Thực trạng hoạt động đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên biển trong thời gian qua; các án lệ thực tiễn về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biể
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀCÔNG NGHỆ VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Cơ quan chủ trì đề tài: Viện tài Nguyên và Môi trường biển
Chủ nhiệm đề tài: PGS TS Đỗ Công Thung
9022-1
Hải Phòng - 2011
Trang 2BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
ĐÁNH GIÁ VÀ ĐÒI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
Ô NHIỄM DẦU GÂY RA TRÊN VÙNG BIỂN VIỆT NAM
MÃ SỐ: ĐTĐL.2009G/10
Cơ quan chủ trì đề tài: Viện tài Nguyên và Môi trường biển
Chủ nhiệm đề tài: PGS PS Đỗ Công Thung
TẬP II XÂY DỰNG CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO VIỆC ĐÁNH GIÁ
VÀ ĐÒI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM DẦU
GÂY RA TRÊN VÙNG BIỂN VIỆT NAM
Chủ nhiệm đề tài: Cơ quan chủ trì đề tài
PGS TS Đỗ Công Thung PGS TS Trần Đức Thạnh
Hải Phòng – 2011
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC CÁC BẢNG 9
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ 9
MỞ ĐẦU TỔNG QUAN NHIỆM VỤ VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 10
1 Bối cảnh thực hiện nhiệm vụ (tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực
khoa học pháp lý của Đề tài) 11
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu chính 12
3 Các nội dung cụ thể và sản phẩm cần đạt theo Hợp đồng NCKH &PTCN 13
4 Kết quả thực hiện theo tiến độ so với Hợp đồng NCKH &PTCN và quyết định gia hạn của Bộ Khoa học và Công nghệ 14
5 Phạm vi nghiên cứu của Đề tài 16
6 Cách tiếp cận vấn đề và phương pháp nghiên cứu 18
7 Nhận xét, đánh giá chung về kết quả thực hiện đề tài 18
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM DẦU TRÊN BIỂN TRONG KHOA HỌC PHÁP LÝ HIỆN ĐẠI 20
1.1 Các khái niệm pháp lý cơ bản …… 20
1.1.1 Dầu 20
1.1.2 Ô nhiễm dầu và các khái niệm có liên quan 20
1.1.3 Trách nhiệm pháp lý về bồi thường thiệt hại môi trường 28
1.1.4 Vùng biển Việt Nam và các khái niệm liên quan 31
1.1.5 Đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia 34
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu
trên vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia 36
1.2.1 Hậu quả của sự cố tràn dầu trên biển gây ra đối với môi trường biển, hệ sinh thái biển 36
1.2.2 Vấn đề phòng ngừa, xử lý, khắc phục ô nhiễm môi trường biển do sự cố tràn dầu trên thế giới và ở Việt Nam 39
1.2.2 Cơ sở và căn cứ của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu
trên vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia 44
Trang 41.2.3 Hoạt động đánh giá thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên vùng biển
thuộc quyềntài phán quốc gia 51
1.2.4 Quy trình pháp lý tổng quát về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm
dầu trên vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia 56
1.2.5 Các hoạt động bổ trợ cho quá trình đánh giá, đòi bồi thường thiệt hại
do ô nhiễm dầu 60
CHƯƠNG II PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ NƯỚC VỀ VẤN ĐỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM DẦU TRÊN BIỂN……… 75
2.1 Khung pháp luật quốc tế về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên
vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia 66
2.1.1 Các tổ chức quốc tế chuyên sâu về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên biển 66
2.1.1.1 Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) 66
2.1.1.2 Ủy ban hàng hải quốc tế (CMI) 69
2.1.1.3 Các quỹ quốc tế về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu 69
2.1.1.4 Các cơ quan tài phán quốc tế 71
2.1.2 Tổng quan hệ thống điều ước quốc tế chuyên sâu về bồi thường thiệt
hại do ô nhiễm dầu trên biển 73
2.2 Các quy định pháp luật quốc tế về xác định trách nhiệm pháp lý đối với thiệt hại, đánh giá thiệt hại và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia 75
2.2.2 Các điều ước và hoạt động của Ủy ban Hàng hải quốc tế (CMI) 76
2.2.3 Xác định trách nhiệm pháp lý đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu trên
biển theo quy định của các điều ước quốc tế và hoạt động của
Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) 77
2.2.3.1 Công ước về can thiệp ngoài Biển cả trong các trường hợp sự cố ô nhiễm dầu năm 1969 và Nghị định thư liên quan đến việc can thiệp ngoài Biển cả trong các trường hp ô nhiễm do các chất khác không phải dầu, năm 1973 (Công ước can thiệp) 77
Trang 52.2.3.3 Công ước về trách nhiệm và bồi thường thiệt hại gắn liền với việc
vận chuyển bằng đường biển các chất độc hại và nguy hiểm
(HNS 1996) 85
2.2.4 Quy định của các điều ước quốc tế về thu thập chứng cứ và đánh giá
thiệt hại phục vụ quy trình đòi bồi thường do ô nhiễm dầu 86
2.2.4.1 Công ước về sẵn sàng, hợp tác và ứng phó ô nhiễm dầu 1990 (OPRC 1990)86 2.2.4.3 Công ước quốc tế về thành lập quỹ quốc tế bồi thường thiệt hại ô
nhiễm dầu 1992 (FC 1992) và theo Quỹ FUND 1992 (IOPC 1992) 87
2.2.5 Xác định phương thức giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại do ô
nhiễm dầu theo quy định của các điều ước quốc tế 92
2.3 Pháp luật của một số nước trên thế giới về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia 105
2.3.1 Tổng quan về các nước tiêu biểu 105
2.3.2.1 Tình hình gia nhập ĐUQT và “nội luật hóa” quy định về BTTH 106
2.3.2.2 Tổng quan thực tiễn áp dụng pháp luật quốc tế về phòng chống
ô nhiễm môi trường biển do dầu ở một số nước 114
2.3.3 Quy định pháp luật và thực tiễn pháp lý hoạt động bồi thường thiệt
hại do ô nhiễm dầu trên vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia
ở các nước tiêu biểu 115
2.3.3.1 Anh (England) 115
2.3.3.2 Cộng hòa Pháp 117
2.3.3.3 Canada 118
2.3.3.4 Hoa Kỳ 120
2.3.3.5 Venezuela 127
2.3.3.6 Nigieria 129
2.3.3.7 Nhật Bản 129
2.3.3.8 Hàn Quốc 132
2.3.3.9 Trung Quốc 136
2.3.3.10 Thái Lan 140
2.3.3.11 Indonesia 141
Trang 62.3.3.12 Singapore 142
2.3.3.13 Philippines 144
2.3.3.14 Australia 145
2.3.3.15 New Zealand 147
2.3.4 Một số án lệ về bồi thường do ô nhiễm dầu trên biển 149
2.3.4.1 Vụ Erika (Pháp) 149
2.3.4.2 Một số vụ việc đáng chú ý khác ở Anh và Pháp 150
2.3.4.3 Vụ Mary Mackin (Canada) 150
2.3.4.4 Các vụ việc đòi BTTH Từ Quỹ SOPF (Canada) 151
2.3.4.5 Vụ Texaco (Hoa Kỳ) 152
2.3.4.6 Vụ Nissos Amorgos (Venezuela – Quỹ FUND 1971) 152
2.3.4.7 Vụ Hebei Spirit (Hàn Quốc) 153
2.3.4.8 Vụ Shosei Maru (Nhật Bản) 154
2.3.4.9 Vụ Evoikos (Singapore) 156
2.3.4.10 Một số kết luận về bài học từ các hệ thống án lệ rút ra cho
Việt Nam 156
2.3.5 Các điều kiện bảo đảm cho việc xây dựng và thực thi hiệu quả
quy trình pháp lý đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm
dầu trên biển 157
2.4 Một số kinh nghiệm quốc tế, nước ngoài cần được nghiên cứu vận dụng đối với Việt Nam 160
2.4.1 Kinh nghiệm có thể vận dụng từ các điều ước quốc tế 160
2.4.2 Một số vấn đề cần lưu ý vận dụng từ kinh nghiệm pháp luật nước
ngoài 163
CHƯƠNG III THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ ĐÒI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM DẦU TRÊN VÙNG BIỂN VIỆT NAM 166
3.1 Thực trạng khung pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên biển 166
3.1.1 Tình hình gia nhập và thực thi các điều ước quốc tế về chống ô nhiễm
dầu trên biển 166
Trang 73.1.2 Một số nhận xét, đánh giá chung 167
3.2 Thực trạng các quy định pháp luật về đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên vùng biển Việt Nam 176
3.2.1 Tổng hợp các quy định pháp luật cụ thể về những vấn đề chung trong
cơ chế BTTH, đánh giá và đòi BTTH do ô nhiễm dầu 176
3.2.2 Cơ chế pháp lý về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên vùng
biển Việt Nam 176
3.3.Nhận định tổng quan về thành tựu và những hạn chế, tồn tại của pháp luật
Việt Nam hiện hành 188
3.4 Thực trạng hoạt động đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên biển trong thời gian qua; các án lệ thực tiễn về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biển Việt Nam và bài học kinh nghiệm
đối với việc điều chỉnh, bổ sung cơ sở pháp lý, xây dựng và thực thi
pháp luật ……… 191
3.4.1 Hoạt động đòi bòi thường thiệt hại về môi trường do tràn dầu trong
một số vụ việc điển hình 191
3.4.2 Bài học kinh nghiệm chung từ thực tiễn đòi BTTH do ô nhiễm dầu ở Việt
Nam thời gian qua 197
3.5 Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm
dầu trên vùng biển Việt Nam 200
CHƯƠNG IV XÂY DỰNG QUY TRÌNH PHÁP LÝ CHUẨN VỀ ĐÒI
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM DẦU TRÊN VÙNG BIỂN
VIỆT NAM 226
4.1 Cơ sở và căn cứ của việc xây dựng quy trình pháp lý chuẩn về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên vùng biển Việt Nam 226
4.1.1 Cơ sở chung về chính trị, kinh tế - xã hội 226
4.1.2 Cơ sở khoa học công nghệ: Quy trình công nghệ về đánh giá thiệt hại do ô nhiễm dầu trên vùng biển Việt Nam 230
4.1.3 Cơ sở khoa học pháp lý 231
4.2 Nội dung quy trình pháp lý chuẩn về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên vùng biển Việt Nam 252
4.2.1 Quy trình pháp lý về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên các vùng biển
Việt Nam giữa các tổ chức/cá nhân trong nước 252
Trang 84.2.2 Quy trình pháp lý về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên các vùng
biển Việt Nam trong vụ việc có yếu tố nước ngoài) 276
4.3 Xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật về quy trình đòi bồi thường thiệt hại
do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biển 297
4.3.1 Bảng tổng hợp khái quát chung 297
4.3.2.Các nội dung giải trình về phương án xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật 299
4.4 Xây dựng hồ sơ pháp lý về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên vùng biển
Việt Nam 301
4.5 Những điều kiện bảo đảm cho việc xây dựng và thực thi hiệu quả quy trình pháp lý chuẩn về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biển
Việt Nam 310
CÁC PHỤ LỤC 316
PHỤ LỤC I: Bảng thống kê tổng hợp các vụ tràn dầu lớn trên thế giới trong
gần 45 năm qua (1967 – 2010) (Nguồn: Pearson Education, 2007) 317
PHỤ LỤC II - Bảng thống kê các sự cố tràn dầu từ tai nạn hàng hải tiêu biểu
trên các vùng biển Việt Nam (1989 – 2010) 320
PHỤ LỤC III - Cách trình bày khiếu nại về các chi phí làm sạch và biện pháp
ngăn chặn ô nhiễm theo hướng dẫn của Quỹ quốc tế về bồi thường
ô nhiễm dầu (IOPC FUND 1992) 323
PHỤ LỤC IV Kinh nghiệm tham gia và thực thi CLC 1992 và FC (FUND)
1992 ở một số nước 327
PHỤ LỤC V - Một số án lệ nước ngoài về đòi bồi thường do ô nhiễm dầu
trên biển 332
PHỤ LỤC VI - Kinh nghiệm có thể vận dụng từ pháp luật nước ngoài 357
PHỤ LỤC VII Bảng tổng hợp các quy định pháp luật cụ thể về những vấn đề chung trong cơ chế BTTH, đánh giá và đòi BTTH do ô nhiễm dầu 370
PHỤ LỤC VIII - Một số hoạt động đòi bòi thường thiệt hại về môi trường do
tràn dầu trong một số vụ việc điển hình 380
PHỤ LỤC IX - Tổng hợp các nội dung giải trình về hoàn thiện các quy định về
cơ chgiải quyết yêu cầu BTTH do ô nhiễm dầu trên vùng biển Việt Nam 397
PHỤ LỤC X Các nội dung giải trình về phương án xây dựng và hoàn thiện
các quy định pháp luật về Quy trình đánh giá và đòi bồi thường
thiệt hại do ô nhiễm dầu trên vùng biển Việt Nam 403
KẾT LUẬN CHUNG 417
KIẾN NGHỊ 4178
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 420
Trang 9BTTH Bồi thường thiệt hại
BVMT Bảo vệ môi trường
CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
CLC Internationl Convention on Civil Liability for Oil Pollution
Damage – gọi tắt là Civil Liability Convention – CLC (Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu) CMI Ủy ban Hàng hải quốc tế (tên viết tắt tiếng Anh)
ĐƯQT Điều ước quốc tế
FO Fuel Oil (dầu thô, dầu mỏ)
FC International Convention on Oil Pollution Compensation Fund
(Công ước quốc tế về bồi thường do ô nhiễm dầu) GTVT Giao thông vận tải
HST Hệ sinh thái
HNS International Convention on Liability and Compensation for
