1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin phục vụ xây dựng luật tiếp cận thông tin

507 964 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin phục vụ xây dựng luật tiếp cận thông tin
Tác giả PGS-TS Thái Vĩnh Thắng, Th.s. Trần Ngọc Định
Trường học Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 507
Dung lượng 3,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những quy định trên đây về việc tiếp cận thông tin của công dân và nghĩa vụ của cơ quan Nhà nước về cung cấp thông tin trong một số lĩnh vực và phạm vi địa bàn áp dụng cũng đã khá rõ tuy

Trang 1

Chủ nhiệm đề tài : PGS-TS Thái Vĩnh Thắng

Chủ nhiệm khoa Hành chính- Nhà nước

Đại hoc luật Hà Nội

Thư ký đề tài: Th.s Trần Ngọc Định

Giảng viên Khoa Hành chính- Nhà nước

Đại học luật Hà Nội

Cơ quan chủ trì: Viện khoa học pháp lý

Bộ tư pháp

8985

HÀ NỘI, 2011

Trang 2

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ:

NĂM 2009-2010

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIẾP CẬN THÔNG TIN PHỤC VỤ XÂY DỰNG LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN

Chủ nhiệm đề tài : PGS-TS Thái Vĩnh Thắng

Chủ nhiệm khoa Hành chính- Nhà nước

Đại học luật Hà Nội

Thư ký đề tài: Th.s Trần Ngọc Định

Giảng viên Khoa Hành chính- Nhà nước

Đại học luật Hà Nội

Cơ quan chủ trì: Viện khoa học pháp lý

Bộ tư pháp

Thành viên tham gia nghiên cứu:

1 PGS.TS Thái Vĩnh Thắng - Đại học luật Hà Nội

2 PGS.TS Nguyễn Như Phát - Viện Nhà nước và Pháp luật

3 TS Nguyễn Kim Thoa - Vụ Pháp luật hình sự- hành chính, Bộ tư pháp

4 PGS.TS Nguyễn Thị Hồi - Đại học luật Hà Nội

5 TS Tô Văn Hoà - Đại học luật Hà Nội

6 ThS Trần Ngọc Định - Đại học luật Hà Nội

7 PGS.TS Tường Duy Kiên - Viện nghiên cứu quyền con người, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

8 TS Hoàng Thị Ngân - Văn phòng Chính phủ

9 TS Bùi Thị Đào - Trường Đại học luật Hà Nội

10 GS.TS Nguyễn Đăng Dung - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

11 ThS Nguyễn Thị Hạnh - Vụ pháp luật hình sự- hành chính, Bộ tư pháp

12 TS Nguyễn Thị Thu Vân -Vụ pháp luật kinh tế - dân sự, Bộ Tư pháp

13 GS.TSKH Lê Văn Cảm – Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

14 ThS Nguyễn Đức Lam - Văn phòng Quốc hội

15 TS Nguyễn Quốc Hoàn - Đại học luật Hà Nội

16 LG Nguyễn Chu Dương - Nhà nghiên cứu luật học

Trang 3

MỤC LỤC 3

A BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 7

Phần Mở đầu 7

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 7

2 Tình hình nghiên cứu 13

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 25

4 Phương pháp nghiên cứu 25

Chương 1: Cơ sở lý luận pháp luật về tiếp cận thông tin 26

1.1 Khái niệm quyền tiếp cận thông tin và pháp luật về tiếp cận thông tin 26

1.2 Tầm quan trọng của pháp luật về tiếp cận thông tin đối với mỗi quốc gia 28

1.3 Nội dung cơ bản của pháp luật về tiếp cận thông tin 35

1.3.1 Phạm vi cung cấp thông tin /giới hạn cung cấp thông tin 35

1.3.2 Các nguyên tắc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin 38

1.3.3 Chủ thể của quyền tiếp cận thông tin 39

1.3.4 Các yếu tố cấu thành quyền tiếp cận thông tin 43

1.3.5 Thủ tục thực hiện quyền tiếp cận thông tin 49

1.3.6 Thủ tục khiếu nại, khiếu kiện 53

1.3.7 Hình phạt, các biện pháp bảo hộ,các biện pháp khuyến khích thực thi pháp luật 56

Chương 2: Luật tiếp cận thông tin/tự do thông tin trong pháp luật quốc tế và pháp luật của một số nước trên thế giới 57

2.1 Luật tiếp cận thông tin trong pháp luật quốc tế 57

2.2 Luật tiếp cận thông tin của một số nước trên thế giới 58

2.2.1 Luật tiếp cận thông tin của một số nước Châu Âu 58

2.2.2 Luật tiếp cận thông tin của một số nước Châu Mỹ- La Tin 70

2.2.3 Luật tiếp cận thông tin của một số nước châu Phi 79

2.2.4 Luật tiếp cận thông tin của một số nước Châu Á và châuÚc 82

2.3 Những đặc điểm chung và đặc thù trong pháp luật tiếp cận 94

thông tin và thực hiện pháp luật tiếp cận thông tin của một

Trang 4

số nước trên thế giới

2.4 Những kinh nghiệm có thể áp dụng vào Việt Nam 97

Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay Việt Nam hiện nay 100

3.1 Sự hình thành và phát triển của pháp luật về tiếp cận thông tin ở Việt Nam 100

3.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật về tiếp cận thông tin theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay 102

3.3 Thực trạng thực hiện pháp luật về tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay 107

Chương 4 Xây dựng Luật về tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay 121

4.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam 121

4.2 Nội dung cơ bản của dự thảo Luật tiếp cận thông tin

của Việt Nam 125

4.3 Một số kiến nghị đối với dự thảo Luật tiếp cận thông tin 128

B CÁC BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ 133

Phần1 Cơ sở lý luận pháp luật về quyền tiếp cận thông tin 133

Chuyên đề 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu pháp luật về quyền tiếp cận thông tin 133

PGS-TS Thái Vĩnh Thắng&TS Tô Văn Hoà Đại học luật Hà Nội Chuyên đề 2 Khái niệm và nội dung của quyền tiếp cận thông tin 146

TS nguyễn Quốc Hoàn Đại học luật Hà Nội Chuyên đề 3 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về tiếp cận thông tin 162

PGS-TS Thái Vĩnh Thắng Đại học luật Hà Nội Chuyên đề 4 Vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với công dân trong tham gia phản biện, giám sát xã hội, trong đấu tranh phòng chống tham nhũng và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch, hiệu quả 174

TS Nguyễn Thị Thu Vân Vụ pháp luật kinh tế- dân sự, Bộ tư pháp Chuyên đề 5 Giới hạn của quyền tiếp cận thông tin 190

PGS-TS Thái Vĩnh Thắng Đại học luật Hà Nội Chuyên đề 6 Những điều kiện đảm bảo quyền tiếp cận thông tin 201

Trang 5

TS Bùi Thị Đào

Đại học luật Hà Nội

Chuyên đề 7 Thủ tục thực hiện quyền tiếp cận thông tin, thủ tục

khiếu nại, khiếu kiện liên quan đến quyền tiếp cận thông tin 218

TS Nguy ễn Kim Thoa

Vụ pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ tư pháp

Phần 2 Pháp luật về tiếp cận thông tin trong pháp luật quốc tế và

pháp luật nước ngoài 263

Chuyên đề 8 Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật quốc tế 263

PGS-TS Tường Duy Kiên & LG Phạm Hồng Sơn

Chuyênđề 9 Luật tiếp cận thông tin một số nước châu Âu 271

PGS-TS Thái Vĩnh Thắng & LG Nguyễn Chu Dương

Chuyên đề 10 Luật tiếp cận thông tin một số nước châu Mỹ - Latin

và châu Phi 283

PGS-TS Thái Vĩnh Thắng & LG Nguyễn Chu Dương

Chuyên đề 11 Luật tiếp cận thông tin một số nước châu Á và châu Úc 295

PGS-TS Thái Vĩnh Thắng & LG Nguyễn Chu Dương

Chuyên đề 12 Kinh nghiệm xây dựng và thực hiện luật về tiếp

cận thông tin của một số quốc gia trên thế giới 307

Th.S Nguyễn Thị Hạnh,

Vụ pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ tư pháp

Chuyên đề 13 Giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về tiếp cận thông tin:

thực tiễn các nước và liên hệ với Việt Nam 321

Th.S Nguyễn Đức Lam

Văn phòng Quốc hội

Phần 3 Thực trạng pháp luật và đảm bảo thực hiện pháp luật

về tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay 351

Chuyên đề14 Sự hình thành, phát triển và thực trạng pháp luật

về quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay 351

PGS-TS Thái Vĩnh Thắng & PGS-TS Tường Duy Kiên

Chuyên đề 15 Cơ chế đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của công

dân ở Việt Nam hiện nay 360

PGS-TS Tường Duy Kiên

Chuyên đề 16 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà

nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam về quyền được thông

tin của công dân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới 379

PGS-TS Thái Vĩnh Thắng & PGS-TS Tường Duy Kiên

Trang 6

Chuyên đề 17 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

và yêu cầu đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của công dân 394

PGS-TS Thái Vĩnh Thắng Chuyên đề 18 Những hạn chế và bất cập của pháp luật về tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay 404

GS-TS Nguyễn Đăng Dung Phần 4 Xây dựng Luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay 415

Chuyên đề 19 Sự cần thiết phải xây dựng Luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay 415

PGS-TS Thái Vĩnh Thắng Đại học luật Hà Nội

Chuyên đề 20 Những nguyên tắc cơ bản của dự luật tiếp cận thông tin 425

TS Tô Văn Hoà Đại học luật Hà Nội Chuyên đề 21 Quyền tiếp cận thông tin và xây dựng Chính phủ mở trong điều kiện hội nhập quốc tế 441

TS Hoàng Thị Ngân Văn phòng Chính phủ Chuyên đề 22 Cấu trúc và những chế định cơ bản của dự thảo Luật tiếp cận thông tin của Việt Nam 471

Th.S Nguyễn Thị Hạnh

Vụ pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ tư pháp

Tài liệu tham khảo 499

Trang 7

1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Quyền tiếp cận thông tin (Right to access to information) là quyền của

con người và công dân được tiếp cận các thông tin, đã ban hành và lưu giữ

tại các cơ quan, tổ chức công quyền đặc biệt là các cơ quan hành chính Nhà

nước Các cơ quan công quyền nắm giữ thông tin không vì bản thân họ mà với tư cách là người bảo vệ lợi ích của công chúng Thông

tin được coi là tài sản Quốc gia và cũng như mọi tài sản khác không thể để

cho một cá nhân hay tổ chức nào độc quyền chiếm đoạt nếu đó không phải

là các thông tin liên quan đến bí mật quốc gia, bí mật kinh doanh, bí mật

trong giai đoạn điều tra tội phạm, bí mật cá nhân Quyền tiếp cận thông tin

được coi là một trong những quyền cơ bản của con người và công dân Điều

19 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền đã khẳng định: “Mọi người có quyền

tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến, quyền này bao gồm quyền tự do giữ quan

điểm không có sự can thiệp và tự do tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ các ý

tưởng và thông tin bằng bất kỳ phương tiện nào mà không có biên giới”

Điều 19 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 cũng

đã quy định: “Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai

được can thiệp vào Mọi người có quyền tự do ngôn luận, quyền này bao

gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến,

không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng hoặc bản viết, in,

hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng

khác tuỳ theo sự lựa chọn của họ”

Trong khoảng 20 năm gần đây đã diễn ra một cuộc cách mạng toàn cầu về

quyền tiếp cận thông tin Bản chất của cuộc cách mạng này là công nhận

quyền của cá nhân được tiếp cận thông tin của cơ quan công quyền Quyền

này ngày nay đã được nhìn nhận rộng rãi là một quyền con người cơ bản,

như hòn đá tảng của nền dân chủ và của nền quản trị tốt và là công cụ hữu

hiệu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Quyền được thông tin/ tiếp cận thông tin không những được quy định trong

nhiều văn kiện của Liên Hợp Quốc, trong Hiến pháp của hầu hết các nước

trên thế giới mà còn được thể hiện bằng Luật về tiếp cận thông tin

Nếu năm 1990 trên thế giới chỉ có 13 nước đã ban hành Luật tiếp cận thông

tin thì đến năm 2009, đã có 86 nước ban hành luật về tiếp cận thông tin:

Thụy Điển (1766), Colombia (1885), Phần Lan (1919), Mỹ (1966), Na Uy

(1970), Pháp (1978), Úc (1982), Canada (1983), Đan Mạch (1985), Hà Lan

(1991); Hungary (1992), Hàn Quốc (1996), Kirgizstan (1997), Thái Lan

Trang 8

(1997), Anbani (1999), Bungary (2000, Nam Phi (2000), Anh (2000), Jamaica (2002), Mexico (2002), Thổ Nhĩ Kỳ (2003), Pêru (2003), Nhật Bản (2004), Ấn Độ (2005), Azerbaijan (2005), Uganda (2005), LB Nga (2006), Indonesia (2007)… Trung Quốc cũng đã ban hành Pháp lệnh về quyền tiếp cận thông tin năm 2007; 30 quốc gia khác đang nỗ lực xem xét ban hành luật này

Ở Việt Nam, quyền được thông tin đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm

1992 và nhiều văn bản pháp luật khác, tuy nhiên cho đến nay Nhà nước ta vẫn chưa có đạo luật riêng quy định về quyền này Quyền tiếp cận thông tin

