1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế với việc xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở việt nam

361 2,2K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế với việc xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn Cường, TS. Vế Đề Đình Toàn
Trường học Học viện Tư pháp
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 361
Dung lượng 2,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những tư tưởng cơ bản rút ra từ việc nghiên cứu đề tài a Tham gia của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế vào việc xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế là xã hội hoá

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ

BÁO CÁO PHÚC TRÌNH

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI NGHỀ NGHIỆP VÀ HIỆP HỘI KINH TẾ VỚI VIỆC XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT KINH TẾ

TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI : TS VÕ ĐÌNH TOÀN

PHÓ CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: LUẬT GIA: TRẦN HỮU HUỲNH

7536

22/10/2009

HÀ NỘI – 2007

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, trọng tâm là công tác lập pháp, xây dựng chương trình dài hạn về lập pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới quy trình ban hành và hướng dẫn thi hành luật ” “ Thực hiện tốt quy chế dân chủ, mở rộng dân chủ trực tiếp ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý xã hội, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng1”

Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước ta đề ra nhiệm vụ cấp bách là phải đổi mới và hoàn thiện khung pháp luật, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính để phát huy tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho sản xuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh tế với các hình thức sở hữu khác nhau

Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến luợc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 chỉ rõ: “ Từ nay đến năm 2010 và các năm tiếp theo tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tập trung vào một số lĩnh vực pháp luật kinh tế trọng điểm đáp ứng kịp thời yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế”

Kể từ khi công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được Đảng và Nhà nước ta khởi động, đặc bịêt là trong những năm gần đây, hệ thống pháp luật của nước ta trong đó có pháp luật kinh tế từng bước được đổi mới và hướng tới sự phù hợp với những đòi hỏi của kinh tế thị trường và yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, thực tế thi hành cho thấy, pháp luật kinh tế ở nước ta còn chưa ổn định và thiếu đồng bộ Các quy định pháp luật chưa bảo đảm tính dự báo cao nên còn lạc hậu so với sự vận động và phát triển của các quan hệ kinh tế, dẫn tới tình trạng phải sửa đổi, bổ sung nhiều Để nâng cao chất lượng của pháp luật kinh tế đòi hỏi đồng thời phải tiến hành nhiều giải pháp, trong đó có việc thu hút đông đảo các lực

1

V¨n kiÖn §¹i héi §¹i biÓu toµn quèc lÇn thø IX, Nhµ xuÊt b¶n ChÝnh trÞ Quèc gia

Trang 3

ta có ý nghĩa thiết thực Mặc dù trong những năm gần đây, các chính sách kinh tế

và pháp luật kinh tế được ban hành đã có sự tham gia của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế nhưng hiệu quả chưa cao chưa phát huyđược đầy đủ tiềm năng của họ Điều đó đặt ra yêu cầu là cần nghiên cứu làm rõ vai trò và tình hình thực tế tham gia của các tổ chức này vào việc xây dựng chính sách pháp luật kinh tế, trên cơ sở đó tìm giải pháp để nâng cao hiệu quả tham gia của các chủ thể này Tuy nhiên, đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện

về vấn đề này

Từ thực tế trên đây cho thấy, việc nghiên cứu làm rõ về lý luận, tình hình thực tế và tìm cơ chế phát huy vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế trong việc xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam có ý nghĩa thiết thực đối với việc tìm giải pháp để đổi mới quy trình xây dựng, nâng cao chất lượng pháp luật kinh tế

2.Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Làm rõ căn cứ lý luận và thực tiễn của việc tham gia của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế trong xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

- Kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tham gia của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế trong việc xây dựng chính sách và pháp luật kinh

tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

3.Nhu cầu kinh tế xã hội và địa chỉ áp dụng

- Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần bổ sung luận cứ khoa học cho việc triển khai Chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và

Trang 4

- Sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, học tập liên quan tới xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế

4.Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích xác định cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thực hiện vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế trong xây dựng chính sách pháp luật kinh tế, để trên cơ sở đó tìm giải pháp phát huy vai trò của các tổ chức này Do đó, việc nghiên cứu đề tài không nhằm mục đích xác định vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội hay xác định tư cách chủ thể quan

hệ pháp luật nói chung của các tổ chức này Ngoài ra, việc tiếp cận nghiên cứu đề tài cũng chỉ giới hạn ở góc độ công trình nghiên cứu khoa học pháp lý

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, phương pháp luận nghiên cứu là phép biện chứng duy vật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, về phát huy dân chủ và xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa Các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học, thống kê v.v

6.Kết cấu của đề tài

Công trình nghiên cứu sẽ tập trung giải quyết các vấn đề sau:

1 Những vấn đề lý luận

1.1 Khái niệm, phân loại các tổ chức xã hội-nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế 1.2 Những yêu cầu đặt ra trong xây dựng chính sách pháp và luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở VN

Trang 5

1.3.Sự cần thiết tham gia của các tổ chức xã hội-nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế trong việc xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

1.4 Các hình thức tham gia của các tổ chức xã hội-nghề nghiệp và các hiệp hội kinh tế trong việc xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế

2 Thực trạng pháp luật và những vấn đề phát sinh từ thực tế tham gia xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế của các tổ chức xã hội-nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế ở nước ta hiện nay

2.1 Thực trạng pháp luật về việc tham gia của các tổ chức xã hội-nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế trong xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế ở Việt Nam

2.2 Thực tế tham gia xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế của các tổ chức xã hội-nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế ở Việt Nam, kinh nghiệm nước ngoài

3.2 Giải pháp về hoàn thiện pháp luật

7 Những tư tưởng cơ bản rút ra từ việc nghiên cứu đề tài

a) Tham gia của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế vào việc xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế là xã hội hoá công việc của Nhà nước, đó

là trao quyền của Nhà nước cho các tổ chức này mà không phải là sự phân công hay phân cấp trong một hệ thống quyền lực Trong xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế sự tham gia của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế là

do nhu cầu nội tại của pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường mà không phải

là sự ban phát quyền lợi của Nhà nước

b) Các quy định của pháp luật về sự tham gia của hội, hiệp hội trong xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế là điều kiện bắt buộc phải có để thực hiện việc tham gia của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế Cùng với các

Trang 6

quy định về trao quyền tham gia rõ rang, minh bạch, pháp luật phải có các quy định cụ thể về cơ chế bảo đảm thực hiện quyền tham gia của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế trong xây dựng chính sách, pháp luật kinh tế, đồng thời chính bản thân Nhà nước phải quan tâm thực sự đến việc tổ chức thì việc tham gia của các tổ chức này mới có hiệu quả thiết thực

c) Cơ chế tham gia của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế trong việc xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế phụ thuộc cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước nên ở Việt Nam việc nâng cao vai trò, phát huy hiệu quả của các tổ chức này phải đi theo côn đường đổi mới mà không phải là con đường cải

tổ

Để thực hiện đổi mới việc tham gia xây dựng chính sách, pháp luật kinh tế của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế, Nhà nước không chỉ đóng vai trò là chủ thể trao quyền mà phải là chủ thể tổ chức mang tính định hướng, tạo lập môi trường chính trị - pháp lý

Trang 7

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.1.Khái niệm, phân loại các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế

1.1.1.Đặt vấn đề

Trước đây, hiện nay và về sau, ở nước ta cũng như ở các nước khác trên thế giới, có những vấn đề mà Nhà nước tự bản thân không có khả năng giải quyết được, hoặc giải quyết kém hiệu quả Lại có những vấn đề vượt ra ngoài khuôn khổ mối quan hệ chính trị và pháp lý giữa công dân và Nhà nước mà từng cá nhân cũng không thể giải quyết được Đối với những vấn đề như vậy, các Nhà nước đều phải dựa vào các tổ chức dân sự (phi nhà nước) để giải quyết bằng những phương pháp quản lý, điều chỉnh đa dạng, phù hợp với từng loại đối tượng Bằng sự phân công

và hợp tác này giữa Nhà nước và các tổ chức xã hội mà một xã hội dân chủ được tạo ra và phát triển một cách ổn định, bền vững

Trong cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, các mối quan hệ trong xã hội nước ta, nhất là quan hệ giữa Nhà nước và công dân đã có sự thay đổi rất cơ bản Quan điểm cũ trước đây về việc Nhà nước quản lý, chăm lo mọi mặt của đời sống xã hội (thực chất là sự can thiệp quá trực tiếp và qúa sâu vào đời sống dân sự) đã hoàn toàn thay đổi Chủ trương xã hội hoá một số hoạt động mà Nhà nước không nhất thiết phải trực tiếp làm hoặc dân có thể tự làm có hiệu quả hơn, chính là điều kiện để khai thác mọi nguồn lực trong dân (cả về vốn, nhân lực và khả năng quản lý) thông qua các tổ chức tự quản Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, khoa học những năm qua đã giúp sức cho từng cá nhân trong xã hội nâng cao thêm ý thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tính sáng tạo của mình Trong điều kiện như vậy, quần chúng nhân dân đã có thêm cơ hội để phát triển bản thân, muốn đóng góp ngày càng nhiều hơn cho phát triển xã hội và đó chính là lý do làm cho các tổ chức dân sự ngày càng trở nên có sức hấp dẫn và có chiều hướng phát triển tích cực

Theo quy định của pháp luật, ngoài các tổ chức chính trị, tổ chức tôn giáo ở Việt Nam hiện có các loại tổ chức dân sự sau đây:

Trang 8

Thứ nhất, các tổ chức chính trị - xã hội (Công đoàn, Mặt trận Tổ quốc Việt

Nam và các tổ chức thành viên: Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh);

Trong quá trình tổ chức và hoạt động, các tổ chức chính trị - xã hội thể hiện

rõ nét 2 tính chất: tính chất chính trị và tính chất xã hội như sau:

Về tính chất chính trị: Tính chất chính trị của các tổ chức này có được là

nhờ 2 yếu tố cơ bản sau đây:

Một là, các tổ chức chính trị - xã hội là tổ chức gần gũi và có quan hệ chặt

chẽ nhất với các cơ quan của Đảng cầm quyền, nói cách khác là các tổ chức này chịu sự lãnh đạo trực tiếp nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam Thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, Đảng tập hợp quần chúng Các tổ chức chính trị - xã hội phản ánh trung thành những nhu cầu, nguyện vọng, tâm tư của hội viên với Đảng