Damage in Connection with the Carriage of Hazardous and Noxious Substances by Sea (Công ước quốc tế về trách nhiệm và bồi thường tổn thất liên quan đến vận chuyển các chất nguy hiểm
và độc hại bằng đường biển) IOPC International Oil Pollution Compensation Fund (Quỹ quốc tế về bồi
thường do ô nhiễm dầu) ITOPF International Tanker Owner Pollution Federation (Liên đoàn chủ
tàu chở dầu quốc tế) IMO International Maritime Organization (Tổ chức Hàng hải Quốc tế) KHCN&MT Khoa học công nghệ và môi trường
Trang 10MARPOL Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra
NPFC National Pollution Funds Centre, Trung tâm Quốc gia điều hành
các Quỹ Ô nhiễm Môi trường (Hoa Kỳ) NRDA Quy trình đánh giá thiệt hại với tài nguyên thiên nhiên
OPA Oil Pollution Act (Đạo luật về ô nhiễm dầu)
OPRC International Convention on Oil Pollution Preparedness, Response
and Co-operation (Công ước sẵn sàng hợp tác ứng phó sự cố tràn dầu)
PLVN Pháp luật Việt Nam
SCTD Sự cố tràn dầu
TAND Tòa án nhân dân
TANDTC Tòa án nhân dân tối cao
UNEP Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc
UNCLOS Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển
UNCITRAL Ủy ban Luật thương mại của Liên hợp quốc
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Tác động của sự cố tràn dầu theo 03 mức độ tràn dầu 39
Bảng 2 So sánh CLC 1969, FC 1971 và CLC 1992, FC 1992……… 79
Bảng 3 Các tiêu chí lượng hóa tổn thất kinh tế trong hoạt động khai thác
hải sản 89
Bảng 4 Các tiêu chí lượng hóa tổn thất kinh tế trong hoạt động nuôi trồng
hải sản 89
Bảng 5 Các tiêu chí lượng hóa tổn thất kinh tế trong hoạt động chế biến
hải sản 90
Bảng 6.So sánh tình hình gia nhập các điều ước quốc tế của Việt Nam và
một số nước 168
Bảng 7 So sánh hiện trạng pháp luật của Việt Nam và một số nước 174
Bảng 8 Bảng tổng hợp khái quát chung về hệ thống QPPL ……… 297
Bảng 9 Tổng hợp các nội dung giải trình về hoàn thiện các quy định về
cơ chế giải quyết yêu cầu BTTH do ô nhiễm dầu trên vùng biển
Việt Nam 397
Bảng 10 Tổng hợp nội dung giải trình về Quy trình đánh giá và đòi
BTTH do ô nhiễm dầu trên vùng biển Việt Nam……… 404
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Hình 1 Sơ đồ các bên liên quan trong vụ việc ô nhiễm dầu……….35
Hình 2: Ba cấp độ bồi thường được thiết lập bởi các Công ước quốc tế………… 84
Hình 3 Sơ đồ quy trình đòi bồi thường từ IOPC-FUND……… ……….96
Hình 4 :Sơ đồ quy trình đòi bồi thường ô nhiễm dầu ở Anh……….…….116
Hình 5 Quy trình tổng thể về đánh giá thiệt hại và khôi phục nguồn lợi tự nhiên
ở Hoa Kỳ……….124
Hình 6 Các bước đánh giá thiệt hại nguồn lợi tự nhiên ở Hoa Kỳ……… 124
Hình 7 Sơ đồ quy trình đòi bồi thường do ô nhiễm dầu ở Hoa Kỳ……… 125
Hình 8 Sơ đồ quy trình đòi bồi thường ô nhiễm dầu ở Trung Quốc………140
Hình 9 Sơ đồ các giai đoạn của quy trình đồi bồi thường thiệt hại theo quy định
của Công ước HNS1996……… 188
Hình 10 Sơ đồ Quy trình giải quyết yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại theo
quy định của Công ước CLC 1992……… ……… 215
Hình 11 Sơ đồ hóa Quy trình đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu theo
Quy định của Công ước FUND 1992……… …216
Hình 12 Sơ đồ Quy trình giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy
định của Công ước HNS 1996……… ………….218
Hình 13 Sơ đồ hóa Quy trình pháp lý đòi bồi thường thiệt hại giữa tổ
chức, cá nhân Việt Nam………275
Hình 14 Sơ đồ hóa Quy trình pháp lý đòi bồi thường thiệt hại có yếu
tố nước ngoài……….……… ……….……… 266
Trang 13MỞ ĐẦU TỔNG QUAN NHIỆM VỤ VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Bối cảnh thực hiện nhiệm vụ (tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học pháp lý của Đề tài)
Vấn đề ô nhiễm môi trường biển nói chung, ô nhiễm môi trường biển do dầu cũng như việc đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biển không phải là một vấn đề mới Cùng với tiến trình xây dựng hệ thống pháp luật quốc tế và quốc gia về phòng chống ô nhiễm môi trường biển do dầu cũng như việc đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biển, trên thế giới và ở các nước, đã có nhiều công trình, hoạt động nghiên cứu về vấn đề này Những nghiên cứu đó, ở phạm vi và mức độ nhất định, đã đề cập đến các vấn đề lý luận và thực tiễn đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biển theo những quan điểm và cách tiếp cận khác nhau
i) Thứ nhất, đã có một số công trình nghiên cứu trực tiếp về đánh giá, đòi
bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biển
ii) Thứ hai, các công trình nghiên cứu chứng tỏ bước phát triển mới về trình
độ KH&CN trong lĩnh vực ứng phó, xử lý và khắc phục ô nhiễm môi trường biển
do dầu; đặc biệt là đã góp phần thể hiện rõ những thành tựu xây dựng pháp luật quốc tế về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên biển
iii) Thứ ba, chưa có công trình nào đề cập và giải quyết toàn diện, thấu đáo cả
về lý luận và thực tiễn hoạt động đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biển Việt Nam
Ở Việt Nam, đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên
các vùng biển là vấn đề pháp lý khá phức tạp nhưng chưa được đầu tư nghiên cứu, thực thi một cách thoả đáng trong thời gian qua Hoạt động nghiên cứu khoa học về đánh giá, đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên các vùng biển Việt Nam còn
rất hạn chế Cho đến trước thời điểm triển khai Đề tài, chưa có một công trình (đề tài, dự án) cấp Nhà nước nào về vấn đề này Một số hoạt động hay công trình
nghiên cứu đã triển khai có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đều mới chỉ dừng lại ở cấp Bộ, ngành, địa phương hoặc do một số chuyên gia, nhà khoa học thực hiện theo tính chất cá nhân đơn lẻ Nhà nước, các cơ quan tổ chức có trách nhiệm và cộng đồng cư dân các địa phương ven biển đã triển khai và xúc tiến nhiều hoạt động nhằm ứng phó, khắc phục các sự cố tràn dầu trên vùng biển Việt Nam Tuy vậy, những nỗ lực nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm biển do dầu ở Việt Nam vẫn còn rất nhiều hạn chế, thiếu hiệu quả do những hạn chế, bất cập về cơ sở pháp lý, trình độ tác nghiệp và các điều kiện cơ sở vật chất, nguồn nhân lực phục vụ cho các hoạt động phòng ngừa, xử lý và khắc phục hậu quả, đòi bồi thường thiệt hại
* Những kết quả đã đạt được: Lĩnh vực nghiên cứu, xây dựng và thực thi
pháp luật về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên biển ở Việt Nam đã
Trang 14- Thứ hai, chưa có công trình nào nghiên cứu, luận giải toàn diện, đầy đủ và
có hệ thống cơ sở khoa học, quy trình pháp lý của việc đánh giá, đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biển Việt Nam; trong đó có cả việc khảo cứu pháp luật quốc tế và kinh nghiệm nước ngoài Các hoạt động hay công
trình nghiên cứu trong lĩnh vực này chủ yếu mới chỉ mang tính chất báo cáo, phản ánh thông tin thực tiễn, dung lượng còn rất hạn chế Do thực tế này mà việc nghiên
cứu vấn đề đánh giá thiệt hại, đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biển Việt Nam đặt trong mối liên hệ tổng thể giữa các yếu tố khoa học tự
nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học pháp lý cũng như trong mối liên hệ với những nhân tố như: con người, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, hội nhập và hợp tác quốc tế…chưa được phân tích, đánh giá một cách đầy đủ Vì vậy mà cho đến
nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào về đánh giá, đòi bồi thường thiệt hại
do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biển Việt Nam đáp ứng yêu cầu là tài liệu tham khảo phục vụ đầy đủ và hiệu quả cho các cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc xây dựng và thực thi pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam
Tình hình đó đã và đang ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của việc khắc
phục các sự cố ô nhiễm biển do dầu ở nước ta Với thực tế rõ ràng là, nguy cơ và
hậu quả của ô nhiễm biển do dầu ngày càng gia tăng và là thách thức đối với tất cả các cấp, các ngành từ cấp Trung ương đến các địa phương ven biển, đang đặt ra yêu
cầu hết sức cấp thiết là khẩn trương xúc tiến việc nghiên cứu, xây dựng cơ sở khoa học pháp lý về đánh giá, đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biển Việt Nam bằng một đề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp Nhà nước
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu chính
Nhiệm vụ nghiên cứu “Xây dựng cơ sở pháp lý cho việc đánh giá và đòi bồi
thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên vùng biển Việt Nam” là một hợp phần thuộc
Đề tài độc lập cấp Nhà nước “Xây dựng cơ sở khoa học, pháp lý cho việc đánh giá
và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên vùng biển Việt Nam” (mã số:
ĐTĐL.2009 G/10, thời gian thực hiện 2009 – 2011) được giao cho Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội) chủ trì thực hiện, cùng với Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) là cơ quan chủ trì của Đề tài ĐTĐL.2009 G/10
Trang 15Đề tài có sự kết hợp hai nội dung nghiên cứu riêng biệt là (a) cơ sở khoa học
và (b) cơ sở pháp lý liên quan đến hoạt động đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do
ô nhiễm dầu gây ra trên vùng biển Việt Nam Nội dung nghiên cứu về cơ sở khoa
học thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, nội dung về cơ sở pháp lý thuộc lĩnh vực
khoa học xã hội Với tính chất là công trình nghiên cứu độc lập cấp Nhà nước, Đề tài có mục tiêu chung là: Xây dựng được cơ sở khoa học, pháp lý cho việc đánh giá
và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên vùng biển Việt Nam; góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam vì mục tiêu phát triển bền vững; phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan để chuyển giao và ứng dụng kết quả nghiên cứu
Mục tiêu cụ thể của phần nghiên cứu cơ sở pháp lý là:
* Xây dựng hệ luận cứ khoa học pháp lý về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên vùng biển Việt Nam
* Xây dựng quy trình pháp lý về đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên các vùng biển Việt Nam
* Đề xuất các giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên biển
Để đạt được các mục tiêu nêu trên, Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc
tế đăng ký triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu chính như sau:
- Cơ sở pháp lý của việc đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên vùng biển theo các điều ước quốc tế
- Kinh nghiệm quốc tế và các nước trong việc ban hành pháp luật và thực thi việc đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biển; từ đó đánh giá tổng thể về những thành công, hạn chế và những bài học kinh nghiệm có thể tham khảo, vận dụng đối với Việt Nam
- Đánh giá thực trạng hệ thống văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biển
- Các giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên biển
- Xây dựng Quy trình pháp lý về đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên các vùng biển Việt Nam
- Kế hoạch phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan nhằm ứng dụng kết quả nghiên cứu của đề tài
3 Các nội dung công việc cụ thể và sản phẩm cần đạt theo Hợp đồng NCKH
&PTCN số 10/2009G/HĐ ngày 21/01/2009 giữa Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện
Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Tài nguyên và Môi trường biển và Hợp đồng số 01/ĐTĐL.2009 G/10 ngày 06/8/2009 giữa Viện Tài nguyên và Môi trường
biển với Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế; sau đây viết tắt là Hợp đồng)
* Bộ tư liệu về cơ sở pháp lý phục vụ bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu
Trang 16* Bộ chuyên khảo khoa học về:
- Quy trình đòi bồi thường thiệt hại do sự cố ô nhiễm dầu gây ra đối với tài nguyên và môi trường biển trên thế giới và ở Việt Nam
