Mở rộng thị trường dịch vụ pháp lý trong hội nhập kinh tế Chuyên đề số 1: Bàn về việc xây dựng cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện pháp luật 87 Chuyên đề số 2: Thực trạng thực hiện
Trang 1BỘ TƯ PHÁP VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ
*****
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU CƠ CHẾ HỖ TRỢ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ VIỆC MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ TRONG
ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ
7535
22/10/2009
Hà Nội - 2008
Trang 2BỘ TƯ PHÁP VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ
*****
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU CƠ CHẾ HỖ TRỢ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ VIỆC MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ TRONG
ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Hà Nội - 2008
Trang 3BỘ TƯ PHÁP VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ
ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Hà Nội - 2008
Trang 4BỘ TƯ PHÁP VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ
ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Hà Nội - 2008
Trang 5DANH SÁCH BAN CHỦ NHIỆM VÀ CỘNG TÁC VIÊN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
5 TS Dương Thanh Mai Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp
6 TS Phạm Văn Lợi Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp
7 TS Nguyễn Thị Thu Vân Vụ Pháp luật Dân sự - Kinh tế, Bộ
Tư pháp
8 TS Trần Thị Thơ Vụ Pháp luật Dân sự - Kinh tế, Bộ
Tư pháp
9 Th.s Nguyễn Khánh Ngọc Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp
Việt Nam
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT: BÁO CÁO PHÚC TRÌNH ĐỀ TÀI
Lời mở đầu 01 Chương 1: Tình hình phát triển doanh nghiệp và thực trạng
thực hiện pháp luật của doanh nghiệp
09
1.2 Thực trạng thực hiện pháp luật của doanh nghiệp 13
Chương 2: Thực trạng hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh
nghiệp và thực trạng thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam
hiện nay
23
2.1 Thực trạng hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp 23
2.2 Thực trạng thị trường dịch vụ pháp lý tại Việt Nam 45
Chương 3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế hỗ trợ
pháp lý cho doanh nghiệp và mở rộng thị trường dịch vụ pháp
lý trong hội nhập kinh tế quốc tế
57
3.1 Cơ chế hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp 57
3.2 Mở rộng thị trường dịch vụ pháp lý trong hội nhập kinh tế
Chuyên đề số 1: Bàn về việc xây dựng cơ chế hỗ trợ doanh
nghiệp thực hiện pháp luật
87
Chuyên đề số 2: Thực trạng thực hiện thi hành pháp luật của
doanh nghiệp - Đề xuất tăng cường công tác hỗ trợ việc thực hiện
pháp luật cho doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
97
Chuyên đề số 3: Thực trạng hoạt động của đội ngũ luật sư tư vấn -
Định hướng phát triển thị trường dịch vụ pháp lý trong bối cảnh
109
Trang 7phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
Chuyên đề số 4: Một vài kinh nghiệm về tổ chức pháp chế ở các
Chuyên đề số 6: Thực trạng của đội ngũ luật sư tư vấn – Yêu cầu
nâng cao chất lượng đáp ứng hoạt động của doanh nghiệp 156
Chuyên đề số 7: Thông tin pháp lý cho doanh nghiệp - Những kết
quả, khó khăn và giải pháp
170
Chuyên đề số 8: Vai trò của luật sư đối với doanh nghiệp trong
thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
179
Chuyên đề số 9: Vai trò của Phòng Thương mại và Công nghiệp
Việt Nam trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
185
Chuyên đề số 10: Vai trò của Nhà nước trong việc hỗ trợ pháp lý
cho doanh nghiệp
202
Trang 8MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT: BÁO CÁO PHÚC TRÌNH ĐỀ TÀI
Lời mở đầu 01 Chương 1: Tình hình phát triển doanh nghiệp và thực trạng
thực hiện pháp luật của doanh nghiệp
09
1.2 Thực trạng thực hiện pháp luật của doanh nghiệp 13
Chương 2: Thực trạng hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh
nghiệp và thực trạng thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam
hiện nay
23
2.1 Thực trạng hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp 23
2.2 Thực trạng thị trường dịch vụ pháp lý tại Việt Nam 45
Chương 3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế hỗ trợ
pháp lý cho doanh nghiệp và mở rộng thị trường dịch vụ pháp
lý trong hội nhập kinh tế quốc tế
57
3.1 Cơ chế hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp 57
3.2 Mở rộng thị trường dịch vụ pháp lý trong hội nhập kinh tế
quốc tế
70 Kết luận 86
Trang 9PHẦN THỨ NHẤT BÁO CÁO PHÚC TRÌNH ĐỀ TÀI
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong hơn hai mươi năm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, vị trí, vai trò của doanh nghiệp tại Việt Nam đã có những đổi thay cơ bản Qua nhiều bước thăng trầm, từ chỗ chỉ hoạt động như một công cụ của Nhà nước, không cần biết đến hiệu quả kinh tế, hiện nay, doanh nghiệp Việt Nam đã trở thành các chủ thể độc lập, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình Doanh nghiệp là người đóng góp chủ yếu trong tổng sản phẩm quốc gia GDP, là đòn bẩy quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm, giải quyết các vấn đề xã hội như xoá đói, giảm nghèo, góp phần bảo đảm ổn định xã hội và lành mạnh hoá các quan hệ xã hội
Năm 1995, khu vực doanh nghiệp mới chỉ tạo ra được 103,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 45,3% tổng GDP Năm 2001, khu vực này đã tạo ra 255,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 53,2% tổng GDP, gấp 2,5 lần năm 1995 Năm 2005, chỉ riêng các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam đã đóng góp đến 26% GDP của nền kinh tế.1
Chính vì lẽ đó, Đảng và Nhà nước luôn tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp phát triển và lớn mạnh Điều này đã được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước Quan tâm và chăm lo cho sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam luôn là ưu tiên của các cấp, các ngành Định hướng về việc hình thành và phát triển cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, có sức cạnh tranh cao không chỉ là một nhiệm vụ trước mắt, mà còn được xác định là một mục tiêu chiến lược lâu dài của Đảng và Nhà nước
Từ năm 1986, khi bắt đầu thực hiện chính sách mở cửa, hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành, như Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật công ty, Luật Hợp tác xã góp phần quan trọng khẳng định địa vị pháp lý cho
Trang 11doanh nghiệp Việt Nam Hàng loạt văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh cũng được ban hành để ngày càng hoàn thiện hơn môi trường pháp
lý cho hoạt động của các doanh nghiệp Đặc biệt, kể từ năm 1999, khi Luật Doanh nghiệp được ban hành, hàng chục nghìn doanh nghiệp đã được thành lập mới và đi vào hoạt động để từ đó hình thành nên một cộng đồng các doanh nghiệp Việt Nam như hiện nay
Việc Nhà nước phong tặng các danh hiệu "Sao Đỏ", "Sao Vàng", "Doanh nhân đất Việt" và đặc biệt là việc từ năm 2004 Chính phủ quyết định lấy ngày
13 tháng 10 hàng năm làm "Ngày Doanh nhân Việt Nam" cũng là những biểu hiện thể hiện sự tôn vinh các doanh nghiệp và doanh nhân
Năm 2006, với sự kiện Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, nền kinh tế Việt Nam đã hội nhập với nền kinh tế thế giới Việc hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra cho đất nước rất nhiều cơ hội, nhưng cũng đặt ra vô vàn thách thức, nhất là khi các doanh nghiệp phải hoạt động trong điều kiện áp dụng một khung pháp lý chung với một tiêu chuẩn cao, khắt khe và không có sự phân biệt đối xử Yêu cầu đặt ra đối với doanh nghiệp là phải nâng cao sức cạnh tranh để có thể đứng vững trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế
Trong hoạt động kinh doanh, rủi ro pháp lý là không thể tránh khỏi và điều này luôn là một thách thức đối với doanh nghiệp Hậu quả của rủi ro pháp
lý trong kinh doanh rất lớn, nó không chỉ gây thiệt hại về kinh tế cho bản thân doanh nghiệp hay nhà đầu tư, mà trên toàn xã hội Nó sẽ làm cho hàng ngàn xí nghiệp, nhà máy phải đóng cửa, người lao động mất việc làm, kéo theo những tiêu cực khác
Các vụ kiện của nước ngoài về việc bán phá giá cá tra, cá ba sa, bán phá giá tôm là một trong những thử thách đối với doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập Một trong những nguyên nhân gây ra tranh chấp là do doanh nghiệp của Việt nam chưa có đầy đủ những thông tin pháp luật Hiểu biết pháp luật là yêu cầu sống còn của doanh nghiệp
