất quan trọng như Luật KH&CN, Luật SHTT, Luật CGCN, Luật CNC, Luật bảo vệ môi trường, Luật năng lượng nguyên tử và các văn bản hướng dẫn thi hành các luật nay

Luật KH&CN (2000) của Việt Nam là một luật khung, điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội chủ yếu trong tất cả các lĩnh vực KH&CN đối với các vấn đề đã rõ,

đã được thực tế kiểm nghiệm thì quy định cụ thể để có thể thi hành ngay; đối với các vấn đề mới trong thực tiễn hoạt động KH&CN, có nhu cầu cần được điều chỉnh bằng pháp luật thì xác định những nguyên tắc cơ bản để cụ thể hoá trong văn bản dưới luật; đối với các vấn đề phát sinh trong hoạt động KH&CN nhưng chưa có thực tiễn kiểm nghiệm thì để lại tiếp tục nghiên cứu, không quy định trong Luật này

Trước tiên cần phải xác định về mặt nguyên tắc – Luật KH&CN là Luật chung điều chỉnh mọi quan hệ xã hội cơ bản trong hoạt động KH&CN thuộc mọi lĩnh vực KH&CN và áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân hoạt động hoặc tham

Trang 13

hoạt động KH&CN Khi mô hình hóa các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh để quy phạm hóa trong Luật, cần đặt nó trong không gian hai chiều: chiều ngang - phải xem xét tất cả các quan hệ xã hội trong hoạt động KH&CN mà giá trị của nó đã được xã hội thừa nhận cần được điều chỉnh trong Luật để không bỏ sót những gì phải điều chỉnh; chiều dọc – xem xét quan hệ nào cần được điều chỉnh khung (mang tính nguyên tắc) tại Luật KH&CN và điều chỉnh cụ thể tại các Luật chuyên ngành và vấn đề nào cần được điều chỉnh chi tiết tại Luật KH&CN, để có

sự thống nhất, liên thông trong hệ thống pháp luật mà lại không bị chồng chéo Sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN (2000), phải rà soát xem các luật ngành (Luật SHTT, Luật CGCN, Luật CNC ) được ban hành sau Luật KH&CN đã điều chỉnh như thế nào đối với các quan hệ xã hội tương ứng đã điều chỉnh trong Luật KHCN, vì các Luật này đã điều chỉnh tương đối cụ thể các quan hệ xã hội trong chuyên ngành mình Đây là vấn đề sẽ được xem xét cụ thể khi luận cứ những vấn đề cần sửa đổi,

bổ sung Luật KH&CN tại các phần sau của báo cáo này

Luật KH&CN của Việt Nam cũng điều chỉnh tất cả các vấn đề mà pháp luật

về KH&CN của các nước điều chỉnh, tuỳ thuộc vào nội dung từng vấn đề mà quy định chung hay tương đối cụ thể (chi tiết) trong luật chung - Luật KH&CN, quy định tương đối cụ thể trong các luật ngành - Luật SHTT, Luật CGCN, Luật CNC hay quy định chi tiết trong luật đơn hành

II NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT VỀ KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Các đạo luật chung về KH&CN của các nước trên thế giới chủ yếu tập trung quy định về các vấn đề sau: Công bố chính sách và đặt ra các nguyên tắc thiết lập chính sách nghiên cứu và phát triển KH&CN; Đề ra các biện pháp để thực hiện các mục tiêu ưu tiên và các chính sách cơ bản về nghiên cứu và phát triển KH&CN; Bảo hộ của Nhà nước đối với hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, cũng như các thành quả của nó Đề ra các biện pháp về tổ chức và hoạt động nhằm bảo đảm phát triển KH&CN

Về bảo đảm quyền tự do nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Các

quốc gia đều nhận thức một cách đầy đủ vai trò của những người làm công tác KH&CN đối với sự phát triển của đất nước Sáng tạo KH&CN chủ yếu phụ thuộc vào năng lực của từng cá nhân, vì vậy cá nhân là chủ thể quan trọng nhất của hoạt động NCKH&PTCN Chỉ khi nào cá nhân được đảm bảo các quyền trong NCKH&PTCN và có đủ cơ hội để phát huy hết khả năng của mình thì nền tảng KH&CN của quốc gia mới có thể phát triển bền vững Chính vì vậy, việc bảo đảm quyền tự do NCKH&PTCN trở thành một nguyên tắc không thể thiếu được trong việc thiết kế chính sách và lập kế hoạch phát triển KH&CN của quốc gia

Liên quan đến quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong các hoạt động NCKH&PTCN, ở các mức độ khác nhau, pháp luật của các quốc gia đều có các quy định về vấn đề này Nhìn chung, các quốc gia thường tránh được việc quy định

Trang 14

quá cụ thể, chi tiết về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể nghiên cứu Hoạt động KH&CN là một hoạt động sáng tạo, vì vậy sự kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước chủ yếu tập trung vào việc ngăn ngừa các hành vi lợi dụng hoạt động KH&CN làm phương hại đến lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự công cộng, vệ sinh, môi trường,

Nghiên cứu kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật KH&CN của một số nước trên thế giới” giới thiệu luật KH&CN của những nước tiêu biểu cho các hệ thống pháp luật trên thế giới, trong đó có những nước có truyền thống pháp luật gần gũi với Việt Nam và những nước có trình độ phát triển cao về kinh tế và KH&CN, có thể tìm kiếm được những kinh nghiệm khả dĩ cho Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về KH&CN

1 Kinh nghiệm điều chỉnh Pháp luật về KH&CN của các nước phát triển 1.1 Kinh nghiệm điều chỉnh Pháp luật về KH&CN của Hoa Kỳ

Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về KH&CN của Hoa Kỳ bao gồm các văn bản chính sau: Luật về Chính sách KH&CN Hoa kỳ 1976; Luật ĐMCN

tevenson - Wydler (1980) và các sửa đổi (Luật CGCN Liên bang1986, Luật CGCN

cạnh tranh quốc gia 1989, Luật tiến bộ và CGCN Quốc gia, 1996, Luật thương mại hoá CGCN 2000); Luật Pa-tăng & nhãn hiệu hàng hoá Bayh-Dole (1980); Luật

CGCN doanh nghiệp nhỏ (1984); Luật nghiên cứu hợp tác quốc gia (1984), v.v

Luật về chính sách KH&CN của Hoa kỳ tiêu biểu cho hệ thống pháp luật

Ăngglê Xăcxông Đây là luật khung, chủ yếu là tuyên bố về chính sách KH&CN,

vì vậy có thể thấy các quy phạm trong luật chỉ mang tính nguyên tắc (giống như Nghị quyết của đảng ta về chính sách KH&CN, nên Luật mang tên là Luật tuyên bố

về chính sách KH&CN của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ)

Các đạo luật khác là luật ngành và đơn hành của Mỹ như đã nêu ở trên điều chỉnh từng vấn đề cụ thể trong từng lĩnh vực hẹp một các chi tiết và thực hiện được ngay không cần phải có văn bản hướng dẫn Ở Mỹ nếu chính phủ liên bang ban hành một đạo luật nào đó, thì chi khi cố một bang nào đó thi hành trong thực tế thì đạo luật đó mới chính thức có hiệu lực ở toàn Liên bang (giống như Luật công lý

và luật án lệ ở Anh quốc)

Điều chỉnh Pháp Luật về KH&CN của Pháp tiêu biểu cho hệ thống pháp luật Lamã - Đức, ít nhiều có ảnh hưởng đến truyền thống pháp luật Việt Nam Pháp có khá nhiều luật điều chỉnh trong lĩnh vực KH&CN như: Lụât về nghiên cứu và phát triển công nghệ của CH Pháp; Luật về định hướng và lập chương trình cho nghiên cứu và triên khai công nghệ của CH Pháp, các luật ngành, luật đơn hành như: Luật SHTT, CGCN, Luật ngành của Pháp về KH&CN chủ yếu tập trung quy định về các vấn đề sau: Công bố chính sách và đặt ra các nguyên tắc thiết lập chính sách NCKH&PTCN; Đề ra các biện pháp để thực hiện các mục tiêu ưu tiên và các chính sách cơ bản về NCKH&PTCN; Bảo hộ của Nhà nước đối với hoạt động

Trang 15

NCKH&PTCN, cũng như các thành quả của nó Đề ra các biện pháp về tổ chức và hoạt động nhằm bảo đảm phát triển KH&CN phục vụ phát triển KT-XH của Pháp

1.2 Kinh nghiệm điều chỉnh Pháp luật về KH&CN của Liên Bang Nga

Điều chỉnh pháp luật về KH&CN Liên bang Nga đã ban hành Luật khoa học

và chính sách KH - KT quốc gia Liên bang Nga 23/8/1996 Đây là đạo luật điều

chỉnh chung các quan hệ giữa các chủ thể hoạt động KH-KT, các cơ quan chính quyền nhà nước và các bên sử dụng sản phẩm KH&CN Luật này là luật khung quy định những vấn đề có tính nguyên tắc và có một số quy định cụ thể đối với những vấn đề đã rõ, cho nên trong Luật có nhiều quy định chung xen lẫn các quy định chi tiết

Cách điều chỉnh của Luật chung là đối với các quan hệ xã hội có tính chất chung: Công bố chính sách và đặt ra các nguyên tắc thiết lập chính sách nghiên cứu

và phát triển KH&CN – các quy định này có tính nguyên tắc; Đề ra các biện pháp

để thực hiện các mục tiêu ưu tiên và các chính sách cơ bản về NCKH&PTCN – các quy định tương đối cụ thể; Bảo hộ của Nhà nước đối với hoạt động NCKH&PTCN, cũng như các thành quả của nó – các quy định có tính nguyên tắc Đề ra các biện pháp về tổ chức và hoạt động nhằm bảo đảm phát triển KH&CN – các quy định tương đối cụ thể Ngoài

Về sửa đổi, bổ sungluật Luật khoa học và chính sách KH - KT quốc gia LB

Nga 1996, đã sửa 4 lần và lần cuối cùng là 30/6/2005 đây là đạo luật điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể hoạt động KH-KT, các cơ quan chính quyền nhà nước

và các bên sử dụng sản phẩm KH&CN, nên việc sửa đổi bổ sung gắn liền với việc ban hành, sửa đổi bổ sung các đạo luật có liên quan tới các vấn đề cụ thể để tránh chồng chéo giữa các đạo luật Việc sửa đổi, bổ sung, lược bỏ được thực hiện với từng điều khoản cụ thể gắn với lý giải tại sao bỏ, tại sao sửa đi kèm theo ngay trong Luật, và công bố toàn văn văn bản Luật sửa đổi để thực hiện

Cùng với Luật điều chỉnh chung nêu trên, Nga còn có các đạo luật chuyên ngành và đơn hành điều chỉnh cụ thể trong các chuyên ngành hẹp, các đạo luật này điều chỉnh cụ thể và áp dụng được ngay trong thực tiễn

1.3 Kinh nghiệm điều chỉnh Pháp luật về KH&CN của Nhật Bản

Nhật bản có cả một hệ thống pháp luật về KH&CN khá hoàn chỉnh, trong đó

có một luật khung là Luật cơ bản về KH&CN của Nhật Bản và một số luật đơn hành Luật cơ bản về KH&CN của Nhật Bản khung, chỉ quy định về nguyên tắc những vấn đề rất cơ bản như lập kế hoạch KH&CN quốc gia, trách nhiệm của cơ quan quản lý KH&CN trong việc thực hiện những vấn chung trong phát triển KH&CN , còn các vấn đề cụ thể được quy định ở các luật đơn hành, cho nên Luật rất ngắn gọn, chỉ có 19 điều

Các đạo luật khác như Luật SHTT, Luật CGCN từ trường đại học, viện nghiên cứu cho doanh nghiệp, Luật CGCN giữa các doanh nghiệp Các đạo luật về

Trang 16

KH&CN của Nhật bản tập trung điều chỉnh tất cả các cụm quan hệ trong lĩnh vực KH&CN

