1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

277 684 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
Tác giả TS. Trần Mạnh Đạt, Ths. Nguyễn Minh Khuê, Thiếu tướng, PGS.TS. Ngô Quang Nam, Ths. Nguyễn Thị Thụy, Luật gia Trần Thị...
Trường học Học viện Tư pháp
Chuyên ngành Cải cách tư pháp
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 277
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật tố tụng hiện hành, hoạt động giám định tư pháp chỉ có thể do các cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu, còn các cá nhân, tổ chức là đương sự trong cá

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ

XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP

Chủ nhiệm đề tài: TS Trần Mạnh Đạt

Thư ký đề tài: Ths Nguyễn Minh Khuê

8986

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIÁM ĐỊNH TƯ

PHÁP VÀ XÃ HỘI HOÁ HOẠT ĐỘNG GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

17

I Khái niệm, đặc trưng, vai trò, mục đích, ý nghĩa của giám định tư

pháp

17

2 Đặc trưng hoạt động giám định tư pháp 23

3 Vai trò, mục đích, ý nghĩa của giám định tư pháp 24

II Khái niệm, đặc trưng, phạm vi, ý nghĩa của xã hội hoá hoạt động giám

định tư pháp

25

1 Khái niệm xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp 25

2 Đặc trưng của xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp 33

3 Phạm vi, ý nghĩa của xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp 36

III Kinh nghiệm của một số nước về giám định tư pháp và xã hội hoá

hoạt động giám định tư pháp

CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG XÃ

HỘI HOÁ HOẠT ĐỘNG GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP ĐÁP ỨNG CÁC YÊU CẦU

47

Trang 3

CẢI CÁCH TƯ PHÁP TRONG THỜI GIAN QUA TẠI VIỆT NAM

I Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành chủ trương xã hội hoá hoạt

động giám định tư pháp trong thời gian qua

47

1 Thực trạng pháp luật liên quan đến xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp 47

2 Thực tiễn thi hành chủ trương xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp 54

II Một số hạn chế bất cập về pháp luật và thực tiễn thực hiện chủ trương

xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp trong thời gian qua

67

1 Về pháp luật 68

3 Về lựa chọn và bổ nhiệm giám định viên tư pháp 74

4 Về bảo vệ lợi ích của người giám định tư pháp, cơ quan, tổ chức chuyên

môn thực hiện giám định tư pháp

77

5 Về nhận thức của các chủ thể có liên quan đến việc huy động các cơ quan,

tổ chức chuyên môn và chuyên gia giỏi tham gia vào hoạt động giám định tư

pháp

80

7 Về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật liên quan đến việc huy động,

thu hút các cơ quan, tổ chức chuyên môn và chuyên gia giỏi tham gia hoạt

động giám định tư pháp

84

CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ TĂNG CƯỜNG XÃ HỘI HOÁ HOẠT

ĐỘNG GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP

2 Những định hướng và yêu cầu cơ bản của xã hội hoá hoạt động giám định

tư pháp trong thời gian tới

87

Trang 4

II Một số kiến nghị nhằm tăng cường xã hội hoá hoạt động giám định tư

pháp

92

1 Đổi mới nhận thức và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục

pháp luật về giám định tư pháp và xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp

92

2 Hoàn thiện pháp luật giám định tư pháp theo hướng xã hội hóa 93

3 Hoàn thiện hệ thống tổ chức giám định tư pháp và củng cố, phát triển đội

ngũ người giám định tư pháp

96

4 Hoàn thiện cơ chế quản lý giám định tư pháp 99

5 Tiêu chuẩn hóa đội ngũ giám định viên tư pháp 100

6 Tăng cường bảo đảm cơ sở vật chất, điều kiện hoạt động cho các tổ chức và

người giám định tư pháp

100

7 Tăng cường hợp tác quốc tế về giám định tư pháp 102

8 Xác định lộ trình xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp 103

Trang 5

CÁC CHUYÊN ĐỀ

1 Khái niệm, vai trò, mục đích, ý nghĩa

của giám định tư pháp

TS Trần Mạnh Đạt 110

2 Bản chất của giám định tư pháp -

Những nhận thức mới trong bối cảnh

cải cách tư pháp

Thiếu tướng, PGS.TS Ngô Tiến Quý

116

3 Đánh giá thực trạng pháp luật Việt

Nam liên quan đến xã hội hoá hoạt

động giám định tư pháp

Ths Nguyễn Minh Khuê 129

4 Thực tiễn thi hành chủ trương xã hội

hoá hoạt động giám định tư pháp trong

thời gian qua

Luật gia Nguyễn Thị Thuỵ 143

5 Hoạt động giám định tư pháp và yêu

cầu xã hội hoá đối với công tác giám

phạm vi, mức độ xã hội hoá hoạt động

giám định tư pháp trong lĩnh vực xây

dựng

PGS TS Trần Chủng 188

8 Hạn chế bất cập về pháp luật và thực

tiễn thực hiện chủ trương xã hội hoá

hoạt động giám định tư pháp trong thời

gian qua

Luật gia Nguyễn Thị Thụy 213

9 Kinh nghiệm của một số nước về giám

định tư pháp và xã hội hoá hoạt động

giám định tư pháp

Ths Đỗ Đình Lương 235

Trang 6

10 Một số kiến nghị tăng cường công tác

xã hội hoá hoạt động giám định tư

pháp tại thành phố Đà Nẵng

Luật gia Lương Nguyệt Thu 247

Trang 7

NHÓM THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

- TS Trần Mạnh Đạt, Chủ nhiệm Đề tài

- Ths Nguyễn Minh Khuê, Thư ký đề tài

- Thiếu tướng, PGS TS Ngô Tiến Quí, Viện trưởng Viện Khoa học hình sự,

Bộ Công an

- PGS.TS Trần Chủng, Nguyên Cục Trưởng Cục Giám định Nhà nước về

chất lượng công trình xây dựng, Bộ Xây dựng

- Đại tá, TS Nguyễn Văn Hò, P Viện trưởng Viện Khoa học hình sự, Bộ

Công an

- Luật gia Lương Nguyệt Thu, Nguyên Giám đốc Sở Tư pháp TP Đà Nẵng

- Ths Trần Diện, P Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc

- Ths Đỗ Đình Lương, Giám đốc Trung tâm thông tin - Thư viện, Viện Khoa

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

I Tính cấp thiết của Đề tài

- Chủ trương xã hội hoá các hoạt động tư pháp, trong đó có hoạt động giám định tư pháp đã được thể hiện trong nhiều Nghị quyết của Đảng như:

Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII tháng 6/1997, Nghị quyết Đại hội Đảng khóa IX tháng 6/2001, Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và đặc biệt là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của

Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 đặt ra: “Hoàn thiện chế định giám định tư pháp Nhà nước cần đầu tư cho một số lĩnh vực giám định tư pháp để đáp ứng yêu cầu thường xuyên của hoạt động tố tụng Thực hiện xã hội hoá đối với các lĩnh vực có nhu cầu giám định không lớn, không thường xuyên Quy định chặt chẽ, rõ ràng về trình tự, thủ tục, thời hạn trưng cầu và thực hiện giám định ”

- Xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp góp phần tích cực thực hiện chủ trương “nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử” theo

Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp

Trong hoạt động tố tụng, hoạt động giám định ngày càng trở nên quan trọng bởi trong nhiều vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự nếu không có giám định tư pháp thì không thể điều tra, truy tố, xét xử được đúng đắn, chính xác, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, bảo vệ trật tự xã hội

Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật tố tụng hiện hành, hoạt động giám định tư pháp chỉ có thể do các cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu, còn các cá nhân, tổ chức là đương sự trong các vụ án dân sự, kinh tế và bị can, bị cáo, người bị hại trong các vụ án hình sự không được quyền trực tiếp trưng cầu giám định Điều này rõ ràng là ảnh hưởng đến quyền thu thập chứng cứ,

Trang 9

quyền và nghĩa vụ chứng minh, trong đó có việc trưng cầu giám định của cá nhân và tổ chức trong các vụ án dân sự, kinh tế Đồng thời, theo pháp luật hiện hành, các kết luận giám định không phải là giám định tư pháp bởi được tiến hành trước khi khởi tố vụ án do cơ quan điều tra thực hiện thì các cơ quan tiến hành tố tụng có thể không cần trưng cầu giám định lại mà có thể sử dụng kết luận giám định đó như kết luận giám định tư pháp làm cơ sở giải quyết vụ

án (khoản 3 Điều 35 Pháp lệnh giám định tư pháp) Thêm vào đó, trên thực tế,

có nhiều trường hợp người bị hại, bị can, bị cáo trong vụ án hình sự, các đương sự trong vụ án dân sư, kinh kế tự nhờ các tổ chức giám định tiến hành giám định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì lại không được các cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận kết quả giám định đó Cơ chế này tạo

ra sự bất bình đẳng trong tố tụng và không phù hợp với chủ trương đẩy mạnh tranh tụng theo Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp

- Xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp là đòi hỏi bức thiết của chính các cơ quan tiến hành tố tụng Theo Bộ luật hình sự 1999 thì có gần 40 % điều

luật phần các tội phạm cụ thể bắt buộc phải trưng cầu giám định tư pháp khi có tội phạm xảy ra (Ví dụ: các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ; các tội xâm phạm sở hữu ) Trên thực tế, chỉ riêng án về các tội xâm phạm sở hữu đã chiếm khoảng 45 % tổng số án trong năm1 Điều đó đòi hỏi việc trưng cầu giám định tư pháp của các cơ quan tiến hành tố tụng là rất lớn Hiện tại, ở một số địa phương

số lượng vụ, việc chưa giải quyết được có nguyên nhân từ hoạt động giám định

tư pháp cũng khá nhiều Chỉ tính riêng TP Hồ Chí Minh, tính đến giữa năm

2008 còn 4.000 vụ án bị ách tắc do liên quan đến việc trưng cầu giám định (như thiếu người để thực hiện giám định tư pháp )2 Thêm vào đó, nếu theo như qui định của pháp luật tố tụng và các văn bản liên quan hiện nay thì nhiều người

