Thực tế và lý luận đều cho thấy chứng khoán là một lĩnh vực có những đặc thù riêng và do vậy, những vi phạm cũng như tranh chấp trong lĩnh vực này đòi hỏi phải có một cơ chế phù hợp để g
Trang 1BỘ TƯ PHÁP VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ
Hà Nội, tháng 05/2011
Trang 2DANH SÁCH NHÓM NGHIÊN CỨU
CHỦ NHIỆM ĐỀ
TÀI
TS Đinh Thị Mai Phương – Trưởng Ban NCPL Dân sự
- Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp
THƯ KÝ ThS Trần Thị Quang Hồng – Phó trưởng Ban NCPL
Dân sự - Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp
5 Ths Nguyễn Đức Ngọc- Trường Đai học luật Hà Nội
6 Nguyễn Thị Thanh Hương - Thanh tra UBCKNN
7 CN Lê Thị Hoàng Thanh, NCV, Ban NCPL Dân sự - Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp
8 CN Phạm Văn Bằng, Nghiên cứu viên, Ban NCPL Dân sự - Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp
9 CN Trương Hồng Quang, Viện Khoa học Pháp lý - Bộ
Trang 4MỤC LỤC
-*** -
CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN KHI TIẾP CẬN CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VÀ XỬ LÝ VI PHẠM TRÊN TTCK 1 Tổng quan về TTCK 17
1.1 Đối tượng của TTCK 17
1.2 Chủ thể tham gia TTCK 19
1.3 Cấu trúc TTCK 20
1.4 Bối cảnh phát triển của TTCK Việt Nam 23
2 Tranh chấp và vi phạm trên TTCK 24
2.1 Nhận diện các tranh chấp và vi phạm trên TTCK 25
2.2 Tình hình tranh chấp và vi phạm trên TTCK Việt Nam 29
3 Cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trên TTCK 36
3.1 Nhận diện cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trên TTCK 36
3.2 Vai trò của cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trên TTCK và các yếu tố để đánh giá cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trên TTCK 40
3.2.1 Vai trò của cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong việc đảm bảo một TTCK minh bạch, lành mạnh và vận hành có hiệu quả 40
3.2.2 Các yếu tố để đánh giá cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trên TTCK 41
Trang 5CHƯƠNG II
CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VÀ XỬ LÝ VI PHẠM TRÊN
TTCK CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
1 Cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trên TTCK
của Trung Quốc 44
1.1 Cơ chế xử lý vi phạm trên TTCK Trung Quốc 44 1.2 Cơ chế giải quyết tranh chấp trên TTCK Trung Quốc 54
2 Cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trên TTCK
TTCK VÀ VIỆC VẬN HÀNH CÁC CƠ CHẾ NÀY Ở VIỆT NAM
1 Thực trạng cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm
trên TTCK Việt Nam 80
1.1 Thực trạng cơ chế giải quyết tranh chấp trên TTCK
Việt Nam 80
1.1.1 Thực trạng các quy định pháp luật về giải quyết tranh
chấp trên TTCK Việt Nam 80 1.1.2 Các thiết chế giải quyết tranh chấp trên TTCK và
phương thức sử dụng 86
Trang 61.1.3 Các điều kiện đảm bảo cơ chế giải quyết tranh chấp trên TTCK Việt Nam 89
1.2 Thực trạng cơ chế xử lý vi phạm trên TTCK Việt Nam 90
1.2.1 Thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm trên TTCK Việt
Nam 90 1.2.2 Các thiết chế giám sát và xử lý vi phạm trên TTCK Việt
Nam 117 1.2.3 Các điều kiện đảm bảo cho việc giám sát, phát hiện và
xử lý vi phạm trên TTCK Việt Nam 119
1.3 Các quy định pháp luật khác tác động đến cơ chế giải quyết
tranh chấp và xử lý vi phạm trên TTCK Việt Nam 124
2 Thực trạng vận hành cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi
phạm trên TTCK Việt Nam 127
2.1 Thực trạng vận hành cơ chế giải quyết tranh chấp trên TTCK
Việt Nam 127 2.2 Thực trạng vận hành cơ chế xử lý vi phạm trên TTCK
Việt Nam 130
CHƯƠNG IV HOÀN THIỆN CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VÀ XỬ LÝ VI
PHẠM TRÊN TTCK VIỆT NAM
1 Yêu cầu hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi
phạm trên TTCK Việt Nam hiện nay 136
1.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về điều tiết thị trường - điều kiện
tiên quyết để hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi
Trang 7phạm trên TTCK 137
1.2 Yêu cầu hoàn thiện đối với cơ chế giải quyết tranh chấp
trên TTCK 137
1.3 Yêu cầu hoàn thiện đối với cơ chế xử lý vi phạm trên TTCK 139
2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp và xử
lý vi phạm trên TTCK Việt Nam hiện nay 140
2.1 Hoàn thiện pháp luật điều tiết TTCK 140
2.2 Hoàn thiện pháp luật về dân sự tạo cơ sở cho việc giải quyết
tranh chấp trên TTCK 143 2.3 Hoàn thiện pháp luật, nâng cao năng lực của các thiết chế và
các điều kiện bảo đảm nhằm phát huy vai trò của cơ chế xử lý
vi phạm trên TTCK 143
2.4 Đa dạng hóa cơ chế giải quyết tranh chấp trên TTCK, nâng cao
năng lực của các thiết chế giải quyết tranh chấp trên TTCK nhằm
xây dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp đa dạng, hữu hiệu và
dễ tiếp cận 146
Trang 8MỞ ĐẦU
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Thị trường chứng khoán ở Việt Nam trong những năm qua đã có những bước phát triển vượt bậc và thực sự trở thành một thị trường quan trọng trong
hệ thống các thị trường cơ bản của nền kinh tế, có tác động to lớn không chỉ đến đời sống kinh tế mà cả đời sống xã hội Vai trò của TTCK đối với nền kinh tế có thể được thể hiện qua các thông số1 sau đây:
Các chỉ tiêu thị trường
31/12/2008 30/11/2009
1 Giá trị vốn hóa thị trường (tỷ đồng)
Trang 9Tính đến năm 2010, tổng giá trị vốn hóa thị trường chiếm gần 40% GDP, có hơn 600 công ty niêm yết và khoảng 300.000 tài khoản nhà đầu tư2
Tuy nhiên, theo đánh giá chung thì thị trường chứng khoán ở Việt Nam vẫn đang được đánh giá là vẫn ở thời kỳ sơ khai và so với dân số cũng như tiềm năng của thị trường thì khả năng mở rộng của thị trường còn rất lớn Vì vậy, hoàn thiện các thể chế cho sự phát triển lành mạnh của thị trường này là yêu cầu tất yếu để đảm bảo những tác động tích cực của thị trường lên đời sống kinh tế và xã hội Luật Chứng khoán đã được Quốc hội ban hành ngày tháng 29 tháng 6 năm 2006 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2007, Chính phủ cũng đã ban hành các Nghị định hướng dẫn Luật này, trong đó có Nghị định 36/2007/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán, Nghị định 85/2010/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán Kể từ thời điểm ban hành, các văn bản này đã có tác động tích cực trong việc thiết lập một thị trường chứng khoán Việt Nam tương đối ổn định Song, cũng phải thấy rằng mặc dù trong các quy định hiện hành, rất nhiều các quy định về giám sát thị trường đã được đặt ra, song chưa có một cơ chế đủ mạnh để đảm bảo thực thi các quy định này trên thực tế Cơ quan duy nhất có thẩm quyền xử lý các vi phạm hành chính hiện nay là Thanh tra Uỷ ban chứng khoán Nhà nước đã xử lý khá nhiều vi phạm, nhưng thường tập trung vào vi phạm của các công ty đại chúng và với những vi phạm dễ bị phát hiện như không công bố thông tin, làm sai lệch hồ sơ niêm yết, hồ sơ phát hành và ngay cả khi đã có rất nhiều trường hợp bị xử phạt, các vi phạm dạng này vẫn diễn ra phổ biến, thể hiện tính răn đe của các biện pháp xử lý chưa cao Bên cạnh đó, nhiều hành vi vi phạm được coi là tiềm ẩn rất lớn trong những thị trường mới nổi như giao dịch nội gián, lũng đoạn thị trường… gần như không được phát hiện, xử lý Điều này không chỉ cho thấy những bất ổn trong các quy định về xử lý vi phạm mà còn cho thấy cơ chế thực thi giám sát chưa có hiệu quả cao Các tranh chấp trên thị trường chứng khoán được giải quyết tại
2
Thông tin trên Đài truyền hình Hà Nội- Chương trình Thương hiệu chứng khoán uy tín, ngày 11 tháng 10 năm 2010
Trang 10các cơ quan giải quyết tranh chấp chính thống là tòa án, trọng tài cũng rất ít
và thống kê cho thấy cho đến nay mới chỉ có một vài vụ tranh chấp về chứng khoán được giải quyết tại toà án Điều này, trên thực tế không thể hiện các tranh chấp về chứng khoán là hiếm gặp (phần lớn các chuyên gia cho rằng tranh chấp trên thị trường xảy ra tương đối nhiều nhưng chủ yếu được các bên
tự giải quyết hoặc chấp nhận chịu thiệt), song lại cho thấy các cơ chế giải quyết chính thức hiện nay (chủ yếu là con đường toà án) chưa thực sự đáp ứng được mong muốn của các chủ thể tham gia thị trường, đặc biệt là các nhà đầu tư
Trong bối cảnh thị trường còn sơ khai và đang có những tốc độ phát triển nhanh chóng, việc định hình một cơ chế phù hợp để giải quyết những vấn đề vốn được coi là mặt trái nhưng lại là tất yếu của quá trình tồn tại của thị trường chứng khoán sẽ là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển lành mạnh và vững chắc của thị trường Thực tế và lý luận đều cho thấy chứng khoán là một lĩnh vực có những đặc thù riêng và do vậy, những vi phạm cũng như tranh chấp trong lĩnh vực này đòi hỏi phải có một cơ chế phù hợp để giám sát, phát hiện, xử lý và giải quyết kịp thời, tránh những tác động xấu ảnh hưởng tới thị trường và bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia thị trường