để Đảng có những chủ trương, đường lối, chính sách đúng Căn cứ từ đường lối, chính sách của Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội hướng dẫn hội viên thực hiện tốt các nhiệm vụ của hội theo mục tiêu, đường lối của Đảng

Hai là, các tổ chức chính trị - xã hội còn có quan hệ rất chặt chẽ với bộ máy

nhà nước Quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn với Nhà nước là quan hệ phối hợp để thực hiện nhiệm vụ chính trị chung của đất nước là xây dựng một nước Việt Nam dân chủ và giàu mạnh Nói một cách thẳng thắn thì, các tổ chức này là bàn tay nối dài của Nhà nước, giúp Nhà nước thực hiện những nhiệm

vụ kinh tế – xã hội quan trọng trong những lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội

Sự gắn bó chặt chẽ này đã làm tăng thêm tính chất chính trị của các tổ chức này

Trong quá trình hoạt động, các tổ chức chính trị - xã hội phải tuân thủ luật pháp

của Nhà nước, tham gia các hoạt động nhằm đề ra và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, chế độ liên quan đến nghĩa vụ, quyền lợi của các đối tượng là thành viên của tổ chức mình, đồng thời, giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước, khắc phục tình trạng quan liêu, tham nhũng của bộ máy nhà nước

Về tính chất xã hội của các tổ chức này được thể hiện ở những điểm sau đây:

- Các tổ chức chính trị - xã hội là những tổ chức có sự tham gia của đông

đảo người lao động, các tầng lớp nhân dân, các giai tầng xã hội

Trang 9

- Cơ chế tham gia và quản lý của các tổ chức này là mềm dẻo, chủ yếu dựa

trên cơ sở tự nguyện của các thành viên, chế tài không mang tính cưỡng chế, áp đặt, mà chủ yếu là dùng biện pháp giáo dục, thuyết phục để điều chỉnh các mối quan hệ giữa các thành viên và giữa tổ chức với thành viên

Thứ hai, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp (Hội Luật gia Việt Nam,

Hội nhà văn, Hội nhà báo…)

Thứ ba, tổ chức xã hội thuần tuý (Hội người cao tuổi, Hội khuyến học, Hội phẫu thuật nụ cười, Hội phục hồi chức năng ) Trong các tổ chức xã hội, tính xã

hội này còn được thể hiện đậm nét hơn ở những biểu hiện cụ thể sau đây:

- Trong kết cấu tổ chức, các tổ chức xã hội là tổ chức liên kết hoàn toàn tự nguyện của công dân, không phân biệt thành phần xã hội, trình độ chuyên môn, tín ngưỡng, giàu, nghèo, nam, nữ Hình thức tổ chức cũng như tên gọi của các tổ chức này là hết sức đa dạng, phong phú, phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của các công dân Các tổ chức xã hội, đoàn thể vừa là người đại diện, vừa là người bảo vệ lợi ích của các thành viên trong những mối quan hệ xã hội nhất định

- Trong nội dung hoạt động, các tổ chức xã hội luôn lấy mặt xã hội của sản

xuất, kinh tế, chính trị, văn hoá (tức là từ nhân tố con người) để hoạch định nội dung hoạt động của mình nhằm thoả mãn các nhu cầu, sở thích, nguyện vọng của các thành viên

- Phương thức hoạt động, các tổ chức này hoạt động theo những nguyên tắc

và phương pháp hết sức mềm dẻo Cán bộ của các tổ chức xã hội thường được bầu

ra trên cơ sở uy tín và sự tôn vinh của các thành viên nên họ thực sự là thủ lĩnh của

tổ chức, là người đại diện thật sự của các thành viên Không có biện pháp cưỡng chế hành chính nhà nước nào được áp dụng trong quan hệ giữa các tổ chức và hội viên cũng như giữa các hội viên với nhau Các quan hệ này được xác lập và xử lý trên cơ sở giáo dục, thuyết phục và tính tự giác cao

- Các tổ chức xã hội, đoàn thể hoạt động dựa trên cơ sở pháp luật và các quy chế, điều lệ do tổ chức tự ban hành mà không cần có sự phê duyệt của cơ quan nhà nước

Thứ tư, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp (các hội, hiệp hội ngành nghề);

Trang 10

Các tổ chức xã hội - nghề nghiệp là tổ chức của quần chúng, được phát triển mạnh mẽ trong cơ chế kinh tế thị trường Các tổ chức này ít mang tính chất chính trị, bên cạnh tính xã hội thì các tổ chức này còn mang nặng tính nghề nghiệp Tính nghề nghiệp của tổ chức này được thể hiện chủ yếu ở đối tượng tham gia và lĩnh vực hoạt động của tổ chức đó Thành viên của tổ chức xã hội - nghề nghiệp thường gồm những người có cùng nghề nghiệp chuyên môn, tập hợp nhau trong một hội hoặc hiệp hội nhằm hỗ trợ, giúp đỡ nhau hành nghề tốt hơn, chống lại hoặc giảm

thiểu những tác nhân bất lợi từ bên ngoài

Thứ năm, các tổ chức kinh tế (các doanh nghiệp dưới mọi hình thức: Doanh

nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, hợp tác xã )

Với phương thức tổ chức, quản lý mềm dẻo, linh hoạt, nội dung hoạt động phong phú, đa dạng, các tổ chức dân sự đã góp phần bảo đảm sự ổn định xã hội, đáp ứng được các nhu cầu trong cuộc sống của mọi giới (về giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, nghề nghiệp ), tạo ra đối trọng (không phải là đối lập) cần thiết đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, góp phần ngăn chặn các hành vi quan liêu, cửa quyền Vai trò đối trọng đó thể hiện qua việc các tổ chức dân sự này chia sẻ với Chính phủ các dịch vụ công cộng, đáp ứng kịp thời và đầy đủ nhu cầu đời sống với hiệu qủa cao; hoặc qua tham gia thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội với cách làm gọn nhẹ, tiết kiệm, thiết thực và được dân trực tiếp kiểm tra Các tổ chức này còn cung cấp cho Chính phủ các thông tin, những kiến nghị thiết thực của dân, qua đó giúp Chính phủ kịp thời xem xét, điều chỉnh chính sách và các chủ trương của mình cho sát đúng với tình hình thực tiễn trong từng giai đoạn

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp

Tổ chức xã hội - nghề nghiệp là một loại pháp nhân hoạt động theo các quy định của Bộ luật Dân sự, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, chuẩn y điều lệ và có hội viên là cá nhân, tổ chức tự nguyện đóng góp tài sản hoặc hội phí nhằm phục vụ nhu cầu chung của hội viên và mục đích của hội2

2

§iÒu 104 Bé luËt D©n sù 2005

Trang 11

Nghiên cứu các quy định của pháp luật, có thể rút ra một số đặc điểm của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp như sau:

Thứ nhất, tổ chức xã hội - nghề nghiệp là một pháp nhân;

Thứ hai, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được thành lập theo sáng kiến và ý chí

tự nguyện của các thành viên;

Thứ ba, phải được sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì các

tổ chức xã hội - nghề nghiệp mới được thành lập và hoạt động;

Thứ tư, mục đích của tổ chức xã hội - nghề nghiệp là phục vụ các hoạt động

có tính chất nghề nghiệp

1.1.3 Hiệp hội của các tổ chức kinh tế

Hiệp hội của các tổ chức kinh tế là hình thức liên kết kinh tế của các tổ chức

kinh tế có hoạt động cùng ngành nghề Trong cơ chế kinh tế tập trung, bao cấp, với việc Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch cụ thể cho từng đơn vị kinh tế, định giá và bao tiêu sản phẩm, các hình thức liên kết trong hoạt động kinh tế trở nên đơn điệu

và không thiết thực Nhìn chung, trong thời kỳ này, các hội/ hiệp hội kinh tế không phát triển vì các doanh nghiệp nhà nước chiếm vai trò tuyệt đối trong nền kinh tế

kế hoạch hoá tập trung, không có nhu cầu thành lập và tham gia hiệp hội

Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, các hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế phát triển mạnh Đây là hình thức phối hợp hoạt động, do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng nhau bàn bạc và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất, kinh doanh của mình, nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển theo hướng có lợi nhất4 Mục tiêu của việc liên kết kinh tế là tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh

Trang 12

tế hoặc cỏc quy chế hoạt động của từng tổ chức liờn kết, để tiến hành phõn cụng sản xuất chuyờn mụn hoỏ và hiệp tỏc hoỏ, nhằm khai thỏc tốt tiềm năng của từng đơn vị tham gia liờn kết, gúp phần nõng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm, nõng cao hiệu quả kinh tế, nõng cao thu nhập của cỏc bờn liờn kết, cũng như tăng thu ngõn sỏch Nhà nước, hoặc để cựng nhau tạo thị trường chung, phõn định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thành viờn, giỏ cả cho từng loại sản phẩm, để bảo vệ lợi ớch kinh tế của nhau, tạo cho nhau cú khoản thu nhập cao nhất.5

Trong cơ chế kinh tế thị trường hiện nay ở Việt Nam, cỏc doanh nghiệp cần thiết gia nhập cỏc hiệp hội vỡ những lý do sau đõy:

Thứ nhất, tiến trỡnh cải cỏch hành chớnh, đổi mới tổ chức và hoạt động của

cỏc cơ quan quản lý nhà nước đang diễn ra một cỏch mạnh mẽ mà trọng tõm của nú

là tỏch bạch chức năng quản lý hành chớnh của cỏc cơ quan quản lý nhà nước với chức năng sản xuất, kinh doanh của cỏc doanh nghiệp, tiến tới xoỏ bỏ sự can thiệp quỏ sõu của cỏc cơ quan quản lý nhà nước vào hoạt động của cỏc doanh nghiệp Theo đú, khỏi niệm “cơ quan chủ quản” của doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp nhà nước) sẽ dần mất đi, một số điều kiện thuận lợi do cơ quan chủ quản đưa lại sẽ khụng cũn, mọi doanh nghiệp sẽ bỡnh đẳng trước phỏp luật, do vậy, nhu cầu dựa vào cỏc hiệp hội để hỗ trợ và đại diện bảo vệ quyền lợi sẽ tăng lờn