ở Việt Nam hiện nay được thể hiện rãi rác trong nhiều văn bản pháp luật: Luật phòng chống tham nhũng năm 2005, Luật báo chí năm 1989, Luật xuất bản năm 2004, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2004, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Luật kiểm toán Nhà nước năm 2005, Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí năm 2005, Pháp lênh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, Pháp lệnh về vệ sinh an toàn thực phẩm năm

2003 Đặc biệt trong Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm

2007 đã quy định những nội dung phải công khai để nhân dân biết, nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát, trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, của cán bộ thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố, của cơ quan tổ chức cá nhân có liên quan

Những quy định trên đây về việc tiếp cận thông tin của công dân và nghĩa

vụ của cơ quan Nhà nước về cung cấp thông tin trong một số lĩnh vực và phạm vi địa bàn áp dụng cũng đã khá rõ tuy nhiên việc thực hiện các quy định nói trên còn rất hạn chế vì trong tất cả các văn bản pháp luật nói trên hầu như rất ít chế tài quy định về vấn đề xử phạt việc không cung cấp thông tin và những quy định nói trên nằm rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau và thiếu tính hệ thống nên vẫn chưa có một cơ chế hữu hiệu để đảm bảo cho công dân được thực hiện một cách đầy đủ quyền tiếp cận thông tin Theo Toby Mendel, chuyên gia hàng đầu của Liên hợp quốc về quyền tiếp cận thông tin, trong công trình nghiên cứu “Tầm quan trọng của Quyền tiếp cận thông tin: Xu hướng, Địa vị và Đặc điểm” 1, tổ chức phi Chính phủ Quốc tế về nhân quyền có tên là ARTICLE 19 đã coi thông tin là “khí oxy của nền dân chủ” Thông tin là nguồn sống cơ bản của nền dân chủ vì về bản chất dân chủ là khả năng của cá nhân tham gia một cách hiệu quả vào quá trình ra quyết định có ảnh hưởng đến cá nhân đó 2.Quyền tiếp cận thông tin

1 Kỷ yếu Hội thảo quốc tế: “Xây dựng Luật tiếp cận thông tin tại Việt Nam” ngày 06-07/05/2009 tại Hà Nội.- (Trang 30)

Trang 9

xứng đáng được coi là “oxy của nền dân chủ” bởi suy cho cùng nó là quyền

để thực hiện mọi quyền Vì không có thông tin thì người dân không thể biết, không thể bàn, không thể làm, không thể kiểm tra về bất cứ vấn đề gì Nói một cách khác tất cả các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội của công dân đều chỉ có thể đảm bảo thực hiện trên cơ sở đảm bảo quyền tiếp cận thông tin

Quyền tiếp cận thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện các quyền chính trị, dân sự và các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội của công dân

Quyền chính trị của công dân bao gồm các quyền: tham gia quản lý công

việc của Nhà nước và xã hội, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, tham gia xây dựng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện quyền bầu cử

và ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước, tham gia thực hiện giám sát

bộ máy nhà nước, thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, quyền tự do ngôn luận,

tự do báo chí, tự do hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật,

tự do thể hiện ý chí của mình khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý Muốn thực hiện các quyền trên đây trước hết công dân phải có đầy đủ các thông tin Nếu không có thông tin hoặc thông tin không đầy đủ công dân không thể thực hiện các quyền Hiến định đó của mình; chẳng hạn để thực hiện quyền bầu cử nếu các cơ quan có thẩm quyền không cung cấp đầy đủ các thông về các ứng cử viên trong danh sách bầu cử, người dân không biết lựa chọn người nào vì vậy mặc dù có quyền lựa chọn nhưng người dân không thể thực hiện được quyền này Các đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn các thành viên của Chính phủ trong các phiên họp của Quốc hội nhưng nếu các đại biểu Quốc hội không được cung cấp thông tin đầy đủ hoặc không có bộ máy giúp việc có năng lực hoặc không có các cơ quan chuyên môn của Quốc hội như Thanh tra Quốc hội (Ombudsman) hay Kiểm toán Quốc hội (Parliamentary Audit), các đại biểu Quốc hội không thể có thông tin để đối chiếu với những số liệu mà các Bộ trưởng đã đưa ra khi trả lời chất vấn thì quyền chất vấn cũng chỉ là hình thức Ngay quyền bỏ phiếu để thông qua kế hoạch dài hạn và ngắn hạn nếu không có thông tin đầy đủ thì các đại biểu Quốc hội cũng không dám chắc việc “bấm nút” của mình đúng hay sai Mức

độ tham gia của công dân vào việc xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh được hình thành trên cơ sở các thông tin mà công dân nắm được Việc các khu đô thị mới ở Hà Nội hình thành một cách nhanh chóng với dân

số ngày càng tăng theo mức độ phát triển của các khu đô thị, tuy nhiên các trường học từ mẫu giáo đến tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông

ở các khu vực đó lại không được xây dựng dẫn đến tình trạng các trường học

ở Hà Nội bị quá tải, trẻ em các khu vực đô thị mới phải đi học xa hoặc phải chịu mọi sự bất tiện do thiếu trường học trên địa bàn của mình cũng là hệ quả của việc thiếu các thông tin toàn diện và việc thiếu vai trò điều hoà, phối

Trang 10

hợp giữa các bộ, ngành do các bộ ngành này không nắm được thông tin của các bộ ngành khác

Do không có các thông tin đầy đủ, việc thực hiện quyền khiếu nại tố cáo của công dân sẽ rất khó khăn Chẳng hạn họ không biết gửi đơn khiếu kiện đến cơ quan nào, thủ tục giải quyết khiếu kiện sẽ ra sao, ai là người chịu trách nhiệm chính về loại vụ việc này Do không có thông tin đầy đủ người dân có thể buộc phải chịu đựng tình trạng vi phạm pháp luật của các cơ quan công quyền, vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của họ mà không dám đấu tranh vì các cơ quan công quyền đặc biệt là các cơ quan hành chính Nhà nước đã bưng bít các thông tin

Mọi công dân đều có đầy đủ các quyền dân sự của mình Một trong các quyền dân sự của công dân là quyền được yêu cầu bồi thường khi họ là nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam giữ bất hợp pháp Công dân chỉ có thể đấu tranh để thực hiện quyền này khi họ được cung cấp thông tin về điều kiện và mức độ bồi thường, cơ quan bồi thường Nếu không có các thông tin đó người dân sẽ rất khó khăn khi bảo vệ các quyền của mình Quyền tài sản là quyền dân sự đặc biệt quan trọng của công dân Khi vì lợi ích công các bất động sản của công dân có thể bị nhà nước trưng dụng với sự đền bồi thoả đáng Tuy nhiên, công dân chỉ có thể bảo vệ được quyền đền bù thoả đáng này khi họ được nhà nước cung cấp đầy đủ và chính xác về giá cả đền bù và các thủ tục cần thiết trong việc đền bù do giải phóng mặt bằng

Như vậy nếu không có thông tin đầy đủ thì các quyền dân sự của người dân khó có thể được đảm bảo thực hiện

Quyền tiếp cận thông tin có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội của công dân

Quyền tự do kinh doanh là một quyền cơ bản của công dân, tuy nhiên muốn thực hiện quyền này công dân phải có đầy đủ thông tin trong lĩnh vực kinh tế chẳng hạn công dân cần phải có đầy đủ các thông tin về nhu cầu tiêu dùng của xã hội, về thị trường tiêu thụ hàng hoá trên cơ sở đó người dân đầu

tư vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh mới có hiệu quả Khi có đầy đủ thông tin công dân có thể xác định đúng sản xuất mặt hàng gì, yêu cầu chất lượng như thế nào và tiêu thụ ở đâu Tình trạng nhiều nơi nông dân trồng mía, nuôi bò sữa, trồng các loại hoa quả, chăn nuôi các loại gia cầm, gia súc nhưng không bán được sản phẩm của mình do nhu cầu tiêu thụ ít nhưng sản xuất lại nhiều, mặt hàng cần thì không có, mặt hàng có thì không cần chính

là do sự thiếu thông tin theo quy luật cung cầu trong nền kinh tế thị trường Hoặc trong trường hợp khác, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền không cung cấp cho người dân biết những thông tin về nguy cơ phá sản hay tình trạng đã phá sản của một số doanh nghiệp của Nhà nước cũng như tư nhân thì người dân có thể sẽ mất trắng hàng trăm triệu, hàng chục tỷ đồng nếu làm

ăn với các doanh nghiệp đã hoặc đang trên đà phá sản mà họ không biết

Trang 11

Đối với quyền học tập của công dân cũng vậy Các cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền phải có nghĩa vụ cung cấp cho người dân những thông tin cần thiết về các nghề nghiệp mà xã hội đang cần, mặt khác cũng cần cung cấp các thông tin về những ngành nghề mà nhiều người đã tốt nghiệp được cấp các bằng đại học, cao đẳng hoặc trung cấp chuyên nghiệp nhưng không

có việc làm Nếu không có thông tin đầy đủ về các chỉ số trên đây thì sẽ dẫn đến tình trạng đào tạo tràn lan, đào tạo theo nhu cầu cảm tính, cán bộ vừa thừa vừa thiếu Con số ước tính chỉ có khoảng 40% sinh viên các trường đại học sau khi tốt nghiệp có việc làm theo đúng chuyên ngành đào tạo hiện nay

ở Việt Nam đã nói lên tình trạng này, chưa nói đến những sai lầm về đào tạo cán bộ trong thời kỳ theo cơ chế hành chính quan liêu bao cấp Trong thời

kỳ đó do thiếu thông tin cần thiết nên chúng ta đã gửi các con em đi đào tạo

ở nước ngoài không đúng trọng tâm, trọng điểm Do không biết ngành gì đào tạo ở trường nào, ở nước nào thì có chất lượng cao nhất nên hầu như trong thời kỳ này, các sinh viên đi học nước ngoài bất cứ ngành gì cũng gửi

đi đào tạo ở Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu trong khi đó các trường

có chất lượng cao nhất trong lĩnh vực đó như ở Anh, Nhật Bản, Hà Lan, Pháp, Đức , Canađa và các nước tư bản phát triển thì Nhà nước không gửi người đi đào tạo Do thiếu thông tin khoa học đặc biệt là những thông tin khoa học cập nhật, các lĩnh vực khoa học đặc biệt là khoa học xã hội của Việt Nam đã lạc hậu so với nhiều nước tiên tiến trên thế giới Cũng do thiếu thông tin về hình thức và phương pháp đào tạo ở nước ngoài nên trong một thời gian dài chỉ có hình thức đào tạo công lập đồng thời phương pháp đào tạo mang tính chất cổ truyền, đào tạo theo chương trình tín chỉ chỉ được đào tạo trong thời gian gần đây

Quyền tiếp cận thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện các chính sách tạo công ăn việc làm cho công dân đặc biệt là các chính sách xuất khẩu lao động ra nước ngoài Do không có thông tin đầy đủ và chính xác về việc làm và chế độ tiền lương ở nước ngoài mà một số công nhân xuất khẩu lao động với những chi phí tốn kém để ra nước ngoài lao động ở nước ngoài nhưng khi ra nước ngoài họ đã thất vọng vì công việc nặng nhọc mà đồng lương thấp, hoặc không có việc làm buộc họ phải trở về nước với những khoản nợ nặng nề do chi phí cho các dịch vụ môi giới tìm kiếm việc làm ở nước ngoài Sự thiếu thông tin cần thiết và đầy đủ cũng tước đi khả năng của công dân có thể hưởng thụ những tinh hoa văn hoá của nhân loại như thông tin về những thành tựu mới trong văn học nghệ thuật,

âm nhạc, trong phát minh sáng chế, trong các thành tựu y học về giải phẩu

về khả năng chữa các căn bệnh hiểm nghèo, các thành tựu trong lĩnh vực vật liệu xây dựng và công nghệ sinh học tạo ra các giống cây mới, vật nuôi mới

có năng suất và giá trị kinh tế cao

Trang 12

Việc cung cấp đầy đủ các thông tin cho công dân về môi trường, chất lượng đào tạo, ngành nghề đào tạo, phương pháp đào tạo ở nước ngoài có thể giúp cho các bậc phụ huynh chọn đúng trường, đúng ngành nghề, phù hợp với khả năng kinh tế của mình để có thể định hướng cho con em họ có thể đến những nơi tốt nhất để học tập, rèn luyện để sớm thành đạt trong nghề nghiệp của mình khi ra trường

Một trong các quyền thuộc về lĩnh vực các quyền kinh tế,văn hoá, xã hội là quyền được sống trong môi trường trong sạch, tuy nhiên nếu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền không cung cấp thường xuyên các số liệu về mức

độ ô nhiễm không khí, sự trong sạch của các nguồn nước thì người dân có thể không biết họ đang sống trong một môi trường bị ô nhiễm về mức độ tiếng ồn, về mức độ bụi trong không khí, về các nguồn nước uống có chứa các chất độc hại, các thực phẩm mà người dân sử dụng hàng ngày nếu không

có thông tin đầy đủ người dân cũng có thể sử dụng các thực phẩm độc hại như hoa quả được tẩm hoá chất để bảo quản lâu ngày, các loại rau quả bị nhiễm thuốc trừ sâu, các loại thịt có nguy cơ được đưa đến từ một vùng mà súc vật đang bị các bệnh dịch

Từ những phân tích trên đây có thể đi đến kết luận quyền tiếp cận thông tin chính là điều kiên tiên quyết để đảm bảo thực hiện các quyền con người

và quyền công dân Việc ban hành Luật tiếp cận thông tin đối với Việt nam hiện nay là cần thiết và cấp bách Trong thời đại hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá quyền tiếp cận thông tin đã và đang trở nên một quyền cơ bản và là một trong những quyền quan trọng nhất của con người và công dân