2 Kinh nghiệm điều chỉnh Pháp luật KH&CN của một số nước ở châu Á 2.1 Kinh nghiệm điều chỉnh Pháp luật về KH&CN của Trung Quốc

Điều chỉnh pháp luật về KH&CN Trung Quốc có cả một hệ thống pháp luật

về KH - KT khá hoàn chỉnh, trong đó có một luật khung và một số luật đơn hành

Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về KH&CN của Trung Quốc bao gồm các văn bản chính sau: Luật thúc đẩy phát triển KH- KT nước CHND Trung Hoa (1993 sửa lần cuối 2007), Luật doanh nghiệp liên doanh (ban hành 1979, sửa đổi 2001), Luật doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (1986, sửa đổi 2000), Luật xúc tiến chuyển hoá thành quả KH-KT (1996), Luật hợp đồng KH-KT của CHND Trung Hoa (26/6/1987) sau đó đưa Luật này thành Chương V của Luật hợp đồng của CHND Trung Hoa (1999), Quy định quản lý xuất nhập khẩu công nghệ (2002), Quy định về đăng ký các hợp đồng xuất nhập khẩu công nghệ (2001), Luật ngoại thương (2004) có một chương về CGCN; Luật sáng chế (1984, sửa đổi 2000)

Về tính chất, phạm vi và mức độ điều chỉnh của Luật thúc đẩy tiến bộ

KH-KT của CHND Trung Hoa Đây là Luật khung, luật tập chung quy định về các vấn

đề chủ yếu sau: công bố chính sách và đặt ra các nguyên tắc thiết lập chính sách nghiên cứu và phát triển KH&CN; đề ra các biện pháp để thực hiện các mục tiêu ưu tiên và các chính sách cơ bản về nghiên cứu và phát triển KH&CN; bảo hộ của Nhà nước đối với hoạt động nghiên NCKH&PTCN, cũng như các thành quả của nó đề

ra các biện pháp về tổ chức và hoạt động nhằm bảo đảm phát triển KH&CN Căn

cứ luật khung này, Trung Quốc đã ban hành trên 20 văn bản quy định cụ thể khác

để hướng dẫn thi hành Luật này

Luật này của Trung Quốc không điều chỉnh các quan hệ xã hội trong khoa học

xã hội và nhân văn, vì quan niệm rằng đó là công việc của Đảng cộng sản Trung quốc, nên có văn bản riêng điều chỉnh

Về sửa đổi, bổ sung Luật Luật thúc đẩy tiến bộ KH-KT của CHND Trung

Hoa ban hành và có hiệu lực thi hành từ 01/10/1993 đến nay đã sửa đổi, bổ sung tới 4 lần, lần cuối cùng là 29/12/2007 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2008.Việc sửa đổi bổ sung Luật này của Trung quốc căn cứ vào những thay đổi về cải cáh mở cửa và hội nhập quốc tế của Trung quốc, ví dụ trước khi gia nhập WTO sửa một lần (năm 2000), sau khi gia nhập WTO sửa lần nữa cho phù hợp với cam kết quốc tế Mỗi lần sửa đổi, bổ sung Luật, Trung Quốc chỉ sửa đổi, bổ sung từng điều khoản cụ thể song vẫn công bố toàn văn văn bản Luật sửa đổi để thi hành

Các đạo luật khác là luật ngành và luật đơn hành điều chỉnh những vấn đê cụ thể trong từng lĩnh vực hẹp Điều chỉnh pháp luật của Trung Quốc cũng có Luật và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật đối với các đạo luật chung, đôi vơi luật đơn hành thì quy định chi tiết để thực hiện được ngay không cần hướng dẫn

Trang 17

2.2 Kinh nghiệm điều chỉnh Pháp luật về KH&CN của Hàn Quốc

Về điều chỉnh pháp luật KH&CN Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về

KH&CN của Hàn Quốc bao gồm các văn bản chính sau: Luật thúc đẩy phát triển KH&CN Hàn quốc (ban hành 1968 đã sửa 12 lần), Luật khuyến khích công nghệ

kỹ thuật (1992); Luật khuyến khích phát triển công nghệ (1972, sửa đổi 2000); Luật thúc đẩy đầu tư nước ngoài (1998, sửa đổi 2003); Luật ngoại thương (1986, sửa đổi 2003), Luật thúc đẩy CGCN Hàn Quốc (2000), Luật đào tạo cơ quan nghiên cứu đặc biệt Hàn Quốc (31/12/1983 sửa đổi 1981) Các luật về sở hữu trí tuệ: Luật Sáng chế (1961, sửa đổi 2002), Luật về thiết kế bố trí mạch tích hợp (1992, sửa đổi 2002), Luật chống cạnh tranh không lành mạnh và bảo hộ bí mật thương mại (1961, sửa đổi 2001), v.v…

Luật thúc đẩy phát triển KH&CN Hàn Quốc là luật khung tương đối cụ thể

điều chỉnh khá đầy đủ các quan hệ xã hội trong lĩnh vực KH&CN trong đó quy định chung những vấn đề có tính nguyên tắc, điều chỉnh cụ thể những quan hệ xã hội đã ổn định thuộc các nhóm quan hệ xã hội trong lĩnh vực KH&CN Đây là Luật chung tập trung quy định về các vấn đề chủ yếu sau: công bố chính sách và đặt ra các nguyên tắc thiết lập chính sách nghiên cứu và phát triển KH&CN; đề ra các biện pháp để thực hiện các mục tiêu ưu tiên và các chính sách cơ bản về nghiên cứu

và phát triển KH&CN; bảo hộ của Nhà nước đối với hoạt động NCKH&PTCN, cũng như các thành quả của nó đề ra các biện pháp về tổ chức và hoạt động nhằm bảo đảm phát triển KH&CN Để thi hành Luật này còn có Sắc lệnh của tổng thống

và Nghị định thi hành Luật sẽ quy định chi tiết những gì luật quy định có tính nguyên tắc

Về sửa đổi, bổ sung Luật Luật thúc đẩy phát triển KH&CN của Hàn quốc

ban hành năm 1968 (sớm nhất thế giới) đến nay đã sửa 14 lần, song mỗi lần sửa chỉ sửa đổi, bổ sung từng điều khoản cụ thể của luật cho phù hợp với thực tiễn của xã hội lúc đó Khi sửa cũng chỉ công bố những điều khoản cụ thể được sửa đổi nên chúng ta rất khó theo dõi

Các đạo luật khác là luật ngành và luật đơn hành nêu trên điều chỉnh những vấn đê cụ thể trong từng lĩnh vực hẹp và thực hiện đước ngay

Như vậy, có thể thấy điều chỉnh pháp luật của Hàn quốc cũng có Luật và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật đối với các đạo luật chung và luật đơn hành thì quy định chi tiết để thực hiện được ngay

2.3 Kinh nghiệm cho Việt Nam trong xây dựng pháp luật về KH&CN

Từ kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của các nước trên thế giới, Việt Nam có thể rút ra nhiều kinh nghiệm khả dĩ có thể áp dụng được

Trang 18

Về điều chỉnh Pháp luật về KH&CN của Việt Nam cũng phải điều chỉnh đầy

đủ những cụm quan hệ xã hội quan trọng nhất trong lĩnh vực KH&CN thuộc các nhóm chủ yếu sau: hoạt động NC-TK; dịch vụ KH&CN, CGCN, SHTT, tổ chức KH&CN, các biện pháp chính sách phát triển KH&CN phục vụ phát triển KT-XH, quản lý KH&CN Các nhóm đối tượng xã hội này sẽ được quy phạm hoá để hình thành các chương, mục trong các đạo luật khung, luật chung hay thành các đạo luật đơn hành

Có một đạo luật chung là Luật KH&CN là luật khung, Phạm vi điều chỉnh

của nó chủ yếu tập trung quy định về các vấn đề sau: công bố chính sách và đặt ra các nguyên tắc thiết lập chính sách nghiên cứu và phát triển KH&CN; đề ra các biện pháp để thực hiện các mục tiêu ưu tiên và các chính sách cơ bản về nghiên cứu

và phát triển KH&CN; bảo hộ của Nhà nước đối với hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, cũng như các thành quả của nó; đề ra các biện pháp về

tổ chức và hoạt động nhằm bảo đảm phát triển KH&CN của đất nước

Các đạo luật khác là luật ngành và luật đơn hành điều chỉnh những vấn đê cụ thể trong từng lĩnh vực hẹp

Điều chỉnh pháp luật của Việt Nam cũng có cần có Luật chung và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật đối với các đạo luật chung Đối với luật đơn hành thì quy định chi tiết để thực hiện được ngay

Về sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN (2000) Luật ban hành từ năm 2000, khi

đó chỉ có Luật này là luật duy nhất điều chỉnh mọi qua hệ trong mọi lĩnh vực KH&CN ở Việt Nam Đến nay trong lĩnh vực KH&CN đã có thêm 5 luật chuyên ngành để điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc chuyên ngành tương ứng mà vẫn chưa sửa Luật KH&CN là quá chậm trễ, song dù muộn vẫn hơn không sửa

Việc sửa đổi bổ sung Luật KH&CN phải căn cứ vào những thay đổi về đổi mới quản lý KT-XH , đổi mới quản lý KH&CN và hội nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam, phù hợp với các cam kết khi Việt Nam gia nhập WTO Sửa đổi, bổ sung Luật, cần sửa đổi, bổ sung từng điều khoản cụ thể và loại bỏ các quy định không còn phù hợp và công bố toàn văn văn bản Luật (sửa đổi) để thi hành

3 Luận cứ về sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN (2000) với yêu cầu đổi mới quản lý KH&CN ở Việt Nam và vấn đề hội nhập khu vực và thế giới

Khi được ban hành, Luật KH&CN (2000) là đạo luật duy nhất điều chỉnh chung các quan hệ xã hội trong mọi lĩnh vực KH&CN, thuộc mọi lĩnh vực hoạt động Như vậy đây là đạo luật chung bao quát rất rộng, vì vậy nó được xây dựng là đạo luật chung điều chỉnh khung song tương đối chi tiết Luật khung, bởi vì những quan hệ xã hội nào có giá trị chung thì trong Luật quy định mang tính nguyên tắc làm cơ sở pháp lý cho việc xây dựng các văn bản quy định chi tiết để hướng dẫn thi hành, phù hợp với hoạt động trong từng lĩnh vực cụ thể trong những giai đoạn lịch

sử nhất định; cụ thể vì những quan hệ xã hội nào đã ổn định và giá trị của nó đã

Trang 19

được xã hội thừa nhận thì quy định cụ thể trong Luật để áp dụng được ngay

Đến nay, trong lĩnh vực KH&CN đã có thêm các luật chuyên ngành như Luật SHTT, CGCN, Tiêu chuẩn và phạm quy chuẩn kỹ thuật, Chất lượng sản phẩm và hàng hóa , Luật năng lượng nguyên tử các Luật này đã điều chỉnh tương đối cụ thể các quan hệ xã hội trong chuyên ngành mình, sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN cần đặt trong bối cảnh này Trước tiên cần phải xác định về mặt nguyên tắc - đây vẫn là Luật chung điều chỉnh mọi quan hệ xã hội trong hoạt động KH&CN thuộc mọi lĩnh vực KH&CN (đối tượng điều chỉnh) và áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân hoạt động hoặc tham hoạt động KH&CN (đối tượng áp dụng) Khi mô hình hóa các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh để quy phạm hóa, cần đặt nó trong không gian hai chiều: (1) chiều ngang - phải xem xét tất cả các quan hệ xã hội trong hoạt động KH&CN mà giá trị của nó đã được thừa nhận cần được điều chỉnh để không bỏ sót; (2) chiều dọc – xem xét quan hệ nào cần được điều chỉnh khung (mang tính nguyên tắc) tại đạo luật chung (Luật KH&CN) và điều chỉnh cụ thể tại các Luật chuyên ngành và vấn đề nào cần được điều chỉnh chi tiết tại Luật KH&CN, để có sự thống nhất, liên thông trong hệ thống pháp luật mà lại không bị chồng chéo Đây là vấn đề sẽ được xem xét cụ thể khi luận cứ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN tại các phần sau của báo cáo này