Trang 12Để các doanh nghiệp đứng vững và phát triển trước hết là trách nhiệm của chính doanh nghiệp Nếu như doanh nghiệp đã nhận thức được vai trò của pháp luật đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, thì nhu cầu tìm hiểu pháp luật và áp dụng đúng pháp luật phải là một nhu cầu tự thân của doanh nghiệp Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ có thể đứng vững và phát triển nếu trách nhiệm của Nhà nước được thực hiện đúng đắn và triệt để, trong đó có trách nhiễm hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện của Việt Nam hiện nay
Việt Nam là một nước có nền văn minh lúa nước Đặc trưng của văn minh lúa nước là rất linh hoạt, mềm dẻo và trọng tình "Người nông nghiệp Việt Nam
có truyền thống sống thiên về tình cảm nên ý thức pháp luật rất kém Luật chủ yếu chỉ tác động trong phạm vi những vấn đề rộng lớn của quốc gia, còn dân chúng trong các làng xã thì vẫn sống theo lệ Tính tự trị mạnh của làng xã đã
tạo nên tình trạng "đất lề, quê thói", khiến cho ngay đến phép vua cũng phải thua lệ làng"2
Với cơ cấu dân số có đến hơn 80% là nông dân hoặc có nguồn gốc xuất thân từ nông dân thì ý thức pháp luật yếu kém không chỉ là vấn đề của riêng giới doanh nhân – những chủ doanh nghiệp – mà còn là của phần lớn công chức Việt Nam
Hiện nay, Việt Nam có khoảng trên 260.000 doanh nghiệp, trong đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm trên 96% Hàng năm các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp khoảng 30% GDP, 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệp và gần 80% tổng mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hóa và 100% giá trị sản lượng hàng hóa một số ngành hàng thủ công mỹ nghệ3 Các doanh nghiệp nhỏ
và vừa có mặt ở khắp các địa phương và được coi là trụ cột của kinh tế địa phương Sứ mệnh của những doanh nghiệp loại này lớn như vậy, nhưng họ lại thiếu vốn, thiếu nhân lực để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, nên họ
2 Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001, trang 211
Trang 13càng chưa thể quan tâm đến việc chủ động tiếp cận các nguồn thông tin pháp luật
Số liệu điều tra cho thấy, quy mô vốn của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhỏ, gần 50% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 1 tỷ đồng; gần 75% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 2 tỷ đồng và 90% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 5
tỷ đồng
Theo số liệu thống kê, có tới 55,63% số chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống, trong đó 43,3% chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ sơ cấp và phổ thông các cấp Số người là tiến sỹ chỉ chiếm 0,66%; thạc sỹ 2,33%; tốt nghiệp đại học 37,82%; tốt nghiệp cao đẳng chiếm 3,56%; tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm 12,33% và 43,3% có trình độ thấp hơn4
Về trình độ kỹ thuật, chỉ có 8% số doanh nghiệp dân doanh có công nghệ, thiết bị tiên tiến, 50% số doanh nghiệp trung bình, 42% số doanh nghiệp lạc hậu, mức độ đầu tư đổi mới công nghệ thấp, sức cạnh tranh yếu, ảnh hưởng việc sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường
Bởi vậy, Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ cho doanh nghiệp về mặt pháp lý
để con đường đến với pháp luật của các doanh nghiệp ngắn hơn, nhanh hơn và
đỡ tốn thời gian hơn Nhà nước cũng đã có nhiều hình thức hỗ trợ pháp lý như thiết lập cơ sở dữ liệu pháp luật, phát hành công báo rộng rãi, tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhưng các hình thức hiện nay cũng còn nhiều vấn đề chưa phù hợp với thực tiễn, vì vậy, chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và chưa
có hiệu quả thiết thực
Khái niệm hỗ trợ được hiểu là "sự giúp đỡ nhau, giúp thêm vào"5 Sự hỗ trợ thường được thực hiện khi đối tượng được hỗ trợ yếu hoặc chưa đủ mạnh ở một góc độ nào đó Việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là một nhiệm vụ của Nhà nước trong kinh tế thị trường Nhiệm vụ ấy càng quan trọng hơn khi hiện
4 Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam, số 237 ngày 29/11/2005 Số liệu thống kê này là kết quả cuộc điều tra hơn
63 ngàn doanh nghiệp tại 30 tỉnh, thành phố phía Bắc do Cục Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa - Bộ Kế hoạch
và Đầu tư tiến hành
5 Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1998, trang 835
Trang 14nay các doanh nghiệp Việt Nam đang rất yếu và thiếu kiến thức pháp luật Tuy nhiên, Nhà nước không phải là chủ thể duy nhất có thể hỗ trợ cho doanh nghiệp,
mà còn có các thiết chế khác như các hiệp hội doanh nghiệp, luật sư cũng có thể cùng với Nhà nước thực hiện hoạt động hỗ trợ cho doanh nghiệp
Một thực tiễn khác hiện đang đặt ra đó là các doanh nghiệp Việt Nam chưa có thói quen sử dụng tư vấn pháp luật Đây là một trong những lý do khiến thị trường dịch vụ pháp lý của Việt Nam vẫn chưa phát triển mặc dù pháp luật
về hành nghề dịch vụ pháp lý đã hình thành từ khá lâu Tuy nhiên, dù các văn bản pháp luật về việc hành nghề dịch vụ pháp lý đã được ban hành từ năm 1987
và được bổ sung, sửa đổi nhiều lần nhưng quy định trong các văn bản đó vẫn chưa đầy đủ và đồng bộ, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế thị trường, nhất là nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Các dịch vụ pháp lý cung cấp cho doanh nghiệp còn hạn chế cả về số lượng, chất lượng và cách thức tiếp cận Cả nước hiện có hơn 260.000 doanh nghiệp và hàng triệu hộ kinh doanh cá thể, nhưng mới chỉ có hơn 3.200 luật sư Trong đó, số lượng luật sư tư vấn chuyên nghiệp cho doanh nghiệp không đáng
kể ; trình độ của luật sư cũng là vấn đề rất đáng quan tâm
Trong khuôn khổ của WTO, dịch vụ pháp lý được thừa nhận là một trong các dịch vụ quan trọng, góp phần tạo lập môi trường pháp lý an toàn, tin cậy cho hoạt động đầu tư, kinh doanh, thương mại, dân sự, giúp hạn chế việc phát sinh các rủi ro, tranh chấp, cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp và người tiêu dùng Khác với thương mại hàng hoá, tự do hoá thương mại dịch vụ là một vấn đề rất nhạy cảm, đặc biệt đối với lĩnh vực dịch vụ pháp
lý có hàm lượng trí tuệ cao và liên quan trực tiếp đến thể chế pháp luật và chính sách của mỗi quốc gia Trong Hiệp định Việt Nam - Hoa kỳ, dịch vụ pháp lý cũng được xếp vào một trong mười loại hình dịch vụ kinh doanh mà Việt Nam cam kết mở cửa
Những phân tích trên cho thấy, có rất nhiều yếu tố khách quan dẫn đến đòi hỏi Nhà nước phải có cơ chế hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, nhưng chính
Trang 15trong cơ chế này còn tồn tại nhiều bất cập, nên cần phải nghiên cứu để hoàn thiện nó Những phân tích trên cũng khẳng định, việc nghiên cứu để mở rộng thị trường pháp lý trong bối cảnh hội nhập kinh tế là cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu cơ chế hỗ trợ pháp lý và mở rộng thị trường dịch vụ pháp lý không phải là một đề tài hoàn toàn mới mẻ mà đã có một số công trình, bài viết
đề cập đến từng khía cạnh khác nhau của vấn đề này Trong quá trình xây dựng Luật về Luật sư năm 2006, vấn đề hoàn thiện pháp luật luật sư nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế cũng đã được đặt ra Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu mang tính hệ thống để rút ra các luận cứ khoa học, giúp các nhà
hoạch định chính sách có thể tham khảo để hoạch định chính sách hiệu quả hơn
Chỉ thị số 13/2005/CT-TTg ngày 08 tháng 4 năm 2005 của Thủ tướng
Chính phủ đã giao cho Bộ Tư pháp điều tra, nghiên cứu Đề án xây dựng cơ chế
hỗ trợ thực hiện pháp luật cho doanh nghiệp Đề án này không nghiên cứu cơ sở
khoa học và cơ sở lý luận của vấn đề hỗ trợ thực hiện pháp luật cho doanh nghiệp mà chỉ tập trung chủ yếu vào việc điều tra thực tiễn với mục đích phát hiện nhu cầu của doanh nghiệp và nhận dạng những hạn chế, tồn tại của cơ chế hiện hành
3 Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Trong đề tài này, hỗ trợ pháp lý được phân tích dưới góc độ Nhà nước không phải là chủ thể duy nhất mà còn các thiết chế khác như các hiệp hội doanh nghiệp, ngành nghề, luật sư, các tổ chức luật sư Hỗ trợ pháp lý là một lĩnh vực có nội hàm rộng và khá ước lệ vì phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố chủ quan Vì vậy, đề tài này không đi sâu và tìm hiểu khái niệm mang tính lý thuyết
mà tập trung nhận diện các hoạt động hỗ trợ pháp lý đang được thực hiện để phân tích, đánh giá trên cơ sở đó rút ra các luận cứ khoa học phục vụ cho việc hoạch định chính sách