Quyền tiếp cận thông tin ( Right to acces to information) là một trong những quyền cơ bản của công dân, của con người, bảo đảm quyền được thông tin là một trong những điều kiện cần thiết để xây dựng một thể chế dân chủ và nhà nước pháp quyền Trong bối cảnh đất nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, thông tin trở thành một yêu cầu vô cùng cần thiết trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo đảm thực hiện công bằng xã hội và an sinh xã hội, nâng cao dân trí, xây dựng nhà nước và hoàn thiện pháp luật để phát huy rộng rãi

sự tham gia của người dân vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, giám sát công quyền, tăng cường tính công khai minh bạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phòng và chống tham nhũng, lãng phí, sử dụng có hiệu quả ngân sách nhà nước Quyền tiếp cận thông tin cũng bảo đảm mỗi cá nhân thực hiện các quyền khác tốt hơn và bảo vệ các lợi ích hợp pháp của

họ Phương châm các công việc quan trọng của nhà nước “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” theo tư duy lô gic của một chuyên gia về luật tiếp cận thông tin có thể diễn đạt như sau: “ dân biết nhờ có thông tin, dân bàn nhờ có thông tin, dân làm nhờ có thông tin, dân kiểm tra nhờ có thông tin” Nói cách khác thông tin là tất cả, là điều kiện tiên quyết để thực hiện các

Trang 13

quyền con người và công dân Thông tin là ô xy của nền dân chủ, nếu thông tin không được đảm bảo, thông tin sai lệch hoặc bưng bít thông tin, quyền làm chủ của nhân dân khó có thể thực hiện được

Nhận thức được tầm quan trọng của quyền tiếp cận thông tin trong việc phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường tính công khai minh bạch và hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành TW Đảng (Khoá X) tháng 8-2006 đã chỉ rõ: “ Xem xét, sửa đổi các danh mục bí mật nhà nước nhằm mở rộng công khai” và “Nghiên cứu ban hành Luật về bảo đảm quyền được thông tin của công dân” Đây là chủ trương quan trọng của Đảng, là định hướng quan trọng cho việc bảo đảm thực tế quyền được thông tin ở nước ta, góp phần vào cuộc chiến chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện tốt hơn các quyền công dân và quyền con người ở Việt Nam

Thực hiện Nghị quyết của Đảng, việc nghiên cứu đề tài Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin phục vụ xây dựng Luật tiếp cận thông tin là hết sức cần thiết Đề tài đáp ứng yêu cầu về mặt lý luận cũng như thực tiễn hiện nay ở Việt Nam

2.Tình hình nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:

Quyền được thông tin hay quyền tiếp cận thông tin (Right to access to information) được coi là một trong các quyền cơ bản của con người đã được Liên Hợp Quốc cũng như nhiều tổ chức quốc tế và khu vực công nhận Phần lớn các quốc gia trên thế giới, khi tham gia vào các điều ước quốc tế về quyền con người ở cấp quốc gia và khu vực đều trực tiếp hay gián tiếp công nhận, tôn trọng quyền được thông tin của cá nhân Sự bùng nổ của internet

và tiến bộ khoa học kỹ thuật trong thông tin, nhận thức về dân chủ, tự do cá nhân và yêu cầu phát triển kinh tế tại các quốc gia đã đưa đến sự bùng phát

làn sóng ban hành Luật tự do thông tin/ Luật tiếp cận thông tin lan rộng

trên toàn cầu và tại khắp các lục địa Cho đến nay đã có gần 90 quốc gia trên thế giới ban hành một đạo luật riêng để cụ thể hoá và bảo đảm thực thi quyền được thông tin ở quốc gia mình, từ những nước phát triển như Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, Hà Lan, Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Nhật Bản, Canada cho đến những nước đang phát triển như Thái Lan, Ấn Độ, Hy Lạp, Mexico, Georgia, Ba Lan, Romania, Bulgary, Peru, Azerbaijan , Jordani, hay thậm chí cả những nước còn đang phát triển ở trình độ tương đối thấp như Pakistan, Kyrgyzstan, Albania, Nepal hay Uganda Sự bùng nổ pháp luật thực định về quyền được thông tin ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế là một dấu hiệu cho thấy sự dồi dào các tài liệu nghiên cứu dưới các hình thức khác nhau cung cấp cơ sở lý luận cũng như thực tiễn cho việc nghiên cứu xây

Trang 14

dựng một cách toàn diện pháp luật về quyền được thông tin Các nghiên cứu quốc tế trong lĩnh vực này đã có sự phát triển từ rất lâu đời và cho đến nay

đã ở trình độ cao ở cả khía cạnh chiều rộng và chiều sâu

Ở mức độ nghiên cứu khái quát, những công trình nghiên cứu có uy tín cao của các nhà luật học Anh như Freedom of Information: The Law, the Practice and the Ideal ( Tự do thông tin: Pháp luật, thực tiễn và lý tưởng) của Patrick Birkinshaw (2001) hay Blackstone’s Guide to the Freedom of Information Act ( Bình luận của Blackston về đạo luật tự do thông tin) của John Wadham, Jonathan Griffiths và Kelly Marris (2002) Đặc biệt là công trình nghiên cứu: “Báo cáo đánh giá so sánh pháp luật về tiếp cận thông tin” của chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Luật tiếp cận thông tin là Tony Mendel, xuất bản năm 2008 Các công trình nghiên cứu này đã phân tích, so sánh quyền tiếp cận thông tin trong mối quan hệ với các quyền khác của con người đã được quy định trong các điều ước quốc tế như quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do báo chí, tự do xuất bản; vai trò của nó trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền và đảm bảo thực hiện các quyền công dân và quyền con người…Những tác phẩm này rất có giá trị trong việc cung cấp một cách nhìn về quyền được thông tin từ góc độ pháp luật quốc tế về quyền con người

Đi sâu vào nghiên cứu nội dung của pháp luật về quyền tiếp cận thông tin trong các tác phẩm như Freedom of Information: The Law, the Practice and the Ideal (Tự do thông tin: Pháp luật, thực tiễn và lý tưởng) của Patrick Birkinshaw (2001) hay Blackstone’s Guide to the Freedom of Information Act (Bình luận Blackstone về đạo luật về quyền tự do thông tin) của John Wadham, Jonathan Griffiths và Kelly Marris (2002) ta thấy những tác phẩm này phân tích cụ thể những vấn đề liên quan đến quyền được thông tin như vai trò, bối cảnh ra đời, nội dung các quyền, các trường hợp miễn trừ và các

cơ chế bảo đảm thực thi Đặc biệt các đề xuất liên quan tới kinh nghiệm xây dựng các khung thể chế và thiết chế cụ thể để bảo đảm thực thi quyền được thông tin theo các chuẩn mực quốc tế đã nhận được sự tham gia rộng rãi của

cả giới nghiên cứu và những người xây dựng chính sách Các công trình này cũng nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình quy định và thực thi quyền được thông tin ở một số quốc gia điển hình như Mỹ, Canada, Úc, New Zealand, Đức,…

có thể làm cơ sở tham khảo quý về kinh nghiệm đối với vấn đề này từ góc

độ so sánh

Ở mức độ chuyên sâu hơn nữa trong lĩnh vực này có rất nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí luật học nước ngoài hoặc sách chuyên khảo Nội dung và các khía cạnh khác nhau của quyền tiếp cận thông tin được đề cập ở các hình thức nghiên cứu rất đa dạng và phong phú Ví dụ như bài Freedom

of Information and Openness: Fundamental Human Right? (Tự do thông tin

và công khai - Quyền cơ bản của con người?) của Patrick Birkinshaw (tạp

Trang 15

of Information and State Secrets (Tự do thông tin và bí mật quốc gia) (tạp chí 9 E Eur.Const.Rev.102 (2000)), với quyền tự do cá nhân trong bài Freedom of Information: Is Privacy Winning (Tự do thông tin là chiến thắng của cá nhân) (tạp chí 13 Nottingham L.J 17 (2004)), với bí mật và an ninh quốc gia trong sách chuyên khảo: “Secrecy and Liberty: National Security, Freedom of Expression and Access to Information” ( Bí mật và tự do: an ninh quốc gia, tự do ngôn luận và tiếp cận thông tin) (International Studies in Human Rights) của tập thể tác giả F.D’Souza , Sandra Coliver, Paul Hoffiman, Stephen Bowen, Joan Fitzpatrick, hay vấn đề thực hiện quyền được thông tin qua thiết chế Thanh tra Nghị viện (Ombudsman) trong công trình nghiên cứu: Freedom of Information – An Ombudsman’s Perspective ( Tự do thông tin - viễn cảnh của Thanh tra Quốc hội) (tạp chí

29 Fed.L.Rev 359 (2001))

Các công trình nghiên cứu về việc bảo đảm và thực hiện quyền được thông tin ở các nước, ngoài hình thức là các sách chuyên khảo như đề cập trên đây, cũng được công bố nhiều dưới hình thức các bài báo trên các tạp chí luật học

và đều có giá trị tham khảo, như loạt bài: “Human Rights in Theory and Practice: A Time of Change and Development in Central and Eastern Europe”( Các quyền con người trong lý luận và thực tiễn: thời kỳ đổi thay và phát triển ở Trung và Đông Âu” trên tạp chí Conn.J.Int’l L năm 1993 đề cập chi tiết kinh nghiệm của các nước Đông Âu hay bài: “Freedom of Information in Australia” (Tự do thông tin ở Úc) của Peter Bayne trên tạp chí Acta Juridica số 15 năm 1993 về kinh nghiệm của Australia

Có thể nói các tài liệu nghiên cứu về quyền được thông tin trên thế giới cho đến nay được thực hiện dưới những hình thức khác nhau và có nội dung hết sức phong phú Đó là những tư liệu cung cấp kiến thức lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn cho các nước đang đẩy mạnh nghiên cứu, triển khai

và hoàn thiện thiết chế pháp lý trong lĩnh vực này như Việt Nam

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước:

Trang 16

Có thể nói, pháp luật về tiếp cận thông tin chỉ được các học giả Việt Nam nghiên cứu trong những năm gần đây Các công trình nghiên cứu này chủ yếu chỉ dừng lại ở những cách tiếp cận khác nhau về quyền tiếp cận thông tin, hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và đầy đủ về pháp luật về tiếp cận thông tin Về hình thức, các công trình này cũng mới chỉ được thực hiện như các bài tham luận, báo cáo khoa học viết cho các hội thảo hoặc đăng trên các tạp chí chuyên ngành

như Hội thảo Tiếp cận thông tin – quy định quốc tế, kinh nghiệm Việt

Nam, Đan Mạch, Hà Nội ngày 5-6/10/2006 và Hội thảo khoa học: Tiếp cận thông tin – thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm của Vương quốc Anh

tháng 10/2007 với các bài tham luận của các tác giả:

- Nguyễn Chí Dũng – Quyền tiếp cận thông tin: Yêu cầu của quản lý nhà

nước hiệu quả, vì phát triển;

- Tường Duy Kiên – Hoàng Mai Hương – Chu Thuý Hằng – Tìm hiểu pháp

luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền được đảm bảo thông tin của Việt Nam;

- TS.Dương Thanh Mai – Quyền được thông tin và sự tham gia của nhân

dân vào quá trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam;

- TS Đinh Văn Minh – Chuẩn mực tiếp cận thông tin và cuộc đấu tranh

chống tham nhũng;

- TS Hoàng Minh Thái – Tiếp cận thông tin – Những vẫn đề đang đặt ra;

- TS Nguyễn Đức Thuỳ - Quyền tiếp cận thông tin- Kinh nghiệm Việt Nam

và Vương quốc anh;

- Phạm Quốc Anh – Sự cần thiết và đề xuất khuôn khổ của luật tiếp cận

thông tin của Việt Nam;

- TS Cao Đức Thái – Quan điểm chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà

nước về quyền được thông tin của công dân trong thời kỳ đổi mới;

- GS.TS Trần Ngọc Đường- Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam với

quyền được tiếp cận thông tin;

- TS Nguyễn Quốc Việt – Minh bạch hoá pháp luật, bảo đảm quyền tiếp

cận thông tin;

- TS Ngô Đức Mạnh – Một số vấn đề về quyền tiếp cận thông tin ở Việt

Nam;

- PGS.TS Vũ Văn Phúc – Công tác tuyên giáo với việc bảo đảm quyền tiếp

cận thông tin của công dân;

- TS.Đinh Văn Minh – Bảo đảm quyền thông tin, góp phần đấu tranh chống

tham nhũng của Việt Nam;

- PGS.TS Hồ Trọng Ngũ – Giới hạn của quyền được thông tin;

- ThS Vũ Công Giao – Cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của các cơ

quan ở Việt Nam;

- GS Paul Okojie – Tiếp cận thông tin – kinh nghiệm của Anh

Trang 17

- TS Tường Duy Kiên – Quyền được thông tin – cách tiếp cận quốc tế và

đặc điểm chung của luật tiếp cận thông tin một số nước trên thế giới

Những bài viết trên đây đề cập đến Luật tiếp cận thông tin trên những phương diện và phạm vi khác nhau như thực trạng pháp luật về tiếp cận thông tin ở Việt Nam, những nội dung cơ bản quyền tiếp cận thông tin ở nước ngoài, những giới hạn của quyền tiếp cận thông tin, những kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực hiện Luật tiếp cận thông tin ở Anh, tầm quan trọng của quyền tiếp cận thông tin trong đời sống hàng ngày của mỗi quốc gia, mối quan hệ giữa việc xây dựng nhà nước pháp quyền và việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của cá nhân, tính cấp thiết của việc ban hành Luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay

Đóng góp vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nghiên cứu và nâng cao

nhận thức về quyền tiếp cận thông tin là việc xuất bản cuốn sách: “ Các văn

kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông tin” do Viện

nghiên cứu quyền con người thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia

Hồ Chí Minh tổ chức dịch và biên soạn, Nhà xuất bản Công an nhân dân phát hành năm 2007 Cuốn sách này đã dịch toàn văn và trích dịch các Văn kiện Quốc tế liên quan đến quyền tiếp cận thông tin như Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948, Công ước quốc tế về các quyền chính trị và dân sự năm 1966, Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989, Công ước quốc tế về chống tham nhũng năm 2003, Chương trình hành động chống tham nhũng dành cho châu Á và khu vực châu Á, Thái Bình Dương năm

2001 Cuốn sách này cũng đã dịch nguyên văn và trích dịch các Luật về tiếp cận thông tin/ tự do thông tin của nhiều nước trên thế giới như Luật về tiếp cận thông tin trong các tài liệu chính thức của Anbani năm 1999, Luật về quyền được thông tin của Ấn Độ năm 2005, Luật về tiếp cận thông tin công của Ba Lan năm 2001, Luật tiếp cận thông tin của Bulgary năm 2000, Luật tiếp cận thông tin của Canada năm 1985, Luật quy định về quản lý tiếp cận chung đối với các thông tin của Chính phủ của Hà lan năm 1991, Luật về công khai thông tin của các cơ quan chính quyền của Hàn Quốc 1996, Luật

về quyền tiếp cận của công chúng đối với các tài liệu hành chính công của

Na Uy năm 1970 ( sửa đổi bổ sung năm 2003), Luật thúc đẩy tiếp cận thông tin của Nam Phi năm 2000, Luật về tiếp cận thông tin của các cơ quan hành chính của Nhật Bản năm 1999 , Luật về thông tin, công nghệ thông tin và bảo vệ thông tin của Liên Bang Nga năm 2006, Luật về minh bạch và tiếp cận thông tin của Peru năm 2003, Luật về tiếp cận thông tin của Pháp năm

1978, Luật về tiếp cận thông tin của Thổ Nhĩ Kỳ năm 2004, Luật tự do báo chí của Thụy Điển 1949, Pháp lệnh về công khai thông tin của chính quyền của Trung Quốc năm 2007, Luật tự do thông tin của Úc năm 1982, Luật tự

do thông tin của vương quốc Anh năm 2000

Trang 18

Trong khuôn khổ dự án Xây dựng luật tiếp cận thông tin tại Việt Nam (Project on Assisting of Law on Access to Information in Vietnam) do Đại

sứ quán Anh tài trợ, tại Hà Nội vào 2 ngày 06-07/5/2009 Hội thảo quốc tế :

“ Xây dựng Luật tiếp cận thông tin tại Việt Nam”( Drafting law on

Access to Information in Vietnam) đã được tiến hành Tại cuộc Hội thảo này

một số báo cáo đã được chuẩn bị công phu và đã được đánh giá cao tại Hội thảo:

– James Anderson, Chuyên gia cao cấp về quản trị quốc gia của Ngân

hàng thế giới - Kinh nghiệm của một số nước Đông Âu trong việc thực

thi Luật tiếp cận thông tin;

– Jairo Acuna Alfaro, Cố vấn chính sách về cải cách hành chính và chống

tham nhũng của UNDP tại Việt Nam - Quyền tiếp cận thông tin tại các

nước khu vực Đông Nam Á;

– Matt Ottoson, Bí thư thứ nhất và cố vấn pháp luật của Bộ phận kiểm soát các chương trình phát triển và hợp tác nghiên cứu của Đại sứ quán

Thụy Điển – Kinh nghiệm của Thụy Điển về việc thực thi Luật tiếp cận

thông tin;

– Toby Mendel, Chuyên gia cao cấp của Tổ chức Article 19 - Tầm quan

trọng của Quyền tiếp cận thông tin: Xu hướng, Địa vị và Đặc điểm;

– TS Hoàng Thị Ngân, Chuyên gia nhóm nghiên cứu của Hội luật gia Việt

Nam - Kết quả nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về Luật tiếp cận thông

tin của một số quốc gia trên thế giới;

– GS-TS Nguyễn Đăng Dung, Đại học quốc gia Hà Nội - Kết quả khảo sát

thực tiễn tại địa phương về thực thi quyền được thông tin;

– TS Tường Duy Kiên, Trung tâm nghiên cứu về quyền con người, Học

viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh – Chính sách và hệ

thống các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam về quyền tiếp cận thông tin;

– Th.S Ngô Trung Thành, Phó vụ trưởng Vụ pháp luật, Văn phòng Quốc

hội - Mối quan hệ giữa Luật tiếp cận thông tin và các văn bản có liên

quan khác của Việt Nam;

Cuộc Hội thảo ngày 6 -7 tháng 5 năm 2009 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về quyền tiếp cận thông tin và pháp luật về tiếp cận thông tin tại Việt Nam Với các báo báo của các chuyên gia cao cấp

về quản trị quốc gia, về cải cách hành chính, chuyên gia pháp luật có uy tín của nước ngoài và Việt Nam như James Anderson, Jairo Acuna Alfaro, Matt Ottoson, Toby Melden, Hoàng Thị Ngân, Nguyễn Đăng Dung, Tường Duy Kiên, Ngô Trung Thành, Hội thảo đã phân tích những kinh nghiệm thực thi pháp luật về quyền tiếp cận thông tin ở các nước Đông Âu là những nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, các nước Đông Nam Á là những nước láng giềng hoặc cận kề với Việt Nam, kinh nghiệm thực thi

Trang 19

pháp luật của Thụy Điển, nước đi đầu trong lĩnh vực pháp luật về tiếp cận thông tin Các báo cáo mang tính chất so sánh trên đây cho chúng ta thấy rõ bên cạnh những điểm khác nhau, nội dung cơ bản của Luật tiếp cận thông tin của các quốc gia khác nhau cũng có những điểm chung giống nhau như đều có những quy định chung mang tính chất nguyên tắc, những thông tin phải công bố rộng rãi, những thông tin không được phép công bố, những cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ cung cấp thông tin, các chủ thể có quyền được cung cấp thông tin, thủ tục cung cấp thông tin, thủ tục giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về quyền tiếp cận thông tin, cơ quan có thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện về quyền tiếp cận thông tin Bên cạnh các báo cáo của các chuyên gia nước ngoài, các báo cáo của các nhà khoa học trong nước cũng

đã nghiên cứu về lý luận và khảo sát thực tiễn để tìm hiểu thực trạng pháp luật về tiếp cận thông tin ở Việt Nam Báo cáo khảo sát thực tiễn của Đoàn khảo sát do Bộ tư pháp chủ trì tại các địa phương: Thành phố Hồ Chí Minh

và các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Long An cho chúng ta những kết quả đáng được lưu ý về ý thức pháp luật, tình trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay Theo báo cáo khảo sát rất ít người dân biết quyền họ được cung cấp các thông tin liên quan đến cuộc sống của họ Mặc dù đã có những quy định đơn lẻ về việc cung cấp thông tin cho nhân dân ở các văn bản pháp luật đơn ngành nhưng hầu hết các công chức không coi việc cung cấp thông tin là trách nhiệm của họ

vì rằng việc cung cấp thông tin không phải là nhiệm vụ chính của việc thực hiện chính sách được quy định trong các văn bản nói trên Hầu hết các phiếu điều tra đều cho rằng các cán bộ rất lúng túng khi gặp những trường hợp yêu cầu phải được cung cấp thông tin Phần lớn trong số họ đều chuyển yêu cầu lên cấp trên Cán bộ, công chức và thủ trưởng cơ quan đều không quen với việc thực hiện nhiệm vụ cung cấp thông tin Hầu hết đều không nhận thấy thông tin của cơ quan nhà nước là tài sản nhân dân, được tạo ra do các công việc được nhân dân giao phó Hiện tượng đóng dấu mật lên các công văn giấy tờ không thuộc phạm trù mật còn tràn lan Việc khai thác và sử dụng các trang Web chưa được rộng rãi Quyền được thông tin mặc dù được quy định nhưng không có điều kiện thực thi sở dĩ như vậy là

do chưa có một đạo luật riêng quy định đầy đủ về vấn đề này Tất cả các phiếu điều tra đều nhất trí về việc cần thiết ban hành Luật tiếp cận thông tin3

Với sự phối hợp tổ chức và tài trợ của Trung tâm nhân quyền Na Uy, Hội

luật gia Việt Nam đã tiến hành Hội thảo quốc tế : “ Luật tiếp cận thông tin

– kinh nghiệm một số nước trên thế giới” vào các ngày 19- 20/8/2009 tại

3 Xem GS-TS Nguyễn Đăng Dung – Báo cáo tóm tắt kết quả khảo sát thực tiễn tại địa phương về thực thi quyền được thông tin, Tài liệu Hội thảo quốc tế Xây dưng Luật tiếp cận thông tin tại Việt Nam, Hà Nội ngày 06-07/5/2009, tr.45

Trang 20

thành phố Nha Trang Tại cuộc Hội thảo này nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã được trình bày:

- GS-TSKH Đào Trí Úc, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội luật gia Việt

Nam - Tổng quan về Luật tiếp cận thông tin và vai trò của các tổ chức

xã hội dân sự trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin ở các nước trên thế giới;

- TS Hoàng Thị Ngân, Phó vụ trưởng Vụ tổ chức hành chính và công vụ,

Văn phòng Chính phủ - Tiến trình xây dựng Luật tiếp cận thông tin ở

Việt nam;

- Toje R Ruud, Cố vấn pháp luật, Vụ lập pháp,Bộ tư pháp và Công an Na

Uy - Luật tiếp cận thông tin ở Na Uy và vai trò của các tổ chức xã hội

trong việc xây dựng và thực hiện luật này;

- GS Sung Nak In, Chủ tịch Hội giảng viên luật Hàn Quốc, Đại học quốc

gia Seoul, Hàn Quốc - Luật tiếp cận thông tin ( Luật công khai thông tin

của các cơ quan nhà nước) ở Hàn quốc và vai trò của các tổ chức xã hội trong việc xây dựng và thực hiện luật này;

- Th.S Phạm Anh Tuấn, Phó Chánh văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương

về phòng chống tham nhũng - Luật tiếp cận thông tin với công tác phòng

chống tham nhũng;

- PGS-TS Phạm Duy Nghĩa, Chủ nhiệm bộ môn Luật kinh tế, Đại học

kinh tế thành phố Hồ Chí Minh – Tương quan giữa Luật tiếp cận thông

tin, Luật báo chí và Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước;

- Fany Davidova, Chuyên gia Chương trình tiếp cận thông tin của Bulgary

– Vai trò của Chương trình tiếp cận thông tin của Bungary trong việc

thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin;

- Ngô Minh Hương, Chuyên gia của Viện nhân quyền Na Uy - Kinh

nghiệm tiếp cận thông của một số nước Bắc Âu;

- GS-TSKH Lê Cảm, Tổng biên tập tạp chí : “ Pháp luật và phát triển” –

Vai trò của giới luật gia trong việc thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin

Các bài tham luận của các nhà khoa học luật Việt Nam và nước ngoài trong hai cuộc Hội thảo khoa học trong tháng 9 năm 2009 tại Hà Nội và Nha Trang đánh dấu sự phát triển đáng ghi nhận của sự quan tâm và hiểu biết về pháp luật về quyền tiếp cận thông tin/ tự do thông tin ở Việt Nam Ở một mức độ sâu rộng hơn so với cuộc Hội thảo đầu tiên hai cuộc Hội thảo này

đã tổng kết kinh nghiệm xây dựng và thực hiện Luật tiếp cận thông tin của nhiều quốc gia trên thế giới như các nước Đông Âu, Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, Hàn Quốc , Bungary, Mexico, Thái Lan Hội thảo đã đề cập đến tính cấp thiết và những nội dung cơ bản của dự thảo Luật tiếp cận thông tin

ở Việt Nam Hai cuộc Hội thảo này đã góp những ý kiến quan trọng cho việc xây dựng bản dự thảo Luật tiếp cận thông tin phù hợp với Việt Nam

Trang 21

Gần đây, phục vụ cho soạn thảo và ban hành Luật tiếp cận thông tin, có

nhiều công trình khoa học có giá trị lý luận và thực tiễn cao đã được xuất

bản Đặc biệt phải kể đến là công trình nghiên cứu: “Luật Tiếp cận thông tin

– Kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam” do GS.TSKH Đào Trí Úc chủ biên với

sự tham gia của các tác giả: GS-TSKH Đào Trí Úc, Th.S Lê Thị Kim Thanh,

TS Hoàng Thị Ngân, TS Tường Duy Kiên, TS Nguyễn Thị Kim Thoa Công trình nghiên cứu này đã nghiên cứu một cách có hệ thống pháp luật về quyền tiếp cận thông tin bao gồm các vấn đề như: quan niệm về quyền tiếp cận thông tin ở nước ngoài và Việt Nam, ý nghĩa của quyền tiếp cận thông tin trong các văn kiện pháp lý quốc tế, phạm vi của quyền tiếp cận thông tin, các nguyên tắc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin, chủ thể của quyền tiếp cận thông tin, nội dung của quyền tiếp cận thông tin, thủ tục thực hiện quyền tiếp cận thông tin, thủ tục khiếu nại khiếu kiện về quyền tiếp cân thông tin, vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong việc thúc đẩy sự phát triển của pháp luật về quyền tiếp cận thông tin, các kiến nghị cho quá trình soạn thảo Luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam Công trình nghiên cứu trên đây đã cung cấp cho chúng ta những kiến thức khái quát về pháp luật tiếp cận thông tin ở nước ngoài và Việt Nam, làm cơ sở lý luận để các nhà luật học có thể nghiên cứu sâu hơn về những khía cạnh khác nhau của Luật tiếp cận thông tin trên

cơ sở đó có thể xây dựng và ban hành Luật tiếp cận thông tin phù hợp nhất với điều kiện chính tri, kinh tế, xã hội của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá hiện nay

