Nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao được ưu đãi, hỗ trợ như sau: a Giao đất không thu tiền sử dụng đất, miễn thuế sử dụng đất
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO TỔNG HỢP
Đề án:
Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn
về hoạt động công nghệ cao để hướng dẫn thi hành
Luật Công nghệ cao
Những người tham gia thực hiện:
TS Đặng Duy Thịnh (Chủ nhiệm Đề án)
KS Hoàng Ngọc Doanh
KS Nguyễn Xuân Hiếu
TS Đinh Thế Phong ThS Bùi Văn Sỹ ThS Nuyễn Thị Phương Mai
CN Nguyễn Thị Thu Hà
7828
31/3/2010
Hà Nội, tháng 12 năm 2009
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU CHƯƠNG I Nội dung, cơ sở khoa học và phương pháp xây dựng Nghị
định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật công nghệ cao 4
I Nội dung của Nghị định 4
1 Khuyến khích hoạt động ứng dụng công nghệ cao 4
2 Khuyến khích hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao 5
3 Khuyến khích chuyển giao công nghệ cao 5
4 Phát triển thị trường công nghệ cao, thông tin, dịch vụ hỗ trợ hoạt động công nghệ cao 5
5 Khuyến khích sản xuất sản phẩm công nghệ cao 5
6 Khuyến khích thành lập doanh nghiệp công nghệ cao 6
7 Thúc đẩy ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao 6 8 Khuyến khích đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao 7
9 Khuyến khích phát triển cơ sở đào tạo nhân lực công nghệ cao 7
10 Khuyến khích phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ cao 8
11 Thủ tục, hồ sơ thành lập khu công nghệ cao 8
12 Tổ chức, quản lý khu công nghệ cao 8
II Cơ sở khoa học và phương pháp xây dựng Nghị định 8
CHƯƠNG II Chính sách khuyến khích và thực tiễn quản lý hoạt động công nghệ cao một số nước 11
I Kinh nghiệm của Hoa kỳ 11
I.1 Cơ quan quản lý phát triển doanh nghiệp nhỏ (SBA) 11
I.2 Chương trình tài trợ cho NC&PT của doanh nghiệp nhỏ (SBIR) 12
I.3 Chương trình tài trợ CGCN doanh nghiệp nhỏ (STTR) 13
1.4 Quỹ hỗ trợ đổi mới công nghệ Hawai (Mỹ) 14
II Kinh nghiệm của Đức 15
II.1 Hỗ trợ NC&PT công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao 15
II.2 Hỗ trợ thành lập DN và phát triển các doanh nghiệp trẻ 16
II.3 Hỗ trợ nhân lực NC&PT của DNVVN 16
III Kinh nghiệm của Thụy sỹ 18
IV Kinh nghiệm của New Zealand 22
Trang 3CHƯƠNG III Hiện trạng chính sách khuyến khích hoạt động công nghệ
cao của Việt Nam và các đề xuất hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật Công nghệ cao 27
I Chính sách khuyến khích hoạt động NC&PT công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao 27
1 Chính sách khuyến khích phát triển NC&PT CNC 27
2 Chính sách thúc đẩy hoạt động ứng dụng CNC 32
II Chính sách khuyến khích chuyển giao, ươm tạo và thành lập doanh nghiệp công nghệ cao 36
1 Chính sách khuyến khích chuyển giao công nghệ cao 36
2 Chính sách khuyến khích ươm tạo, thành lập doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 39
III Chính sách phát triển nhân lực và hạ tầng kỹ thuật cho hoạt động công nghệ cao 45
1 Chính sách phát triển và sử dụng nhân lực công nghệ cao 45
1.1 Thực trạng đào tạo nhân lực công nghệ cao ở Việt Nam 45
1.2 Hiện trạng nhân lực trong lĩnh vực công nghệ cao 46
1.3 Chính sách phát triển nhân lực công nghệ cao 47
1.4 Chính sách sử dụng, đào tạo nhân lực CNC 48
2 Chính sách phát triển hạ tầng kỹ thuật cho hoạt động CNC 50
2.1 Chính sách hiện hành về phát triển khu CNC 50
2.2 Mục tiêu của Khu công nghệ cao theo quy định của Luật CNC 52
2.3 Chức năng của Khu công nghệ cao theo quy định của Luật CNC 52
2.4 Quản lý đầu tư vào Khu công nghệ cao theo quy định của Luật CNC 52
IV Tổ chức, quản lý khu công nghệ cao 54
1 Quan điểm phân cấp quản lý các khu CNC 54
2 Hiện trạng quản lý các khu CNC do Nhà nước đầu tư 54
3 Tổ chức quản lý Khu CNC 56
KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
I VĂN BẢN PHÁP LUẬT 58
II SÁCH, TẠP CHÍ, BÁO CÁO TỔNG KẾT 59
PHỤ LỤC 61
I Dự thảo 1 Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật CNC
II Dự thảo 2 Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật CNC III Tóm tắt về các ưu đãi áp dụng tại một số dự án trọng điểm tại Việt Nam
Trang 4MỞ ĐẦU
Ngày 13/11/2008, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XII tại kỳ họp thứ 4 đã thông qua Luật công nghệ cao (Luật số 21/2008/QH12) Luật gồm 35 Điều quy đinh về hoạt động công nghệ cao (CNC), chính sách, biện pháp khuyến khích, thúc đẩy hoạt động công nghệ cao tại Việt Nam và áp dụng với các đối tượng là các tổ chức, cá nhân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động công nghệ cao tại Việt Nam
Luật công nghệ cao là một chuyên ngành, có nhiều Điều quy định được giao cho Thủ tướng Chính phủ, Bộ KH&CN và các Bộ ngành khác tiếp tục cụ thể hóa, quy định chi tiết, hướng dẫn cụ thể để thi hành Luật Tại một số Điều của Luật đã giao cho Chính phủ quy định cụ thể, hướng dẫn thi hành, tại một số Điều các quy định mang tính chất khung như: “Nhà nước khuyến khích…” hoặc “Nhà nước dành kinh phí…” và tại Điều 35 về Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, Luật quy định: “Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều khoản được giao trong Luật; hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.”
Vì những điều, khoản Luật giao cho Chính phủ quy định trên đây là những vấn đề khó, trước đây chưa có thể quy định cụ thể ngay trong Luật, do vậy khi hướng dẫn những Điều này ở Nghị định thì cần có sự nghiên cứu cả về
cơ sở khoa học cũng như thực tiễn mới, cũng như kinh nghiệm trong và ngoài nước về những vấn đề có liên quan thì mới có thể cụ thể hóa được sát với yêu cầu của Luật và đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đặt ra Đặc biệt Luật công nghệ cao có tác đông rất lớn đến việc thu hút các nguồn lực từ nước ngoài đầu
tư phát triển các hoạt động công nghệ cao tại Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh, do vậy để quy định các Điều hướng dẫn chi tiết tại Nghị định có sức hấp dẫn cao cần tìm hiểu kỹ kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật cụ thể của nước ngoài Đề tài này tiến hành nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước và kinh nghiệm trong nước và trên cơ sở đó đề xuất các quy định tại Nghị định cho sát với yêu cầu phát triển hoạt động công nghệ cao của nước ta trong giai đoạn hiện nay và thời gian trước mắt của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
Trang 5CHƯƠNG I
Nội dung, cơ sở khoa học và phương pháp xây dựng
Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật công nghệ cao
I Nội dung của Nghị định
Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật công nghệ cao có nội dung liên quan đến cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển hoạt động công nghệ cao Các cơ chế, chính sách này được Luật quy định theo hướng ưu đãi, hỗ trợ cao nhất trong khung khổ các luật có liên quan hiện nay Ngoài những quy định: Nhà nước dành các nguồn lực mức cao nhất đề phát triển công nghệ cao, Luật cũng quy định theo hướng khuyến khích các thành phần khác trong xã hội tham gia vào phát triển công nghệ cao Theo đó, các nhà đầu tư, các tổ chức, các cá nhân được khuyến khích đầu tư, tham gia đầu tư phát triển hoạt động công nghệ cao trong và ngoài khu công nghệ cao
Là văn bản cuả Chính phủ hướng dẫn Luật công nghệ cao, do vậy Nghị định phải được quy định theo thẩm quyền mà Quốc hội giao cho Chính phủ tại Luật công nghệ cao Theo cách tiếp cận và quan điểm xây dựng Nghị định như trên, Đề tài đã tiến hành xác định các điểm, khoản, điều của Luật công nghệ cao đã được quy định nhưng còn quy định chung chưa cụ thể mà cần hướng dẫn chi tiết và quy định cụ thể tại Nghị định Theo đó, nội dung cần hướng dẫn, quy định chi tiết trong Nghị định bao gồm:
1 Khuyến khích hoạt động ứng dụng công nghệ cao
1 Nhà nước khuyến khích hoạt động ứng dụng công nghệ cao phù hợp với chính sách của Nhà nước quy định tại Luật công nghệ cao và quy định khác của pháp luật có liên quan
2 Hoạt động ứng dụng công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển được ưu đãi, hỗ trợ trong những trường hợp sau đây:
a) Sử dụng kết quả nghiên cứu về công nghệ cao để đổi mới công nghệ, đổi mới và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm;
b) Sản xuất thử nghiệm sản phẩm;
c) Làm chủ, thích nghi công nghệ cao nhập từ nước ngoài vào điều kiện thực tế Việt Nam
Trang 62 Khuyến khích hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao
1 Nhà nước khuyến khích hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường
2 Hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển được ưu đãi, hỗ trợ trong những trường hợp sau đây:
a) Nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao;
b) Nghiên cứu tạo ra công nghệ cao thay thế công nghệ nhập khẩu từ nước ngoài;