Thứ hai, trong quỏ trỡnh phỏt triển và hội nhập, cỏc doanh nghiệp Việt Nam

(nhất là cỏc doanh nghiệp nhỏ và vừa) sẽ bị cạnh tranh mạnh Trong khi đú, với năng lực cạnh tranh thấp (hạn chế về tài chớnh, nhõn lực, cụng nghệ, thụng tin, kỹ năng quản lý ) thỡ tất yếu cỏc doanh nghiệp sẽ đoàn kết tập hợp lại theo cỏc ngành hàng để tăng năng lực cạnh tranh cho mỡnh Thụng qua cỏc hiệp hội, doanh nghiệp

cú điều kiện tiếp cận được thị trường rộng lớn hơn, được hưởng cỏc dịch vụ tốt hơn, được bảo vệ và hỗ trợ hiệu qủa hơn, trỏnh lóng phớ cỏc nguồn lực

Thứ ba, khi tham gia vào thị trường quốc tế sẽ cú những thoả thuận, đàm

phỏn giữa cỏc khu vực thị trường về chớnh sỏch thương mại Đõy là lỳc cỏc hiệp hội thể hiện vai trũ của mỡnh, đấu tranh cho cỏc hội viờn và cũng chỉ cú hiệp hội mới làm được điều này Doanh nghiệp đứng ngoài hiệp hội vừa bị thiếu thụng tin,

5

Điều 2 Quyết định số 38-HĐBT

Trang 13

vừa không có tiếng nói Hiệp hội sẽ là tổ chức hợp tác, liên kết “mềm” theo chiều ngang để phối hợp hoạt động bảo vệ lợi ích chung và giúp nhau nâng cao sức cạnh tranh và đó là nhân tố thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

Nhận thức được vai trò và tác dụng rất quan trọng đó của hiệp hội các tổ chức kinh tế, Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII) đã đề ra tư tưởng chỉ đạo: “Phát triển các hình thức hợp tác giữa các doanh nghiệp nhà nước với các hợp tác xã, với các hộ nông dân, xây dựng các hiệp hội ngành nghề theo cơ chế dân chủ, tự quản” Tiếp đó, Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 5 khoá IX (3/2002) về phát triển kinh tế tư nhân cũng khẳng định việc tăng cường vai trò các hiệp hội doanh nghiệp: Phát triển vai trò Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam và các hội doanh nghiệp, có chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực hoạt động của các hiệp hội

Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng nêu rõ: “Chính phủ khuyến khích thành lập và củng cố việc trợ giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các cơ quan, các tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức nghề nghiệp”

Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 của Chính phủ đã tạo lập cơ

sở pháp lý quan trọng để giải quyết các vấn đề về tổ chức, hoạt động và quản lý hội Theo quy định tại khoản 4, Điều 37 của Nghị định số 88/2003/NĐ-CP thì: Hiệp hội của các tổ chức kinh tế được thành lập theo Quyết định số 38-HĐBT ngày 10/4/19989 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về liên kết kinh tế trong sản xuất, lưu thông, dịch vụ không phải xin phép thành lập lại Nếu như trước đây, có một số tổ chức nghề nghiệp vẫn được gọi là Hội, Đoàn… khiến có sự thiếu rõ ràng về vai trò, tính chất của tổ chức, dễ gây nhầm lẫn ảnh hưởng đến phương thức hoạt động của hiệp hội thì nay, tại Thông tư số 01/2004/TT-BNV ngày 15/01/2004 của Bộ Nội vụ, các hình thức liên kết về kinh tế được gọi thống

nhất là hiệp hội của các tổ chức kinh tế

Hiệp hội của các tổ chức kinh tế là tổ chức xã hội - nghề nghiệp được hình thành trên cơ sở tự nguyện của các tổ chức kinh tế cùng ngành nghề, thuộc mọi thành phần kinh tế, có tư cách pháp nhân, nhằm bảo vệ và phát triển ngành nghề

Trang 14

Thứ nhất, hiệp hội của các tổ chức kinh tế là tổ chức dân sự (phi Chính phủ)

mang tính chất nghề nghiệp (nghĩa là có mục đích phục vụ cho nghề nghiệp), do các tổ chức kinh tế tự nguyện liên kết với nhau để điều hoà lợi ích nội bộ hiệp hội, bảo vệ lợi ích chung, hỗ trợ lẫn nhau đối phó với các tác nhân bất lợi từ bên ngoài, nâng cao hiệu qủa kinh doanh, gia tăng lợi nhuận của từng đơn vị thành viên

Tính chất nghề nghiệp của hiệp hội thể hiện ở chỗ bản thân hiệp hội không phải là một tổ chức kinh doanh, không trực tiếp hoạt động kinh doanh với sự góp vốn và điều hành chung như các tổ chức liên kết cứng (tổng công ty, công ty mẹ, công ty con, tập đoàn kinh tế); không can thiệp vào hoạt động kinh doanh riêng của từng đơn vị thành viên Đó là tổ chức phi lợi nhuận, chỉ gián tiếp tác động để từng thành viên tối đa hoá lợi nhuận

Thứ hai, hiệp hội là tổ chức tự nguyện, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật,

có tư cách pháp nhân, độc lập với khu vực nhà nước và không phải chịu sự quản lý của cơ quan chủ quản theo ngành như các doanh nghiệp nhà nước Hiệp hội là một đối tác của chính quyền để làm cầu nối giữa doanh nghiệp với nhà nước, được nhà nước bảo vệ quyền lợi, tạo điều kiện để thúc đẩy kinh doanh phát triển có hiệu quả Nhà nước khuyến khích và có thể hỗ trợ thêm đối với các ngành trọng yếu (không phải bao cấp mà là ưu tiên giao các dự án phát triển)

Do đặc tính này mà việc thành lập hiệp hội do một số sáng lập viên vận động

và đăng ký hoạt động với cơ quan Nội vụ chứ không phải do Bộ, Sở quản lý ngành đứng ra thành lập hoặc cho phép cũng như phê duyệt điều lệ7 Nói cách khác, hiệp hội chịu sự điều chỉnh của pháp luật về dân sự thay vì pháp luật về doanh nghiệp

Trang 15

Điều này cần được nhấn mạnh, bởi lẽ, lâu nay có nhiều trường hợp các Bộ, Sở quản lý ngành vẫn hành xử như là cơ quan chủ quản của các hiệp hội, thậm chí có Thứ trưởng, Giám đốc Sở đứng ra làm Chủ tịch hiệp hội

Thứ ba, về phương thức hoạt động của hiệp hội, hiệp hội không hoạt động

như một cơ quan quản lý kinh doanh, không can thiệp vào các hoạt động tự chủ của các đơn vị thành viên Bản thân hiệp hội cũng không tổ chức hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận mà chỉ có thể tổ chức một số dịch vụ phục vụ nội bộ hiệp hội để gây quỹ hoạt động tự trang trải kinh phí hoặc tạo thêm phúc lợi tập thể

Mọi chủ trương của hiệp hội đều thông qua thương lượng dân chủ, bình

đẳng giữa các thành viên, phục vụ quyền lợi chung của hiệp hội, có sự nhất trí cao

Các hoạt động chung được huy động lực lượng từ các đơn vị thành viên với

sự phân công hợp lý có sự điều phối của cơ quan điều hành hiệp hội Bộ máy giúp việc cơ quan điều hành hiệp hội rất gọn nhẹ, chủ yếu là thuê theo hợp đồng (bao gồm chuyên gia, nhân viên)

Tài chính (thu, chi kinh phí hoạt động) phải công khai, minh bạch, có chức danh kiểm soát và có chế độ báo cáo Phần kinh phí kết dư không được phân chia cho cá nhân, phải để lại quỹ để chi đúng mục đích Hội phí đóng góp của các hội viên được quy định trong điều lệ, cũng có thể tự nguyện đóng góp thêm Khi hợp nhất, chia, tách hoặc giải thể chấm dứt hoạt động cần phải kiểm kê, đánh giá tài sản

và thống nhất cách xử lý

Việc gia nhập hoặc rút khỏi hiệp hội là hoàn toàn tự nguyện Khi tham gia

mỗi đơn vị thành viên được bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kết qủa kinh doanh; được bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ; không hoạt động riêng

rẽ trái với thỏa thuận chung gây phương hại cho các thành viên khác Các biện pháp cạnh tranh với đối tác bên ngoài cần được phối hợp

Cơ quan quyền lực cao nhất của hiệp hội là Đại hội toàn thể đại diện các

đơn vị thành viên với nhiệm kỳ 2 hoặc 3 năm Đại hội lần đầu do các thành viên sáng lập (Ban vận động thành lập) triệu tập và chủ trì Đại hội bàn và quyết định điều lệ, các cơ chế, chương trình hoạt động từng nhiệm kỳ và các chủ trương lớn

có ảnh hưởng lớn tới sự tồn tại và phát triển của hiệp hội

Trang 16

Cơ cấu thành viên hiệp hội do điều lệ quy định Ban điều hành hiệp hội là

cơ quan điều phối các hoạt động thường xuyên, chấp hành nghị quyết đại hội Tuỳ theo quy mô hiệp hội, có thể có chủ tịch, phó chủ tịch, tổng thư ký hoặc gọn hơn

là chủ tịch và một uỷ viên điều hành Thành viên ban điều hành thường là những giám đốc đơn vị thành viên kiêm nhiệm, chỉ trường hợp hiệp hội có quy mô toàn quốc mới cần có người chuyên trách (tổng thư ký) Nói chung, mô hình tổ chức cơ quan điều hành là đa dạng với nguyên tắc gọn nhẹ với số cán bộ, nhân viên giúp việc tối thiểu Hiệp hội có thể có ban kiểm soát (tài chính) do đại hội bầu ra (ngoài ban điều hành), hoặc chỉ cần 1 uỷ viên kiểm soát Khi cần thiết có thể sử dụng cơ quan kiểm toán để xử lý

Các nguồn thu kinh phí của hiệp hội bao gồm:

- Đóng góp vào quỹ của các hội viên (do Đại hội quy định), không nhất thiết bình quân mà tuỳ quy mô và thực lực của từng đơn vị;

- Tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước;

- Hỗ trợ của Nhà nước do đóng góp có hiệu qủa vào các nhiệm vụ của Nhà nước;

- Các nguồn thu hợp pháp khác (gửi tiết kiệm, dịch vụ gây quỹ )