Trang 16Dịch vụ pháp lý là loại hình dịch vụ do những tổ chức, cá nhân có hiểu biết, có kiến thức và chuyên môn pháp luật được Nhà nước tổ chức hoặc cho phép hành nghề thực hiện, nhằm đáp ứng nhu cầu được biết, được tư vấn, hoặc được giúp đỡ về mặt pháp lý6
Nói chung, không có một định nghĩa thống nhất về dịch vụ cũng như dịch
vụ pháp lý Ngay trong quá trình đàm phán của Tổ chức thương mại thế giới cũng không đưa ra được một khái niệm thống nhất về dịch vụ, mà chỉ đưa ra danh mục dịch vụ và các phương thức cung cấp dịch vụ được gọi là mode 1, mode 2, mode 3 và mode 4
Vì vậy, đề tài này không có tham vọng đưa ra được một khái niệm về dịch vụ pháp lý cũng như đề cập đến tất cả các vấn đề của thị trường dịch vụ pháp lý mà chỉ tập trung nghiên cứu về luật sư, yếu tố cơ bản nhất mở rộng thị trường dịch vụ pháp lý Ngoài ra, đề tài cũng đề cập đến vấn đề trọng tài và hoà giải, những vấn đề mà WTO rất quan tâm
Hỗ trợ pháp lý và thị trường dịch vụ pháp lý là những vấn đề tương đối độc lập với nhau Tuy nhiên, chúng lại có mối liên hệ tương tác Việc xác định đúng đắn, rõ ràng các hoạt động hỗ trợ pháp lý, nhất là các hoạt động hỗ trợ pháp lý của Nhà nước sẽ điều kiện cho thị trường dịch vụ phát triển lành mạnh Bản thân dịch vụ pháp lý, tự nó, cũng sẽ phát triển nếu Nhà nước cung cấp các thông tin pháp lý đầy đủ, rõ ràng và minh bạch, để rồi đến lượt mình, khi dịch
vụ pháp lý đã phát triển, chính nó sẽ góp phần quan trọng để doanh nghiệp thực thi pháp luật và làm cho hoạt động hỗ trợ pháp lý có ý nghĩa thực tiễn
4 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu chung của đề tài là phân tích, làm rõ thực trạng thi hành pháp luật của doanh nghiệp và thực trạng phát triển của thị trường dịch vụ pháp lý, trên cơ sở đó đề xuất cơ chế hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và các giải pháp để phát triển thị trường dịch vụ pháp lý
Trang 17
Để thực hiện mục tiêu đó, đề tài xác định các mục tiêu cụ thể sau đây:
Thứ nhất, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật của doanh nghiệp, và
thực trạng cơ chế hỗ trợ pháp lý hiện hành đối với doanh nghiệp, xác định các tồn tại, hạn chế và xác định những nguyên nhân hạn chế khả năng thực hiện pháp luật của doanh nghiệp
Thứ hai, đánh giá nhu cầu hỗ trợ pháp lý của doanh nghiệp trong mối liên
hệ với việc phát triển thị trường dịch vụ pháp lý
Thứ ba, đề xuất các giải pháp về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, xây
dựng cơ chế hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, làm rõ vai trò, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và các các chủ thể khác trong việc hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện pháp luật
Thứ tư, đánh giá thực trạng thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam hiện
nay, tìm ra các hạn chế ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường dịch vụ pháp
lý, vai trò của luật sư, nhất là luật sư tư vấn trong hoạt động của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, đề xuất các yêu cầu đối với việc mở rộng thị trường dịch vụ pháp
Trang 18Chương 1
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VÀ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP
Sự phát triển của doanh nghiệp là một chỉ số quan trọng đồng hành với sự tăng trưởng kinh tế bởi doanh nghiệp bao giờ cũng là trung tâm các vòng vận hành kinh tế Việc các doanh nghiệp huy động các nguồn lực trong nền kinh tế
để hoạt động giữ một vai trò quyết định trong tăng trưởng kinh tế, phát triển đất nước, bảo đảm tính ổn định và bền vững, đặc biệt là trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Sự phát triển cả về số lượng và chất lượng của doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam đã góp phần quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng, tạo công
ăn việc làm, tăng thu ngân sách nhà nước, tăng thu nhập cá nhân
Số liệu thống kê của Cục Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa – Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, kể từ khi Luật Doanh nghiệp năm 1999 được ban hành, đã có 160.672 doanh nghiệp đăng ký trong giai đoạn 2001 - 2005, gấp 3,3 lần so với tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập trong giai đoạn từ 1991 –
1999 Cũng trong giai đoạn 2001 – 2005, trung bình hàng năm, số doanh nghiệp đăng ký gấp khoảng 6 lần so với số doanh nghiệp đăng ký trung bình hàng năm trong giai đoạn 1991 – 1999 Số vốn đăng ký mới đạt khoảng 321,2 tỷ đồng (khoảng 20 tỷ USD), chưa kể số vốn doanh nghiệp đăng ký bổ sung trong quá trình hoạt động (do mở rộng kinh doanh) ước tính khoảng 103,4 nghìn tỷ (tương đương 6,3 tỷ USD)
Ngoài ra còn phải kể đến hàng chục nghìn chi nhánh, văn phòng đại diện
và khoảng hơn hai triệu hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động trên toàn lãnh thổ Việt Nam Tỷ trọng đầu tư của dân cư và doanh nghiệp trong tổng đầu tư phát
Trang 19triển toàn xã hội tăng từ 22,6% năm 2000 lên 26,2% năm 2002 Năm 2003, tỷ trọng này đạt 29,7% Năm 2004 là 30,9% và năm 2005 đạt 32,2%
Số doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể mới thành lập kết hợp với số doanh nghiệp mở rộng quy mô và địa bàn kinh doanh trong gần sáu năm qua đã tạo thêm gần hai triệu chỗ làm việc mới, đưa tổng số lao động làm việc ở khu vực kinh tế tư nhân và hộ kinh doanh cá thể lên đến khoảng 6 triệu người, chiếm khoảng 17% lực lượng lao động.7
Qua một năm thực hiện Luật Doanh nghiệp 2005, số doanh nghiệp mới đăng ký thành lập và số vốn đăng ký vẫn tiếp tục tăng mạnh Năm 2006 có thêm 46.663 doanh nghiệp mới đăng ký thành lập, với số vốn đăng ký là 148.065 tỷ đồng (9,2 tỷ USD) và 32.137 lượt doanh nghiệp đăng ký thay đổi vốn với tổng
số vốn đăng ký bổ sung thêm là 59.347 tỷ đồng (3,68 tỷ USD) Riêng 7 tháng đầu năm 2007, tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới ước khoảng 28.600
tỷ đồng với tổng số vốn đăng ký khoảng 222.035 tỷ đồng (13,76 tỷ USD); khoảng 21.321 lượt doanh nghiệp đăng ký thay đổi vốn, với số đăng ký thêm là 128.292 tỷ đồng (7,95 tỷ USD); tổng số vốn đăng ký mới và bổ sung tăng 68,6%
so với cả năm 2006
Về đầu tư nước ngoài, năm 2006, vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt mức kỷ lục 10,2 tỷ USD, tăng gần 4 tỷ USD so với mục tiêu đề ra là 6,5 tỷ USD Tám tháng đầu năm 2007, vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta vẫn tiếp tục tăng mạnh với 807 dự án và hơn 7 tỷ USD vốn đăng ký (ước cả năm
2007 có thể đạt tới từ 13 - 17 tỷ USD vốn đăng ký), trong đó gần 3 tỷ USD là vốn điều lệ.8
Tình hình đăng ký thành lập mới doanh nghiệp giai đoạn 2000 - 2006
7 Nguồn: Báo cáo tổng kết 6 năm thi hành Luật Doanh nghiệp
8 Nguồn: Báo cáo đánh giá 1 năm thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư - Hội nghị thường niên doanh nghiệp dân doanh năm 2007
Trang 20Tổng số doanh nghiệp thành lập mới
Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giai đoạn 2001 – 2006 số lượng doanh nghiệp đăng ký mới tăng trung bình hơn 22%/năm với số vốn tăng trung bình gần 49,2%/năm Trong khi đó, giai đoạn 1991 – 1999 chỉ có 41.716 doanh nghiệp dân doanh đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký kinh doanh chỉ đạt gần 26 tỷ đồng Như vậy, số lượng doanh nghiệp thành lập mới trong giai đoạn 2000 – 2006 gấp hơn 4,9 lần tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong 10 năm của giai đoạn 1991 – 1999 Đến hết năm 2006, tình bình quân nước ta đã đạt tỷ lệ một doanh nghiệp trên 300 người dân.9
Cùng với việc tăng cả về số lượng doanh nghiệp được thành lập và số vốn đăng ký, cơ cấu các loại hình doanh nghiệp cũng đã thay đổi thể hiện sự thành công của việc xoá bỏ cơ chế tập trung - kế hoạch hoá Trước năm 1986, ở Việt Nam hầu như chỉ có hai hình thức doanh nghiệp là doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã Hiện nay, cơ cấu này đã hoàn toàn thay đổi Khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh của người Việt Nam và người nước ngoài ngày càng tăng trưởng mạnh Khu vực hợp tác xã tuy giảm về số lượng nhưng đang từng bước
thể hiện đúng bản chất của nó và vì vậy, cũng bắt đầu hoạt động có hiệu quả Sự
lớn mạnh vững chắc của một số doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế cũng như đóng góp của khu vực dân doanh trong việc tạo ra công ăn việc làm và thu nhập xã hội là minh chứng cho điều này Bên cạnh doanh nghiệp
9 Nguồn: Báo cáo tình hình doanh nghiệp dân doanh và định hướng phát triển giai đoạn 2007 -2010 của Bộ Kế
Trang 21có quy mô lớn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ gia đình đang khẳng định vai trò của mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế và xây dựng đất nước
Sự thay đổi cơ cấu doanh nghiệp đã tạo ra động lực thúc đẩy các doanh nghiệp cùng cạnh tranh để phát triển Đó cũng là lý do chủ yếu làm tăng trưởng nền kinh tế hiện nay Với số vốn huy động được lên đến gần 30 tỷ USD, lớn hơn
số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong cùng kỳ, doanh nghiệp dân doanh đã sử dụng gần 3 triệu lao động, đóng góp hơn 40% GDP và 29% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Khu vực doanh nghiệp dân doanh luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng trên 18%/năm, đóng góp khoảng 14,8% tổng thu ngân sách nhà nước10
Doanh nghiệp ra đời và phát triển mạnh nhất tại một số tỉnh, thành phố như Thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bà rịa - Vũng tàu, tỉnh Bình Dương, tỉnh Đồng Nai, thành phố Đà Nẵng, thành phố Cần Thơ, tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Quảng Ninh, tỉnh Khánh Hoà Sự phát triển này đã dần dần hình thành nên nhiều trung tâm tinh tế trong một quốc gia; có các trung tâm kinh tế đa ngành như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh; có các trung tâm thiên về công nghiệp như Đồng Nai, Bình Dương, Vĩnh Phúc; có các trung tâm thiên về thương mại hàng hoá và dịch vụ như Quảng Ninh, Khánh Hoà; có trung tâm thiên về công nghiệp
và dịch vụ như Bà rịa - Vũng tàu
Với cơ chế cạnh tranh, các doanh nghiệp Việt nam cũng đang hàng ngày thay đổi về chất theo hướng tiến bộ rõ rệt Có nhiều dấu hiệu cho thấy sự thay đổi này Sự đa dạng và phong phú của các sản phẩm trên thị trường Về chất lượng sản phẩm còn nhiều vấn đề cần quan tâm nhưng đã bắt đầu có những sản phẩm gây được niềm tin đối với người tiêu dùng như Bưởi năm roi, Cà phê Trung nguyên, áo sơ mi Việt tiến, An phước, Giầy Bitis, Honda Việt nam Nhiều thương hiệu, nhãn hiệu hàng hoá đã hình thành và chắc chắn nếu tính toán thành giá trị cũng có thể là tiền triệu USD, thậm chí có thể tới hàng chục triệu
10 Nguồn: Báo cáo tình hình doanh nghiệp dân doanh và định hướng phát triển giai đoạn 2007 -2006 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trang 22USD Trình độ quản lý doanh nghiệp của các doanh nhân cũng ngày càng được nâng cao Cơ chế quản lý nội bộ của các doanh nghiệp cũng dần thay đổi theo hướng chuyên nghiệp hoá và chuyên môn hoá
1.2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1 Nhận định về tình hình thực hiện pháp luật của doanh nghiệp
Nhu cầu tìm hiểu thông tin và mong muốn áp dụng đúng pháp luật đã bắt đầu hình thành đối với doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có quy mô trung bình và doanh nghiệp có quy mô lớn, hoặc các doanh nghiệp kinh doanh những ngành nghề đặc biệt Một số doanh nghiệp, ngay từ khi chuẩn bị thành lập đã coi việc thi hành pháp luật là một tiêu chí quyết định cho sự thành công Hầu hết các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp lớn của Việt Nam trước khi thành lập và hoạt động, thường bắt đầu bằng việc tìm hiểu pháp luật Việt Nam Mức độ tin tưởng vào sự an toàn pháp lý thường là yếu tố quan trọng nhất đối với nhà đầu tư nước ngoài trong việc đi đến quyết định có đầu tư vào thị trường Việt Nam hay không Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc chủ động tìm hiểu thông tin pháp luật và ý thức thi hành đúng pháp luật còn là một trong những điều bất cập
Chỉ thị số 27/2003/CT-TTg ngày 11/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Luật Doanh nghiệp, khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đã nêu rõ: “Về phía doanh nghiệp, trình độ hiểu biết luật pháp và ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận chủ sở hữu và người quản
lý chưa cao; một số doanh nghiệp còn làm ăn không trung thực, cố tình vi phạm
quy định pháp luật; quản trị nội bộ doanh nghiệp còn yếu, chưa minh bạch …”
Kết quả khảo sát thực tiễn cũng cho thấy, nhận thức pháp luật của nhiều chủ doanh nghiệp còn hạn chế Tình trạng doanh nghiệp đã được thành lập, đi vào hoạt động nhưng chủ doanh nghiệp không nắm được các quy định cơ bản về pháp luật kinh doanh là phổ biến, nhất là ở các địa phương ngoài Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Người quản lý doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp
Trang 23lớn, thuộc sở hữu Nhà nước chưa thực sự chú trọng đến việc áp dụng, thực hiện pháp luật để phòng, tránh rủi ro trong kinh doanh
Trong giai đoạn thành lập doanh nghiệp, có không ít doanh nghiệp không thực hiện đúng thủ tục đăng ký kinh doanh, góp vốn thành lập doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động, việc xây dựng cơ chế quản lý nội bộ thiếu chặt chẽ, hợp lý đã gây ra những hậu quả tiêu cực, tác động xấu kéo dài cho bản thân doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân góp vốn và thậm chí đối với bên thứ ba.11
Nhiều trường hợp đăng ký kinh doanh để thành lập doanh nghiệp nhưng không phải để kinh doanh, mà chỉ nhằm mua bán hoá đơn kiếm lời, hoặc hợp pháp hoá những hoạt động phi pháp, rửa tiền Tại địa bàn TP.HCM, năm 2003,
cơ quan chức năng phát hiện có 287 doanh nghiệp “ma” hoạt động, năm 2004 con số này đã lên tới 2.845 và trong 6 tháng đầu năm 2007 vẫn còn phát hiện được 572 doanh nghiệp “ma” Tại Hà Nội, trong 6 tháng đầu năm 2007 cơ quan chức năng cũng phát hiện có đến 1.950 doanh nghiệp “ma” hoạt động, nhiều hơn
số doanh nghiệp “ma” phát hiện được trong năm 200512
Trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp chưa chú trọng tới vai trò tư vấn pháp luật, nhất là trong việc ký kết, thực hiện hợp đồng, dẫn tới phát sinh các tranh chấp không đáng có, gây bất lợi cho doanh nghiệp Nhìn chung, ý thức chấp hành pháp luật trong kinh doanh của nhiều doanh nghiệp còn yếu, một số doanh nghiệp hoạt động kinh doanh không đúng quy định của pháp luật Vi phạm pháp luật của doanh nghiệp diễn ra khá phổ biến trên hầu hết các lĩnh vực, trong đó, nổi cộm trong các lĩnh vực chấp hành pháp luật về thuế, mua bán hóa đơn, trốn thuế, gian lận thương mại, hoạt động kinh doanh khi chưa có đủ điều kiện hoặc không bảo đảm các điều kiện kinh doanh theo quy định, gây ô nhiểm môi trường, vi phạm pháp luật lao động v.v
Trên phạm vi cả nước, đã phát hiện 720 vụ mua bán và sử dụng trái phép hóa đơn giá trị gia tăng, gây thiệt hại cho ngân sách 546,310 tỷ đồng, nhưng
11 Đề án xây dựng cơ chế hỗ trợ thực hiện pháp luật cho doanh nghiệp, Bộ Tư pháp điều tra, nghiên cứu theo Chỉ thị số 13/2005/CT-TTg ngày 08 tháng 4 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ
Trang 24hiện mới thu hồi được khoảng 200 tỷ đồng Những con số này đã nói lên tình trạng trốn thuế, gian lận thuế, thành lập doanh nghiệp để buôn bán hóa đơn, bỏ trốn khỏi địa điểm kinh doanh, sử dụng hóa đơn giả ngày càng nghiêm trọng, phức tạp, phổ biến và xảy ra ở tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước Tội phạm mua bán, sử dụng trái phép hóa đơn có nhiều loại và xuất hiện ở hầu hết các địa phương với mức độ khác nhau, nhưng nguy hiểm và nghiêm trọng nhất vẫn là tình trạng lập doanh nghiệp chỉ để mua bán hóa đơn bất hợp pháp Nếu như trước đây, việc thành lập doanh nghiệp nhằm mua bán hóa đơn bất hợp pháp mang tính chất tự phát của cá nhân đơn lẻ, thì gần đây, loại tội phạm này hoạt động tinh vi hơn13
Trong một vài năm trở lại đây do cơ chế đơn giản hóa thủ tục thành lập doanh nghiệp theo hướng giảm thủ tục và thời gian, đồng thời, cùng với việc Nhà nước thực hiện chính sách khuyến khích xuất nhập khẩu bằng cách cho chậm nộp thuế sau nhập khẩu 30 ngày thì một số doanh nghiệp đã lợi dụng để chây ỳ, cố tình dây dưa không trả nợ thuế gây khó khăn cho các cơ quan thu thuế, làm thất thoát ngân sách nhà nước Đặc biệt, có rất nhiều trường hợp trốn thuế, chiếm đoạt thuế của nhà nước bằng cách thành lập doanh nghiệp sau đó nhập khẩu hàng hóa đưa vào thị trường trong nước tổ chức tiêu thụ nhanh rồi giải tán doanh nghiệp và lẩn trốn Chỉ tính riêng TP Hồ Chí Minh trong năm
2004 đã có khoảng 2.300 doanh nghiệp nợ đọng thuế với số tiền lên đến hàng trăm tỷ đồng, trong đó, nhiều doanh nghiệp "mất tích", không xác định được trụ
sở Một số doanh nghiệp được thành lập để kinh doanh trái phép hoặc lừa đảo gây thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức và công dân sau đó bỏ trốn Điều đáng nói ở đây là sau khi vi phạm, "mất tích" trong một thời gian, những chủ doanh nghiệp
đó lại đứng ra xin phép thành lập doanh nghiệp mới và lại tiếp tục vi phạm14
12 Mạnh Bôn, Vi phạm pháp luật về thuế vẫn diễn biến phức tạp, Báo Đầu tư.
13 Mạnh Bôn, Tài liệu đã dẫn
14 Xem: "Cần xác định nhân thân của người đứng đầu doanh nghiệp thông qua Phiếu lý lịch tư pháp", Người
đại biểu nhân dân, số ra ngày 16/01/2007;
Trang 25Tình trạng các doanh nghiệp vi phạm pháp luật lao động cũng diễn ra phổ biến Nhiều doanh nghiệp chỉ ký hợp đồng lao động ngắn hạn chứ không ký hợp đồng xác định thời hạn cho các công việc có tính chất thường xuyên, ổn định Rất ít doanh nghiệp đăng ký thỏa ước lao động tập thể với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Việc cấp sổ lao động cho người lao động cũng không được thực hiện nghiêm túc “Một số doanh nghiệp thực hiện pháp luật lao động chưa triệt để; chưa quan tâm đúng mức đến việc giao kết hợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể Nội dung hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể còn sơ sài, chưa thể hiện rõ quyền và nghĩa vụ của người lao động An toàn,
vệ sinh lao động chưa được người sử dụng lao động quan tâm đúng mức, đặc biệt là đối với ngành xây dựng, giao thông là những ngành có nguy cơ gây tai nạn lao động cao Tình trạng doanh nghiệp không nghiêm túc thực hiện kết luận thanh tra còn khá phổ biến Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lao động còn vi phạm pháp luật về lao động, gây khó khăn trong việc mở rộng và phát triển thị trường lao động ngoài nước Các chế độ chính sách cho lao động đặc thù như lao động nữ, lao động là người tàn tật chưa được thực hiện nghiêm chỉnh”15
Nhìn chung, tình trạng yếu kém trong thực hiện pháp luật của doanh nghiệp được thể hiện ở những điểm chủ yếu sau đây:
• Thói quen trong nhiều doanh nghiệp không chú ý tới việc tìm hiểu và thực hiện pháp luật, phổ biến nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp mới được thành lập
• Nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước chỉ quan tâm đến pháp luật về quản lý nhà nước và vì vậy, chỉ ý thức thực hiện pháp luật hoặc thuê tư vấn với mục đích "chống chọi" với cơ quan Nhà nước để đề phòng hậu quả cơ quan nhà nước sẽ xử lý doanh nghiệp khi vi phạm pháp luật về hành chính và hình sự; chưa ý thức về các rủi ro pháp lý trong quan hệ với khách
15 Nguồn: "Quản lý Nhà nước về lao động - việc làm", Bản tin ngày thứ năm, 29/07/2004;
http://www.moi.gov.vn/BForum/Detail.asp?Cat=1&id=452
Trang 26hàng và người tiêu dùng Đây là hiện tượng có nguồn gốc chủ yếu từ cơ chế tập trung kế hoạch hoá, không có môi trường cạnh tranh
• Có không ít doanh nghiệp được thành lập để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh vi phạm pháp luật với mục đích lừa đảo, trốn thuế, mua bán hoá đơn và khai khống doanh thu để chiếm đoạt ngân sách nhà nước vv
• Phần lớn doanh nghiệp chưa có thói quen sử dụng tư vấn pháp luật để thi hành pháp luật và phòng, chống rủi ro trong kinh doanh Phần đông các doanh nghiệp Việt Nam chỉ sử dụng tư vấn, luật sư khi đã xảy ra vụ việc liên quan đến pháp luật và cũng chỉ đến khi đó ý thức thực hiện pháp luật mới trở thành vấn đề mà họ quan tâm Điển hình là bài học đắt giá cho các nhà đầu tư Việt Nam như vụ cá basa ở Hoa kỳ, việc Chính phủ Hoa kỳ áp dụng thuế chống bán phá giá với sản phẩm cá của Việt Nam cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam chưa có kinh nghiệm trong việc mở rộng khả năng tiêu thụ sản phẩm tại thị trường xa xôi và phức tạp như Hoa Kỳ Hàng loạt vụ việc tranh chấp khác cũng cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam còn ít quan tâm đến việc sử dụng dịch vụ
tư vấn pháp luật là nguyên nhân dẫn đến những thiệt hại kinh tế không nhỏ
1.2.2 Nguyên nhân chủ yếu hạn chế việc thực hiện pháp luật của doanh nghiệp
Nhìn từ các góc độ khác nhau có thể sẽ có những nhận định, đánh giá khác nhau về các nguyên nhân của tình trạng trên Từ góc độ pháp lý, qua kết quả nghiên cứu và khảo sát có thể thấy, việc doanh nghiệp chưa tuân thủ pháp luật có các nguyên nhân chủ yếu sau đây:
1.2.2.1 Về phía Nhà nước
Trong hơn hai mươi năm thực hiện chính sách đổi mới, hệ thống pháp luật
có nhiều thay đổi theo hướng phù hợp với cơ chế thị trường Tuy nhiên, do nền kinh tế thị trường của Việt Nam có đặc điểm là hình thành từ cơ chế tập trung kế hoạch hoá, nên trong quá trình chuyển đổi hiện nay, hệ thống pháp luật đã bộc lộ
sự thiếu thống nhất, đồng bộ Hệ thống pháp luật hiện nay có sự đan xen giữa
Trang 27các nguyên tắc pháp lý khác hẳn nhau khiến cho hệ thống pháp luật vừa thiếu nhất quán, vừa cồng kềnh, nhiều mâu thuẫn, chồng chéo và không ổn định
Tình trạng sử dụng công văn được coi như có giá trị như pháp luật, thậm chí cao hơn pháp luật để hướng dẫn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vẫn còn khá phổ biến Tình trạng trên làm cho việc thi hành pháp luật cũng gặp khó khăn, ngay cả trong trường hợp doanh nghiệp muốn chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật
Trong bối cảnh một hệ thống pháp luật như vậy, người hành nghề tư vấn pháp luật cũng không dễ dàng hoạt động Pháp luật về kinh doanh vẫn đang trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện, tính đồng bộ của hệ thống chưa cao, chưa thực sự tạo được sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế về thủ tục và điều kiện gia nhập thị trường, về phạm vi kinh doanh, mức độ tự chủ trong quản
lý và điều hành doanh nghiệp Một số văn bản pháp luật có chất lượng chưa tốt,
có thể hiểu và thực hiện theo nhiều cách, không lường trước được việc thực hiện, tạo cơ hội cho cán bộ Nhà nước nhũng nhiễu, trục lợi Nhiều quy định của pháp luật duy ý chí, bất cập, thậm chí trái ngược nhau, khiến cho doanh nghiệp muốn hoạt động được không thể không vi phạm pháp luật
Tính minh bạch của hệ thống pháp luật chưa được bảo đảm, làm cho doanh nghiệp rất khó khăn khi tiếp cận thông tin pháp luật Trong thời đại thông tin như hiện nay, việc nắm bắt và có được thông tin sớm là rất quan trọng, thậm chí là quyết định thành bại trong kinh doanh Việc tiếp cận được thông tin, đặc biệt là thông tin từ các cơ quan nhà nước, là rất khó mà nguyên nhân của nó là thiếu sự công khai và minh bạch về thông tin Chính việc thiếu thông tin đã dẫn đến tình trạng một số doanh nghiệp “hồn nhiên” vi phạm pháp luật mà không hề hay biết
Cơ sở dữ liệu pháp luật Việt Nam mới được xây dựng, nhưng chưa đầy
đủ, toàn diện, tập trung và thống nhất, nên dẫn đến việc doanh nghiệp muốn tiếp cận với hệ thống pháp luật thì gặp rất nhiều khó khăn Các thông tin được đưa ra phần lớn chỉ là thông tin "thô", dưới dạng văn bản hoàn chỉnh, chưa được
Trang 28xử lý, phân loại theo nội dung, chủ đề, nên chưa đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng, bởi doanh nghiệp thường ít có điều kiện nghiên cứu toàn văn văn bản pháp luật mà chỉ muốn có được các thông tin đã được xử lý ngắn gọn, dễ nắm bắt
Bên cạnh yêu cầu được thông tin cập nhật văn bản pháp luật, doanh nghiệp còn có nhu cầu được thông tin về thực tiễn pháp lý dưới dạng những tình huống pháp lý trong kinh doanh Những thông tin pháp luật của các nước là đối tác thương mại và pháp luật của các tổ chức kinh tế quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng là những nguồn thông tin mà nhiều doanh nghiệp quan tâm Tuy nhiên, do chưa có trung tâm đầu mối thu thập và xử lý thông tin về các nội dung này, cho nên đại bộ phận doanh nghiệp còn bỡ ngỡ với các tình huống pháp lý, nhất là những thông tin cần thiết phục vụ cho việc phòng, chống các tranh chấp phát sinh
Trong việc tổ chức thi hành pháp luật, chưa có cơ chế, biện pháp để các
cơ quan Nhà nước hỗ trợ thực hiện pháp luật cho doanh nghiệp một cách hiệu quả Pháp luật quy định các cơ quan chuyên môn ở trung ương và địa phương có trách nhiệm phổ biến và hướng dẫn pháp luật cho tổ chức, cá nhân16 nhưng việc thi hành khó khăn vì cơ chế thực hiện chủ yếu vẫn xuất phát từ kế hoạch Nhà nước, ít xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp Vì vậy, việc phổ biến pháp luật
ít hiệu quả, đôi khi trở thành nhàm chán, không thu hút được sự quan tâm của doanh nghiệp
1.2.2.2 Về phía doanh nghiệp
Cơ chế tập trung kế hoạch hoá đã ăn sâu vào ý thức của các doanh nghiệp
và cơ quan nhà nước, nhất là các cán bộ trực tiếp quản lý doanh nghiệp nhà nước Mặc dù đã qua hơn hai mươi năm đổi mới cơ chế quản lý, nhưng cơ chế tập trung kế hoạch hoá đã ăn sâu vào ý thức hệ của các nhà quản lý nên không
dễ dàng cho việc vận dụng các nguyên tắc của thương trường Do thói quen của
16 Khoản 4, Điều 4 và khoản 1, Điều 13, Nghị định số 86/2002/NĐ-CP; và khoản 6, Điều 4, Nghị định số
Trang 29nền kinh tế kế hoạch, các doanh nghiệp nhà nước thường không chủ động tìm hiểu thị trường, tìm hiểu đối tác trong kinh doanh mà chỉ đơn thuần thực hiện kế hoạch theo ý chí chủ quan Tầm nhìn chiến lược còn hạn chế, chưa đánh giá được tầm quan trọng của một nền kinh tế hội nhập và còn ỷ vào Nhà nước, có những doanh nghiệp đã tham dự nhiều cuộc hội thảo liên quan đến WTO nhưng cho đến giờ phút này vẫn chưa hiểu sâu sắc về nó và cũng chưa biết làm cách nào để nâng cao khả năng cạnh tranh, chuẩn bị việc hội nhập kinh tế quốc tế
Doanh nghiệp chưa quan tâm đến việc hiến kế, đóng góp xây dựng chính sách của Nhà nước, do đặc điểm chung của doanh nghiệp Việt Nam là hầu hết đều có quy mô vừa và nhỏ, mới thành lập nên ít kinh nghiệm kinh doanh, năng lực cạnh tranh hạn chế, dành phần lớn thời gian cho việc thích ứng với hoàn cảnh trước mắt hơn là đầu tư thời gian vào nghiên cứu chiến lược dài hạn
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, do nhận thức hạn chế, điều kiện tiếp cận với pháp luật nước ngoài hoặc pháp luật của các tổ chức quốc tế khó khăn, đã gây ra những vụ việc tranh chấp đáng tiếc mà bên thua thiệt là phía Việt Nam Nhận thức pháp luật hạn chế đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không biết được quyền và nghĩa vụ của mình trong kinh doanh để thực hiện cho đúng đắn Tình trạng này, một mặt, làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật kinh doanh, ảnh hưởng tới tốc độ và chất lượng phát triển doanh nghiệp theo mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội đã đề ra; mặt khác, ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả đầu
tư, kinh doanh của chính doanh nghiệp, cũng như hạn chế trong việc phòng và chống rủi ro pháp lý trong kinh doanh của doanh nghiệp
“Trên thực tế, trong thời gian qua đã có nhiều doanh nghiệp, thương nhân Việt Nam gặp vô số rủi ro pháp lý, thiệt hại tài chính và uy tín khi thiết lập các mối quan hệ kinh doanh mà không có sự tham vấn từ luật sư, chuyên gia pháp
lý Các thiệt hại này có thể gặp ở các khâu, các giai đoạn của quá trình kinh doanh như khởi nghiệp, tổ chức kinh doanh; gia nhập thị trường; đầu tư mở rộng; liên kết kinh tế và thậm chí đôi khi rủi ro còn đến từ việc các quan hệ kinh doanh của doanh nghiệp bị cơ quan tố tụng hình sự hóa Hơn nữa, việc mở
Trang 30rộng quan hệ quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức, dù doanh nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định nhưng cũng phải chịu tổn thất to lớn do những rủi ro pháp lý”17
Nhìn chung, doanh nghiệp Việt nam chưa quen với chi phí pháp lý Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa có vốn dưới 10 tỷ đồng chiếm trên 96% tổng số doanh nghiệp đăng ký và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp18 Vì vậy, vấn đề chi phí pháp lý vẫn còn là điều khó khăn với nhiều doanh nghiệp
Ít ở nơi nào mà vai trò của luật sư thấp như ở Việt Nam Mọi giao dịch của doanh nghiệp đa phần là thực hiện trực tiếp giữa các chủ thể mà không có tư vấn của luật sư Rất ít doanh nghiệp sử dụng luật sư tư vấn khi lập kế hoạch kinh doanh hoặc chuẩn bị thực hiện các hợp đồng Đa phần các doanh nghiệp chỉ sử dụng tư vấn pháp lý khi vấn đề đã xảy ra
Khi gặp khó khăn về pháp lý, các doanh nghiêp thường bắt đầu từ việc sử dụng mối quan hệ thân quen, nhất là mối quan hệ thân quen với các quan chức
và những người làm việc trong bộ máy công quyền Một số doanh nghiệp không
hề né tránh việc thông qua con đường không chính thức để giải quyết những vướng mắc về pháp lý, thậm chí cả con đường hình sự hoá Do còn hạn chế về nguồn lực để tiếp cận với thông tin pháp lý và tư vấn pháp luật, hoạt động hỗ trợ của các hiệp hội doanh nghiệp còn nhiều bất cập
Có thể lý giải điều này ở một số khía cạnh cơ bản sau:
Thứ nhất, do ảnh hưởng thói quen nhiều năm từ thời kỳ tập trung kế
hoạch hoá Với tư duy coi doanh nghiệp như một trong những công cụ của Nhà nước, các doanh nghiệp không đặt ra nhu cầu về tư vấn pháp luật, vì vậy, không
có môi trường cho thị trường dịch vụ pháp lý tồn tại
Thứ hai, doanh nghiệp ít có thói quen hành xử theo kiểu “thượng tôn pháp
luật” mà theo “lệ”, theo “giao ước” của phường, hội Uy tín của chủ doanh
17 Bùi Thanh Lam, Tài liệu đã dẫn
Trang 31nghiệp đôi khi còn quan trọng hơn cả luật, điều này phổ biến trong các doanh nghiệp được tổ chức theo kiểu gia đình Khi xảy ra tranh chấp, việc giải quyết tranh chấp bằng pháp luật chỉ là phương án cuối cùng19 Việc giải quyết các vướng mắc trong quá trình hoạt động kinh doanh thông qua mối quan hệ cá nhân với các quan chức hoặc bằng tiền bạc thường được quan tâm trước tiên
Thứ ba, luật sư của Việt Nam còn nhiều hạn chế về chuyên môn, kinh
nghiệm, nhất là khi thực hiện tư vấn những vụ việc có yếu tố nước ngoài Hơn nữa, pháp luật kinh doanh chỉ được cải thiện trong những năm gần đây, do đó, môi trường pháp lý để giới luật sư hành nghề rất hạn chế và hầu như chỉ giới hạn trong các vụ việc hình sự Chính vì luật sư Việt Nam chưa gây dựng được lòng tin nơi doanh nghiệp nên cũng dễ hiểu khi doanh nghiệp không muốn bỏ ra chi phí pháp lý.20
Thứ tư, doanh nghiệp chưa hoàn tin tưởng vào hệ thống pháp luật trước
hết vì những hạn chế của pháp luật thực định như đã trình bày ở trên Mặt khác, việc chưa thực sự tin tưởng hệ thống pháp luật còn vì cơ chế bảo đảm thi hành pháp luật Các thủ tục hành chính phiền hà cộng với một số tiêu cực trong hoạt động quản lý hành chính của một số cơ quan nhà nước đã tạo ra suy nghĩ của nhiều doanh nghiệp là cần một quan hệ quen biết hoặc "một chiếc phong bì" khi đến "cửa quan" Phần lớn các doanh nghiệp sau một lần kiện tụng tại Toà án đã hình thành ý thức cố gắng không phải phiền đến Toà án nữa bằng cách cẩn thận hơn trong việc làm ăn, hoặc nếu có tranh chấp thì sẽ lựa chọn một con đường khác, kể cả con đường hình sự hoá21, thậm chí, có khi lựa chọn việc giải quyết tranh chấp bằng việc sử dụng "xã hội đen" Tình hình tồn đọng trong thi hành án cũng là nỗi lo ngại của các doanh nghiệp, chưa làm doanh nghiệp tin tưởng về
tính hiệu quả của các thiết chế thi hành pháp luật của Nhà nước
18 Xem: Kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 5 năm 2006 – 2010
19 Bùi Thanh Lam, “Vì sao doanh nghiệp không quen với “chi phí pháp lý”
http://www.saigontimes.com.vn/tbktsg/detail.asp?muc=21&sobao=840&sott=12
20Bùi Thanh Lam, Tài liệu đã dẫn.