1 Số liệu thống kê kiểm sát điều tra hình sự (án thụ lý các năm 2000, 2001, 2002, 2003) và việc trưng cầu giám định tư pháp của Cục thống kê tội phạm - Viện kiểm sát NDTC

Trang 10

không muốn tham gia làm giám định viên tư pháp (do không tận dụng được chuyên môn, do chính sách đãi ngộ )3

- Nghiên cứu xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp là góp phần chuẩn bị cho việc xây dựng Dự án Luật giám định tư pháp và sửa đổi, bổ sung các văn bản luật có liên quan như Bộ luật tố tụng hình sự 2003, Bộ luật

tố tụng dân sự 2004 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính

Pháp lệnh giám định tư pháp 2004 đã có một số giải pháp có tính bứt phá, thể hiện những tư tưởng xã hội hoá như việc mở rộng chủ thể thực hiện hoạt động giám định, khẳng định việc thành lập các tổ chức giám định trong một số lĩnh vực để tập trung đầu tư còn các lĩnh vực khác

sẽ không thành lập tổ chức giám định mà chỉ có các giám định viên tư pháp ở các cơ quan chuyên môn

Tuy nhiên, chủ trương xã hội hoá thể hiện trong Pháp lệnh giám định

tư pháp 2004 vẫn chưa triệt để, bởi trên thực tế chủ trương đó vẫn chỉ hướng tới việc khai thác đầu tư của các cơ quan nhà nước mà chưa hướng tới việc khai thác các nguồn lực ở bên ngoài xã hội Do đó, cần nghiên cứu để có thể cho phép các tổ chức giám định ngoài nhà nước thực hiện hoạt động giám định tư pháp trong một số lĩnh vưc như: tài chính kế toán, xây dựng, văn hoá, môi trường Bởi vì, theo Pháp lệnh giám định tư pháp, trong các lĩnh vực này

sẽ không thành lập các tổ chức giám định chuyên trách mà chỉ có giám định viên tư pháp ở các cơ quan, tổ chức, chuyên môn Tuy nhiên, trên thực tế các

cơ quan chủ quan trong các lĩnh vực này, do nhiều nguyên nhân, chưa có sự quan tâm đúng mức đến việc hoạt động giám định Bên cạnh đó, đội ngũ giám định viên ngoài ngành công an và quân đội thì phần lớn đều là cán bộ, công chức Nhà nước kiêm nhiệm và hầu hết là không chuyên nghiệp, vì vậy, sự gắn bó với nghề, ý thức nghề nghiệp một cách độc lập của nhiều giám định viên chưa cao Chính vì vậy, việc giao cho tổ chức ngoài nhà nước thực hiện giám định trong các lĩnh vực này sẽ tạo điều kiện chuyên nghiệp hoá hoạt

Trang 11

động giám định, đáp ứng yêu cầu của quá trình cải cách tư pháp, tinh giản bộ máy, giảm gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước, đồng thời nâng cao thêm tính tích cực, tự chủ của nhân dân, chia sẻ trách nhiệm với Nhà nước

- Xã hội hóa hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động giám định tư pháp nói riêng là một xu thế, đồng thời còn là một phương hướng mới trong cuộc cải cách tư pháp của Việt Nam Tuy nhiên, vấn đề xã hội hóa hoạt

giám định tư pháp còn có nhiều quan điểm khác nhau Chẳng hạn như cần xác định rõ nội hàm giữa hai khái niệm “xã hội hoá” và “tư nhân hoá” hoạt động bổ trợ tư pháp; hay việc xác định những lĩnh vực nào thuộc thuộc về

"quyền lực công" mà Nhà nước phải trực tiếp tổ chức thi hành và những lĩnh vực nào thuộc về "quyền lực tư" Nhà nước không trực tiếp thực hiện mà coi

đó là một loại dịch vụ pháp lý đặc biệt và giao cho các tổ chức hoặc cá nhân

có đủ điều kiện theo luật định thực hiện; hay nếu quan niệm xã hội hoá là sự chuyển giao một số công việc vốn lâu nay thuộc chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước sang cho các tổ chức xã hội hoặc cá nhân thực hiện thì việc xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp nên được áp dụng xã hội hóa toàn bộ hay vẫn duy trì hai loại hình tổ chức cùng thực hiện những công việc trên là các

cơ quan tư pháp Nhà nước và các tổ chức, cá nhân ngoài khu vực Nhà nước; hay cũng có quan điểm cho rằng, thực hiện xã hội hoá hoạt động giám định

tư pháp, nên chăng, chỉ triển khai thực hiện trong một số nội dung lĩnh vực, công việc cụ thể và ở những địa phương thật sự có nhu cầu, mà ở đó, các hoạt động này cũng đang bức xúc, quá tải… Vì vậy, xã hội hoá hoạt động bổ trợ tư pháp nói chung và hoạt động giám định tư pháp nói riêng là một vấn

đề chưa được thực tiễn kiểm chứng nên rõ ràng cần phải có sự nghiên cứu, phân tích thấu đáo cả về mặt lý luận cũng như trên cơ sở các dự báo về các điều kiện kinh tế, xã hội trong tương lai

- Trong công tác nghiên cứu khoa học, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, trong đó trực tiếp hoặc gián tiếp có đề cập đến vấn đề giám định

tư pháp Tuy nhiên, mỗi công trình lại khai thác sâu về một khía cạnh nhất định

Trang 12

của vấn đề giám định tư pháp đồng thời, chưa có công trình nào đề cập một cách đầy đủ, toàn diện về vấn đề xã hội hoá giám định tư pháp để có thể đề xuất

được những phương án, giải pháp có tính căn bản để khắc phục tình trạng bất cập của hoạt động giám định tư pháp hiện nay đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

và phát triển kinh tế xã hội

Vì những lý do nêu trên, Nhóm nghiên cứu chọn vấn đề “Xã hội hoá hoạt

động giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” làm đề tài

nghiên cứu khoa học cấp bộ năm 2009 để phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng Luật giám định tư pháp và đáp ứng yêu cầu của cách tư pháp

II Tình hình nghiên cứu liên quan đến nội dung của Đề tài

1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Liên quan đến các lĩnh vực nghiên cứu của đề tài, có một số công trình nghiên cứu của các chuyên gia nước ngoài và một số tài liệu hội thảo, hội nghị

quốc tế mà chúng tôi có điều kiện tiếp cận, trong đó đáng chú ý là: Hội thảo về giám định tư pháp- Tài liệu tham khảo, lưu hành nội bộ - H NXB Tư pháp,

2003 Hội thảo Pháp lệnh về giám định tư pháp- Tài liệu tham khảo- lưu hành nội bộ - H Nhà pháp luật Việt - Pháp , 2001; Hội thảo Pháp lệnh về giám định tư pháp- Tài liệu tham khảo- lưu hành nội bộ- Nhà pháp luật Việt- Pháp, 1999; Về pháp luật tố tụng dân sự- About Civil Procedure Legislation- Kỷ

yếu dự án Vie/95/017- Tăng cường năng lực xét xử tại Việt Nam- Tháng

5/2006; Professional resposiblity standards, rules and statutes- (Các tiêu

chuẩn trách nhiệm nghề nghiệp, các quy định và địa vị pháp lý) selected and edited by John Dzienkowski- Proffessor of Law and S Redditt-Proffesor in State and Local Government- University of Texas- West Publishing Co- St

Paul Minn-1995; Những kiến giải hạn hẹp về giám định tư pháp, Tư pháp Trung quốc 1- Bắc Kinh, 2000; Giám định DNA để xác định nguồn gốc - một vùng pháp luật xám Med Christian, Natasha Rittus, Tư pháp mới Số ngày 10/6/2002 - Munchen.Frankfurt.a.m; Một số ý kiến hoàn thiện để đẩy mạnh công tác quản lý giám định tư pháp, Hoắc Hiến Đan- Tạp chí Tư pháp Trung

Trang 13

quốc số 8/2006- Bắc Kinh; Chế độ giám định tư pháp nước ngoài, Chu Ngọc

Chương- Tư pháp Trung Quốc Số 6/2004- Bắc Kinh Pháp lý 2004

Những tài liệu này đã đề cập các nội dung chủ yếu sau:

- Khái quát hoạt động giám định tư pháp của Pháp, Thuỵ Điển, Trung Quốc Trong đó, một số vấn đề đã được Ban Soạn thảo Pháp lệnh giám định

tư pháp tiếp thu trong quá trình xây dựng Pháp lệnh giám định tư pháp năm

2004 như mở rộng chủ thể giám định, phí giám định, tổ chức giám định

- Giới thiệu cách thức cung cấp dịch vụ, các tiêu chuẩn nghề nghiệp của các chức danh nghề nghiệp trong lĩnh vực luật, quyền và nghĩa vụ đối với khách hàng của một số nước như Mỹ, Thuỵ điển

- Giới thiệu một số Bộ luật tố tụng, trong đó có các quy định về giám định tư pháp trong tố tụng của một số nước như: Mỹ, Canada, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc

- Giới thiệu kinh nghiệm quản lý hoạt động giám định tư pháp của một

số nước

2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Liên quan đến hoạt động giám định tư pháp, ở trong nước, có khá nhiều

công trình nghiên cứu đã được công bố như Đề tài cấp bộ: “Một số cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện tổ chức giám định tư pháp” (1991) của Bộ Tư pháp - Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Văn Yểu; Đề tài cấp Bộ: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giám định kỹ thuật hình sự phục vụ các yêu cầu điều tra, xử lý tội phạm” (2004) của Bộ Công an - Chủ nhiệm đề tài: PGS, TS Ngô Tiến Quý; Đổi mới tổ chức, hoạt động giám định

tư pháp (2004) Nxb Tư pháp; Đổi mới tổ chức và hoạt động giám định tư pháp trong quá trình cải cách tư pháp - PGS, TS Nguyễn Tất Viễn (trong

Sách Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay - GS,TSKH

Đào Trí Úc (Chủ biên)- H, NXb Khoa học xã hội, 2002); Giám định tư pháp,

TS Nguyễn Tất Viễn (trong Sách Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền - TSKH, PGS Lê Cảm và TS Nguyễn

Trang 14

Ngọc Chí (đồng chủ biên) - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004); Những quy định mới về giám định tư pháp, Nguyễn Hương Nhung - Tạp chí kiểm sát Số 2/2005; Giám định tư pháp và công cuộc cải cách tư pháp, Nguyễn Văn Thảo

- Dân chủ và pháp luật số chuyên đề tháng 5/2006; Những khó khăn, vướng mắc của hoạt động giám định tư pháp trong việc phục vụ hoạt động tố tụng hình sự, Nguyễn Thị Thuỵ - Kiểm sát Số 4 (02-2007); Bàn về giám định tư pháp trong tố tụng dân sự, Tưởng Duy Lượng - Kiểm sát Số 7 (4-2007) Pháp lệnh giám định tư pháp sau ba năm đi vào cuộc sống, Nguyễn Văn Thảo -

Tạp chí dân chủ và pháp luật số chuyên đề tháng 9/2007

Những tài liệu này đề cập các nội dung chủ yếu sau:

- Khái quát quá trình phát triển của hoạt động giám định và tổ chức giám định trong một số lĩnh vực của Việt Nam từ năm 1945 đến thời điểm trước khi có Pháp lệnh giám định tư pháp năm 2004;

- Nêu được các khái niệm về giám định tư pháp và hoạt động tư pháp;

- Đánh giá khái quát thực trạng các quy định pháp luật về giám định tư pháp và việc áp dụng các quy định đó trên thực tiễn đến thời điểm trước khi

có Pháp lệnh giám định tư pháp năm 2004;

- Một số công trình đã đưa ra được các bất cập của hoạt động giám định

tư pháp và bước đầu đưa ra những kiến nghị để khắc phục

Các công trình nghiên cứu trên đây (cả ngoài nước và trong nước) đều là những công trình có giá trị khoa học và thực tiễn cao Tuy nhiên, do mục tiêu đặt

ra cũng như do bị chi phối bởi các điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể nên mỗi công trình thường chỉ khai thác sâu về một khía cạnh nhất định của vấn đề giám định tư pháp mà chưa có công trình nào đề cập một cách đầy đủ, toàn diện về vấn đề xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp

III Mục tiêu của Đề tài

Mục tiêu của của Đề tài là đưa ra các kiến nghị về những giải pháp góp phần xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Trang 15

IV Nội dung nghiên cứu của Đề tài

1 Nghiên cứu những vấn đề lý luận về giám định tư pháp trong điều kiện mới, trên cơ sở đó làm rõ căn cứ lý luận của việc xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp trong bối cảnh cải cách tư pháp;

2 Nghiên cứu thực trạng các quy định pháp luật về giám định tư pháp

và việc tổ chức thực hiện các quy định đó theo yêu cầu của cải cách tư pháp (tập trung vào một số lĩnh vực điển hình như: giám định pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự, xây dựng, tài chính - kế toán, văn hóa );

3 Nghiên cứu nhu cầu xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp (nhu cầu của xã hội, nhu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng );

4 Nghiên cứu các điều kiện kinh tế, xã hội và cơ chế bảo đảm cho việc thực hiện xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp (về pháp luật, chính sách, đào tạo, quản lý );

5 Bước đầu nghiên cứu mô hình và phương thức cung cấp các dịnh vụ giám định tư pháp ở một số nước thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau như: Trung Quốc, Nhật Bản, Thuỵ Điển, Pháp, Đức để tìm ra những kinh nghiệm cho Việt Nam

V Phạm vi nghiên cứu của Đề tài

Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận về xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp, thực trạng xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp từ khi ban hành Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 đến nay

VI Phương pháp nghiên cứu của Đề tài

Đề tài được tiến hành nghiên cứu bằng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của việc nghiên cứu khoa học xã hội như phương pháp duy vật biện chứng; phương pháp so sánh; phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp

hệ thống hoá

* Các tài liệu trong tập này gồm:

- Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu

- Các chuyên đề khoa học của Đề tài

Trang 16

* Cơ cấu của Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài gồm 03 phần:

I Một số vấn đề lý luận cơ bản về giám định tư pháp và xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp

II Đánh giá thực trạng thực hiện chủ trương xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong thời gian qua tại Việt Nam

III Một số kiến nghị tăng cường xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn Viện Khoa học pháp lý, Nhà xuất bản Tư pháp cùng nhiều tổ chức, các cá nhân khác đã tận tình giúp đỡ các thành viên của Nhóm Đề tài trong quá trình triển khai nghiên cứu

Hà Nội, 2010

Trang 17

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

VÀ XÃ HỘI HOÁ HOẠT ĐỘNG GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

I KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG, VAI TRÒ, MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

1 Khái niệm giám định tư pháp

Khái niệm giám định tư pháp là vấn đề lý luận cơ bản có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế, xây dựng mô hình tổ chức, cơ chế quản lý phù hợp với bản chất của hoạt động giám định, nhằm đảm bảo phát huy được vai trò của hoạt động giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng cũng như đáp ứng yêu cầu của đời sống xã hội

Thuật ngữ “giám định” có nguồn gốc từ tiếng lating “Expertus” có nghĩa là “kinh nghiệm”, “hiểu biết”

Theo Đại từ điển tiếng Việt4, giám định là “kiểm tra bằng phương pháp nghiệp vụ để có kết luận cụ thể”

Theo từ điển bách khoa Việt Nam5, Giám định là ”kiểm tra và kết luận

về một hiện tượng hoặc một vấn đề mà cơ quan nhà nước cần tìm hiểu và xác định Công việc giám định có thể do một người giám định viên hoặc một nhóm người có kiến thức, trình độ về lĩnh vực cần giám định và được cơ quan chuyên môn chỉ định”

Như vậy, “Giám định” là hoạt động khoa học, sử dụng những kiến

thức chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn, phương tiện kỹ thuật để nghiên cứu, xem xét, so sánh một hiện tượng, một sự vật giúp cho con người có nhận thức khách quan để giải quyết vấn đề nào đó một cách chính xác trên

cơ sở khoa học

4 Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Nhà xuất bản đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2008, tr 621

5 Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, Hà

Trang 18

Giám định là công việc kiểm tra, đánh giá chung đối với hầu hết đối tượng Giám định liên quan đến sự đo lường, kiểm tra và các tiêu chuẩn đánh giá áp dụng để xác nhận chắc chắn các thông số kỹ thuật đặt trưng liên quan đến đối tượng giám định Kết quả giám định thông thường được so sánh với các yêu cầu và các tiêu chuẩn đã đưa ra nhằm xây dựng mục tiêu đã định đối với đối tượng giám định

Từ khái niệm này cho thấy, để hoạt động giám định chỉ có thể được tiến hành khi có các yêu cầu và tiêu chuẩn đối với một đối tượng giám định nhất định

Xuất phát từ nhu cầu thực tế trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân nên có nhiều loại hoạt động giám định khác nhau như giám định chất lượng công trình xây dựng trong xây dựng, giám định

thương tật trong y tế, giám định chất lượng hàng hoá trong thương mại

Trong lĩnh vực tư pháp, để phục vụ cho quá trình điều tra, truy tố, xét

xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, hành chính và các

vụ án khác nếu phát sinh những vấn đề liên quan đến kiến thức thuộc các lĩnh vực chuyên môn thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ trưng cầu giám định các cá nhân, tổ chức, cơ quan chuyên môn thực hiện giám định Hoạt động giám định này được gọi là giám định tư pháp

Ở nước ta, quan niệm về giám định tư pháp được thể hiện trong một

số văn bản pháp luật thực định và ngày càng được qui định cụ thể, rõ ràng hơn

Tại Thông tư liên bộ Y tế - Tư pháp số 2795/HC-TP ngày 12/12/1956 quy định về một số điểm cụ thể trong công tác giám định pháp y qui định: Giám định viên pháp y và cơ quan điều tra phải quan niệm giám định pháp y

là "đem sự hiểu biết chuyên môn của mình đóng góp vào việc điều tra, khám

phá các vụ phạm pháp để bảo vệ trật tự an ninh trấn áp bọn phá hoại…"

(Điểm IV), để có sự phối hợp đúng đắn trong quá trình giải quyết vụ án

Trang 19

Tại Thông tư này cho thấy, nhận thức pháp lý về giám định tư pháp ở thời điểm này còn ở mức độ rất thấp, chưa xác định chủ thể trưng cầu giám định, chủ thể thực hiện giám định, phạm vi giám định tư pháp mới chỉ giới hạn ở giám định pháp y

Thông tư liên bộ số 166/TT-LB ngày 10/3/1988 của Bộ Y tế - Tư pháp hướng dẫn và quy định về công tác giám định pháp y và giám định pháp y tâm thần, phần nguyên tắc chung quy định: "Giám định pháp y và giám định pháp y tâm thần sử dụng kiến thức y học vào mục đích tư pháp theo quyết định trưng cầu giám định của cơ quan tiến hành tố tụng" (Khoản 1, Phần I);