Gần đây nhất, ngày 23-24 tháng 9 năm 2010, Tại tỉnh Hoà Bình, với sự tài

trợ của Quỹ châu Á, Bộ tư pháp đã tổ chức Hội thảo: “ Xây dựng luật tiếp

cận thông tại Việt Nam” Tại cuộc Hội thảo này nhiều nhà luật học đã bày

tỏ nguyện vọng chung của nhân dân là Quốc hội cần khẩn trương ban hành Luật tiếp cận thông tin làm công cụ đắc lực thực hiện quyền được tiếp cận thông tin là quyền hiến định của công dân Một số báo cáo đã được đánh giá cao tại Hội thảo n ày:

- Nhóm chuyên gia Bộ tư pháp -Báo cáo đánh giá tác động của dự thảo

Luật tiếp c ậ n thông tin

- TS Dương Thanh Mai - Những vấn đề chung về quyền tiếp cận thông tin;

- Th.s Đặng Đình Luyến - Thông tin và tiếp cận thông tin tại Việt Nam;

- TS Nguyễn Ngọc Anh - Giới hạn của quyền tiếp cận th ông tin

Cuộc Hội thảo ngày 23- 24/9 2010 là một bước thúc đẩy quan trọng trong tiến trình xây dựng và ban hành Luật tiếp cận thông tin tại việt Nam Tiến xa hơn các cuộc Hội thảo trước đây, cuộc Hội thảo này đã đánh giá tác động của Dự thảo Luật tiếp cận thông tin ( Regulatory Impact Assessement - RIA) Với phương pháp RIA nhóm chuyên gia pháp luật của Bộ tư pháp đã đánh giá trước những tác động tích cực sau đây lên các quan hệ xã hội khi Luật tiếp cận thông tin được ban hành và có hiệu lực:

Trang 22

- Về mặt kinh tế, việc tăng cường và mở rộng thông tin cũng có nghĩa là tăng cường khả năng nâng cao trí thức, có thể đem đến những chuyển biến cơ bản trong việc sản xuất sản phẩm và dịch vụ hàng hoá Thông tin công khai, minh bạch có thể giúp cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước xây dựng cho mình một kế hoạch đầu tư dài hạn, xây dựng được

kế hoạch kinh doanh đảm bảo phát triển bền vững Các doanh nghiệp được bình đẳng trong việc khai thác và sử dụng các thông tin vào quy hoạch, chính sách thuế để lập kế hoạch đầu tư dài hạn Đảm bảo quyền tiếp cận thông tin sẽ giúp cho các doanh nghiệp giảm thiểu chi phí kinh doanh và các rủi ro khi đầu tư nhờ đó mà đảm bảo được hiệu quả kinh doanh bền vững Việc ban hành Luật tiếp cận thông tin là tiền đề thực hiện một nền hành chính công khai, minh bạch tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam4

- Về mặt quản lý nhà nước, đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của cá nhân làm tăng khả năng giám sát các cơ quan công quyền từ phía công chúng Nghĩa vụ cung cấp thông tin đảm bảo công khai, minh bạch sẽ làm cho hoạt động của các cơ quan công quyền có hiệu lực, hiệu quả cao hơn vì vậy hoạt động quản lý nhà nước sẽ tốt hơn và có thể hạn chế được nạn tham nhũng trong bộ máy nhà nước

- Về đảm bảo thực hiện các quyền con người và quyền công dân, quyền tiếp cận thông tin là điều kiện tiên quyết để mọi cá nhân có thể thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của mình do vậy việc ban hành Luật tiếp cận thông tin sẽ là một bước đột phá, mở rộng khả năng thực hiện các quyền con người và quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp

và pháp luật…

Một số công trình nghiên cứu gần đây của một số tác giả đã được tạp chí

Nghiên cứu lập pháp đăng tải trong số đặc biệt giành cho quyền tiếp cận

thông tin ( Số 17 (154) tháng 9/ 2009 và bao gồm:

- PGS-TS Thái Vĩnh Thắng - Quyền tiếp cận thông tin - Điều kiện thực

hiện các quyền con người và quyền công dân;

- Th.S Dương Thị Bình - Thực trạng quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam

- Th.S Nguyễn Thị Hạnh - Sự cần thiết ban hành luật tiếp cận thông tin;

- Th.S Mai Thị Kim Huế - Phạm vi chủ thể có trách nhiệm cung cấp

thông tin;

- Chu Thị Thái Hà - Thông tin được tiếp cận và nội hàm của quyền tiếp

cận thông tin;

- TS Nguyễn Thị Thu Vân - Cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin;

- TS Nguyễn Thị Kim Thoa - Nội dung cơ bản của Luật tiếp cận thông

tin một số nước;

4 Kỷ yếu Hội thảo: “ Xây dựng Luật tiếp cận thông tin tại Việt Nam” tổ chức tại tỉnh Hoà Bình do Bộ tư

Trang 23

- Th.S Nguyễn Quỳnh Liên- Quyền tiếp cận thông tin trong các văn kiện

quốc tế

Trong năm 2010, một số công trình nghiên cứu về Luật tiếp cận thông tin

và đóng góp ý kiến cho dự luật tiếp cận thông tin được các tạp chí chuyên ngành luật tiếp tục đăng tải:

- TS Vũ Văn Nhiêm - Quyền được thông tin từ góc độ bảo đảm quyền con

người và liên hệ với dự luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam (Nghiên cứu lập pháp số 9 (170) tháng 5/2010;

- TS Trương Thị Hồng Hà - Luật về công bố thông tin của các cơ quan

chính quyền Hàn quốc ( Nghiên cứu lập pháp số 9 (170) tháng 5 năm 2010

Tạp chí: “Dân chủ và pháp luật”năm 2010 cũng đã dành riêng một số

chuyên đề: “Xây dựng Luật tiếp cận thông tin” với các bài viết của các tác

giả:

- Th.s Nguyễn Công Hồng và TS Hoàng Thị Ngân – Nhà nước pháp quyền

và đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của công dân;

- Th.s Nguyễn Công Hồng – Lợi ích của việc ban hành Luật tiếp cận thông tin;

- TS Tường Duy Kiên – Chính sách và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam đảm bảo quyền tiếp cận thông tin;

- TS Nguyễn Thị Kim Thoa - Những vấn đề cơ bản được giải quyết trong

Luật tiếp cận thông tin của một số nước trên thế giới;

- GS-TS Nguyễn Đăng Dung - Một số vấn đề về đảm bảo quyền được thông

tin của công dân;

- Lê Huy – Khái niệm và cơ sở chính trị, pháp lý của quyền tiếp cận thông

- Th.s Dương Thị Bình - Thực trạng và kiến nghị về thực hiện quyền tiếp

cận thông tin ở Việt Nam;

- Thoa Huế - Cơ quan cung cấp thông tin – Kinh nghiệm quốc tế và hướng

quy định trong dự thảo Luật tiếp cận thông tin của Việt Nam;

- Mai Nguyễn – Cung cấp thông tin theo yêu cầu – Cơ chế hữu hiệu bảo

đảm quyền tiếp cận thông tin;

- Nguyễn Quỳnh Liên– Kinh nghiệm xây dựng Luật tiếp cận thông tin của

một số nước trên thế giới;

- TS Nguyễn Thị Thu Vân – Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị về cơ chế

đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong dự thảo Luật tiếp cận thông tin của Việt Nam

Trang 24

Những công trình nghiên cứu trên đây trên các bình diện khác nhau đã nghiên cứu sơ lược lịch sử phát triển, khái niệm quyền được thông tin / quyền tiếp cận thông tin (right to access to information), tiêu chuẩn và các quy định quốc tế về quyền tiếp cận thông tin, trong đó đã khái quát các văn kiện quốc tế và khu vực có liên quan đến quyền tiếp cận thông tin như Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 (Điều 19), Công ước quốc tế

về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Điều 19), Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 (Điều 12, 13); Công ước quốc tế về chống tham nhũng năm 2003 (điều 10, 13); Chương trình hành động chống tham nhũng dành cho Châu Á và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương năm 2001; Công ước về tiếp cận thông tin, sự tham gia của công chúng trong việc ra quyết định và tiếp cận tư pháp trong các vấn đề môi trường năm 1998 Các tác giả cũng đã phân tích nội hàm và các khía cạnh khác nhau của quyền tiếp cận thông tin theo pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới

Phân tích các công trình nghiên cứu nói trên cho thấy các tác giả đều có quan điểm thống nhất là quyền tiếp cận thông tin nên hiểu có nội dung rộng bao gồm quyền tự do tìm kiếm thông tin, tự do tiếp nhận thông tin và tự do phổ biến thông tin Ba nội dung trên chính là những nội dung cốt lõi của quyền tiếp cận thông tin theo nghĩa rộng vì chúng có quan hệ biện chứng với nhau, gắn chặt với nhau, đòi hỏi tất cả các quốc gia phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc bảo đảm cho công dân thực hiện quyền này với đầy đủ các nội dung Các công trình nghiên cứu này cũng đề cập đến các khía cạnh khác nhau của nội hàm khái niệm quyền tiếp cận thông tin như: tự do thông tin hay tiếp nhận thông tin được thừa nhận không chỉ là quyền cơ bản của con người được quy định và bảo vệ bởi pháp luật quốc tế và quốc gia mà còn

là công cụ thiết yếu để tăng cường tính dân chủ của chính quyền, đảm bảo tính minh bạch nền hành chính, tính trách nhiệm và quản trị tốt của Chính phủ Tự do thông tin hay tiếp cận thông tin chính là việc công dân được tiếp cận hồ sơ, văn bản của cơ quan công quyền, nắm bắt được các hoạt động của

cơ quan công quyền, đảm bảo nguyên tắc các cơ quan công quyền không được giữ thông tin thay mặt chính họ mà là thay mặt hay xuất phát từ việc bảo đảm lợi ích của tất cả các thành viên trong xã hội, và hoạt động trên sự giám sát của nhân dân Quyền tiếp cận thông tin của cá nhân còn có ý nghĩa thứ hai là quyền được yêu cầu cơ quan nhà nước phải công bố, phổ biến các loại thông tin mà cơ quan đó nắm giữ vì lợi ích của cộng đồng Quyền tiếp cận thông tin bắt đầu xuất hiện là quyền được biết sự thật, nó phản ánh nghĩa

vụ của nhà nước bảo đảm mọi người được biết sự thật về các vấn đề khác nhau của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội trong nước và thế giới đến các vấn đề về quản lý tư pháp - hành chính, và các vấn đề liên quan đến quyền con người và bảo vệ các quyền và tự do của con người

Trang 25

Những công trình nghiên cứu trên cũng đề cập đến những giới hạn của quyền tiếp cận thông tin, như:

- Tôn trọng các quyền, uy tín, bí mật cá nhân của người khác;

- Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng;

- Sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng;

Những công trình nghiên cứu ở trong nước hiện nay cũng đã tiếp cận đặc điểm chung của luật tiếp cận thông tin ở một số nước trên thế giới về phạm

vi áp dụng, nội hàm của quyền “tiếp cận thông tin công” (right to access public information), chủ thể yêu cầu cung cấp thông tin, phương thức cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin, các ngoại trừ yêu cầu cung cấp thông tin, cơ chế khiếu nại, giám sát về công khai thông tin, về xử phạt vi phạm quyền tiếp cận thông tin, về lệ phí cung cấp thông tin đối với người có yêu cầu, về thiết chế đặc trách về thông tin… Nhiều công trình nghiên cứu cũng đề cập đến việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam, đưa ra các đề xuất, kiến nghị cho quá trình soạn thảo Luật Tiếp cận thông tin của Việt Nam

3.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay phục vụ việc xây dựng Luật tiếp cận thông tin

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên đây, đề tài xác định nhiệm vụ của mình là phân tích được nội dung cơ bản của các quy định của pháp luật Việt Nam về tiếp cận thông tin, chỉ ra được những thành tựu đã đạt được và những bất cập hạn chế của pháp luật Việt Nam về quyền tiếp cận thông tin cũng như những hạn chế trong cơ chế đảm bảo thực hiện quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay Đề tài phải nghiên cứu, khảo sát được các công trình nghiên cứu ở Việt Nam và một số nước trên thế giới về Luật tiếp cận thông tin của một số quốc gia đã ban hành luật này Khi phân tích các Luật tiếp cận thông tin và các công trình nghiên cứu về Luật tiếp cận thông tin của các quốc gia trên thế giới đề tài phải lý giải được vì sao gần 90 quốc gia trên thế giới trong đó có hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển đã ban hành Luật tiếp cận thông tin Lý giải được tính cấp thiết của việc ban hành Luật tiếp cận thông tin của các quốc gia đã ban hành Luật tiếp cận thông tin Từ đó lý giải tính cấp thiết của việc hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam, đặc biệt là tính cấp thiết của việc ban hành một đạo luật về quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay làm công cụ đắc lực cho việc xây dựng một xã hội dân chủ, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và hội nhập quốc tế