- Báo cáo tổng hợp cơ sở pháp lý về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên vùng biển Việt Nam và đề xuất quy trình pháp lý về đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên các vùng biển Việt Nam
- Báo cáo tổng hợp các giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên biển
* Các hoạt động bổ trợ: Kỷ yếu hội thảo, tọa đàm khoa học; Báo cáo điều
tra- khảo sát thực tế (trong nước và nước ngoài); các bài báo khoa học được công bố; sách chuyên khảo (tham gia biên soạn) và các sản phẩm khác
* Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của đề tài
4 Kết quả thực hiện theo tiến độ so với Hợp đồng NCKH &PTCN và
quyết định gia hạn của Bộ Khoa học và Công nghệ: từ tháng 8/2009 đến tháng
6/2011 (20 tháng)
Đến thời điểm kết thúc (6/2011), Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế đã hoàn thành những công việc chính sau đây:
4.1 Báo cáo tổng quan các kết quả khoa học - những nội dung nghiên cứu
chính đã thực hiện (thể hiện trong mục 17 Thuyết mình đề tài):
17.1 Những vấn đề chung về vấn đề bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra
trên biển trong khoa học pháp lý hiện đại
17.2 Nghiên cứu pháp luật quốc tế và nước ngoài về vấn đề bồi thường thiệt hại
do ô nhiễm dầu gây ra trên biển
17.3 Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đòi bồi
thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên biển
17.4 Nghiên cứu xây dựng quy trình pháp lý chuẩn về đòi bồi thường thiệt
hại do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biển Việt Nam
Đề tài đã triển khai thực hiện và có sản phẩm khoa học cụ thể được yêu cầu
tại Thuyết minh đề tài và Phụ lục I Hợp đồng NCKH & PTCN, gồm 106 chuyên đề
khoa học và 05 báo cáo tổng hợp về:
- Quy trình đòi bồi thường thiệt hại do sự cố ô nhiễm dầu gây ra đối với tài nguyên và môi trường biển trên thế giới và ở Việt Nam;
- Báo cáo tổng hợp cơ sở pháp lý về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên vùng biển Việt Nam và đề xuất quy trình pháp lý về đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên các vùng biển Việt Nam;
- Báo cáo tổng hợp các giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên biển
4.2 Các hoạt động bổ trợ
Trang 174.2.1 Xây dựng Bộ tư liệu tham khảo quốc tế, nước ngoài và Việt Nam; trong đó có sản phẩm dịch một số tư liệu cần thiết từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt
4.2.2 Hoạt động hợp tác quốc tế: Tổ chức thành công 01 Đoàn ra (đi khảo sát kinh nghiệm thực tế tại Hàn Quốc (tháng 9/2010)
4.2.3 Tổ chức 01 hội thảo khoa học và các tọa đàm khoa học; tham gia các hội thảo khoa học của cơ quan chủ trì đề tài
4.2.4 Khảo sát ý kiến chuyên gia (theo phương pháp điều tra xã hội học)
4.2.5 Các bài báo đã công bố (chỉ tiêu đăng ký là 03 bài)
Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế đã công bố 04 bài báo trên các tạp chí trong nước, 01 bài báo tham gia hội thảo tại Viện Biển Hàn Quốc (KMI) trong tháng 9/2010, các báo cáo khoa học tham gia hội thảo trong nước (02 hội thảo của Viện Tài nguyên và Môi trường biển; 01 Hội thảo của Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế) Cụ thể là:
1 PGS.TS Nguyễn Bá Diến, Tổng quan pháp luật Việt Nam về phòng, chống ô nhiễm dầu ở các vùng biển, Tạp chí Khoa học Kinh tế-Luật, Đại
học Quốc gia Hà Nội, số 4/2008;
2 PGS.TS Nguyễn Bá Diến – Nguyễn Hùng Cường, Cơ chế giải quyết tranh chấp trên biển theo Công ước Luật biển 1982, Tạp chí Khoa học Kinh tế-Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, số 1/2009;
3 PGS.TS Nguyễn Bá Diến, Pháp luật Việt Nam về phân vùng, quản lý
tổng hợp vùng ven bờ biển, Tạp chí Khoa học Kinh tế-Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội, số 3/2010;
4 PGS.TS Nguyễn Bá Diến, Tổng quan pháp luật quốc tế về phòng chống
và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên biển, Tạp chí Khoa học Kinh
tế-Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, số 01/2011;
* Các báo cáo khoa học tham gia hội thảo trong và ngoài nước:
5 PGS.TS Nguyễn Bá Diến, Báo cáo khoa học về pháp luật Việt Nam về
phòng chống ô nhiễm dầu trên các vùng biển (Tham luận khoa học tại
Hội thảo của Viện Biển Hàn Quốc – KMI, tháng 9/2010)
6 PGS.TS Nguyễn Bá Diến, Ths Đồng Thị Kim Thoa, Cơ chế bồi thường
thiệt hại do ô nhiễm dầu trên các vùng biển theo pháp luật quốc tế, nước
ngoài và Việt Nam
7 PGS.TS Nguyễn Bá Diến, Ths Đồng Thị Kim Thoa, Quy trình pháp lý
đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu – cơ sở xây dựng và
những nội dung cơ bản
4.2.6 Kết quả tham gia đào tạo sau đại học (chỉ tiêu đăng ký là 01 thạc sỹ,
01 nghiên cứu sinh)
Trang 18Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế đã tham gia đào tạo 05 học viên cao học viết luận văn tốt nghiệp về đề tài ô nhiễm dầu, 01 nghiên cứu sinh chuyên ngành luật quốc tế viết luận án về đề tài ô nhiễm dầu, 03 nghiên cứu sinh chuyên
ngành luật quốc tế tham gia thực đề tài
* Danh sách nghiên cứu sinh thực hiện đề tài (đào tạo tiến sỹ) do PGS.TS, Nguyễn Bá Diến hướng dẫn: Pháp luật quốc tế và pháp luật nước ngoài về chống ô nhiễm dầu trên biển từ tàu, NCS Mai Hải Đăng, thực hiện năm 2010 tại Khoa Luật,
Đại học Quốc gia Hà Nội
* Danh sách các luận văn thạc sỹ do PGS.TS Nguyễn Bá Diến hướng dẫn
thực hiện:
1 Về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên biển trong luật quốc tế, học
viên cao học Nguyễn Văn Hải thực hiện (niên khóa 2006-2009) tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
2 Vấn đề bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên biển theo pháp luật quốc
tế và pháp luật nước ngoài, học viên cao học Nguyễn Song Hà thực hiện
(niên khóa 2007-2010) tại tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
3 Pháp luật Việt Nam về việc bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trong tương quan so sánh với pháp luật Australia, học viên cao học Nguyễn Thị
Ánh Nguyệt thực hiện (niên khóa 2007 -2010) tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
4 Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu theo pháp luật Trung Quốc, Nhật Bản
và pháp luật Việt Nam, học viên cao học Nguyễn Thiên Triệu thực hiện
(niên khóa 2007 -2010) thực hiện tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
5 Pháp luật quốc tế về chống ô nhiễm dầu trên biển liên hệ v ới pháp luật Việt Nam, học viên cao học Trần Thúy Bình thực hiện (niên khóa 2009 –
2011) tại Trường Đại học Luật Hà Nội
5 Phạm vi nghiên cứu của Đề tài
5.1 Theo thuyết minh của Viện Tài nguyên môi trường biển – triển khai mảng nghiên cứu về khoa học công nghệ
Thuyết minh Đề tài của Viện Tài nguyên môi trường biển xác định phạm vi
không gian nghiên cứu là phạm vi không gian dọc giải ven bờ Việt Nam cụ thể là:
+ Những vấn đề nghiên cứu và đánh giá tổng quan, được thực hiện cho cả dải ven bờ Việt Nam Ranh giới phía Bắc được tính từ Móng Cái (cửa sông biên giới Ka Long) và ranh giới phía Nam là mũi Cà Mau (mũi đất cuối cùng của Việt Nam)
+ Các vấn đề nghiên cứu chi tiết được tập trung vào 04 vùng biển ven bờ và một số đảo cơ sở trên vùng biển Việt Nam (Vùng biển Bắc Bộ với trọng điểm là vùng biển ven bờ Quảng Ninh và đảo Bạch Long Vỹ Vùng biển Trung Bộ (Quảng
Trang 19Bình – Ninh Thuận, trọng điểm: vùng biển ven bờ Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và đảo Cù Lao Chàm, Bà Rịa - Vũng Tàu) Vùng biển Nam Bộ (Ninh Thuận – Cà Mâu, trọng điểm: vùng cửa sông Đồng Nai) Vùng biển Tây Nam Bộ và vịnh Thái Lan (trọng điểm: đảo Phú Quốc)
Phạm vi mặt cắt ngang vùng nghiên cứu: Ranh giới ngoài được xác định
bằng đới tương tác giữa biển và lục địa và phụ thuộc vào địa hình, trầm tích và động lực của từng khu vực và tạm thời sử dụng đường đẳng sâu 30 m nước (là ranh giới ngoài cho vùng ven bờ Vịnh Bắc Bộ, vùng biển Nam Bộ) và sâu 50 m nước (cho vùng biển miền Trung) anh giới trong là xa nhất trong lục địa còn chịu ảnh hưởng đến các quá trình động lực biển như ảnh hưởng của sóng, của dòng triều… và như vậy ranh giới trong thường là ranh giới trong của các huyện ven biển
5.2 Phạm vi nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học pháp lý do Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế thực hiện
Phạm vi nghiên cứu của Đề tài trong lĩnh vực khoa học pháp lý được mặc định từ tên gọi của Đề tài là “vùng biển Việt Nam” Theo quy chế pháp lý về biển của Việt Nam hiện nay (Luật Biên giới quốc gia năm 2003, Nghị định của Chính phủ số 191/2004/NĐ-CP ngày 18/11/2004 về quản lý hoạt động thủy sản của tầu cá nước ngoài trong vùng biển của Việt Nam - Điều 3, Nghị định số 25/2009/NĐ-CP ngày 06 /3 /2009 của Chính phủ về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi
trường biển, hải đảo và các văn bản pháp luật khác liên quan, vùng biển của Việt Nam là các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của
CHXHCN Việt Nam bao gồm: nội thuỷ, lãnh hải, vùng biển tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam Như vậy, khi nghiên cứu cơ sơ
pháp lý cho việc đánh giá và đòi BTTH do ô nhiễm dầu trên vùng biển Việt Nam,
Đề tài phải đảm bảo xác định phạm vi như đã xác định trong quy chế pháp lý này,
mà không thể giới hạn phạm vi không gian gần bờ như thuyết minh của Viện Tài nguyên và Môi trường biển
Ô nhiễm dầu trên biển có nguồn gốc từ các sự cố tràn dầu có thể xảy ra ngoài khơi nhưng hậu quả thiệt hại thường lại phát sinh tại vùng ven bờ biển, do dầu bị sóng gió làm táp vào vùng ven biển, bờ biển Do đó, khi nghiên cứu về vấn đề này, cần xác định thêm phạm vi không gian nghiên cứu còn phải là khu vực ven biển Theo quy định của Chính phủ Việt Nam hiện hành (Nghị định số 25/2009/NĐ-CP ngày 06 /3 /2009 của Chính phủ về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi
trường biển, hải đảo), vùng ven biển là vùng chuyển tiếp giữa lục địa và biển, bao
gồm vùng biển ven bờ và vùng đất ven biển được xác định theo ranh giới hành
chính để quản lý Ranh giới hành chính này có thể căn cứ vào quy chế khu vực biên giới trên biển (theo Luật Biên giới quốc gia năm 2003 và Nghị định 140/2004/NĐ-
CP ngày 25/6/2004 cuả Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Biên giới
quốc gia) tính từ biên giới quốc gia trên biển vào hết địa giới hành chính xã,
phường, thị trấn giáp biển và đảo, quần đảo Đây cũng là khu vực thuộc phạm vi
nghiên cứu của Đề tài ở khía cạnh khoa học pháp lý
Trang 206 Cách tiếp cận vấn đề và phương pháp nghiên cứu
Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế đã sử dụng hợp lý và đúng đắn các cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu như đã trình bày trong Thuyết minh, đó là tiếp cận
lịch sử, tiếp cận hệ thống và tiếp cận liên ngành Phương pháp nghiên cứu chính
được sử dụng là:
- Các phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa học pháp lý
- Phương pháp nghiên cứu so sánh để tổng kết kinh nghiệm quốc tế và nước ngoài trong việc xây dựng cơ sở pháp lý của Việt Nam
- Phương pháp nghiên cứu điển hình để lựa chọn các đối tượng điểm, áp dụng trong hoạt động nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài và thực tiễn trong nước
- Các phương pháp hội thảo chuyên đề, chuyên gia đánh giá
7 Nhận xét, đánh giá chung về kết quả thực hiện đề tài
7.1 Kết quả khoa học
Đề tài nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống những vấn đề lý luận, thực tiễn về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên thế giới và ở các nước tiêu biểu được lựa chọn (15 nước); luận giải rõ các cơ sở khoa học và pháp lý của hoạt động ứng phó, khắc phục và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu ở các vùng biển – tập trung chủ yếu vào các sự cố ô nhiễm do tràn dầu từ tai nạn hàng hải; phân tích đánh giá thực trạng hệ thống quy định pháp luật và thực tiễn Việt Nam về lĩnh vực này; trên cơ sở đó đưa ra các luận cứ khoa học, đề xuất các kiến nghị, giải pháp xây dựng quy trình pháp lý chuẩn về đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên các vùng biển Việt Nam
* Những điểm mới và đóng góp về mặt khoa học của đề tài:
- Xây dựng hệ thống các luận cứ về cơ sở khoa học của vấn đề bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia Đề tài đã luận giải chi tiết hệ thống các luận cứ khoa học này trên cơ sở tổng kết và phát triển
lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn hoạt động đánh giá và đòi BTTH do ô nhiễm dầu ở trong nước và trên thế giới (trong khuôn khổ hoạt động của các tổ chức quốc tế và các quốc gia tiêu biểu)
- Triển khai các nội dung nghiên cứu về cơ chế BTTH do ô nhiễm dầu của quốc tế và nước ngoài một cách hệ thống, có chọn lọc, chú trọng các kết quả so sánh đối chiếu và có liên hệ đề ra bài học kinh nghiệm thiết thực đối với Việt Nam
- Xây dựng quy trình pháp lý chuẩn về đánh giá và đòi BTTH do ô nhiễm dầu trên vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia; trên cơ sở đó xác định những điểm tồn tại, hạn chế của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành và đề xuất các giải pháp từ tổng thể đến cụ thể về sửa đổi, bổ sung các VBPL và quy định nhằm hoàn thiện chế định về BTTH do ô nhiễm dầu trên các vùng biển
* Về xây dựng quy trình pháp lý đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên vùng biển Việt Nam
Trang 21- Trong sản phẩm của Đề tài ĐTĐL.2009 G/10, kết quả của mảng khoa học công nghệ do Viện Tài nguyên và môi trường biển thực hiện có Quy trình khoa học công nghệ về đánh giá thiệt hại do ô nhiễm dầu đối với môi trường biển Kết quả này, theo nguyên lý chung và mục tiêu, nhiệm vụ của Đề tài, cần phải được thể hiện trong Quy trình pháp lý về đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại (luật hóa các nội dung khoa học công nghệ của Quy trình)
- Trong quá trình thực hiện Đề tài, Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế
đã cố gắng tìm hiểu, thu nhận thông tin về kết quả nghiên cứu xây dựng Quy trình khoa học công nghệ của Viện Tài nguyên và Môi trường biển để phản ánh và chuyển tải vào trong Quy trình pháp lý của Đề tài
Đây là điểm mới và đóng góp quan trọng nhất của công trình nghiên cứu này Những nội dung mới này có ý nghĩa lớn trong việc bổ sung và làm phong phú
thêm hệ thống cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn về BTTH do ô nhiễm dầu ở các vùng biển Đặc biệt, kết quả nghiên cứu của Đề tài có giá trị tham khảo trực tiếp cho các cơ quan, tổ chức hữu quan tham gia công tác nghiên cứu, xây dựng chính sách, pháp luật về quản lý tài nguyên môi trường biển nói chung và lĩnh vực phòng chống, khắc phục và xử lý hậu quả của sự cố ô nhiễm dầu trên các vùng biển và ven biển Việt Nam
7.2 Ý nghĩa ứng dụng trong thực tiễn công tác lập pháp, quản lý nhà nước và nâng cao tiềm lực khoa học cho đơn vị
Các nội dung kết luận đánh giá cũng như đề xuất kiến nghị của Đề tài có thể trực tiếp được ứng dụng trong công tác lập pháp, lập quy và quản lý nhà nước; đặc biệt là hoạt động xây dựng, ban hành VBPL mới; sửa đổi bổ sung các VBPL hiện hành trong hệ thống pháp luật của Việt Nam về lĩnh vực này
Đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng và toàn diện, lại có tính liên ngành với khoa học công nghệ Cơ quan chủ trì thực hiện nhiệm vụ đã tập hợp được sự tham gia của nhiều cán bộ giảng dạy- nghiên cứu có kinh nghiệm của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội và các cơ sở nghiên cứu khác cũng như các chuyên gia quản
lý và hoạt động chuyên môn ở một số đơn vị có vị trí vai trò liên hệ khá chặt chẽ với lĩnh vực nghiên cứu của Đề tài Chính vì vậy, các hoạt động và kết quả của đề tài có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao trình độ nhận thức khoa học, làm phong phú thêm kiến thức của cán bộ, chuyên gia, giảng viên, sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành luật quốc tế và tư pháp
Trang 22CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO Ô NHIỄM DẦU TRÊN BIỂN TRONG KHOA HỌC PHÁP LÝ HIỆN ĐẠI
1.1 Các khái niệm pháp lý cơ bản
1.1.1 Dầu [8] [31] [32] [157] [278]
Dầu - theo Công ước quốc tế về phòng ngừa ô nhiễm biển từ tàu (MARPOL
73/78) - được hiểu là dầu mỏ dưới bất kỳ dạng nào, kể cả dầu thô, dầu đốt, dầu cặn,
dầu thải và các sản phẩm dầu mỏ đã được lọc Dầu thô là bất kỳ hợp chất hydro
carbon lỏng nào có trong tự nhiên trên trái đất, có thể được xử lý hoặc không xử lý
để phù hợp cho việc vận chuyển
Dầu thô, hay còn gọi dầu mỏ (tiếng Anh là petroleum hay crude oil; gốc
tiếng Hy Lạp: petra - đá và elaion - dầu; hay tiếng Latin oleum - dầu), một hỗn hợp
các chất ở dạng lỏng, sánh không tan trong nước và nhẹ hơn nước, tồn tại trong các
lớp đất đá tại một số nơi trong vỏ Trái Đất Thành phần của dầu mỏ bao gồm các
hydrocacbon (RH) có cấu trúc khác nhau và có thể phân thành 03 loại: các
hydrocacbon mạch thẳng; hydrocacbon mạch vòng; hydrocacbon thơm; ngoài ra
trong dầu mỏ còn có các hợp chất chứa oxy (các axit, xeton, rượu), các hợp chất
chứa nitơ (indol, carbazol ), hợp chất chứa lưu huỳnh (nhựa đường, bitum)
Theo quy định của pháp luật Việt Nam (Quy chế hoạt động ứng phó sự cố
tràn dầu ban hành kèm theo Quyết định số 103/2005/QĐ- TTg ngày 12/05/2005 của
Thủ tướng Chính phủ, Điều 2.1 (a)), dầu bao gồm: dầu thô, dầu thành phẩm và các
loại khác như dầu thải, nước lacanh
1.1.2 Ô nhiễm dầu và các khái niệm có liên quan
1.1.2.1 Môi trường biển, hệ sinh thái biển
* Môi trường [34][256][257][258][335]
Dưới góc độ khoa học pháp lý, môi trường là tổng thể các yếu tố tự nhiên –
xã hội có quan hệ mật thiết với nhau bao quanh con người, tác động tới cuộc sống
và sự phát triển thể chất và tinh thần của con người, xã hội, đồng thời chịu sự tác
động trở lại của con người Năm 1975, Hội nghị quốc tế đầu tiên của Liên hợp
quốc về môi trường (tổ chức tại Thuỵ Điển) đã đưa ra định nghĩa:“Môi trường là
điều kiện cho con người sinh sống và những cơ hội để phát triển trí tuệ, tinh thần
và đạo đức xã hội” Năm 1992, tại Hội nghị quốc tế về môi trường và phát triển
(Rio de Janeiro, Brazin), khái niệm môi trường được đưa ra còn bao hàm cả sự tác
động của con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại và phát triển
của con người
* Môi trường biển [1][103][145][232]
Theo khoản 4 điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982
(sau đây viết tắt là Công ước Luật biển 1982, hoặc viết tắt theo tên tiếng Anh là
UNCLOS 1982), môi trường biển bao gồm các tài nguyên sinh vật, hệ sinh thái biển
Trang 23(rừng ngập mặn) và chất lượng biển, cảnh quan biển Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất tổ chức ở Rio de Janero (Brazil) năm 1992 về môi trường và phát triển là hội nghị thượng đỉnh đầu tiên ở cấp độ toàn cầu về các giải pháp phát triển bền vững
chung cho toàn thế giới trong thế kỷ 21 (được gọi tắt là Chương trình nghị sự 21) đưa ra định nghĩa: “Môi trường biển là vùng bao gồm các đại dương, các biển, và các vùng ven biển tạo thành một tổng thể, một thành phần cơ bản của hệ thống duy trì cuộc sống toàn cầu và là tài sản hữu ích tạo cơ hội cho sự phát triển bền vững”
Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam chưa có định nghĩa về môi trường biển Theo Điều 3 Nghị định số 25/2009/NĐ-CP ngày 06 /3 /2009 của Chính phủ
về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo: “Môi trường biển là các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học đặc trưng cho nước biển, đất ven biển, trầm tích dưới biển, không khí trên mặt biển và các hệ sinh thái biển tồn tại một cách khách quan, ảnh hưởng đến con người và sinh vật”
1.1.2.2 Ô nhiễm môi trường biển và ô nhiễm môi trường biển do dầu
* Ô nhiễm môi trường [103][236][235]
Ô nhiễm môi trường, hiểu theo nghĩa chung nhất, là sự thay đổi các thành phần và tính chất lý-hóa-sinh của môi trường, gây ra tác hại cho con người và các
loài động thực vật Dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm ô nhiễm môi trường
luôn được xem xét trong mối quan hệ với con người Pháp luật nhiều quốc gia đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về ô nhiễm môi trường Tiếp thu quan điểm của
luật quốc tế, Luật bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005 định nghĩa ô nhiễm môi trường là “sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật” Ngoài ra, Luật này
còn nêu định nghĩa về “suy thoái môi trường”, “sự cố môi trường”; theo đó, “suy thoái môi trường” là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật; “sự cố môi trường” là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng
* Ô nhiễm môi trường biển [214][235][252][304][459]
Công ước Luật biển năm 1982 quy định tại Điều 1 khoản 4: “Ô nhiễm môi trường biển (pollution du milieu marin) là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm cả các cửa sông, khi việc đó gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến hệ thống động vật và hệ thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển
về phương diện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển” [1]
Ngoài việc đưa ra khái niệm ô nhiễm môi trường biển, Công ước Luật biển năm 1982 (tại mục V phần XII) xác định các loại nguồn chủ yếu dẫn đến ô nhiễm gồm: Ô nhiễm bắt nguồn từ đất liền (Điều 207); Ô nhiễm do hoạt động liên quan
Trang 24đến đáy biển thuộc quyền tài phán quốc gia và hoạt động tiến hành trong Vùng gây
ra (Điều 208-209); Ô nhiễm do sự nhận chìm (Điều 210); Ô nhiễm do tàu thuyền gây ra (Điều 211); Ô nhiễm có nguồn gốc từ bầu khí quyển hay qua bầu khí quyển (Điều 212)
Theo thống kê của Tổ chức Hàng hải quốc tế - IMO, có 05 (năm) nguồn ô nhiễm môi trường biển chủ yếu là [332,9][372]:
- Ô nhiễm có nguồn gốc từ đất liền như ô nhiễm gây ra bởi những vật liệu (thông qua năng lượng) được thải vào môi trường biển có nguồn gốc từ đất liền, thông qua các cửa sông, đường ống và các cấu trúc
- Ô nhiễm do đổ các chất thải công nghiệp và các chất thải từ thành phố được vận chuyển bằng tàu nhằm đổ xuống biển hoặc đốt ở trên biển, kể cả việc đổ những vật liệu thu được khi nạo vét luồng, cửa sông
- Ô nhiễm gây ra bởi việc xả trực tiếp những vật liệu độc hại phát sinh từ việc thăm dò khai thác khoáng vật từ đáy biển
- Ô nhiễm từ và thông qua khí quyển, do thải những vật liệu độc hại (hoặc năng lượng) vào khí quyển do hoạt động của con người trên đất liền, do tàu hoặc máy bay, những vật liệu này sẽ rơi xuống biển cùng với nước mưa hoặc tuyết
- Ô nhiễm do tàu biển gây ra, tức là ô nhiễm gây ra bởi các hoạt động thải từ tàu biển (do làm sạch két hoặc thay nước ballast) hoặc gây ra bởi các tai nạn hàng hải (sau khi xảy ra va chạm hoặc tàu bị mắc cạn)1
“Ô nhiễm môi trường biển do dầu” được hiểu và gọi tên một cách tổng quát
chính là “ô nhiễm dầu” Ô nhiễm biển do dầu thường xuất phát từ các nguồn hoạt động chính sau đây:
(i) Ô nhiễm dầu do hoạt động vận tải biển: Theo tài liệu thống kê của Liên
hợp quốc, lượng dầu đổ ra biển có liên quan đến các hoạt động của hàng hải là 2-3 triệu tấn/năm, chiếm 30% tổng lượng dầu đổ xuống biển, trong đó các hoạt động hàng hải và các tai nạn của các con tàu chiếm 46-47% Hàng năm, số lượng khoảng
02 tỷ tấn dầu các loại được chuyên chở bằng đường biển, cho thấy khả năng gây ô nhiễm biển do dầu từ hoạt động hàng hải là rất lớn
(ii) Ô nhiễm dầu do hoạt động dầu khí (thăm dò, khai thác, vận chuyển) trên biển: Cho đến nay, dầu đã được tìm thấy ở thềm lục địa và biển của trên 30 nước,
những vùng có khả năng và khối lượng khai thác lớn là Biển Bắc, vịnh Pecxich, Tây Nam Phi, Vịnh Mehico, Bắc Mỹ Theo tính toán của các nhà khoa học, lượng dầu thất thoát khi khai thác chiếm 0,23% (chỉ riêng một lô khai thác dầu của Anh hoạt động 05 năm trên biển đã đổ ra biển 1.430 tấn dầu thô)
1 Theo báo cáo đánh giá về hiện trạng môi trường biển của nhóm GESAMP 1990, tỷ lệ các hoạt động của con người gây ô nhiễm cho môi trường biển là: Các hoạt động dầu khí ngoài khơi: 1%; Giao thông biển: 12%; Nhận chìm: 10%; Phù sa và ô nhiễm có nguồn gốc từ đất liền : 44%; Ô nhiễm từ khí quyển: 33%