c) Nghiên cứu sáng tạo công nghệ cao mới
3 Khuyến khích chuyển giao công nghệ cao
1 Tổ chức, cá nhân thực hiện chuyển giao công nghệ cao phục vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, sản xuất, kinh doanh sản phẩm công nghệ cao được hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ và các quy định khác của pháp luật có liên quan
2 Nhà nước dành kinh phí nhập khẩu một số công nghệ cao, máy móc, thiết bị công nghệ cao trong nước chưa tạo ra được để thực hiện dự án quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh
4 Phát triển thị trường công nghệ cao, thông tin, dịch vụ hỗ trợ hoạt động công nghệ cao
Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia phát triển thị trường công nghệ cao; cung ứng dịch vụ môi giới, tư vấn, đánh giá, định giá, giám định công nghệ cao; tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân thực hiện dịch vụ tư vấn kỹ thuật, đầu tư, pháp lý, tài chính, bảo hiểm, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và các dịch vụ khác nhằm thúc đẩy hoạt động công nghệ cao, tiêu thụ, sử dụng sản phẩm công nghệ cao
5 Khuyến khích sản xuất sản phẩm công nghệ cao
1 Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển được hưởng
ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về đất đai, thuế nhập khẩu; khi có
đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật công nghệ cao thì được hưởng ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu
2 Doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển được ưu
Trang 7tiên xét chọn tham gia thực hiện dự án có sử dụng vốn ngân sách nhà nước
6 Khuyến khích thành lập doanh nghiệp công nghệ cao
1 Tổ chức khoa học và công nghệ, giảng viên, nghiên cứu viên, sinh viên được thành lập hoặc hợp tác với tổ chức, cá nhân khác thành lập doanh nghiệp công nghệ cao
2 Tổ chức khoa học và công nghệ thành lập hoặc hợp tác với tổ chức,
cá nhân khác thành lập doanh nghiệp công nghệ cao được ưu đãi, hỗ trợ như sau:
a) Giao quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học
và công nghệ thuộc sở hữu nhà nước để thành lập doanh nghiệp công nghệ cao;
b) Góp một phần tài sản nhà nước của tổ chức khoa học và công nghệ công lập để thành lập doanh nghiệp công nghệ cao;
c) Các ưu đãi áp dụng đối với doanh nghiệp công nghệ cao
3 Cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức khoa học và công nghệ tạo điều kiện thuận lợi để giảng viên, nghiên cứu viên, sinh viên thành lập hoặc tham gia thành lập doanh nghiệp công nghệ cao theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan
7 Thúc đẩy ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao
1 Nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao được ưu đãi, hỗ trợ như sau:
a) Giao đất không thu tiền sử dụng đất, miễn thuế sử dụng đất đối với đất dùng để xây dựng cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao;
b) Hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
c) Được xem xét hỗ trợ một phần kinh phí cho hoạt động ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao từ kinh phí của Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao và nguồn kinh phí khác có nguồn gốc ngân sách nhà nước
2 Tổ chức, cá nhân thực hiện dự án ươm tạo công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ cao tại cơ sở ươm tạo được ưu đãi, hỗ trợ như sau:
a) Hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
Trang 8b) Được xem xét hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động từ kinh phí của Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao và nguồn kinh phí khác có nguồn gốc ngân sách nhà nước
3 Nhà nước đầu tư, tham gia đầu tư xây dựng một số cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao có ý nghĩa quan trọng
8 Khuyến khích đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao
1 Đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao là đầu tư cho nghiên cứu phát triển công nghệ cao, hình thành và phát triển doanh nghiệp ứng dụng, sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao, được thực hiện bằng hình thức góp vốn và tư vấn cho tổ chức, cá nhân nhận đầu tư
2 Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế tham gia hoạt động đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao, thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao tại Việt Nam
3 Tổ chức, cá nhân thực hiện đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển được hưởng mức ưu đãi cao nhất về thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thuế
9 Khuyến khích phát triển cơ sở đào tạo nhân lực công nghệ cao
1 Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư, liên doanh, liên kết với tổ chức khác để đầu tư xây dựng cơ sở đào tạo nhân lực công nghệ cao
2 Cơ sở đào tạo nhân lực công nghệ cao được ưu đãi, hỗ trợ như sau: a) Hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về đất đai, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu;
b) Tài trợ, hỗ trợ từ các quỹ về khoa học, công nghệ và các quỹ khác; c) Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao xem xét hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ chi phí phục vụ đào tạo nhân lực công nghệ cao cho việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao
3 Tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trường đại học thực hiện đào tạo nhân lực công nghệ cao được Nhà nước xem xét hỗ trợ kinh phí đào tạo
4 Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng một số cơ sở đào tạo nhân lực công nghệ cao đạt tiêu chuẩn quốc tế
Trang 910 Khuyến khích phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ cao
1 Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ cao gồm khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, cơ sở nghiên cứu, cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, hạ tầng thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển công nghệ cao
2 Căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhiệm vụ phát triển công nghệ cao, Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng một số khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
11 Thủ tục, hồ sơ thành lập khu công nghệ cao
Để đảm bảo tính chặt chẽ trong quá trình xem xét quyết định và đảm bảo cho sự đầu tư thành công các khu CNC, trong Nghị định cần có:
1 Quy định về việc xin chủ trương, hồ sơ cần thiết cho xây dựng khu CNC;
2 Quy định về trình tự, thủ tục thẩm định và thầm quyền quyết định thành lập khu CNC
3 Quy định về quy hoạch khu công nghệ cao
12 Tổ chức, quản lý khu công nghệ cao
Trong Nghị định cần:
1 Quy định về trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan nhà nước có liên quan, trách nhiệm, quyền hạn của chủ đầu tư khu công nghệ cao là nhà nước, chủ đầu tư là tổ chức, cá nhân không phải là Nhà nước khi tiến hành thành lập khu công nghệ cao; trách nhiệm, quyền hạn của các nhà đầu tư thứ cấp trong khu công nghệ cao
2 Quy định về Bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức quản lý khu CNC trường hợp Nhà nước là chủ đầu tư và trường hợp chủ đầu tư không phải
là Nhà nước;
3 Quy định về công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động công nghệ cao và hoạt động của khu công nghệ cao
II Cơ sở khoa học và phương pháp xây dựng Nghị định
Nghị định được xây dựng theo phương pháp cụ thể như sau: Tiến hành nghiên cứu các quy định thực định và các quy định đã thực thi về phát triển hoạt động công nghệ cao (có liên quan nêu ở phần nội trung trên đây) ở trong
và ngoài nước Trên cơ sở phân tích, tổng kết, đánh giá kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về công nghệ cao (CNC) của Việt Nam và một số nước, xây
Trang 10dựng luận cứ và cơ sở khoa học cho Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành thống các văn bản pháp luật có liên quan đến Luật công nghệ cao Việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc quy định chi tiết Luật CNC và đưa ra những điều khoản của Nghị định phù hợp với thông lệ quốc tế và tình hình phát triển KT-XH và thể chế trong nước, đặc biệt là thu hút đầu tư của nước ngoài vào hoạt động công nghệ cao của nước ta
Ở ngoài nước, vấn đề phát triển CNC đã được thực hiện trong nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, đào tạo nhân lực KH&CN về công nghệ cao nhằm thu hút đầu tư vào trong và ngoài khu công nghệ, khu công nghệ cao Những nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài cũng đã được thực hiện trong khuôn khổ của những đề án về cơ chế chính sách phát triển Khu CNC Hoà lạc, Khu CNC thành phố Hồ Chí Minh Phần lớn các nghiên cứu về CNC vừa qua chủ yếu tập trung vào phân tích nhận định hiện trạng phát triển và ứng dụng CNC như Đề án về xây dựng cơ chế, chính sách phát triển CNC ở Việt Nam (Viện CLCS KH&CN, 2006), Đề án về Quy hoạch các Khu CNC ở Việt nam (Viện CLCS KH&CN, 2007), một số đề án về ươm tạo CNC (Vụ Công nghệ cao), v.v Cần nghiên cứu cụ thể, sâu hơn vào nhũng vấn đề có liên quan đến các quy định cần hướng dẫn trong Luật để tao cơ sở khoa học cho các quy định mà Nghị định hướng dẫn
Ở trong nước, vấn đề quy phạm pháp luật trước khi có Luật CNC, Chính phủ đã ban hành các văn bản liên quan đến phát triển công nghệ cao ở nước ta Đó là Nghị định 99/2003/NĐ-CP về Quy chế hoạt động của Khu công nghệ cao Hòa Lạc, Quyết định 53/2004/TTg về các chế độ ưu đãi đối với khu CNC, Quyết định 98/2009/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của ban quản lý Khu công nghệ cao Hòa Lạc trực thuộc
Bộ KH&CN Thực tiễn triển khai các văn bản quy phạm pháp luật này cũng như thực tiễn pháp lý về phát triển các khu công nghiệp, khu công nghệ cao ở nước ta cần được đúc kết rút ra những bài học cụ thể cho các vấn đề quy định
có liên quan
Việc xây dựng Nghị định hướng dẫn một số điều Luật CNC phải đảm bảo sự thống nhất và tương hợp với các văn bản hướng dẫn khác của Luật công nghệ cao và các văn bản luật hiện hành có liên quan đến CNC
Các điều hướng dẫn phải đảm bảo tính khả thi, đáp ứng kịp thời những búc xúc trong hoạt động CNC ở nước ta và tạo ra được sự thu hút mạnh mẽ các đối tác nước ngoài và trong nước tham gia vào việc phát triển hoạt động CNC ở nước ta, xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động CNC tại Việt Nam
Để xây dựng Nghị định có cơ sở khoa học về những vấn đề nêu trên, đề
Trang 11án đã tiến hành nghiên cứu, xây dựng các luận cứ cho các quy định cụ thể của Nghị định, cụ thể là tiến hành:
Tham chiếu các luật hiện hành có liên quan để đảm bảo tính thống nhất, cập nhật và liên thông về nội hàm chuyên môn về phát triển hoạt động công nghệ cao
Tham chiếu các văn bản quy phạm dưới luật trước đây có liên quan để
kế thừa hoặc điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của Nghị định
Xem xét kinh nghiệm của nước ngoài để tạo cơ chế, chính sách có tính tương thích với quốc tế (hội nhập) và có sức thu hút mạnh đối với đối tác nước ngoài tham gia hoạt động công nghệ cao tại Việt Nam
Dựa vào các phạm trù, khái niệm của Luật công nghệ cao đã quy định
để đảm bảo sự nhất quán, liên thông; không hướng dẫn, cụ thể hoá sai khác so với quy định của Luật
Đảm bảo không chồng chéo và phù hợp với các văn bản hướng dẫn khác cùng hướng dẫn Luật công nghệ cao
Các khái niệm, thuật ngữ đã được sử dụng trong Nghị định là các khái niệm thuật ngữ đang dược sử dụng tại các văn bản luật hiện hành có liên quan (thuế, tài chính, đầu tư, ) Các khái niệm, thuật ngữ trong lĩnh vực công nghệ cao của Luật công nghệ cao đã được sử dụng trong xây dựng Nghị định hướng dẫn và quy định chi tiết một số điều của Luật công nghệ cao, cụ thể là:
1 Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa
học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có
2 Hoạt động công nghệ cao là hoạt động nghiên cứu, phát triển, tìm kiếm,
chuyển giao, ứng dụng công nghệ cao; đào tạo nhân lực công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao; phát triển công nghiệp công nghệ cao
3 Sản phẩm công nghệ cao là sản phẩm do công nghệ cao tạo ra, có chất
lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường
4 Doanh nghiệp công nghệ cao là doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công
nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao, có hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao
5 Doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là doanh nghiệp
Trang 12ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất sản phẩm nông nghiệp có chất lượng, năng suất, giá trị gia tăng cao
6 Công nghiệp công nghệ cao là ngành kinh tế - kỹ thuật sản xuất sản
phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao
7 Ươm tạo công nghệ cao là quá trình tạo ra, hoàn thiện, thương mại hóa
công nghệ cao từ ý tưởng công nghệ, kết quả nghiên cứu khoa học hoặc từ công nghệ cao chưa hoàn thiện thông qua các hoạt động trợ giúp về hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực và dịch vụ cần thiết
8 Ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao là quá trình hình thành, phát
triển doanh nghiệp công nghệ cao thông qua các hoạt động trợ giúp về hạ tầng
kỹ thuật, nguồn lực và dịch vụ cần thiết
9 Cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao là
cơ sở cung cấp các điều kiện thuận lợi về hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực và dịch
vụ cần thiết phục vụ việc ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao
10 Nhân lực công nghệ cao là đội ngũ những người có trình độ và kỹ
năng đáp ứng được yêu cầu của hoạt động nghiên cứu, phát triển, ứng dụng công nghệ cao, dịch vụ công nghệ cao, quản lý hoạt động công nghệ cao, vận hành các thiết bị, dây chuyền sản xuất sản phẩm công nghệ cao
CHƯƠNG II
Chính sách khuyến khích và thực tiễn quản lý hoạt động công nghệ cao một số nước
I Kinh nghiệm của Hoa kỳ
Lịch sử hình thành và phát triển CNC của thế giới được bắt đầu tại Mỹ vào những năm năm mươi của thế kỷ trước với những phát minh và sáng chế trong lĩnh vực điện tử bán dẫn Yếu tố quyết định, đặt dấu ấn quan trọng cho
sự phát triển CNC là khả năng thu được lợi nhuận rất lớn nhờ việc thương mại hóa nhanh các kết quả nghiên cứu KH&CN từ các trường đại học và các viện nghiên cứu và việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ về công nghệ cao tiến hành các hoạt động nghiên cứu và phát triển cũng như chuyển giao, đổi mới công nghệ cao phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp
I 1 Cơ quan quản lý phát triển doanh nghiệp nhỏ (SBA)
Mỹ có Cơ quan quản lý phát triển doanh nghiệp nhỏ (U.S Small Buisiness Administration -SBA thành lập từ 1953) là một tổ chức của Liên bang để hỗ trợ cho phát triển doanh nghiệp nhỏ của toàn Liên bang, Puerto
Trang 13Rico, the U.S.Virgin Island và Guam Tổ chức SBA có các Chương trình và các dịch vụ hỗ trợ khởi lập (start-up), phát triển và mở rộng doanh nghiệp Trong các Chương trình đó có Chương trình hỗ trợ nghiên cứu và phát triển (SBIR) và Chương trình hỗ trợ chuyển giao công nghệ (STTR) nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp nhỏ, sáng tạo, công nghệ cao một tỷ trọng thỏa đáng về nghiên cứu và phát triển công nghệ cao Hằng năm có 11 Bộ, ngành (có NSF) tham gia vào Chương trình SBIR và 5 Bộ, ngành (có NSF) tham gia vào Chương trình STTR Mỗi năm, Mỹ dành 2 tỷ USD cho 2 chương trình này và giao cho 11 Bộ, ngành có liên quan nêu trên chịu trách nhiệm tài trợ cho các doanh nghiệp triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ cao của SBIR và 5 Bộ, ngành có liên quan nêu trên chịu trách nhiệm tài trợ cho nhiệm vụ chuyển giao công nghệ của STTR
I 2 Chương trình tài trợ cho NC&PT của doanh nghiệp nhỏ (SBIR)
Chương trình SBIR (Small Business Innovation Research Program) là một hệ thống tài trợ theo 3 giai đoạn có tính cạnh tranh cao nhằm cung cấp cho các doanh nghiệp nhỏ cơ hội đề xuất các ý tưởng sáng tạo đạt các nhu cầu
về nghiên cứu và phát triển của Liên bang đề ra Chương trình này khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ khai thác tối đa tiềm năng công nghệ của doanh nghiệp và cung cấp cho doanh nghiệp những ưu đãi đề tạo được lợi nhuận từ việc thương mại hóa tiềm năng công nghệ đó Bằng cơ chế như vậy đối với doanh nghiệp nhỏ thích hợp, hoạt động đổi mới công nghệ cao được kích thích và Nhà nước Liên bang đạt được một tinh thần kinh thương đó là nó đã đạt được nhu cầu đặc biệt của nghiên cứu và phát triển Để đảm bảo sự thành công mục tiêu của chương trình nêu ra, những doanh nghiệp tham gia Chương trình SBIR phải đạt các tiêu chí sau: a) doanh nghiệp của Mỹ và hoạt động độc lập, b) hoạt động vì lợi nhuận, c) có nhân lực chuyên làm nghiên cứu, d) quy mô dưới 500 người Việc tài trợ cho doanh nghiệp thực hiện nghiên cứu
và phát triển triển khai theo 3 giai đoạn: a) Pha I thường gắn với giai đoạn khởi lập; mức tài trợ có thể tới 100.000 USD cho khoảng 6 tháng để hỗ trợ cho việc khai thác các giá trị công nghệ hoặc tính khả thi của một ý tưởng hoặc công nghệ; b) Pha II có thể tài trợ đến 750.000 USD trong 2 năm để mở rộng Pha I; trong pha này, hoạt động NC&PT được thực hiện và developer đánh giá tiềm năng thương mại của kết quả nghiên cứu Chỉ những người được đánh giá có kết quả tốt của Pha I mới được triển khai thực hiện sang Pha II; c) Pha III là giai đoạn, trong đó hoạt động đổi mới của pha II sẽ chuyển từ quy mô phòng thí nghiệm ra sản xuất Ở Pha III, SBIR sẽ không tài trợ nữa
mà các doanh nghiệp phải lo lấy nguồn tài chính ở các nguồn khác trong xã hội để triển khai Pha III