"Các cơ quan tiến hành tố tụng không can thiệp vào công việc chuyên môn của giám định viên" (Khoản 3, Phần I)

Nghị định số 117/HĐBT ngày 21/7/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay

là Chính phủ) và Thông tư số 78/TT-GĐ ngày 26/01/1989 của Bộ Tư pháp về giám định tư pháp quy định: Giám định tư pháp là sử dụng những kiến thức, phương pháp khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn để kết luận những vấn đề có liên quan đến các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, các tranh chấp lao động theo quyết định trưng cầu của cơ quan công an, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân (gọi chung là cơ quan tiến hành tố tụng) nhằm phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử

Tuy nhiên, các văn bản nêu trên đều mới chỉ xác định được chủ thể trưng cầu giám định (là cơ quan tiến hành tố tụng), và mục đích của hoạt động giám định tư pháp mà chưa xác định chủ thể của hoạt động giám định tư pháp

Đến Pháp lệnh giám định tư pháp năm 2004 - văn bản pháp lý có ý nghĩa quan trọng đặt nền móng cho sự đổi mới tổ chức và hoạt động giám định tư pháp theo hướng xã hội hóa, tại Điều 1 được xác định: Giám định tư pháp là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, nghiệp

vụ chuyên môn những vấn đề có liên quan đến vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự (gọi chung là vụ án) do người giám định tư pháp thực hiện theo

Trang 20

trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nhằm phục

vụ cho việc giải quyết các vụ án

Khái niệm về giám định tư pháp Pháp lệnh này đã thể hiện sự đổi mới tư duy pháp lý về giám định tư pháp; nhận thức về giám định tư pháp đã đầy đủ hơn; đã xác định rõ: chủ thể của hoạt động giám định tư pháp; chủ thể trưng cầu giám định tư pháp và mục đích của hoạt động giám định tư pháp Tuy nhiên, khái niệm trên cũng mới chỉ giới hạn chủ thể trưng cầu giám định là các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Mặt khác, việc sử dụng thuật ngữ "người giám định tư pháp" trong khái niệm trên dễ gây ra cách hiểu, chỉ có người giám định tư pháp mới được thực hiện giám định tư pháp; hoặc cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chỉ được trưng cầu người giám định tư pháp thực hiện giám định tư pháp (mà đáng lẽ phải hiểu là, nhà chuyên môn, tổ chức chuyên môn thực hiện giám định theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là người giám định tư pháp) Việc giới hạn chủ thể trưng cầu và chủ thể thực hiện giám định tư pháp như trên chính là một trong các nguyên nhân quan trọng dẫn tới những hạn chế, bất cập trong thực hiện xã hội hoá giám định tư pháp ở Việt Nam thời gian qua

Giám định tư pháp luôn chịu sự chi phối của pháp luật tố tụng (tố tụng hình sự và tố tụng dân sự) Ở Việt Nam, tố tụng tư pháp truyền thống thuộc loại hình tố tụng thẩm vấn, do vậy vai trò của thẩm phán và những người tiến hành tố tụng rất quan trọng, được đề cao đặc biệt là trong tố tụng hình sự Nguyên tắc của tố tụng thẩm vấn đã chi phối việc xác định chủ thể trưng cầu giám định là các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Những người tham gia tố tụng như bị can, bị cáo, các bên đương sự… có vai trò rất

mờ nhạt, họ chỉ có quyền được thông báo kết quả giám định, đề nghị yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng giám định lại hoặc giám định bổ sung mà không

có quyền trực tiếp yêu cầu giám định, kể cả trong tố tụng dân sự, do đó, việc giám định không phải do các cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu hoặc không

Trang 21

phải do người giám định tư pháp thực hiện theo sự trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng thì không phải là giám định tư pháp Đây cũng là tiêu chí để phân biệt giám định tư pháp với giám định thông thường khác trên thực tế

Xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, các hệ thống pháp luật đang xích lại gần nhau, hai loại thủ tục tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn không biệt lập như trước mà dần dần có sự giao thoa với nhau Trong thủ tục tố tụng tranh tụng có các yếu tố của thủ tục tố tụng thẩm vấn và ngược lại Theo đó, cơ chế

tố tụng của nước ta cũng đang từng bước đổi mới theo hướng tố tụng thẩm vấn kết hợp với yếu tố tranh tụng Trong tố tụng hình sự, trách nhiệm chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc chứng minh là mình vô tội Trong tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự, các bên đương sự phải cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình Đây là một nguyên tắc xuất phát từ quyền tự định đoạt của đương sự đối với việc khởi kiện của mình

Với cơ chế tố tụng đang từng bước được đổi mới như trên, việc pháp luật quy định chủ thể trưng cầu giám định tư pháp chỉ thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như hiện nay ở Việt Nam chỉ phù hợp với tố tụng hình sự, còn đối với tố tụng dân sự là không thỏa đáng Bởi một nguyên tắc quan trọng là quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự; có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình bằng việc rút lại, thừa nhận hoặc thỏa thuận với nhau để giải quyết các vụ việc dân sự một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội Đây

là nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, phản ánh sự khác nhau về bản chất giữa tố tụng dân sự và tố tụng hình sự Mặt khác, việc giới hạn chủ thể thực hiện giám định tư pháp chỉ là người giám định tư pháp cũng hạn chế không nhỏ tới việc thu hút sự tham gia của các nhà chuyên môn, tổ chức chuyên môn vào thực hiện giám định tư pháp

Trang 22

Do đó, trong khái niệm giám định tư pháp, việc xác định chủ thể trưng cầu giám định cần có tiêu chí bao quát phù hợp với cả tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, theo hướng: Trong tố tụng hình sự, quyền trưng cầu giám định tư pháp thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; bị can, bị cáo, người bào chữa có quyền được thông báo kết luận giám định, yêu cầu giám định lại hoặc giám định bổ sung; được chia sẻ các thông tin từ các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình thu thập chứng cứ bằng biện pháp giám định tư pháp Trong tố tụng dân sự, cần mở rộng quyền trực tiếp yêu cầu giám định cho các bên đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, người đại diện hợp pháp cho đương sự thay vì việc, chỉ qui định quyền được đề nghị tòa án trưng cầu giám định như hiện nay Việc xem xét để chấp nhận hay không chấp nhận những chứng cứ là kết luận giám định thuộc về hội đồng xét

xử và tòa án Nếu hội đồng xét xử và tòa án chấp nhận sử dụng kết luận giám định đó vào việc giải quyết vụ án cùng với các chứng cứ khác thì được coi là kết luận giám định tư pháp

Trong điều kiện hiện nay, để có cơ sở đổi mới tổ chức, hoạt động giám định tư pháp nhằm phục vụ đắc lực, hiệu quả cho hoạt động tố tụng,

chúng tôi đồng tình với khái niệm về giám định tư pháp là: Giám định tư pháp là việc nhà chuyên môn (người giám định) sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp, kỹ thuật nghiệp vụ để kết luận về những vấn đề liên quan đến

vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, hôn nhân - gia đình, lao động, hành chính theo trưng cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng và việc tòa án xem xét, chấp nhận, sử dụng kết luận giám định do các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, người đại diện hợp pháp của đương sự cung cấp khi tham gia

tố tụng theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp và pháp luật tố tụng 6

6 Ths.Trần Diện, Xã hội hóa giám định tư pháp ở Việt Nam hiện nay, luận văn thạc sỹ luật học,

2009, Học viện Chính trị- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 23

2 Đặc trưng hoạt động giám định tư pháp

2.1 Giám định tư pháp là hoạt động chuyên môn do chuyên gia thực hiện

Để phục vụ cho việc giải quyết các vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau nhằm thu thập chứng cứ Một trong những biện pháp đó là trưng cầu giám định tư pháp Theo quy định của pháp luật tố tụng thì trong một số trường hợp bắt buộc hoặc khi xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng có thể trưng cầu giám định tư pháp Trong khi đó, tội phạm và tranh chấp dân sự có thể xảy ra trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Cơ quan tiến hành tố tụng có thể trưng cầu bất kỳ chuyên gia nào có kiến thức về lĩnh vực chuyên môn liên quan đến vụ

án để thực hiện giám định Với các chuyên gia, bên cạnh hoạt động chuyên môn thì hoạt động giám định tư pháp chỉ là một nhiệm vụ (công việc) của họ

Có thể nói, giám định tư pháp là một biện pháp điều tra do nhà chuyên môn thực hiện Cũng như quan niệm của nhiều nước khác trên thế giới, ở nước ta giám định tư pháp không được coi là một nghề mà là một hoạt động chuyên môn, giám định viên tư pháp hầu hết là kiêm nhiệm

Khi thực hiện giám định, bên cạnh việc tuân thủ các quy định của pháp luật có liên quan thì người giám định tư pháp còn phải thực hiện đúng các quy chuẩn chuyên môn của từng lĩnh vực cụ thể, đồng thời, người giám định phải sử dụng những kiến thức nghiệp vụ, phương pháp phù hợp để thực hiện giám định

2.2 Người giám định tư pháp phải chịu trách nhiệm cá nhân về kết luận giám định do mình thực hiện

Một trong những nguyên tắc hàng đầu quan trọng trong hoạt động giám định tư pháp, đó là nguyên tắc trách nhiệm cá nhân Theo quy định của pháp luật hiện hành, người giám định tư pháp phải thực hiện đúng nội dung trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết luận giám định của mình, thậm chí trong những trường hợp giám định tập thể, nếu người thực hiện giám định không đồng ý với kết luận của những người khác thì có thể bảo lưu và chịu trách nhiệm về kết luận của mình Xuất phát từ