Trang 25(iii) Ô nhiễm dầu do sự cố, tai nạn của tàu biển xảy ra trên biển : Nguồn gây
ô nhiễm do các tàu biển bị tai nạn, sự cố trên biển chỉ chiếm 15 -25% số vụ ô nhiễm dầu, nhưng khối lượng dầu đổ xuống biển lại rất lớn Tai nạn gây tràn dầu làm nước biển bị ô nhiễm để lại hậu quả, tổn hại lớn về cảnh quan, môi sinh, thiệt hại cho nguồn lợi thuỷ sản Có thể kể đến một số vụ tai nạn tràn dầu điển hình trên thế giới như: Tàu Amoco Cadiz đắm ngày 16/3/1978 tại vùng biển Porstall của Pháp đổ ra biển 223.000 tấn dầu; tàu Exxon Valdez tràn 40.000 tấn dầu thô xuống biển gây thiệt hại lớn vào năm 1989; dàn khoan lớn nhất của công ty dầu khí Brazin Petrobras bị sự cố làm tràn 26.000 tấn dầu ra biển tháng 3/2001; vụ nổ giàn khoan của công ty BP (Anh) trên vịnh Mexico (Hoa Kỳ) năm 2010 làm tràn hơn 170 triệulít dầu trên một vùng khoảng 240 km vùng biển và bờ biển Hoa Kỳ…[454]
1.1.2.3 Sự cố ô nhiễm dầu [324,14]
Theo tài liệu mẫu về xây dựng luật tàu biển phòng chống ô nhiễm cho các nước vùng Caribe, “sự cố ô nhiễm dầu” có nghĩa là sự cố hay một loạt các sự cố có cùng nguồn gốc gây ra hoặc có thể gây ra việc xả dầu và vấn đề này đe doạ hoặc có thể đe doạ ảnh hưởng tới môi trường biển, hoặc bờ biển hay các lợi ích liên quan của một hay nhiều quốc gia, và vấn đề này đòi hỏi ngay lập tức hành động khẩn cấp hoặc các biện pháp xử lý khác
Sự cố ô nhiễm dầu trên biển thường là các sự cố tai nạn hàng hải của các tàu biển (đâm va, chìm đắm…) hoặc sự cố phát sinh từ hoạt động khai thác, vận chuyển dầu khí trên biển Theo pháp luật quốc tế, “tàu” có nghĩa là mọi loại tàu hoạt động trên biển bao gồm cả tàu cao tốc, thuỷ phi cơ, tàu ngầm và bất kỳ phương tiện nổi nào khác “Tàu chở dầu” được hiểu là một con tàu được cấu trúc hay thích nghi với việc chuyên chở dầu dưới dạng rời với số lượng lớn trong khoang chứa hàng hoá trên tàu và bao gồm (a) tàu chuyên chở kết hợp; (b) tàu chuyên chở chất hoá học vận chuyển hàng hoá hay một phần hàng hoá dầu dưới dạng rời; và (c) tàu vận chuyển khí đốt chuyên chở hàng hoá hoặc một phần hàng hoá dầu dưới dạng rời
“Tàu chở dầu thô” là tàu được sử dụng để vận chuyển dầu thô vì mục đích thương mại;
1.1.2.4 Thiệt hại do ô nhiễm dầu [19][12][324][377]
Trên phạm vi thế giới, hiện đang tồn tại song song hai quan niệm khác nhau
về thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường: Một là, thiệt hại do ô nhiễm, suy
thoái môi trường chỉ gồm thiệt hại đối với các yếu tố môi trường tự nhiên, như hệ động vật, thực vật, đất, nước, không khí mà không bao gồm thiệt hại đối với tính
mạng, sức khỏe và tài sản của con người Hai là, thiệt hại về môi trường không chỉ
bao gồm các thiệt hại đến chất lượng môi trường mà còn cả thiệt hại về sức khỏe, tài sản của cá nhân do ô nhiễm môi trường gây nên Tuy nhiên, đến nay hầu hết các nước trên thế giới đều cho rằng thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên biển bao gồm các thiệt hại về tài nguyên và môi trường, bao gồm cả thiệt hại các giá trị trực tiếp, gián tiếp của các hệ sinh thái biển và các hoạt động kinh tế cũng như sức khỏe cộng đồng Ngoài ra các thiệt hại kinh tế phải bỏ ra để khắc phục sự cố tràn dầu và phục
Trang 26hồi môi trường, các hệ sinh thái trở lại trạng thái ban đầu cũng được tính vào tổng thiệt hại kinh tế do ô nhiễm dầu
Theo Công ước về trách nhiệm dân sự do ô nhiễm dầu 1992 (CLC 1992),
“thiệt hại do ô nhiễm dầu” được hiểu là: (i) Tổn thất hoặc thiệt hại xảy ra bên ngoài tàu do sự xâm nhập từ việc rò rỉ dầu hoặc thải dầu từ tàu, bất kể ở địa điểm nào xảy
ra sự cố rò rỉ hoặc thải dầu đó, với điều kiện là việc đền bù do môi trường bị suy yếu ngoài những tổn thất về lợi tức do sự suy yếu đó sẽ được giới hạn tương đương
ở mức chi phí thực tế bỏ ra đã được hoặc sẽ được áp dụng các biện pháp hợp lý nhằm khôi phục môi trường; và (ii) Các chi phí để thực hiện biện pháp phòng ngừa
và những tổn thất hoặc hư hại phát sinh từ việc áp dụng các biện pháp này
Những thiệt hại mà CLC 1992 quy định được đền bù bao gồm:
• Thiệt hại, tổn thất cho môi trường là hậu quả của tác động dầu tràn;
• Chi phí thực tế bỏ ra cho biện pháp hợp lý để khôi phục môi trường đã được hoặc sẽ được áp dụng;
• Chi phí cho biện pháp phòng ngừa và những tổn thất, hư hại phát sinh từ biện pháp phòng ngừa được áp dụng sau khi sự cố hàng hải xảy ra kể cả khi không
có sự cố tràn dầu xảy ra;
• Lợi ích bị mất do sự suy giảm của môi trường
Công ước thành lập Quỹ quốc tế về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu - FC
1992 (khoản 2 Điều 1) quy định về thiệt hại do ô nhiễm được bồi thường cụ thể là:
+ Tổn thất hoặc thiệt hại xảy ra bên ngoài tàu do sự xâm nhiễm từ việc rò rỉ dầu hoặc thải dầu từ tàu, bất kể là ở địa điểm nào xảy ra sự cố rò rỉ hoặc thải dầu đó, với điều kiện là việc đền bù cho môi trường bị ảnh hưởng ngoài những tổn thất về lợi tức ảnh hưởng đó sẽ được giới hạn tương đương ở mức chi phí thực tế bỏ ra cho các biện pháp hợp lý nhằm khôi phục môi trường đã được hoặc sẽ được áp dụng và các chi phí để thực hiện những biện pháp phòng ngừa và những tổn thất hoặc thiệt hại phát sinh từ việc áp dụng các biện pháp này
+ Các khoản chi hợp lý hoặc sự hy sinh hợp lý được tiến hành một cách tự nguyện của chủ tàu để phòng ngừa hoặc hạn chế thiệt hại do ô nhiễm
Theo tài liệu về hướng dẫn khiếu nại của Quỹ quốc tế bồi thường thiệt hại do
ô nhiễm dầu (International Oil Pollution Compensation Fund 1992, viết tắt là IOPC Fund hoặc IOPCF 1992) các thiệt hại được xem xét đánh giá gồm: Các chi
phí cho dọn dẹp, làm sạch và các biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm được tiến hành Thiệt hại tài sản Thiệt hại kinh tế thuần tuý Thiệt hại về kinh tế trong nghề cá, nghề nuôi trồng động thực vật ở biển và các khu vực đánh bắt cá Thiệt hại về kinh
tế trong các khu du lịch Thiệt hại môi trường và các bài học về tràn dầu Chi phí sử dụng cố vấn [418; 1.4 và 3] IOPCF 1992 đã có hướng dẫn chi tiết về khái niệm này
nhằm tạo thuận lợi cho việc xác định các khiếu nại thuộc CLC 1992, cụ thể đó là các thiệt hại đối với tài sản, tàu, công cụ đánh cá, tàu thuyền du lịch, bờ biển, cầu tàu và các tài sản ven bờ biển…; “thiệt hại về kinh tế” đối với những người trực tiếp
Trang 27hưởng lợi từ bờ biển và các hoạt động liên quan đến biển; các chi phí cứu hộ, chi phí dọn sạch dầu và cả chi phí thực tế bỏ ra cho việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa cũng được coi là thiệt hại ô nhiễm dầu
Tại Việt Nam, tính từ thời điểm Luật Bảo vệ môi trường (2005) được ban
hành, thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường được xác định theo quan niệm thứ hai Theo quy định tại Điều 131 Luật Luật Bảo vệ môi trường, có 02 loại thiệt hại:
Thứ nhất, thiệt hại đối với môi trường tự nhiên Đó là sự suy giảm chức năng, tính
hữu ích của môi trường, trong đó chức năng, tính hữu ích của môi trường được thể
hiện qua các phương diện chính Thứ hai, thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con
người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra
Từ các quy định như nêu trên, thiệt hại do ô nhiễm dầu ở các vùng biển có thể được phân chia tổng quát thành 03 loại sau đây:
a) Thiệt hại về môi trường
Các điều ước và pháp luật các quốc gia đã có sự tiếp cận khác nhau trong định nghĩa về thiệt hại môi trường Theo nghĩa hẹp, thiệt hại môi trường chỉ gồm phạm vi thiệt hại về nguồn lợi tự nhiên (không khí, nước, đất, hệ động thực vật, kể
cả sự tương tác giữa chúng) Theo nghĩa rộng, thiệt hại môi trường còn bao gồm nguồn lợi tự nhiên và các tài sản cấu thành một phần của di sản văn hóa Một cách tổng quát nhất, thiệt hại môi trường được hiểu là thiệt hại mà môi trường phải gánh chịu và bao gồm cả cảnh quan và giá trị tiện ích [454,p.876], bao gồm 04 nhóm: (i)
Hệ động vật, thực vật, đất, nước và các yếu tố khí hậu; (ii) Giá trị vật chất (trong đó
có các di sản về khảo cổ và văn hóa); (iii) Cảnh quan và giá trị tiện ích; (iv) tổng hợp các yếu tố trên; và (v) các thiệt hại về kinh tế (chi phí) trong việc xử lý môi trường trở lại trạng thái trước khi ô nhiễm dầu gây ra (khôi phục nguyên trạng)
Chức năng, tính hữu ích của môi trường được thể hiện qua các phương diện chính như sau: (1) Môi trường là không gian sinh tồn của con người; (2) Môi trường
là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học (kể cả vật liệu, năng lượng, thông tin cần thiết cho cuộc sống và hoạt động của con người); (3) Môi trường là nơi chứa đựng và tiêu hủy chất thải do con người thải ra trong các hoạt động của mình Theo các nghiên cứu khoa học ở Việt Nam, thiệt hại đối với môi trường tự nhiên do ô nhiễm dầu chính là sự suy giảm các chức năng, tính hữu ích của môi trường (do vi phạm các tiêu chuẩn môi trường và tiêu chuẩn thải) với các loại tổn thất sau [377]:
- Tổn thất trực tiếp: Giảm giá trị của các bãi tắm trong các hoạt động phát
triển du lịch Các thiệt hại kinh tế do đầu tư ứng phó, xử lý hậu quả tràn dầu, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng sống dựa vào hệ sinh thái (HST) biển Thiệt hại kinh tế trực tiếp và giảm khả năng nuôi trồng các loài thuỷ sản ven bờ Suy giảm đa dạng sinh học và các giá trị đi kèm; suy giảm nguồn lợi sinh vật sống trong các HST được khai thác
- Tổn thất gián tiếp: Ngăn cản các hoạt động dân sinh Làm giảm khả năng
định cư, di cư của các nguồn giống sinh vật từ biển vào Giảm các nơi sinh cư của
Trang 28các loài sinh vật sống trong các HST Giảm giá trị cảnh quan, sinh thái Các ảnh hưởng do dầu thấm trong đất, cát, nước ngầm, ảnh hưởng đến các ngư trường đánh bắt liền kề do tác động từ nguồn giống, dinh dưỡng liên quan
Thiệt hại đối với môi trường và hệ sinh thái (HST) biển được đánh giá, lượng hóa gồm các yếu tố cụ thể sau[272]:
- Các đối tượng, hợp phần của HST biển chịu tác động, gồm: Cảnh quan,
sinh thái; Chất lượng nước và trầm tích của HST; Nơi sinh cư của các loài sinh vật trong các HST; Bảo tồn và đa dạng sinh học; Nguồn lợi thuỷ hải sản; Các giá trị cho văn hoá, giáo dục, nghiên cứu khoa học; Các lợi ích kinh tế khác (du lịch, dân sinh )
- Mức độ tổn thương của các HST biển gồm: Suy giảm diện tích phân bố
HST và biến dạng cảnh quan sinh thái; Suy giảm và mất nơi cư trú của các loài sinh vật; Giảm khả năng quang hợp và hô hấp của hệ; Gây chết và làm suy giảm đa dạng sinh học; Thay đổi cấu trúc quần xã và tương quan giữa các nhóm: vi sinh vật, thực vật (thực vật ngập mặn, rong tảo, cỏ biển), sinh vật phù du (động vật phù du, thực vật phù du), động vật đáy (thân mềm, giáp xác, da gai, giun…), cá, lưỡng cư,
bò sát, chim và thú biển; Xuất hiện các loài gây hại (dịch hại, ký sinh…); Mất hoặc suy giảm các chức năng tự nhiên duy trì sinh thái của hệ; Thay đổi hướng diễn thế
tự nhiên và mất cân bằng sinh thái
Các loại thiệt hại cụ thể do ô nhiễm dầu gây ra gồm:
- Thiệt hại đến các giá trị để dành, lưu tồn: Ảnh hưởng đến nguồn tài
nguyên, thắng cảnh…Mất dần các giá trị bảo tồn như các nguồn gen quý hiếm, nơi sinh cư của một số sinh vật biển, tài nguyên thiên nhiên để lại cho thế hệ mai sau (rạn san hô, cỏ biển ) Mất dần các giá trị lưu tồn của các hệ sinh thái có được từ ý thức lưu tồn tài nguyên dựa trên đức tin và các giá trị phi vật thể liên quan đến đời sống văn hóa, tâm linh , các nguồn tài liệu cho nghiên cứu khoa học, giáo dục, thẩm mỹ, văn hoá
- Thiệt hại do ảnh hưởng đến sinh vật: Tính tổng số lượng, diện tích, năng
suất, thời gian mà sinh vật bị hại để quy đổi thành tiền theo giá cả thị trường (cũng cần lưu ý đến thiệt hại làm mất giống nòi, ảnh hưởng đến nguồn gien sinh vật
- Thiệt hại do làm ô nhiễm nước, không khí, đất được đánh giá bằng số chi
phí phải bỏ ra để làm cho môi trường/khí/đất/nước trở nên sạch như trước khi bị ô nhiễm Đó là tất cả các chi phí liên quan đến công tác thu dọn, các biện pháp làm sạch… Mức độ vi phạm các tiêu chuẩn sẽ là các mốc để tạm xác định các thiệt hại
về kinh phí