Trang 14I 3 Chương trình tài trợ CGCN doanh nghiệp nhỏ (STTR)
Chương trình STTR (Small Business Technology Transfer Program) là một chương trình 3 giai đoạn có tính cạnh tranh cao quản lý một số % riêng của quỹ nghiên cứu và phát triển Liên bang để tài trợ cho doanh nghiệp nhỏ liên kết với các đối tác là những tổ chức nghiên cứu phi lợi nhuận để chuyển các ý tưởng ở trong phòng thí nghiệm vào thực tiễn sản xuất nhằm tăng cường phát triển công nghệ cao và giải quyết các nhu cầu công nghệ của Liên bang Chương trình STTR là chương trình rất quan trọng đối với doanh nghiệp nhỏ theo kiểu nó mở rộng cơ hội sang lĩnh vực nghiên cứu và triển khai đổi mới của Liên bang (CNC) Trung tâm của chương trình này là mở rộng quan hệ hợp tác giữa nhà nước và tư nhân gồm cả cơ hội đầu tư mạo hiểm cho doanh nghiệp nhỏ và các viện nghiên cứu phi lợi nhuận danh tiếng STTR có vai trò quan trọng trong việc tăng cường đổi mới cần thiết cho việc đáp ứng những thách thức về KH&CN của thế kỷ 21 Các doanh nghiệp nhỏ được biết đến từ lâu là những người rất sang tạo và là người đổi mới mạnh ở Mỹ, nhưng sự rủi
ro và chi phí tốn kém đã hạn chế rất nhiều những cố gắng của họ tiến hành nghiêm túc các nghiên cứu và phát triển Bên cạnh đó các viện nghiên cứu không vì mục đích lợi nhuận là công cụ tốt nhất cho hoạt động đổi mới trong công nghệ cao, nhưng ho lại là những người nặng về lý thuyết, không phải nhà thực hành STTR là chương trình liên kết những cố gắng, thế mạnh của 2 thực thể này bằng cách truyền những kỹ năng kinh thương vào các năng lực nghiên cứu CNC Những sản phẩm và công nghệ sẽ được chuyển giao từ phòng thí nghiệm vào sản xuất và doanh nghiệp nhỏ sẽ thu lợi từ việc thương mại hóa và qua đó kích thích kinh tế Mỹ phát triển
Từ cách đặt vấn đề như trên, các doanh nghiệp nhỏ phải đạt các tiêu chí sau đây mới được lựa chọn tham gia chương trình STTR: a) Là doanh nghiệp của Mỹ và hoạt động độc lập; b) hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận; c) Cán bộ nghiên cứu không nhất thiết là người của doanh nghiệp; d) Quy mô dưới 500 người Đối với tổ chức nghiên cứu và phát triển thì không có tiêu chí về quy
mô, còn các tiêu chí khác phải đạt là: a) Có địa điểm ở Mỹ; b) Đáp ứng một trong 3 định nghĩa; c) Không phải là tổ chức vì lợi nhuận; d) Là tổ chức nghiên cứu không vì mục đích lợi nhuận trong nước; đ) Là trung tâm NC&PT được Liên bang cấp tài chính hoạt động
Sau khi nhận hồ sơ, các bộ phận chức năng của STTR xem xét việc tài trợ dựa vào các tiêu chí đã đưa ra đối với doanh nghiệp và tổ chức NC&PT, mức độ đổi mới, tương lai tiềm năng thị trường Doanh nghiệp nhận tài trợ và tiến hành theo 3 giai đoạn: a) Pha I là giai đoạn khởi động, tài trợ có thể tới 100.000 USD, thời gian khoảng 1 năm, để nghiên cứu tính khả thi về mặt khoa học, kỹ thuật, thương mại của ý tưởng hoặc công nghệ b) Pha II, tài trợ
có thể tới 750.000 USD, thời gian 2 năm, để mở rộng kết quả của Pha I; trong
Trang 15thời gian này hoạt động NC&PT được thực hiện và người developer bắt đầu xem xét đến tiềm năng thương mại (chỉ người thực hiện tốt (winner) Pha I mới được xem xét cho thực hiện Pha II); c) Pha III, đây là pha các hoạt động đổi mới sẽ chuyển từ phòng thí nghiệm vào sản xuất STTR không hỗ trợ pha này; doanh nghiệp phải lo lấy kinh phí từ khu vực tư nhân hoặc cơ quan tài trợ khác của Nhà nước nhưng không phải là STTR
Chính sự liên kết chặt chẽ giữa các nhà doanh nghiệp với các nhà khoa học đã tạo ra đội ngũ những người có khả năng sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học, bí quyết công nghệ làm phương tiện, công cụ để mở ra các thị trường mới đầy tiềm năng, nhưng đầy rủi ro, mạo hiểm Đây là cách tổ chức
có hiệu quả để sử dụng trong hoạt động nghiên cứu và phát triển của các doanh nghiệp thâm dụng công nghệ, đặc biệt là trong công nghệ cao để kết nối giữa nhà khoa học với người sản xuất, sử dụng thế mạnh của 2 bên và làm cho kết quả NC&PT đi vào được cuộc sống, không dừng ở phòng thí nghiệm hoặc đút ngăn kéo
1.4 Quỹ hỗ trợ đổi mới công nghệ Hawai (Mỹ)
Quỹ hỗ trợ đổi mới công nghệ của Hawai (Mỹ), hoạt động lâu năm và
có kinh nghiệm trong lĩnh vực hỗ trợ đổi mới công nghệ, rút ra bài học rằng Nhà nước chỉ tài trợ cho các dự án hoàn thiện công nghệ do các doanh nghiệp chủ trì thực hiện thì mới có hiệu quả, không nên tài trợ cho các nhà khoa học với tư cách là nhà khoa học thực hiện dự án hoàn thiện công nghệ Nếu nhà khoa học có kết quả NC&PT và muốn tiếp tục thực hiện dự án hoàn thiện công nghệ từ kết quả nghiên cứu của mình thì họ phải thành lập doanh nghiệp (trở thành doanh nhân) thì nhà nước mới có thể hỗ trợ kinh phí cho việc triển khai dự án đó (chỉ hỗ trợ khi nhà khoa học trở thành doanh nhân)
Tóm lại có thể rút ra: cơ chế tài chính hỗ trợ nghiên cứu cho các doanh
nghiệp, tổ chức KH&CN của Mỹ khá chặt chẽ về các bước tài trợ và khối lượng kinh phí tài trợ cho từng giai đoạn Cơ chế hỗ trợ tài chính của SBIR được triển khai thông qua việc giao cho 11 Bộ, ngành dành % kinh phí NC&PT của Bộ, ngành mình và xúc tiến tài trợ cho nghiên cứu và phát triển công nghệ cao của các doanh nghiệp nhỏ Đối với chương trình STTR thì 5
Bộ, ngành được giao phải dành % kinh phí NC&PT do Bộ, ngành phụ trách
để tài trợ cho các hoạt động chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp nhỏ thực hiện các nghiên cứu và phát triển về công nghệ cao Kinh phí NC&PT của nhà nước chỉ hỗ trợ đến hết giai đoạn triển khai thực nghiệm Quỹ đổi mới công nghệ Hawai chỉ hỗ trợ doanh nhân hoàn thiện công nghệ Các tiêu chí doanh nghiệp được hỗ trợ NC&PT được quy định cụ thể và phải đáp ứng được các yêu cầu tối thiểu để đảm bảo triển khai thành công nhiệm vụ NC&PT, CGCN xin tài trợ Những kinh nghiệm này có thể học tập cho việc
Trang 16quy định đối với các dự án ứng dụng, đề tài nghiên cứu và chuyển giao công nghệ cao trong Nghị định
II Kinh nghiệm của Đức
II.1 Hỗ trợ NC&PT công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao
Chính phủ Đức đã tiến hành lâu năm dưới các hình thức chương trình hoặc quỹ hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu và phát triển của các DNVVN Các doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu ở các bang mới miền Đông Đức cũ được hỗ trợ bằng nhiều chương trình riêng và rất đăc thù phù hợp với các điều kiện và tình trạng kinh tế kém phát triển và sự phát triển số lượng các doanh nghiệp công nghệ cao Việc hỗ trợ được tập trung vào hỗ trợ trao đổi tri thức
và nhân lực nghiên cứu giữa các doanh nghiệp và các tổ chức NC&PT và hỗ trợ tạo ra các các tri thức mới trong các tổ chức NC&PT Hình thức hỗ trợ là tài trợ không hoàn lại, cho vay lãi suất thấp Các chương trình cụ thể triển khai các hoạt động trợ giúp các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động nghiên cứu
và phát triển công nghệ cao rất phong phú và đa dạng về cơ chế, chính sách
1 Chương trình đổi mới : Các dự án hợp tác nghiên cứu giữa các
DNVVN với nhau hoặc DNVVN với viện NC để tạo ra bước nhảy về công nghệ cho DN (vd tiến vào một lĩnh vực công nghệ mới) hoặc một bước hợp tác cao hơn (vd lần đầu hợp tác nghiên cứu với nước ngoài) Tài chính được cung cấp cho việc trao đổi nhân lực NC&PT giữa DN và viện NC, thực hiện
dự án NC&PT Hình thức hỗ trợ: Tài trợ một phần không hoàn lại Chương trình này có 5 loại dự án được tài trợ: 1) Dự án Hợp tác NC giữa DN với DN; 2) Dự án Hợp tác NC giữa DN với viện NC; 3) Dự án Hợp tác NC của DN nhưng uỷ thác cho viện NC thực hiện; 4) Dự án Hợp tác trao đổi nhân lực NC giữa DN và viện NC; 5) Dự án NC đổi mới của một DN triển khai một sản phẩm nhiều hàm lượng sáng tạo (innovative) đến giai đoạn nguyên mẫu (prototype)
2 Chương trình nghiên cứu chung công nghiệp : Dự án nghiên cứu
tiền cạnh tranh và chung cho cả 1 ngành, phục vụ các DNVVN được thực hiện trong khuôn khổ tổ chức hoạt động nghiên cứu của Hiệp hội nghiên cứu công nghiệp (AiF) Hình thức hỗ trợ là tài trợ không hoàn lại cùng với phần đóng góp của phía sản xuất
3 Chương trình hỗ trợ liên kết đổi mới: Những dự án nghiên cứu
chung gồm ít nhất 2 viện NC với ít nhất 4 DNVVN Các dự án NC loại này với đối tác là nước ngoài cũng được hỗ trợ Hình thức hỗ trợ là tài trợ không hoàn lại một phần và kinh phí tự đóng góp của bên sản xuất
4 Chương trình hỗ trợ NC&PT những DN công nghệ vùng chậm phát triển: Các DNVVN và viện NC công nghiệp tại các bang mới và Berlin
Trang 17của Đức được hỗ trợ tiến hành các dự án NC&PT từ giai đoạn concept chi tiết đến sẵn sàng sản xuất (cũng như chuyển giao các kết quả NC&PT ở mức sẵn sàng ứng dụng) Hình thức hỗ trợ là tài trợ không hoàn lại (tới 70% cho các dự