Trang 24

nguyên tắc trách nhiệm cá nhân nên khi thực hiện giám định, người giám định không phải chịu chi phối từ phía cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền Vì vậy, có thể nói hoạt động giám định tư pháp không mang tính quyền lực Nhà nước

2.3 Giám định tư pháp được thực hiện nhằm mục đích cung cấp các chứng

cứ để phục vụ cho việc giải quyết vụ án

Như đã trình bày ở trên, để phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước cũng như phục vụ cho đời sống của người dân, phạm vi hoạt động giám định rất rộng, trên tất cả các lĩnh vực Hiện nay, ngoài trưng cầu giám định của các

cơ quan tiến hành tố tụng, các tổ chức giám định tư pháp còn nhận được rất nhiều yêu cầu giám định từ phía các cơ quan nhà nước như cơ quan công chứng, thanh tra và của công dân như giám định chữ ký, giám định hành hoá phục vụ cho công tác quản lý của nhà nước, giao dịch dân sự và đời sống hàng ngày Tuy nhiên, tất cả các hoạt động giám định nói trên đều không được coi là giám định tư pháp Chỉ xác định là giám định tư pháp khi việc thực hiện giám định để phục vụ cho việc giải quyết các vụ án

3 Vai trò, mục đích, ý nghĩa của giám định tư pháp

3.1 Vai trò của giám định tư pháp

Giám định tư pháp là hoạt động bổ trợ tư pháp, xuất hiện và tồn tại do nhu cầu của hoạt động tố tụng, có ý nghĩa đặc biệt và không thể thiếu trong bất kỳ nền tư pháp nào Sự tương tác giữa hoạt động giám định và hoạt động

tố tụng là một trong những tiêu chí để đánh giá, là yếu tố phản ánh trình độ phát triển hệ thống tư pháp của một quốc gia

Thông qua việc đánh giá, kết luận về phương diện chuyên môn những vấn đề có liên quan đến vụ án, hoạt động giám định tư pháp đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động tố tụng, cung cấp cho các cơ quan tiến hành tố tụng những chứng cứ mang tính khoa học, góp phần giải quyết vụ án được chính xác, khách quan và đúng pháp luật

Trang 25

Trong tình hình hiện nay, khi hình thái kinh tế - xã hội đa dạng, khoa học kỹ thuật phát triển, tranh chấp trong các quan hệ, giao dịch, hành vi phạm tội trong các vụ án ngày càng nhiều, với tính chất phức tạp, tinh vi và mức độ nghiêm trọng, thì nhu cầu về giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng ngày càng lớn và trở nên bức thiết hơn

Xét trên phương diện quyền công dân trong một Nhà nước pháp quyền, hoạt động giám định tư pháp góp phần bảo vệ một cách hữu hiệu các quyền

và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân thông qua việc tạo lập và cung cấp những chứng cứ không thể phản bác, bảo đảm an toàn cho công dân trong các quan hệ pháp luật mà họ tham gia

3.2 Mục đích, ý nghĩa của giám định tư pháp

Hoạt động giám định tư pháp có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả và chất lượng của hoạt động tố tụng Trong thời gian qua cho thấy, nhiều trường hợp giải quyết vụ án kéo dài, ách tắc do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ kết luận của các tổ chức giám định Thực hiện giám định tư pháp cũng là nhằm làm sáng tỏ vụ án, tránh tình trạng oan sai, thiếu vô tư, khách quan từ các cơ quan tiến hành tố tụng

Giám định tư pháp còn mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc, hướng hoạt động tố tụng theo cơ chế minh bạch, đúng người đúng tội, phụng sự công lý Giám định tư pháp là một kênh quan trọng đánh giá trình độ phát triển pháp luật và mức độ dân chủ của một quốc gia

II KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG, PHẠM VI, Ý NGHĨA CỦA XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

1 Khái niệm xã hội hóa giám định tư pháp

1.1 Khái niệm xã hội hóa

Ở nước ta, thuật ngữ xã hội hóa được hiểu theo nhiều khía cạnh và góc

độ khác nhau

Về phương diện xã hội học, xã hội hóa được hiểu là sự tham gia của các chủ thể (toàn xã hội) vào một hoạt động hay một công tác nào đó mà trước đó

Trang 26

chỉ có một hoặc một số chủ thể (bộ phận xã hội) thực hiện Xã hội hóa là quá trình hoạt động xã hội mà lúc khởi đầu, có thể chỉ có một chủ thể tham gia thực hiện Song, do tầm quan trọng và ý nghĩa xã hội rộng lớn của nó, đã đòi hỏi chủ thể hoạt động quảng bá, tuyên truyền, vận động nhằm thu hút sự quan tâm và tham gia của đông đảo xã hội Mặt khác, do nhận thức được ý nghĩa thiết thực của nó, đông đảo người dân đã chủ động tham gia tích cực vào các hoạt động đó, biến qua trình đó thành một phong trào rộng khắp Chúng ta có thể thấy hàng loạt những hoạt động xã hội hóa đã và đang diễn ra rất sôi động gần đây và hiện nay ở nước ta như xã hội hóa giáo dục, xã hội hóa y tế, xã hội hóa công tác bảo hiểm xã hội, xã hội hóa thể dục thể thao…

Trong tiếng việt "Xã hội hóa được hiểu là làm cho cái gì đó trở thành chung của xã hội" Theo quan niệm này, xã hội hóa được hiểu theo nghĩa rộng, được thực hiện ở tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội…Trong xã hội có phân chia giai cấp, đối kháng giai cấp và Nhà nước, Nhà nước đại diện cho xã hội, thay mặt xã hội thực hiện chức năng quản lý xã hội Vì vậy, xã hội hóa ở bất cứ lĩnh vực nào đều liên quan đến Nhà nước và vai trò của Nhà nước

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật, Nhà nước có hai chức năng cơ bản: chức năng quản lý nhà nước đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (còn gọi là chức năng cai trị) và chức năng phục

vụ cho các tổ chức, công dân trong xã hội (còn gọi là chức năng xã hội)

Chức năng quản lý xã hội bao gồm các hoạt động quản lý, điều tiết đời sống kinh tế - xã hội thông qua các công cụ quản lý vĩ mô như: quy hoạch, kế hoạch chiến lược, pháp luật…; chức năng xã hội bao gồm hoạt động nhằm phục vụ cho lợi ích thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và tổ chức

Việc thực hiện quản lý nhà nước nhằm đảm bảo trật tự, công bằng xã hội; việc thực hiện chức năng xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của các tổ chức

và công dân và có thể phát sinh từ nhu cầu của chính Nhà nước Tuy nhiên, hai chức năng này của Nhà nước luôn gắn bó với nhau và ở mỗi giai đoạn có

sự tập trung ở những mức độ khác nhau Theo Ph.Ăngghen: "Ở khắp nơi, chức

Trang 27

năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội của nó"

Thực tế cho thấy, trên ý nghĩa nhất định, mức độ, hiệu quả thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước quy định mức độ, hiệu quả thực hiện chức năng chính trị của giai cấp Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, mọi Nhà nước đều quan tâm tới việc cải tiến phương thức thực hiện chức năng xã hội theo hướng xã hội hóa nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân, đảm bảo sự ổn định chung của xã hội

Việc xã hội hóa một số công việc thuộc chức năng xã hội của Nhà nước trong giai đoạn hiện nay là cần thiết và tất yếu bởi các lý do:

+ Do yêu cầu chung của đời sống xã hội;

+ Sự thay đổi tương quan giữa khu vực công (Nhà nước) và khu vực tư; + Thu hút nguồn tài chính nhiều hơn từ xã hội vào cung cấp các dịch vụ phục vụ xã hội và Nhà nước;

+ Nâng cao chất lượng và hiệu quả phục vụ xã hội của Nhà nước

Do đó, xã hội hóa còn được hiểu là một biện pháp đổi mới phương thức

tổ chức quản lý, theo đó Nhà nước chuyển hóa vai trò thực hiện chức năng xã hội, từ bỏ đặc quyền trong lĩnh vực nào đó, khuyến khích, tạo điều kiện thu hút nhân lực, vật lực, tài lực từ mọi thành phần kinh tế tham gia vào các công việc do Nhà nước trực tiếp đảm nhiệm trước đây

Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, Nhà nước không bao cấp tất cả mà huy động, thu hút nhân dân tham gia đảm nhiệm các công việc không thuộc chức năng quản lý của Nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước

Xã hội hóa còn có thể là sự chuyển giao các công việc mà Nhà nước đang thực hiện thành công việc của xã hội, do tổ chức, cá nhân ngoài nhà nước thực hiện Do vậy, xã hội hóa được hiểu là việc chuyển giao một phần công việc từ Nhà nước sang xã hội hoặc thu hút sự tự giác của xã hội vào quá

Trang 28

trình quản lý nhằm phát huy tính tự chủ của xã hội và tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước

Xã hội hóa là một chủ trương lớn của Đảng đã được khẳng định trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX là “Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hóa, điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ theo hướng thống nhất quản lý vĩ mô bằng hệ thống pháp luật, chính sách hoàn chỉnh, đồng bộ Định rõ chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ theo hướng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực trên phạm vi toàn quốc… tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, tạo điều kiện cho các tổ chức thực hiện một số dịch vụ công với sự giám sát của cộng đồng”7