Tuy đã được ban hành cách đây 8 năm, song Luật KH&CN vẫn còn rất giá trị, nhiều quy định cơ bản trong Luật phù hợp với hoạt động KH&CN của Việt Nam và pháp luật về KH&CN của các nước trên thế giới Luật đã tạo được khuôn khổ pháp

lý thuận lợi cho hoạt động KH&CN, cơ sở pháp lý tốt cho quản lý KH&CN và không có rào cản pháp lý nào lớn khi Việt Nam hội nhập với khu vực và quốc tế

Vì vậy, không nên ban hành Luật KH&CN mới, mà chỉ sửa đổi, bổ sung Luật cho phù hợp với yêu cầu đổi mới triệt để hiện nay ở Việt Nam Đó là Việt Nam đã và đang hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong nền kinh tế này, trách nhiệm của Nhà nước, cũng tức là vai trò của pháp luật với tư cách là một công cụ hữu hiệu để quản lý, là phải quản lý chặt chẽ những gì phải quản lý hoặc cần quản lý theo nguyên tắc nắm chặt một đầu (cái Nhà nước cần phải quản lý) thả lỏng cả mảng để cho toàn xã hội làm và thị trường điều tiết Trong lĩnh vực KH&CN thì đây là các vấn đề về tổ chức KH&CN, hoạt động NCKH&PTCN Sửa đổi Luật phải theo những yêu cầu này

Trang 20

Phần thứ hai NGHIÊN CỨU SỦA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

I LUẬN CỨ VỀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CẦN SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT

cả các quan hệ xã hội trong hoạt động KH&CN mà giá trị của nó đã được thừa nhận cần được điều chỉnh để không bỏ sót – chiều ngang; xem xét quan hệ nào cần được điều chỉnh khung (mang tính nguyên tắc) tại đạo luật chung và điều chỉnh cụ thể tại các Luật chuyên ngành như Luật CGCN, Luật SHTT, luật CNC và vấn đề nào cần được điều chỉnh chi tiết tại Luật KH&CN Đồng thời xem xét các quy định liên quan đến các ngành luật khác như luật hành chính,, pháp luật về thuế, về tổ chức nhà nước, thanh tra, khen thưởng, để loại bỏ những quy định chồng lấn trong Luật, đặc biệt là các quy định chồng chéo để có sự thống nhất, liên thông trong hệ thống pháp luật mà lại không bị chồng chéo (có chồng nhưng không chéo) – chiều dọc Đây là vấn đề sẽ được xem xét cụ thể khi luận cứ những vấn đề cần sửa đổi,

bổ sung Luật KH&CN tại các phần sau của báo cáo này

Về các khái niệm, thuật ngữ trong Luật KH&CN

Quy định về thuật ngữ trong Luật rất quan trọng, vì nó là tiền đề cho tất cả những ai sử dụng Luật đều hiểu đúng vấn đề đã quy định trong Luật đã được quy

ước như những khái niệm trong Luật để thực hiện, và vì vậy, trước hết tuy các thuật

ngữ này là quy ước (được hiểu là ) trong Luật (không phải là từ điển, không có tính quy phạm) song các thuật ngữ đó phải bảo đảm bao quát được các nội hàm của

nó và tương thích với thông lệ quốc tế đang sử dụng và nó cần được quy định ở phần chung ở phần đầu của Luật; thứ hai là phải đầy đủ, tức là những thuật ngữ mang tính quy ước đó được sử dụng trong Luật cần được hiểu thống nhất, vì vậy cần phải quy định rõ nội hàm của nó Để sửa Luật KH&CN cũng cần xem lại các khái niệm trong Luật KH&CN năm 2000 Tuy nhiên, việc nghiên cứu chi tiết về sửa đổi bổ sung các khái niệm trong Luật KH&CN (2000) đã được nghiên cứu kỹ trong Đề tài “ Nghiên cứu luận cứ khoa học cho việc sửa đổi, bổ sung Luật

Trang 21

KH&CN” của Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN- chủ nhiệm đề tài là ông Hoàng Ngọc Doanh Đề án kế thừa kết quả nghiên cứu này1

(1) Nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm, Luật KH&CN đã

không đưa ra khái niêm chung về NCKH và triển khai thực nghiệm (viết tắt là

nghiên cứu và triển khai, ký hiệu NC-TK)

OECD định nghĩa: NC-TK là hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách có

hệ thống để tăng cường vốn tri thức, bao gồm tri thức về con người, văn hoá, xã hội, và sử dụng vốn tri thức này để tìm ra các ứng dụng mới Theo UNESCO: NC-

TK có thể được xác định như là tập hợp các hoạt động có hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển kho tàng kiến thức, bao gồm các kiến thức liên quan đến con người, tự nhiên và xã hội, và nhằm sử dụng các kiến thức đó để tạo ra những áp dụng mới

Như vậy, nhân tố quyết định để định nghĩa NC-TK là sự có mặt của yếu tố

sáng tạo và đổi mới Đặc tính này là chung cho cả NCKH&TKTN Cần sửa thuật

ngữ này trong Luật

(2) Nghiên cứu khoa học; theo Luật KH&CN: NCKH là hoạt động phát hiện,

tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn NCKH gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng

OECD không đưa khái niệm NCKH mà đưa khái niệm NC-TK gồm: Nghiên cứu cơ bản, Nghiên cứu ứng dụng và Triển khai thực nghiệm Trong đó NCKH được hiểu bao gồm: Nghiên cứu cơ bản và Nghiên cứu ứng dụng

Theo UNESCO: Hoạt động NCKH có thể được xác định như là tập hợp toàn

bộ các hoạt động có hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển kho tàng kiến thức khoa học và nhằm áp dụng chúng vào thực tiễn

Xét khái niệm NCKH của Luật KH&CN và của UNESCO đưa ra ta nhận thấy

đã có sự tương đồng về quan niệm Tuy nhiên, UNESCO nhấn manh đến tính hệ thống và tính sáng tạo được nhấn mạnh chung cho nghiên cứu và ứng dụng chứ

không chỉ nhấn vào khâu ứng dụng như cách thể hiện của Luật KH&CN, cần bổ

sung tính hệ thống và sáng tạo vào khái niệm này

(3) Nghiên cứu cơ bản, Luật KH&CN có đề cập cụm từ Nghiên cứu cơ bản

(NCCB), nhưng không đưa ra khái niệm hoặc định nghĩa

Theo OECD: NCCB là hoạt động thực nghiệm hoặc lý thuyết được thực hiện chủ yếu để nhận được tri thức mới về nền tảng nằm dưới hiện tượng hoặc sự việc quan sát được mà không có ý định nhằm vào bất kỳ một ứng dụng hoặc sử dụng cụ thể nào Theo UNESCO, NCCB có thể xác định như là bất kỳ công tác thực nghiệm hoặc lý thuyết nào tiến hành chủ yếu nhằm đạt được những kiến thức mới

về các căn cứ của các hiện tượng và những thực tế quan sát được mà không cần nghiên cứu một ứng dụng hoặc một vận dụng đặc biệt hay đặc thù nào

1 Hoàng Ngọc Doanh, Báo cáo tổng hợp đề tài “NC luận cứ cho việc sửa đổi, bổ sung luật KH&CN năm 2000

Trang 22

Luật KH&CN tuy không đưa ra nội hàm khái niệm nhưng trong phần phân bổ kinh phí cho các hoạt động KH&CN cũng như hoạt động của Quỹ phát triển

KH&CN quốc gia (Điều 39) có đề cập đến khái niệm này Vì vậy cần bổ sung khái

niệm về Nghiên cứu cơ bản trong Luật để làm cơ sở cho việc có tiếng nói chung

trong quản lý và phân bổ kinh phí

Luật KH&CN cũng có đề cập khái niệm NCCB có định hướng trong điều về

đầu tư phát triển KH&CN nhưng không quy định rõ nội hàm của khái niệm Cần

phải bổ sung khái niệm Nghiên cứu cơ bản có định hướng

(4) Nghiên cứu ứng dụng, Luật KH&CN không đưa ra một khái niệm thống

nhất về Nghiên cứu ứng dụng (NCƯD), tuy nhiên trong Luật có thể nhắc đến như một cụm từ như vậy ít nhất tại Điều 2 của Luật KH&CN

Theo OECD: NCƯD là hoạt động nghiên cứu ban đầu để nhận được các tri thức mới, nhưng chủ yếu nhằm vào một mục đích hoặc một mục tiêu thực tế cụ thể UNESCO đã định nghĩa: NCƯD có thể được xác định như là mọi nghiên cứu đầu tiên được tiến hành nhằm đạt được những kiến thức mới, nhưng chủ yếu nó có một mục đích hoặc một mục tiêu thực tiễn đặc thù Như vậy UNESCO và OECD khá thống nhất về nội hàm của khái niệm NCƯD Luật KH&CN tuy không đưa ra nội

hàm khái niệm nhưng trong thực tế đều có đề cập đến khái niệm này Cần bổ sung

khái niệm Nghiên cứu ứng dụng để làm cơ sở cho việc có tiếng nói chung trong

quản lý và phân bổ kinh phí

(5) Triển khai thực nghiệm, theo Luật KH&CN: Phát triển công nghệ là hoạt

động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới Phát triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm Cũng theo Luật KH&CN; Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả NCKH để làm thực nghiệm nhằm tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới và Sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống

OECD định nghĩa: Triển khai thực nghiệm là hoạt động mang tính hệ thống, dựa vào tri thức nhận được từ nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn nhằm tạo ra các vật liệu, sản phẩm hoặc thiết bị mới; lập ra các quy trình, hệ thống và dịch vụ mới; hoặc cải tiến đáng kể những thứ đã được sản xuất hoặc lắp đặt Theo UNESCO: Triển khai thực nghiệm có thể được xác định như bất kỳ một công việc có hệ thống nào nhằm vận dụng các kiến thức hiện tại đạt được nhờ nghiên cứu và/hoặc kinh nghiệm thực tiễn nhằm sản xuất ra vật liệu mới, sản phẩm và thiết bị mới; nhằm đưa ra những phương pháp tiến hành mới, những hệ thống và dịch vụ mới; nhằm cơ bản hoàn thiện những gì đã sản xuất hoặc đã đưa ra sử dụng.Trong khi OECD và UNESCO khá thống nhất về khái niệm Triển khai thực nghiệm và thể hiện ở tính tổng quát và nhấn mạnh đến tính hệ thống thì các quy định về vấn đề này trong

Luật KH&CN khá rối rắm và không mang tính bao quát cần phải sửa lại khái niệm

này

Trang 23

(6) Nhiệm vụ KH&CN, trong Luật KH&CN cụm từ nhiệm vụ KH&CN được

sử dụng thường xuyên, song lại không được định nghĩa, làm cho đến nay việc hiểu khái niệm này rất khác nhau Tại Khoản 6 Điều 19 quy định là “các nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước được tổ chức dưới hình thức chương

trình, đề tài, dự án và các hình thức khác” Nghị định 81 Điều 14 quy định Nhiệm

vụ KH&CN là những vấn đề khoa học và công nghệ cần được giải quyết, được tổ chức thực hiện dưới hình thức đề tài, dự án, chương trình KH&CN Đề tài

KH&CN có nội dung chủ yếu nghiên cứu về một chủ đề KH&CN Đề tài có thể độc lập hoặc thuộc dự án, chương trình KH&CN Dự án KH&CN có nội dung chủ yếu tiến hành các hoạt động NCKH&PTCN, ứng dụng công nghệ; áp dụng, thử nghiệm các giải pháp, phương pháp, mô hình quản lý KT-XH Dự án có thể độc lập hoặc thuộc chương trình KH&CN Chương trình KH&CN bao gồm một nhóm các