21 Xem: Hình sự hoá các quan hệ dân sự, kinh tế và phi hình sự hoá các quan hệ hình sự, Thông tin khoa học
pháp lý số 6+7/2004, Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp
Trang 32Chương 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP VÀ THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG
DỊCH VỤ PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP
Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được thực hiện qua nhiều hoạt động như hoạt động cung cấp thông tin pháp luật; hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật; hoạt động đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp
2.1.1 Cung cấp thông tin pháp luật cho doanh nghiệp
Trong kinh tế thị trường, vấn đề quyết định số phận của doanh nghiệp không hẳn nằm ở năng lực sản xuất của chính doanh nghiệp, mà ở việc doanh nghiệp có tìm được đầu ra hợp lý với những tiêu chuẩn, quy chuẩn cần thiết cho sản phẩm không, nghĩa là doanh nghiệp có tìm được thị trường cho các sản phẩm của mình không Vì vậy, thông tin, trong đó có thông tin pháp lý, sẽ trở nên vô cùng quan trọng, thậm chí, quyết định sự sống còn của doanh nghiệp Số liệu thống kê cho thấy, 50,62% doanh nghiệp thường gặp khó khăn trong việc
mở rộng thị trường; 41.74% doanh nghiệp gặp khó khăn về đất đai và mặt bằng sản xuất; 25.22% doanh nghiệp gặp khó khăn khi muốn giảm chi phí sản xuất; 24,23% khó khăn về thiếu các ưu đãi về thuế và 19,47% gặp các khó khăn về thiếu thông tin Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thông tin lại càng vô cùng quan trọng Thiếu thông tin, doanh nghiệp nhỏ và vừa thường bị lép vế trong các mối quan hệ, không chỉ với Nhà nước, mà cả khi giao dịch với các đối tác, đặc biệt là các đối tác nước ngoài, khi giao dịch với ngân hàng, thậm chí cả khi quan
hệ với các trung tâm khoa học, trung tâm đào tạo
Trang 33Một điều tra vào đầu năm 2005 cho thấy, trong tổng số các doanh nghiệp được điều tra, chỉ có 72% doanh nghiệp nắm được thông tin về hội nhập, 15% lãnh đạo doanh nghiệp chưa hề biết những thách thức mà họ sẽ gặp trong tương lai; 31% doanh nghiệp không biết gì về WTO; 45% doanh nghiệp chưa có kế hoạch chuẩn bị cho việc thực hiện các yêu cầu của Hiệp định Thương mại Việt nam - Hoa kỳ.22
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và pháp luật nhằm đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền pháp luật cho doanh nghiệp Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa IX đã khẳng định cần "tăng cường tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với kinh tế tập thể và các mô hình làm
ăn có hiệu quả" Đối với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 đã khẳng định quyết tâm "làm tốt công tác phổ biến, tuyên truyền quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với việc phát triển kinh tế tư nhân"
Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, ngày 07 tháng 01 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg về tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay, Quyết định số 03/1998/QĐ- TTg về việc ban hành Kế hoạch triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
từ năm 1998 đến năm 2002 và thành lập Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Trong Kế hoạch ban hành kèm theo Quyết định của Thủ
tướng Chính phủ, tại phần IV, mục A đã xác định “các chủ doanh nghiệp, người quản lý, cán bộ công đoàn trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải được phổ biến pháp luật chuyên ngành liên quan đến lĩnh vực quản lý sản xuất kinh doanh” Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ từ
năm 2003 đến năm 2007 ban hành kèm theo Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg ngày 17/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định đối tượng người lao động, người quản lý và cán bộ công đoàn trong doanh nghiệp là các đối tượng
22 Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Trang 34được ưu tiên thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật hiện nay về những văn bản pháp luật thiết thực với công việc của họ
Để tiếp cận với các thông tin pháp luật, hiện nay, doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều kênh như thông qua Công báo, các xuất bản phẩm về pháp lý, các phương tiện điện tử và cung cấp thông tin của các phương tiện thông tin đại chúng
2.1.1.1 Cung cấp thông tin pháp luật qua việc phát hành Công báo
Theo pháp luật hiện hành thì tất cả các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương ban hành đều phải được đăng Công báo hoặc yết thị, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, trừ trường hợp văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước Các văn bản quy phạm pháp luật chỉ có hiệu lực sau khi đã đăng công báo Đó cũng là cam kết quốc tế của Việt Nam về việc bảo đảm tính minh bạch của pháp luật
Ngày 23/3/2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 104/2004/NĐ-CP
về Công báo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Công báo là ấn phẩm thông tin pháp lý chính thức do Chính phủ thống nhất quản lý, có chức năng công bố các văn bản pháp luật và thời điểm có hiệu lực của các văn bản đó theo quy định của pháp luật, các Điều ước quốc tế đã có hiệu lực đối với nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ các Điều ước quốc tế các bên thoả thuận không công bố hoặc không được phép công bố theo quyết định của các cơ quan
có thẩm quyền; thông tin, phổ biến văn bản pháp luật do các cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Công báo được xuất bản ở Trung ương và ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; được phát hành rộng rãi cho mọi đối tượng sử dụng Công báo bao gồm: Công báo in và Công báo điện tử Công báo xuất bản ở Trung ương có Phụ trương Công báo
Hoạt động phát hành công báo đã đạt được những kết quả tích cực về số lượng cũng như chất lượng, góp phần công khai, minh bạch hệ thống pháp luật,
Trang 35tăng khả năng có thể tiếp cận và chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các quy định pháp luật mới được ban hành
Tuy nhiên, những thay đổi vẫn chưa đạt đến mức mọi người dân, mọi doanh nghiệp nếu có nhu cầu có thể tiếp cận với công báo một cách dễ dàng Công báo đăng tải văn bản pháp luật được áp dụng chính thức, nhưng không có nhiều doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận với thông tin pháp luật từ Công báo một cách đều đặn và có hệ thống Công báo chủ yếu vẫn phát hành trong hệ thống cơ quan nhà nước và theo phương thức đặt mua trước Không có các địa điểm mua công báo công cộng ổn định nên hầu như các doanh nghiệp, thậm chí các sinh viên luật học rất khó tiếp cận với công báo
Mặt khác, hầu hết các doanh nghiệp chỉ có nhu cầu tìm hiểu các văn bản liên quan lĩnh vực kinh doanh, và mỗi doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực kinh doanh chuyên ngành Công báo đăng tải toàn bộ các văn bản pháp luật
do nhiều cơ quan khác nhau ban hành Vì vậy, ngay khi có Công báo thì việc tìm hiểu, nghiên cứu Công báo để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp cũng là rất khó khăn nếu mỗi doanh nghiệp không có một chuyên gia luật để giúp cho cho mình
Văn bản quy phạm pháp luật chỉ có hiệu lực sau khi đăng Công báo, nhưng chưa có cơ chế để bảo đảm cho việc các văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng Công báo kịp thời Vì vậy, tình trạng công báo chậm đăng tải các văn bản quy phạm pháp luật là điều không thể nào tránh khỏi
Kết quả điều tra năm 2005 của VCCI tại 1.538 doanh nghiệp tư nhân ở 32 tỉnh, thành phố cho thấy, không phải mọi doanh nghiệp đều có thể tiếp cận với các văn bản pháp luật cấp Trung ương cũng như cấp địa phương Nhiều doanh nghiệp đánh giá việc tiếp cận các văn bản pháp luật ở cấp Trung ương cũng như cấp địa phương hiện không dễ dàng
Bảng 1: Đánh giá của doanh nghiệp tư nhân về mức độ tiếp cận các văn bản quy phạm pháp luật
Trang 36Đánh giá về
mức độ tiếp
cận
Các VBPL cấp Trung ương (như Luật, Pháp lệnh, Nghị định )
Các văn bản pháp luật cấp tỉnh (Quyết định, Chỉ thị của UBND tỉnh)
2.1.1.2 Cung cấp thông tin pháp lý qua các phương tiện điện tử
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật có thể thực hiện thông qua nhiều hình thức, phương pháp và cách làm khác nhau Một trong những hình thức tuyên truyền pháp luật có phạm vi rộng, thông tin nhanh nhất là thông qua các phương tiện điện tử Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như hiện nay thì hình thức trao đổi, cung cấp thông tin pháp luật thông qua các phương tiện điện tử, nhất là qua mạng Internet đã trở thành một hình thức chuyển tải thông tin rất tiện ích, nhanh chóng, chi phí thấp mà mang lại hiệu quả cao, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp Sẽ đặc biệt thuận lợi cho doanh nghiệp nếu tất
Trang 37cả các văn bản pháp luật của cơ quan, bộ ngành đó được đăng tải công khai tại website của cơ quan, bộ ngành đó và truy cập miễn phí
Kể từ năm 1997, khi Việt Nam tham gia kết nối mạng Internet, đến nay đã
có khoảng 6,2 triệu người sử dụng với khoảng hơn 1,2 triệu thuê bao, cơ sở hạ tầng viễn thông không ngừng được phát triển, nâng cao về số lượng và chất lượng dịch vụ Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp và sử dụng thông tin trong đó có thông tin pháp luật
Nhiều cơ quan trung ương đã thiết lập Website như Quốc hội
( www.mot.gov.vn ), Bộ Kế hoạch và đầu tư ( www.mpi.gov.vn ), Bộ Tài chính ( www.mof.gov.vn ), Bộ Tư pháp ( www.moj.gov.vn ) để giới thiệu về cơ cấu, tổ chức, hoạt động của cơ quan mình và trong đó rất chú trọng đến việc đăng tải các văn bản pháp luật trong phạm vi chức năng, thẩm quyền của mình đã ban hành hoặc đang xây dựng dự thảo
Các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trình Chính phủ hiện nay bắt buộc phải đăng tải trên trang webseite www.chinhphu.vn của Chính phủ Nhiều doanh nghiệp đánh giá cao việc văn bản pháp luật luôn được cập nhật nhanh chóng và đầy đủ trên website của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế Các doanh nghiệp khi truy cập các website này có thể tìm hiểu được các thông tin pháp lý có giá trị cũng như các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp Ví dụ: website của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ( www.mpi.gov.vn ) có đăng tải các nội dung như chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đầu tư nước ngoài, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa
và nhỏ, hội nhập kinh tế quốc tế; website của Bộ Tài chính đăng tải các văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Tài chính ban hành, thông tin về đầu tư, về doanh nghiệp, về dịch vụ tài chính, các dự án đó Bộ Tài chính quản lý
Nhiều tỉnh thành đều đăng tải các thông tin, văn bản pháp luật do tỉnh ban hành trên website của tỉnh có thể giao dịch qua mạng, ví dụ, việc thành lập doanh nghiệp tại TP Một số UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây
Trang 38dựng website như Thành phố Hà Nội với địa chỉ www.hanoi.gov.vn , thành phố
Hồ Chí Minh với địa chỉ www.hochiminhcity.gov.vn … giới thiệu về chính sách thu hút đầu tư, cải cách thủ tục hành chính cũng như tổ chức hoạt động và các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành Tại Bình Dương, nhà đầu tư đến Sở Kế hoạch Đầu tư thường được cung cấp miễn phí đĩa mềm với đầy đủ các văn bản pháp luật có liên quan, các biểu mẫu liên quan đến việc thành lập công ty23
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam có địa chỉ website thân thuộc với doanh nghiệp như: www.vcci.org.vn , www.vibonline.com.vn Các đoàn Luật sư, Hội Luật gia cũng đã xây dựng website để cung cấp thông tin về
tổ chức, hoạt động của mình trong đó đã giới thiệu, cung cấp thông tin pháp luật
có liên quan đến nhu cầu của các doanh nghiệp Các tổ chức này đã đăng tải các thông tin cần thiết đối với các doanh nghiệp như thành viên doanh nghiệp, cơ hội giao thương, chào bán, chào mua, tìm đối tác, giá thị trường trong nước và quốc tế, các vấn đề pháp lý có liên quan, các dịch vụ tư vấn pháp luật nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp một cách có hệ thống khá tiện ích cho người sử dụng Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam còn thiết lập các diễn đàn đối thoại trên mạng để các doanh nghiệp trao đổi thông tin
Một số công ty, nhất là những công ty hoạt động trong lĩnh vực tư vấn pháp luật cũng đã thực hiện việc cung cấp thông tin pháp lý thông qua hệ thống mạng có thu phí hàng tháng hoặc thu phí theo ngày Ví dụ, website
www.express.net
Tuy nhiên, số lượng các nhà cung cấp dịch vụ qua mạng chưa nhiều, việc cung cấp thông tin chưa chuyên nghiệp, nội dung thông tin pháp luật chưa phong phú, chưa đầy đủ, mới chỉ tập trung vào một số lĩnh vực mà nhà cung cấp
Trang 39có thế mạnh, chứ chưa cung cấp được các thông tin theo yêu cầu của khách hàng Các văn bản thông tin tóm tắt do một số công ty tư vấn trong nước và nước ngoài sử dụng để hỗ trợ cho khách hàng thì loại thông tin này có chất lượng nhưng diện phổ cập không cao do công ty phát hành loại thông tin này tập trung vào các doanh nghiệp khách hàng tiềm năng của mình Việc khai thác và
sử dụng thông tin pháp lý qua mạng trên các website của các công ty này cũng gặp nhiều khó khăn về tốc độ đường truyền cũng như chi phí sử dụng dịch vụ chưa hấp dẫn người sử dụng
Nhận định chung cho thấy, một số cơ sở dữ liệu pháp luật của Nhà nước
và của tư nhân đã hình thành, tuy nhiên, hầu hết mới ở giai đoạn tổng hợp các thông tin chung, chưa được xử lý về kỹ thuật, chưa có những thông tin theo chuyên đề hoặc thông tin chuyên sâu, nên chưa thật thuận tiện cho việc truy cập Mặc dù, được truy cập miễn phí nhưng hầu hết các website của các cơ quan nhà nước đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nên việc cung cấp văn bản pháp luật mới dừng lại trong mức độ hạn chế, độ cập nhật còn chậm, chưa có sự biên tập và xử lý kỹ thuật các nội dung theo chủ đề phù hợp cho các hoạt động thiết yếu của các doanh nghiệp Mặt khác, việc truy cập các website này cũng gặp nhiều khó khăn do đường truyền thường bị nghẽn nên chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp
Đối với các ấn phẩm pháp luật điện tử hiện nay đã xuất hiện nhiều cơ sở
dữ liệu pháp luật phiên bản có uy tín do Văn phòng Quốc hội thông qua website
và qua CD - ROM dữ liệu pháp luật có nhiều tiện ích khi tra cứu nhưng loại sản phẩm này có hạn chế là do độ cập nhật chưa nhanh chóng Một số sản phẩm có tiếng vang như Thư viện pháp luật của báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh thì việc cập nhật các văn bản thưòng khá nhanh chóng và được thực hiện thường xuyên, liên tục, nhưng công cụ tìm kiếm, nhất là tìm kiếm theo chuyên đề của phần mềm đó chưa thật sự thông minh, khiến người sử dụng gặp nhiều khó khăn
Trang 402.1.1.3 Cung cấp thông tin pháp luật qua hoạt động xuất bản sách báo pháp lý
Hoạt động xuất bản sách báo pháp lý nói chung được thực hiện rất đa dạng bởi nhiều tổ chức, cá nhân Ra bất cứ hiệu sách nào cũng có thể thấy rất nhiều sách báo pháp lý, được thực hiện với nhiều hình thức phong phú Có thể nói xuất bản sách pháp lý là vấn đề đang được hầu hết các nhà xuất bản quan tâm nên có thể cung ứng khá kịp thời và đầy đủ cho nhu cầu xã hội Tuy nhiên, chính tình hình đó lại dẫn tới hiện tượng là sách pháp lý hiện nay thường mang nặng tính thương mại, chất lượng thông tin chưa đủ chiều sâu để doanh nghiệp
có thể sử dụng, nên việc đầu tư mua sách báo pháp lý cuối cùng lại có thể gây ra tốn kém mà không hiệu quả
Các bộ, các ngành, các địa phương đều xuất bản sách pháp lý, đặc biệt là các sách hệ thống hoá văn bản pháp luật và sách hướng dẫn nghiệp vụ pháp luật Hầu hết các sách do các bộ, ngành và địa phương ban hành thường tập trung vào các nội dung chuyên môn cụ thể và có tính thời sự Vì vậy, khá thuận tiện cho việc sử dụng Tuy nhiên, do hạn chế nguồn lực nên không phải cuốn sách nào cũng có thể đáp ứng được chất lượng cần thiết
Các tổ chức, hiệp hội doanh nghiệp cũng thường xuyên phát hành sách báo pháp lý phục vụ hoạt động của các thành viên Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam có Báo Diễn đàn Doanh nghiệp thường xuyên đăng tải các thông tin đa dạng phục vụ doanh nghiệp Báo Diễn đàn Doanh nghiệp có các chuyên gia thường xuyên viết bài, trả lời phỏng vấn về những vấn đề pháp luật kinh doanh quan trọng, liên quan đến doanh nghiệp Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam tham gia thực hiện Bản tin Môi trường kinh doanh với hàng chục nghìn bản phát hành tới các đối tượng khác nhau
Hàng loạt sách về pháp luật và những vấn đề doanh nghiệp quan tâm đã được xuất bản từ VCCI hoặc VCCI phối hợp với các tổ chức khác, ví dụ như: Cẩm nang hợp đồng thương mại, Giải quyết tranh chấp trong nội bộ doanh nghiệp, Trọng tài và phương thức giải quyết tranh chấp, Pháp luật về chống bán