án NC&PT của các viện NC công lập, nhưng không quá 375.000 e/dự án; tới 45% cho các dự án NC&PT của các DN tích cực NC, nhưng không quá 375.000 e/dự án) Đối với các viện NC công lập có thể được chi tới 40% và đối với các DN tích cực NC có thể được chi tới 60% số kinh phí tài trợ cho nhân lực biên chế trực tiếp làm NC&PT
II.2 Hỗ trợ thành lập DN và phát triển các doanh nghiệp trẻ
Với mảng hỗ trợ này Chính phủ Đức muốn tạo điều kiện thuận lợi đặc biệt cho doanh nghiệp công nghệ trẻ, doanh nghiệp high-tech để triển khai công nghệ và thâm nhập thị trường các sản phẩm mới, quy trình mới, dịch vụ mới Việc hỗ trợ được thực hiện dưới hình thức tài trợ không hoàn lại và tham gia đầu tư (cho vay vốn)
Những ý tưởng công nghệ tốt, hấp dẫn trong tương lai là cơ sở cho việc thành lập các doanh nghiệp innovative Việc chuẩn bị và hiện thực hoá các ý tưởng này thường không bao giờ có đủ tài chính được chuẩn bị sẵn từ phía các nhà tư nhân Vì vậy mục tiêu của việc hỗ trợ của Chính phủ là huy động tài chính dưới dạng tham gia đầu tư hoặc tài trợ không hoàn lại cho doanh nghiệp innovative và cho những người thành lập doanh nghịêp này và mục tiêu nữa là cải thiện không khí thành lập doanh nghiệp tại các trường Đại học và viện Nghiên cứu Với cách thức làm này thì động lực của việc thành lập các doanh nghiệp dựa trên công nghệ và tri thức khoa học sẽ được nâng cao và việc tăng trưởng bền vững số lượng các doanh nghiệp loại này sẽ được đảm bảo Các quỹ, ngân hàng là những nơi thực thi cụ thể việc hỗ trợ tài chính để thực hiện các mục tiêu nêu trên của Chính phủ
1 Quỹ Hightech hỗ trợ thành lập DN: Quỹ tiến hành hỗ trợ việc
thành lập doanh nghiệp dựa trên công nghệ mới, cụ thể là cho giai đoạn hình thành (seed-phase) Hình thức hỗ trợ là cung cấp vốn tham gia đầu tư và cho vay lãi suất tháp khối lượng đến 500.000 euro trong lần cung cấp tài chính đầu tiên và giúp đỡ về quản lý
2 Quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture-Capital-Fonds): Quỹ đầu tư vào các
doanh nghiệp công nghệ ở giai đoạn ban đầu (early stage) hoặc cung cấp tài chính cho giai đoạn tiếp theo và cả giai đoạn trưởng thành Hình thức tham gia của Quỹ là dưới dạng VC-Fonds tham gia đầu tư
II 3 Hỗ trợ nhân lực NC&PT của DNVVN
1 Hỗ trợ đào tạo nhân lực NC&PT: Khuyến khích các DNVVN ở
Bang mới và Berlin (miền đông) phát triển nhân lực cho NC&PT của DN Các hoạt động NC&PT được hỗ trợ là từ xây dựng các concept chi tiết đến chế tạo nguyên mẫu (prototype) và phần triển khai ứng dụng Hình thức hỗ trợ là tài
Trang 18trợ không hoàn lại cho phần lương của nhân lực thực hiện NC&PT trong một khoảng thời gian nhất định Mức hỗ trợ: 40% chi phí cho nhân lực, tổng số không quá 150.000 e; phần dành cho lương không quá 50.000 e
2 Chương trình nghiên cứu ĐH-DN và đào tạo kỹ sư trẻ: Việc được
hỗ trợ là chuyển giao công nghệ và chuyển giao tri thức giữa ĐH ứng dụng và các đối tác đến từ sản xuất (đặc biệt là DNVVN) Sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch, thực hiện các dự án nghiên cứu là bắt buộc Ngoài ra còn phải tạo ra năng lực đào tạo và nghiên cứu cho nhân lực làm nghiên cứu và triển khai Đối với đào tạo kỹ sư trẻ, việc hỗ trợ là hỗ trợ các GS trẻ tham gia vào các dự án NC innovative và qua đó có quan hệ với doanh nghiệp và tạo dựng và phát triển năng lực nghiên cứu của mình Mức tài trợ cao nhất là 260.000e/đơn nộp (liên kết nhiều dự án của nhiều trường
ĐH ứng dụng thì mỗi trường được 260.000e) và với thời gian không quá 36 tháng Việc tham gia của doanh nghiệp phải chiếm tỷ lệ 20% chi phí
3 Hỗ trợ phát triển mạng lưới hợp tác công nghệ quốc tế: Hỗ trợ
các DNVVN triển khai các dự án NC&PT với các đối tác nước ngoài Đến nay đã hỗ trợ thành lập 15 văn phòng liên lạc tại 11 nước Các dịch vụ đã thực hiện như: Môi giới các đối tác NC&PT; Tổ chức các hội nghị hợp tác; Trợ giúp hợp tác nghiên cứu các vấn đề gắn với sản xuất; Phân tích hệ thống nghiên cứu quốc tế dưới góc độ các phát triển mới; Thông tin về tình hình phát triển công nghệ của các vùng; Thông tin về các nhu cầu nghiên cứu mới của các nước; Tổ chức các hội thảo, hội nghị về hợp tác nghiên cứu tại nước ngoài và trong nước
Từ việc hỗ trợ hoạt động NC&PT của Đức có thể rút ra: Nhà nước cần
thiết phải có các hỗ trợ đa dạng, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cho doanh nghiệp tiến hành các nghiên cứu và phát triển công nghệ, ươm tạo, chuyển giao đào tạo nhân lực NC&PT, thành lập doanh nghiêp nói chung và công nghệ cao nói riêng để tăng cường năng lực công nghệ cho doanh nghiệp (tri thức, con người) Doanh nghiệp có thể tự nghiên cứu bằng nhân lực KH&CN của mình nhưng cũng có thể hợp tác với tổ chức KH&CN công lập để thực hiện hoạt động NC&PT của mình Việc hợp tác nhiều bên được khuyến khích
và Nhà nước có thể hỗ trợ 100% chi phí cho nghiên cứu và phát triển công nghệ cao này tùy mức độ nghiên cứu cơ bản của dự án nghiên cứu và trong nhiều trường hợp có thể cho vay với lãi suất thấp để triển khai tiếp nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ của doanh nghiệp cho đến khi kết quả nghiên cứu đưa vào được cuộc sống Những kinh nghiệm của Đức rất có giá trị cho việc quy định trong Nghị định các quy định về hoạt động NC&PT, ứng dụng CNC, đào tạo nhân lực NC&PT cho doanh nghiệp, hỗ trợ đào tạo kỹ sư trẻ về CNC, hỗ trợ thành lập doanh nghiệp CNC, hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm trong lĩnh vực CNC
Trang 19III Kinh nghiệm của Thụy sỹ
Để hỗ trợ nghiên cứu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, Thụy sỹ thành lập Uỷ ban phát triển công nghệ và đổi mới (Commision for Technology and Innovation- CTI) của Liên bang do Bộ Kinh tế quốc dân Liên bang quản lý Liên bang hỗ trợ các Dự án NC làm tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Thuỵ sỹ Các Dự án này được thực hiện dưới dạng các
dự án nghiên cứu hợp tác giữa doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu công lập Các việc được hỗ trợ cụ thể như tìm kiếm tư liệu chuẩn bị dự án, giới thiệu đối tác, nghiên cứu khả thi, huấn luyện các DNVVN cũng như uỷ thác các nghiên cứu nằm trong quan tâm chung Các dự án NC&TK được đặc biệt
hỗ trợ là các dự án trực tiếp giải quyết các vấn đề về nguyên liệu, quy trình và đổi mới sản xuất, trong lĩnh vực công nghệ cao Không thuộc vào phạm trù được hỗ trợ là các dự án chỉ thử nghiệm các nguyên mẫu (prototype), triển khai nguyên mẫu đến giai đoạn chín muồi sản xuất
1 Những người được nộp Dự án xin tài trợ: Những cơ sở NC&TK
không trực tiếp tìm kiếm lợi nhuận như các viện, đơn vị nghiên cứu của các trường đại học của Nhà nước; các cơ sở nghiên cứu của ngành; Các Uỷ ban, các viện nghiên cứu của ngành cùng với một đơn vị NC&TK thích hợp nêu trên đây; Một doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp cùng với đơn vị NC&TK thích hợp trên đây; Trường hợp ngoại lệ chỉ một mình phía doanh nghiệp được tài trợ nếu không tìm được người cùng nghiên cứu nêu trên đây
và cơ sở NC&TK của doanh nghiệp thích hợp cho việc thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch đề ra trong dự án; Cá nhân nhà nghiên cứu cùng với cơ sở NC&TK thích hợp nêu trên đây và với một doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp mà họ sẵn sàng sử dụng kết quả nghiên cứu ra
2 Yêu cầu đối với Dự án NC&PT: Bản Dự án phải nêu đầy đủ cơ sở
luận cứ để người đọc có thể đưa ra được nhận xét về tính chất khoa học chuyên môn và tính chất kinh tế Những gì tự làm được cũng phải nêu rõ ràng trong Dự án Về vấn đề này ngoài việc hạ tầng cơ sở của đại học thì còn được hiểu là việc chuyển giao nhanh các tri thức từ đại học sang sản xuất CTI hỗ trợ các Dự án nghiên cứu định hướng ứng dụng và triển khai giữa Doanh nghiệp và Đại học, cung cấp tài chính hằng năm cho hàng trăm Dự án nghiên cứu định hướng ứng dụng do doanh nghiệp cùng với trường đại học thực hiện Doanh nghiệp chủ yếu là DNVVN được khích lệ sử dụng nhiều nguồn lực của đại học cho đổi mới CTI giúp các nhà khoa học ở trường đại học với kết quả nghiên cứu của mình cùng với doanh nghiệp triển khai thành các sản phẩm, dịch vụ có khả năng cạnh tranh và mang ra thị trường
3 Các tiêu chí đánh giá: Các tiêu chí sau đây được vận dụng trong quá
trình đánh giá nhận xét: a) Một tỷ lệ chấp nhận được giữa phần Dự án xin Nhà nước tài trợ và phần vốn cho phép; b) Lợi ích kinh tế Dự án mang lại, đặc biệt
Trang 20là khả năng sử dụng các kết quả nghiên cứu tạo ra; c) Việc trình bày cũng như giới hạn đối tượng của Dự án, kế hoạch tài chính và kế hoạch về thời gian thực hiện cũng như việc xác định mục tiêu và phương án giải quyết được đề xuất trong Dự án; d) Chất lượng chuyên môn của những người thực hiện Dự
án và sự thích hợp của tổ chức NC&TK với việc thực hiện Dự án
4 Điều kiện tham gia thực hiện Dự án nghiên cứu: Để một ý tưởng
kinh doanh trở thành Dự án CTI, các điều kiện tiên quyết sau đây phải đạt được:
• Có ít nhất 1 doanh nghiệp và ít nhất 1 tổ chức không vì mục đích lợi nhuận hợp tác với nhau làm việc;
• Đối tác doanh nghiệp phải đảm nhận theo quy định ít nhất 50% kinh phí và như vậy khẳng định mong muốn, cam kết của doanh nghiệp biến các kết quả thành sản phẩm có ích, mang lại lợi nhuận trên thị trường;
• Theo nguyên tắc “dưới lên” các bên tham gia dự án lựa chọn tên Dự
án Lý tưởng nhất Chủ dự án do bên doanh nghiệp đảm nhận;
• Trong tầm nhìn phải thấy rõ các hoạt động đổi mới, đó là việc chuyển hoá tạo ra công nghệ mới và tri thức mới Điều này bao gồm
cả vấn đề làm mới về tổ chức và phương pháp quản lý mới một cách
cơ bản;
• Tiêu chí cho đánh giá một Dự án đó là ý nghĩa kinh tế và khoa học
kỹ thuật, tiềm năng thị trưởng, đóng góp của nó cho phát triển bền vững, một kế hoạch tài chính và làm việc rõ ràng, cũng như tiền đóng góp của doanh nghiệp như là một sự cam kết tham gia dự án của doanh nghiệp;
• Phải có định nghĩa rõ ràng về mục tiêu với cách tiếp cận theo từng mốc thời điểm Để có thể làm chủ được chi phí, có nghĩa là phải tính toán được chính xác trình độ kỹ thuật và tạo ra đầy đủ phông tư liệu
và Patente; trong trường hợp cần thiết có thể tìm đến trợ giúp, tư vấn của CTI về vấn đề này;
• Vấn đề sử dụng kết quả nghiên cứu là Patente phải được thoả thuận bằng văn bản trước khi bắt đầu triển khia dự án Trong nhiều trường hợp có thể thoả thuận một sự bí mật đối với kết quả nghiên cứu;
• Điều mong muốn là các Dự án thực hiện trong thời gian ngắn đến trung hạn, phù hợp với tinh thần “rút ngắn thời gian đến với thị trường”(Time to Market), tức là định hướng vào chuyển hoá nhanh nhất thành kết quả mang ra thị trường;
• Việc kiểm tra thường xuyên của các chuyên gia độc lập giúp cho việc giữ kế hoạch về thời gian, định hướng nội dung, trong trường hợp
Trang 21khẩn cáp thì phải tiến hành các điều chỉnh trường hợp một dự án liên kết hoặc một dự án tổng hợp nhiều đối tác tham gia thì việc chỉ đạo
từ bên ngoài là cần thiết (moderation) và trong trường hợp này CTI chịu chi phí
• Dự án kết thúc bằng một báo cáo kết thúc về kết quả cụ thể đạt được Kết quả này có thể là hình mẫu về chức năng, nguyên mẫu, hoặc thiết
bị pilot để đềmô
5 Đóng góp của phía doanh nghiệp: Phía doanh nghiệp quan tâm đến
kết quả nghiên cứu theo nguyên tắc phải chịu 50% tổng chi phí của Dự án; Việc cung cấp nguyên liệu hoặc cho sử dụng các máy móc, thiết bị sản xuất cũng như lương của những người thực hiện Dự án có thể được tính từng phần
là đóng góp của phía doanh nghiệp Quy mô của việc này phải được liệt kê chi tiết; Việc đóng góp của các Tỉnh hoặc các cơ quan công lập cho Dự án có thể được tính cho chi phí bỏ ra của bên doanh nghiệp; Trong một số trường hợp sau đây có thể phần đóng góp của bên doanh nghiệp thấp hơn 50% tổng chi phí của Dự án:
• Dự án rất quan trọng về mặt khoa học;
• Kết quả nghiên cứu có nhiều người quan tâm;
• Ngoài phần chi phí tài trợ của Liên bang, phần còn lại không sử dụng kinh phí của Liên bang;
• Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa cho một ngành hoặc nhiều DN;
• Dự án có ý nghĩa lớn cho thị trường lao động và năng lực cạnh tranh hoặc được nhiều người quan tâm;
• Dự án mà kết quả của nó có thể thành lập được DN mới
Trong khuôn khổ tiền Dự án đã có một số kết quả thì không có thể trở thành phần xin tài trợ; các chi phí cho việc tạo ra kết quả này có thể tính là phần đóng góp của bên doanh nghiệp; một số việc thuộc vào công tác chuẩn
bị không được tính vào phần đóng góp của bên doanh nghiệp
6 Hỗ trợ khởi lập doanh nghiệp: CTI hỗ trợ phát triển doanh nghiệp
và khởi lập doanh nghiệp mới trong các lĩnh vực Khoa học sự sống, Công nghệ nano và kỹ thuật hệ thống vi mô, công nghệ thông tin và truyền thông.CTI cung cấp các chương trình đào tạo và tư vấn với các mô đun về đào tạo cho những doanh nhân trẻ đang hoạt động hoặc tiềm năng Với chương trình Start-up, các doanh nghiệp nhận được các trợ giúp cần thiết và hỗ trợ tại việc triển khai chiến lược kinh doanh (coaching) Được hỗ trợ là các doanh nghiệp trẻ với những dự án định hướng thị trường từ khu vực Hightech
7 Hỗ trợ chuyển giao tri thức và công nghệ: Chuyển giao tri thức và
công nghệ (WTT) là một thành tố của chính sách đổi mới của Thuỵ sỹ Việc
hỗ trợ của Chính phủ cho WTT là nhằm giữ cho sự phát triển ổn định với
Trang 22năng suất cao của hệ thống WTT Bằng các biện pháp cụ thể, một mặt tăng cường khả năng của các trường Đại học chuyển giao tri thức và công nghệ cho doanh nghiệp (Push-Process) và mặt khác là khích lệ các doanh nghiệp đưa các nhu cầu về tri thức và công nghệ với các trường Đại học (Pull-Process) để tạo ra sự hợp tác theo mục tiêu đã định và triển khai có hiệu quả ngay
Thông qua việc các consortium (hình thành từ các Trung tâm dịch vụ WTT) có chuyên môn phù hợp sẽ xúc tiến, tăng cường và mở rộng sự hợp tác giữa Đại học và Doanh nghiệp Các Trung tâm dịch vụ này tập trung triển khai các điểm sau:
• Tăng cường các nhu cầu từ phía doanh nghiệp đối với các kiến thức đại học và kết quả nghiên cứu;
• Tạo cho doanh nghiệp có khả năng xác định được tốt hơn các tri thức đang có và các yêu cầu của tương lai đòi hỏi;
• Tăng cường quan hệ giữa doanh nghiệp và đại học, đặc biệt là DNVVN với đại học;
• Tạo cho đại học có khả năng tốt hơn trong chuyển giao tri thức cho doanh nghiệp;
• Tăng cường sự cộng tác hơn giữa đại học và doanh nghiệp để giải quyết vấn đề cùng quan tâm
Với các giải pháp này, quá trình đổi mới của doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ và mang lại hiệu quả cho kinh tế (trí tuệ sáng tạo, chỗ làm việc, tăng trưởng kinh tế) Các doanh nghiệp và các trường đại học được xác định rằng WTT là nhiệm vụ dài hạn với mục tiêu là tăng cường năng lực sản xuất cho doanh nghiệp, tạo nhiều chỗ làm việc trình độ cao chứ không phải mục tiêu tài chính của các Trung tâm dịch vụ WTT WTT giữa doanh nghiệp và đại học là nhiệm vụ chung không riêng của đại học, của doanh nghiệp mà còn là của Nhà nước và do vậy Nhà nước tham gia vào quá trình này bằng các hỗ trợ về tài chính và các hỗ trợ khác
Khoa học ngày nay cần sự nghiên cứu tự do và sự sẵn sàng tạo cho doanh nghiệp tiếp xúc được với tri thức khoa học một cách có kinh tế nhất Sự định hướng của WTT vào việc sử dụng kết quả nghiên cứu phục vụ kinh tế và
xã hội sẽ bổ sung cho việc tự do nghiên cứu có chủ đích và khích lệ các doanh nghiệp đặt ra các yêu cầu và hợp tác với đại học Hệ thống WTT phải định hướng vào hỗ trợ quá trình đổi mới tại doanh nghiệp và các ứng dụng kinh tế
cụ thể của các kiến thức khoa học
Từ việc hỗ trợ hoạt động NC&PT của Thụy sỹ có thể rút ra: Nhà nước
cần thiết phải có các hỗ trợ cho doanh nghiệp tiến hành các nghiên cứu và phát triển công nghệ, khởi lập doanh nghiệp, chuyển giao tri thức và công nghệ cao, phát triển nhân lực NC&PT công nghệ cao nói riêng để tăng cường
Trang 23năng lực công nghệ cho doanh nghiệp (tri thức, con người) Doanh nghiệp có thể tự nghiên cứu bằng nhân lực KH&CN của mình nhưng cũng có thể hợp tác với tổ chức KH&CN công lập để thực hiện hoạt động NC&PT của mình Việc hợp tác nhiều bên là bó buộc để được Nhà nước có thể hỗ trợ 50% chi phí cho nhiên cứu và phát triển công nghệ cao cũng như hỗ trợ cho việc khởi lập doanh nghiệp công nghệ cao là lĩnh vực được Thuỵ sỹ rất quan tâm Các lĩnh vực công nghệ cao và KHKT cụ thể cũng đã được xác định được Chính phủ hỗ trợ và tập trung tạo mọi điều kiện phát triển Kinh nghiệm của Thụy sỹ
có nhiều giá trị tham khảo cho việc quy định về hỗ trợ hoạt động NC&PT của các doanh nghiệp CNC, hỗ trợ khởi lập doanh nghiệp CNC, chế độ hỗ trợ chuyển giao tri thức và công nghệ cao trong Nghị định
IV Kinh nghiệm của New Zealand
Quỹ nghiên cứu, khoa học và công nghệ New Zealand (Foundation for Research, Science and Technology, viết tắt là FRST) có một bộ phận thực hiện nhiệm vụ tài trợ cho việc phát triển công nghệ của các doanh nghiệp có
tên là Technology New Zealand (TechNZ)
TechNZ có nhiệm vụ trợ giúp các doanh nghiệp tiến hành các Dự án NC&TK
mà kết quả của các Dự án này là các sản phẩm mới, quy trình mới hoặc dịch
vụ mới Vai trò của TechNZ là trợ giúp các doanh nghiệp mong muốn vượt qua các hạn chế kỹ thuật mà chúng là một phần của hoạt động NC&TK TechNZ cung cấp một loạt các chương trình nhằm vào việc giúp cho các doanh nghiệp triển khai và ứng dụng công nghệ mới TechNZ đã nhận được nhu cầu lớn về sự hỗ trợ này từ phía doanh nghiệp Điều đó có nghĩa rằng TechNZ sẽ đặt mục tiêu đầu tư vào nơi mang lại nhiều giá trị gia tăng và phù hợp với các chương trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế của Chính phủ New Zealand TechNZ cung cấp các thông tin công nghệ và những hỗ trợ nhất định nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp tìm ra được các giải pháp hợp lý cho các vấn
đề kỹ thuật và lập kế hoạch các Dự án NC&TK thông qua các chương trình khác nhau
1 TechNZ tiến hành hỗ trợ doanh nghiệp các hoạt động:
• Giúp đỡ doanh nghiệp triển khai Dự án NC&TK bằng cách trợ giúp
tiếp cận thông tin;
• Tài trợ cho các doanh nghiệp thực hiện các Dự án NC&TK;
• Phát triển nhân lực với các kỹ năng kỹ thuật cần thiết;
• Hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm các chuyên gia công nghệ có trình độ
với những kỹ năng và tri thức chuyên biệt để giải quyết các vấn đề về công nghệ doanh nghiệp đang gặp phải và cung cấp cho doanh nghiệp các tri thức hiểu biết về cạnh tranh thị trường hoặc các công nghệ cần phải bổ sung
Trang 242 Các loại doanh nghiệp, lĩnh vực CNC được trợ giúp của TechNZ:
• Các doanh nghiệp của New Zealand (loại này được quan tâm tài trợ);
• Các doanh nghiệp nước ngoài cũng có thể nhận được tài trợ từ TechNZ nhưng phải chứng minh rằng Dự án NC&TK mang lại lợi ích cho New Zealand;
• Tất cả các doanh nghiệp nộp hồ sơ xin tài trợ phải đăng ký thuế và đăng ký là doanh nghiệp hoặc tờ rớt
TechNZ tập trung đầu tư phát triển công nghệ theo lĩnh vực ICT, chế tạo, chế tạo sinh học (bao gồm cả thực phẩm và đồ uống) và công nghệ sinh học Các doanh nghiệp được TechNZ tài trợ là các doanh nghiệp khởi lập, doanh nghiệp đã trưởng thành và cả các doanh nghiệp lớn
3 Các chương trình tài trợ NC&TK của TechNZ
a) Chương trình công nghệ cho phát triển doanh nghiệp: là loại hỗ
trợ hoạt động NC&TK của doanh nghiệp TBG định hướng vào các dự án nhằm đưa các doanh nghiệp đạt được trình độ sản xuất sản phẩm dựa trên công nghệ mới, giá trị gia tăng cao, vượt chội Hiện tại Chương trình đang kêu gọi các dự án về các lĩnh vực như sau:
• Các công nghiệp sinh học: tất cả các dự án các chuyên ngành, không phân biệt
• Công nghệ sinh học: các dự án phải mang lại lợi ích cho NZ ví dụ chế tạo trong nước hơn là mua li-xăng
• Chế tạo: dự án liên quan đến xuất khẩu được ưu tiên
• ICT: các dự án phần mền canh tranh rất mạnh nhưng vẫn có phần cho điện tử và các ngành công nghiệp liên quan
Theo chế độ của TBG, các doanh nghiệp được hỗ trợ tới 50% tổng chi phi của dự án Doanh nghiệp có cơ hội đầu tư thuận lợi để có công nghệ tiến
bộ, được khuyến khích đầu tư cho NC&TK qua các đầu tư mang tính chia sẻ này và sau đó có thể là cả phần chi phí cho thương mại hoá Những dự án NC&TK điển hình có thể có chi phí tới 20.000 NZ đồng (tổng chi của dự án)
và các dự án lớn cũng có thể lên tới 800.000 NZ đồng
b) Chương trình hỗ trợ đánh giá kỹ thuật - nghiên cứu khả thi: là loại
chương trình hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện NC&TK Đối với các DNVVN điều quan trọng là phải tiếp cận từng bước và từng bước đến công nghệ mới NC&TK tự nó đã có những thứ không biết được Trước khi quyết định đầu tư một khoản tiền lớn vào dự án NC&PT thì thấy cũng cần có sự thử nghiệm về tính khả thi của các bước công nghệ dự kiến tiếp cận Điều này đặc biệt quan trọng đối với DNVVN khi tiến hành từng bước một tiệm cận đến công nghệ mới
Trang 25TechNZ chủ trương tài trợ cho hoạt động điều tra thí nghiệm ngắn hạn
về tính khả thi của cách tiếp cận công nghệ đã lựa chọn Một dự án về sự khả thi kỹ thuật cần được thực hiện cho dự án NC&TK trước khi tiến hành Làm điều này sẽ giảm thiểu sự mạo hiểm tài chính liên quan đến bước phát triển công nghệ Tài trợ có thể đến 50% tổng chi phí dự án
c) Tài trợ cho NC&TK khu vực tư nhân (Grants for Private Sector R&D - GPSRD): là loại hỗ trợ doanh nghiệp tiến hành hoạt động NC&TK,
đặc biệt là khu vực tư nhân Tài trợ có thể tới 33,3% chi phí liên quan đến việc doanh nghiệp chi phí cho NC&TK, giá trị tuyệt đối thấp nhất là 10.000 NZ đồng và cao nhất là 100.000 NZ đồng (cả GST) cho DNVVN
Dự án hỗ trợ phát triển kỹ thuật, công nghệ của sản phẩm mới, quy trình mới và dịch vụ trong DNVVN GPSRD giúp doanh nghiệp giải quyết:
• Cần phát triển một quy trình công nghệ mới
d) Hỗ trợ chuyên gia công nghệ (Technology Expert): là loại tài trợ sử
dụng nhân lực, chuyên gia công nghệ trợ giúp doanh nghiệp triển khai các hoạt động NC&TK TechNZ cử các chuyên gia đến doanh nghiệp để giúp doanh nghiệp triển khai sâu các dự án nghiên cứu hoặc phát triển công nghệ định hướng thương mại, đến tại chỗ để chuyển giao kỹ năng và tri thức cho các chuyên giạ của doanh nghiệp để tạo ra năng lực thương mại hoá công nghệ và kỹ thuật mới Doanh nghiệp có thể nộp đơn xin tài trợ đến 168.750 đồng NZ (gồm 150.000 và thuế GST) trong một năm cho 1 chuyên gia để hỗ trợ trả lương cho chuyên gia cho đủ với mức trả lương theo giá thị trường Các doanh nghiệp có trụ sở tại NZ phải là doanh nghiệp hợp pháp và có đăng
ký thuế GST, phải là doanh nghiệp sản xuất hàng bán hoặc dịch vụ vì mục đích lợi nhuận và có tiếng tốt về tài chính
Những dự án không thuộc pham vi hỗ trợ:
• Thay thế công nghệ chuẩn đã được biết mà nó có thể dễ dàng tiếp cận
• Không bao gồm cơ chế và qui trình đã rõ ràng mà các kỹ năng và năng lực của chuyên gia được phổ biến và tiếp nhận bởi doanh nghiệp
Trang 26• Huấn luyện lực lượng nhân viên tiêu chuẩn (chính) của doanh nghiệp
• Hỗ trợ đào tạo nhân viên mới
• Hỗ trợ chuyên gia cho việc hỗ trợ quản lý một dự án không phải kỹ thuật, đánh giá thị trường hoặc phát triển chiến lược thị trường
4- Hỗ trợ cung cấp chuyên gia công nghệ của TechNZ
Những doanh nghiệp cần tư vấn về các vấn đề kỹ thuật thì TechNZ tiến hành đàm phán mời các chuyên gia đến giúp tư vấn cho doanh nghiệp trong 1 khoảng thời gian nhất định Các chuyên gia này đến từ các viện nghiên cứu công lập, các trương đại học, các viện nghiên cứu của New Zealand Mức tài trợ cao nhất là 2.000 đồng NZ cho 1 dự án Việc tài trợ này không yêu cầu việc đồng tài trợ từ phía doanh nghiệp
Tiêu chí cho tài trợ như sau:
• Chỉ dành cho doanh nghiệp có doanh thu dưới 50.000 triệu đồng NZ một năm và có đăng ký GST
• Có khả năng sử dụng ngay một lần để giải quyết vấn đề kỹ thuật
• Có ý định sử dụng ý tưởng chiến lược quan hệ với các chuyên gia hàng đầu theo quan hệ làm việc và đổi mới trong tương lai ở trong nước
Các hoạt động được tài trợ:
• Thiết kế, lập kế hoạch và đánh giá dự án công nghệ
• Đánh giá khoảng cách và cơ hội công nghệ
• Hướng dẫn và tư vấn công nghệ
• Nghiên cứu khả thi công nghệ hoặc kỹ thuật
• Tìm kiếm và mua tậu công nghệ
• Kế hoạch hoá công nghệ chiến lược, bao gồm cả kế hoạch hoá công nghệ cho phát triển doanh nghiệp (TBG)
5- Hỗ trợ học bổng công nghiệp triển khai công nghệ của TechNZ
Đây là loại tài trợ phát triển nhân lực phục vụ phát triển của doanh nghiệp Các sinh viên, cán bộ khoa học của các trường đại học được tài trợ trong một khoảng thời gian để tiến hành các nghiên cứu sâu trong môi trường thương mại của doanh nghiệp Chương trình này thích hợp cho các doanh nghiệp tăng trưởng mạnh và tập trung vào xuất khẩu Các doanh nghiêp phải thể hiện có năng lực mới cũng như có doanh thu tốt và các hiệu quả khác.Dự
án cung ứng chuyên gia giỏi về kỹ thuật đóng vai trò là nguồn đầu vào cho dự
án NC&PT của doanh nghiệp hoặc họ có thể cung cấp tri thức và sự hiểu biết cho việc hình thành mục tiêu cho dự án nghiên cứu của doanh nghiệp
Trang 27Một doanh nghiệp có thể hình thành một dự án sau đó tiếp cận một trường đại học để tìm kiếm một sinh viên, nghiên cứu sinh phù hợp cho dự án nghiên cứu của mình Mục tiêu của dự án:
• Nâng cao kỹ năng và năng lực khoa học, kỹ thuật tại các doanh nghiệp
• Tạo điều kiện cho sinh viên, những người làm thạc sỹ, tiến sỹ và sau tiến sỹ thực hiện nghiên cứu trong môi trường kinh doanh
• Sáng tạo ra các công nghệ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp
• Củng cố liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp
Chỉ hỗ trợ các dự án khoa học, công nghệ và kỹ thuật thực hiện tại doanh nghiệp và do doanh nghiệp quản lý Những chuyên gia đến làm việc tại doanh nghiệp phải dành ít nhất 50% thời gian cho dự án tại doanh nghiệp
Từ việc hỗ trợ hoạt động NC&PT của New Zealand có thể rút ra: Nhà nước cần thiết phải có các hỗ trợ cho doanh nghiệp tiến hành các bước từ thu thập thông tin, xác định chủ đề nghiên cứu và phát triển công nghệ để tăng cường năng lực công nghệ cho doanh nghiệp (tri thức, con người); tìm kiếm chuyên gia phục vụ cho việc thực hiện các fự án NC&PT và hỗ trợ kỹ thuật tại doanh nghiệp, phát triển nhân lực công nghệ cao cho doanh nghiệp Doanh nghiệp có thể tự chủ trì nghiên cứu bằng nhân lực KH&CN của mình với sự hợp tác hỗ trợ của tổ chức KH&CN công lập Việc hợp tác nhiều bên được khuyến khích và Nhà nước có thể hỗ trợ tới 50% chi phí cho nhiên cứu và phát triển công nghệ của doanh nghiệp, song có giới hạn trên và giới hạn dưới
về số tuyết đối Các thủ tực đều dơn giản gọn nhe, rõ ràng, sát với nhu cầu phát triển của doanh nghiệp, do vậy tính khả thi của các quy định rất cao dáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế trong từng thời kỳ cụ thể của New Zealand Các kinh nghiệm của New Zealand co giá trị tham khảo cho việc quy định cụ thể về hỗ trợ các doanh nghiệp từ việc tìm kiếm thông tin công nghệ, tiến hành các hoạt động NC&PT, phát triển nguồn nhân lực KH&CN, tìm kiếm chuyên gia công nghệ, chuyển giao công nghệ
Trang 28CHƯƠNG III
Hiện trạng chính sách khuyến khích hoạt động công nghệ cao
của Việt Nam và các đề xuất hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật Công nghệ cao
I Chính sách khuyến khích hoạt động NC&PT công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao
1 Chính sách khuyến khích phát triển NC&PT CNC
a) Hỗ trợ hoạt động NC&PT và hợp tác doanh nghiệp-tổ chức KH&CN
Trong thực tế vừa qua có sự khác nhau trong nhìn nhận về CNC giữa các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN) và doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp, CNC là công nghệ mang lại hiệu quả hơn tình trạng hiện tại Các cơ quan KH&CN chú ý tới hoạt động sáng tạo công nghệ và cho rằng, CNC gắn với hoạt động nghiên cứu và phát triển (NC&PT) trong nước Các cơ quan nhà nước coi CNC là công cụ để đi tắt đón đầu, đưa nền kinh tế tiến lên CNH, HĐH Khái niệm công nghệ cao (CNC) sau một thời gian triển nghiệm trong thực tiễn đã được trao đổi thống nhất rộng rãi trong các giới, các ngành và cuối cùng đã được thể chế hóa tại Luật công nghệ cao (như đề cấp ở mục trên) Để có chính sách phát triển hợp lý và tập trung đầu tư, Nhà nước ta đã lựa chọn và quy định trong Luật công nghệ cao những công nghệ thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển thuộc 4 lĩnh vực công nghệ: a) Công nghệ thông tin; b) Công nghệ sinh học; c) Công nghệ vật liệu mới; d) Công nghệ tự động hóa mới thuộc diện điều chỉnh của chính sách nhà nước Đây là 4 lĩnh vực công nghệ đã được ưu tiên nghiên cứu, ứng dụng, phát triển ở nước ta trong nhiều thập niên qua và đã được Đảng và Nhà nước thể hiện tại nhiều văn bản khác nhau
Đi sâu phân tích, có thể thấy nhiều chính sách phát triển CNC của Nhà nước thời gian qua chủ yếu tập trung thực hiện các hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao “quốc doanh” ít có cơ chế chính sách đối với các hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao của “dân doanh” Những hoạt động nghiên cứu và phát triển “quốc doanh như vậy” đều do Nhà nước khởi xướng, lựa chọn đề tài và đầu tư 100% kinh phí thực hiện Các chương trình KC của nước ta trong nhiều năm qua đã thể hiện việc tập trung đầu tư của Nhà nước ta vào một số lĩnh vực KH&CN ưu tiên, trọng điểm, trong đó đặc biệt có 4 lĩnh vực công nghệ có nhiều công nghệ cao nêu trên Gần đây đã
có cơ chế, chính sách xã hội hóa hoạt động KH&CN Đây là những bước đi đầu tiên của việc cho phép khuyến khích các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động KH&CN
Trang 29Theo cơ chế trên, các doanh nghiệp, các tổ chức KH&CN tự chủ, tự chịu trách nhiệm nếu có các hoạt động nghiên cứu và phát triển “dân doanh” thì Nhà nước đã có tạo điều kiện hoặc hỗ trợ tài chính (phần rủi ro, đặc biệt là nghiên cứu về công nghệ cao có độ rủi ro rất cao) để họ tự tiến hành hoặc hợp tác với các tổ chức KH&CN, nhà khoa học có đủ trình độ để tiến hành các hoạt động nghiên cứu và phát triển CNC của mình
Từ năm 1999 (NĐ119) chúng ta đã mở ra một cơ chế hỗ trợ hoạt động nghiên cứu và phát triển của các doanh nghiệp trong một số hướng ưu tiên, trọng điểm của nhà nước Nhưng về cụ thể Nhà nước chưa nêu rõ lĩnh vực nào
là lĩnh vực ưu tiên, trọng điểm và mức tài trợ của Nhà nước cho các đề tài này mới chỉ tới 30% kinh phí thực hiện đề tài Số các doanh nghiệp đề nghị hỗ trợ chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên khả năng huy động 70% vốn đối ứng từ nguồn tự có để thực hiện đề tài nghiên cứu gặp nhiều khó khăn và khả năng làm nghiên cứu cũng hạn chế Phần lớn các doanh nghiệp được hỗ trợ từ
500 triệu đồng đến 1.000 triệu đồng cho 1 đề tài Tỷ lệ hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp theo quy định không quá 30% tổng kinh phí cần thiết để thực hiện đề tài, theo ý kiến của phần lớn các doanh nghiệp là thấp, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Theo đánh giá của Vụ Tài chính - Kế hoạch, Bộ KH&CN, cơ quan trực tiếp quản lý việc hỗ trợ tài chính cho các DN theo Nghị định 119 thì tiềm lực KH&CN (về cơ sở vật chất - kỹ thuật, cán bộ nghiên cứu khoa học, tài chính,…) của các doanh nghiệp còn hạn chế; khả năng đáp ứng về khoa học và công nghệ của các tổ chức nghiên cứu và phát triển, dịch vụ khoa học và công nghệ trong nước chưa cao Nhiều nhận xét cho thấy mức hỗ trợ này là thấp so với thông lệ quốc tế và đặc biệt chưa có hỗ trợ tài chính cao hơn, ưu đãi hơn đối với nghiên cứu và triển khai về công nghệ cao, một lĩnh vực có độ rủi ro lớn, doanh nghiệp không sẵn sang đầu tự cho lĩnh vực này Đối với doanh nghiệp Việt Nam còn non yếu về mọi mặt thì
sự hỗ trợ tài chính yếu và lĩnh vực hỗ trợ không cụ thể đã làm cho hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ nói chung và công nghệ cao nói riêng của doanh nghiệp không phát triển Việc hỗ trợ đào tạo nhân lực làm nghiên cứu
và phát triển cho các doanh nghiệp đã không được đặt ra như ở nước ngoài Một điều nữa là khi doanh nghiệp chưa có đủ năng lực tự triển khai các đề tài nghiên cứu của mình thì có thể hợp tác với viện nghiên cứu, trường đại học để thực hiện nhiệm vụ này Tuy nhiên trong thực tế Việt Nam, cơ chế hợp tác của các cơ quan KH&CN với các doanh nghiệp thường không được thiết lập có lẽ
do các cơ quan khoa học chưa đủ năng lực để giải quyết bài toán nghiên cứu của doanh nghiệp đặt ra và Nhà nước cũng chưa có cơ chế đủ mạnh để doanh nghiệp và tổ chức KH&CN liên kết, hợp tác để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp Doanh nghiệp vẫn cho rằng, Nhà nước và giới khoa học về chuyên môn và về tài chính chưa quan tâm, hỗ trợ
Trang 30đụng được đúng những gì cần cho phát triển về nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp
Tình trạng chính sách không đi vào cuộc sống, nghiên cứu không gắn với sản xuất, sự lạc hậu về công nghệ của các doanh nghiệp đang tồn tại phổ biến ở nước ta và gây cản trở đối với sự phát triển kinh tế nói chung Song, riêng đối với lĩnh vực CNC, chúng có ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng Phát triển CNC vốn đòi hỏi và cho phép thống nhất chặt chẽ hơn bao giờ hết các thành phần trong nền kinh tế cũng như kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu và sản xuất Có thể nói, đặc trưng động lực và sức mạnh của CNC chính là ở sự thống nhất và gắn bó chặt chẽ đó
Hiện tại, dường như các doanh nghiệp chưa thấy rõ hoạt động nghiên cứu của các tổ chức khoa học mang lại ích lợi thiết thực cho công việc kinh doanh của họ Để thoát khỏi định kiến này và cải thiện hình ảnh trước doanh nghiệp, các tổ chức KH&CN cần xác định rõ lại chức năng của mình là coi trọng đồng thời các hoạt động nghiên cứu và thương mại hoá, triển khai kết quả nghiên cứu vào cuộc sống Các nhà nghiên cứu của viện cần hạn chế tập trung vào những vấn đề quá xa vời và tiếp cận hơn nữa vào nhu cầu thực tế của doanh nghiệp Mặc khác, đặt trong mối liên kết với doanh nghiệp, cộng đồng khoa học phải có sự liên kết chặt chẽ nội bộ Từ những đơn vị khác nhau, lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, các nhà khoa học tạo thành các nhóm phối hợp hoạt động nhằm giải quyết vấn đề bức xúc của sản xuất Từ chỗ tồn tại tản mạn, độc lập chuyển sang liên kết chặt chẽ giữa các đơn vị nghiên cứu khác nhau để đủ sức tiến hành nghiên cứu tổng hợp theo yêu cầu của doanh nghiệp
Quan hệ liên kết sẽ là môi trường thuận lợi để doanh nghiệp, cơ quan KH&CN và cơ quan nhà nước chia sẻ các quan niệm cũng như phối hợp hành động trong phát triển CNC
Không thể phủ nhận những nỗ lực phát triển CNC trong thời gian qua với nhiều chính sách được ban hành, nhiều chương trình nghiên cứu được thực hiện Tuy nhiên, kết quả thực tế lại không được như mong đợi bởi một nguyên nhân chính là thiếu quan tâm và hỗ trợ đúng mức về chuyên môn (mà rông ra là phát triển nhân lực KH&CN) và tài chính cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ nói chung và CNC nói riêng của doanh nghiệp Đây chính là điều cần nhấn mạnh trong mối quan hệ thống nhất giữa quan niệm, tổ chức và hành động nhằm phát triển hoạt động nghiên cứu và phát triển CNC ở nước ta
b) Chính sách thúc đẩy NC&PT CNC thông qua chương trình, quỹ, ngân hàng