4.Phương pháp nghiên cứu

Trang 26

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

- Phương pháp luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; đường lối, chủ trương chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền tiếp cận thông tin

-Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để thực hiện đề tài là phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, lịch sử, tư duy logic, điều tra xã hội học…Các phương pháp này được áp dụng linh hoạt tuỳ vào từng nội dung và những yêu cầu của đề tài Phương pháp phân tích được ứng dụng để phân tích những nội dung cơ bản của Luật tiếp cận thông tin và nội hàm của quyền tiếp cận thông tin theo quy định của pháp luật các quốc gia trên thế giới Phương pháp lịch sử được áp dụng để nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam và nước ngoài Phương pháp so sánh được sử dụng để tìm ra các điểm tương đồng và khác biệt trong pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của các quốc gia trên thế giới Phương pháp điều tra xã hội học được áp dụng nhằm tìm hiểu mức độ hiểu biết và nhận thức khác nhau của các từng lớp dân cư trong xã hội về pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân Các phương pháp nghiên cứu nói trên được sử dụng kết hợp lẫn nhau một cách nhuần nhuyễn, tạo nên sự phong phú và đa dạng nhưng đồng thời thống nhất trong cách tiếp cận và lý giải các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu

B PHẦN NỘI DUNG

Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ TIẾP CẬN THÔNG TIN

1.1 Khái niệm quyền tiếp cận thông tin và pháp luật về tiếp cận thông tin

Quyền tiếp cận thông tin (Right to access to information) hay quyền được thông tin không phải là khái niệm mới Khái niệm này đã được ghi nhận rất sớm trong văn kiện pháp lý của nhiều quốc gia cùng với sự phát triển của các quyền khác của con người Đạo luật về Tự do báo chí của Thuỵ Điển được ban hành vào năm 1766 đã trao cho người dân quyền được yêu cầu tiếp cận văn bản/hồ sơ của các cơ quan chính phủ Bản Tuyên Ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789 cũng như Tuyên ngôn của

Hà Lan năm 1795 cũng đã xác lập nguyên tắc bảo đảm khả năng tiếp cận các

Trang 27

công việc của mình Đặc biệt, sau khi Liên hợp quốc ra đời năm 1945 và việc ghi nhận quyền tiếp cận thông tin như là một trong số các quyền và tự

do cơ bản của cá nhân trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm

1948, quyền tiếp cận thông tin đã trở thành mối quan tâm trên bình diện quốc tế và ngày càng được các quốc gia quan t âm nhi ều hơn Kể từ thời điểm đó trở đi, quyền tiếp cận thông tin tiếp tục được quy định trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế trên phạm vi toàn cầu cũng như khu vực Chẳng hạn như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ước quốc tế khác như Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989, Công ước về tiếp cận thông tin, sự tham gia của công chúng trong việc ra quyết định và tiếp cận tư pháp trong các vấn đề về môi trường năm 1998, Công ước quốc tế về chống tham nhũng năm 2003, Công ước Nhân Quyền Châu Âu (ECHR), Công ước Nhân Quyền Châu Mỹ (ACHR), Chương trình Hành động Chống tham nhũng dành cho khu vực Châu Á – Thái bình dương được ký kết vào ngày 30 tháng 11 năm 2001 ở Tookyo (Nhật Bản) cũng xác định việc bảo đảm cho công chúng và các phương tiện truyền thông được tự

do tiếp nhận và phổ biến thông tin về các vấn đề tham nhũng phù hợp với pháp luật trong nước Ở cấp độ quốc gia, hiện nay, gần 90 quốc gia ban hành luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin công dưới những tên gọi khác nhau như Luật về tự do thông tin, Luật tiếp cận thông tin

Trong quá trình phát triển của quyền tiếp cận thông tin, nội dung của

nó đã có sự phát triển ngày càng rộng hơn Trong các văn kiện pháp lý đầu tiên về quyền con người, quyền tiếp cận thông tin được xem là một nội dung thuộc khái niệm quyền tự do ngôn luận Điều 19 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 qui định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến, quyền này bao gồm quyền tự do giữ quan điểm không có sự can thiệp và tự do tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ các ý tưởng và thông tin

Trang 28

bằng bất kỳ phương tiện nào và không có ranh giới” và Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị qui định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng hoặc bằng bản viết, in hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện thông tin đại chúng khác tùy theo sự lựa chọn của họ”

Trong báo cáo năm 1998 và 2000 của mình, Đặc phái viên của Liên hợp quốc về Tự do ý kiến và ngôn luận khẳng định rằng quyền tiếp cận thông tin

là một quyền con người độc lập nằm trong ngoại diên của tự do ngôn luận được các văn kiện quốc tế về quyền con người bảo hộ Quyền tiếp cận thông tin quy định nghĩa vụ của Nhà nước phải bảo đảm cho tất cả mọi người được tiếp cận các nguồn thông tin mà trước tiên là thông tin do chính bản thân các

cơ quan nhà nước đang nắm giữ hoặc quản lý dưới hình thức này hay hình thức khác.5 Tinh thần của quyền tiếp cận thông tin chính là sự công khai hóa tối đa hoạt động của các cơ quan nhà nước, các quan chức nhà nước đối với công chúng cũng như đối với từng người dân Với tinh thần và nội dung như vậy, quyền tiếp cận thông tin có nội hàm khác với nội hàm của quyền tự do thông tin ở một số khía cạnh quan trọng:

- Thứ nhất, quyền tự do thông tin chú trọng tới việc tạo ra sự lưu thông thông tin một cách tự do giữa tất cả các đối tượng trong xã hội Nhà nước không có quyền ngăn cản và có nghĩa vụ phải tạo điều kiện cho

sự lưu thông thông tin tự do này Trong khi đó, quyền tiếp cận thông tin chỉ tập trung vào việc làm thế nào để người dân tiếp cận được, tức

là bao gồm việc biết được, có được và được sử dụng, các thông tin về hoạt động của các nhà nước hoặc các thông tin đang do các cơ quan nhà nước nắm giữ

- Thứ hai, mục đích trực tiếp của quyền tự do thông tin là tạo ra một xã hội thông tin trong đó thông tin được lưu thông tự do, còn quyền tiếp cận thông tin lại có mục đích trực tiếp là làm cho hoạt đông mọi mặt của Nhà nước và các cơ quan nhà nước minh bạch đối với người dân Với những mục đích khác nhau như vậy, khách thể của quyền tự do thông tin là bản thân thông tin dưới tất cả các hình thức và sự phân loại khác nhau trong xã hội Các thông tin đó có thể do các cá nhân

5 Văn kiện Liên hợp quốc mã số E/CN.4/1998/40, đoạn 14-16; Văn kiện Liên hợp quốc mã số

Trang 29

hay các tổ chức, đoàn thể hoặc bản thân cơ quan nhà nước nắm giữ Trong khi đó quyền tiếp cận thông tin nhắm tới khách thể trực tiếp là thông tin về hoạt động của các cơ quan nhà nước hay đang do các cơ quan nhà nước nắm giữ

Về bản chất, quyền tiếp cận thông tin là một trong những nội dung của mối quan hệ cơ bản giữa Nhà nước và Cá nhân (mà trước tiên là Công dân của Nhà nước đó), theo đó Cá nhân có quyền tiếp cận tới thông tin dưới các hình thức khác nhau mà Nhà nước đang nắm giữ và Nhà nước có nghĩa vụ phải bảo đảm cho sự tiếp cận này Trong khoa học và thực tiễn pháp lý, khía cạnh nghĩa vụ của Nhà nước trong nội hàm của Quyền tiếp cận thông tin thường được nhấn mạnh, qua đó đôi khi gây ra cho người ta cảm giác rằng chính bản thân khía cạnh nghĩa vụ của Nhà nước làm nên toàn bộ nội hàm của Quyền tiếp cận thông tin Điều này không phải là vô căn cứ bởi vì trong một mối quan hệ bất cân bằng về thế và lực như mối quan hệ giữa Nhà nước và

Cá nhân, nếu nghĩa vụ của Nhà nước không được nhấn mạnh và bảo đảm thực thi thì tất yếu quyền của Cá nhân sẽ không được bảo đảm Quy luật này đúng với tất cả các mối quan hệ giưaã Nhà nước và Cá nhân liên quan tới quyền cơ bản, trong đó có Quyền tiếp cận thông tin

Dễ dàng nhận thấy, với tinh thần, bản chất và nội dung như đề cập trên đây, khái niệm “Quyền tiếp cận thông tin” mang ý nghĩa dân chủ rất lớn, thể hiện

ở những khía cạnh sau

Thứ nhất, trong các xã hội dân chủ thường nhấn mạnh tới việc tạo ra nhiều

hình thức để người dân tham gia vào việc quản lý của nhà nước, từ việc thực hiện quyền bầu cử, đến việc đóng góp ý kiến vào các dự thảo chính sách, pháp luật của nhà nước, tham gia trưng cầu dân ý v.v Tất cả các hình thức tham gia vào việc quản lý của nhà nước kể trên đều sẽ trở thành vô nghĩa nếu như người dân không tiếp cận được tới thông tin cần thiết do các cơ quan nhà nước đang nắm giữ Nếu không có thông tin đầy đủ về ứng cử viên thì việc bầu cử chỉ là hình thức, nếu như cử tri không có được thông tin đầy

đủ về hoạt động của người đại biểu của mình thì việc cử tri xem xét có tái bầu một đại biểu nào đó cũng chỉ là hình thức Đặc biệt nếu người dân

không có thông tin đầy đủ về các dự thảo chính sách, pháp luật của nhà nước thì người dân sẽ không thể tham ia đóng góp vào các chính sách, pháp luật

đó được Nói tóm lại, nếu như không có quyền tiếp cận thông tin hoặc quyền tiếp cận thông tin không được bảo đảm thực thi thì những cam kết của Nhà nước về việc xây dựng các cơ chế để người dân tham gia quản lý nhà nước đều chỉ mang tính hình thức

Thứ hai, việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin đóng vai trò quan trọng

trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng Mục đích trực tiếp của quyền tiếp cận thông tin là tạo ra sự minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà

Trang 30

nước, các quan chức nhà nước đối với công chúng, sao cho người dân đều

có thể biết được và đều có thể theo dõi được các hoạt động mà các cơ quan nhà nước, các quan chức nhà nước đang tiến hành Một khi hoạt động nhà nước đã được minh bạch, cơ hội để cho các quan chức tha hóa tham nhũng

sẽ được giảm đi đáng kể và quan trọng hơn nữa là việc che dấu các hành vi tham nhũng của quan chức sẽ trở nên không thể Sự minh bạch thông tin sẽ góp phần làm cho các quan chức nhà nước không thể, và phần nào không dám, tham nhũng

Thứ ba, quyền tiếp cận thông tin giúp nâng cao trách nhiệm của nhà nước và

qua đó tăng hiệu quả công tác quản trị của nhà nước đối với đất nước và xã hội Khi thông tin về hoạt động của nhà nước đã được công khai và khi người dân có đầy đủ khả năng, thông qua thực thi quyền tiếp cận thông tin,

để biết được thông tin về hoạt động của nhà nước thì tất cả trách nhiệm của nhà nước sẽ được phơi bày trước người dân, việc nhà nước đã thực hiện hoặc không thực hiệnnhững biện pháp nào để bảo đảm hoàn thành trách nhiệm của mình cũng được phơi bày trước người dân Điều đó tất yếu làm cho các cơ quan nhà nước, các quan chức nhà nước nếu không muốn mất uy tín trước nhân dân thì bắt buộc phải coi trọng trách nhiệm của mình, bảo đảm tính hiệu quả trong công tác quản trị của nhà nước đối với đất nước và

xã hội

Thứ tư, quyền tiếp cận thông tin góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả

công tác giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, qua đó góp phần quan trọng xây dựng nhà nước pháp quyền Giám sát của xã hội đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước luôn là yếu tố không thể thiếu trong các nền dân chủ Chỉ khi nào người dân được quyền giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và các quan chức nhà nước thì khi đó nhà nước mới thực sự

là của dân và chế độ dân chủ mới được thiết lập Tuy nhiên sẽ là không đủ nếu pháp luật chỉ quy định công dân có quyền giám sát hoạt động của nhà nước, vấn đề còn nằm ở chỗ người dân phải có khả năng thực hiện được quyền giám sát đó Có được đầy đủ thông tin về hoạt động của cơ quan nhà nước, quan chức nhà nước mà mình đang giám sát thông qua việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin chính là điều kiện không thể thiếu để người dân có được khả năng đó Khi có được đầy đủ thông tin thì tất cả các hình thức giám sát của người dân đối với nhà nước đều sẽ trở nên có hiệu quả hơn, cho

dù là giám sát trực tiếp hay giám sát thông qua các đại biểu của mình

Những phân tích trên cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của quyền tiếp cận thông tin, hơn bất kỳ quyền cơ bản nào khác của con người, đối với công cuộc xây dựng và duy trì một nền dân chủ thực sự Đã có những nhận xét rất đúng rằng thông tin là “ôxy của dân chủ”6 Chính quyền tiếp cận thông tin là công cụ để đưa ôxy tới nuôi cơ thể nền dân chủ Nếu không có công cụ đó,

Trang 31

cơ thể dân chủ sẽ chết hoặc nếu không thì cũng sống một cách èo uột Khi quyền tiếp cận thông tin được bảo đảm, người dân sẽ sử dụng công cụ đó để xây dựng và duy trì nền dân chủ của mình