1.1.4 Những điểm khác biệt giữa tổ chức xã hội - nghề nghiệp và hiệp hội của các tổ chức kinh tế theo pháp luật Việt Nam

Trước hết phải khẳng định: về bản chất, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp và hiệp hội của các tổ chức kinh tế là những hình thức tổ chức tập hợp các cá nhân, các tổ chức kinh tế gắn với các quan hệ sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế Đây là những tổ chức phi Chính phủ, được các thành viên tự nguyện gia nhập, hoạt động theo pháp luật, nội quy và điều lệ của tổ chức Các tổ chức này vừa mang tính

xã hội, vừa mang tính nghề nghiệp, đặc biệt phát triển và phát huy tác dụng trong

cơ chế kinh tế thị trường

Theo pháp luật hiện hành, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp và hiệp hội của các tổ chức kinh tế có những loại sau:

Trang 17

* Loại tổ chức chỉ thuần tuý về một loại nghề nghiệp, một lĩnh vực (ví dụ:

Đoàn luật sư, Hiệp hội vận tải ô tô Việt Nam, Hiệp hội kinh doanh vàng, Hiệp hội

ngân hàng, Hiệp hội lương thực Việt Nam, Hiệp hội kinh doanh bảo hiểm ):

* Loại tổ chức chuyên về một loại chủ thể (ví dụ Hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam):

* Loại tổ chức riêng về một thành phần kinh tế (ví dụ Liên minh hợp tác xã

Việt Nam):

* Loại tổ chức bao trùm lên mọi thành phần kinh tế và các hiệp hội (ví dụ

Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam):

Từ những nghiên cứu trên, bước đầu có thể nêu một số điểm khác nhau cơ bản giữa các tổ chức xã hội - nghề nghiệp và hiệp hội của các tổ chức kinh tế, đó là:

* Về thành viên của tổ chức:

- Hội viên của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp là các cá nhân, tổ chức

- Hội viên của Hiệp hội của các tổ chức kinh tế là các tổ chức kinh tế phần

lớn là có tư cách pháp nhân Các tổ chức kinh tế cử đại diện pháp nhân tham gia hiệp hội để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của thành viên Hiệp hội cũng có thể

có thành viên là cá nhân nhưng chỉ trong trường hợp đặc biệt và thường là thành viên danh dự

1.2.Những yêu cầu đặt ra trong xây dựng chính sách pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

1.2.1 Nhận xét sơ lược về hệ thống pháp luật kinh tế của Việt Nam

Trang 18

Chính sách pháp luật là hệ thống quan điểm, tư tưởng, đường hướng có tính

chỉ đạo chi phối nội dung pháp luật, những nội dung cơ bản trong chính sách đó được thể chế hoá thành các quy phạm pháp luật

Pháp luật kinh tế là một mảng pháp luật khá rộng lớn, bao trùm lên mọi hoạt

động quản lý nhà nước về kinh tế, hoạt động sản xuất, kinh doanh và tổ chức, hoạt động của chủ thể kinh doanh Ngoại trừ hệ thống pháp luật về quyền cơ bản của công dân, hình sự, tố tụng và tổ chức bộ máy nhà nước, còn lại mọi văn bản pháp luật đều liên quan (trực tiếp hoặc gián tiếp) đến hoạt động sản xuất, kinh doanh - tạo thành hệ thống pháp luật về kinh tế Pháp luật kinh tế bao gồm các lĩnh vực sau: Lĩnh vực tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp; Lĩnh vực tài chính - thuế - ngân hàng - chứng khoán.; Lĩnh vực Thương mại, đầu tư - xuất nhập khẩu; Lĩnh vực đất đai, xây dựng; Lĩnh vực kế toán - thống kê; lĩnh vực lao động …

Pháp luật quy định về việc tham gia xây dựng chính sách và pháp luật kinh

tế của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế có thể hiểu theo nghĩa

rộng hẹp khác nhau

Theo nghĩa rộng đó chính là tổng thể các quy định của Nhà nước trong hệ

thống pháp luật hiện hành, có liên quan đến việc điều chỉnh nhiều mặt tổ chức và hoạt động của các thiết chế nhà nước và xã hội như: Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp); chế độ dân chủ trực tiếp và quy chế dân chủ ở cơ sở; tổ chức và hoạt động của các hội nói chung và các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các hiệp hội kinh tế nói riêng; quy trình xây dựng và ban hành văn bản chính sách, pháp luật…

Theo nghĩa hẹp, pháp luật về việc tham gia xây dựng chính sách và pháp

luật kinh tế của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế là tổng thể các quy định của Nhà nước trong hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành quy định

về quyền tham gia xây dựng chính sách, pháp luật kinh tế của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này khái niệm pháp luật về việc tham gia xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế được hiểu theo nghĩa hẹp của khái niệm

Trang 19

Pháp luật của một nhà nước bị chi phối bởi chế độ chính trị, chế độ kinh tế đang tồn tại Trong mối quan hệ giữa pháp luật và kinh tế, các tiền đề kinh tế không chỉ là nguyên nhân trực tiếp quyết định sự ra đời của pháp luật, mà còn quyết định nội dung, tính chất và cơ chế điều chỉnh pháp luật Đối với các quan hệ kinh tế, pháp luật tạo ra tiền đề pháp lý vững chắc để ổn định các quan hệ kinh tế, nếu pháp luật phù hợp với các quan hệ kinh tế thì sẽ có tác dụng thúc đẩy các quan

hệ kinh tế phát triển; ngược lại, nếu pháp luật không phù hợp, nó sẽ có tác dụng ngược lại – kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế

Ở Việt Nam, trước thời kỳ đổi mới (trước năm 1986), pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế quan liêu, bao cấp chỉ phù hợp ở giai đoạn đầu, giai đoạn mà chúng ta mới giành được độc lập, thống nhất đất nước Lúc này pháp luật quy định

về việc thực hiện chỉ tiêu kế hoạch được đặt ra nhằm xây dựng, củng cố đất nước sau chiến tranh, củng cố kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể để từng bước tạo sự

ổn định về cuộc sống cho nhân dân Kinh tế Việt Nam giai đoạn này không phải là nền kinh tế hàng hóa mà là nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung quan liêu bao cấp, không có cạnh tranh mà chỉ có sự độc quyền của Nhà nước trong mọi lĩnh vực

Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới từ năm 1986, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nền kinh tế Việt Nam đã có sự thay đổi lớn Nền kinh tế Việt Nam từng bước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Chính vì vậy, các quy định pháp luật không thừa nhận sự phát triển của kinh tế tư nhân cần được thay thế và đến ngày 21 -12-1990 Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân đã ra đời Pháp luật về kinh tế thời kỳ này dựa trên nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong đó có quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu là những quyền cơ bản nhất Sự can thiệp của pháp luật vào kinh tế theo phương thức liệt kê những điều cấm và những điều pháp luật cho phép để tổ chức, cá nhân dựa vào các quy định pháp luật đó mà thực hiện

Hiến pháp 1992 ra đời đã khẳng định: “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng

hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ

Trang 20

chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng” (Điều

15), “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế

xã hội chủ nghĩa Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phòng ngừa chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp, pháp luật” (Điều 12)

Trải qua gần 20 năm đổi mới, Nhà nước ta đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo hành lang, khuôn khổ pháp luật cho sự vận động của xã hội, góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Pháp luật đã thực sự trở thành công cụ chủ yếu của Nhà nước để quản lý xã hội Nguyên tắc pháp quyền từng bước được khẳng định và phát huy hiệu quả trên thực tế

Bước chuyển biến cơ bản, rõ nét nhất của hệ thống pháp luật thể hiện ở chỗ, nếu như trước đây, Nhà nước quản lý kinh tế, xã hội chủ yếu bằng chính sách, nghị quyết và mệnh lệnh hành chính thì nay pháp luật đã trở thành công cụ quản lý chủ yếu của nhà nước Nguyên tắc pháp quyền từng bước được khẳng định và phát huy hiệu quả trên thực tế Hoạt động lập pháp ngày càng trở nên công khai hơn, dân chủ XHCN ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện để nhân dân tham gia và thực hiện quyền giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước từ khâu soạn thảo văn bản pháp luật đến thực thi pháp luật Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam của dân, do dân, vì dân đặt ra yêu cầu cơ bản là phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện và thống nhất, phản ánh đúng ý chí lợi ích của các cá nhân và tổ chức trong xã hội

Trong lĩnh vực kinh tế, về cơ bản chúng ta đã tạo dựng được khung pháp luật cho việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, xác lập chế độ sở hữu và các hình thức sở hữu, quy định địa vị pháp lý của các loại hình doanh nghiệp, các quy định về bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền tự do hợp đồng, các cơ chế khuyến khích và bảo đảm đầu tư; khai thác và sử dụng hiệu quả các

Trang 21

nguồn lực của xã hội nhằm hình thành môi trường cạnh tranh lành mạnh; từng bước xác lập nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm trong hoạt động kinh doanh; Các nguyên tắc hành chính trong điều chỉnh các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại đang từng bước được thay thế bằng các nguyên tắc dân luật truyền thống; Đồng thời, để hỗ trợ cho các doanh nghiệp, trong lĩnh vực pháp luật hành chính và cải cách hành chính, nhà nước đã có những bước tiến tích cực, giảm thiểu sự can thiệp của cơ quan nhà nước bằng các biện pháp hành chính vào các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại nói chung và các hoạt động của các doanh nghiệp nói riêng, giảm cơ chế xin cho Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, pháp luật công chức, công vụ ngày càng được xác định rành mạch, rõ ràng; cải cách hành chính theo hướng đơn giản, công khai, dễ tiếp cận và dễ kiểm tra[8]

Đặc biệt là tại kỳ họp thứ 7 của Quốc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật Dân

sự mới thay thế Bộ luật Dân sự năm 1995, Luật Thương mại mới thay thế Luật Thương mại năm 1997 Trong đó đã xác định Bộ luật Dân sự là Bộ luật gốc quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân các chủ thể khác về nhân thân, về tài sản trong quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Năm 2005 tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội đã thông qua Luật Doanh nghiệp (áp dụng chung cho các loại hình doanh nghiệp), Luật Đầu

tư (áp dụng chung cho đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài) nhằm tạo sự bình đẳng giữa các chủ thể trong các quan hệ kinh tế Sự ra đời của Luật Cạnh tranh năm 2004 đã cho thấy chúng ta đã bắt đầu nhận thức về sự cần thiết phải bảo vệ cạnh tranh, chống cạnh tranh không lành mạnh, đây là một yêu cầu không thể thiếu của nền kinh tế thị trường, đáp ứng phần nào đòi hỏi của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Một trong những điểm yếu của hệ thống pháp luật kinh tế nước ta trong gần

20 năm qua là hiệu quả điều chỉnh và áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật kinh tế chưa cao Điều này thể hiện ở một số điểm sau:

8

Bản tiếp thu ý kiến của UBTVQH về đánh giá thực trạng Hệ thống pháp luật Việt Nam sau 17 năm đổi mới

Trang 22

Thứ nhất là về tính toàn diện, thống nhất, đồng bộ và khả thi của hệ thống

pháp luật về kinh tế

Hệ thống văn bản pháp luật về kinh tế còn thiếu toàn diện, chưa đồng bộ,

chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý đất nước bằng pháp luật, nhiều lĩnh vực bức xúc của đời sống xã hội vẫn chưa có luật, thậm chí chưa có cả văn bản của Chính phủ để điều chỉnh Đặc biệt, trong lĩnh vực kinh tế việc xây dựng luật chưa theo kịp với sự phát triển của thực tiễn nên tính dự báo thấp, pháp luật thiếu ổn định, thường xuyên phải sửa đổi Ngoài ra, trong nhiều đạo luật vẫn có sự hiện diện của các quy định mang tính chung chung như “Nhà nước có chính sách…”, “Nhà nước bảo đảm…” mới chỉ thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước về những lĩnh vực

đó mà thiếu các quy định bảo đảm thực hiện các chính sách đó

Thứ hai, pháp luật kinh tế vẫn mang tính hỗn hợp các nguyên tắc của hai cơ

chế quản lý kinh tế là kế hoạch hoá và kinh tế thị trường

Trong lĩnh vực kinh tế, pháp luật chưa thực sự tạo động lực mạnh mẽ cho hoạt động kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh, nhà nước vẫn sử dụng một số biện pháp can thiệp vào thị trường như can thiệp bằng giá, can thiệp bằng con đường hành chính Các quy định về thanh tra, chức năng thanh tra ít thay đổi, chồng chéo, gây phiền hà cho doanh nghiệp Bên cạnh đó, trong một số lĩnh vực quan trọng, sự liên kết các doanh nghiệp nhà nước bằng các quyết định hành chính thành tổng công ty đã tạo ra sự hạn chế cạnh tranh và có thể dẫn tới tình trạng độc quyền hơn

là đáp ứng mong muốn ban đầu chỉ là tạo ra các tổng công ty nhà nước thực sự đủ

mạnh để cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài trong tiến trình hội nhập

Thứ ba, còn tồn tại những văn bản quy phạm pháp luật chỉ có hiệu lực trên

giấy tờ mà thiếu tính thực tế Ví dụ Luật Thương mại năm 1997, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 – các văn bản này đã tồn tại trong suốt thời kỳ chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường và cho đến gần đây mới được xóa bỏ Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tuy đã được thông qua ngày 27-4-1999, nhưng quyền lợi của người tiêu dùng vẫn không được bảo vệ một cách hữu hiệu…

Trang 23

Thứ tư, một số văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu tính chính xác, thiếu

đồng bộ Ví dụ các văn bản pháp luật về đất đai và Bộ luật Dân sự là một minh chứng Mặc dù tại thời điểm ban hành Bộ luật Dân sự, các quy định về chuyển quyền sử dụng đất trong Bộ luật Dân sự là phù hợp với quy định của Luật Đất đai năm 1993, nhưng đứng trước xu thế vận động của các quan hệ đất đai, Luật Đất đai năm 1993 đã được sửa đổi, bổ sung hai lần vào năm 1998 và 2001, nhưng các quy định của Bộ luật Dân sự vẫn tồn tại khiến cho các quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Đất đai thiếu thống nhất Các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trong Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, Bộ luật Hàng hải, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế, Bộ luật Dân sự không thống nhất, thậm chí mâu thuẫn với nhau

Thứ năm, còn thiếu những quy định cần thiết làm cơ sở cho các quan hệ kinh

tế phát triển và bảo vệ quyền của các chủ thể tham gia các quan hệ kinh tế Ví dụ như còn thiếu các quy định đồng bộ về đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản, thiếu các quy định về bảo vệ tài sản thuộc sở hữu toàn dân…

Có thể nêu ra nhiều nguyên nhân của những điểm yếu nêu trên Trong đó có nguyên nhân từ việc xây dưng pháp luật Nền kinh tế thị trường của Việt Nam khi được xây dựng bắt đầu từ một nền kinh tế kế hoạch hóa bao cấp Đây là hai thái cực đối lập nhau, với nền kinh tế thị trường đòi hỏi việc xây dựng hệ thống văn bản pháp luật không thể dựa trên (hay có thể nói là phải đối lập) với hệ thống pháp luật của nền kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp, đối lập với cơ chế cấp phát, giao nộp Tuy nhiên, việc xây dựng pháp luật phải dựa vào nhận thức và ý thức pháp luật của con người cụ thể Vì vậy, không thể một lúc mà có thể thay đổi tư duy, nhận thức của các nhà làm luật cũng như của dân chúng Quá trình xây dựng pháp luật kinh tế của nước ta là một khoảng thời gian dài, vì vậy không thể tránh khỏi những bất cập trong quá trình xây dựng và hoàn thiện

Khi xây dựng pháp luật, việc tuân thủ quy trình xây dựng pháp luật như thế nào là hợp lý cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng và việc thực thi các văn bản quy phạm pháp luật đó Bất cập của quy trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta hiện nay là cơ

Trang 24

mà còn phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành Mặc dù Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi tháng 12 năm 2002) đã đổi mới một bước trình tự xem xét, thông qua luật, pháp lệnh nhưng vẫn còn nhiều vấn đề chưa được đề cập, cần tiếp tục nghiên cứu như: chưa có phương thức để có thể sửa đổi, bổ sung đồng thời các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan với một luật, pháp lệnh mới được ban hành hoặc mới được sửa đổi, bổ sung Điều này dẫn đến sự không đồng bộ về nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật nói chung và văn bản quy phạm pháp luật kinh tế nói riêng, gây khó khăn cho việc thi hành luật Quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật chưa có đủ cơ chế thu hút các chuyên gia giỏi, những người trực tiếp thi hành pháp luật và huy động thực sự hiệu quả trí tuệ của nhân dân, của thành viên các tổ chức xã hội, hiệp hội nghề nghiệp vào hoạt động xây dựng pháp luật Việc tổ chức lấy ý kiến tham gia của các Bộ, ngành, của các thành viên của Chính phủ về các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật nhiều khi còn hình thức Không phải tất cả hoặc phần lớn các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến sự phát triển của nền kinh tế đất nước đều có sự đóng góp ý kiến của nhân dân nói chung và của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của các văn bản quy phạm pháp luật nếu văn bản được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Việc lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức, của nhân dân vào văn bản quy phạm pháp luật từ giai đoạn nào cũng chưa thống nhất và đang là vấn đề còn phải bàn Từ trước đến nay, chỉ một số văn bản quy phạm pháp luật được lấy ý

Trang 25

kiến rộng rãi của nhân dân và thông thường nhân dân chỉ được hỏi ý kiến khi văn bản quy phạm pháp luật đó chuẩn bị được Quốc hội xem xét, thông qua Việc tiếp thu hoặc không tiếp thu ý kiến của nhân dân vào việc xây dựng quy phạm pháp luật không được các cơ quan xây dựng pháp luật phản hồi Điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến nội dung văn bản quy phạm pháp luật và việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật được ban hành vào cuộc sống

1.2.2 Những yêu cầu đặt ra trong xây dựng chính sách pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam trong thời gian tới

Để đáp ứng yêu cầu hội nhập và cải cách kinh tế, trong thời gian tới, trọng tâm của Nhà nước Việt Nam là tập trung phát triển kinh tế Vì vậy, trong chương trình cải cách pháp luật, hệ thống pháp luật kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng Hướng tới mục tiêu xây dựng một hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp một cách phù hợp, đồng thời khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp thuộc cả khối nhà nước và khối dân doanh, công tác xây dựng pháp luật của Việt Nam hiện nay dành một phần lớn nguồn lực để xây dựng hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện

hệ thống pháp luật ở Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 tại Mục II.3 - Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã chỉ rõ từ nay đến năm

2010 và các năm tiếp theo tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tập trung vào một số lĩnh vực pháp luật kinh

tế trọng điểm đáp ứng kịp thời yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế

Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về sở hữu, quyền tự do kinh doanh Làm

rõ nội hàm và cơ chế quản lý tài sản thuộc sở hữu toàn dân, chủ sở hữu nhà nước

và các chủ sở hữu khác, cơ chế bảo đảm quyền sở hữu và hạn chế quyền sở hữu Hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền tự do kinh doanh, tạo lập môi trường pháp lý cho cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, phù hợp với nguyên tắc của WTO, các cam kết quốc tế và lộ trình đã công bố; thực hiện nguyên tắc công dân được làm tất cả

Trang 26

những gì pháp luật không cấm nhất là trong lĩnh vực dân sự, kinh tế Xây dựng một khung pháp luật chung cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư; từng bước thống nhất pháp luật, chính sách áp dụng đối với đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài Tiếp tục tách bạch rõ vai trò, trách nhiệm quản lý nhà nước của các Bộ, Uỷ ban nhân dân với quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Hoàn thiện pháp luật về thanh tra, kiểm tra và kiểm soát hành chính, chấm dứt tình trạng gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp

Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về hợp đồng theo hướng phù hợp với tập quán, thông lệ thương mại quốc tế Nhà nước không can thiệp vào quyền tự do hợp đồng, trừ

trường hợp thoả thuận trong hợp đồng trái với đạo đức xã hội hoặc làm ảnh hưởng đến trật tự công cộng

Xây dựng pháp luật cho việc tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường Tạo lập

cơ sở pháp lý cho việc hình thành và phát triển thị trường bất động sản, bao gồm

cả quyền sử dụng đất, từng bước mở rộng thị trường bất động sản cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài đầu tư ở Việt Nam Bảo đảm tính minh bạch, dân chủ trong việc xây dựng và thực hiện quy hoạch sử dụng đất, ban hành quy chế về đấu giá, đấu thầu công khai quyền sử dụng đất, bảo đảm để người sử dụng đất thực hiện dễ dàng, thuận lợi các quyền về sử dụng đất Tạo môi trường pháp lý cho sự hình thành và hoạt động lành mạnh của thị trường lao động, khuyến khích các tổ chức, lĩnh vực hoạt động tạo nhiều việc làm, xuất khẩu lao động, đồng thời có chính sách khuyến khích mở rộng thị trường lao động có hàm lượng chất xám cao trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ mới Hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp theo hướng Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động cùng đóng góp;

mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội tiến tới áp dụng chế độ bảo hiểm xã hội cho mọi người lao động, góp phần bảo đảm an sinh xã hội Hoàn thiện pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, hình thành thị trường khoa học- công nghệ theo hướng mở rộng phạm vi các đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với yêu cầu của WTO và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý, áp dụng đầy đủ hơn các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn trong kinh doanh tiền tệ – tín dụng, tạo môi trường lành mạnh, bình đẳng cho