Trước đây, dựa trên cơ sở kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước đứng

ra chăm lo, đảm bảo phục vụ cho tất cả các nhu cầu lợi ích của người dân trong xã hội dựa trên phương thức tập trung, bao cấp của Nhà nước, không có

sự tách bạch giữa chức năng quản lý và chức năng phục vụ, dẫn tới tình trạng, chức năng quản lý nhà nước hiệu lực không cao, chức năng phục vụ kém hiệu quả Hiện nay, trong điều kiện xã hội phát triển, Nhà nước hiện đại, nền hành chính phát triển, vừa tăng cường quản lý vĩ mô, vừa đề cao chức năng phục

vụ của Nhà nước, trong thực hiện chức năng, vai trò của mình, Nhà nước đã coi trọng chức năng phục vụ theo phương châm xã hội hóa Xã hội hóa một số lĩnh vực của đời sống xã hội thực chất là sự đòi hỏi các cơ quan trong bộ máy nhà nước phải xem xét lại chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của mình để chuyển dần một số chức năng dịch vụ xã hội cho một số cơ quan, tổ chức phi Nhà nước hoặc cá nhân thực hiện Đây có thể xem là phương thức, giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, đồng thời giảm tải cho hoạt động, làm cho bộ máy đó tinh gọn, tiết kiệm, giảm chi phí ngân sách nhà nước

7 Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, tr 247

Trang 29

Từ những phân tích trên, chúng tôi đồng tình với khái niệm xã hội hóa

như sau: Xã hội hóa là một giải pháp đổi mới phương thức tổ chức hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, theo đó Nhà nước thực hiện quá trình chuyển giao các công việc thuộc chức năng phục vụ từ Nhà nước sang

xã hội hoặc có cơ chế, chính sách thu hút sự tham gia của xã hội vào quá trình quản lý nhà nước để phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của xã hội, đồng thời tăng cường hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước 8

1.2 Khái niệm xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp

Ở nước ta, khái niệm tư pháp được hiểu rất rộng, bao gồm không chỉ hoạt động xét xử của tòa án, mà cả hoạt động của các cơ quan, tổ chức khác trực tiếp liên quan đến hoạt động xét xử của tòa án nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, pháp chế xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của xã hội Vì vậy, cơ quan tư pháp ở nước ta bao gồm Tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan điều tra và các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp Trong đó Tòa án nhân dân là nơi biểu hiện tập trung quyền tư pháp, sử dụng công khai các kết quả của hoạt động điều tra, công tố, bào chữa, giám định tư pháp, thông qua các thủ tục theo luật định để đưa ra phán quyết cuối cùng thể hiện quyền lực nhà nước Vì vậy, trong đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, để đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân nói chung, cũng như đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động giám định tư pháp nói riêng đòi hỏi phải đồng bộ, có bước đi thích hợp, với các giải pháp phù hợp, đáp ứng cả về yêu cầu lý luận và nhu cầu thực tiễn trong quá trình đổi mới Đổi mới phương thức tổ chức, hoạt động giám định tư pháp theo hướng xã hội hóa là giải pháp quan trọng, đang được Đảng và Nhà nước ta chủ trương và

tổ chức thực hiện, bởi lĩnh vực này hội tụ đủ cả cơ sở lý luận và thực tiễn

8 Ths.Trần Diện, Xã hội hóa giám định tư pháp ở Việt Nam hiện nay, luận văn thạc sỹ luật học,

2009, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 30

Về góc độ lý luận, bản chất giám định tư pháp là việc các nhà chuyên môn sử dụng kiến thức chuyên môn để đưa ra các kết luận khách quan, khoa học, có giá trị chứng cứ phục vụ trực tiếp cho hoạt động điều tra, truy tố, xét

xử Giám định tư pháp không mang đặc trưng quyền lực nhà nước Do đó, các nhà chuyên môn ở các lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp, có đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật đều có thể trở thành người giám định tư pháp, không phân biệt họ là công chức, viên chức hay người hành nghề tự do Tương tự như vậy, các tổ chức chuyên môn có đủ năng lực, điều kiện, đáp ứng quy chuẩn chuyên môn của lĩnh vực giám định theo quy định pháp luật đều có thể được trưng cầu giám định tư pháp, bất luận là tổ chức của Nhà nước hay ngoài nhà nước Mặt khác, trong điều kiện việc trưng cầu giám định

tư pháp ngày càng được mở rộng ra mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như hiện nay, việc Nhà nước đứng ra trực tiếp tổ chức thực hiện giám định tư pháp ở tất cả các lĩnh vực là điều không thể

Về góc độ thực tiễn, một thời gian dài, Nhà nước đã tổ chức tràn lan các

tổ chức giám định tư pháp ở nhiều lĩnh vực, với các giám định viên tư pháp

do công chức nhà nước kiêm nhiệm, dẫn tới tình trạng vừa không đảm bảo tính chuyên nghiệp vừa không đề cao trách nhiệm khi thực hiện giám định tư pháp Vì là hoạt động kiêm nhiệm, nên khi được trưng cầu giám định, giám định viên tư pháp có nhiều lý do để từ chối thực hiện giám định, gây khó dễ cho hoạt động tố tụng mà hầu như không phải chịu trách nhiệm gì Trong khi

đó, giám định tư pháp là một chức năng, nhiệm vụ của người giám định Khi được trưng cầu, giám định viên phải thực hiện giám định đảm bảo tính kịp thời, khách quan, chính xác, bí mật để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử Song song với tình trạng trên, là sự nghèo nàn về cơ sở vật chất, trang, thiết bị, phương tiện phục vụ cho hoạt động giám định tư pháp ở hầu hết các

tổ chức giám định tư pháp Hầu hết các tổ chức giám định tư pháp đều được

tổ chức lồng ghép trong các cơ sở chuyên môn hoặc cơ quan quản lý nhà nước, phải tận dụng hoặc phải nhờ trụ sở, phương tiện, trang, thiết bị kỹ thuật

Trang 31

phục vụ cho hoạt động giám định, dẫn tới tình trạng phụ thuộc, bị động của các tổ chức giám định tư pháp, chất lượng, hiệu quả thấp, gây ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động tố tụng

Như vậy, xã hội hóa giám định tư pháp là có thể và cần thiết, nhằm thu hút sự tham gia của các tổ chức, cá nhân ở mọi thành phần kinh tế thực hiện giám định tư pháp, đảm bảo nâng cao chất lượng, hiệu quả giám định tư pháp, đáp ứng kịp thời nhu cầu của hoạt động tố tụng Mặt khác, góp phần làm cho

bộ máy nhà nước gọn nhẹ, hiệu lực, hiệu quả

Xã hội hóa là giải pháp Nhà nước đổi mới tổ chức và hoạt động của các

cơ quan nhà nước bằng việc chuyển giao các công việc thuộc chức năng phục

vụ của Nhà nước cho các tổ chức, cá nhân ngoài nhà nước thực hiện, hoặc thu hút họ tham gia vào hoạt động của Nhà nước Do đó khái niệm xã hội hóa

hoạt động giám định tư pháp có thể được hiểu như sau: Xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp là quá trình đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động giám định tư pháp, theo đó, Nhà nước kết hợp việc từng bước tập trung đầu

tư cho các tổ chức giám định tư pháp ở các lĩnh vực giám định có nhu cầu lớn

và thường xuyên với việc huy động, thu hút các cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện theo quy định pháp luật tham gia vào hoạt động giám định tư pháp ở các lĩnh vực không thành lập tổ chức giám định tư pháp nhằm đáp ứng cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và đáp ứng nhu cầu của xã hội trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Xã hội hoạt động hóa giám định tư pháp là một đòi hỏi khách quan đối với nước ta bởi các lý do sau đây:

Thứ nhất: Sự chuyển đổi cơ chế quản lý từ kế hoạch hóa tập trung sang

kinh tế thị trường, khắc phục những hạn chế, bất cập của chế độ quản lý quan liêu bao cấp, Nhà nước bao biện làm thay để tạo ra chế độ quản lý phù hợp Theo đó, Nhà nước có trách nhiệm trực tiếp thực hiện đối với lĩnh vực giám định tư pháp mà xã hội chưa đảm nhận được hoặc tuy xã hội có thể đảm nhận, nhưng đòi hỏi phải đảm bảo công bằng, hay nhằm đảm bảo cho nền tảng xã

Trang 32

hội chủ nghĩa, duy trì trật tự công cộng và đáp ứng những quyền lợi chung, cơ bản của cộng đồng Mặt khác, Nhà nước tạo cơ chế thu hút thông qua hệ thống chính sách, pháp luật đồng bộ để xã hội có thể tham gia thực hiện giám định tư pháp cùng Nhà nước

Như vậy, khác với xã hội hóa một số lĩnh vực tư pháp khác, xã hội hóa giám định tư pháp không phải là sự chuyển giao công việc giám định tư pháp

từ Nhà nước sang cho xã hội, vì giám định tư pháp chỉ là chức năng chứ không phải là một nghề của giám định viên Nhà nước tạo điều kiện để xã hội tham gia vào thực hiện chức năng giám định tư pháp chứ không phải là khuyến khích phát triển nghề nghiệp như lĩnh vực công chứng, luật sư

Thứ hai: Sự phát triển của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa không chỉ đặt ra yêu cầu về an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự của công dân và tổ chức, tránh gặp rủi ro kinh tế, mà còn đòi hỏi phải có các công cụ, phương tiện pháp lý giúp cho việc giải quyết xung đột lợi ích khi tranh chấp xảy ra, trong đó có kết luận giám định làm sáng tỏ vấn đề, giúp cho các đương sự chứng minh trong hòa giải, thương lượng hoặc cung cấp chứng cứ khi khởi kiện tại tòa án Do đó, nhu cầu của xã hội đối với hoạt động giám định sẽ ngày càng tăng nhanh Việc huy động xã hội tham gia vào hoạt động giám định nhằm tạo ra khả năng cho cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện tham gia hoạt động giám định tư pháp cũng như giám định tiền tố tụng, đáp ứng kịp thời nhu cầu giám định của xã hội dân sự

Thứ ba: Ở Việt Nam, do chịu sự ảnh hưởng lớn của giám định tư pháp

của Liên Xô (cũ) và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trước đây, hệ thống tổ chức giám định tư pháp được thành lập tràn lan, mô hình tổ chức không thống nhất, cơ chế quản lý lỏng lẻo; đội ngũ giám định viên tư pháp chủ yếu do công chức nhà nước kiêm nhiệm, chưa được đào tạo cơ bản, chế

độ chính sách đãi ngộ chưa thỏa đáng.v.v dẫn đến giám định tư pháp kém phát triển, lạc hậu và không còn phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế mới

Thứ tư: Do yêu cầu của hội nhập quốc tế

Trang 33

Xu thế hội nhập quốc tế và khu vực đang trở thành tất yếu với các lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước Sự phát triển các giao lưu quốc tế và khu vực ngày càng sâu rộng đang là thách thức đối với lĩnh vực giám định tư pháp vốn rất bất cập và hạn chế cả về tổ chức, đội ngũ, cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động giám định tư pháp bởi sự trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước, tâm lý sống duy tình của người Việt, ngại va chạm công đường, kiện tụng… đã vô hình dung kìm hãm sự phát triển của giám định tư pháp Trong điều kiện hội nhập quốc tế, đòi hỏi hoạt động giám định tư pháp phải tôn trọng những chuẩn mực chung để hội nhập, phát triển

2 Đặc trưng xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp

Đặc trưng thứ nhất: Xã hội hóa giám định tư pháp là sự kết hợp giữa

việc Nhà nước đầu tư và thu hút các nguồn lực của xã hội để tăng cường, củng cố các tổ chức giám định tư pháp chuyên trách theo hướng chuyên nghiệp ở các lĩnh vực giám định tư pháp có nhu cầu thường xuyên lớn như pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự, với việc thu hút các tổ chức chuyên môn, cá nhân là những chuyên gia giỏi tham gia vào hoạt động giám định tư pháp ở các lĩnh vực khác, góp phần làm giảm gánh nặng cho bộ máy nhà nước, nâng cao chất lượng, hiệu quả giám định tư pháp

Xã hội hóa giám định tư pháp thực chất là sự huy động xã hội cùng tham gia với Nhà nước giải quyết những hạn chế, bất cập của hoạt động giám định

tư pháp trên cơ sở Nhà nước tạo tiền đề nền tảng và trực tiếp tổ chức hoạt động giám định tư pháp ở các lĩnh vực đòi hỏi phải chuyên nghiệp, chuyên trách, phục vụ kịp thời hoạt động tố tụng như các lĩnh vực: pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự Bởi đây là các lĩnh vực có nhu cầu giám định lớn, thường xuyên của hoạt động tố tụng, liên quan trực tiếp đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, đòi hỏi sự đầu tư lớn về nhân lực, vật lực, trong khi đó hoạt động này không thể kinh doanh như các hoạt động khác để

có lợi nhuận, siêu lợi nhuận, các tổ chức, cá nhân thường không tham gia cung cấp dịch vụ ở những lĩnh vực này, nên buộc Nhà nước phải thực hiện,

Trang 34

đặc biệt là các chuyên ngành phục vụ cho hoạt động an ninh quốc gia, những chuyên án đặc biệt cần đảm bảo bí mật liên quan đến xác định dấu vết (chữ

ký, vân tay, số khung, số máy, súng, đạn, AND v.v )

Mặt khác, để từng bước đảm bảo cho việc tự trang trải về mặt tài chính cho các tổ chức: pháp y, giám định pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự; đảm bảo tái đầu tư các trang thiết bị và đáp ứng nhu cầu giám định ngoài tố tụng của xã hội, ngoài thực hiện chức năng giám định tư pháp, phục vụ cho hoạt động

tố tụng, các tổ chức trên còn được thực hiện chức năng thực hiện dịch vụ giám định ngoài tố tụng theo quy định pháp luật, phục vụ cho đời sống dân sự Như vậy, mặc dù hoạt động chuyên trách do ngân sách nhà nước đảm bảo, nhưng tổ chức giám định tư pháp còn được xã hội hóa bằng việc thu hút các nguồn lực của của xã hội đầu tư nâng cao năng lực cho các tổ chức đó và cho phép các tổ chức đó thực hiện dịch vụ giám định, cung cấp sản phẩm kết luận giám định phục vụ nhu cầu của xã hội dân sự trên cơ sở chế độ phí giám định Đối với các lĩnh vực không thành lập tổ chức giám định tư pháp còn lại như: văn hóa, xây dựng, môi trường, tài chính - kế toán v.v cần được đổi mới theo hướng, Nhà nước huy động mạnh mẽ, đông đảo đội ngũ những nhà chuyên môn giỏi, tổ chức chuyên môn có uy tín ở cả khu vực Nhà nước cũng như khu vực ngoài nhà nước tham gia Để huy động được các chủ thể trên tham gia vào hoạt động giám định tư pháp, đòi hỏi Nhà nước phải có cơ chế quản lý phù hợp và một hệ thống chính sách đồng bộ không chỉ đơn thuần bằng chế độ đãi ngộ vật chất mà còn cần có chính sách tôn vinh phi vật chất; không chỉ đơn thuần bằng chế độ ưu đãi mà còn cần phải có hệ tiêu chuẩn để phân loại, tinh lọc, lựa chọn được những cá nhân, tổ chức thuộc các ngành nghề trong các hiệp hội và tổ chức nghề nghiệp tham gia vào hoạt động giám định tư pháp Từ đó, đề cao vai trò của hội nghề nghiệp trong việc lựa chọn, giới thiệu, quản lý người giám định tư pháp; đại diện bảo vệ quyền lợi của người giám định tư pháp với tư cách là thành viên của hội nghề nghiệp chuyên môn khi họ tham gia hoạt động giám định tư pháp

Trang 35

Có thể thấy, việc kết hợp các yếu tố trên trong quá trình đổi mới tổ chức, hoạt động giám định tư pháp là phương thức đặc thù của xã hội hóa giám định

tư pháp Để thực hiện được xã hội hóa giám định tư pháp theo phương thức trên, đòi hỏi phải có lộ trình phù hợp trên cơ sở nhận thức đúng đắn của các

cơ quan quản lý, các tổ chức giám định tư pháp, tổ chức chuyên môn, người giám định tư pháp và người dân

Đặc trưng thứ hai: xã hội hóa giám định tư pháp là đổi mới cơ chế quản

lý của Nhà nước đối với tổ chức và hoạt động giám định tư pháp, tăng cường trách nhiệm và quan hệ phối hợp của các ngành, các cấp, sự phối hợp của các

cơ quan tố tụng và hiệp hội tổ chức nghề nghiệp đối với tổ chức giám định tư pháp, tổ chức chuyên môn và người giám định tư pháp

Xã hội hóa giám định tư pháp không phải Nhà nước từ bỏ quản lý đối với những lĩnh vực không có tổ chức giám định tư pháp mà là thay đổi phương thức quản lý, thay vì tổ chức tràn lan các tổ chức giám định tư pháp, quản lý kém hiệu quả, hoạt động giám định tư pháp chất lượng thấp, bằng việc tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm đối với các tổ chức giám định tư pháp chuyên trách, hoạt động chuyên nghiệp, đồng thời có cơ chế chính sách đồng bộ để thu hút đông đảo cá nhân, tổ chức là những chuyên gia giỏi, tổ chức có khả năng và đủ điều kiện tham gia vào hoạt động giám định tư pháp Nhà nước thực hiện quản lý giám định tư pháp thông qua pháp luật; quản lý tiêu chuẩn giám định viên, tiêu chuẩn tổ chức chuyên môn tham gia hoạt động giám định, ban hành quy trình, quy chuẩn chuyên môn, giải quyết xung đột giám định, chế độ đãi ngộ vật chất, tinh thần đối với người giám định tư pháp, chính sách thu hút sự tham gia vào hoạt động giám định tư pháp từ xã hội, chế độ hoạt động giám định và phí giám định v.v Mặt khác, Nhà nước quản lý giám định tư pháp bằng quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ người giám định tư pháp phù hợp với chiến lược cải cách tư pháp Đồng thời định hướng phát triển và kiểm soát hoạt động giám định tư pháp đảm bảo ổn định, công bằng xã hội

Trang 36

Đặc trưng thứ ba: xã hội hóa giám định tư pháp có mối quan hệ chặt chẽ

với đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan tư pháp trong tiến trình cải cách tư pháp nhằm đảm bảo sự tương thích, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Cải cách tòa án là trọng tâm của cải cách tư pháp, trong đó, một nội dung quan trọng là chuyển từ cơ chế tố tụng xét hỏi sang cơ chế tố tụng thẩm vấn kết hợp với mở rộng tranh tụng nhằm dân chủ hóa hoạt động tố tụng, bảo đảm quyền tự định đoạt và chứng minh của các bên đương sự trong giải quyết các tranh chấp và yêu cầu hợp pháp của họ trước tòa án Các đương sự có quyền

và nghĩa vụ xuất trình chứng cứ (trong đó có kết luận giám định tư pháp) để

tự chứng minh Tòa án chỉ đóng vai trò trọng tài ra phán quyết trên cơ sở các đương sự xuất trình chứng cứ và tranh tụng trước tòa

Đối với các vụ án hình sự, trong trường hợp bắt buộc trưng cầu giám định, luật sư có quyền được thông báo kết luận giám định; có quyền thay mặt

bị can, bị cáo yêu cầu các cơ quan tố tụng trưng cầu giám định lại, giám định

bổ sung để đảm bảo tính khách quan của vụ án

3 Phạm vi, ý nghĩa của xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp

3.1 Phạm vi xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp

Xét về bản chất, giám định tư pháp là hoạt động của nhà chuyên môn, bằng việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật…để kết luận về chuyên môn những vấn đề liên quan đến vụ án theo trưng cầu, yêu cầu của các chủ thể tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật; giám định tư pháp không mang đặc trưng quyền lực nhà nước, với các đặc trưng đã được phân tích tại mục 2.2 phần II chương I trên đây, do đó, khả năng tham gia của xã hội đối với hoạt động giám định tư pháp là rất lớn

Do đặc thù của hoạt động giám định tư pháp, trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước chưa thể xã hội hóa tất cả các lĩnh vực giám định, vì trong giám định tư pháp, có lĩnh vực giữ vị trí đặc biệt quan trọng đối với an ninh quốc

Trang 37

gia, trật tự, an toàn xã hội hoặc ảnh hưởng lớn đến quyền lợi chung, cơ bản của cộng đồng, xã hội chưa đủ điều kiện và khả năng về mọi mặt để tham gia (như lĩnh vực giám định kỹ thuật hình sự, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần), Nhà nước có trách nhiệm phải bảo đảm Bên cạnh đó, có nhiều lĩnh vực, xã hội đã hội đủ điều kiện, sẵn sàng chia sẻ, tham gia cùng với Nhà nước

(giám định văn hóa, xây dựng, kế toán - tài chính…)

Vì vậy, phạm vi xã hội hóa giám định tư pháp trong giai đoạn hiện nay được xác định như sau:

+ Đối với các lĩnh vực: kỹ thuật hình sự, pháp y, pháp y tâm thần là những lĩnh vực có nhu cầu lớn, phục vụ thường xuyên cho hoạt động tố tụng, liên quan trực tiếp đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, Nhà nước thành lập, củng cố các tổ chức giám định tư pháp ở các lĩnh vực này; tập trung đầu tư mọi mặt cho các tổ chức này theo hướng hiện đại, đồng bộ, đáp ứng được yêu cầu của hoạt động tố tụng trong cải cách tư pháp và đáp ứng nhu cầu của xã hội vì mục đích dân sự Đồng thời, tạo điều kiện để các tổ chức này thực hiện chức năng nghiên cứu, ứng dụng, phát triển và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho công tác giám định tư pháp Hiện nay, các tổ chức này

đã có bộ máy hoặc con người, điều kiện cơ sở vật chất tương đối cơ bản, nhiều tổ chức đi vào hoạt động tương đối nề nếp và hiệu quả, Nhà nước chỉ cần củng cố, tạo điều kiện để phát huy;

+ Các lĩnh vực giám định tư pháp còn lại có nhu cầu không lớn, không thường xuyên, Nhà nước thực hiện xã hội hóa thông qua chính sách thu hút đội ngũ chuyên gia giỏi và các tổ chức chuyên môn có đủ điều kiện, năng lực

ở tất cả các lĩnh vực khoa học của đời sống xã hội, bao gồm cả khoa học kỹ thuật, khoa học công nghệ và khoa học xã hội Để thực hiện được việc này, Nhà nước cần quy định tiêu chuẩn của người giám định; ban hành quy chuẩn chuyên môn; quy trình giám định; đãi ngộ về vật chất, tinh thần; chế độ phí giám định… nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện xã hội hóa

3.2 Ý nghĩa xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp

Trang 38

Xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp có ý nghĩa quan trọng, thể hiện: + Xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp là biện pháp tích cực để khắc phục các nhược điểm về tổ chức và hoạt động giám định tư pháp hiện nay như: thiếu tính chuyên nghiệp, cứng nhắc, thiếu năng động và chưa phù hợp với điều kiện mới;

+ Xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp góp phần tích cực vào cải cách hành chính, cải cách tư pháp, làm cho bộ máy nhà nước gọn nhẹ, tiết kiệm chi ngân sách và tạo điều kiện để Nhà nước đổi mới quản lý vĩ mô, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội;

+ Xã hội hóa giám định tư pháp góp phần phát huy dân chủ, huy động động đảo nhân dân tham gia vào hoạt động giám định tư pháp; là biện pháp tích cực phát huy nội lực, huy động được các nguồn lực xã hội tham gia, phát triển và hiện đại hóa giám định tư pháp, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế.9

III KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

VÀ XÃ HỘI HOÁ HOẠT ĐỘNG GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

1 Về khái niệm giám định tư pháp

Qua nghiên cứu pháp luật của các nước Đức, Pháp, Thuỵ Điển, Nhật Bản, Trung Quốc cho thấy, các nước này đều quan niệm giám định tư pháp là một biện pháp điều tra để thu thập chứng cứ, do các nhà chuyên môn ở từng lĩnh vực thực hiện nhằm làm sáng tỏ các khía cạnh chuyên môn, góp phần giải quyết các vụ án Giám định tư pháp không phải là một nghề mà là một nhiệm vụ của các nhà chuyên môn và giám định viên tư pháp không phải là nhân viên bổ trợ tư pháp mà là một cộng sự của cơ quan tiến hành tố tụng

Các nước đều có quan niệm chung về giám định tư pháp là giám định được thực hiện bởi nhà chuyên môn (người am hiểu, tinh thông về lĩnh vực cần giám định) để làm sáng tỏ vấn đề có liên quan đến vụ án dưới góc độ chuyên môn phục vụ cho việc giải quyết vụ án được chính xác, khách quan

9 Ths.Trần Diện, Xã hội hóa giám định tư pháp ở Việt Nam hiện nay, luận văn thạc sỹ luật học,

2009, Học viện Chính trị- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 39

Cộng hoà liên bang Đức, Cộng hoà Pháp cho phép cá nhân, tổ chức nói chung, người tham gia tố tụng nói riêng được tự mình yêu cầu giám định để phục vụ cho việc tham gia tố tụng của họ nhưng việc giám định đó không được coi là giám định tư pháp vì không phải do cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu Tuy nhiên, bên cạnh đó, Thụy Điển lại không căn cứ vào chủ thể trưng cầu là cơ quan tiến hành tố tụng hay là người tham gia tố tụng tự mình yêu cầu giám định mà quan trọng là việc giám định đó có được đánh giá và sử dụng làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án hay không Theo đó, nếu kết luận giám định nào phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án và được Hội đồng xét xử chấp nhận làm căn cứ để giải quyết vụ án thì đều được coi là giám định

tư pháp Trong trường hợp kết luận giám định do người tham gia tố tụng tự mình yêu cầu và được chấp nhận làm căn cứ cho việc xét xử vụ án thì sẽ được Nhà nước hoàn trả chi phí cho việc thực hiện vụ việc giám định đó

tế Tuy nhiên, ở một số nước thì ngoài ở hệ thống cơ quan y tế, giám định pháp y còn có ở quân đội, công án, thậm chí cả ở Viện kiểm sát (Trung quốc)

Về pháp y thương tích, thì hầu hết các nước đều có cơ chế tạo điều kiện cho tất cả các bác sỹ thuộc các chuyên khoa làm việc tại các cơ sở y tế thuộc mọi thành phần kinh tế đều có thể tham gia vào hoạt động giám định tư pháp nếu như được trưng cầu

Còn ở các lĩnh vực khác, các nước không thành lập tổ chức, chỉ bổ nhiệm hoặc công nhận và lập Danh sách giám định viên

Trang 40

- Trước đây 10 - 12 năm, Chính phủ Anh quyết định tư nhân hóa và cổ phần hóa (xã hội hóa) một số phòng thí nghiệm giám định kỹ thuật hình sự Lợi ích mang lại là khi tư nhân hóa, cổ phần hóa Nhà nước đã thu được một khoản tài chính lớn, đã tạo được sự cạnh tranh giữa các phòng thí nghiệm của nhà nước với tư nhân và các phòng thí nghiệm tư nhân với nhau, đã huy động được nhiều lực lượng khoa học tham gia, có nhiều phát minh và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật được thực hiện để nâng cao năng lực giám định

Tuy nhiên, những năm gần đây, các cơ quan tố tụng đã gặp rất nhiều khó khăn khi trưng cầu các phòng thí nghiệm tư nhân giám định vì chi phí giám định quá cao Một bất cập khác nữa là các phòng thí nghiệm tư nhân thường không đầu tư kinh phí xây dựng các loại tàng thư, cơ sở dữ liệu, mà thường cơ quan cảnh sát phải đầu tư làm phần việc này, do vậy, việc quản lý, khai thác rất phức tạp

3 Về giám định viên

3.1 Quan niệm về giám định viên

Nhìn chung, các nước đều quan niệm, bất kỳ một nhà chuyên môn nào không phân biệt là công chức nhà nước hay người hành nghề tự do đều có thể

là người giám định nếu như người đó thực sự am hiểu, tinh thông trong lĩnh vực cần giám định và được các cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu giám định Vì vậy, người giám định có thể là công chức nhà nước thuộc các cơ quan chuyên môn của nhà nước hoặc cũng có thể là nhà chuyên môn ở ngành nghề, lĩnh vực khác nhau thuộc quyền quản lý của các hiệp hội ngành nghề hoặc hành nghề tự do Với cách thức như vậy, các nước này có thể huy động được đội ngũ các nhà chuyên môn giỏi ở tất cả các lĩnh vực vào hoạt động giám định tư pháp

Tuy nhiên, hầu hết các nước đều có phân loại người giám định thành giám định viên (người được cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc công nhận và ghi danh) và người giám định tự do hoặc theo vụ việc

Ngày đăng: 15/04/2014, 10:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ cho trên Hình 1. - Xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
Sơ đồ cho trên Hình 1 (Trang 196)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w