Vấn đề pháp lý liên quan đến chứng khoán cũng như giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển được coi là những vấn đề tương đối kinh điển Tuy nhiên, trong phạm vi nguồn thông tin mà nhóm chuẩn bị đề cương tiếp cận được thì
có thể thấy vấn đề giải quyết tranh chấp cũng như xử lý vi phạm về chứng khoán cũng vẫn là vấn đề được nhiều học giả cũng như những tổ chức nghiên cứu quan tâm Có thể kể đến các bài viết về cơ chế hoà giải, trọng tài trong
giải quyết tranh chấp về chứng khoán như: “Trọng tài trong lĩnh vực chứng
khoán là gì”3 do hãng Luật Forman thực hiện; “Đã đến lúc cần hoàn thiện cơ
3
Xem What is arbitration trên trang web
http://www.bryanforman.com/lawyer-attorney-1054163.html;
Trang 11chế trọng tài” của Karen Donovan, “Trọng tài chứng khoán- một câu chuyện thành công: tương lai sẽ là gì?” của Deborah Masucci; bài viết “Tranh chấp
về chứng khoán” trong loạt bài “Inside the mind” v.v Một số sách gần đây cũng đã được xuất bản, chủ yếu phân tích về loại vi phạm điển hình là giao dịch nội gián, ví dụ cuốn “Insider trading” của William K S Wang và Marc
I Steinberg Ngoài các tài liệu trên, các trang web của nhiều SGDCK và uỷ ban chứng khoán trên thế giới đều đề cập đến vấn đề giám sát thị trường và
xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại Những nghiên cứu này cho thấy đến nay,
lý luận về một cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm phù hợp và có hiệu quả trong lĩnh vực đặc thù và khá phức tạp là chứng khoán vẫn còn đang
là vấn đề được thảo luận
Ở Việt Nam, cùng sự phát triển hết sức sôi động của thị trường chứng khoán thời gian qua, các thông tin về chứng khoán và thị trường chứng khoán cũng đã chiếm một thời lượng và trang viết không nhỏ trên các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam Trong số đó, có rất nhiều những thông tin và bài viết đề cập đến các tranh chấp và vi phạm trên thị trường4 Các bài viết này đã phần nào phản ánh được bức tranh đa dạng về các vi phạm và tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán ở Việt Nam Tuy nhiên, những bài viết này chủ yếu mang tính thông tin, thiếu tính lý luận và những đề xuất phù hợp mang tính chuyên môn cao UBCKNN, với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về chứng khoán cũng đã tiến hành nhiều nghiên cứu khoa học về chứng khoán nói chung và về việc giám sát, xử lý vi phạm trên thị trường chứng khoán nói riêng Trong số những nghiên cứu này có thể kể đến
Đề tài “Nhận diện vi phạm và hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm trên thị trường chứng khoán”; “Giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra, giám sát công ty chứng khoán” thực hiện năm 2003; Năm 2004 có Đề tài “Hợp tác
quốc tế trong phòng tránh, phát hiện và xử lý các giao dịch bất hợp pháp trên
Trang 12thị trường chứng khoán trong bối cảnh hội nhập”; “Giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra, giám sát các tổ chức niêm yết trên TTCKVN”; năm 2005 có
đề tài “Một số giải pháp ngăn ngừa hoạt động giao dịch nội gián trên thị trường chứng khóan Việt Nam”; “Luật hình sự và việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khóan”; Năm 2007 có đề tài “Giải pháp tăng cường hoạt động
thanh tra đối với hành vi giao dịch nội bộ, thao túng thị trường” Các nghiên
cứu này, nhìn chung mới tập trung vào vấn đề vi phạm và xử lý vi phạm, trong khi lại thiếu vắng những nghiên cứu về tranh chấp và giải quyết tranh
cơ sở các cơ chế chung mà chưa nghiên cứu các cơ chế đặc thù
Việc nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán ở Việt Nam một cách toàn diện về mặt lý luận và gắn với thực tiễn hiện nay của thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ góp phần củng cố các cơ sở khoa học toàn diện và đầy đủ hơn, phục vụ cho việc hoàn thiện cơ chế tranh chấp và xử lý vi phạm hiện nay, góp phần đảm bảo sự phát triển ổn định và lành mạnh của thị trường
Với mục tiêu đề cập một cách toàn diện các vấn đề về tranh chấp, vi phạm cũng như giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trên thị trường chứng khoán, Đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Phân tích các đặc thù của các tranh chấp và vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và tác động của những đặc thù này đối với hoạt động giám sát, phát hiện và xử lý các vi phạm và đối với cơ chế giải quyết các tranh chấp phát sinh
Trang 13- Đánh giá vai trò của các chủ thể tham gia thị trường và yêu cầu liên
hệ giữa các chủ thể này (nhà đầu tư, tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết, trung tâm lưu ký, trung tâm giao dịch, ngân hàng giám sát, ngân hàng chỉ định thanh toán, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Hiệp hội chứng khoán) trong việc giám sát, phát hiện vi phạm và trong việc giải quyết các tranh chấp về chứng khoán
- Phân tích, đối chiếu thực trạng tồn tại và vận hành của các cơ chế giải quyết tranh chấp và cơ chế xử lý vi phạm hiện hành và so với các yêu cầu đặc thù trong lĩnh vực chứng khoán;
- Nghiên cứu các kinh nghiệm quốc tế về việc xây dựng cơ chế giám sát, phát hiện, xử lý vi phạm trên thị trường chứng khoán và các cơ chế giải quyết tranh chấp và những bài học có thể áp dụng ở Việt Nam;
- Nghiên cứu, đề xuất các cơ chế phù hợp để hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán
II PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Theo Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin năm 1999 thì “Cơ chế” là cách thức theo đó một quá trình thực hiện hoặc cách thức sắp xếp, tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện (trang 464) Từ điển Từ và ngữ Hán Việt – Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa năm 2002, trang C149 định nghĩa "Cơ chế là cách thức sắp xếp theo một trật tự nhất định" Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên, Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2004 thì “Cơ chế là cách thức theo đó một quá trình thực hiện”
Trong lĩnh vực pháp luật, cách thức vận động của tất cả các quá trình sẽ được định hình bởi một khuôn khổ đã định từ trước: đó chính là các quy định pháp luật, dưới sự dẫn dắt của các chủ thể là những người thực thi, đồng thời chịu sự tác động bởi các điều kiện nhất định như nguồn lực, phương tiện hay
Trang 14còn gọi là các điều kiện đảm bảo Tất cả các yếu tố này sẽ quyết định cách thức, hay là cơ chế pháp lý của một quá trình
Với ý nghĩa đó, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán được hiểu là
hệ thống các thể chế (quy định pháp luật), các thiết chế (chủ thể) thực thi và điều kiện đảm bảo để giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán
Với ý nghĩa là tất cả những gì liên quan đến việc tạo ra và lưu thông chứng khoán trên thị trường, chứng khoán là lĩnh vực có phạm vi tương đối rộng, từ quá trình hình thành, quản trị các doanh nghiệp với tư cách là những
tổ chức phát hành, cung cấp hàng hóa cho thị trường đến các hoạt động phát hành, các quá trình chuyển giao chứng khóan từ giao dịch trên thị trường phi tập trung thành chứng khoán giao dịch trên thị trường tập trung, các giao dịch trao đổi, mua bán chứng khoán trên thị trường thứ cấp và sơ cấp
Tuy nhiên, do khuôn khổ nguồn lực của Đề tài, trong Báo cáo này, việc nghiên cứu sẽ tập trung vào các vi phạm và tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện các giao dịch chứng khoán trên thị trường sơ cấp và thứ cấp, không đề cập tới các dạng vi phạm, tranh chấp phát sinh ở các giai đoạn trước giao dịch (chẳng hạn như quá trình cổ phần hóa, niêm yết v.v.) hay trong hoạt động quản trị doanh nghiệp Báo cáo này cũng không đi vào phân tích các yêu cầu về giám sát và xử lý vi phạm nhằm đảm bảo an toàn hệ thống tài chính nói chung mà chỉ nghiên cứu về một thành tố của hệ thống tài chính là thị trường chứng khoán
Trang 15III NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu đã được xác định như trên, nội dung nghiên cứu của đề tài dự kiến gồm các phần sau:
Phần thứ nhất: Nhận diện các dạng tranh chấp và vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và các yêu cầu đặt ra đối với việc phát hiện, xử lý vi phạm cũng như giải quyết tranh chấp về chứng khoán
1 Phân tích về các dạng tranh chấp có thể phát sinh từ các mối quan hệ trên thị trường chứng khoán (mối quan hệ giữa nhà đầu tư với tổ chức phát hành, với các nhà môi giới, các tổ chức dịch vụ đầu tư, các định chế trung gian thanh toán, các tổ chức giám sát thị trường, trung tâm giao dịch chứng khoán, cơ quan quản lý v.v.); đặc thù của các tranh chấp này cũng như các yêu cầu về giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực chứng khoán; vai trò của từng chủ thế trong giải quyết các tranh chấp phát sinh
2 Phân tích về các hành vi vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và yêu cầu đối với viêc giám sát, phát hiện, xử lý các vi phạm về chứng khoán (các dạng hành vi vi phạm, vai trò của các chủ thể khác nhau trong việc giám sát, phát hiện, xử lý vi phạm v.v.)