- Thiệt hại do tác động tích luỹ và thời gian kéo dài: Đó là thiệt hại ước tính
phục hồi lại một cách tự nhiên hoặc nhân tạo các yếu tố môi trường và các hệ sinh thái Tuỳ theo yếu tố môi trường, hệ sinh thái cụ thể mà đánh giá thiệt hại loại này (ví dụ 01 ha rừng ngập mặn trong 01 năm có thể sinh lợi khoảng 1200- 1500 USD)
b) Thiệt hại phi môi trường [377]
Trang 29Các thiệt hại “phi môi trường” do ô nhiễm dầu ở các vùng biển bao gồm:
- Thiệt hại đối với sức khỏe con người: Các sự cố tràn dầu gây ra những tác
hại nguy hiếm đối với sức khỏe của con người như ảnh hưởng đến nguồn nước, ô nhiễm đến chất lượng không khí khu vực (do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra) Đó là số tiền bỏ ra để chữa chạy, để bồi thường về thương tật và mọi dịch vụ y tế khác (kể cả khi có người chết); ngoài ra, còn phải kể tới số thu nhập bị mất do phải nghỉ điều trị, chi phí cho người phục vụ
…
- Các thiệt hại về kinh tế:
+ Thiệt hại về tài sản của cá nhân, pháp nhân và nhà nước, gồm: (i) thiệt hại trực tiếp về vật chất đối với tài sản bị hỏng hoặc không thể sử dụng được do bị dính dầu; (ii) thiệt hại về sinh kế do mất khả năng khai thác, sử dụng hợp pháp các tài nguyên thiên nhiên bị hủy hoại do ô nhiễm dầu; (iii) thiệt hại về doanh thu nhà nước
do thất thu các loại thuế, phí khai thác nguồn lợi
+ Thiệt hại đối với ngành du lịch: ô nhiễm do sự cố tràn dầu ảnh hưởng đến
các hoạt động tham quan du lịch, tiêu tốn chi phí để làm sạch các vùng đất và nước
bị nhiễm dầu, khách du lịch bỏ tour, hủy bỏ các chỗ ở trong khách sạn…
+ Thiệt hại đối với ngành thủy sản: Thiệt hại làm giảm sản lượng khai thác,
đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản…Đó là thiệt hại do ô nhiễm mà một số hoạt động nào
đó không thể tiến hành được (như đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản…) Thiệt hại có thể
được tính bằng số người x thời gian x thu nhập/ tháng; ngoài ra, còn có thiệt hại do
mất lòng tin của người tiêu dùng (loại này tạm tính bằng số sản phẩm không bán được, các vụ/năm không bán được và giá trị đơn vị…)
+ Thiệt hại đối với ngành nông nghiệp, diêm nghiệp: sự cố tràn dầu gây ra
những tác động đến sự lưu thông của dòng chảy, nước bị ô nhiễm dầu xâm nhập vào các vùng nước làm ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng cây nông nghiệp, đến việc sản xuất muối, khai thác Titan…
c) Chi phí liên quan, bao gồm các chi phí hợp lý để ứng phó, ngăn ngừa,
khắc phục hậu quả và đánh giá thiệt hại (kể cả thiệt hại môi trường và phi môi trường) Đây là thiệt hại dễ tính toán được thông qua các hoạt động vận chuyển và
xử lý dầu tràn của các cơ quan chức năng (phí tổn cho việc sử dụng lao động, thời gian, máy móc, hoá chất, làm báo cáo…)2 Đặc biệt các chi phí để phục hồi môi trường trở lại trạng thái trước khi có sự cố tràn dầu gây ô nhiễm môi trường, thường
là khoản tiền lớn hơn nhiều so với các thiệt tức thời có thể nhìn thấy được
Các sự cố dầu tràn thường gây ra hậu quả nghiêm trọng về môi trường, do vậy các khoản đền bù thường rất lớn Ngày nay, việc bồi thường các thiệt hại về
2 Ví dụ: Theo thống kê chưa đầy đủ của Cục Bảo vệ môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chính phủ Việt Nam) trong đợt sự cố tràn dầu tính đến tháng 6/2007, tổng thiệt hại do ô nhiễm dầu là 76.897,201 triệu đồng, trong đó chi phí thu gom vận chuyển là 1.210,714 triệu đồng; chi phí xử lý là 73, 830 triệu đồng Đặc biệt ngành du lịch đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng do ô nhiễm dầu với tổng thiệt hại lên tới 44.958,387 triệu đồng, tiếp đến là ngành thủy sản là 28.436,450 triệu đồng và nông nghiệp là 1.612,000 triệu đồng… Chưa có
thống kê thiệt hại về môi trường và sức khỏe
Trang 30môi trường đã trở thành thông lệ quốc tế và là vấn đề trách nhiệm pháp lý phức tạp
ở nhiều quốc gia trên thế giới
1.1.3 Trách nhiệm pháp lý về bồi thường thiệt hại môi trường
1.1.3.1 Trách nhiệm quốc gia [324]
Bằng các Tuyên bố Stockholm 1972 và Tuyên bố Rio de Janero 1992, luật môi trường quốc tế ngày càng có giá trị quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sống cho con người nói riêng và các sinh vật trên trái đất nói chung, trên cơ sở các
nguyên tắc: Nguyên tắc ngăn ngừa (preventive action), nguyên tắc hợp tác (cooperation), nguyên tắc phát triển bền vững (sustainable development), nguyên tắc thận trọng (precautionary), và nguyên tắc “ai gây ô nhiễm, người đó phải trả bồi thường” (polluter-pays) Trong quan hệ giữa các quốc gia với nhau, ngoài các
nguyên tắc trên, luật môi trường quốc tế đòi hỏi các chủ thể luật quốc tế phải tuân thủ thêm 02 nguyên tắc: (i) Chủ quyền quốc gia đối với nguồn lợi tự nhiên gắn liền với trách nhiệm không gây thiệt hại đối với môi trường của quốc gia khác, hoặc các khu vực nằm ngoài quyền tài phán quốc gia; và (ii) Gánh vác trách nhiệm chung nhưng có sự phân chia cụ thể [457,231]
Nguyên tắc chung của luật quốc tế về trách nhiệm pháp lý đối với những chủ thể vi phạm pháp luật và chế tài đối với họ còn được phản ánh trong Bộ điều khoản
về trách nhiệm quốc gia do Ủy ban Luật Quốc tế (ILC) thông qua năm 2003 Tuy nhiên, các quy phạm về trách nhiệm đối với thiệt hại môi trường vẫn còn chưa hoàn thiện và tiếp tục cần được xây dựng thêm
a) Trách nhiệm khắc phục hậu quả
Bộ điều khoản về trách nhiệm quốc gia do ILC ban hành năm 2001 quy định rằng việc khắc phục thiệt hại gây ra do hành vi trái pháp luật quốc tế phải được thực
hiện dưới hình thức khôi phục nguyên trạng (restitution), bồi hoàn (compensation)
và thỏa mãn yêu cầu (satisfaction) một cách riêng lẻ hoặc kết hợp3
Các vấn đề phát sinh cần được lý giải thỏa đáng cả về lý luận và thực tiễn; đó là: Thứ nhất, để khôi phục được nguyên trạng thì cần phải đánh giá được các “điều kiện ban đầu” trước khi xảy ra thiệt hại – điều này thường là rất khó khăn Thứ hai,
để thực hiện được việc bồi thường thì phải đánh giá được thiệt hại – và cần xác định được các tiêu chí cho việc đánh giá, lượng hóa các thiệt hại [476, 883]
b) Trách nhiệm về chuẩn mực ứng xử
3 Một số thuật ngữ quan trọng sau đây cần được chú trọng:
- “Khôi phục” là việc trả lại về tình trạng ban đầu trước khi hành vi được thực hiện (nếu có khả năng khôi phục được bằng vật chất và không phải là gánh nặng đối với phần lợi ích thu được từ khôi phục thay cho bồi hoàn)
- “Bồi hoàn” được thực hiện với các thiệt hại không thể khôi phục nhưng vẫn có thể đánh giá được về mặt tài chính, kể cả tổn thất về lợi nhuận trong chừng mực liên quan
- “Thỏa mãn yêu cầu” được thực hiện khi thiệt hại không thể được giải quyết bằng cách khôi phục hoặc bồi hoàn, chẳng hạn như bằng việc thừa nhận vi phạm, bày tỏ hối tiếc hoặc xin lỗi chính thức.
Trang 31Trên bình diện lý luận chung, có 03 chế độ trách nhiệm pháp lý, bao gồm
trách nhiệm theo lỗi (cố ý hoặc vô ý), không theo lỗi (prima facie – cho phép đương
sự có quyền bào chữa nhất định) và trách nhiệm tuyệt đối (absolute liability) mà
đương sự không có quyền bào chữa Cho đến nay, luật quốc tế vẫn chưa xác định rõ ràng các quy phạm chung về chuẩn mực ứng xử đối với nghĩa vụ quốc tế về môi trường Một số điều ước về trách nhiệm dân sự ủng hộ nguyên tắc về trách nhiệm
pháp lý không theo lỗi (prima facie) đối với các hoạt động có tính chất nguy hiểm
cao độ, trong đó có việc chuyên chở dầu bằng đường biển Ủy ban Môi trường của OECD nhận xét rằng, hiện có một “tập quán dựa trên quy phạm về sự tận tâm đúng
mức (due diligence) mà tất cả các quốc gia đều phải chú ý để bảo đảm rằng các hoạt
động được thực hiện trong phạm vi tài phán của họ không gây thiệt hại đến môi trường của các quốc gia khác”, bao gồm cả việc thiết lập và áp dụng một hệ thống pháp luật và quy định hữu hiệu về môi trường cũng như nguyên tắc tham vấn và thông báo
1.1.3.2 Trách nhiệm dân sự của pháp nhân và thể nhân [324]
Trách nhiệm dân sự của pháp nhân và thể nhân chủ yếu được quy định trong pháp luật quốc gia Các quy phạm quốc gia có thể được ban hành nhằm thực hiện các nghĩa vụ điều ước về việc phải định ra những tiêu chuẩn hài hòa tối thiểu với luật pháp quốc tế Trong luật môi trường quốc tế, sự khác biệt giữa trách nhiệm quốc gia và trách nhiệm dân sự đang ngày càng khó phân biệt do các điều ước quốc
tế đã quy định về nghĩa vụ cho các quốc gia phải cung cấp quỹ tài chính công khi đương sự không đủ khả năng thanh toán các chi phí bồi thường thiệt hại môi trường [397, 83]
Các chế độ trách nhiệm dân sự theo luật quốc tế tương đối giống nhau ở các quy định về: (i) Định nghĩa các hoạt động hoặc chất gây ô nhiễm sẽ điều chỉnh; (ii) Định nghĩa thiệt hại (đối với người, tài sản hoặc môi trường); (iii) Cơ chế chuyển
trách nhiệm từ chủ thể này sang chủ thể khác (channel liability); (iv) Định ra chuẩn mực ứng xử (thường là chế độ trách nhiệm prima facie); (v) Quy định mức trách
nhiệm vật chất; (vi) Bảo vệ quyền lợi của người tham gia tố tụng; (vii) Yêu cầu về bảo hiểm hoặc áp dụng biện pháp đảm bảo tài chính khác; (viii) Xác định tòa án nào
sẽ thụ lý đơn khiếu nại; (ix) Quy định về việc công nhận và cho thi hành bản án [457, 116, 905]
Theo quy tắc chung, những người chịu thiệt hại do hoạt động của tàu sẽ phải tìm kiếm biện pháp khắc phục hậu quả thông qua trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Do việc chuyên chở hàng hóa không được coi là “hoạt động nguy hại” nên việc khiếu nại đòi bồi thường thiệt hại do hoạt động của tàu thường chỉ đạt mục đích khi chứng minh được lỗi của chủ tàu hoặc người bị khiếu nại Sự ra đời của Công ước Giới hạn trách nhiệm chủ tàu năm 1957 đã ấn định mức giới hạn tối
đa đối với trách nhiệm của chủ tàu đối với bên thứ ba Theo Công ước này, trách nhiệm vật chất của chủ tàu về thiệt hại liên quan đến hoạt động của tàu đó được giới hạn theo “dung tích xác định trách nhiệm” của con tàu; nhưng nguyên tắc chủ đạo – theo quy định của Công ước - là trách nhiệm vật chất của chủ tàu không được vượt quá một mức giới hạn đã định sẵn Cách tiếp cận này cũng được chấp nhận bởi cả
Trang 32các quốc gia không phải là thành viên Công ước Mặc dù với mỗi mức giới hạn trách nhiệm lại có những tiêu chí khác nhau, nhưng nguyên tắc áp dụng là giống nhau trong mọi trường hợp: trách nhiệm vật chất của con tàu được giới hạn ở một giá trị nhất định cho mỗi sự cố, có nghĩa là việc bồi thường chỉ được thực hiện cho nạn nhân theo từng vụ việc cụ thể, bất kể quy mô thiệt hại riêng hoặc chung lớn đến mức nào Cả Công ước 1957 và pháp luật quốc gia thời kỳ đó không đặt ra vấn đề bồi thường thiệt hại liên quan đến tàu chở dầu hoặc các hàng hóa nguy hại khác.[3]
Vụ tàu Torrey Canyon mắc cạn gây tràn dầu ở bờ biển phía Nam nước Anh đầu năm 1967 đã chú ý sự quan tâm đặc biệt của giới luật học quốc tế về một lĩnh vực mà trước đó không được quan tâm – vận tải dầu khối bằng đường biển Người
ta đã đặt ra các vấn đề là quốc gia có thể thực hiện những biện pháp gì để bảo vệ mình trước những thiệt hại khi có sự cố, và bằng cách nào có thể bảo đảm rằng các quốc gia và người chịu thiệt hại do tai nạn có thể được nhận khoản bồi thường thiệt hại thỏa đáng Công ước quốc tế về can thiệp quốc tế về can thiệp ngoài biển cả trong trường hợp có thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra (INTERVENTION 1969) ra đời trong bối cảnh đó, đã thừa nhận quyền của quốc gia ven biển thực hiện các biện
pháp giải quyết hợp lý dựa trên nguyên tắc phân chia tỷ lệ (proportionate) của việc
can thiệp trong trường hợp có tai nạn xảy ra và đe dọa gây thiệt hại ô nhiễm đáng kể đối với lợi ích của quốc gia đối với đới bờ và các lĩnh vực khác (điều 1 Công ước) [4]
Các chủ tàu không nhất trí với đề xuất rằng những người chịu thiệt hại do tai nạn của tàu chở dầu phải được đối xử khác với các nạn nhân của tai nạn tàu biển nói chung Họ cho rằng, không có căn cứ để thực hiện khác đi những nguyên tắc và quy phạm đã hoàn chỉnh về trách nhiệm vật chất và bồi thường thiệt hại phát sinh trong quá trình hoạt động của tàu biển tham gia thương mại hàng hải quốc tế Họ cũng thừa nhận rằng phải xây dựng một chế độ giải quyết với loại thiệt hại mới này, nhưng không chấp nhận chịu thêm “gánh nặng mới” trong nghĩa vụ bồi thường, với lập luận rằng nguyên nhân gây thiệt hại do ô nhiễm không phải là từ tàu mà từ hàng hóa (dầu), nên việc bồi thường phải là trách nhiệm của chủ sở hữu hoặc người có lợi ích liên quan đến hàng hóa đó
Những quan điểm này không được các quốc gia ven biển và những người có lợi ích về thương mại hoặc tài sản đối với hàng hóa trên tàu có thể bị thiệt hại nghiêm trọng do tai nạn hàng hải ủng hộ Các quốc gia ven biển, do phải bỏ nhiều tiền để đề phòng hoặc khắc phục hậu quả ô nhiễm, không thể chấp nhận rằng họ sẽ không được bồi thường cho các chi phí mà họ đã bỏ ra, hoặc rằng mức bồi thường
sẽ bị giới hạn bởi giá trị của tàu hoặc hàng hóa, nhất là khi thiệt hại về môi trường vượt quá xa giá trị đó Những người có lợi ích thương mại hoặc tài sản đối với hàng hóa trên tàu có thể bị thiệt hại nghiêm trọng do tai nạn hàng hải không thể chấp nhận đề nghị rằng “bên thứ ba vô can” chịu thiệt hại cũng có quyền đòi bồi thường xác định theo những nguyên tắc và quy phạm được xây dựng mà chỉ để áp dụng giữa các bên tham gia kinh doanh vận tải vì lợi nhuận Đồng thời, bản thân họ cũng không muốn chịu trách nhiệm về thiệt hại, vì cho rằng hàng hóa đó hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của chủ tàu, người làm công hoặc đại lý của chủ tàu, nên tai nạn
Trang 33liên quan đến tàu hoặc hàng hóa trên tàu chỉ có thể phát sinh do lỗi trong quá trình
xử lý tàu hoặc hàng hóa Do vậy, chủ tàu phải là người chịu trách nhiệm về thiệt hại [476]
Các quan điểm khác biệt như vậy là bối cảnh nảy sinh nhiều cuộc thảo luận quốc tế trong khuôn khổ Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) về những vấn đề xung quanh vụ Torrey Canyon, và đây chính là tiền đề ra đời Công ước CLC và sau này
là Công ước FUND, là những công ước quan trọng xác định cơ chế pháp lý quốc tế đối với ô nhiễm dầu do tàu dầu gây ra, với những điều khoản bồi thường thiệt hại gắn với thương mại và bảo hiểm [466, 3-4] Các công ước này xác định chuẩn mực chung về trách nhiệm tham gia bảo hiểm bắt buộc của chủ tàu, nguyên tắc áp dụng
“trách nhiệm prima facie” đối với chủ tàu, mức trần trách nhiệm, thời hiệu khiếu
nại, khoản bồi thường bổ sung trong trường hợp mức bảo đảm của Công ước CLC không đủ [11,12], và việc thành lập Quỹ quốc tế bồi thường thiệt hại do ô nhiễm
dầu để quản lý hệ thống bồi thường
1.1.4 Vùng biển Việt Nam và các khái niệm liên quan [1][292][298]
1.1.4.1 Vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia [1]
Công ước Luật biển năm 1982 đã định ra khung khổ pháp lý cho các quốc gia trong việc xác định các vùng biển và quy chế pháp lý của chúng, xác định ranh giới, biên giới trên biển giữa các quốc gia Theo quy định của Công ước, mỗi quốc gia ven biển có 05 (năm) vùng biển, bao gồm: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Ngoài các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển ra, Công ước còn quy định các vấn đề về Biển cả4 và Vùng (di sản chung của loài người)5 mà ở đó tất cả các quốc gia đều có quyền tự do sử dụng, khai thác với điều kiện không làm phương hại hoặc
đe doạ làm phương hại tới các nước khác, vì mục đích hoà bình và bảo vệ, giữ gìn môi trường biển
- Nội thuỷ: Nội thuỷ là vùng nước nằm phía bên trong của đường cơ sở dùng
để tính chiều rộng lãnh hải, tại đó các quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ như trên lãnh thổ đất liền Vùng nước nội thuỷ bao gồm các vùng nước cảng biển, các vũng tàu, cửa sông, các vịnh, các vùng nước nằm kẹp giữa lãnh thổ đất liền và đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải
- Lãnh hải: Quốc gia có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải của mình, không
vượt quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở (Điều 3) Ranh giới phía ngoài của lãnh hải là một đường mà mỗi điểm ở trên đường đó cách điểm gần nhất của đường cơ sở một
4 Biển cả là vùng biển không nằm trong vùng đặc quyền kinh tế, lãnh hải hay nội thuỷ của một quốc gia ven biển cũng như không nằm trong vùng nước quần đảo của một quốc gia quần đảo (Điều 86) Quốc gia ven biển có quyền can thiệp ở biển cả, và bắt giữ, sử dụng các biện pháp nhằm ngăn chặn ô nhiễm môi trường biển.
5 Vùng và tài nguyên của nó là di sản chung của loài người (Điều 136), nằm ngoài rìa lục địa của quốc gia ven biển Chế độ pháp lý của vùng: vì là di sản chung của loài người nên Vùng không thuộc sự chiếm hữu của bất kỳ quốc gia nào; tất cả các quốc gia được phép sử dụng Vùng vì mục đích hoà bình; tất cả các quốc gia được quyền sử dụng, quản lý, khai thác một cách công bằng trên Vùng.
Trang 34khoảng cách bằng chiều rộng lãnh hải (Điều 4) Trong lãnh hải, quốc gia ven biển được quyền thực hiện chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ nhưng không là tuyệt đối, bởi trên lãnh hải thì tàu thuyền nước ngoài được quyền đi qua vô hại
- Vùng tiếp giáp lãnh hải: Vùng biển tiếp giáp với lãnh hải gọi là vùng tiếp
giáp, rộng 24 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải (Điều 33) Đây là vùng biển thuộc quyền tài phán của quốc gia, bao gồm quyền tài phán nhằm ngăn ngừa và quyền tài phán trừng trị những vi phạm trong các lĩnh vực về hải quan; thuế khoá; y tế; nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình (Điều 33)
- Vùng đặc quyền kinh tế: Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng nằm ở phía
ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặt dưới chế độ pháp lý riêng theo đó quyền
và quyền tài phán của quốc gia ven biển và các quyền tự do của các quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ước điều hành (Điều 55)
- Thềm lục địa: Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và
lòng đất dưới đáy biển, bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến mép ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi mép ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó có khoảng cách gần hơn (khoản 1 Điều 76)
1.1.4.2 Vùng biển, ven biển Việt Nam
[103][127][144][145][212][213][273]379][371][382]
Biển Đông với diện tích 3.447.000km vuông, một trong 06 biển lớn nhất
của thế giới, nối hai đại dương là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, có 09 quốc gia bao bọc: Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia Đây là con đường chiến lược của giao thương quốc tế, có 5/10 tuyến đường hàng hải lớn nhất của hành tinh đi qua Hàng năm, vận chuyển qua biển Đông là khoảng 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu từ Trung Đông và Đông Nam Á, khoảng 45% hàng xuất của Nhật Bản và 60% hàng xuất nhập khẩu của Trung Quốc
Vùng biển Việt Nam rộng khoảng hơn 01 triệu km vuông, án ngữ trên các
tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực
Theo quy định tại Nghị định của Chính phủ số 191/2004/NĐ-CP ngày
18-11-2004 về quản lý hoạt động thủy sản của tầu cá nước ngoài trong vùng biển của Việt
Nam (Điều 3), vùng biển của Việt Nam là các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền
chủ quyền, quyền tài phán của CHXHCN Việt Nam được quy định tại Luật Biên giới Quốc gia ngày 26 /6 /2003 và theo Ðiều ước quốc tế giữa CHXHCN Việt Nam
và các quốc gia hữu quan
Theo Điều 3 Nghị định số 25/2009/NĐ-CP ngày 06 /3 /2009 của Chính phủ
về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo (các vùng ven biển, vùng biển và hải đảo Việt Nam):
Trang 35- Vùng biển Việt Nam gồm: nội thuỷ, lãnh hải, vùng biển tiếp giáp lãnh hải,
vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam
- Vùng ven biển là vùng chuyển tiếp giữa lục địa và biển, bao gồm vùng biển
ven bờ và vùng đất ven biển được xác định theo ranh giới hành chính để quản lý
Luật Biên giới quốc gia năm 2003 và Nghị định 140/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Biên giới quốc gia quy định:
- Khu vực biên giới trên biển tính từ biên giới quốc gia trên biển vào hết địa giới hành chính xã, phường, thị trấn giáp biển và đảo, quần đảo (Điều 6)6 Biên
giới quốc gia trên biển được hoạch định và đánh dấu bằng các toạ độ trên hải đồ là ranh giới phía ngoài lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của quần đảo của Việt Nam được xác định theo Công ước Luật biển năm 1982 và các điều ước quốc tế giữa CHXHCN Việt Nam và các quốc gia hữu quan Các đường ranh giới phía ngoài vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa xác định quyền chủ quyền, quyền tài phán của CHXHCN Việt Nam theo Công ước Luật biển năm 1982 và các điều ước quốc tế giữa Việt Nam và các quốc gia hữu quan
- Các vùng biển của Việt Nam bao gồm: Nội thuỷ gồm các vùng nước phía
trong đường cơ sở (là đường gẫy khúc nối liền các điểm được lựa chọn tại ngấn nước thuỷ triều thấp nhất dọc theo bờ biển và các đảo gần bờ do Chính phủ Việt Nam xác định và công bố)7; vùng nước cảng được giới hạn bởi đường nối các điểm nhô ra ngoài khơi xa nhất của các công trình thiết bị thường xuyên là bộ phận hữu
cơ của hệ thống cảng Lãnh hải rộng mười hai hải lý tính từ đường cơ sở ra phía
ngoài Lãnh hải của Việt Nam bao gồm lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh
hải của quần đảo Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải có chiều rộng mười hai hải lý Vùng đặc quyền về kinh tế là vùng biển tiếp liền
phía ngoài lãnh hải và hợp với lãnh hải thành một vùng biển rộng hai trăm hải lý tính từ đường cơ sở, trừ trường hợp điều ước quốc tế giữa Việt Nam và các quốc gia
hữu quan có quy định khác Thềm lục địa là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển
thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa mở rộng ra ngoài lãnh hải cho đến bờ ngoài
của rìa lục địa mà Việt Nam là quốc gia ven bờ có quyền chủ quyền, quyền tài phán
được xác định theo Công ước Luật biển năm 1982, trừ trường hợp điều ước quốc tế giữa Việt Nam và các quốc gia hữu quan có quy định khác
Quy định nêu trên phù hợp với Công ước Luật Biển 1982 và Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền
6 Danh sách các xã, phường, thị trấn ở khu vực biên giới trên đất liền, khu vực biên giới trên biển được quy định tại các Nghị định của Chính phủ ban hành Quy chế khu vực biên giới; trường hợp có sự thay đổi về địa giới hành chính của các xã, phường, thị trấn ở khu vực biên giới thì sửa đổi, bổ sung cho phù hợp
7 Để xác định các vùng biển, Chính phủ Việt Nam ra Tuyên bố ngày 12 /11 /1982 về đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải - là hệ thống đường cơ sở thẳng gồm 11 đoạn đi từ điểm 0 nằm trên đường thẳng nối liền quần đảo Thổ Chu và đảo Poulo Wai (Campuchia) qua các điểm nối liền các đảo chạy dọc theo bờ biển Việt
Nam trừ phần bờ biển trong Vịnh Bắc Bộ (đường cơ sở từ đảo Cồn Cỏ đến cửa vịnh sẽ được công bố sau khi vấn đề cửa vịnh được giải quyết”), gồm 10 đoạn nối 11 điểm từ A1 đến A11 có toạ độ cụ thể được ghi nhận
trong Tuyên bố này
Trang 36về kinh tế và thềm lục địa (ngày 12 tháng 5 năm 1977)8 và Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải (ngày 12 tháng 11 năm 1982)9
1.1.5 Đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia
Đánh giá thiệt hại là một hoạt động quan trọng và có tính chất quyết định trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia Tham gia vào hoạt động đánh giá thiệt hại thông thường có các tổ chức, cá nhân sau đây: Phía yêu cầu đòi bồi thường; Phía có trách nhiệm bồi thường; Các tổ chức bảo hiểm, bảo đảm tài chính, các quỹ quốc gia và quốc tế; Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp (tòa án, trọng tài…)
Đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia là hoạt động do người bị thiệt hại hoặc các tổ chức, cá nhân hữu quan chuẩn bị hồ sơ chứng cứ và đưa ra yêu cầu bồi thường thiệt hại trước các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết vụ việc Chủ thể đòi bồi thường thiệt hại do
ô nhiễm dầu trên vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia là các cá nhân, tổ chức, pháp nhân và nhà nước thuộc về quốc gia nơi xảy ra thiệt hại
Mối quan hệ giữa các bên liên quan được minh họa bằng mô hình dưới đây:
8 Bằng Tuyên bố ngày 12 /5 /1977, Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á đã thiết lập đầy đủ các vùng biển: nội thuỷ, lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế, thềm lục địa phù hợp với Công ước Luật Biển 1982
9 Tuyên bố về đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải ra đời vào năm 1982 trước khi Công ước Luật biển năm 1982 được ký kết và trong bối cảnh tranh chấp hết sức phức tạp trên biển Đông Tất cả các vùng chồng lấn giữa Việt Nam với các nước khác chưa được giải quyết hoặc đang trong quá trình đàm phán giải quyết nên đường cơ sở chưa khép kín và chưa hoàn chỉnh Tuyên bố này cũng nêu rõ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ được quy định cụ thể trong một văn bản tiếp theo phù hợp với điểm 5 của Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ Việt Nam với nội dung các đảo và quần đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam đều có lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm
lục địa riêng
Trang 37Hình 1 – Sơ đồ các bên liên quan trong vụ việc ô nhiễm dầu [289]
Các bên liên quan tham gia vào quy trình bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu từ tai nạn hàng hải trên biển – theo mô hình trên đây - thường bao gồm:
- Chủ tàu (shipowners); người sản xuất tàu (shipbuilders); các công ty bảo hiểm (insurance companies); các công ty kinh doanh dầu (oil companies);
- Nhà nước sở tại (nation states); cộng đồng dân cư địa phương nơi xảy ra thiệt hại (classification societies)
* Quy trình đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia
Theo Từ điển Tiếng Việt, “quy trình” được hiểu là “trình tự phải tuân theo
để tiến hành một công việc nào đó” “trình tự” được hiểu là “sự sắp xếp lần lượt, thứ tự trước sau”[345] “Quy trình”, trong Đại từ điển Tiếng Việt, là “các bước phải tuân theo khi tiến hành một công việc nào đó”; “thủ tục” được hiểu là “những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định, để tiến hành một công việc nào đó”[346] Như vậy, để thực hiện một hoạt động có kết quả thì điều quan trọng, có
tính quyết định là chủ thể thực hiện hoạt động đó phải sắp xếp thứ tự các công việc
cụ thể phải làm và tuân theo sự sắp xếp một cách nghiêm túc Việc xây dựng quy trình, thủ tục và tuân theo các quy trình, thủ tục đó là yêu cầu cần thiết, tất yếu vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả công việc của các chủ thể Trên cơ sở
đó, có thể định nghĩa “Quy trình đòi bồi thường thiệt hại là tổng thể những quy định về các công việc cần tiến hành được sắp xếp theo một trình tự nhất định mà người yêu cầu bồi thường thiệt hại phải tuân theo để thực hiện yêu cầu bồi thường”
Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia là một vấn đề thuộc lĩnh vực chế định pháp lý về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, do các sự cố trên các vùng biển làm tràn dầu gây ô nhiễm môi trường tự
Trang 38nhiên và làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư ven biển không trực tiếp phát sinh từ các giao dịch hợp đồng Trên cơ sở đó, có thể sử dụng định nghĩa chung nêu trên để áp dụng vào trường hợp đòi bồi thường thiệt hại
do ô nhiễm dầu, theo đó: “Quy trình đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu là tổng thể những quy định về các công việc cần tiến hành được sắp xếp theo một trình
tự nhất định mà người yêu cầu bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu phải tuân theo
để thực hiện yêu cầu bồi thường”
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia
1.2.1 Hậu quả của sự cố tràn dầu trên biển gây ra đối với môi trường biển, hệ sinh thái biển
1.2.1.1 Thực trạng các sự cố tràn dầu trên thế giới và ở Việt Nam
Từ đầu thế kỷ XX đến nay, lượng dầu khai thác, vận chuyển trên thế giới không ngừng gia tăng Lượng dầu tràn ra biển từ các sự cố và tai nạn tàu biển (nhất
là từ các tàu chở dầu) trong hoạt động hàng hải làm cho các vùng biển dọc theo các tuyến hàng hải quốc tế bị ô nhiễm nghiêm trọng Hàng năm, trên thế giới có khoảng 3,2 triệu tấn dầu được thải vào môi trường biển, trong đó dầu có nguồn gốc từ hoạt động của tàu thuyền 24%; khai thác dầu khí 2% và từ đất liền chiếm 50%.[274][317][339] [352][389]
Từ năm 1970, Liên đoàn chủ tàu chở dầu quốc tế (International Tanker Owner Pollution Federation Ltd – ITOPF) đã tổ chức bộ phận dịch vụ kỹ thuật, chuyên nghiên cứu về các tai nạn tràn dầu liên quan đến sự vận chuyển dầu khí Theo thống kê của tổ chức này, từ năm 1970 đến năm 2008, khoảng 5,65 tỉ tấn dầu
từ hàng trăm vụ tai nạn tầu chở dầu lớn, nhỏ đã đổ ra các vùng biển Xem thêm Phụ lục I của Báo cáo - Bảng thống kê tổng hợp các vụ tràn dầu lớn trên thế giới trong gần 45 năm qua (1967 – 2010) [386][395][403][]421][420][417][416][475]
* Tình hình về ô nhiễm dầu trên biển ở Việt Nam
[254][224][249][]252][255][267][]281][282][284][285][300][312][314][316][321] [353][354][357][359][358][361][362][396]
Việt Nam nằm cạnh tuyến đường hàng hải quan trọng trong khu vực biển Đông Số lượng dầu chuyên chở qua Biển Đông hàng năm vào khoảng 2.1 tỷ tấn và vào bất cứ thời điểm nào cũng có trên 50 tàu chở dầu cỡ lớn hoạt động trong khu vực Mật độ tàu thuyền qua lại trong vùng biển này lớn nên khả năng ô nhiễm biển
do dầu tàu là rất cao Các sự cố tai nạn hàng hải trên các vùng biển Việt Nam đang ngày một gia tăng Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, từ năm 1987
đến nay đã xảy ra hàng trăm vụ tràn dầu dọc bờ biển nước ta (Xem thêm Phụ lục II của Báo cáo: Các sự cố tai nạn hàng hải gây tràn dầu ở Việt Nam) Lượng dầu tràn
gây ô nhiễm biển Việt Nam đến năm 1992 là 7.380 tấn, năm 1995 là 10.020 tấn, năm 2000 lên đến 17.650 tấn Đặc biệt, sự cố tràn dầu không rõ nguồn gốc trôi dạt vào bờ biển Việt Nam từ cuối tháng 1/2007 đến tháng 6/2007 gây ô nhiễm nghiêm
Trang 39trọng môi trường biển trên vùng biển của 20 địa phương, ước tính 21.620 - 51.400 tấn dầu đã tràn trên biển Theo nguồn số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, phần lớn những thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra ở Việt Nam đều chưa được
đánh giá và giải quyết đúng mức (có đến 77% sự cố tràn dầu trên hải phận Việt Nam chưa được bồi thường thiệt hại hoặc đang trong quá trình giải quyết)
1.2.1.2 Tác động, ảnh hưởng của ô nhiễm biển do dầu
Ô nhiễm biển do dầu được coi là nguồn ô nhiễm nguy hiểm của môi trường biển, đặc biệt là từ các vụ tai nạn tàu làm hàm lượng dầu trong nước biển tăng lên đột biến, ảnh hưởng trực tiếp, ngay tức khắc và rất rõ ràng tới môi trường biển và cuộc sống của con người
Theo tính toán của các nhà khoa học, cứ một tấn dầu mỏ đổ ra biển có thể lan tỏa trên bề mặt rộng 12km2, tạo ra lớp váng dầu dày khoảng 1/1.000mm; từ đó làm mất các giá trị mỹ cảm của biển, phá hủy các bãi tắm, các điểm du lịch, ngăn cản nước với không khí làm cho nước biển thiếu oxy khiến các loại thực vật và thực vật phù du bị chết ngạt Dầu mỏ lan nhanh trên mặt nước biển do tính chất lý, hóa học của nó và dưới sự tác động của dòng chảy, thủy triều, gió…ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt và sự sống của các quần thể loài chim, các động vật sống ở biển, động vật không xương sống khác và các rừng ngập mặn Dầu tràn phá hủy các rừng ngập mặn, các rạn san hô, các thảm cỏ biển, là môi trường sinh sống của động vật biển nên đe dọa đến đa dạng sinh học, đồng thời làm cho đất liền đứng trước nguy cơ lở đất, sóng thần…Dầu còn phá hủy các cánh đồng muối, các khu vực nuôi trồng thủy hải sản, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nhà máy lấy nước biển phục vụ cho sản xuất… Hơn nữa, làm sạch dầu là một công việc rất khó khăn, đòi hỏi nhiều công sức, tiền của và thời gian (Ví dụ, riêng chi phí ngăn chặn ô nhiễm dầu trong vụ Exxon Valdez lên đến 2,1 tỷ USD, thiệt hại khác ước tính khoảng 05 tỷ USD)[287]
Tại Việt Nam, theo Quyết định số 129/2001/QĐ-TTg ngày 29/8/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch Quốc gia ứng phó sự cố tràn dầu giai đoạn 2001-2010, mức độ sự cố tràn dầu được phân theo 03 mức trên cơ sở khối lượng dầu tràn: Mức I: Dưới 100 tấn; Mức II: Từ 100 tấn đến 2000 tấn; Mức III: Trên 2000 tấn.[163]
* Tác động của sự cố tràn dầu tới môi trường tự nhiên và hệ sinh thái [272]
Hệ sinh thái biển Việt Nam hiện có khoảng 12.000 loài động, thực vật; trong
đó có trên 2038 loài cá, 6000 loài động vật đáy, 635 loài rong biển, 43 loài chim, trên 40 loài thú và bò sát biển và hàng ngàn loài động thực vật phù du khác, tạo ra các quần xã sinh vật đặc biệt phong phú ở các bãi triều, rừng ngập mặn, rạn san hô Theo tính toán của các nhà hải dương học, vùng biển Việt Nam có trữ lượng khoảng 3.000.000 - 4.000.000 tấn cá, khả năng khai thác là 1,5 - 2,0 triệu tấn, mực 30.000 - 40.000 tấn, tôm biển 50 - 60.000 tấn, thân mềm phải đạt đến hàng triệu tấn Các kết quả nghiên cứu đã xác định được 08 dạng hệ sinh thái (HST) biển Việt Nam, gồm: HST rừng ngập mặn, HST cỏ biển, HST bãi cát, HST vùng triều, HST cảng, HST san hô và HST đầm phá và các tùng, áng, HST đảo
Trang 40Dầu tràn từ các nguồn vào các vùng biển và ven biển tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên các hệ sinh thái biển và ven biển ở các khía cạnh cơ bản và chủ yếu như sau: Làm biến đổi cân bằng ôxy của hệ sinh thái; Làm nhiễu loạn các hoạt động sống trong hệ sinh thái; Gây ra độc tính tiềm tàng trong hệ sinh thái; Cản trở các hoạt động kinh tế ở vùng ven biển biển
* Tác động đến đời sống, kinh tế và xã hội của sự cố ô nhiễm dầu [254]
Theo mô hình tính toán loan truyền ô nhiễm biển do dầu tràn, tác động của
sự cố tràn dầu theo 03 mức độ tràn dầu được trình bày trong bảng dưới đây:
- Tác động đến môi trường ở mức thấp nếu
công tác khắc phục sự cố được thực hiện ngay
khi sự cố xảy ra;
- Chất lượng nước biển và không khí bị ảnh
hưởng, đăẹ biệt là hệ thủy sinh sống tầng mặt
Nếu không thực hiện khắc phục ngay sự cố thì
khả năng ảnh hưởng đến môi trường khó có
thẻ kiểm soát được và công tác khắc phục ô
nhiễm sẽ phức tạp hơn
- Hoạt động du lịch tại các vùng lân cận có thể bị ngưng trệ, nhưng mức độ ảnh hưởng không cao và được khắc phục kịp thời;
- Các dịch vụ bị tác động, gây tốn kém một lượng chi phí lớn của nhà nước để khắc phục sự cố;
- Môi trường biển sẽ bị ảnh hưởng trong thời
gian dài, làm thay đổi các đặc tính hóa học của
nước biển , có thể gấy chết các loài nhạy cảm
và tác động đến sự đa dạng sinh học của vùng
biển;
- Các khí VOC sinh ra sẽ làm ô nhiễm môi
trường không khí tại khu vực và vùng lân cận,
gây ảnh hưởng đến hoạt động của công nhân,
thủy thủ đang thực hiện công tác khắc phục sự
cố tràn dầu Các sự cố cháy nổ có thể xảy ra
- Gây tổn thất về mặt kinh
tế do ảnh hưởng đến các hoạt động nuôi trồng thủy sản của vùng và các bãi tắm cũng như khu du lịch xung quanh
- Ảnh hưởng đến hoạt động các cảng xung quanh, gây khó khăn cho kinh tế cảng
và tác động lớn đến kinh tế của địa phương
Mức III
(Tràn
trên 200
tấn)
- Gây tổn thất và rủi ro lớn Nguồn ô nhiễm
không thể kiếm soát, khống chế kịp thời Tác
động xấu đến vùng nước chung quanh và ven
bờ;
- Hàm lượng dầu trong nước cao , một phần
dầu lắng xuống thềm lục địa tạo nên lớp trầm
tích ô nhiễm gây ảnh hưởng lâu dài đến môi
trường sống của thủy sinh vật các tầng làm
thay đổi đột biến đặc tính của nước biển, độ
đục tăng lên, nồng độ oxy hòa tan trong nước
thấp do lớp ván dầu ngăn cản sự khuếch tán
- Gây tổn thất lớn về kinh tế
mà không thể kiểm soát và lường trước được trong công tác phòng chống khắc phục sự cố;
- Gây tổn thất về nhân mạng nếu xảy ra sự cố cháy
nổ, ảnh hưởng đến môi trường lao động trên khu vực biển bị sự cố cũng như các vùng lân cận;