đề tài, dự án KH&CN, được tập hợp theo một mục đích xác định nhằm thực hiện

mục tiêu phát triển KH&CN cụ thể hoặc ứng dụng trong thực tiễn Cần bổ sung

khái niệm này vào Luật

(7) Sản xuất thử/sản xuất thử nghiệm, Luật KH&CN không quy định về

khái niệm, nội hàm của sản xuất thử mà chỉ có quy định về sản xuất thử nghiệm:

Sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống

Theo OECD: Sản xuất thử là sau khi thử nghiệm thành công nguyên mẫu và thực hiện mọi cải tiến cần thiết, giai đoạn khởi động sản xuất có thể bắt đầu Giai đoạn này liên quan đến sản xuất toàn bộ, có thể gồm cả việc cải tiến sản phẩm/quy trình hoặc đào tạo lại cán bộ về kỹ thuật mới hoặc về sử dụng thiết bị mới Nếu giai đoạn khởi động sản xuất không gồm việc thiết kế và bố trí tiếp thì không được tính vào R&D, vì mục đích chính của nó không còn là hoàn thiện tiếp sản phẩm mà là bắt đầu quá trình sản xuất thực thụ Các loạt sản xuất thử đầu tiên được đưa vào để cho ra loạt sản phẩm đại trà không coi là các nguyên mẫu R&D, cho dù chúng có được mô tả giống như vậy

Theo UNESCO, việc sản xuất thử có thể bao hàm cả việc trang bị nhằm sản xuất đạt công suất thiết kế Vì mục đích trực tiếp của sản xuất thử không còn nhằm đưa lại những cải tiến kỹ thuật cho sản phẩm hoặc cho quá trình sản xuất nữa, mà

nhiệm vụ của nó là làm sao cho quá trình sản xuất không có sự cố, cho nên phải

loại nó hoàn toàn ra khỏi NC-TK

Theo quy định trên thì chưa làm rõ đây là sản xuất thương mại hay sản xuất để

phục vụ cho hoàn thiện tiếp sản phẩm Do vậy cần phải quy định lại cho phù hợp

với thông lệ quốc tế

2 LUẬN CỨ VỀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT KH&CN

Đề án đã nghiên cứu luận cứ cho việc sửa đổi, bổ sung Luật theo các nhóm vấn đề cụ thể sau: (1) quản lý hoạt động KH&CN; (2) tổ chức NC-TK; (3) tổ chức

Trang 24

dịch vụ KH&CN; (4) tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN; (5) Hợp đồng KH&CN; (6) chế độ tài chính cho động KH&CN; (7) cơ chế khuyến khích phát triển KH&CN

(1) QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KH&CN

Về quản lý hoạt động KH&CN cần xem xét tới quản lý nhà nước về KH&CN

và quản lý các hoạt động KH&CN (bao gồm cả quản lý hoạt động NC-TK và dịch vụ KH&CN) cụ thể

Về quản lý nhà nước về KH&CN

Luật KH&CN (2000) dành hẳn một chương – Quản lý nhà nước về KH&CN,

để quy định về phân công, phân cấp trong quản lý nhà nước về KH&CN, hệ thống

cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN từ trung ương đến cấp huyện Các quy định này thời gian qua đã tạo được khuân khổ pháp lý thận lợi cho hoạt động KH&CN,

cơ sở pháp lý tốt cho quản lý KH&CN và không có rào cản pháp lý nào lớn khi Việt Nam hội nhập với khu vực và quốc tế Song nếu xem xét các quy định này trong hệ thống pháp luật nói chung của Việt Nam, đặc biệt là pháp luật về hành chính, thì có thể thấy các quy định trong chế định này có sự trùng lắp, chồng lấn như vậy là không cần thiết Hơn nữa ban hành Luật là để tạo hành lang pháp lý rộng rãi cho hoạt động KH&CN và cơ sở pháp lý cho quản lý hoạt động KH&CN, cho nên các quy định về quản lý sẽ nằm ở các quy phạm có liên quan trong Luật

Cho nên Sửa Luật cần bỏ chương quản lý nhà nước về KH&CN, thay vào đó là

Chương trách nhiệm pháp lý của các cơ quan quản lý Nhà nước về KH&CN để quy định trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan quản lý KH&CN Trong đó quy định rõ, Chính phủ, Bộ KH&CN, Bộ ngành liên quan, các tỉnh phải phải thực hiện các điều Luật cụ thể như thế nào Còn các nội dung quản lý liên quan đến quản lý

nhừng vấn đề cụ thể sẽ quy định tại các quy phạm về quản lý có liên quan trong Luật Đồng thời loại bỏ những quy định không mang tính quy phạm, những quy định đã được quy định trong các văn bản QPPL chuyên ngành, bổ sung những quy định mới cho phù hợp với thực tiễn hiện nay trong bối cảnh Việt Nam hội nhập với khu vực và quốc tế

Về cơ chế quản lý KH&CN

Luật (2000) quy định quản lý hoạt động KH&CN, bao gồm cả quản lý hoạt động NC-TK và dịch vụ KH&CN Bộ KH&CN vừa quản lý nhà nước về KH&CN vừa quản lý, vừa tổ chức thực hiện các nhiệm vụ KH&CN trọng điểm quốc gia, quản lý các chương trình “cấp” nhà nước Các Bộ/Tỉnh, tổ chức KH&CN quản lý hoạt động KH&CN trong lĩnh vực/địa bàn mình phụ trách Đây mới chỉ quy định

Trang 25

khung về quản lý việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia, chưa quy định cơ chế phối hợp thực hiện và trách nhiệm cụ thể cho chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, chưa quy định về vệc tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN không sử dụng NSNN một cách rõ ràng để xã hội hóa hoạt động KH&CN Sửa Luật cần bổ sung quy định về tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN của tổ chức , cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế để Luật có tính bao quát, khả thi và hiệu quả

Về quản lý việc tổ chức thực hiện nhiệm KH&CN

Cần phải xác định rõ trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN và

trách nhiệm của cơ quan quản lý việctổ chức, thực hiện nhiệm vụ KH&CN của nhà nước để từ đó sửa đổi, bổ sung các quy định trong Luật KH&CN (2000)

Về Quản lý tổ chức khoa học và công nghệ

Luật (2000) chia tổ chức NC-TK làm 3 cấp thực chất chỉ là vấn đề thẩm quyền quyết định thành lập để tránh hiện tượng thành lập tràn lan thời bao cấp, đến nay sứ mệnh lịch sử này đã hoàn thành, nên cần phải sửa đổi, bổ sung (các Điều 9,

10 của Luật) theo hướng: tổ chức NC-TK được thành lập chủ yếu để NC-TK, ai thành lập ra tổ chức NCTK thì đầu tư và quản lý hoạt động của tổ chức đó, tổ chức NC-TK hoạt động trong lĩnh vực nào thì được hưởng chính sách ở lĩnh vực đó Ví

dụ, nghiên cứu cơ bản hoặc nghiên cứu công ích theo quy định của Nhà nước về chính sách trong lĩnh vực này, NC&PTCN sẽ do thị trường điều tiết chẳng hạn và

bỏ các điều về thẩm quyền quyết định thành lập tổ chức KH&CN các cấp

Về đánh giá KH&CN việc đánh giá hoạt động KH&CN và đánh giá các tổ chức NC-TK rất quan trọng, vì chỉ có dựa trên kết quả đánh giá đúng hoạt động KH&CN và các tổ chức KH&CN mới có chính sách đầu tư đúng cho hoạt động KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước Luật KH&CN (2000) không quy định trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý KH&CN trong việc đánh giá hoạt động KH&CN và đánh giá các tổ chức NC-TK, như vậy có thể coi đây là thiếu sót

Vì vậy, sửa Luật cần bổ sung quy định đánh giá hoạt động KH&CN và đánh giá tổ chức NC&PT, theo hướng quy định rõ mục tiêu đánh giá là để điều chỉnh chính sách đầu tư; để công nhận tổ chức NC-TK đạt chuẩn quốc gia để xếp hạng (là chứng chỉ chất lượng đối với khách hàng của viện) hoặc để các tổ chức tự hoàn thiện mình Trong Luật chỉ quy định những nguyên tắc chính của việc đánh giá, để làm cơ sở cho cơ quan quản lý hướng dẫn việc đánh giá tuỳ theo mục tiêu đánh giá

và xây dựng các qui định liên quan đến quy trình, tiêu chí đánh giá hoạt động KH&CN; tổ chức KH&CN; đánh giá KH&CN

(2) TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU - TRIỂN KHAI

Trang 26

Quan hệ về tổ chức KH&CN, được Luật KH&CN (2000) quy định trong các chế định về tổ chức KH&CN, cần bao quát đầy đủ các vấn đề từ loại hình tổ chức, thẩm quyền thành lập, điều kiện thành lập, đăng ký hoạt động, quyền và nghĩa vụ, nhiệm vụ chủ yếu của từng loại hình tổ chức KH&CN

Về loại hình tổ chức, Luật (2000) quy định các tổ chức KH&CN bao gồm: tổ

chức NCKH, tổ chức NCKH&PTCN (gọi chung là tổ chức NC-TK); trường đại học; Tổ chức dịch vụ KH&CN Được tổ chức dưới các hình thức viện NC-TK, trung tâm NC-TK, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, và cơ sở NC-TK khác

Trong đó tổ chức NCKH được thành lập chủ yếu để thực hiện các hoạt động NCKH; tổ chức NC-TK được thành lập chủ yếu để thực hiện các hoạt động từ

NCKH đến phát triển công nghệ Quy định như vậy là quá chi tiết trong một Luật

khung, song cũng không gây cản trở gì, vì vậy, sửa Luật có thể thục hiện theo một

trong hai phương án là: (1) giữ nguyên quy định này; (2) quy định mở, đó là: tổ chức NC-TK được thành lập và hoạt động dưới hình thức và tên gọi thích hợp với loại hình tổ chức, song không được trùng tên với tổ chức KH&CN đã được đăng ký hoạt động trước đó

Luật KH&CN (2000) quy định chi tiết về các loại tổ chức NC-TK, trong đó quy định viện có 3 cấp, và quy định về thẩm quyền thành lập, nhiệm vụ của tổ chức KH&CN các cấp, và đăng ký hoạt động Như đã trình bày ở phần quản lý là phải sửa đổi triệt để điều này vì nó mang tính hành chính Phải khẳng định rõ ràng, minh bạch trong Luật về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN Luật không nên quy định cụ thể nhiệm vụ cho từng loại tổ chức NC-TK các cấp Như vậy phải sửa các Điều quy định về vấn đề trên trong Chế định này một cách căn bản Đây là các quy định đến nay không còn phù hợp nữa nên loại bỏ khỏi Luật những bất hợp lý và thiết kế một quy định có tính mở là ai thành lập thì đầu tư và quản lý tổ chức đó, tổ chức đó là loại hình gì hoạt động trong lĩnh vực nào thì được hưởng chính sách tương ứng của nhà nước

Đối với nhiệm vụ của các trường đại học, Luật giáo dục đã quy định nhiệm

vụ nghiên cứu cho các trường đại học, nếu Luật KH&CN quy định về nhiệm vụ nghiên cứu của các trường đại học, thì nên quy định theo hướng quy định rõ để các giáo sư, tiến sĩ lấy đào tạo con người làm trọng, nghiên cứu để phục vụ cho “đào tạo”, nghiên cứu cơ bản (theo nghĩa rộng bao gồm cả “nền tảng hay quy luật” của công nghệ, và gắn kết giữa đào tạo – nghiên cứu của trường với SX-KD (doanh

nghiệp) Tuy nhiên, trong Luật cũng chỉ nên quy định ở mức đủ để làm cơ sở pháp

lý để xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật

Luật KH&CN (2000) quy định các tổ chức KH&CN bao gồm: tổ chức NCKH, tổ chức NCKH&PTCN; trường đại học; Tổ chức dịch vụ KH&CN được tổ

chức dưới các hình thức: viện NC-TK , trung tâm NC&PT, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, và cơ sở NC-TK khác Quy định như vậy để phân biệt tổ chức