Trang 27

hoạt động ngân hàng, khuyến khích cạnh tranh trong hoạt động tín dụng trên nguyên tắc an toàn hệ thống Tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng của ngân hàng trung ương quản lý hoạt động ngân hàng, tín dụng bằng pháp luật và các chính sách, công cụ vĩ mô Hoàn thiện pháp luật về thị trường chứng khoán để tăng cường khả năng của thị trường vốn, mở rộng khả năng lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp lao động, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động

Hoàn thiện pháp luật về tài chính công, xác định rõ nguồn thu và cơ cấu chi

của ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, thống nhất chế độ chi tiêu, sử dụng một cách hiệu quả các nguồn ngân sách, làm rõ cơ chế đầu tư các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước Công khai, minh bạch việc hình thành, quản lý và sử dụng các

nguồn vốn, tài chính huy động từ dân cư, cộng đồng Tiếp tục cải cách pháp luật

về thuế theo hướng ổn định, đơn giản hơn, mức thuế phù hợp có tính đến mức

trung bình của ASEAN/AFTA và các định chế kinh tế quốc tế và khu vực cũng như các điều ước quốc tế khác có liên quan

Hình thành đồng bộ pháp luật về các chuyên ngành kinh tế - kỹ thuật (xây

dựng, điện lực, bưu chính viễn thông, an ninh lương thực, thú y, thuỷ sản ) thể hiện các nguyên tắc, điều kiện, tiêu chuẩn kinh tế - kỹ thuật liên quan đến phát

triển và quản lý ngành, chống thất thoát Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật

về tài nguyên và môi trường theo nguyên tắc phát triển bền vững, đảm bảo kết hợp

hài hoà giữa việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và các thành phần môi trường, đảm bảo tính toán đầy đủ các chi phí sử dụng, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản xuất, kinh doanh và cung ứng dịch vụ

1.3 Cơ sở, sự cần thiết và ý nghĩa của việc tham gia vào quy trình xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

1.3.1 Cơ sở cho việc tham gia của tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hiệp hội kinh tế vào quy trình xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

1.3.1.1 Cơ sở lý luận

Trang 28

Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của hệ thống pháp luật kinh tế hiển nhiên chính là hoặc liên quan đến các doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề - tổ chức đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp trong cùng một nhóm ngành/nghề Đứng trước yêu cầu, đòi hỏi của việc phải nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống văn bản pháp luật về kinh tế nói riêng, sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp thông qua đại diện là các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hiệp hội kinh tế là một yêu cầu bắt buộc mang tính khách quan, vì các

lý do sau:

Thứ nhất, soạn thảo và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật là quá

trình ý chí chủ quan được chuyển hoá thành các quy tắc xử sự chung áp đặt cho các chủ thể chịu sự điều chỉnh của văn bản đó Xét từ góc độ lý thuyết, một nhà nước dân chủ phải là nhà nước mà pháp luật thể hiện ý chí chung của nhân dân Nói cách khác, bản chất của hoạt động xây dựng pháp luật trong nhà nước dân chủ thể hiện

ở việc đưa ý chí của nhân dân lên thành pháp luật, là hình thức pháp lý quan trọng

để thực hiện quyền lực của nhân dân Do vậy, việc tham gia của nhân dân vào quá trình này là một biểu hiện của dân chủ trực tiếp Theo luồng tư duy này, việc khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nghiệp, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hiệp hội kinh tế tham gia vào quá trình xây dựng chính sách pháp luật kinh tế là phù hợp với bản chất của nhà nước Việt Nam - là nhà nước của dân, do dân và vì dân, đáp ứng công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Đảm bảo quyền được tiếp cận và tham gia vào quá trình xây dựng chính sách pháp luật của tổ chức

xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế một cách rộng rãi, thường xuyên chính là việc mở rộng phát huy dân chủ tạo điều kiện cho người dân tích cực tham gia vào công việc quản lý nhà nước, theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra

Thứ hai, các văn bản quy phạm pháp là sự ghi nhận và thể hiện lợi ích của

các nhóm xã hội khác nhau và của công dân Những nhóm lợi ích này đôi khi có xu hướng đối lập nhau Do đó, vấn đề mấu chốt đặt ra trong quá trình xây dựng pháp luật là phải dung hòa được lợi ích của các nhóm đối tượng khác nhau trong xã hội Mục đích này chỉ đạt được khi quá trình làm luật hình thành cơ chế khách quan để

Trang 29

các nhóm lợi ích khác nhau, các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản pháp luật có cơ hội được tiếp cận và bày tỏ quan điểm của mình, đối thoại với cơ quan hoạch định chính sách pháp luật Theo đó, quá trình xây dựng chính sách pháp luật kinh tế không thể đạt được kết quả cao nếu không có sự tham gia của các đối tượng chịu sự điều chỉnh trực tiếp của chính sách này - cộng đồng doanh nghiệp

Thứ ba, kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay đang phát triển ở giai đoạn

sơ khai, các quan hệ kinh tế cần có pháp luật điều chỉnh rộng và rất đa dạng, đồng thời thường xuyên thay đổi do yếu tố nội sinh và những yếu tác động từ bên ngoài

Do đó, pháp luật kinh tế trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay một mặt giữ vai trò ghi nhận và trật tự hóa các quan hệ kinh tế đã hình thành

và có xu hướng phổ biến, mặt khác, phải bảo đảm độ thông thoáng cần thiết, tạo thuận lợi tối đa cho sự phát triển kinh tế xã hội Nếu xét ở khía cạnh này, thì quá trình xây dựng pháp luật kinh tế phải là một quá trình cần sự tham gia trực tiếp của cộng đồng doanh nghiệp, bởi vì không một nhà hoạch định chính sách kinh tế nào lại có thể am hiểu mọi vấn đề, trong khi đó, các doanh nghiệp - những “người” thường xuyên cọ xát với thương trường hơn ai hết họ chính là những người biết rõ nhất những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc trong chính sách hiện hành và nhu cầu xây dựng chính sách sách mới

Thứ tư, hạn chế được sự chủ quan, lợi ích cục bộ của các bộ, ngành chủ trì

soạn thảo văn bản

1.3.1.2 Cơ sở chính trị-pháp lý

* Yêu cầu xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo ra sự thúc đẩy mạnh mẽ đối với cải cách nền hành chính Trên cơ sở đánh giá thực trạng công cuộc cải cách hành chính trong 10 năm (1991 - 2000), Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 ban hành kèm theo Quyết định số 136/2001/QĐ - TTg ngày 17 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ ra đời đã tạo nên những bước đột phá đối với hệ thống hành chính Trong đó đổi mới quy trình xây dựng và ban hành VBQPPL được xem là

một nội dung quan trọng để góp phần hoàn thành mục tiêu đề ra và “Ban hành các

Trang 30

quy định bảo đảm sự tham gia có hiệu quả của nhân dân vào quá trình xây dựng pháp luật, tổ chức tốt việc lấy ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân, của những người là đối tượng chịu sự điều chỉnh của văn bản trước khi ban hành”

được tiến hành song song với các hoạt động rà soát, hệ thống hoá các VBQPPL, tăng cường năng lực của các cơ quan hành chính Nhà nước, tránh tình trạng cục

bộ, thiếu khách quan trong xây dựng pháp luật

* Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Mục III về các giải pháp, trong đó tại phần các giải

pháp về xây dựng pháp luật đã chỉ rõ: Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ

quan, tổ chức nghiên cứu chuyên ngành trong hoạt động xây dựng pháp luật Sớm triển khai đề án thu hút các chuyên gia giỏi, các hiệp hội, tổ chức kinh tế, tổ chức

xã hội- nghề nghiệp đại diện cho các đối tượng chịu sự tác động của văn bản vào việc nghiên cứu, đánh giá nhu cầu, hoạch định chính sách pháp luật, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra các dự thảo văn bản pháp luật Hình thành cơ chế phản biện

xã hội đối với các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, có cơ chế thiết thực tiếp thu và phản hồi ý kiến của các tầng lớp nhân dân trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật "

* Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) ngoài điều 2 quy định về quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, tại Điều 53 có quy định về quyền của công dân tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương

* Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (năm 1996, được sửa đổi, bổ sung năm 2002): các Điều 3, 26, 39, 40, 41, 61, 62 quy định về lấy ý kiến nhân dân

về dự án luật, dự án pháp lệnh Luật được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý để đưa công tác soạn thảo, thẩm định và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật dần đi vào nền nếp, theo một quy trình thống nhất, chặt chẽ, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền, đồng thời tạo điều kiện để tổ chức, công dân có thể tham gia đóng góp

ý kiến cho dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

* Luật Tổ chức Quốc hội (năm 2001): Điều 8 quy định về thẩm quyền của

Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong việc chỉ đạo tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc

Trang 31

hội và ý kiến của nhân dân để chỉnh lý dự án luật, dự thảo nghị quyết và các dự án khác trình Quốc hội;

* Quy chế hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, tại Điều 13 quy định:

Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định tổ chức lấy ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp về dự thảo luật căn cứ vào tính chất và nội dung của dự án hoặc theo quyết định của Quốc hội và cho ý kiến về việc tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội, của nhân dân, các ngành, các cấp đối với dự thảo luật; thông qua báo cáo giải trình, tiếp thu chỉnh lý dự thảo luật để trình Quốc hội xem xét, thông qua

* Quy chế hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội: tại Điều 37 quy định Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội có quyền đề nghị Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội về việc lấy ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp, đại biểu Quốc hội về dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết hoặc về vấn

đề quan trọng khác

* Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30 tháng 07 năm 2003 của Chính phủ Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội

* Chỉ thị số 28/2001/CT-TTg ngày 28/11/2001, Chỉ thị số 27/2003/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật về kinh doanh nhất thiết phải có ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp thông qua Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

*Nghị định 161/2005/NĐ–CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Trang 32

Một là, bảo đảm các quyền hiến định và luật định của nhân dân

Hiến pháp năm 1992 khẳng định, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật,