Phần thứ hai: Cơ chế giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm trong lĩnh
vực chứng khoán và thực trạng ở Việt Nam
1 Các vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm và các bộ phận cấu thành của cơ chế giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm
2 Đánh giá thực trạng vi phạm và tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán hiện nay ở Việt Nam
3 Đánh giá thực trạng cơ chế giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán ở Việt Nam, vai trò của cơ chế này trong việc đảm bảo sự phát triển lành mạnh và bình ổn của thị trường (bao gồm thực trạng giám sát, phát hiện và xử lý vi phạm; thực trạng giải quyết tranh chấp; các quy định pháp luật hiện hành về vấn đề này, vai trò của các chủ thể và các điều kiện đảm bảo sự vận hành của cơ chế)
Trang 164 Yêu cầu hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm trong
lĩnh vực chứng khoán ở Việt Nam
Phần thứ ba: Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán
Phần này sẽ phân tích về cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán ở một số quốc gia nhằm tìm kiếm những cách tiếp cận chung hoặc những mô hình thành công trong thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp
và xử lý vi phạm về chứng khoán Các quốc gia được lựa chọn để nghiên cứu bao gồm các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển và có thị trường chứng khoán có ảnh hưởng lớn trên thế giới là Hoa Kỳ, Nhật Bản, quốc gia Thái Bình Dương có ảnh hưởng đến Việt Nam hiện nay là Ôx-trây-li-a, quốc gia có điều kiện chuyển đổi như Việt Nam là Trung Quốc và một quốc gia trong khu vực Đông Nam Á là Singapore
Phần thứ tư: Hệ thống giải pháp, kiến nghị hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán ở Việt Nam
Trên cơ sở các phân tích, nhận định đã được rút ra từ các phần nghiên cứu trước, phần này sẽ đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán ở Việt Nam
Trang 17CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN KHI TIẾP CẬN CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VÀ XỬ LÝ VI PHẠM TRÊN TTCK
1 Tổng quan về TTCK
TTCK ra đời trong xã hội hiện đại và đã được coi là một phần không thể thiếu, một trong những loại thị trường căn bản của nền kinh tế thị trường Đây là thị trường tương đối phức tạp với những đặc thù về đối tượng, chủ thể tham gia thị trường và cấu trúc của thị trường Những điểm đặc thù này sẽ có tác động lớn đến đến những yếu tố cần có của một cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm hiệu quả trên thị trường
1.1 Đối tượng của TTCK
TTCK là một thị trường đặc biệt vì nó lưu hành một loại hàng hoá đặc biệt: các chứng khoán Ở TTCK, người ta không thể dùng tay hoặc mắt để kiểm tra trên tờ chứng khoán xem nó tốt hay xấu, tức là nó sẽ mang lại cho họ lợi nhuận hay làm cho số tiền của họ bị giảm giá trị Phần đông công chúng không thể thành thạo trong việc phân tích mức độ rủi ro của mỗi loại chứng khoán để quyết định xem mua loại nào Vì lợi ích thu được từ các chứng khoán này nhiều khi còn phụ thuộc vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Do vậy, không phải ai cũng xét đoán được chính xác khả năng và mức độ rủi ro của nó
Mặt khác, bản thân chứng chỉ chứng khoán không hề có công năng, nó chỉ là một chứng thư mà nhìn vào nó người mua không có được một thông tin
gì ngoài việc đảm bảo cho họ có một khoản lợi ích nằm ở đâu đó Chính vì vậy, người ta có thể lợi dụng sự thiếu thông tin của họ để tống cho họ những thứ “hàng” ế ẩm sau khi đã dùng những lời lẽ văn hoa để làm cho họ tin rằng
đó là hàng tốt Đó là những lý do để khẳng định chứng khoán là một loại hàng hoá đặc biệt và TTCK là một thị trường đặc biệt Xem xét hoạt động của thị trường này càng khẳng định thêm điều đó
Trang 18Người bán trên thị trường này là người có dư thừa tiền đem tiền nhượng đi nhưng không phải với tư cách là tiền mà nhượng đi với tư cách là vốn, nghĩa là một việc nhượng vốn đi với tư cách là hàng hoá nhằm thu được khoản tiền lãi nhất định Còn đối với người mua, cái mà họ cần cũng chính là vốn để phát triển và mở rộng kinh doanh
Thông thường, trong khi bán, cái mà người bán thực tế nhượng đi là giá trị sử dụng của hàng hoá Trong TTCK, cái mà người bán nhượng đi cũng chính là quyền sử dụng khoản tiền đó với tư cách sử dụng vốn và nhờ vào việc sử dụng số vốn đó, người mua thu được số lợi nhuận lớn hơn số lợi tức phải trả cho người bán Như vậy, có thể nói rằng, thực chất đối tượng mua bán trên TTCK là mua bán quyền sử dụng vốn
Giá cả của hàng hoá đặc biệt đó trên TTCK chính là số lợi tức mà người phát hành trả cho người mua Tuỳ theo hình thức cụ thể mà giá cả của hàng hoá đó được thể hiện dưới hình thức lợi tức trái phiếu hoặc lợi tức cổ phần (cổ tức) Như vậy, giá cả của hàng hoá này có thể được xác định trước như trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, có thể chưa được xác định như:
cổ phiếu
Xem xét hình thức mua bán trên TTCK cho thấy người mua quyền sử dụng vốn lại là người phát hành, người bán chứng khoán, còn người bán quyền sử dụng vốn lại đóng vai trò là người mua chứng khoán Ở đây, đối với người mua quyền sử dụng vốn thì chứng khoán là một khế ước mà người mua vốn cam kết trả một chuỗi lợi tức trong tương lai cho người có vốn đã nhượng
đi Chứng khoán được biểu hiện ra bên ngoài như một laọi sản phẩm đặc biệt của người cần vốn bán ra thị trường Người ta coi đó là “sản phẩm tài chính” Còn đối với người bán quyền sử dụng vốn thay vì số vốn đã nhượng đi, người
ta nhận được chứng khoán và chứng khoán đó đã đưa lại cho họ quyền được hưởng những khoản thu nhập nhất định dưới hình thức lợi tức Vì thế, người nhượng quyền sử dụng vốn là người mua chứng khoán, cũng có thể nói họ là người mua quyền hưởng những khoản thu nhập nhất định Đối với họ, chứng khoán được coi như một loại tài sản và được gọi là sản phẩm tài chính
Trang 191.2 Chủ thể tham gia TTCK
Như đã đề cập ở trên, TTCK là một thị trường đặc biệt, ở đó lưu hành một loại hàng hoá đặc biệt – chứng khoán Để đảm bảo cho sự vận hành của thị trường này, người ta phải tổ chức cho nó một hệ thống hoạt động đặc biệt Với sự tham gia của không chỉ người mua và người bán mà nhìn một cách tổng hợp, TTCK bao gồm các chủ thể sau:
a) Người phát hành: là những người muốn huy động vốn trên thị
trường bằng cách phát hành và bán các chứng khoán Bao gồm: Chính phủ, các công ty và chính quyền các địa phương
b) Người đầu tư: là những người có vốn và muốn đầu tư bằng cách mua
các loại chứng khoán trên TTCK Nhóm chủ thể này rất đa dạng và chiếm số lượng đông nhất thị trường Đó có thể là các cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức tài chính phi ngân hàng, quỹ hưu trí, quỹ bảo hiểm, thậm chí cả các công ty, các ngân hàng thương mại… Căn cứ vào quy mô, mức độ tham gia thị trường
và năng lực tham gia thị trường, nhóm này thường được chia thành nhà đầu tư thông thường và các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp
c) Các nhà môi giới và các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng khoán khác
Đây là những tổ chức có chức năng cung cấp dịch vụ trên TTCK, được coi là những nhà trung gian thị trường, trong đó có hai nhà cung cấp dịch vụ chính là các CTCK và CTQLQ
d) Người tổ chức thị trường
Với mục đích tạo ra một địa điểm giao dịch ổn định và có được các phương tiện điều hành có hiệu quả, các CTCK (tổ chức của những người kinh doanh chứng khoán) thoả thuận với nhau để thành lập một công ty với chức năng là phục vụ cho các hoạt động giao dịch chứng khoán Nhiệm vụ của công ty này là tìm địa điểm để đặt nơi giao dịch, mua sắm trang thiết bị phục
vụ giao dịch và tổ chức các giao dịch Tên của các công ty này thường được gọi là SGDCK
Trang 20đ) Người điều tiết quản lý thị trường
Đây là người ban hành các luật lệ cho hoạt động của thị trường, tổ chức công tác giám sát, theo dõi mọi hoạt động của thị trường Người hoạt động với tư cách người điều hoà này chính là nhà nước – trong đó có những cơ quan chuyên môn được nhà nước thành lập để thực hiện nhiệm vụ này Chức năng của nhà nước trên TTCK được thể hiện trên hai mặt: một mặt, đặt ra luật
lệ, tức là xác định xây dựng quy tắc cho trò chơi, mặt khác tổ chức kiểm tra giám sát các hoạt động trên thị trường kịp thời xử lý mọi hành vi vi phạm
1.3 Cấu trúc TTCK
Dựa trên những tiêu chí khác nhau, người ta có những cách nhìn nhận cấu trúc TTCK khác nhau5:
i) Xét theo sự lưu thông của chứng khoán trên thị trường:
TTCK có hai loại: thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
- Thị trường sơ cấp hay còn gọi là thị trường cấp 1: là thị trường mà ở
đó các công ty và nhà nước phát hành các loại chứng khoán nhằm thu hút các nguồn vốn tiết kiệm đầu tư – nên còn gọi là thị trường phát hành Đó là TTCK lần đầu được phát hành ra nhằm tạo lập một doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp huy động thêm vốn, chính phủ, chính quyền địa phương phát hành chứng khoán mới Thị trường sơ cấp thiết lập đựơc mối quan hệ trực tiếp giữa người có khả năng cung ứng vốn và những người có nhu cầu về vốn Thị trường này là một công cụ cấp vốn hợp lý và có hiệu quả nhất làm tăng thêm vốn đầu tư phát triển kinh tế từ các nguồn tiết kiệm trong lưu thông mà không đòi hỏi phải phát hành thêm tiền vào lưu thông trong cơ chế kinh tế thị trường
- Thị trường thứ cấp còn gọi là thị trường cấp 2 là thị trường mua đi, bán lại các chứng khoán đã được phát hành qua thị trường sơ cấp Ở thị trường này, quyền sở hữu chứng khoán luôn được chuyển từ người đầu tư này
5
Nguồn: Điều kiện pháp lý cho sự hình thành TTCK ở Việt Nam - Tạ Thị Tài - Luận văn tốt nghiệp, 1996
Trang 21sang người đầu tư khác Do đó, nó tạo ra khả năng cho những người đầu tư muốn rút vốn ra trước hạn bằng cách bán lại chứng khoán cho người khác, tức
là nó chuyển hoá được hoạt động đầu tư dài hạn sang ngắn hạn Nhờ đó kích thích được những người có tiền để dành đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất knh doanh hoặc cho nhà nước vay dài hạn để tìm kiếm lợi nhuận
Thị trường này có cơ chế phức tạp, làm môi giới cho sự biến động cung cầu, cho phép thực hiện được giá thực của cổ phiếu, trái phiếu Không có thị trường này thì các chứng khoán không thể giữ được vai trò quan trọng trong
cơ chế thị trường hiện nay Đây là thị trường thu hút sự chú ý của dân chúng, những nhà đầu tư và tất cả những ai quan tâm đến thị trường đầy hấp dẫn và sôi động này
Điều khác nhau căn bản giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp là
ở chỗ chứng khoán được đưa ra mua bán có phải là chứng khoán bắt đầu được phát hành hay không Đây không phải là sự khác nhau về hình thức mà là sự khác nhau về nội dung, về mục đích của TTCK Bởi lẽ, việc phát hành cố phiếu hay trái phiếu ở thị trường sơ cấp là nhằm thu hút mọi nguồn vốn đầu tư
và tiết kiệm vào công cuộc phát triển kinh tế Ở thị trường thứ cấp, dù việc giao dịch rất nhộn nhịp, có hàng chục, hàng trăm, thậm chí hàng ngàn tỷ đôla chứng khoán được mua đi, bán lại nhưng không có một đồng vốn nào được huy động vào đầu tư cả Ở đây chỉ có những khoản lời từ chênh lệch giá của những người mua bán chứng khoán
Tuy có sự phân chia như vậy nhưng giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối quan hệ mật thiết với nhau Quan hệ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp là quan hệ nội tại, trong đó thị trường sơ cấp là cơ
sở, là tiền đề; thị trường thứ cấp là động lực Nếu không có thị trường sơ cấp thì thị trường sơ cấp khó hoạt động trôi chảy, các chứng khoán sẽ rất khó khăn trong việc phát hành, không ai muốn mua cổ phiếu hoặc trái phiếu vì vốn của họ bị bất động, chứng khoán không dễ dàng chuyển hoá thành tiền tệ khi người đầu tư có nhu cầu (nghĩa là không có khả năng thanh khoản)
Trang 22ii) Xét về phương thức tổ chức và giao dịch:
TTCK bao gồm:
- TTCK tập trung: là thị trường ở đó việc giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện thông qua SGDCK, tại sàn giao dịch Đây là thị trường được quản lý rất chặt chẽ bằng những quy định pháp luật Không phải bất kỳ loại chứng khoán nào cũng được đem vào giao dịch ở SGDCK Để chứng khoán được giao dịch ở đây, các công ty phải hội đủ các điều kiện theo quy định của SGDCK Ở những TTCK lớn trên thế giới, chỉ những công ty cỡ lớn nhất mới đủ điều kiện trở thành thành viên của SGDCK Các SGDCK này đều có điều lệ xác định nguyên tắc tổ chức quản lý, thành phần hội viên, điều
lệ để thu nạp và CTCK thành viên là những người môi giới chính thức
- TTCK bán tập trung: là loại TTCK “bậc cao”, ở đó, việc giao dịch chứng khoán được thực hiện thông qua hệ thống máy tính nối mạng giữa các thành viên của thị trường, còn gọi là OTC (over – the – counter) Đây là thị trường mà các công ty môi giới chứng khoán thực hiện các giao dịch qua hệ thống điện thoại và hệ thống vi tính đã được nối mạng giữa các thành viên khắp trong cả nước Thị trường OTC không phải là một thị trường hiện hữu,
nó không nằm trên một vị trí trung tâm nào cả, nó bao gồm các công ty môi giới chứng khoán thành viên khắp trong cả nước Các thành viên thị trường OTC chủ yếu là những người kinh doanh chứng khoán, họ thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán cho chính mình, bằng nguồn vốn của mình Tuy nhiên, họ vẫn có giao dịch với tư cách là người môi giới ăn hoa hồng nhưng những giao dịch này không lớn
- Thị trường phi tập trung: còn gọi là thị trường thứ 3, là hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán được thực hiện tự do phân tán, không qua SGDCK và cũng không qua thị trường OTC Đây là tên gọi để chỉ tất cả hoạt động giao dịch, mua bán chuyển nhượng chứng khoán diễn ra ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào, có thể thông qua các nhà môi giới hoặc do chính người chủ sở hữu chứng khoán thực hiện Đây là thị trường mà chứng khoán được lưu hành
Trang 23gần như không phải tuân thủ những ràng buộc hay kiểm soát nào nên cũng là thị trường tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất
1.4 Bối cảnh phát triển của TTCK Việt Nam
TTCK Việt Nam ra đời khá muộn so với các nước khác trên thế giới
Sự ra đời của TTCK Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưa vào vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000
và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 Nghĩa là cho đến năm 2010, TTCK nước ta mới được 10 năm tuổi Năm 2005, trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội được khai trương; năm 2009 chính thức ra mắt thị trường UpCoM Đây là những mốc rất quan trọng trong quá trình hình thành
và phát triển của TTCK ở Việt Nam
Theo thống kê từ Ủy ban chứng khoán Nhà nước, quy mô TTCK Việt Nam năm 2010 được thể hiện qua các con số cụ thể như sau:
- Số mã chứng khoán niêm yết là 631 mã
- Giá trị vốn hóa thị trường trên 700.000 tỷ VND (40% GDP)
- Số lượng công ty Đại chúng là 997 công ty
- Số lượng công ty chứng khoán là 105 công ty
- Số lượng công ty quản lý quỹ là 47 công ty (trong đó có 23 Quỹ đầu
tư chứng khoán được lập)
- Số lượng văn phòng đại diện là 31 văn phòng
- Số tài khoản giao dịch là trên 1 triệu tài khoản (trong đó có trên 4.000 tài khoản của tổ chức)
TTCK nước ta đã đạt được những kết quả nhất định thời gian qua, tuy nhiên vẫn đang phát triển ở những bước đi đầu tiên Do đó, TTCK nước ta chưa có nhiều kinh nghiệm trong điều hành, quản lý thị trường cũng như không tránh khỏi những vấp váp Tuy nhiên, tiến hành trong điều kiện nhiều nước đã phát triển TTCK ở mức độ rất cao, các TTCK ở các nước phát triển
là những đối tượng cần thiết cho phép chúng ta học hỏi và rút ra được những bài học kinh nghiệm Từ đó, tìm hiểu được những mặt mạnh, mặt yếu của các
Trang 24mô hình, trên cơ sở đó mới có thể tìm ra con đường đi thích hợp, nhanh chóng
Về bối cảnh, TTCK Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều biến động với những cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra trên diện rộng
và ảnh hưởng không nhỏ tới những động thái của thị trường Tác động của thị trường tài chính thế giới là yếu tố không nhỏ gây ra những biến động trên TTCK Việt Nam thời gian qua
Về mặt hàng hóa, sự hình thành và phát triển TTCK Việt Nam gắn liền với quá trình chuyển đổi, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước mà chủ yếu là việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và chuyển doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài thành công ty cổ phần Cố phiếu của các doanh nghiệp này đã
và đang là hàng hóa chính của TTCK Việt Nam Bên cạnh đó, sự xuất hiện của các công cụ tài chính dài hạn (trái phiếu Chính phủ, trái phiếu ngân hàng
và một số trái phiếu công ty) mặc dù khả năng chuyển đổi và các phương thức phát hành còn nhiều hạn chế nhưng đây là những công cụ ban đầu tạo hàng hóa cho TTCK
Về các chủ thể tham gia thị trường: hiện nay, hoạt động chứng khoán sôi động nhất là hoạt động của các tổ chức phát hành cung cấp hàng hóa ra thị trường và hoạt động mua đi bán lại chứng khoán trên thị trường thứ cấp Điều này cũng có nghĩa là nhóm chủ thể hoạt động tích cực nhất trên TTCK Việt Nam hiện nay chính là nhóm các TCPH, các CTCK và các nhà đầu tư
2 Tranh chấp và vi phạm trên TTCK
Các đặc điểm của TTCK cho thấy ở đây luôn tiềm ẩn những cơ hội cho các hành vi gian lận, lừa đảo, thao túng thị trường, giao dịch nội gián vì mục đích trục lợi, đồng nghĩa với việc nó chứa đựng những rủi ro tiềm tàng đối với công chúng đầu tư và cũng chứa đựng những nguy cơ làm tổn hại đến sự phát triển lành mạnh của thị trường, gây ra những bất ổn và mối đe dọa phá vỡ thị trường Việc phát triển TTCK đồng nghĩa với việc huy động vốn từ tất cả các nhóm người có vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, tạo cơ hội đầu tư cho tất cả
Trang 25mọi người không phân biết lượng vốn ít hay nhiều cũng như kinh nghiệm, kiến thức đầu tư tốt hay không Sự mở rộng kênh huy động vốn cũng như tạo thêm cơ hội đầu tư này đồng thời cũng tạo ra một nhóm người yếu thế hơn trên TTCK, đó chính là công chúng đầu tư Đây là những người có lượng vốn nhỏ, thường là từ nguồn tích lũy bằng hình thức tiết kiệm, có kiến thức và kinh nghiệm đầu tư hạn chế (do không có nhiều thời gian dành cho hoạt động này) và dễ bị tác động bởi tâm lý đám đông, bị dẫn dắt bởi xu hướng hay bị tác động bởi các tin đồn, không đủ khả năng để nhận định, đánh giá các thông tin khác nhau trên thị trường để có thể tự mình ra quyết định một cách xác đáng Chính vì vậy, họ rất dễ bị dẫn dắt, thậm chí là bị đánh lừa bởi các tin đồn, bởi các động thái tạo xu hướng ảo trên thị trường bởi các nhà đầu tư chuyên nghiệp và có ý định trục lợi từ sự thiếu thông tin và thiếu kiến thức của công chúng đầu tư Chính vì vậy, đây cũng là mảnh đất tiểm ẩn rất nhiều khả năng xảy ra các tranh chấp và vi phạm
2.1 Nhận diện các tranh chấp và vi phạm trên TTCK
2.1.1 Nhận diện tranh chấp trên TTCK
Các tranh chấp thường phát sinh trên TTCK khi một hoặc một số chủ thể cho rằng chủ thể cùng tham gia quan hệ về chứng khoán đã có hành vi xâm phạm lợi ích của mình Tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực chứng khoán
có thể xuất phát từ hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán, xâm phạm trật tự quản lý nhà nước về chứng khoán hoặc có thể không xuất phát từ hành vi vi phạm hành chính hay hình sự mà chỉ là những bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên, khi một hoặc các bên cho rằng bên kia đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ để đảm bảo quyền lợi của bên còn lại trong quan hệ Căn cứ vào chủ thể, tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực chứng khoán
có thể bao gồm các loại sau:
- Tranh chấp giữa các nhà đầu tư: với số lượng đông đảo trên thị
trường và thường xuyên thực hiện các giao dịch mua và bán chứng khoán với
Trang 26nhau cũng như các giao dịch liên quan khác, tranh chấp giữa các nhà đầu tư rõ ràng là loại tranh chấp không thể tránh khỏi trên TTCK
- Tranh chấp giữa nhà đầu tư với các tổ chức cung cấp dịch vụ: Do
tính chất đa dạng trong các quan hệ được thiết lập giữa nhà đầu tư với các tổ chức có liên quan nên cũng có nhiều loại tranh chấp nảy sinh: như tranh chấp
về hợp đồng mở tài khoản giữa CTCK và khách hàng; tranh chấp về hợp đồng quản lý danh mục đầu tư; tranh chấp về hợp đồng tư vấn đầu tư chứng khoán; tranh chấp về cầm cố chứng khoán; tranh chấp về chuyển nhượng cổ phần
- Tranh chấp giữa các tổ chức phát hành với các tổ chức khác: tranh
chấp về việc thực hiện cam kết bảo lãnh phát hành; Tranh chấp liên quan đến
tư vấn phát hành chứng khoán
- Các loại tranh chấp khác: như tranh chấp về hợp đồng giữa tổ chức
phát hành trái phiếu với đại diện người sở hữu trái phiếu; tranh chấp về hợp đồng mở tài khoản giữa thành viên lưu ký là ngân hàng với khách hàng; tranh chấp về các hợp đồng mà một bên tham gia là các tổ chức, cá nhân nước ngoài; tranh chấp giữa tổ chức phát hành với nhà đầu tư, tranh chấp giữa các
tổ chức cung cấp dịch vụ, tranh chấp giữa các thành viên giao dịch và nhà tổ chức thị trường
2.1.2 Nhận diện vi phạm trên TTCK
Các vi phạm trên TTCK thường phát sinh trong trường hợp chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán Trật tự được đặt ra với mục đích đảm bảo các giao dịch diễn ra trên cơ
sở bình đẳng và phù hợp với lợi ích của các bên, từ đó bảo vệ sự lành mạnh chung của thị trường Việc xâm phạm trật tự này sẽ làm tổn hại đến lợi ích của các chủ thể tham gia thị trường và lợi ích chung của thị trường
Từ khái niệm chung về vi phạm pháp luật, chúng ta có thể hiểu vi phạm
pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK như sau: Vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK là những hành vi trái pháp luật của các
cá nhân, tổ chức cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của Nhà nước về chứng
Trang 27khoán, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật về chứng khoán xác lập
và bảo vệ mà tùy vào tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính, dân sự hay truy cứu trách nhiệm hình sự Trường hợp thiệt hại vật chất thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật 6
Trên TTCK, các hành vi vi phạm rất đa dạng và có thể được nhận diện tùy thuộc vào lĩnh vực hoạt động hoặc đối tượng chủ thể Nếu căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của TTCK, có thể có các loại vi phạm khác nhau như: vi phạm trong lĩnh vực phát hành chứng khoán; vi phạm trong lĩnh vực tổ chức thị trường, quản lý niêm yết chứng khoán; vi phạm các quy định về giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán; vi phạm quy định đối với người hành nghề kinh doanh chứng khoán; về đăng ký, thanh toán bù trừ, lưu ký chứng khoán; vi phạm các quy định về chế độ báo cáo, công bố thông tin, kiểm toán, thanh tra, kiểm tra…
Xét về mặt chủ thể vi phạm có thể có: vi phạm đối với tổ chức phát hành, vi phạm đối với Trung tâm giao dịch và trung tâm lưu ký, vi phạm đối với tổ chức kinh doanh chứng khoán, vi phạm đối với nhà đầu tư, vi phạm khác…Cụ thể:
- Hành vi vi phạm thường gặp đối với tổ chức phát hành: Vi phạm quy
định về hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng; Vi phạm quy định về thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng; Vi phạm nghĩa vụ báo cáo thông tin
- Hành vi vi phạm thường gặp đối với Trung tâm giao dịch và trung
tâm lưu ký chứng khoán: Vi phạm quy định về tổ chức thị trường giao dịch
chứng khoán; Vi phạm quy định về quản lý niêm yết của SGDCK; Vi phạm quy định về quản lý thành viên của SGDCK; Vi phạm quy định về giao dịch, giám sát và công bố thông tin của SGDCK; Vi phạm quy định về đăng ký giao dịch chứng khoán; Vi phạm quy định về đăng ký hoạt động lưu ký; Vi
6
Nhận diện vi phạm và hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm trên TTCK – UBCKNN- 2003, tr.11
Trang 28phạm quy định về đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán; Vi phạm quy định về trách nhiệm của ngân hàng giám sát, ngân hàng lưu ký
- Hành vi vi phạm thường gặp đối với tổ chức kinh doanh chứng khoán:
Vi phạm quy định về Giấy phép thành lập và hoạt động; Vi phạm quy định về hoạt động của CTCK; Vi phạm quy định về hoạt động của công ty quản lý quỹ; Vi phạm quy định về văn phòng đại diện của tổ chức kinh doanh chứng khoán; Vi phạm quy định về thành lập quỹ thành viên; Vi phạm quy định về hành nghề chứng khoán
- Hành vi vi phạm thường gặp đối với nhà đầu tư: Vi phạm quy định về
giao dịch của cổ đông sáng lập, cổ đông nội bộ, cổ đông lớn, người được ủy quyền công bố thông tin, giao dịch chứng chỉ quỹ của các đối tượng có liên quan; Vi phạm quy định về giao dịch, nắm giữ cổ phiếu của nhà đầu tư; Các hành vi gian lận trong giao dịch chứng khoán; Vi phạm quy định về giao dịch nội bộ trong giao dịch chứng khoán; Các hành vi thao túng giá chứng khoán;
Vi phạm quy định về chào mua công khai; Vi phạm các quy định về mua lại
cổ phiếu, bán cổ phiếu quỹ
- Vi phạm khác: Vi phạm quy định về công bố thông tin; Vi phạm quy định về báo cáo; Vi phạm quy định về kiểm toán tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứng khoán; Hành vi cản trở việc thanh tra, kiểm tra; Vi phạm quy định về hồ sơ đăng ký công ty đại chúng; Vi phạm quy định về nghĩa vụ công ty đại chúng
Các hành vi vi phạm này, tùy tính chất và mức độ có thể bị coi là vi phạm hành chính hoặc vi phạm hình sự hoặc vi phạm kỷ luật (trong trường hợp chủ thể vi phạm là thành viên của một tổ chức hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán)
Trang 292.2 Tình hình tranh chấp và vi phạm trên TTCK Việt Nam
2.2.1 Tình hình tranh chấp trên TTCK Việt Nam
Theo một khảo sát quy mô nhỏ do nhóm nghiên cứu thuộc Viện Khoa học pháp lý tiến hành đối với 203 cá nhân có tham gia thị trường ở các tư cách khác nhau7 về thực trạng tranh chấp và giải quyết tranh chấp, khi được hỏi về mức độ tranh chấp trên TTCK, phần lớn các chủ thể đều nhận định là
có tranh chấp với mức độ cụ thể như sau:
Tranh chấp nhiều và mang tính
phổ biến
* Biểu đồ thể hiện mức độ tranh chấp trên TTCK
49.30%
3.40%
47.30%
Tranh chấp nhiều và mang tính phổ biến
Có tranh chấp nhưng không nhiềuHầu như không có tranh chấp
Đáng chú ý là đối với những người mới tham gia thị trường thì mức độ nhận định có tranh chấp thấp hơn so với những người tham gia thị trường thời gian lâu hơn Cụ thể là 54,1% người tham gia thị trường từ 1 đến 2 năm và
7
Bao gồm 92 nhà đầu tư, 68 người là nhân viên CTCK; 33 người là nhân viên SGDCK và 9 người là nhân viên tổ chức phát hành
Trang 3055,2% người tham gia thị trường trên 2 năm nhận định là tranh chấp nhiều, mang tính phổ biến trong khi chỉ có 36,4% người mới tham gia thị trường nhận định như vậy
*Bảng số liệu so sánh mức độ đánh giá giữa các chủ thể về tình hình tranh chấp
Tỷ lệ
Người tham gia từ 1 đến 2 năm
Tỷ lệ
Người tham gia trên
Với các đánh giá này, có thể thấy rằng tranh chấp trên TTCK hiện nay
là tương đối phổ biến Bản thân các đối tượng được hỏi khi trả lời về việc bản thân họ hoặc tổ chức của họ đã từng có tranh chấp chưa thì tỷ lệ người lựa chọn đã từng cótranh chấp là khá cao với xấp xỉ 54% cho biết đã từng có tranh chấp, tỷ lệ cụ thể như sau:
*Bảng số liệu về thông tin của việc đã từng có tranh chấp của đối tượng được khảo sát
Mức độ tranh chấp Số người lựa chọn Tỷ lệ
Trang 31Biểu đồ về mức độ tranh chấp của các
đối tượng khảo sát
Trong số các đối tượng khảo sát trả lời đã từng gặp tranh chấp, số lượng nhà đầu tư và nhân viên CTCK, CTQ cho biết đã từng gặp tranh chấp
là nhiều hơn cả, có 61,3% trong số 93 nhà đầu tư được hỏi cho rằng đã gặp tranh chấp và 63,3% trong tổng số 68 nhân viên CTCK và CTQ được hỏi cho biết có gặp tranh chấp, phần lớn trong đó là có tranh chấp nhưng ít trong khi
số lượng nhân viên SGDCK và nhân viên TCPH cho biết có gặp tranh chấp chiếm tỷ lệ không cao với 21,2% và 33,3% Điều này cũng phù hợp với nhận định của những người được hỏi cho rằng tranh chấp xảy ra chủ yếu là giữa các nhà đầu tư với nhau và nhà đầu tư với CTCK, CTQ
Về loại tranh chấp xảy ra trên TTCK, theo nhận định của các chủ thể thì tranh chấp rơi vào 3 loại chủ yếu là (i) tranh chấp giữa các nhà đầu tư với nhau, (ii) tranh chấp giữa các nhà đầu tư với các tổ chức trung gian thị trường (CTCK, CTQ) và (iii) tranh chấp giữa các nhà đầu tư với những người cung cấp hàng hóa cho thị trường là các tổ chức phát hành Tỷ lệ nhận định về các loại tranh chấp này cụ thể như sau:
Trang 32Tranh chấp thường gặp Số người
lựa chọn
Tỷ lệ
Tranh chấp giữa các nhà đầu tư 119 58.6%
Tranh chấp giữa các nhà đầu tư với
Trang 33Người tham gia
1 năm
Người tham gia
từ 1 đến 2 năm
Người tham gia trên 2 năm
Tranh chấp thường
gặp
Số lượng
2.2.2 Tình hình vi phạm trên TTCK Việt Nam
Về tình hình vi phạm trên TTCK Việt Nam hiện nay, theo khảo sát của nhóm nghiên cứu, nhận định của các đối tượng được hỏi cho thấy tình hình vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán là tương đối phổ biến với phần lớn người được hỏi (92,1%) nhận định có vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán với các mức độ khác nhau Có tới 48,8% cho rằng vi phạm nhiều và mang tính phổ biến, chỉ có 7,9% số người được hỏi cho rằng hầu như không có vi phạm
Về chủ thể vi phạm, theo kết quả khảo sát thì tỷ lệ vi phạm cao tập trung vào hai đối tượng chủ yếu là CTCK và nhà đầu tư Có tới 68,5% người được hỏi cho rằng các nhà đầu tư là những người thường có hành vi vi phạm;
Trang 3462,1% người được hỏi cho rằng các CTCK thường xuyên vi phạm Đặc biệt, những người tham gia thị trường lâu hơn thì cũng có tỷ lệ lựa chọn CTCK và nhà đầu tư vi phạm cao hơn hẳn so với những người mới tham gia thị trường8 đánh giá về mức độ vi phạm của các tổ chức phát hành: có 44,3% người được hỏi cho rằng họ là những người thường xuyên vi phạm Chỉ có 26,6% người được hỏi cho rằng các nhân viên môi giới thường xuyên vi phạm và 10,8% cho rằng các công ty quản lý quỹ là những người thường xuyên vi phạm
Có Chủ thể thường vi phạm
Số người lựa chọn
tổ chức phát hành vào nhóm thường vi phạm Ngược lại, rất ít nhân viên CTCK cho rằng các CTCK là chủ thể thường vi phạm (chỉ có 36,8% thừa nhận) trong khi các nhà đầu tư, nhân viên sở giao dịch và nhân viên tổ chức phát hành thì phần lớn lại cho rằng các CTCK là chủ thể thường vi phạm Điều này cho thấy mức độ nắm bắt thông tin về hành vi vi phạm và tiêu chí đánh giá thế nào là hành vi vi phạm còn khác nhau giữa các chủ thể, vì vậy
8
Chỉ có 48,1% người tham gia thị trường dưới 1 năm cho rằng CTCK thường vi phạm và 53,2% cho rằng nhà đầu tư thường vi phạm Tỷ lệ này đối với người tham gia thị trường từ 1 năm đến 2 năm lần lượt là 81,1% và 89,2%; đối với những người tham gia thị trường từ 2 năm trở lên thì tỷ lệ là 65,5% và 73,6%
Trang 35đánh giá về hành vi vi phạm chỉ tập trung vào 2 chủ thể giao dịch trên thị trường một cách tích cực nhất trong bối cảnh hiện nay là CTCK và nhà đầu
tư Ngay cả các nhà đầu tư cũng thừa nhận mình thường vi phạm Trong khi
đó, các tổ chức phát hành cũng là chủ thể tham gia thị trường rất tích cực với
tư cách là người cung cấp hàng hóa cho thị trường thì dường như lại không được các thành viên thị trường khác quan tâm nhiều đến mức độ tuân thủ pháp luật, mặc dù chính nhân viên của họ thừa nhận là tổ chức phát hành cũng thường vi phạm
Khi được hỏi về việc bản thân đã từng có hành vi vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán, phần lớn các đối tượng được hỏi cho biết chưa từng vi phạm, tuy nhiên cũng có tới 23,2% thừa nhận đã từng vi phạm, trong đó có 5 nhà đầu tư (chiếm 5,4% tổng số nhà đầu tư được hỏi và 2,5% tổng số đối tượng khảo sát) cho biết mình thường xuyên vi phạm Đáng chú ý là những người này đều rơi vào nhóm có thời gian tham gia thị trường từ trên hai năm
Có tới 13 người được hỏi (6,4%) (chủ yếu là nhà đầu tư và trong đó có tới 5 người đã tham gia thị trường trên 2 năm) cho biết tự họ không biết mình có vi phạm hay không Tỷ lệ lựa chọn mức độ vi phạm cụ thể như sau:
Bảng: Thông tin của đối tượng khảo sát
Trang 363 Cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trên TTCK
Nhận diện cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trên TTCK có
ý nghĩa quan trọng khi bắt tay vào tìm hiểu các vấn đề liên quan Bên cạnh
đó, cần có các yếu tố cụ thể để đánh giá cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý
vi phạm trên TTCK Một cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm tốt là điều kiện tiên quyết đảm bảo TTCK minh bạch, lành mạnh và vận hành có hiệu quả
3.1 Nhận diện cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trên TTCK
Trong khuôn khổ của Đề tài nghiên cứu này, cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán sẽ được phân tích dưới giác độ là khái niệm được cấu thành bởi các yếu tố: các quy định về giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán, các thiết chế thực thi các quy định này và các điều kiện bảo đảm thực thi
Các quy định về giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm bao gồm hai bộ phận là các quy định về giải quyết tranh chấp và các quy định về xử lý vi phạm Liên quan đến các quy định về xử lý vi phạm, pháp luật phải thể hiện chính sách: hành vi ứng xử nào trên TTCK được coi là vi phạm Lĩnh vực chứng khoán, cũng như các lĩnh vực khác của đời sống xã hội đều cũng sẽ phát sinh những hành vi của các chủ thể không phù hợp với lợi ích chung và không đáp ứng được yêu cầu phát triển lành mạnh của thị trường Nhà nước, với tư cách là người có vai trò điều tiết và đảm bảo các điều kiện cần thiết cho việc phát triển thị trường cần nhận diện các hành vi không phù hợp này thông qua các quy định xác định đó là hành vi vi phạm, trên cơ sở đó đặt ra các quy định về xử lý vi phạm tương ứng (được coi là chế tài) Tùy vào quan điểm của nhà nước (dựa trên sự đánh giá mức độ tác động xấu tới lợi ích chung, tác động xấu tới thị trường của hành vi bị coi là vi phạm) mà pháp luật xác định
đó là hành vi vi phạm nghiêm trọng hay không nghiêm trọng và trên cơ sở đó, đặt ra mức chế tài tương ứng Căn cứ vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, khoa học pháp lý phân chia các hành vi vi phạm hành vi vi phạm
Trang 37hành chính, hành vi vi phạm hình sự, tương ứng với các mức chế tài của nó là chế tài hành chính hay hình sự Trong lĩnh vực chứng khoán, các hành vi vi phạm cũng được chia thành vi phạm hành chính và hành vi vi phạm hình sự Bản thân trong nhóm hành vi vi phạm hành chính hay hình sự cũng có các mức độ nặng, nhẹ khác nhau và được thể hiện bằng các hình thức chế tài nặng, nhẹ khác nhau
Tuy nhiên, để đánh giá một cơ chế xử lý vi phạm thì không thể chỉ thuần túy nhìn vào các quy định về các hành vi vi phạm và các hình thức xử
lý Các quy định về các hành vi vi phạm luôn phải dựa trên các quy định về điều tiết thị trường, cụ thể là các quy định về cấm, về buộc phải làm, về khuyến khích để từ đó xác định: làm những điều pháp luật cấm, không làm những điều pháp luật buộc phải làm hay cản trở những điều được pháp luật khuyến khích đều phải bị coi là hành vi vi phạm Một hệ thống quy định pháp luật về xử lý vi phạm chỉ được coi là hoàn thiện khi giữa các quy định về vi phạm, về chế tài xử lý với các quy định điều tiết thị trường có sự hài hòa và
hỗ trợ lẫn nhau, thể hiện một quan điểm thống nhất về quản lý và điều tiết thị trường Điều này cũng có nghĩa là việc đánh giá các quy định pháp luật về xử
lý vi phạm không thể tách rời các quy định về điều tiết thị trường nói chung
Bên cạnh đó, cũng sẽ không đầy đủ nếu đánh giá về cơ chế xử lý vi phạm mà không xét đến cơ chế giám sát thị trường Giám sát thị trường là khâu đầu tiên thực hiện có vai trò phát hiện, ngăn chặn những hành vi gian lận, lừa đảo, giao dịch nội bộ, thao túng thị trường và các hành vi vi phạm các quy định pháp luật về chứng khoán và TTCK liên quan đến hoạt động giao dịch chứng khoán Vì vậy, đây là khâu quan trọng và có ý nghĩa quyết định hiệu quả của cơ chế xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán
Đối với các thiết chế: với tư cách là chủ thể đảm bảo thực thi các quy
định pháp luật trên TTCK, các thiết chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trên TTCK trước hết phải là các cơ quan nhà nước Bao gồm: UBCK, TAND là hai thiết chế chủ yếu Tuy nhiên, sẽ là thiếu sót nếu không đề cập đến các tổ chức tự quản, các nhà kinh doanh chứng khoán với tư cách là
Trang 38những chủ thể có vai trò hỗ trợ việc thực thi các quy định về xử lý vi phạm Trong lĩnh vực chứng khoán, các tổ chức tự quản đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đảm bảo tuân thủ pháp luật của các thành viên Căn cứ Điều
9 Quy chế thành viên giao dịch tại SGDCK Hà Nội ban hành kèm theo Quyết
định số 323/QĐ-SGDHN ngày 04/6/2010, một trong những nghĩa vụ của
thành viên giao dịch của SGDCK Hà Nội là chịu sự kiểm tra, giám sát của SGDCK Hà Nội Thành viên giao dịch cũng có trách nhiệm kiểm soát chặt chẽ tình hình đặt lệnh của khách hàng đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của pháp luật
Về các điều kiện đảm bảo của cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi
phạm trong lĩnh vực chứng khoán phải nói đến nguồn nhân lực vận hành cơ chế này, được đánh giá thông qua số lượng, trình độ, năng lực chuyên môn của cán bộ, các điều kiện cơ sở vật chất để giám sát thị trường, các công cụ và
sự hỗ trợ của các chủ thể liên quan trong phát hiện và xử lý vi phạm Nói tới công cụ hỗ trợ cho cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm không thể không nói tới một trong những công cụ phục vụ cho hoạt động giám sát chính
là hệ thống các tiêu chí giám sát Để có thể giám sát các diễn biến của thị trường và phát hiện được các hành vi có dấu hiệu gian lận, thao túng thị trường, giao dịch nội gián, cơ quan giám sát cần xây dựng được các công cụ giám sát dựa trên sự phân tích kết hợp các quy định pháp luật (về các hành vi
bị cấm thực hiện trên thị trường, các hành vi buộc phải thực hiện khi tham gia thị trường) với các phân tích về kinh tế (những dấu hiệu nào cho thấy hành vi
bị cấm có khả năng đang diễn ra hay hành vi buộc phải thực hiện đã không được thực hiện Chẳng hạn sự thay đổi về giá không gắn với những thông tin mới có thể là dấu hiệu của hành vi giao dịch nội gián, hay đối với từng chứng khoán thì mức độ ảnh hưởng của nó tới chỉ số chung của thị trường như thế nào để xác định chứng khoán nào có nguy cơ bị thao túng cao) Các phân tích này sẽ cho phép đưa ra hệ tiêu chí giám sát và hệ tiêu chí giám sát này có thể lồng ghép vào tính năng của các phần mềm giám sát, tạo ra một hệ thống giám sát tự động nhờ ứng dụng của công nghệ thông tin
Trang 39Ngày nay, công nghệ thông tin đã trở thành công cụ hỗ trợ tích cực cho các cơ quan quản lý trong giám sát và phát hiện các giao dịch nội gián hay hành vi thao túng thị trường Căn cứ vào các tiêu chí giám sát, các hệ thống giao dịch có thể được thiết kế đảm bảo khả năng lưu giữ, tích hợp dữ liệu và đưa ra các cảnh báo về các trường hợp vi phạm hay các giao dịch đáng ngờ, hay những trường hợp có biến động bất thường về giá và các yếu tố khác, để các cơ quan quản lý có thể theo dõi và phát hiện các hành vi vi phạm
Yêu cầu đối với một hệ thống tối ưu cho phép giám sát là công nghệ phải được tích hợp và tự động hóa Tại các Sở giao dịch, hệ thống giao dịch, thanh tóan bù trừ và các phần hỗ trợ khác cần được tự động hóa và tích hợp
để có hòan chỉnh về qui trình kiểm tóan nghiệp vụ (audit trail) đối với lệnh, giao dịch Công nghệ trên thị trường có thể chia thành hai phần chính là hệ thống giao dịch và hệ thống thanh tóan Trong điều kiện lý tưởng về giám sát thì giao dịch và thanh tóan cần được tự động hóa Điều này có nghĩa là, mọi giao dịch, lệnh đặt từ bất kỳ công ty chứng khóan (CTCK), nhà đầu tư đều được truyền và xử lý tự động Như vậy, hệ thống tự động cung cấp cho giám sát điều kiện tối ưu về kiểm tóan qui trình Ngòai ra nó còn cung cấp chi tiết
về khách hàng bao gồm cả thanh tóan và thông tin về người đó cho hệ thống giám sát
Việc tự động hóa còn giúp cho giám sát có thể nhận được thông tin tức thời về công ty (ví dụ về các cá nhân điều hành và liên quan…) Nó cũng bao gồm thông tin đến từ công ty và từ các nguồn khác như tổ chức phân tích chứng khóan, báo chí Cơ quan giám sát ngòai việc có thể truy cập nhận thông tin về người hành nghề kinh doanh chứng khóan, nhà đầu tư còn có thể truy cập bản tin của CTCK và các trao đổi điện tử với khách hàng Tuy nhiên, có một thực tế là phần mềm tại các CTCK khác nhau nên thời gian và tiền bạc để xây dựng hệ thống giao tiếp được là rất tốn kém về chi phí
Bên cạnh đó, để có thể hỗ trợ tích cực cho công tác giám sát thị trường thì các phần mềm giám sát giao dịch cần đảm bảo được các tính năng (i) hỗ trợ việc tạo lập các mẫu giao dịch chuẩn, tái lập hành vi giao dịch để vừa có
Trang 40thể sử dụng trong phân tích, đánh giá hành vi bị tình nghi vừa cho phép cung cấp bằng chứng cho tòa án; tạo ra các cảnh báo chính xác trên cơ sở phát hiện các giao dịch bất thường (sai lệch so với các giao dịch chuẩn) và giảm thiểu cảnh báo sai lạc, có thể đưa ra hình ảnh rõ ràng về hành vi giao dịch và các tính năng khác giúp cho việc giám sát được kịp thời, cung cấp được đầy đủ thông tin về các hành vi bất thường hay các hành vi tạo ra diễn biến bất thường của thị trường để có thể hỗ trợ ra kết luận về việc có vi phạm hay không, cũng như cung cấp các bằng chứng trước tòa trong trường hợp cần thiết Điều này cũng có nghĩa là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hệ thống giám sát phải được thể chế hóa và được pháp luật công nhận9
Như vậy, để hoàn thiện công cụ giám sát với sự ứng dụng của công nghệ thông tin cần có sự liên kết, phối hợp giữa các cơ quan có chức năng trong việc đảm bảo sự tương thích, hoàn thiện về công nghệ cũng như thế chế hóa các công cụ giám sát này
3.2 Vai trò của cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trên TTCK
và các yếu tố để đánh giá cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trên TTCK
3.2.1 Vai trò của cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong việc đảm bảo một TTCK minh bạch, lành mạnh và vận hành có hiệu quả
Tranh chấp và vi phạm có thể coi là hai khuyết tật tự thân của thị trường và đều đe dọa sự bình ổn cũng như vận hành một cách lành mạnh và bền vững của thị trường Nếu như vi phạm là những hành vi xâm phạm trật tự cần có của thị trường, khiến cho thị trường bị vận hành một cách lệch lạc thì tranh chấp lại thể hiện sự xung đột về lợi ích giữa các chủ thể và tạo ra những mâu thuẫn từ bên trong thị trường Do vậy, các vi phạm cần được xử lý triệt
để để giúp thị trường vận hành theo đúng quy luật của nó, hạn chế những sự méo mó và lệch lạc trong khi các tranh chấp cần được giải quyết thỏa đáng để
9
Issues in surveillance – Prof Aitken, university of Sydney, 2002