Trang 27

chức NC&PT khá hùng hậu, bao gồm : các tổ chức NC-TK của nhà nước ở trung

ương, các bộ ngành và của các địa phương, doanh nghiệp nhà nước ; các tổ chức

NC-TK ngoài nhà nước : của các doanh nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội, hiệp hội,

tổ chức, cá nhân) với các tổ chức khác có thực hiện một phần hoặc hoàn toàn không thực hiện NCKH&PTCN khi đó mọc ra như nấm sau mưa như viện tai- mũi họng,

viện bảo tàng Đến nay quy định như vậy là không cần thiết, hoặc nếu có quy định

thì chỉ nên quy định: cấm đặt tên trùng với tổ chức KH&CN đã thành lập trước để bảo vệ thương hiệu cho các tổ chức đó và bảo vệ người tiêu dùng sản phẩm KH&CN Vấn đề này liên qua tới quản lý các tổ chức KH&CN

Về quyền và nghĩa vụ của tổ chức KH&CN, Luật (2000) quy định tổ chức

KH&CN có rất nhiều quyền như: tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động

KH&CN; ký kết hợp đồng KH&CN; đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về KH&CN; đăng ký tham gia tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ KH&CN; thành lập tổ chức NC&PT tổ chức dịch vụ KH&CN, doanh nghiệp trực thuộc; hợp tác, liên doanh, nhận tài trợ của tổ chức, cá nhân; góp vốn bằng tiền, tài sản, giá trị quyền SHTT để tiến hành hoạt động KH&CN và hoạt động SX-KD Tổ chức KH&CN cũng có nhiều nghĩa vụ như: thực hiện hợp đồng KH&CN, thực hiện nhiệm vụ KH&CN do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giao; sử dụng có hiệu quả kinh phí đầu tư phát triển KH&CN và chuyển giao kết quả KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước; góp phần xây dựng và phát triển tiềm lực KH&CN; Thực hiện dân chủ,

bình đẳng, công khai trong việc bố trí và thực hiện các nhiệm vụ KH&CN” Các

quyền này là quyền tự nhiên, ở một số nước như Nga, trung Quốc Luật KH&CN cũng quy định một số quyền cơ bản như vậy, còn ở các nước phát triển thì họ coi

đó là quyền đương nhiên không cần quy định trong Luật KH&CN (đã quy định trong các luật khác), Việt Nam cần giữ lại các quy định này khi sửa Luật KH&CN

Sau khi có Luật (2000) một trong các loại hình là Doanh nghiệp KH&CN được quy định tại Nghị định 115 theo tinh thần là: tăng cường trách nhiệm và nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của tổ chức KH&CN và thủ trưởng tổ chức KH&CN; tạo điều kiện gắn nghiên cứu KH&CN với SX-KD và đào tạo nhân lực, đẩy nhanh quá trình xã hội hoá các hoạt động KH&CN; tập trung đầu tư có trọng điểm cho các tổ chức KH&CN của nhà nước; nâng cao hiệu quả hoạt động của các

tổ chức KH&CN; các nhà khoa học được trao một loạt quyền, trong đó có quyền nhận thu nhập ở mức không hạn chế Có nghĩa là các tổ chức NC&TK được hoạt

động hoàn toàn theo cơ chế doanh nghiệp, vấn đề này cần được bổ sung vào Luật,

tức là Luật cần quy định chi tiết hơn đủ để làm cơ sở cho việc hướng dẫn thi hành việc tổ chức thực hiện được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Luật Song đây

cũng là vấn đề liên quan tới việc sửa đổi, bổ sung một số luật khác như Luật thuế, Luật doanh nghiệp sẽ trình bày trong phần sau về hoàn thiện pháp luật

Trang 28

(3) TỔ CHỨC DỊCH VỤ KH&CN

Luật KH&CN (2000) quy định dịch vụ KH&CN là các hoạt động phục vụ việc NCKH&PTCN; các hoạt động liên quan đến SHTT, CGCN; các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức KH&CN và kinh nghiệm thực tiễn Từ các hoạt động này Luật quy định về các loại hình tổ chức dịch

vụ KH&CN, điều kiện thành lập, tổ chức và hoạt động, đăng ký hoạt động Song

Luật lại chưa quy định các loại hình tổ chức dịch vụ như tổ chức dịch vụ thực hiện

kinh doanh dịch vụ KH&CN – đây là loại hình doanh nghiệp phi vụ lợi và loại hình dịch vụ không mang tính chất kinh doanh – đây là loại hình tổ chức sự nghiệp

có thu Sửa Luật cần quy định về các loại hình dịch vụ này và chính sách ưu đãi đối với nó

Theo Luật (2000), mọi tổ chức, cá nhân đều có thể được thành lập tổ chức dịch vụ KH&CN khi có đủ các điều kiện: có mục tiêu, phương hướng hoạt động phù hợp với quy định của pháp luật; có Điều lệ tổ chức và hoạt động; có nhân lực KH&CN, cơ sở vật chất - kỹ thuật đáp ứng yêu cầu theo mục tiêu, phương hướng

và Điều lệ tổ chức và hoạt động và phải đăng ký hoạt động tại cơ quan nhà nước Các quy định này rất thoáng, cho phép pháp triển nhanh dịch vụ KH&CN để pháp triển KH&CN phục vụ pháp triển KT-XH, đây cũng chính là kỳ vọng của các nhà lập pháp khi xây dựng Luật Song thực tiễn lại diễn ra không như vậy, vì sao?

Có ý kiến cho rằng, các quy định của pháp luật như trên là có tính chất chung, cần

phải quy định rõ từng loại hình dịch vụ KH&CN là những gì như: tư vấn, môi giới, cung cấp dịch vụ CGCN, và tương đương với nó là các tổ chức dịch vụ KH&CN, CGCN, môi giới công nghệ có như vậy mới thi hành trong thực tiễn được Vì vậy cần quy định về các loại hình dịch vụ KH&CN và tổ chức dịch vụ KH&CN trong

Luật ở mức độ đủ chi tiết làm cơ sở pháp lý để xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật về chính sách ưu đãi đối với từng loại hình tổ chức dịch vụ KH&CN và các hoạt động dịch vụ KH&CN để thực hiện, như vậy Luật sẽ có tính khả thi hơn

(4) TỔ CHỨC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Các quy định về tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN của Luật khi mới ban hành được dư luận xã hội đánh giá rất cao, song trong quá trình thực hiện ngày càng thấy nhiều bất cập Nổi cộm nên mấy vấn đề lớn đó là các quy định trong Luật: chủ yếu tập trung vào việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN của nhà nước; chưa chú ý đúng mức tới hoạt động KH&CN của doanh nghiệp; chưa chú ý đúng mức tới phát triển KH&CN phục vụ phát triển NN&NT

Trang 29

Đối với nhiệm vụ KH&CN thực hiện bằng ngân sách nhà nước

Việc tổ chức thực hiện cần được Luật (2000) quy định về trách nhiệm đối với

tổ chức, cá nhân trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN: từ xác định nhiệm

vụ KH&CN, lựa chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ, kiểm tra đánh giá trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện đến ứng dụng kết quả KH&CN vào sản xuất và đời sống Các nhiệm vụ này được thực hiện dưới hình thức tuyển chọn, giao trực tiếp hoặc thông qua các Quỹ PTKH&CN Trong đó quy định nhiệm vụ KH&CN được giao trực tiếp là các nhiệm vụ KH&CN thuộc bí mật quốc gia, an ninh, quốc phòng và các nhiệm vụ mà nội dung chỉ có một tổ chức

hoặc cá nhân có đủ điều kiện về chuyên môn, trang thiết bị để thực hiện Như vậy là

đầy đủ, rõ ràng không cần sửa điều này khi sửa Luật

Đối với việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN phục vụ phát triển NNNT,

Luật (2000) chưa quy định rõ ràng những vấn đề có tính cốt tử, mà chỉ mới đề cập đến mấy khía cạnh chưa quan trọng lắm của hoạt động KH&CN trong lĩnh vực này như: chính sách ưu đãi ứng dụng kết quả KH&CN phục vụ phát triển NNNT, vùng kinh tế xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn thì được nhà nước hỗ trợ kinh phí cho

việc thực hiện, dịch vụ KH&CN cho nông dân miễn phí Sửa Luật cần có quy định

về trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN phục vụ nông nghiệp và các chính sách cụ thể cho việc thực hiện nó

Đối với nhiệm vụ KH&CN do doanh nghiệp thực hiện, việc tổ chức thực

hiện Luật (2000) chưa quy định rõ ràng những vấn đề có tính cốt tử, mà chỉ mới đề cập đến mấy khía cạnh chưa quan trọng lắm của hoạt động ĐMCN của doanh nghiệp như: doanh nghiệp thực hiện đề tài nghiên cứu thuộc hướng ưu tiên của nhà nước; ứng dụng kết quả KH&CN thì được nhà nước hỗ trợ kinh phí cho việc thực

hiện Sửa Luật cần bổ sung quy định về trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân trong

việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN của các doanh nghiệp và các chính sách cho việc thực hiện nó một cách cụ thể, rõ ràng

Luật KH&CN (2000) đã quy định, việc đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện

nhiệm vụ KH&CN phải căn cứ vào nội dung của hợp đồng KH&CN, bảo đảm

khách quan, chính xác trên cơ sở ý kiến tư vấn của Hội KH&CN chuyên ngành, do

người đứng đầu cơ quan quản lý KH&CN các cấp thành lập, quy định như vậy là

đủ, song để việc thực hiện như thế nào cho thực chất, hiệu quả, thì cần bổ sung quy

định chế tài (với cả người đánh giá và người tổ chức đánh giá) trong việc đánh giá

Đánh giá trong quá trình thực hiện nhiệm vụ KH&CN Luật (2000) không

quy định Để việc đầu tư có hiệu quả hơn cần quy định về mặt nguyên tắc việc đánh giá trong quá trình thực hiện nhiệm vụ KH&CN ngay trong Luật KH&CN

Trang 30

Sửa Luật cần bổ sung quy định về đánh giá trong quá trình thực hiện như: Cơ quan quản lý KH&CN phải tiến hành kiểm tra định kỳ và đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước về nội dung khoa học, tiến độ thực hiện và việc sử dụng kinh phí Trong trường hợp cần thiết có thể điều chỉnh nội dung nghiên cứu cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn, hoặc chấm dứt việc thực hiện nhiệm vụ đó

(5) HỢP ĐỒNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Luật KH&CN (2000) quy định về hợp đồng KH&CN là tất cả các nhiệm vụ KH&CN, hoạt động dịch vụ KH&CN phải được thực hiện thông qua hợp đồng KH&CN và giao cho Chính phủ quy định cụ thể đối với từng loại hợp đồng

Nghị định 81 quy định Hợp đồng phải có một số nội dung chủ yếu, nghĩa là

nếu thiếu những nội dung này thì hợp đồng sẽ vô hiệu Có thể nói đây là kẽ hở pháp lý để một bên nào đó tham gia hợp đồng, vì lý do nào đó, muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng sẽ, vin vào cớ không hợp pháp của hợp đồng để huỷ hợp đồng, khi hợp đồng thiếu chi tiết nào đó theo quy định của pháp Luật

Sửa Luật KH&CN, cần quy định nội dung chủ yếu của hợp đồng chỉ có tính

chất hướng dẫn không quy định bắt buộc phải đầy đủ các nội dung cứng nhắc Đồng thời cần bổ sung thêm một số quy định về chế tài cho việc thực hiện hợp đồng KH&CN vào Luật

(6) CHẾ ĐỘ TÀI CHÍNH CHO HOẠT ĐỘNG KH&CN

Về đầu tư tài chính cho phát triển KH&CN từ ngân sách nhà nước, Luật

(2000) quy định: Đầu tư cho KH&CN là đầu tư phát triển; Nhà nước dành ưu tiên

hàng đầu cho việc bố trí ngân sách KH&CN, bảo đảm tỷ lệ ngân sách nhà nước chi cho KH&CN so với tổng số chi ngân sách nhà nước tăng dần theo yêu cầu phát

triển của sự nghiệp KH&CN; cơ quan tài chính có trách nhiệm cấp phát kinh phí

đầy đủ, kịp thời, phù hợp với tiến độ kế hoạch KH&CN; cơ quan quản lý nhà nước

về KH&CN có trách nhiệm quản lý, sử dụng có hiệu quả phần ngân sách nhà nước

đầu tư cho KH&CN Ngân sách đầu tư cho KH&CN sử dụng để thực hiện các

nhiệm vụ KH&CN ưu tiên, trọng điểm, nhiệm vụ KH&CN phục vụ công ích; thực hiện nghiên cứu cơ bản có định hướng duy trì và phát triển tiềm lực KH&CN; xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các tổ chức NC&PT của Nhà nước; trợ giúp doanh nghiệp thực hiện nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ thuộc lĩnh vực ưu tiên, trọng điểm

Đây là quy định đến nay vẫn còn phù hợp, vì đã tỏ rõ thái độ của Nhà nước

trong đầu tư phát triển KH&CN Đầu tư cho KH&CN là đầu tư phát triển, quy định

này tưởng như là câu khẩu hiệu suông, song lại rất quan trọng đối với sự nghiệp phát triển KH&CN, vì, đã là đầu tư cho phát triển, thì không thể cân đong đo đếm

Trang 31

lợi ích tức thời, không thể xem xét hằng năm Nhà nước đầu tư cho KH&CN bao

nhiêu tiền và lợi nhuận từ mỗi đồng đầu tư đó là bao nhiêu Cơ quan tài chính cấp

phát kinh phí đầy đủ, kịp thời phù hợp với tiến độ kế hoạch KH&CN thì không thể

cứng nhắc cấp phát và thanh quyết toàn theo "năm tài chính" như hiện nay đang

thực hiện Tuy nhiên, các quy định này thiếu chế tài cụ thể để thực hiện, bởi vậy,

cho đến nay việc phân bổ, cấp phát kinh phí và sử dụng kinh phí cho phát triển

KH&CN chưa hiệu quả Sửa Luật không nên sửa Điều này, mà cần bổ sung điều

quy định về các chế tài cụ thể, rõ ràng, minh bạch đối cả chủ thể quản lý tài chính (người phân bổ, quản lý, cấp phát và thanh toán kinh phí) và đối tượng sử dụng tài chính trong hoạt động KH&CN để thực hiện

Luật quy định, Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư cho KH&CN Quy định này là rất phù hợp để xã hội hoá đầu tư cho KH&CN, song quá chung

chung, sửa Luật cần phải quy định rõ là khuyến khích ra sao và bằng cơ chế chính

sách cụ thể gì, đối với từng loại hình đầu tư cho KH&CN để xã hội hoá đầu tư cho

phát triển KH&CN, có như vậy mới thi hành được trong thực tiễn

Luật quy định Doanh nghiệp: được dành một phần vốn để đầu tư phát triển KH&CN nhằm ĐMCN và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm; vốn đầu tư phát triển KH&CN được tính vào giá thành sản phẩm; được lập Quỹ PTKH&CN để chủ động đầu tư phát triển KH&CN; đầu tư nghiên cứu những vấn đề KH&CN thuộc lĩnh vực ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước được xét tài trợ một phần kinh phí nghiên cứu Doanh nghiệp: được tính các khoản chi phí phát triển KH&CN vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế, bao gồm các khoản chi cho nghiên cứu KH&CN, mua thông tin, tư liệu công nghệ, SHCN và chi phí cho các hoạt động sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất; các khoản đầu tư về công nghệ tạo

thành tài sản cố định được phân bổ trừ dần vào chi phí sản xuất Các quy định này

đến nay vẫn còn phù hợp, khi sửa luật nên chi tiết hoá hơn các quy định này để có tính khả thi

Luật (2000) quy định: Nhà nước dành ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sách KH&CN, bảo đảm tỷ lệ ngân sách nhà nước chi cho KH&CN so với tổng số chi ngân sách nhà nước tăng dần theo yêu cầu phát triển của sự nghiệp KH&CN; cơ quan tài chính có trách nhiệm cấp phát kinh phí đầy đủ, kịp thời, phù hợp với tiến

độ kế hoạch KH&CN; cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN có trách nhiệm quản

lý, sử dụng có hiệu quả phần ngân sách nhà nước đầu tư cho KH&CN Đây là quy định đến nay vẫn còn phù hợp, cơ quan tài chính cấp phát kinh phí đầy đủ, kịp thời phù hợp với tiến độ kế hoạch KH&CN thì không thể cứng nhắc cấp phát và thanh quyết toàn theo "năm tài chính" như hiện nay đang thực hiện Tuy nhiên, các quy

Trang 32

định này thiếu chế tài cụ thể để thực hiện Sửa Luật không nên sửa Điều này, mà

cần bổ sung điều quy định về các chế tài cụ thể, rõ ràng, minh bạch đối cả chủ thể quản lý tài chính (người phân bổ, quản lý, cấp phát và thanh toán kinh phí) và đối tượng sử dụng tài chính trong hoạt động KH&CN để thực hiện

Luật quy định, Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư cho KH&CN Quy định này là rất phù hợp để xã hội hoá đầu tư cho KH&CN, song quá chung

chung, sửa Luật cần phải quy định rõ là khuyến khích ra sao và bằng cơ chế chính

sách cụ thể gì, đối với từng loại hình đầu tư cho KH&CN để xã hội hoá đầu tư cho

phát triển KH&CN, có như vậy mới thi hành được trong thực tiễn

Về thuế, tín dụng cho hoạt động KH&CN Luật KH&CN (2000) cho thấy các quy định này thực chất chỉ gom các quy định ưu đãi về thuế rải rác trong các Luật thuế, song lấy ở mức cao nhất về ưu đãi Quy định như vậy tiện cho người sử dụng

(áp dụng Luật) song có vẻ trùng lặp với quy định trong các luật thuế, khi sửa Luật

có thể tực hiện theo 1 trong 2 phương án: loại bỏ các quy định ưu đãi về thuế khỏi Luật; cùng với việc loại bỏ các quy định về thuế đã được các văn bản thuế quy định

là quy định những ưu đãi gì có thính đột phá và có tính đặc thù khác với các quy định về thuế hiện hành để Quốc hội quyết định, như vậy sẽ có ý nghĩa hơn

(7) CƠ CHẾ KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Về đào tạo nhân lực KH&CN, Luật(2000) đã quy định hằng năm, Nhà nước

dành một khoản ngân sách để đào tạo, đào tạo lại nhân lực về KH&CN ở trong và ngoài nước: chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, những người có trình độ cao, kỹ thuật viên lành nghề: tổ chức, cá nhân được tạo điều kiện để tự đào tạo, tham gia vào việc đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về KH&CN, cử hoặc cấp học bổng cho công dân Việt Nam đi học tập, nâng cao trình độ chuyên môn ở trong và ngoài

nước Điều này đã quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc đào tạo nhân

lực KH&CN cho đất nước, đồng thời cũng mở ra hướng xã hội hoá đào tạo nhân

lực KH&CN, và vì thế quy định này đến nay và trong những năm tiếp theo vẫn rất

phù hợp, Sửa luật cần giữ nguyên điều này Đồng thời cần có chính sách rõ ràng

về đạo tạo có mục tiêu gắn với chiến lược phát triển KT-XH của đất nước của từng thời kỳ và đào tạo để nâng cao dân trí của xã hội nói chung và đào tạo theo yêu cầu

của xã hội Cần có chính sách rõ ràng về đạo tạo có mục tiêu gắn với chiến lược

phát triển KT-XH của đất nước của từng thời kỳ và đào tạo để nâng cao dân trí của

xã hội nói chung Cho nên cần bổ sung quy định cụ thể cho từn loại hình đào tạo khi sửa Luật

Luật (2000) quy định Nhà nước có chính sách thoả đáng về lương, điều kiện

Trang 33

trách nhiệm xây dựng và thực hiện các chính sách ưu đãi đối với cá nhân hoạt động KH&CN ở cơ sở, chú trọng địa bàn có điều kiện KT-XH khó khăn và đặc biệt khó khăn Đây là vấn đề rất quan trọng cho vấn đề phát triển bền vững, song cho đến nay Nhà nước ta chưa làm được gì nhiều để thực hiện điều này, phải chăng quy định như

vậy là thiếu thực tiễn Nếu vậy thì nên theo hướng vào việc quy định là trả công đúng

với giá trị của sản phẩm KH&CN của nhà khoa học mà loại bỏ Điều này khi sửa Luật

Luật (2000) đã quy định là Chính phủ phảỉ có kế hoạch huy động các nguồn vốn để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của các tổ chức KH&CN quan trọng; khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ NC&PTCN; đầu tư xây dựng một số phòng thí nghiệm trọng điểm đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế trong các lĩnh vực KH&CN ưu tiên, trọng điểm; ban hành Quy chế sử dụng phòng thí nghiệm trọng điểm để thu hút các nhà khoa học

đến làm việc Quy định này thiếu chế tài nên tính khả thi kém,cần bổ sung chế tài

cụ thể để thực hiện

Về thống kê KH&CN Luật (2000) đã quy định hệ thống tiêu chí thống kê

KH&CN được quy định thống nhất trong cả nước Các Bộ/UBND các cấp, tổ chức KH&CN , cá nhân hoạt động KH&CN có trách nhiệm báo cáo đầy đủ, trung thực

số liệu thống kê KH&CN cho cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN có thẩm quyền Thực hiện Điều này, Chính phủ đã ban hành Nghị định về thống kê

KH&CN Ở nước ta đã có pháp lệnh về thống kê, nên chăng sửa luật không cần

quy định Điều này trong Luật KH&CN, hoặc trong Luật quy định về hệ thống thống kê KH&CN trong đó quy định trách nhiệm của các cơ quan trong hoạt động thống kê KH&CN và các chế tài về báo cáo thống kê sẽ khả thi hơn

Cơ chế quản lý nhân lực Luật cần được đổi mới theo hướng mở rộng hơn

quyền chủ động cho cán bộ KH&CN trong việc ký kết hợp đồng nghiên cứu KH&CN, trong hoạt động kiêm nhiệm và hoạt động hợp tác quốc tế Chế độ hợp đồng lao động đã được mở rộng hơn đối với các tổ chức KH&CN Song hạn chế

của cơ chế quản lý cán bộ KH&CN là chưa thực sự tạo động lực để phát huy năng

lực sáng tạo của cán bộ khoa KH&CN Thiếu cơ chế, biện pháp cụ thể xây dựng và nâng cao vai trò của cán bộ KH&CN đầu ngành và các tập thể KH&CN mạnh Chưa có các quy định về biện pháp, chính sách cụ thể khuyến khích để thu hút lực lượng KH&CN ngoài nước tham gia đóng góp vào sự nghiệp phát triển đất nước Chưa có các quy định cụ thể và hiệu quả để sử dụng nhân lực KH&CN Chủ nghĩa bình quân và tư duy hành chính kéo dài nhiều năm qua là một trong những nguyên nhân cản trở sức sáng tạo và nhiệt huyết của các nhà khoa học, cần phải có biện pháp, chính sách để tạo môi trường làm việc thuận lợi cho các nhà khoa học,

Trang 34

cơ chế đảm bảo thu nhập thoả đáng đối với nhân lực KH&CN, tạo cơ hội thăng tiến chính đáng trong nghề nghiệp, tôn vinh xứng đáng các nhà khoa học có công lao -

cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sáng tạo chính là giải pháp quan trọng để thúc đẩy phát triển KH&CN Vì như vậy, các nhà khoa học có tài năng, có cống hiến thực sự có thể sống và làm việc bằng kết quả lao động sáng tạo của mình, đồng thời chịu trách nhiệm về kết quả KH&CN do mình tạo ra

Như vậy, về cơ chế sử dụng nhân lực KH&CN sửa Luật cần quy định thực hiện theo cơ chế thi trường theo cơ chế thi trường tứcc là trao quyền quyết định cho người sử dụng lao đông khoa học quyết định song không được ở dưới mức tối thiểu của từng giai đoạn

II NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT DỰ THẢO LUẬT KH&CN (SỬA ĐỔI) VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN LUẬT VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KH&CN

1 Đề xuất những phương án sửa đổi bổ sung luật KH&CN

Nhiều quy định cơ bản trong Luật KH&CN (2000) vẫn còn phù hợp với hoạt động KH&CN của Việt Nam và điều chỉnh pháp luật về KH&CN của các nước trên thế giới và không có rào cản pháp lý nào lớn khi Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới Vì vậy, không nên ban hành Luật KH&CN mới, mà chỉ sửa đổi, bổ sung cho hoàn thiện hơn

Về những quy định cần loại bỏ khỏi Luật Luật KH&CN được ban hành trong

điều kiện thực tế về truyền thống xây dựng luật của Việt Nam khi đó là xây dựng các đạo luật là phải có đầy đủ mọi thứ (đủ các nội dung cho đủ lễ bộ của một đạo luật), cho nên luật nào (trong đó có Luật KH&CN) cũng có đủ các chương, điều về quản lý nhà nước, thanh tra, khen thưởng, xử phạt v.v dẫn đến tình trạng trùng lắp, chồng lấn giữa các đạo luật trong hệ thống pháp luật của Việt Nam Đồng thời trong các đạo luật có nhiều quy định không có tính quy phạm mà là tuyên bố chính sách chỉ để làm nguồn cho việc xây dựng văn bản khác không khả thi Đến nay, việc xây dựng các đạo Luật của Việt Nam đã đổi mới và hoàn thiện hơn rất nhiều Sửa Luật KH&CN cần phải theo xu thế này Đó là:

Về việc loại bỏ khỏi Luật những quy định không có tính quy phạm, cụ thể là

bỏ 8 Điều sau: 3- Mục tiêu của hoạt động KH&CN, 4- Nhiệm vụ của hoạt động KH&CN, 28- Ứng dụng kết quả KH&CN để đổi mới chính sách và cơ chế quản lý KH-XN, 29- Ứng dụng kết quả KH&CN trong doanh nghiệp, 42 Chính sách thuế đối với hoạt động KH&CN, 52 Thanh tra KH&CN, 53 Khen thưởng

Trang 35

Về kết cấu của Luật Về cơ bản, kết cấu của Luật KH&CN (2000) là khoa học,

lôgíc và hợp lý Tuy nhiên, Luật KH&CN cũng có đủ các chương, điều về quản lý nhà nước đối với hoạt động KH&CN sửa Luật cần phải quy định theo hướng khả thi hơn Có 2 phương án để sửa vấn đề này là:

Phương án 1, sửa chương này thành Chương: Trách nhiệm pháp lý của cơ quan

quản lý KH&CN, để quy định cụ thể trách nhiệm của từng cơ quan quản lý cụ thể trong việc thi hành các quy định cụ thể nào của chính Luật này Đề án thực hiện theo phương án này

Phương án 2, loại bỏ hẳn chương này khỏi Luật Đề án đề nghị xem xét cân

nhắc để có quyết định cuối cùng

Liên quan đến kết cấu của Luật, Về Dịch vụ KH&CN cũng có 2 phương án:

phương án 1: Chỉ sửa đổi, bổ sung các quy định trong Luật cho có tính khả thi

Dự án thực hiện theo phương án này

phương án 2: Kết cấu lại Chương tổ chức KH&CN, cá nhân hoạt động

KH&CN thành 4 mục là: Tổ chức NC-TK; Tổ chức dịch vụ KH&CN; Trường đại học, cao đẳng; cá nhân hoạt động KH&CN để quy định về: loại hình tổ chức, hoạt động, quyền, nghĩa vụ của từng loại đối tượng cụ thể

Về những vấn đề sửa đổi bổ sung cụ thể trong Luật Đối với từng điều cụ thể

đề xuất phương án sửa đổi, bổ sung, cụ thể như sau:

Chương I: Quy định chung

Điều 1 Phạm vi điều chỉnh Bổ sung thêm đổi mới và phát triển công nghệ

trong sản xuất - kinh doanh Vì đây là Luật KH&CN, cần quy định cả hoạt động KH&CN trong sản xuất - kinh doanh Và Dự thảo Luật cũng đã bổ sung thêm một

số điều về tổ chức và hoạt động KH&CN của doanh nghiệp, và chính sách của nhà nước đối với vấn đề này (trong cả doanh nghiệp trong công nghiệp và nông nghiệp)

Bổ sung Điều 2 Đối tượng áp dụng: Để quy định về việc Luật này được áp

dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động KH&CN tại Việt Nam

Sửa và bổ sung một số thuật ngữ có sử dụng trong Luật tại Điều 2 (cũ) 3 mới

cho phù hợp với thông lệ quốc tế

Bổ sung Điều 4 Áp dụng Luật KH&CN và pháp luật có liên quan: Để quy

định về (1) Hoạt động KH&CN phải tuân theo Luật KH&CN và pháp luật có liên quan (2) Hoạt động KH&CN đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng của luật đó (3) Hoạt động KH&CN không được quy định trong luật KH&CN và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự (4) Trong trường hợp

Trang 36

điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó

Sửa Điều 49 (cũ) thành Điều 3 (mới) về nội dung quản lý nhà nước về

KH&CN để quy định tại chương này

Bổ sung vào Điều 5 cũ thêm 2 nguyên tắc 1 và 2 về dân chủ và bình đẳng

trong hoạt động KH&CN của toàn xã hội như vậy sẽ toàn diện hơn Cụ thể là:

Điều 6 Nguyên tắc hoạt động KH&CN

1 Nhà nước tôn trọng nguyên tắc kết hợp hoạt động KH&CN phục vụ mục tiêu quốc gia với khuyến khích tự do tìm tòi, có kế hoạch cho từng giai đoạn cụ thể và phát triển nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu công nghệ nguồn, nghiên cứu công nghệ công ích xã hội, thực hiện phát triển bền vững

2 Trong hoạt động KH&CN, phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

a) Hoạt động KH&CN phải phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh;

b) Xây dựng và phát huy năng lực nội sinh về KH&CN kết hợp với việc tiếp thu có chọn lọc các thành tựu KH&CN của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam;

c) Kết hợp chặt chẽ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ với khoa học xã hội và nhân văn; gắn nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm với giáo dục và đào tạo, với hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát triển thị trường công nghệ;

d) Phát huy khả năng lao động sáng tạo của mọi tổ chức, cá nhân;

đ) Trung thực, khách quan, đề cao đạo đức nghề nghiệp, tự do sáng tạo, dân chủ, tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Chương II: TỔ CHỨC KH&CN, CÁ NHÂN HOẠT ĐỘNG KH&CN

Tại chương này, bỏ các quy định về phân tổ chức KH&CN thành các cấp: cấp quốc gia, cấp bộ, cấp cơ sở và sửa đổi ,bổ sung các điều này theo hướng quy định

mở để có thể bao quát được các loại hình tổ chức KH&CN của mọi thành phần kinh tế, cụ thể là:

Ghép Điều 10 với Điều 11 thành Điều 10 để quy định việc các tổ chức NC-TK

1 Các tổ chức NC-TK được tổ chức dưới các hình thức: viện NC-TK, trung tâm NC-TK , phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm

Trang 37

a) Tổ chức NC-TK của nhà nước (ở trung ương) chủ yếu thực hiện các nhiệm

vụ KH&CN ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối, chính sách, pháp luật; tạo ra các kết quả KH&CN mới,

có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về KH&CN

b) Tổ chức NC-TK khác chủ yếu thực hiện các hoạt động KH&CN theo mục

tiêu, nhiệm vụ do tổ chức, cá nhân thành lập xác định

Ở chương này bỏ các Điều về thẩm quyền quyết định thành lâp và phân chia viện thành 3 các cấp Vì như vậy là không hợp lý Các quy định khác nên giữ nguyên như cũ

Chương III : HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ kết cấu thành 2 mục

là NC-TK, ỨNG DỤNG KẾT QỦA KH&CN và PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH để bổ sung các điều quy định về các nhóm vấn đề phát triển KH&CN trong sản xuất kinh doanh

Bổ sung vào các điều từ 19 (cũ) đến điều 21 quy định về tổ chức thực hiện

nhiệm vụ KH&CN không sử dụng NSNN cho toàn diện hơn

Sửa đổi, bổ sung quy định về hợp đồng KH&CN(Điều 23,24) trong đó bổ sung

về các loại hợp đồng và nội dung chủ yếu của hợp đồng KH&CN

Thêm Điều 25 để quy định về kiểm tra, đánh giá trong quá trình thực hiện nhiệm vụ KH&CN

Thêm điều 29 để quy định về Chuyển giao kết quả NC-TK được tạo ra bằng

ngân sách nhà nước, cụ thể là:

1 Kết quả NC-TK sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật và kinh phí từ ngân sách nhà nước mà kết quả đó được cấp văn bằng bảo hộ sở hữu trí tuệ thì khi chuyển giao phải tuân theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ

2 Kết quả NC-TK sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước mà không thuộc đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều này thì thực hiện theo quy định sau:

a) Nhà nước giao quyền chủ sở hữu công nghệ đối với kết quả NC-TK bằng ngân sách nhà nước, quy định tại khoản 1 Điều 30 cho tổ chức chủ trì NC-TK đó, trừ trường hợp có thoả thuận khác giữa tổ chức NC-TK và cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

b) Chủ sở hữu kết quả NC-TK bằng ngân sách nhà nước có nghĩa vụ sử dụng

và chuyển giao công nghệ đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo

an ninh, quốc phòng, phòng bệnh, chữa bệnh hoặc các nhu cầu cấp thiết khác của

xã hội

c) Trường hợp chủ sở hữu không đáp ứng được yêu cầu quy định tại Điểm b, Khoản 2 Điều này, thì cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN có quyền quyết định chuyển giao quyền sử dụng kết quả NC-TK cho tổ chức khác, hoặc thu hồi quyền chủ sở hữu công nghệ đối với kết quả NC-TK đã giao (cho tổ chức NC-TK đó)

Thêm điều 31 để quy định về Bảo mật, mua công nghệ, xuất khẩu CN, nhập

công nghệ:

Trang 38

1 Nhà nước thực hiện chế độ bảo mật KH&CN, bảo hộ bí mật KH&CN có liên quan đến bí mật an toàn và lợi ích quốc gia

2 Đối với các sản phẩm công nghệ, dịch vụ KH&CN do tổ chức, cá nhân trong nước tự chủ sáng tạo hoặc sản phẩm, dịch vụ nhà nước đặc biệt quan tâm, trong điều kiện tính năng, chỉ tiêu kỹ thuật có thể thỏa mãn yêu cầu của Nhà nước, thì Nhà nước sẽ mua lần đầu để áp dụng vào sản xuất và đời sống

3 Sản phẩm mà Nhà nước định mua đang dự định NC-TK, cơ quan nhà nước

có thẩm quyền phải thực hiện theo phương thức tuyển chọn để xác định tổ chức KH&CN hoặc doanh nghiệp sẽ tiến hành NC-TK để đặt hàng

4 Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân nhập công nghệ cao mới và máy móc thiết bị công nghệ cao từ nước ngoài để nắm vững, cải tiến và sáng tạo công nghệ mới

5 Nhà nước có kế hoạch phân bổ và sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước

để nhập khẩu công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, trang bị tiên tiến để nắm vững, cải tiến và sáng tạo công nghệ mới

6 Nhà nước thực hiện chế độ quản lý xuất khẩu sản phẩm KH&CN như giống sinh vật, giống di truyền quý, hiếm, sắp có nguy cơ tuyệt chủng

Thêm điều 33 để quy định về Đánh giá hoạt động KH&CN, cụ thể là:

1 Bộ KH&CN quy định cụ thể các tiêu chí, phương pháp, trình tự và việc tổ chức đánh giá hoạt động KH&CN, các tổ chức KH&CN

2 Cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN các cấp theo thẩm quyền phải tiến hành kiểm tra, đánh giá hoạt động KH&CN thuộc lĩnh vực quản lý

Thêm mục Mục 2 là PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ TRONG SẢN XUẤT, KINH

DOANH

Điều 34 Doanh nghiệp đầu tư phát triển KH&CN

1 Nhà nước xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống đổi mới công nghệ quốc gia, trong đó lấy doanh nghiệp làm trung tâm, hoạt động theo cơ chế thị trường, kết hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp với tổ chức KH&CN; có chính sách hỗ trợ, thúc đẩy hoạt động sáng tạo công nghệ mới của doanh nghiệp, phát huy quyền chủ động của doanh nghiệp trong việc đổi mới và hoàn thiện công nghệ

2 Doanh nghiệp được dành một phần vốn để đầu tư phát triển KH&CN nhằm nâng cao trình độ công nghệ, đổi mới công nghệ, đổi mới và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm Vốn đầu tư cho phát triển KH&CN của doanh nghiệp được tính vào giá thành sản phẩm

3 Doanh nghiệp được dành tới 10% doanh thu trước thuế để lập Quỹ phát triển KH&CN để chủ động đầu tư phát triển KH&CN

4 Doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu những vấn đề KH&CN thuộc lĩnh vực ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước, được xét tài trợ một phần kinh phí để nghiên cứu vấn đề đó

Trang 39

5 Doanh nghiệp của nhà nước phải có kế hoạch đổi mới, hoàn thiện công nghệ và sản phẩm Người đứng đầu doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về tiến bộ công nghệ của doanh nghiệp Tiêu chí đánh giá công lao, thành tích của người phụ trách doanh nghiệp phải có các nội dung về đầu tư sáng tạo mới, xây dựng năng lực sáng tạo mới, hiệu quả sáng tạo mới

6 Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sau đây: a) Xây dựng tổ chức NC-TK, dịch vụ KH&CN của doanh nghiệp;

b) Cùng với doanh nghiệp khác hoặc tổ chức KH&CN liên hợp thành lập tổ chức NC-TK, hoặc bằng phương thức ủy thác NC-TK các đề tài, dự án KH&CN; c) Bồi dưỡng, thu hút và sử dụng cán bộ KH&CN tại doanh nghiệp;

d) Cùng tổ chức NC-TK hoặc cơ quan đào tạo, phối hợp bồi dưỡng chuyên gia công nghệ, nhân viên kỹ thuật chất lượng cao;

đ) Thu hút sinh viên tốt nghiệp ở các trường đại học, trường cao đẳng nghề về làm việc tại doanh nghiệp;

e) Nắm vững, làm chủ và thích nghi đối với công nghệ nhập

g) Gia tăng đầu tư cho hoạt động NC-TK, ĐMCN, hoàn thiện công nghệ; h) Tự tổ chức thực hiện các đề tài, đề án NC-TK

7 Kinh phí NC-TK phát sinh khi doanh nghiệp nghiên cứu công nghệ mới, sản phẩm mới được tính vào thu nhập trước thuế để khấu trừ thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp Máy móc, thiết bị dùng cho NC-TK của doanh nghiệp được thực hiện chế độ khấu hao nhanh

Điều 35 Phát triển KH&CN phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn

1 Nhà nước tập trung đầu tư và có chính sách khuyến khích và hỗ trợ nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng đối với KH&CN nông nghiệp; truyền bá và phổ cập kiến thức KH&CN nông nghiệp, thúc đẩy việc chuyển giao và ứng dụng kết quả KH&CN về nông nghiệp để phát triển nông nghiệp và nông thôn

2 Chính quyền nhân dân từ cấp huyện trở lên phải áp dụng các biện pháp để:

a) Hỗ trợ tổ chức NC-TK khoa học kỹ thuật nông nghiệp mang tính công ích, thực hiện NC-TK và ứng dụng giống mới và kỹ thuật mới trong nông nghiệp

b) Khuyến khích, hỗ trợ và hướng dẫn các tổ chức KH&CN không thuộc nhà nước cung cấp các dịch vụ KH&CN để phát triển ngành trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy sản;

c) Bồi dưỡng, đào tạo kiến thức KH&CN thích hợp cho người lao động nông nghiệp

Chương IV: CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM PHÁT TRIỂN KH&NG

Bổ sung vào điều tiêu chí xét bổ nhiệm: Điều 38 Chức vụ khoa học

Trang 40

1 Chức vụ khoa học được thực hiện thống nhất trong cả nước, gồm có trợ lý nghiên cứu, nghiên cứu viên, nghiên cứu viên chính, nghiên cứu viên cấp cao Cá nhân hoạt động KH&CN tham gia giảng dạy, đào tạo đại học, sau đại học được xét

bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư theo quy định của Luật giáo dục

2 Căn cứ để xét bổ nhiệm chức vụ khoa học gồm có:

a) Tài năng, quá trình đào tạo, sự cống hiến và thời gian hoạt động KH&CN; b) Người có công trình nghiên cứu KH&CN xuất sắc hoặc được giải thưởng cao về KH&CN được ưu tiên xét bổ nhiệm vào chức vụ khoa học cao hơn, không phụ thuộc vào chức vụ đang giữ và thời gian hoạt động KH&CN

Sửa Điều 43 thành Điều 49 Tín dụng đối với hoạt động KH&CN

1 Nhà nước khuyến khích và thực hiện tín dụng hỗ trợ phát triển ứng dụng kết quả nhiên cứu KH&CN vào sản xuất và đời sống, khởi lập doanh nghiệp KH&CN mới Bộ Tài chính có trách nhiệm quy định cơ chế cụ thể để thực hiện

2 Cơ quan tài chính trong phạm vi nghiệp vụ tài chính của mình phải ưu tiên cung cấp dịch vụ tài chính để phát triển, ứng dụng công nghệ cao mới

3 Những chương trình, đề tài, dự án KH&CN có yêu cầu sử dụng vốn lớn

được ưu tiên xét cho sử dụng vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

Chương V : HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Thêm một quy định về trách nhiệm của cơ quan đại diện nước CHXHCN Việt Nam trong việc hỗ trợ cho hoạt động về KH&CN

Thay Chương VI: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KH&CN bằng TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KH&CN

Như đã trình bày ở phần đầu là có 2 phương án theo đó phương án đổi mới triệt để thì nên bỏ chương này Dự thảo được xây dựng theo phương án quy định trách nhiệm đối với từng cơ quan quản lý đối với việc thi hành Luật KH&CN cụ thể là:

Điều 49 Trách nhiệm của Chính phủ

1 Thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động KH&CN

2 Quy định chi tiết và hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện Luật KH&CN

3 Ban hành cơ chế, chính sách cụ thể khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động KH&CN

4 Phân công, phân cấp trách nhiệm cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động KH&CN

5 Chỉ đạo xây dựng và ban hành chiến lược, kế hoạch, chương trình KH&CN trọng điểm quốc gia, biện pháp, cơ chế, chính sách thúc đẩy hoạt động KH&CN, đổi mới công nghệ phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước

6 Ban hành các quy định về xử lý vi phạm trong hoạt động KH&CN; quy định các giải thưởng, các hình thức khen thưởng kịp thời về vật chất và tinh thần cho các tổ chức cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động KH&CN

Ngày đăng: 15/04/2014, 10:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Hoàng Ngọc Doanh, Báo cáo khoa học Đề tai "Nghiên cứu luận cứ khoa học cho việc dửa đổi, bổ sung Luật KH&CN", Viện CL&CSKH&CN năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu luận cứ khoa học cho việc dửa đổi, bổ sung Luật KH&CN
3. Vụ Pháp chế, Báo cáo tổng hợp Đề án "Nghiên cứu so sánh các quy định của Luật KH&CN với yêu cầu của cơ chế quản lý kinh tế mới về KH&CN", 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh các quy định của Luật KH&CN với yêu cầu của cơ chế quản lý kinh tế mới về KH&CN
4. Nghiêm Minh Hoà, Báo cáo Đề tài "Đánh giá thực trạng cơ chế tổ chức thực hiện các chương trình KHCN", 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng cơ chế tổ chức thực hiện các chương trình KHCN
5. Hoàng Ngọc Doanh, Báo cáo Đề tài "Nghiên cứu sự phù hợp của pháp luật về KH&CN với pháp luật về kinh tế của Việt Nam", 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự phù hợp của pháp luật về KH&CN với pháp luật về kinh tế của Việt Nam
6. Hoàng Ngọc Doanh, Báo cáo Đề tài "Nghiên cứu phương pháp đánh giá nhiệm vụ KH&CN và khuyến nghị các biện pháp áp dụng cho Việt Nam", 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phương pháp đánh giá nhiệm vụ KH&CN và khuyến nghị các biện pháp áp dụng cho Việt Nam
7. Hoàng Ngọc Doanh, Báo cáo Đề tài "Nghiên cứu phương pháp luận đánh giá KH&CN", 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phương pháp luận đánh giá KH&CN
8. Hoàng Ngọc Doanh, Báo cáo Đề tài "Nghiên cứu nguyên tắc và phương thức hoạt động của Quỹ PTKH&CN Quốc gia", 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nguyên tắc và phương thức hoạt động của Quỹ PTKH&CN Quốc gia
1. Bộ KH&CN, Khoa học và công nghệ Việt Nam 2004, Hà Nội 2005 Khác
9. Quốc hội nước CHXHCN VN, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, NXB Lao động, Hà Nội 2005 Khác
10. Quốc hội nước CHXHCN VN, Luật chuyển giao công nghệ năm 2006.NXB Lao động, Hà Nội 2006 Khác
11. Quốc hội nước CHXHCN VN, Luật giáo dục và văn bản hướng dẫn thi hành luật.NXB Lao động, Hà Nội 2005 Khác
12. Quốc hội nước CHXHCN VN, Luật doanh nghiệp năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật.NXB Lao động, Hà Nội 2005 Khác
14. Quốc hội Mỹ, Luật về Chính sách KH&CN Hoa kỳ 1976 15. Quốc hội Mỹ, Luật ĐMCN tevenson - Wydler (1980) Khác
17. Quốc hội Mỹ, Luật CGCN cạnh tranh quốc gia 1989, 18. Quốc hội Mỹ, Luật tiến bộ và CGCN Quốc gia, 1996, 19. Quốc hội Mỹ, Luật thương mại hoá CGCN 2000 20. Quốc hội Mỹ, Luật CGCN doanh nghiệp nhỏ (1984) Khác
21. Quốc hội Mỹ, Luật nghiên cứu hợp tác quốc gia (1984) Khác
22. Quốc hội Mỹ, Luật Pa-tăng & nhãn hiệu hàng hoá Bayh-Dole (1980) Khác
23. Quốc hội Pháp, Lụât về nghiên cứu và phát triển công nghệ của CH Pháp (1983) 24. Quốc hội Pháp, Luật về định hướng và lập chương trình cho NC-TK công nghệcủa CH Pháp (1989) Khác
33. Quốc vụ Viện Trung Quốc, Luật ngoại thương (2004) Khác
34. Quốc hội Hàn quốc, Luật thúc đẩy PTKH&CN Hàn quốc (1968 sửa 2000) 35. Quốc hội Hàn quốc, Luật khuyến khích công nghệ kỹ thuật (1992) Khác
36. Quốc hội Hàn quốc, Luật khuyến khích phát triển công nghệ (1972, sửa 2000) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w