Cùng với sự phát triển của nền dân chủ, quyền tiếp cận thông tin trở thành một quyền độc lập với nội hàm rộng hơn mà nền tảng của nó là quyền được biết sự thật và đòi hỏi phải có tự do thông tin Vì vậy, nội dung của quyền tiếp cận thông tin không đơn giản chỉ là quyền của người dân mà còn phản ánh nghĩa vụ của nhà nước bảo đảm cho công dân có được các thông tin sự thật về các vấn đề khác nhau của đời sống kinh tế, chính trị xã hội và các lĩnh vực khác của đời sống Những thông tin này là những thông tin được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay mặt nhân dân lưu giữ với

quan niệm“các cơ quan công quyền nắm giữ các thông tin không phải cho

có trách nhiệm bảo quản và tạo điều kiện thuận lợi để người dân có thể tiếp cận đối với chúng Với ý nghĩa đó, khi nói đến nội dung của quyền tiếp cận thông tin, có hai nội dung cần phải được giải quyết Một là, thành tố cơ bản của quyền tiếp cận thông tin; và hai là những thông tin nào sẽ được tiếp cận

a Thành tố cơ bản của quyền tiếp cận thông tin

Quyền tiếp cận thông tin theo quan niệm của đa số các luật gia ngày nay bao gồm quyền tự do tìm kiếm thông tin, thu thập thông tin và quyền yêu cầu cung cấp thông tin

Tìm kiếm, thu thập thông tin

Một trong những nội dung cơ bản của quyền tiếp cận thông tin là quyền được có các thông tin đang được quản lý hoặc kiểm soát bởi các cơ quan công quyền Để có được các thông tin cần thiết đang được quản lý hoặc

7 Tony Mendel, Báo cáo đánh giá so sánh pháp luật về tiếp cận thông tin, trang 4

Trang 32

kiểm soát bởi các cơ quan công quyền, chủ thể của quyền tiếp cận thông tin trước hết phải có sự tự do trong việc tìm kiếm, thu thập thông tin Điều này thể hiện tính chủ động của người có quyền đối với những thông tin cần thiết

mà người đó quan tâm Quyền tìm kiếm, thu thập thông tin được hiểu là chủ

thể của quyền tiếp cận thông tin có quyền xem các tác phẩm, hồ sơ, tài liệu

chứa đựng các thông tin được các cơ quan công quyền quản lý hoặc kiểm

soát; ghi chép, trích dẫn, sao chụp các thông tin đó dưới các hình thức khác nhau và bằng những phương tiện khác nhau; có quyền có các bản sao có chứng thực các tài liệu chứa đựng các thông tin; và thu thập thông tin bằng

việc sao chép các thông tin đó vào các thiết bị điện tử hoặc bằng việc in các tài liệu đó trực tiếp từ những nơi lưu giữ chúng bằng máy vi tính hoặc bằng các thiết bị khác

Yêu cầu cung cấp thông tin,

Cùng với quyền tìm kiếm, thu thập thông tin, chủ thể của quyền tiếp cận thông tin còn có quyền yêu cầu cơ quan quản lý hoặc kiểm soát thông tin cung cấp thông tin cho mình Quyền yêu cầu cung cấp thông tin được xem là một trong những điều kiện để bảo đảm cho việc tìm kiếm thu thập thông tin

Sở dĩ như vậy vì, ngoài những thông tin được công bố công khai theo thủ tục pháp luật qui định, nhiều thông tin sẽ chỉ được cung cấp khi có yêu cầu của cá nhân và tổ chức vì thông tin đó có thể chỉ liên quan đến quyền và lợi ích của một hoặc một nhóm người Chẳng hạn, thông tin về tình trạng bệnh tật của người bệnh, thông tin về một cá nhân nào đó Trong những trường hợp như vậy, chủ thể của quyền tiếp cận thông tin chỉ có thể tìm kiếm, thu thập thông tin khi yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền lưu giữ thông tin đó cung cấp

Quyền yêu cầu cung cấp thông tin của người dân đòi hỏi một nghĩa vụ

Trang 33

nghĩa vụ cung cấp thông tin Như đã nói ở trên, quyền tiếp cận thông tin của người dân có thể bị hạn chế bằng các hoạt động của các cơ quan công quyền trong việc cung cấp thông tin hoặc sử dụng các rào cản kỹ thuật và pháp lý

để hạn chế khả năng tiếp cận thông tin của người dân Vì thế, để bảo đảm quyền yêu cầu cung cấp thông tin, đòi hỏi nhà nước cần có cơ chế tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức, và cá nhân có thể thực hiện được quyền này Đồng thời, các cơ quan công quyền phải có trách nhiệm công bố thông tin cũng như tạo điều kiện cho việc tiếp cận thông tin Thiếu các cơ chế để bảo đảm quyền tiếp cận thông tin đồng nghĩa với việc không bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân Hậu quả của việc thiếu cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân đó là tình trạng đặc quyền, đặc lợi của những người có điều kiện, vị trí công tác dễ dàng tiếp cận thông tin, gây nên

sự bất bình đẳng, bất công bằng trong xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh Vì vậy, quyền tiếp cận thông tin cũng gắn liền với quyền yêu cầu nhà nước có rách nhiệm bảo đảm rằng các loại thông tin cần thiết liên quan đến lợi ích của cộng đồng phải luôn sẵn sàng cho việc tiếp cận

Có ý kiến cho rằng, quyền tiếp cận thông tin bao gồm các việc tự do

truyền bá, phổ biến thông tin Theo đó, truyền bá hay phổ biến thông tin có

nghĩa là cá nhân, công dân có thông tin được quyền truyền đạt, chia sẻ quan điểm, thông tin mà mình đang nắm giữ cho mọi người mà không có bất kỳ

sự phân biệt nào về ranh giới hay các hình thức đưa tin.8 Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, truyền bá thông tin là một nội dung gắn với tự do thông tin, một khái nhiệm có phạm vi khác so với khái niệm tiếp cận thông tin “Tự do thông tin được hiều là quyền cơ bản của cá nhân và công chúng và nằm trong mối quan hệ với tự do thể hiện quan điểm của mình Theo đó, quyền tự

do thông tin sẽ bao hàm việc cá nhân và công chúng được tự do truyền tải

8 TS Ttường Duy Kiên, Quyền tiếp cận thông tin: qui định quốc tế và đặc điểm chung của luật một số nước, Hiến kế lập pháp, số 01 (112+114) t1/2008

Trang 34

quan điểm, ý kiến và những thông tin mình có được Việc truyền bá hay phổ biến thông tin có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức như nói, viết, in

ấn, điện tử hoặc các hình thức khác

b Những thông tin nào có thể được tiếp cận?

Một câu hỏi lớn được đặt ra là người dân sẽ được tiếp cận đối với những thông tin nào? Có thể nói, đây được xem là vấn đề mấu chốt trong việc bảo đảm và thực thi quyền tiếp cận thông tin của người dân

Quan niệm cho rằng các cơ quan công quyền nắm giữa các thông tin không phải cho chính bản thân họ mà là cho lợi ích công cộng đã in sâu vào suy nghĩ của mọi người trên khắp thế giới.9 Nói cách khác, cơ quan công quyền không phải lưu giữ thông tin thay mặt chính họ, mà là thay mặt, hay xuất phát từ việc bảo đảm lợi ích của tất cả các thành viên trong xã hội Vì thế, về mặt nguyên tắc, tất cả những thông tin liên quan đến lợi ích công cộng là có thể tiếp cận được Theo đó, các thông tin có thể được tiếp cận là những thông tin về các vấn đề khác nhau của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội về các vấn đề liên quan đến quốc kế dân sinh về về các quyền và sự tự

do của công dân Như thế, lợi ích công cộng dường như là điều để giải thích cho sự tồn tại của quyền tiếp cận thông tin và những thông tin có thể tiếp cận được

Tuy nhiên, một trong những vấn đề có tính nguyên tắc là tự do thông tin không có nghĩa là tất cả các tin tức của nhà nước đang nắm giữ sẽ công khai hết, và tiếp cận thông tin không đồng nhất với việc cá nhân, công dân được tự do tìm kiếm, thu thập và yêu cầu cung cấp bất kỳ thông tin nào được lưu giữ bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Hiểu theo cách thông thường thì các thông tin này phải có khả năng tiếp cận đối với các thành viên của cộng đồng trừ khi có một lợi ích công cộng khác quan trọng hơn đòi hỏi

Trang 35

những thông tin đó phải được giữ bí mật.10 Nói cách khác, sẽ có những thông tin liên quan đến lợi ích của cộng đồng nhưng không thể được tiếp cận bởi bất kỳ một cá nhân nào Chẳng hạn, thông tin liên quan đến an ninh, quốc phòng, đến hệ thống phòng thủ của quốc gia Tuy nhiên, cần phải lưu

ý đến thời hạn cần thiết phải giữ bí mật Nói cách khác, có những thông tin ở thời điểm này không thể tiếp cận được nhưng lại có thể tiếp cận ở thời điểm khác Vấn đề được đặt ra là cần phải có đầy đủ các cơ sở pháp lý để giải quyết được mối quan hệ giữa thông tin có thể tiếp cận và thông tin không thể tiếp cận được

Ngày nay, quyền tiếp cận thông tin đã trở thành một nhu cầu và một quyền cấp thiết cần được bảo đảm Nói cách khác, công dân phải có quyền tiếp cận đối với thông tin, đặc biệt là thông tin về pháp luật, chính sách cũng như hoạt động của các cơ quan công quyền liên quan đến đời sống xã hội Việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin được xem là nhân tố then chốt trong hoạt động quản lý của nhà nước đối với đời sống xã hội được vận hành theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền

Trong khoa học pháp lý quốc tế hiện nay cũng như trong thực tiễn ban hành và thực thi pháp luật về quyền tiếp cận thông tin, dường như không có nhiều sự tranh luận về khái niệm quyền tiếp cận thông tin mặc dù, về tên gọi, quyền này có thể được thể hiện trong các văn kiện pháp lý quốc tế cũng như quốc gia không hoàn toàn giống nhau Các văn kiện quốc tế khác nhau xác định nội dung của quyền tiếp cận thông tin với nghĩa rộng hẹp khác nhau Theo đó, quyền tiếp cận thông tin có nghĩa rộng nhất bao quát cả quyền tự do thể hiện ý kiến và thông tin thông qua việc tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá thông tin Theo nghĩa hẹp hơn, quyền tiếp cận thông tin bao gồm quyền tự do tìm kiếm và có được thông tin Định nghĩa hẹp nhất về

10 Tony Mendel, Báo cáo đánh giá so sánh pháp luật về tiếp cận thông tin, trang 4

Trang 36

quyền tiếp cận thông tin cho rằng đó là quyền của mỗi cá nhân đối với việc xem xét hoặc sao chụp các tài liệu được các cơ quan nhà nước nắm giữ Ngày nay, nhiều tài liệu và văn kiện pháp lý quốc tế chấp nhận quan điểm

hẹp để tránh việc gay tranh cãi Như vậy, xét một cách tổng quát, quyền được thông tin hay quyền tiếp cận thông tin là khái niệm được sử dụng để nói đến quyền của cá nhân được biết thông tin của nhà nước, theo các cách thức trực tiếp lẫn gián tiếp nhằm thỏa mãn các nhu cầu cuộc sống của mình cũng như để bảo vệ và thực hiện các quyền năng khác đã được pháp luật ghi nhận

Từ khái niệm quyền tiếp cận thông tin trên đây chúng ta có thể suy ra

pháp luật về quyền tiếp cận thông tin là hệ thống các quy phạm pháp luật đảm bảo cho cho cá nhân thực hiện quyền tiếp cận thông tin như một quyền

cơ bản của con người và công dân

1.2.Tầm quan trọng của pháp luật về tiếp cận thông tin đối với mỗi quốc gia

Ngày nay hầu khắp các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều có chung một nhận thức tự do thông tin là một quyền cơ bản của con người Thực hiện được quyền này là điều kiện cần thiết để các cá nhân có thể bảo vệ hữu hiệu các quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình, ngăn ngừa và chống lại các hành vi lạm dụng quyền lực, thúc đẩy dân chủ hoá và minh bạch hoá quá trình hoạch định chính sách và ban hành pháp luật, thực thi pháp luật, củng

cố lòng tin và tăng cường sự ủng hộ của dân chúng đối với các chủ trương

và chính sách của chính quyền, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội

Quyền tự do thông tin hay tiếp cận thông tin trong xã hội đương đại là quyền đặc biệt quan trọng của con người Trong một nhà nước của dân, do dân và vì dân, các cơ quan công quyền nắm giữ các thông tin không phải cho chính bản thân họ mà là cho lợi ích của cộng đồng Hiểu theo cách thông thường thì các thông tin này phải được các thành viên của cộng đồng tiếp cận và nắm rõ nếu họ có mong muốn, trừ khi có một lợi ích công cộng khác quan trọng hơn buộc chúng phải được giữ bí mật Pháp luật về quyền tiếp cận thông tin trong các nhà nước đương đại phản ánh một nhu cầu chính đáng của xã hội là Chính phủ của các quốc gia có trách nhiệm phục vụ nhân dân không phải bằng sự bưng bít thông tin mà bằng sự cung cấp đầy đủ và