đồng thời cũng tuyên bố: “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã

hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” (Điều

53) Như vậy, một trong những nội dung của việc “tham gia quản lý nhà nước” chính là việc nhân dân nói chung tham gia xây dựng, hoàn thiện pháp luật Tham gia xây dựng pháp luật được xem như là một trong những quyền cơ bản của công dân - quyền hiến định và tương ứng với nó là nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước trong việc đảm bảo công dân thực hiện quyền này Việc các cơ quan nhà nước tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế tham gia xây dựng chính sách pháp luật một cách rộng rãi, thường xuyên chính là biểu hiện rõ nét nhất của quá trình mở rộng phát huy dân chủ tạo điều kiện cho người dân tích cực tham gia vào công việc quản lý nhà nước, thể hiện bản chất của nhà nước ta là của dân, do dân và vì dân

Hai là, thể hiện tính dân chủ trong hoạt động xây dựng, ban hành chính

sách; là biện pháp thực hiện dân chủ trực tiếp

Theo tinh thần tham gia quản lý nhà nước và xã hội là một quyền hiến định của công dân, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Điều 3) đã khẳng định

về quyền tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của cá nhân,

tổ chức Việc tổ chức một cách hiệu quả để nhân dân tham gia xây dựng pháp luật nói chung hay các tổ chức xã hội-nghề nghiệp và các hiệp hội doanh nghiệp tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật kinh tế là một biểu hiện và xu hướng tất yếu

9

Báo cáo đánh giá tình hình thi hành Luật doanh nghiệp tháng 10/2003: trang 39 - mục IV, Báo cáo).

Trang 33

của quá trình dân chủ hoá đời sống xã hội, là một chủ trương nhất quán của Đảng

và Nhà nước ta để xây dựng và củng cố nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Ba là, sự tham gia của tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hiệp hội kinh tế vào

quy trình xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế là cách thức bảo đảm tính khả

thi của chính sách và hiệu quả quản lý nhà nước

Việc tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hiệp hội kinh tế được tham gia vào quy trình xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế sẽ nâng cao hiệu quả thi hành của các chính sách/văn bản quy phạm pháp luật này Bởi vì khi được tham gia vào quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, họ có tâm lý rằng văn bản đó là sản phẩm của chính bản thân họ hoặc ít ra cũng có phần đóng góp của họ và từ đó làm cho họ tự giác chấp hành và thuyết phục người khác cùng chấp hành Như vậy, tham gia xây dựng pháp luật cũng là một hình thức để đối tượng chịu sự tác động quan tâm đến pháp luật, có ý thức trong xây dựng và thực hiện pháp luật và đây cũng chính là một trong những hình thức Nhà nước tuyên truyền phổ biến pháp luật đến đối tượng thực thi một cách hiệu quả nhất

Bốn là, sự tham gia của tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hiệp hội kinh tế vào

quy trình xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế góp phần nâng cao chất lượng của văn bản pháp luật trong lĩnh vực này

Các quy định của pháp luật trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến hoạt động

kinh doanh đều có tác động/ảnh hưởng nhất định đến lợi ích kinh tế, khả năng cạnh tranh của các cá nhân/doanh nghiệp – thành viên của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hiệp hội kinh tế Để các quy định này phù hợp với thực tiễn hoạt động kinh doanh rất cần ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp phản ánh thông qua các tổ chức/Hiệp hội đại diện Như vậy, việc tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hiệp hội kinh

tế tham gia xây dựng pháp luật sẽ làm tăng tính thực tế, khả thi của các văn bản pháp luật Chính các tổ chức này thông qua việc tập hợp ý kiến của các thành viên

sẽ là những “người” giúp cho các cơ quan xây dựng pháp luật phát hiện những điểm bất hợp lý của một chính sách, những khiếm khuyết của dự thảo, sự thiếu đầy

đủ trong điều chỉnh pháp luật để kịp thời khắc phục trước và sau khi văn bản pháp luật được ban hành Nhờ đó, chất lượng văn bản pháp luật được cải tiến và pháp

Trang 34

luật phát huy được hiệu quả mong đợi Với ý nghĩa như vậy, việc tổ chức để tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hiệp hội kinh tế vào quy trình xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế là hết sức cần thiết

Năm là, sự tham gia của tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hiệp hội kinh tế vào

quy trình xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế có hiệu quả tác động cao

Việc các đối tượng chịu sự điều chỉnh của văn bản quy phạm pháp luật tham gia ý kiến ngay từ giai đoạn soạn thảo chuyển tải được ý kiến, quan điểm theo chiều hướng có lợi cho mình vào nội dung văn bản sẽ dễ dàng hơn là việc đề nghị sửa đổi/huỷ bỏ khi văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành Bên cạnh đó,

tiếng nói của tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hiệp hội kinh tế sẽ có sức nặng hơn so

với tiếng nói của từng thành viên nhỏ lẻ

Sáu là, sự tham gia của tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hiệp hội kinh tế vào

quy trình xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế là biện pháp thể hiện tinh thần chủ động hội nhập quốc tế

Dưới góc độ chủ động hội nhập quốc tế, thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tự nguyện tham gia thì việc công khai hoá các chính sách/dự thảo văn bản để thu hút sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp/nhân dân là một biểu hiện của xu hướng minh bạch hoá hệ thống pháp luật, bảo đảm tính công khai của quá trình hoạch định chính sách Đây cũng là một biện pháp thiết thực để thực hiện các cam kết của Việt Nam trong các điều ước quốc tế trong đó có Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa kỳ Theo Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa kỳ, mỗi Bên cần tạo cơ hội cho doanh nghiệp và công dân của Bên khác đóng góp ý kiến đối với những quy định pháp luật có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của mình (Chương VI, điều 3)

1.4 C¸c h×nh thøc tham gia cña c¸c tæ chøc x· héi nghÒ nghiÖp vµ hiÖp héi kinh tÕ trong x©y dùng chÝnh s¸ch, ph¸p luËt nãi chung vµ ph¸p luËt kinh

tÕ nãi riªng

Chính sách và pháp luật kinh tế là một trong những công cụ quản lí có vai trò quan trọng số một của Nhà nước pháp quyền trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việc nghiên cứu nhu cầu điều chỉnh, nắm vững các quy luật khách

Trang 35

quan, tiến hành xây dựng, ban hành và thực thi chính sách, pháp luật để vận hành nền kinh tế theo các chương trình mục tiêu nhất định thuộc về chức năng cơ bản của Nhà nước Tuy nhiên, một trong những điểm khác biệt cơ bản so với quá trình xây dựng, ban hành và thực thi các chính sách và pháp luật kinh tế trong nền kinh

tế kế hoạch hoá tập trung trước đây là tính dân chủ thể hiện ở mức độ tham gia sâu rộng của công dân và các thiết chế xã hội phi nhà nước vào công việc của Nhà nước như là yêu cầu bắt buộc, một tất yếu khách quan để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước Điều này còn xuất phát

từ bản chất của hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường không chỉ là công cụ quản lí của riêng Nhà nước mà còn là hệ thống các định hướng chiến lược, nguyên tắc và tiêu chuẩn chung để nền kinh tế vận hành một cách tự do, an toàn; bảo đảm tính dân chủ và công bằng về lợi ích cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế Nói cách khác, trong nền kinh tế thị trường, chính sách, pháp luật của Nhà nước mang tính xã hội sâu sắc

Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, Nhà nước là chủ thể kinh tế, các

cơ quan nhà nước là chủ quản đối với các đơn vị kinh tế, do đó, không có cơ sở khách quan cho sự tồn tại và phát triển một cách đúng thực chất của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế với tư cách là tổ chức tự nguyện đại diện cho lợi ích chung của các đơn vị, cá nhân tham gia hoạt động kinh tế là thành viên Ngược lại, với bản chất của nền kinh tế thị trường và trong điều kiện mở rộng hợp tác, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của các

tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế cùng với vị trí, vai trò của các tổ chức này ngày càng được khẳng định như là điều tất yếu Trong nền kinh tế thị trường hiện đại ở các nước, người ta đều chú trọng sự phát triển hài hoà, cân đối cả

ba khu vực là: Nhà nước - Thị trường - Tổ chức xã hội, trong đó nhà nước là các tổ chức công quyền hoạt động trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp; thị trường bao gồm các đơn vị kinh doanh; tổ chức xã hội gồm các tổ chức có tính phi nhà nước do dân lập ra và tự quản Như vậy, quản lí của nhà nước (quản lí của cơ quan công quyền) và quản lí của xã hội (tự quản) trong nền kinh tế thị trường

Trang 36

không những không đối lập, loại trừ nhau mà hỗ trợ, tương tác và tuỳ thuộc lẫn nhau

Ở Việt Nam, hiện nay chúng ta đang tiến hành công cuộc xây dựng nền kinh

tế thị trường định hướng XHCN và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân Trên thực tế, một mặt, chúng ta đang từng bước thực hiện việc

xã hội hoá nhiều hoạt động vốn trước đây thuộc thẩm quyền của các cơ quan nhà nước, mặt khác cùng với sự phát triển của các thành phần kinh tế và công việc làm

ăn, kinh doanh của dân, nhiều tổ chức xã hội nghề nghiệp, hiệp hội kinh tế ra đời

và phát triển, bước đầu khẳng định được vị trí, vai trò tích cực của mình cho sự chấn hưng nền kinh tế Một trong những nội dung rất quan trọng thể hiện vai trò, chức năng của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế trong thời gian quan là tham gia vào quá trình xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế của Nhà nước Việc này dù còn một số biểu hiện lệch lạc về nhận thức và tổ chức thực tiễn nhưng đã có những kết quả bước đầu đáng ghi nhận Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường ở nước ta đang trong quá trình xây dựng trên cơ sở thoát ra khỏi nền kinh tế

kế hoạch hoá tập trung nên việc đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cũng như sự thể hiện vai trò nói chung và vai trò tham gia vào việc xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế nói riêng của các tổ chức xã hội nghề nghiệp, hiệp hội kinh tế cũng đang đặt ra những vấn đề cần có sự nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc hơn để có thể đưa ra các giải pháp tối ưu cho việc hoạch định và thực thi các quy định có liên quan, góp phần hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam phù hợp với yêu cầu của xã hội và tương thích với thông lệ quốc tế

Hình thức tham gia xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế của các tổ chức

xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế là những phương thức, cách thức, biện pháp

cụ thể theo quy định của pháp luật để thực hiện vai trò của các tổ chức đó đối với quá trình hình thành và thực thi các thể chế kinh tế của Nhà nước ta nhằm phát huy dân chủ và năng lực to lớn của xã hội vào quản lí nhà nước bằng pháp luật trên lĩnh vực kinh tế

Cần chú ý hai điểm có tính nguyên tắc là:

Trang 37

- Xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế là chức năng của Nhà nước, các

tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế chỉ thể hiện vai trò trong tư cách là người tham gia;

- Sự tham gia của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế vào việc xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực kinh tế được xác định là yêu cầu bắt buộc hiện nay

Theo nguyên lí chung và theo các quy định của pháp luật hiện hành, các hình thức tham gia xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế có thể được tiếp cận từ những góc độ khác nhau và

từ đó có những hình thức nhất định thể hiện vai trò tham gia của các tổ chức này

Xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước là quá trình hoạt động đặc thù thuộc chức năng cơ bản của Nhà nước gồm nhiều bước, nhiều giai đoạn khác nhau,

từ nghiên cứu điều tra cơ bản về tình hình kinh tế - xã hội và xác định nhu cầu điều chỉnh của các quan hệ kinh tế - xã hội đến việc nêu sáng kiến chính sách, pháp luật, tham khảo thông lệ quốc tế và pháp luật các nước, tiến hành soạn thảo, lấy ý kiến nhân dân, thẩm tra, thông qua dự án và công bố ban hành chính thức, tổ chức thực hiện10… Nếu xem xét từ quá trình xây dựng chính sách, pháp luật thì có các hình thức tham gia theo các bước của quá trình đó như tham gia vào quá trình điều tra cơ bản tình hình kinh tế - xã hội, xác định nhu cầu điều chỉnh của các quan hệ

xã hội trong lĩnh vực kinh tế, thương mại; tham gia góp ý cho các dự án, dự thảo văn bản chính sách, pháp luật có liên quan; tham gia triển khai, giám sát việc thi hành chính sách, pháp luật, tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành chính sách, pháp luật, tham gia giải quyết tranh chấp

Nếu xem xét từ việc tham gia đối với dự án, dự thảo văn bản chính sách, pháp luật thì có thể phân chia thành các hình thức tham gia là góp ý cho dự án, dự thảo văn bản chính sách, pháp luật và tham gia xây dựng dự án, dự thảo văn bản pháp luật Còn nếu xem xét từ việc tham gia đối với văn bản chính sách, pháp luật (văn bản đã được ban hành) thì có các hình thức tham gia trước khi ban hành và

10 Xem: GS.TS Lê Minh Tâm - “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam - những vấn đề lí luận và thực tiễn”, Nxb Công an nhân dân, H; 2003; tr.63-65

Trang 38

Trờn thực thế, nếu xột hỡnh thức tham gia dưới gúc độ tổ chức kĩ thuật thỡ ta

cú tham gia bằng văn bản và tham gia bằng việc tổ chức hội nghị lấy ý kiến trực tiếp của cỏc hiệp hội (tất nhiờn, cỏc hiệp hội cũng phải nghiờn cứu thu thập và tổng hợp từ ý kiến cỏc thành viờn là cỏc doanh nghiệp thuộc tổ chức mỡnh)

Nếu xem xột hệ thống chớnh sỏch và phỏp luật kinh tế khụng chỉ là hệ thống

cỏc văn bản mà cũn xem xột nú như là thực thể đang hiện hữu trong đời sống kinh

tế xó hội thỡ cần phải nghiờn cứu cỏc hỡnh thức tham gia của cỏc tổ chức xó hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế vào quỏ trỡnh vận hành cỏc văn bản phỏp luật, qua

đú mới cú thế thấy được toàn diện vai trũ to lớn của cỏc tổ chức này đối với quỏ trỡnh đưa văn bản phỏp luật vào thực tiễn hoạt động của nền kinh tế Từ quan điểm này, chỳng ta cú thể nhận thấy cỏc hỡnh thức tham gia chủ yếu như:

- Tuyờn truyền, phổ biến chớnh sỏch, phỏp luật;

- Kiểm tra, giỏm sỏt việc thực thi chớnh sỏch phỏp luật;

- Giải quyết tranh chấp

Mỗi cỏch phõn chia cỏc hỡnh thức tham gia như trờn xuất phỏt từ một gúc độ nhất định và đều cú mục tiờu và ý nghĩa riờng Trong đề tài khoa học này, cỏch tiếp cận cỏc hỡnh thức tham gia xõy dựng chớnh sỏch, phỏp luật của cỏc tổ chức xó hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế là tiếp cận theo quỏ trỡnh xõy dựng văn bản chớnh sỏch, phỏp luật

Dưới đõy, chỳng tụi xin đề cập cụ thể cỏc hỡnh thức tham gia xõy dựng chớnh sỏch và phỏp luật kinh tế của cỏc tổ chức xó hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế theo quỏ trỡnh xõy dựng văn bản chớnh sỏch, phỏp luật

a Tham gia điều tra, nghiờn cứu cơ bản về kinh tế - xó hội, xỏc định nhu cầu điều chỉnh của cỏc quan hệ xó hội

Trang 39

Nội dung, mức độ, phạm vi của hình thức tham gia này có thể được xác định gồm: Cung cấp thông tin về tình hình kinh tế xã hội có liên quan đến hoạt động của các thành viên hiệp hội của mình Các thông tin này có thể là những thông tin về tình hình kinh doanh, phối hợp cạnh tranh, hiệu quả và những nhân tố ảnh hưởng đến sự nghiệp kinh doanh hiện tại và tương lai; việc chấp hành chính sách, pháp luật, những điểm tồn tại, bất cập trong các chính sách kinh tế có liên quan và việc Nhà nước thực thi ở các đơn vị thành viên; dự báo nhu cầu điều chỉnh các quan hệ kinh tế tương ứng

Sự tham gia của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế vào khâu này có ý nghĩa quan trọng không thể thiếu trong quá trình xây dựng và ban hành các văn bản chính sách và pháp luật kinh tế Một mặt, nó đảm bảo tính dân chủ công khai của hoạt động nghiên cứu, điều tra, xác định nhu cầu điều chỉnh của các quan hệ xã hội trên lĩnh vực kinh tế, thương mại Mặt khác, nó đảm bảo tính xác thực của các thông tin được chuyển lên các cơ quan và nhân viên nhà nước có thẩm quyền để tiến hành hoạch định các chính sách, pháp luật được sát hợp Tính dân chủ, công khai trong khâu thu thập và xử lí thông tin kinh tế - xã hội có ý nghĩa tiên quyết đối với quá trình xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật, góp phần quan trọng đảm bảo tính khách quan của việc hoạch định chính sách kinh tế -

xã hội của Nhà nước

Hình thức tham gia này ngày càng có vai trò và ý nghĩa quan trọng hơn khi Nhà nước ta đang từng bước tiến hành xã hội hoá một số hoạt động dịch vụ công, trong đó có khâu nghiên cứu, điều tra cơ bản tình hình kinh tế - xã hội Do đó, mức

độ và hiệu quả của hình thức tham gia này cũng ngày càng được khẳng định nhiều hơn

b Góp ý dự án, dự thảo văn bản chính sách và pháp luật kinh tế

Hình thức tham gia này có thể tiến hành với tư cách là bước tiếp theo của hình thức tham gia trên nếu xét cả quá trình xây dựng chính sách và pháp luật kinh

tế nhưng cũng có thể được tiến hành độc lập với hình thức tham gia đó Như vậy cũng có nghĩa là hình thức tham gia vào việc nghiên cứu, điều tra cơ bản tình hình kinh tế - xã hội, xác định nhu cầu điều chỉnh của các quan hệ xã hội có thể được

Trang 40

đặt ra hoặc không được đặt ra đối với văn bản chính sách, pháp luật nhất định nhưng hình thức tham gia góp ý vào dự án, dự thảo văn bản chính sách pháp luật kinh tế có liên quan đến lợi ích của các thành viên tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế là hình thức tham gia nhất thiết phải có đối với cả phía cơ quan nhà nước và phía tổ chức hiệp hội Bởi vậy, đây được coi là hình thức tham gia cơ bản và có ý nghĩa thực tế lớn nhất trong số các hình thức tham gia Nếu hình thức tham gia nghiên cứu, điều tra tình hình kinh tế - xã hội, xác định nhu cầu điều chỉnh của các quan hệ xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành định hướng chỉ đạo hình thành các quan điểm cơ bản của chính sách, pháp luật thì hình thức tham gia góp ý cho dự án, dự thảo văn bản chính sách, pháp luật lại có ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung văn bản chính sách, pháp luật sắp được ban hành

Hình thức tham gia nghiên cứu, điều tra cơ bản về tình hình kinh tế -xã hội, xác định nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội có tác dụng lên cả quá trình xây dựng chính sách, pháp luật một cách sâu sắc, thể hiện ở chỗ nó tác động ngay từ khâu đầu tiên là xác định cơ sở, điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu thực tế của đời sống xã hội Nếu khâu này được tiến hành có chất lượng cao sẽ là điều kiện thuận lợi để có thể làm nên dự án, dự thảo tốt Đồng thời, hình thức tham gia góp ý cho dự án, dự thảo không những có tác dụng trực tiếp đến nội dung của dự án, dự thảo mà còn có thể đặt ra vấn đề xem xét lại kết quả của hình thức đầu nêu trên Bởi lẽ, dù bị giới hạn nhất định trong định hướng, nguyên tắc hay phạm vi các vấn

đề lấy ý kiến đối với dự án, dự thảo đã có nhưng các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế vẫn có thể và cần phải lật lại những vấn đề thuộc về quan điểm thiết kế nội dung các văn bản chính sách, pháp luật vốn dựa trên kết quả của khâu đầu tiên Nếu việc góp ý cho dự thảo văn bản chính sách và pháp luật kinh tế được thực hiện độc lập thì điều vừa nêu có ý nghĩa rất quan trọng Tuy nhiên, nếu điều kiện cho phép sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân và các tổ chức xã hội vào việc hình thành các quan điểm chiến lược để xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước thì chắc chắn sẽ tạo nên cơ sở vững chắc và khoa học cho việc xây dựng các dự thảo văn bản có liên quan

c Tham gia soạn thảo văn bản chính sách và pháp luật kinh tế

Ngày đăng: 15/04/2014, 10:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w