Trang 37

Sự chuyển đổi sang cơ chế dân chủ tại nhiều quốc gia, sự phát triển của lĩnh vực công nghệ thông tin cũng làm cho quyền đối với thông tin ngày càng trở nên quan trọng đối với mọi công dân Công nghệ thông tin đã tạo điều kiện và khuyến khích các thành viên của cộng đồng kiểm soát và hạn chế nạn tham nhũng bằng nhiều phương pháp khác nhau như giám sát hoạt động của các nhà lãnh đạo và khuyến khích công chúng tham gia vào quá trình ra quyết định Nói chính xác hơn thì điều này đã dẫn tới một nhu cầu ngày càng lớn đối với việc tôn trọng đối với thông tin Tiếp cận thông tin có một sức hút mạnh mẽ rộng rãi, và ngày nay trở nên quan trọng hơn bao giờ hết

Chiến dịch toàn cầu cho tự do ngôn luận đã mô tả thông tin như là “khí ôxy

chủ ở mọi cấp độ Nói một cách chung nhất, dân chủ chính là khả năng mà các cá nhân có thể tham gia một cách hiệu quả vào quá trình ra các quyết định, những quyết định mà họ sẽ phải chịu sự tác động Sự tham gia có hiệu quả hay không ở tất cả các cấp độ từ việc bầu cử đến hình thành các tổ chức giám sát của người dân, cho đến đóng góp ý kiến đối với các dự thảo luật,

dự thảo chính sách phụ thuộc vào việc tiếp cận thông tin bao gồm các thông tin được nắm giữ bởi các cơ quan công quyền Mục đích của các cuộc bầu

cử không phải là để khoe sắc đẹp chính trị mà là để hoàn thành đúng chức năng đích thực của chúng, bảo đảm ý chí của người dân chính là nền tảng của chính quyền, ý chí này chỉ có thể thực hiện được khi người dân được tiếp cận thông tin đầy đủ về quá trình bầu cử đặc biệt là có thông tin đầy đủ

về các ứng cử viên Điều này cũng đúng với các hình thức tham gia khác

Sự tham gia của công chúng cũng là vấn đề trung tâm đối với quá trình ra quyết định hợp lý và đúng đắn Báo cáo về phát triển con người của UNDP

năm 2002: “Tăng cường dân chủ trong một thế giới chưa hoàn thiện” đã chỉ

ra lợi ích cơ bản của sự tham gia của công dân vào việc xây dựng các chính sách công, khẳng định đó là quyền cơ bản của con người mà tất cả xã hội nên hưởng ứng Sự tham gia của công chúng vào các chính sách chung bảo

vệ con người khỏi các thảm họa về chính trị và kinh tế và nó “có thể khởi sự một chu kỳ đúng đắn của sự phát triển”12 Khi việc tiếp cận thông tin củng

cố sự tham gia có hiệu quả của công chúng thì nó đồng thời cũng góp phần tạo nên những lợi ích này Quyền đối với thông tin cũng có thể giúp bảo đảm một sân chơi công bằng hơn Stiglitz, người giành giải Nobel nhờ những thành công của các công trình nghiên cứu về sự can thiệp không cân xứng của thông tin đối với nền kinh tế đã chỉ ra rằng việc tiếp cận thông tin không

11 Quyền được biết của công chúng: Các nguyên tắc của pháp luật về tự do thông tin (London: tháng 6 năm 1999), lời giới thiệu

12 UNDP, Báo cáo phát triển con người 2002: Tăng cường sự dân chủ trong một thế giới chưa hoàn thiện,

(Oxford: NXB trường đại học Oxford, 2002), trang 3

Trang 38

bình đẳng cho phép các công chức “theo đuổi các chính sách phục vụ cho lợi ích của họ hơn là cho lợi ích của người khác Những sự cải tiến về thông tin

và những quy tắc quản lý việc phổ biến thông tin có thể làm hạn chế sự lạm dụng này”13 Công khai cùng với bầu cử và tự do báo chí là cần thiết bảo đảm xã hội mở và dân chủ

Quá trình phát triển dân chủ liên quan đến tính chịu trách nhiệm của chính quyền bao hàm trách nhiệm giải trình và sự quản lý có hiệu quả Công chúng

có quyền xem xét, đánh giá một cách kỹ lưỡng các hành động của các nhà lãnh đạo của họ và tham gia vào các cuộc tranh luận công khai về các hành động của các nhà lãnh đạo này Họ phải có khả năng tiếp cận với các hoạt động của chính quyền Một trong những cách có hiệu quả nhất để giải quyết vấn đề quản lý yếu kém chính là các cuộc tranh luận công khai và đảm bảo quyền được thông tin Uỷ ban Cải cách pháp luật và Hội đồng giám sát hành chính Australia đã nhận định: “Luật Tự do thông tin đã có ảnh hưởng to lớn đến cách thức mà các cơ quan Nhà nước ra quyết định cũng như cách thức

mà họ lưu trữ các thông tin Luật này nhắc nhở những người ra quyết định phải nhớ rằng sự ban hành các quyết định luôn luôn dựa trên các yếu tố có liên quan nên phải lưu trữ lại toàn bộ quá trình soạn thảo và ra quyết định Việc nhận thức rằng các quyết định và quá trình ra quyết định là minh bạch

và chịu sự giám sát của công luận theo quy định của Luật tự do thông tin sẽ tạo ra kỷ cương vững chắc trong khu vực Nhà nước.”

Quyền đối với thông tin cũng là một công cụ mấu chốt trong việc đấu tranh chống tham nhũng và các hành vi sai trái của chính quyền Các nhà báo và các tổ chức phi chính phủ làm nhiệm vụ giám sát có thể sử dụng quyền này

để vạch trần các hành vi sai trái nhằm loại bỏ nó Như một thẩm phán toà án tối cao Mỹ Louis Brandeir đã nói: “Ánh sáng chính là chất tẩy tốt nhất”14 Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng năm 2005 đã nhấn mạnh về sự minh bạch và cởi mở trong đó bao gồm yếu tố sự tham gia của công chúng và minh bạch trong khu vực doanh nghiệp Điều 10 của

Công ước quy định: “Mỗi quốc gia tham gia sẽ thực hiện các biện pháp cần

thiết để tăng tính minh bạch trong khu vực hành chính công bao gồm các thủ tục và quy định cho công chúng có thể nhận thông tin về tổ chức, chức năng, quá trình ra quyết định hành chính công có tính đến việc bảo vệ dữ liệu cá nhân và sự riêng tư, và cả các quyết định và văn bản pháp lý liên quan đến công chúng”

Quyền tiếp cận thông tin cũng đáp ứng các mục tiêu xã hội quan trọng khác chẳng hạn quyền của cá nhân tiếp cận thông tin cá nhân của mình là một

Trang 39

phần nhân phẩm của cá nhân đó và là mấu chốt để cá nhân đưa ra quyết định hiệu quả Ví dụ khả năng tiếp cận thông tin bệnh lý cá nhân có thể giúp cá nhân đó đưa ra quyết định về phương thức điều trị, lên các kế hoạch tài chính…

Một khía cạnh khác của quyền đối với thông tin thường được phản ánh là việc sử dụng quyền này để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh

có hiệu quả Các cơ quan công quyền nắm giữ một khối lượng lớn các thông tin trong tất cả các lĩnh vực, nhiều loại trong số đó liên quan tới các vấn đề kinh tế và chúng có thể là rất hữu ích cho các doanh nhân

Nhìn nhận một cách tổng quát, quyền tiếp cận thông tin đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tăng cường thực hiện và thực hiện tốt, thực hiện một cách công bằng các quyền chính trị, dân sự , kinh tế, văn hoá, xã hội của người dân từ quyền bầu cử, quyền chất vấn, biểu quyết, tham gia đóng góp ý kiến, khiếu nại tố cáo đến quyền yêu cầu bồi thường do hành vi sai trái của cơ quan công quyền, quyền tự do kinh doanh và tiếp cận nguồn vốn, quyền học tập và lao động, quyền được sống trong môi trường trong sạch, tiếp cận với các dịch vụ y tế…Thông tin công là tài sản công và chính sách cung cấp thông tin công phải hình thành trên cơ sở phi lợi nhuận Quá trình tiếp cận thông tin là quá trình thúc đẩy công bằng và thực thi luật pháp

và củng cố nhà nước pháp quyền

Một ví dụ cụ thể về lợi ích tự do thông tin tại Ấn Độ, luật tự do thông tin quy định những người cung cấp thực phẩm không được phép lạm dụng việc cung cấp lương thực được Chính phủ trợ cấp nhằm làm bần cùng hoá người dân Điều này đã tạo ra một sự thay đổi căn bản trong hệ thống phân phối lương thực nhằm đảm bảo rằng các công dân được nhận phần lương thực của mình trong khi các nhà cung cấp cũng nhận được tiền công đầy đủ Nhiều quốc gia khác cũng sử dụng quyền này thúc đẩy các quan chức Chính phủ phải phản ứng và có hành động một cách nhanh chóng hơn đối với các vấn đề đã tồn tại dai dẳng trong xã hội như đường sá, xây dựng và tạo việc làm Ở Thái Lan, một người mẹ có con bị từ chối không cho nhập học vào một trường công đầy danh tiếng đã yêu cầu nhà trường phải cho xem kết quả thi đầu vào Khi nhà trường từ chối, người mẹ này nộp đơn lên Uỷ ban Thông tin và cho Toà án Kết quả là bà nhận được thông tin rằng con cái của nhiều người có ảnh hưởng lớn đã được chấp nhận vào học trong trường mặc

dù có điểm thi rất thấp Sau đó Hội đồng Nhà nước đã ban hành một quyết định rằng các trường chỉ được phép tiếp nhận sinh viên dựa trên một yếu tố duy nhất là kết quả học tập15

Tự do thông tin cũng có lợi ích hàn gắn vết thương quá khứ Tại nhiều quốc gia trong quá trình chuyển đổi sang một nền dân chủ, Luật tự do thông tin cho phép các Chính phủ chia sẻ thông tin, tài liệu về quá khứ và cho phép

15 Xem: Tài liệu đã dẫn

Trang 40

xã hội cũng như các nạn nhân và gia đình của họ, những người từng bị lạm dụng và thương tổn biết và hiểu rõ hơn những gì đã xảy ra trong quá khứ

Có thể nói, nhận thức tầm quan trọng của tiếp cận thông tin không chỉ là từ phía công chúng, các nhóm xã hội mà còn từ phía Chính phủ Sự cần thiết của quyền tiếp cận thông tin cho các mục tiêu dân chủ, chống tham nhũng, đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích cơ bản của cá nhân, từng lớp xã hội cũng như coi nó là một nguồn lực xã hội cần tiếp cận và khai thác bình đẳng

để giải quyết các vấn đề kinh tế, môi trường và an sinh xã hội Xây dựng một Chính phủ điện tử trở thành một nhu cầu thiết yếu trong việc quản lý và điều hành nhanh và có hiệu quả vì vậy tự do thông tin được nhiều lãnh đạo quốc gia đánh giá như là nhu cầu tự thân Một số yếu tố khác như nhu cầu hiểu đúng và thực thi các chính sách của Nhà nước từ phía công chúng, nhu cầu cân bằng lợi ích các nhóm xã hội, củng cố sự đồng thuận xã hội và tạo điều kiện cơ chế giám sát từ bên trong có hiệu quả… cũng thúc đẩy Chính phủ nhiều nước nhận thức về quyền tự do thông tin Tự do thông tin ở mức

độ cao không có nghĩa là sẽ chấm dứt được mọi sự bất đồng quan điểm trong xã hội cũng như giải quyết được hết các vấn đề chính trị chủ yếu Tuy nhiên, nếu quyền này được áp dụng một cách hệ thống với sự quan tâm thích đáng nhằm cân bằng các nhóm lợi ích khác nhau thì quyền này có thể làm thu hẹp việc bất đồng quan điểm, tăng cường tính hiệu quả của các chính sách được ban hành cũng như nâng cao lòng tin của nhân dân vào hệ thống chính trị Hiện nay ở nhiều nước vẫn còn có khái niệm “văn hoá giữ bí mật”, nhiều đạo luật về tự do thông tin có mức độ áp dụng rất hạn chế hoặc người dân rất khó tiếp cận thông tin dẫn đến tình trạng độc quyền thông tin hoặc đầu cơ thông tin, thông tin chỉ đến được với một số người và nhằm đảm bảo quyền lợi của một số người nhất định

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá thế giới có nhiều biến chuyển, các quyền con người ngày càng cần được coi trọng, các quốc gia trên thế giới đã chú trọng ban hành các đạo luật liên quan quyền tiếp cận thông tin dựa trên các văn kiện quốc tế mà quốc gia đó ký kết, tham gia và dựa trên tình hình cụ thể của đất nước Đến nay đã có gần 90 nước ban hành đạo luật riêng về quyền tiếp cận thông tin và nhiều quốc gia cũng đang chuẩn bị ban hành đạo luật này Sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của mỗi nước, tác động từ bên ngoài, sứp ép từ phía công chúng, các nhóm xã hội, giới truyền thông, nhu cầu đấu tranh chống tham nhũng vì sự bình đẳng

và tiến bộ xã hội và phát triển kinh tế cũng đòi hỏi mỗi quốc gia không thể

tự mình tách ra khỏi thế giới mà phải chuyển mình, mở rộng và thực hiện tốt hơn các quyền công dân bao gồm quyền tiếp cận thông tin cũng như các quyền liên quan Có thể nói ban hành luật tự do thông tin hay tiếp cận thông tin là một yêu cầu bức thiết của hầu hết các nước trên thế giới Nó đi đôi với việc ban hành hay sửa đổi các đạo luật khác liên quan đến quyền tiếp cận

Ngày đăng: 15/04/2014, 10:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm