7 Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng năm 1981 được ban hành trờn cơ sở Hiến phỏp năm 1980 đó quy định rừ nhiệm vụ của Hội đồng Bộ trưởng là: “ Tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giá
Trang 1Bộ TƯ PHáP VIệN KHOA HọC PHáP Lý
Báo cáo tổng hợp
cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng
luật phổ biến, giáo dục pháp luật
Chủ nhiệm đề tài: P GS TS Nguyễn Tất Viễn
8217
Hà nội, tháng 10 - 2010
Trang 2MỤC LỤC
trang
I CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA VỀ CÔNG TÁC
PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY 10
1 Công tác phổ biến giáo dục pháp luật giai đoạn 1945 - 1960 10
2 Công tác phổ biến giáo dục pháp luật giai đoạn 1961 đến 1972 13
3 Công tác phổ biến giáo dục pháp luật từ 1981 đến nay 17
1.3.1 Từ 1981 đến 1998 17
1.3.2 Từ 1998 đến nay 21
1 Các quy định pháp luật hiện hành về PBGDPL và tác động của
1.1 Những quy định chung 28
1.2 Các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ 29
1.3 Các văn bản, chương trình, kế hoạch liên tịch, liên ngành 30
2 Tổ chức quản lý công tác PBGDPL 33
3.1 Cán bộ chuyên trách và bán chuyên trách thực hiện công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật 35
3.2 Những người khác tham gia PBGDPL 36
4 Kết quả hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật 37
4.1 Về đối tượng được tuyên truyền 37
4.2 Nội dung pháp luật được tuyên truyền 37
4.3 Các hình thức, biện pháp tuyên truyền 38
4.4 Đầu tư cơ sở vật chất cho công tác PBGDPL 43
Trang 34.5 Hợp tỏc quốc tế trong lĩnh vực PBGDPL 44
5 Hạn chế của hoạt động PBGDPL hiện nay 45
III KINH NGHIỆM HOẠT ĐỘNG PBGDPL Ở MỘT SỐ NƯỚC TRấN
THẾ GIỚI VÀ KHẢ NĂNG VẬN DỤNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM 47
IV NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA KHI XÂY DỰNG LUẬT PBGDPL 62
1 Khỏi niệm phổ biến, giỏo dục phỏp luật 62
2 Nhiệm vụ của hoạt động phổ biến, giỏo dục phỏp luật 64
2.1 Hình thành tri thức pháp luật và thói quen sống theo pháp luật 64
2.2 Góp phần bảo đảm tính công khai, minh bạch của pháp luật 65
2.3 Là cách thức hiệu quả nhất đưa pháp luật đến với người dân 65
3 Đặc trưng của hoạt động phổ biến, giỏo dục phỏp luật 66
3.1 Tớnh đa dạng của chủ thể thực hiện phổ biến, giỏo dục phỏp luật 66
3.2 Tớnh “mở”của đối tượng được phổ biến, giỏo dục phỏp luật 68
3.3 Tớnh giới hạn của nội dung phổ biến, giỏo dục phỏp luật 68
3.4 Sự đa dạng, phong phỳ và giàu chất sỏng tạo của cỏc hỡnh thức
phổ biến, giỏo dục phỏp luật 69
4 Cỏc nguyờn tắc hoạt động phổ biến, giỏo dục phỏp luật 69
4.1 Đảm bảo quyền được thụng tin, quyền được tham gia quản lý nhà 69
Trang 4nước của công dân
4.2 Đảm bảo tính phù hợp với đối tượng, địa bàn, tính khả thi, tính
hiệu quả của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật 71
5 Những thuận lợi, khó khăn trong phổ biến, giáo dục pháp luật 73
5.2 Hạn chế, khó khăn 74
6 Các tiền đề xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật 76
6.1 Chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật 77
6.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tuyên truyền pháp luật - Tiền
đề tư tưởng xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật 79
7 Hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật - yếu tố cần tính
đến khi xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật 84
8 Phạm vi điều chỉnh và những nội dung chủ yếu của Luật Phổ biến,
8.1 Sự cần thiết xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật 88
8.2 Dự báo tác động của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật 90
8.3 Nội dung chủ yếu của Luật 91
Trang 5
Các chuyên đề
trang
1 Lịch sử công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của
Nhà nước ta từ năm 1945 đến nay
Tô Thị Thu Hà 101
2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tuyên truyền,
phổ biến và giáo dục pháp luật
Nguyễn Tất Viễn 118
3 Nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt
động phổ biến, giáo dục pháp luật - sự cần thiết ban
hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và dự báo
tác động xã hội của việc ban hành Luật Phổ biến,
giáo dục pháp luật
Phạm Hữu Nghị 127
4 Đánh giá hiệu quả của công tác tuyên truyền, phổ
biến và giáo dục pháp luật ở Việt Nam
Nguyễn Duy Quý 138
5 Thực trạng công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật
hiện nay – Tác động của việc điều chỉnh bằng pháp
luật đối với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả
công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật
Uông Ngọc Thuẩn 144
6 Cơ chế quản lý và phối hợp của các cơ quan, ban,
ngành trung ương và địa phương trong hoạt động
phổ biến, giáo dục pháp luật - thực trạng, giải pháp
và kiến nghị hoàn thiện
Phạm Thị Hoà 176
7 Quá trình thể chế hoá đường lối, chính sách của
Đảng trong lĩnh vực phổ biến, giáo dục pháp luật,
kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra đối với việc xây
dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật
Phạm Minh Tuấn 190
8 Vấn đề xã hội hoá đối với công tác Phổ biến, giáo
dục pháp luật - nhu cầu, thực trạng và những định
hướng cơ bản
Đinh Ngọc Vượng 204
Trang 69 Giáo dục pháp luật trong nhà trường ở Việt Nam -
11 Mối tương quan giữa Luật Tiếp cận thông tin và
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật
Nguyễn Thị Hạnh 244
12 Tổ chức và hoạt động thông tin, tuyên truyền và phổ
biến pháp luật ở một số nước trên thế giới và khả
năng vận dụng trong điều kiện của Việt Nam hiện
nay
Quách Dương 254
Trang 7BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG LUẬT
PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
NHÓM THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
- PGS.TS Nguyễn Tất Viễn, NXB Tư pháp - Chủ nhiệm Đề tài
- ThS Nguyễn Thị Thạo, Vụ PBGDPL, Bộ Tư pháp - Thư ký Đề tài
- TS Nguyễn Văn Quyền, Văn phòng Trung ương Đảng
- GS.VS Nguyễn Duy Quý, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- PGS.TS Phạm Hữu Nghị, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
- TS Dương Thị Thanh Mai, Bộ Tư pháp
- TS Phan Chí Hiếu, Học viện Tư pháp
- CVC Phạm Thị Hòa, Vụ PBGDPL, Bộ Tư pháp
- TS Phạm Minh Tuấn, Học viện CTHCQG Hồ Chí Minh Khu vực II
- PGS.TS Đinh Ngọc Vượng, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
- CVC Uông Ngọc Thuẩn, Vụ PBGDPL, Bộ Tư pháp
- ThS Quách Văn Dương, Vụ PBGDPL, Bộ Tư pháp
- LG Tô Thị Thu Hà, Vụ PBGDPL, Bộ Tư pháp
- ThS Nguyễn Thị Hạnh, Vụ Pháp luật hình sự- hành chính, Bộ Tư pháp
- ThS Nguyễn Thị Thu Huyền, Cục Công nghệ thông tin, Bộ Tư pháp
và các cộng tác viên khác
Trang 8
Lời nói đầu
1 Sự cần thiết nghiên cứu Đề tài
Chỉ thị số 32 - CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) đã xác định phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân của Đảng đã được thể chế hóa trong Hiến pháp của Nhà nước ta (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đòi hỏi một tinh thần thượng tôn pháp luật trong xã hội Khẩu hiệu “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” phải trở thành hành động thực tế của mỗi thành viên Quá trình hội nhập ngày càng sâu vào đời sống quốc tế của Việt Nam đòi hỏi pháp luật phải minh bạch, công khai, được thực thi nghiêm chỉnh nhằm bảo vệ lợi ích chung của Nhà nước, của xã hội và lợi ích chính đáng của các tổ chức, cá nhân Tuy nhiên, theo đánh giá chung hiện nay, ý thức pháp luật và thái độ chấp hành pháp luật trong xã hội còn kém Hiện tượng vi phạm pháp luật do không hiểu biết pháp luật hoặc có hiểu biết nhưng vẫn vi phạm ở một bộ phận cán
bộ và nhân dân tiếp tục diễn ra Một số loại tội phạm có diễn biến phức tạp, chưa bị đẩy lùi, gây bức xúc trong xã hội Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật chưa đáp ứng được yêu cầu hiện nay
Trong 65 năm qua và nhất là từ sau khi công cuộc đổi mới toàn diện đất nước bắt đầu, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, văn bản, nhiều chương trình,
kế hoạch hướng dẫn công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Tuy nhiên, kết quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa thực sự đáp ứng được mong muốn của xã hội Điều đó có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng về phổ biến, giáo dục pháp luật còn chậm Cho đến nay chưa
có một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao, làm cơ sở pháp lý thống nhất,
Trang 9đồng bộ, tạo một cơ chế pháp lý chặt chẽ và hành lang pháp lý cần thiết cho công tác PBGDPL trong tình hình mới
Trong thông báo kết luận số 74/TB - TW ngày 08/5/2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã yêu cầu :“đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn hiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ và đồng bộ, tạo điều kiện để mọi người dân sống và làm việc theo pháp luật ; nghiên cứu, ban hành đạo luật riêng về phổ biến, giáo dục pháp luật, làm cơ sở pháp lý thống nhất, điều chỉnh toàn diện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật” Để có căn cứ khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng Luật phổ
biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp đã cho triển khai đề tài “Cơ sở lý luận và thực
tiễn của việc xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật”
2 Mục đích nghiên cứu của Đề tài: làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn xây
dựng Luật phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam
3 Nhiệm vụ của Đề tài:
- Xác định nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, sự cần thiết ban hành Luật
- Đánh giá thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của nhà nước ta từ
1945 đến nay, tập trung vào thời kỳ đổi mới, đặc biệt là từ năm 1998 đến nay
- Đề xuất xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật trên cơ sở nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với lĩnh vực hoạt động này
4 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong Đề tài là phương pháp lịch sử cụ thể, hệ thống, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp
Trang 10*Các tài liệu trong tập này gồm:
- Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu
- Các chuyên đề khoa học của đề tài
* Cơ cấu của Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài gồm 4 phần:
I Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 19456 đến nay
II Thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay
III Kinh nghiệm hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật ở một số nước trên thế giới và khả năng vận dụng đối với Việt Nam
IV Những vấn đề đặt ra khi xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật
Nhóm nghiên cứu xin chân thành cám ơn Viện khoa học pháp lý, Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp, Thường trực Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL của Chính phủ; Sở Tư pháp các tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Định, Cần Thơ, Tiền Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Hải Phòng, Hà Nội và các tổ chức pháp chế Bộ, ngành:
Vụ pháp chế Bộ Nội vụ, Vụ pháp chế Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ pháp chế Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội cùng nhiều tổ chức, các nhân khác đã tận tình giúp
đỡ các thành viên của Nhóm Đề tài trong quá trình triển khai nhiệm vụ nghiên cứu
Hà Nội, tháng 10 năm 2010
Trang 11I CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA VỀ CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
Phổ biến giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, trong suốt 65 năm qua (1945-2010), Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác phổ biến, giáo dục pháp luật,
có nhiều chủ trương, định hướng để ngày càng đưa công tác này đi vào chiều sâu, có trọng tâm, trọng điểm Đặc biệt, trong bối cảnh tình hình hiện nay, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN đã và đang đặt ra như là một trong những nhiệm vụ trọng yếu Việc nâng cao ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống, từng bước xây dựng và hình thành lối sống và làm việc pháp luật trong
xã hội chính là góp phần đáp ứng các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển của Nhà nước ta có thể thấy trong hoàn cảnh nào, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cũng được quan tâm và chú ý, tuy có thể ở các mức độ khác nhau
1 Công tác phổ biến giáo dục pháp luật giai đoạn 1945 – 1960
Sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 28/8/1945, trong Tuyên cáo của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã công bố Danh sách Nội các thống nhất quốc gia có 13 Bộ trưởng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Ngay trong phiên họp của Chính phủ ngày 03 tháng 9 năm 1945, trong số những nhiệm vụ cấp bách của chính quyền nhân dân còn non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chống lại những thói xấu mà thực dân Pháp đã đầu độc nhân dân ta sau 80 năm thống trị
Bộ Tư pháp và Bộ Thông tin - Tuyên truyền (năm 1946 đổi thành Bộ Tuyên truyền và cổ động, năm 1954 đổi thành Bộ Tuyên truyền) là những bộ được thành lập ngay từ ngày đầu, có vai trò rất quan trọng trong phổ biến, tuyên truyền chính sách và pháp luật của nhà nước ta Ngày 01/12/1945, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Nghị định số 37 về tổ chức Bộ Tư pháp, trong đó quy định nhiệm vụ tuyên
Trang 12truyền pháp luật Nghị định này là văn bản pháp lý đầu tiên đặt nền móng cho công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật Liên quan đến hoạt động tuyên truyền pháp luật, Điều 1 của Nghị định đã quy định một số đơn vị thuộc Bộ có
trách nhiệm triển khai hoạt động này như: Phòng sự vụ nội bộ thuộc Phòng Nhất
thực hiện nhiệm vụ Thư tín chính trị - Phân phát công văn - Việc xin yết kiến - Việc công bố các đạo luật và sắc lệnh – Đưa các bản đăng công báo – Giao thiệp với Nghị viện và Chính phủ - Triệu tập các uỷ ban…Trông coi thư viện và các báo
chí của Bộ - Giữ các kiềm ấn
Bộ Tư pháp phải đảm đương nhiều công việc khác nhau nhưng hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật đã bắt đầu được quan tâm Điều này được thể hiện qua việc cho đăng Công báo các văn bản pháp luật, một cách thức xác lập tính pháp lý cho các văn bản, đồng thời để thực hiện việc phổ biến văn bản pháp luật đó cho đội ngũ cán bộ Nhà nước Bên cạnh đó, còn là hoạt động “huấn thị” các văn bản pháp luật (Nghị định của Nhà nước), thể hiện cách thức tổ chức triển khai các văn bản pháp luật đến đội ngũ cán bộ thực hiện trong những ngày đầu tiên của chính quyền cách mạng Do những yếu tố khách quan, mặc dù hoạt động phổ biến các văn bản pháp luật chưa xác định mở rộng đối tượng đến nhân dân nhưng đã bước đầu được coi trọng, xác lập các hình thức, cách thức đầu tiên cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật của Nhà nước ta Bộ Tư pháp thời kỳ này quản lý cả cơ quan công tố
và các toà án
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bắt đầu từ ngày 19/12/1946
Bộ Tư pháp gấp rút sơ tán, công việc ngày càng khẩn trương Việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật thời kỳ này được thông qua nhiều hình thức, trong dó có hoạt động xét xử của toà án Theo Hiến pháp năm 1946 và các Sắc lệnh đầu tiên của Nhà nước
ta thì Toà án giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ chế độ Nhà nước, chế
độ xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ công lý và công bằng xã hội Trong hoạt động xét xử của toà án, công tác hoà giải giữ một vai trò rất quan trọng, có tác dụng giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân
Trang 13bằng cách phân tích, lý giải, thuyết phục…nhanh chóng, kịp thời, phù hợp với đạo
lý truyền thống của người Việt Nam Trong cách tổ chức toà án, thẩm quyền của toà
án sơ cấp được chú trọng nhằm giải quyết triệt để mọi tranh chấp trong nhân dân một cách đơn giản, nhanh chóng gần giống như một tổ chức làm nhiệm vụ hoà giải mâu thuẫn trong nhân dân với sự tham gia của Nhà nước (Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946), thông qua đó giáo dục nhân dân ý thức chấp hành pháp luật
Để triển khai thực hiện các nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ phổ biến giáo dục pháp luật, đội ngũ cán bộ Tư pháp rất được coi trọng Chính phủ đã coi cán bộ tư pháp là “bậc trí thức” có “trách nhiệm nặng nề và vẻ vang”, là phải “làm gương cho dân trong mọi việc” Cán bộ Tư pháp là “viên chức của Chính phủ cộng hoà”, do
đó “phải tuyệt đối trung thành với chính quyền dân chủ”, “là những người phụ trách thi hành pháp luật, lẽ tất nhiên phải nêu cao cái gương “phụ công thủ pháp”,
“chí công vô tư” cho nhân dân noi theo” 1 Cán bộ tư pháp, những người trực tiếp thi hành pháp luật đồng thời là người đưa pháp luật đến với nhân dân, thực hiện công việc phổ biến, giáo dục pháp luật, trực tiếp nắm bắt tình hình thực tế, từ đó làm cho dân hiểu, dân tin như Bác Hồ đã dạy: “Trong công tác xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch Như thế cũng chưa đủ…, phải gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân” 2
Năm 1950 đã diễn ra cuộc cải cách tư pháp lần thứ nhất trên 3 phương diện: về luật pháp, về tố tụng và về tổ chức nhằm dân chủ hoá thêm một bước tổ chức và hoạt động tư pháp phù hợp với lời nói đầu của Hiến pháp năm 1946, “đảm bảo các quyền tự do, dân chủ, thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” Cuộc cải cách đã thay đổi nhiều về cơ cấu tổ chức, một trong những sự thay đổi đó tập trung vào việc đẩy mạnh công tác hoà giải: ở cấp huyện cho thành lập Hội đồng hoà giải gồm thẩm phán và hội thẩm nhân dân Trong điều kiện kháng chiến khó khăn, gian khổ, hoạt động này đã góp phần tích cực, ghi những dấu ấn đầu tiên trong việc thực hiện đưa pháp luật đến với nhân dân, hướng dẫn nhân dân tuân thủ
1 Hồ Chí Minh, Nhà nước và Pháp luật, NXB Pháp lý, 1985, tr.240
Trang 14những quy định của Nhà nước để giữ vững thành quả cuộc cách mạng cũng như ổn định xã hội để bảo vệ đất nước, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược đến thắng lợi cuối cùng
Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi năm 1954, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng Với đặc điểm của thời kỳ mới, Đảng và Nhà nước đã quyết định tổ chức lại nền hành chính ở miền Bắc, đồng thời tổ chức lại hệ thống tư pháp Ngày 20/9/1955, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa thứ V đã thông qua việc đổi tên Bộ Tuyên truyền thành Bộ Văn hóa.3 (Sau nhiều lần đổi tên và thay đổi chức năng, nhiệm vụ, nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) Bộ Văn hóa lúc đó có nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, chính sách và pháp luật
Ngày 11/2/1960, Thủ tướng Phạm Văn Đồng thay mặt Hội đồng Chính phủ ký ban hành Nghị định số 01/CP quy định nhiệm vụ và tổ chức của Bộ Tư pháp Theo Nghị định này, một trong những nhiệm vụ chủ yếu của Bộ Tư pháp là: “Chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm mục đích giáo dục cho nhân dân ý thức tuân theo pháp luật”
Thực hiện các nhiệm vụ được giao, cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp được xác định bao gồm các đơn vị: Vụ tổ chức cán bộ, Vụ Tuyên giáo, Vụ nghiên cứu pháp luật, Trường cán bộ tư pháp, Văn phòng và một số phòng giúp việc do Bộ trưởng
Bộ Tư pháp quyết định thành lập sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn Với những quy định này, lần đầu tiên công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được xác lập là một nhiệm vụ chủ yếu của ngành Tư pháp Nghị định số 01 tạo lập
cơ sở pháp lý đầu tiên ghi nhận và đánh giá tầm quan trọng của công tác này, đưa hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật chính thức trở thành một nhiệm vụ không thể thiếu của ngành tư pháp nói riêng và của Nhà nước nói chung
2 Công tác phổ biến giáo dục pháp luật giai đoạn 1961 đến 1972
Đại hôi Đảng toàn quốc lần thứ III năm 1960 đã khẳng định: “Nhà nước dân chủ nhân dân có nhiệm vụ tiến hành công tác giáo dục, tổ chức và hướng dẫn nhân
3
C«ng b¸o n−íc ViÖt nam D©n chñ céng hoµ sè 19/55, tr 192
Trang 15dân thực hiện sự nghiệp cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng và củng cố sự nhất trí về chính trị và tinh thần của nhân dân Nhà nước
có trách nhiệm bảo đảm mọi quyền lợi của nhân dân, không ngừng mở rộng dân chủ, thi hành đúng Hiến pháp và các luật lệ đã ban hành, xây dựng pháp chế xã hội chủ nghĩa và giáo dục mọi người tôn trọng pháp luật; phát huy tinh thần làm chủ, nâng cao trình độ chính trị, vǎn hóa của nhân dân” 4
Theo Luật Tổ chức Hội đồng Chính phủ được thông qua ngày 14/7/1960, trong Chính phủ không có Bộ Tư pháp Các chức năng của Bộ Tư pháp được chuyển giao cho các cơ quan như Toà án nhân dân tối cao, Văn phòng Phủ Thủ tướng (Vụ Pháp chế Phủ Thủ tướng) và một số cơ quan khác Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo đó cũng bị phân tán Tuy nhiên, vào cuối năm 1961, giữa Toà án nhân dân tối cao, Văn phòng Phủ Thủ tướng và Vụ Pháp chế Phủ Thủ tướng
đã thoả thuận phân công về một số chức năng liên quan đến lĩnh vực tư pháp Theo
đó, về chức năng tuyên truyền giáo dục pháp luật: Văn phòng Chính phủ cùng các
Bộ chỉ đạo tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong tất cả các lĩnh vực, Toà án nhân dân tối cao chỉ đạo các cấp toà án tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trước các phiên toà 5
Trước đó, Luật tổ chức toà án nhân dân được thông qua vào ngày 14/7/1960 quy định về thẩm quyền của Toà án nhân dân tối cao: “…Toà án nhân dân tối cao nghiên cứu những quy định về tổ chức tư pháp, thủ tục tố tụng, luật hình sự, dân sự, phụ trách việc huấn luyện, đào tạo cán bộ Toà án nhân dân và phụ trách việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân…” (Điều 21)
Tiếp đó, Pháp lệnh về tổ chức của Toà án nhân dân tối cao và tổ chức của các toà án nhân dân địa phương ngày 23/3/1961 quy định nhiệm vụ của Chánh án toà
án nhân dân tối cao :“…Chỉ đạo công tác xây dựng tổ chức tư pháp, công tác đào
Trang 16tạo và giáo dục cán bộ toà án và công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân…” (Điều 6)
Như vậy, trong suốt một thời gian hơn 10 năm (1961-1972), hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên thực tế chia tách thành nhiệm vụ của nhiều cơ quan, đơn vị, bộ, ngành cùng triển khai thực hiện Điều này ít nhiều làm hoạt động này thiếu tập trung, hạn chế về hiệu quả hoạt động Trước yêu cầu tập trung đẩy mạnh hoạt động pháp chế, trong đó có công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đáp ứng yêu cầu tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, quản lý Nhà nước bằng pháp luật, phục
vụ tốt hơn nữa cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, năm 1972, theo Nghị quyết số 133-NQ/QH/K4 ngày 14/9/1972 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Uỷ ban Pháp chế của Hội đồng Chính phủ được thành lập Đây là cơ quan có trách nhiệm
“quản lý thống nhất công tác pháp chế của Hội đồng Chính phủ theo đường lối, chính sách của Đảng và Hiến pháp của Nhà nước, làm cho pháp chế trở thành sức mạnh, uy quyền của Nhà nước dân chủ nhân dân trong việc quản lý kinh tế và các lĩnh vực công tác khác”
Theo Nghị định số 190/CP ngày 9/10/1972 của Chính phủ, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ ban Pháp chế, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
là một trong những nội dung rất cơ bản được quy định như sau:
Điều 4 của Nghị định quy định trong Uỷ ban pháp chế có Vụ Tuyên truyền, phổ biến pháp luật Triển khai các công việc ban đầu của Uỷ ban pháp chế, hoạt
động tuyên truyền đã tập trung vào việc ra tờ Thông tin pháp chế, hình thức báo
chí xuất bản đầu tiên để kịp thời thông tin, phổ biến về các hoạt động, sự kiện của
Trang 17ngành và cỏc quy định của phỏp luật (sau này Thụng tin phỏp chế được chuyển
thành Tập san phỏp chế XHCN năm 1977, tiếp đú được đổi thành thành Tạp chớ Dõn chủ và Phỏp luật năm 1992) Năm 1978 Nhà xuất bản Phỏp lý được thành lập
và hoạt động cú hiệu quả cho đến khi sỏp nhập với một số nhà xuất bản khỏc thành Nhà xuất bản Chớnh trị quốc gia Từ năm 2003, Nhà xuất bản Tư phỏp được thành lập và hoạt động với vị trớ là một nhà xuất bản chuyờn ngành về phỏp luật
Trong thời kỳ này, tuy về tổ chức cú sự thay đổi, nhưng cũng như cỏc hoạt động tư phỏp khỏc, hoạt động phổ biến, giỏo dục phỏp luật vẫn triển khai bỡnh thường Từ sau khi thành lập Uỷ ban phỏp chế của Hội đồng Chớnh phủ thỡ cụng tỏc phổ biến, giỏo dục phỏp luật cú chuyển biến hơn Hàng trăm văn bản phỏp luật từ cỏc đạo luật, đến cỏc văn bản dưới luật được ban hành trong thời kỳ này đó được tổ chức triển khai, đi vào cuộc sống và phỏt huy hiệu lực trong thực tiễn quản lý đất nước Hoạt động phổ biến, giỏo dục phỏp luật đó khẳng định vị trớ, vai trũ và tầm quan trọng của mỡnh, tạo được lũng tin của nhõn dõn vào Đảng, Nhà nước và phỏp luật, vào sự thắng lợi của cuộc khỏng chiến chống Mỹ cứu nước Sau khi giải phúng miền Nam thống nhất đất nước, cụng tỏc phổ biến, giỏo dục phỏp luật đó cú đúng gúp rất quan trọng cho sự thống nhất đất nước về mặt phỏp luật và tư phỏp, củng cố tớnh thống nhất của phỏp chế xó hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước, tạo dựng cơ sở phỏp lý quan trọng cho sự nghiệp xõy dựng, củng cố Nhà nước và phỏp luật xó hội chủ nghĩa trong điều kiện cả nước đi lờn chủ nghĩa xó hội
Trước yờu cầu mới xõy dựng chủ nghĩa xó hội trong phạm vi cả nước, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976) đó chỉ rừ “cần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, làm cho mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước đi vào khuôn phép và quy chế nghiêm chỉnh, thật sự tôn trọng quyền làm chủ tập thể và bảo đảm quyền lợi của công dân” 6
6 Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 37, tr 562 , NXB Chớnh trị Quốc gia, Hà Nội, 2004
Trang 183 Cụng tỏc phổ biến, giỏo dục phỏp luật từ 1981 đến nay
3.1 Từ 1981 đến 1998
Sau khi Hiến phỏp năm 1980 được thụng qua, cụng tỏc phổ biến, giỏo dục phỏp luật giai đoạn này được đỏnh dấu bởi nhiều sự kiện quan trọng Thỏng 3 năm 1982, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V đó diễn ra tại Hà Nội Đại hội chỉ rừ: “Nhà nước
ta phải sử dụng đầy đủ cả quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế để giữ vững kỷ cương xã hội, đấu tranh có hiệu quả chống các hành vi phạm pháp và các tệ nạn xã hội, khắc phục cho được tình hình không bình thường là nhiều luật và pháp lệnh đã ban hành không được thi hành nghiêm chỉnh, thậm chí không được thi hành Các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương cần có thái độ kiên quyết và biện pháp cứng rắn ngăn ngừa và loại trừ các hành động vi phạm quyền làm chủ tập thể của nhân dân, thẳng tay trấn áp bọn phản cách mạng; trừng trị bọn bóc lột không chịu cải tạo, bọn lưu manh, côn đồ, bọn đầu cơ, buôn lậu, tham ô; xử lý nghiêm minh những cán bộ, nhân viên lợi dụng chức quyền để làm trái pháp luật
Các cấp uỷ đảng, các cơ quan nhà nước và các đoàn thể phải thường xuyên phổ biến, giải thích pháp luật trong các tầng lớp nhân dân, đưa việc giáo dục về pháp luật vào các trường học, các cấp học, xây dựng ý thức sống có pháp luật và tôn trọng pháp luật” 7
Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng năm 1981 được ban hành trờn cơ sở Hiến phỏp năm 1980 đó quy định rừ nhiệm vụ của Hội đồng Bộ trưởng là: “ Tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật trong cán bộ, các lực lượng vũ trang và nhân dân” (Điều 15)
Cũng trong thời gian này, Bộ Tư phỏp được tỏi lập Ngày 22/11/1981, Nghị định số 143/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ Tư phỏp được ban hành Một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư phỏp theo quy định tại Nghị định, là: “Hướng dẫn hoặc tổ chức việc
7 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V Đảng Cộng sản Việt Nam Tập I Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội 4.1982 tr.114, 115
Trang 19phối hợp với cỏc ngành về cụng tỏc tuyờn truyền giỏo dục phỏp luật trong cỏn bộ, nhõn viờn Nhà nước và nhõn dõn” (Điều 2) Một lần nữa, nhiệm vụ tuyờn truyền, phổ biến, giỏo dục phỏp luật lại gắn trực tiếp với chức năng của Bộ Tư phỏp Để thực hiện nhiệm vụ, trong tổ chức bộ mỏy của Bộ Tư phỏp tiếp tục cú Vụ tuyờn truyền, giỏo dục phỏp luật (trong Vụ Tuyờn truyền, giỏo dục phỏp luật cú Tập san Phỏp chế XHCN và Nhà xuất bản phỏp lý là hai cơ quan bỏo chớ, xuất bản chuyờn ngành phỏp luật) Điểm nổi bật của thời kỳ này là cựng với việc tổ chức kiện toàn lại cỏc vụ, đơn vị thành viờn, thỳc đẩy một bước cụng tỏc xõy dựng phỏp luật, Bộ
Tư phỏp đó đặt cụng tỏc tuyờn truyền, phổ biến, giỏo dục phỏp luật là cụng tỏc trọng tõm, mũi nhọn của ngành Tư phỏp Cụng tỏc phổ biến, giỏo dục phỏp luật bước đầu đó đi vào nền nếp, theo kế hoạch tuyờn truyền được ban hành hàng năm Ngành Tư phỏp đó tập trung triển khai nhiều hoạt động nghiệp vụ về phổ biến phỏp luật đến nhõn dõn cơ sở như: đưa cỏn bộ của Bộ xuống xó làm việc trong thời gian dài; tổ chức tiếp xỳc với cỏc đối tượng ở cỏc lứa tuổi, giới, trỡnh độ khỏc nhau để phổ biến cỏc luật lệ về ruộng đất, hụn nhõn và gia đỡnh, trật tự an toàn xó hội…Nhiều địa phương mới thành lập Sở Tư phỏp như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chớ Minh, Hải Phũng, Đà Nẵng, Cao Bằng…cũng thực hiện theo kế hoạch phổ biến, giỏo dục phỏp luật của Bộ Tư phỏp
Trờn cơ sở đú, cụng tỏc phổ biến giỏo dục phỏp luật được đặc biệt nhấn mạnh
và khẳng định vai trũ của mỡnh trong việc gúp phần quản lý nhà nước bằng phỏp luật khi ngày 07/12/1982, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đó ban hành Chỉ thị số 315/CT “Về việc đẩy mạnh tuyờn truyền, phổ biến giỏo dục phỏp luật”
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) đó đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, và cũng đỏnh giỏ rất cao vai trũ của cụng tỏc PBGDPL khi khẳng định “Quản lý đất nước bằng pháp luật, chứ không chỉ bằng đạo lý Pháp luật là thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, phải được thực hiện thống nhất trong cả nước Tuân theo pháp luật là chấp hành
đường lối, chủ trương của Đảng Quản lý bằng pháp luật đòi hỏi phải quan tâm
Trang 20Đưa việc dạy pháp luật vào hệ thống các trường của Đảng, của Nhà nước (kể cả các trường phổ thông, đại học), của các đoàn thể nhân dân Cán bộ quản lý các cấp từ trung ương đến đơn vị cơ sở phải có kiến thức về quản lý hành chính và hiểu biết về pháp luật Cần sử dụng nhiều hình thức và biện pháp để giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật và làm tư vấn pháp luật cho nhân dân Pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Trong điều kiện đảng cầm quyền, mọi cán bộ, bất cứ ở cương vị nào, đều phải sống và làm việc theo pháp luật, gương mẫu trong việc tôn trọng pháp luật Không cho phép bất cứ ai dựa vào quyền thế để làm trái pháp luật Mọi vi phạm đều phải được xử lý Bất cứ ai phạm pháp
đều đưa ra xét xử theo pháp luật, không được giữ lại để xử lý "nội bộ" Không làm theo kiểu phong kiến: dân thì chịu hình pháp, quan thì xử theo "lễ" 8
Ngày 22/10/1987, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đó ban hành Chỉ thị số 300/CT
về một số cụng tỏc trước mắt nhằm tăng cường quản lý Nhà nước bằng phỏp luật Chỉ thị yờu cầu“Triển khai mạnh mẽ cụng tỏc tuyờn truyền và giỏo dục phỏp luật, huy động lực lượng của cỏc đoàn thể chớnh trị, xó hội, nghề nghiệp, cỏc phương tiện thụng tin đại chỳng tham gia vào đợt vận động thiết lập trật tự kỷ cương và cỏc hoạt động thường xuyờn xõy dựng nếp sống và làm việc theo phỏp luật trong cỏc cơ quan Nhà nước và trong xó hội”
Cỏc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, lần thứ VIII đều nhấn mạnh đến cụng tỏc tăng cường giỏo dục phỏp luật, nõng cao hiểu biết và ý thức tụn trọng phỏp luật, sống và làm việc theo Hiến phỏp và phỏp luật, bảo đảm cho phỏp luật được thi hành một cỏch nghiờm minh, thống nhất và cụng bằng” 9 và “Triển khai mạnh mẽ cụng tỏc tuyờn truyền và giỏo dục phỏp luật, huy động lực lượng của cỏc đoàn thể chớnh trị, xó hội, nghề nghiệp, cỏc phương tiện thụng tin đại chỳng tham gia và cỏc đợt vận động thiết lập trật tự, kỷ cương và cỏc hoạt động thường xuyờn xõy dựng nếp sống và làm việc theo phỏp luật trong cỏc cơ quan Nhà nước và trong xó hội”.10
Trang 21Các văn kiện, chủ trương của Đảng về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thời kỳ này đều được định hướng theo quan điểm: phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận quan trọng, không tách rời công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; và theo phương châm: thường xuyên tăng cường tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức tôn trọng pháp luật, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật của cán bộ, nhân dân, bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm minh và thống nhất
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Hiến pháp năm 1992 được thông qua Luật Tổ chức Chính phủ cũng được ban hành ngay trong năm 1992 Theo Luật Tổ chức Chính phủ thì một trong những nhiệm vụ của Chính phủ là “Quyết định các biện pháp chỉ đạo và kiểm tra việc thi hành Hiến pháp, pháp luật, các quyết định của Chính phủ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị
vũ trang nhân dân và công dân; tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật; báo cáo với Quốc hội về công tác phòng ngừa và chống vi phạm pháp luật và tội phạm”(Điều 18)
Ngày 04/6/1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ Tư pháp (thay thế Nghị định số 143-HĐBT ngày 22/11/1981) Kế thừa các quy định của Nghị định số 143, Nghị định số 38 đã
cụ thể hoá công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đó là: “Trình Chính phủ quyết định và tổ chức thực hiện chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật dài hạn và hàng năm; phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng chương trình giảng dạy pháp luật trong các trường học…”(Điều 3)
Trên cơ sở các Nghị quyết của Đảng, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã từng bước được thể chế trong các văn bản pháp luật của Nhà nước Để phục vụ công cuộc đổi mới của đất nước, hệ thống pháp luật của nhà nước ta đã được bổ sung và ngày càng hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế Vì vậy, yêu cầu đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đặt ra ngày càng cao hơn
Trang 223.2 Từ 1998 đến nay
Thực tiễn đòi hỏi cần có một chương trình, kế hoạch tổng thể về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, nhất là từ khi Hiến pháp 1992 được thông qua Ngày 7/01/1998, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 02/1998/CT-TTG về tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay; Quyết định số 03/1998/QĐ-TTg về việc ban hành Kế hoạch triển khai công tác phổ biến giáo dục pháp luật từ năm 1998 - 2002 và thành lập Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật Đây là những văn bản pháp luật có ý nghĩa quan trọng, khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, làm chuyển biến nhận thức, từng bước nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, góp phần tăng cường pháp chế XHCN, quản lý xã hội bằng pháp luật
Chỉ thị số 02, Quyết định số 03 của Thủ tướng Chính phủ đã tạo động lực nguồn quan trọng cho việc đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Theo
đó, công tác này trong thời gian qua đã đạt nhiều kết quả quan trọng, đó là: Lãnh đạo các cấp, các ngành đã có sự chuyển biến trong nhận thức về vai trò của pháp luật và công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong quản lý, chỉ đạo, điều hành của mình Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được triển khai rộng khắp theo cơ chế phối hợp, thông qua hoạt động của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật các cấp Đội ngũ cán bộ làm công tác phổ biến giáo dục pháp luật từng bước được xây dựng, củng cố Bên cạnh đội ngũ cán bộ chuyên trách của ngành tư pháp, đã thu hút được một lực lượng đông đảo báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, cộng tác viên tham gia Các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật phong phú,
đa dạng và thiết thực với người dân hơn như: tuyên truyền miệng; biên soạn tài liệu pháp luật, đưa pháp luật vào giảng dạy trong trường học, tuyên truyền pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng, xây dựng Câu lạc bộ pháp luật, xây dựng, quản lý và khai thác tủ sách pháp luật, thi tìm hiểu pháp luật, thông qua hoạt động
Trang 23hoà giải ở cơ sở; thông qua tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý; thông qua các phiên toà xét xử công khai, lưu động…
Nhìn chung, hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật dần đi vào nền nếp, theo
kế hoạch, chương trình cụ thể, được thực hiện thường xuyên, có trọng tâm hơn trước Nội dung phổ biến pháp luật đã chú trọng gắn với từng nhóm đối tượng và phù hợp với nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội ở địa phương, yêu cầu nhiệm vụ của
bộ, ngành Nhiều nội dung pháp luật đã đi vào cuộc sống, đến được với các tầng lớp nhân dân Qua tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 02, Quyết định số 03 của Thủ tướng Chính phủ cho thấy công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã góp phần tạo sự chuyển biến rõ nét trong nhận thức cũng như trong hành động chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân
Luật tổ chức Chính phủ đã được ban hành năm 2001 tiếp tục quy định nhiệm
vụ của Chính phủ trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (Điều 18) Về cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, theo Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 vẫn là Bộ Tư pháp:
Bộ Tư pháp có nhiệm vụ:
a) Thống nhất quản lý công tác phổ biến giáo dục pháp luật;
b) Thông tin pháp luật, biên soạn, xuất bản, phát hành các tài liệu phục vụ công tác phổ biến giáo dục pháp luật;
c) Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và thông tin về các lĩnh vực quản
lý nhà nước của Bộ;
d) Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách pháp luật ở xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp và trường học;
…11 Hướng dẫn, kiểm tra về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở
Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2007 (thay thế Nghị định
số 62/2003/NĐ-CP) quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Bộ Tư pháp đã giao cho Bộ Tư pháp các nhiệm vụ:
Trang 24a) Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật; làm đầu mối phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội trong việc tổ chức thực hiện chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật;
b) Xây dựng đội ngũ báo cáo viên pháp luật; biên soạn, xuất bản, phát hành các tài liệu phục vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật;
c) Hướng dẫn việc xây dựng, quản lý, sử dụng tủ sách pháp luật ở xã, phường, thị trấn, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và trường học
Một số đạo luật cũng đã quy định rõ nhiệm vụ của các tổ chức, cơ quan trong phổ biến, giáo dục pháp luật Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1999 quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ “tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật” “tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước” Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 quy định HĐND có nhiệm vụ quyết định biện pháp bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của mình ở địa phương Còn Ủy ban nhân dân có nhiệm vụ tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật của
cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở địa phương
Trong những bước chuyển mạnh của công tác phổ biến giáo dục pháp luật những năm đầu của thế kỷ XXI, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới đặt
ra mục tiêu hoạt động của công tác này: “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật với nhiều hình thức phong phú, sinh động… nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ, nhân dân”
Đối với ngành tư pháp, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn này vẫn được coi là một trong những mũi nhọn của ngành Tư pháp Để tiếp tục thực
Trang 25hiện Chỉ thị số 02, Quyết định số 03 của Thủ tướng Chính phủ, tạo đà cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được thường xuyên, liên tục, dài hơi hơn, ngày 17/01/2003, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2003 đến năm 2007, trong đó đã đưa ra các đề án cụ thể về phổ biến, giáo dục pháp luật để triển khai thực hiện với từng đối tượng, địa bàn cụ thể
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và Nghị quyết số 08/NQ-TW của Bộ Chính trị, nhiệm vụ đặt ra là cần phải tạo được sự nhận thức thống nhất và sâu sắc hơn nữa về vai trò, ý nghĩa của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; tăng cường mạnh mẽ hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm tạo sự chuyển biến căn bản về ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân trong những năm tới, góp phần tích cực vào việc xây dựng lối sống và làm việc theo pháp luật của mọi công dân Phải làm sao
để “tinh thần pháp luật phải ngấm, thấm vào từng công việc, hoạt động của nhà nước, của xã hội, và chỉ trong trường hợp đó, các quyền dân chủ, tự do, bình đẳng, nhân quyền của công dân và của cả cộng đồng mới được đảm bảo” như lời phát biểu của nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương tại Hội nghị đánh giá thực hiện nhiệm vụ công tác tư pháp ngày 08/01/2003
Một sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là ngày 09/12/2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khoá IX) ban hành
Chỉ thị số 32 - CT/TW “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ
biến giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân” Có thể coi việc ban hành Chỉ thị số 32 là một bước ngoặt đặc biệt quan trọng
trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Chỉ thị được ban hành là cơ sở quan trọng tạo nên sự thống nhất trong ý chí và hành động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong việc xây dựng ý thức tôn trọng pháp luật, tự giác tìm hiểu, chấp hành pháp luật, nâng cao văn hoá pháp lý cho nhân dân, phát huy nhân tố con người, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Chỉ thị xác định công tác phổ biến giáo dục pháp
Trang 26luật cần được tăng cường thường xuyờn, liờn tục và ở tầm cao hơn, nhằm làm cho cỏn bộ và nhõn dõn hiểu biết và chấp hành nghiờm chỉnh phỏp luật, thụng qua đú
mà kiểm tra, giỏm sỏt việc thi hành phỏp luật
Thực hiện Chỉ thị số 32 - CT/TW, ngày 16/12/2004, Thủ tướng Chớnh phủ ban hành Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg phờ duyệt Chương trỡnh hành động quốc gia phổ biến giỏo dục phỏp luật và nõng cao ý thức chấp hành phỏp luật cho cỏn bộ, nhõn dõn ở xó, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010 (gọi tắt là Chương trỡnh 212) Với mục tiờu nhằm tạo chuyển biến căn bản trong việc nõng cao hiểu biết phỏp luật, ý thức tụn trọng phỏp luật và chấp hành phỏp luật của cỏn bộ, nhõn dõn ở
xó, phường, thị trấn gúp phần ngăn chặn và hạn chế vi phạm phỏp luật, giữ gỡn an ninh và trật tự an toàn xó hội
Ngày 24/5/2005 Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”, trong đó đó đề nhiệm vụ rất quan trọng là "phát triển hệ thống thông tin
và phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng và triển khai Chương trình Quốc gia về phổ biến, giáo dục pháp luật dài hạn Hình thành Trung tâm Thông tin pháp luật quốc gia, phát triển mạng lưới thông tin pháp luật" Sau đó, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020” được ban hành cũng thể hiện rõ quan điểm về tăng cường công tác phổ biến, giỏo dục phỏp luật
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định vai trũ to lớn của phỏp luật và nhiệm vụ đưa phỏp luật vào cuộc sống
Ngày 11 thỏng 5 năm 2007, sau Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Chỉ thị số CT/TW (diễn ra vào trung tuần thỏng 4 năm 2007 tại Hà Nội), Ban Bớ thư Trung ương Đảng (Khúa X) ra Thụng bỏo Kết luận số 74-TB/TW "Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bớ thư Trung ương Đảng (khúa IX) về tăng cường sự lónh đạo của Đảng trong cụng tỏc phổ biến, giỏo dục phỏp luật, nõng cao ý thức chấp hành phỏp luật của cỏn bộ, nhõn dõn"
Trang 2732-Trước yêu cầu mới về công tác tư tưởng, ngày 15/10/2007, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 17 - CT/TW về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới Chỉ thị này có tác dụng rất lớn trong việc củng cố và đổi mới công tác tuyên truyền miệng về pháp luật Thực hiện Thông báo Kết luận số 74-TB/TW, ngày 07/12/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32 -CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
Ngày 12/3/2008, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2008 đến năm 2012 (ban hành kèm theo Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg) Mục tiêu chung của Chương trình là: Tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân; đổi mới phương thức tổ chức thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; tuyên truyền kịp thời, thường xuyên nội dung pháp luật phù hợp với từng đối tượng, địa bàn; tổ chức
có hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên toàn quốc, góp phần thực hiện nếp sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Hiện nay, chương trình đang được triển khai với 4 Đề án trọng tâm của
Bộ Tư pháp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội và Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tóm lại: Ngay từ những ngày đầu của chính quyền dân chủ nhân dân, việc
tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho nhân dân, củng cố và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho mọi thành viên trong xã hội đã được Đảng và Nhà nước quan tâm Tuy nhiên do điều kiện đất nước phải tiến hành chiến tranh giải phóng và bảo
vệ Tổ quốc nên quy mô và mức độ của hoạt động này ở mỗi giai đoạn khác nhau có khác nhau Thường là trong thời kỳ chiến tranh, công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật được lồng ghép với công tác tuyên truyền, giáo dục về chính trị
tư tưởng, về chủ nghĩa yêu nước, tinh thần cảnh giác cách mạng, bảo vệ tổ quốc
Trang 28XHCN, với giáo dục đạo đức cách mạng và xây dựng con người mới XHCN Đến khi đất nước thống nhất, kinh tế được khôi phục, vết thương chiến tranh được dần dần hàn gắn, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã được tiến hành ở quy mô và mức độ rộng hơn, trong quá trình tăng cường pháp chế XHCN Từ khi chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN được khẳng định và được thể chế hoá trong Hiến pháp thì công tác này đã được thực hiện ở một tầm cao mới, có chiều sâu hơn Nhà nước pháp quyền đòi hỏi tính tối thượng của luật, mọi công dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật Thực hiện nhiệm vụ này, phổ biến, giáo dục pháp luật được coi là cầu nối để đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật Đảng và Nhà nước đã có những quyết sách mang tính quyết định trong việc tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trước yêu cầu và tình hình mới Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam đã và đang ngày càng khẳng định vai trò là một bộ phận không thể tách rời của quá trình xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện pháp luật
II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC HIỆN NAY
Trải qua nhiều thử nghiệm với nhiều mô hình và cách thức vận động, triển khai thực hiện khác nhau, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay đang đứng trước yêu cầu nghiên cứu, đánh giá nghiêm túc, toàn diện, khách quan, phát hiện những bất cập nảy sinh để có những ®iÒu chØnh cần thiết, đáp ứng yêu cầu tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, công tác PBGDPL hiện nay cần được nhìn nhận và đánh giá ở các khía cạnh sau:
1 Các quy định pháp luật hiện hành về phổ biến, giáo dục pháp luật và tác động của chúng đến công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Các quy định pháp luật về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được thể hiện
ở những điều khoản chung của một số đạo luật và ở những văn bản hướng dẫn, chỉ
đạo cụ thể của Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền địa phương
Trang 291.1 Những quy định trong các đạo luật
- Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Nhà nước ta
tạo điều kiện để công dân phát triển toàn diện, giáo dục ý thức công dân, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, giữ gìn thuần phong mỹ tục, xây dựng gia đình có văn hoá, hạnh phúc, có tinh thần yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, có tinh thần quốc tế chân chính, hữu nghị và hợp tác với các dân tộc trên thế giới”
- Luật tổ chức Chính phủ (được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25 tháng 12 năm 2001) tại Điều 8 quy định nhiệm vụ của Chính phủ là “Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân; tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân”
- Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1999 quy định: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân; tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước; tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân
- Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 quy định Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ quyết định biện pháp bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của mình ở địa phương Còn Ủy ban nhân dân có nhiệm vụ tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở địa phương
Trang 30- Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 02 tháng 4 năm 2002); Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân (được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 02 tháng 4 năm 2002), Luật Giáo dục, Luật trợ giúp pháp lý, Luật luật sư và một số đạo luật khác được ban hành trong những năm gần đây đều có những quy định liên quan đến công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
1.2 Các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ gồm:
- Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 18/5/2004 quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và doanh nghiệp nhà nước;
- Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg ngày 16/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ ban hành phê duyệt Chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật
và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn
từ năm 2005 đến năm 2010;
- Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ đã ban hành
về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân Trong đó, Chính phủ đã đề ra các chủ trương và giải pháp tổng thể để thực hiện công tác này;
- Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2007 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;
- Quyết định số 37/2008-QĐ-TTg ngày 12/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ ban hành phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ từ năm 2008 đến năm 2012;
- Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật;
Trang 31- Nghị định số 100/2010/NĐ-CP ngày 28 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ về Công báo
Ngoài ra còn rất nhiều văn bản của Bộ Tư pháp, của các bộ ngành, của chính quyền địa phương, của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp được ban hành nhằm triển khai thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong phạm vi bộ, ngành, địa phương mình
1.3 Các văn bản, chương trình, kế hoạch liên tịch, liên ngành gồm:
- Thông tư liên tịch số 05/1999/TTLT-TC-TP ngày 28 tháng 01 năm 1999 của
Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Dự án xây dựng và quản lý Tủ sách pháp luật ở xã, phường, thị trấn;
- Nghị quyết liên tịch số 01/1999/NQLT/TP-VHTT-NNPTNT-DTMN-ND ngày 07/9/1999 của Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa - Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Uỷ ban Dân tộc và Hội Nông dân Việt Nam về phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở nông thôn, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người;
- Chương trình phối hợp số 253/BTP-TSPL ngày 02 tháng 3 năm 2001 của Bộ
Tư pháp, Bộ Văn hóa – Thông tin (trước đây), Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Tổng Công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam (nay là Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam) triển khai Quyết định số 1067/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ;
- Chương trình phối hợp số 02/2002/CTPH-TP-ND ngày 01/02/2002 của Bộ Tư pháp và Hội Nông dân Việt Nam về phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý cho nông dân;
- Chương trình phối hợp số 14/2002/CTPH-TP-HPN ngày 02/10/2002 của Bộ
Tư pháp và Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam về phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý cho phụ nữ
- Thông tư liên tịch số
Trang 3202/2006/TTLT-BTP-BCA-BQP-BGDĐT-BLĐTBXH-Bộ Quốc phòng, 02/2006/TTLT-BTP-BCA-BQP-BGDĐT-BLĐTBXH-Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam hướng dẫn việc xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách pháp luật ở cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học;
- Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-BTP-TWHCCBVN ngày 09/6/2008 của
Bộ Tư pháp và Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam hướng dẫn phối hợp xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý đối với cựu chiến binh;
- Thông tư liên tịch số 73/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật;
- Thông tư liên tịch số 30/2010/TTLT-BGDĐT-BTP ngày 16 tháng 11 năm
2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tư pháp hướng dẫn việc phối hợp thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường
Ngoài ra, nhiều Bộ, ngành, địa phương cũng đã ký kết các văn bản liên ngành
về phổ biến, giáo dục pháp luật trong phạm vi quyền hạn của mình như Kế hoạch liên ngành, Chương trình phối hợp, Kế hoạch phối hợp…
Nhận xét chung về các quy định pháp luật hiện hành về phổ biến, giáo dục pháp luật:
Với việc ban hành thể chế như đã nêu ở trên đây, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay đã có được cơ sở pháp lý tối thiểu Tuy chưa đầy đủ, chưa đồng
bộ nhưng nhìn chung, các quy định, các văn bản pháp luật hiện hành về phổ biến, giáo dục pháp luật đã hình thành khung pháp lý bước đầu làm căn cứ cho việc triển khai hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, đặc biệt là các hoạt động phối hợp và huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị
Các quy định này được ban hành bởi các cơ quan có thẩm quyền từ trung ương đến cơ sở với hiệu lực pháp lý khác nhau đã góp phần tích cực trong việc điều chỉnh kịp thời về tổ chức, hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật và các vấn đề liên quan
Trang 33đến phổ biến, giáo dục pháp luật từ trung ương đến cơ sở, từ các cơ quan nhà nước đến các đoàn thể xã hội, các tầng lớp nhân dân, từng bước phát huy hiệu lực, tác động tích cực đến đời sống xã hội, tạo được những chuyển biến tích cực trong nhận thức, tư tưởng, quan điểm của các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, bước đầu phát huy được vai trò chủ động của các
bộ, ban, ngành, các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, huy động được nhiều nguồn lực trong xã hội tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Bên cạnh những quy định pháp luật mang tính chuyên sâu về phổ biến, giáo dục pháp luật, hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật còn được điều chỉnh và chịu tác động bởi các quy định pháp luật trong nhiều lĩnh vực khác như trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật, hoà giải ở cơ sở, tố tụng tư pháp
Trên cơ sở nhận thức ngày càng đúng đắn hơn về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của phổ biến, giáo dục pháp luật đối với đời sống xã hội, các quy định pháp luật hiện hành về lĩnh vực này đã được triển khai thực hiện rộng rãi với nhiều hình thức, biện pháp khác nhau với nhiều nhóm chủ thể khác nhau Nhìn chung, phổ biến, giáo dục pháp luật đã, đang và sẽ được các cấp uỷ đảng, các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể xã hội từ trung ương đến cơ sở quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, coi đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong việc tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật Tổ chức, đội ngũ những người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật từ trung ương đến cơ sở từng bước được củng cố và phát triển, đóng góp tích cực cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật cũng như việc định hướng nội dung, đổi mới hình thức, tăng cường các nguồn lực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được quan tâm thực hiện tốt hơn
Việc ban hành và tổ chức thực hiện các quy định, các văn bản pháp luật nói trên đã tạo đà mới trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Bằng sự điều chỉnh của hệ thống các quy định pháp luật hiện hành, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã được đẩy mạnh hơn, thúc đẩy nhanh hơn việc thực hiện nhiệm vụ nâng cao ý
Trang 34thức sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật của cán bộ và nhân dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Qua đó, nhận thức, hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân sẽ được nâng lên, từng bước giảm vi phạm pháp luật, góp phần lành mạnh hoá đời sống xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển đất nước một cách có kỷ cương và bền vững
2 Tổ chức quản lý công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
2.1 Các cơ quan quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật
Các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay bao gồm:
- Bộ Tư pháp: là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước thống nhất về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật
là cơ quan chuyên môn của Bộ Tư pháp có chức năng giúp Bộ trưởng xây dựng và
"trình Thủ tướng Chính phủ ban hành chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật; làm đầu mối phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội trong việc tổ chức thực hiện chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật; xây dựng đội ngũ báo cáo viên pháp luật; biên soạn, xuất bản, phát hành các tài liệu phục vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; hướng dẫn việc xây dựng, quản lý, sử dụng tủ sách pháp luật ở xã, phường, thị trấn, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và trường học".11
- Tổ chức pháp chế các Bộ, ngành: Tại các Bộ, ngành một trong những nhiệm
vụ của các tổ chức pháp chế là thực hiện PBGDPL.12 Hiện tại các tổ chức pháp chế được thành lập ở tất cả 18 bộ và 4 cơ quan ngang bộ và 8 cơ quan thuộc Chính phủ (Vụ, Phòng, Ban pháp chế) Một số bộ đã thành lập tổ chức pháp chế ( Vụ pháp chế) của các đơn vị trực thuộc như Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài nguyên và Môi
Trang 35trường, Bộ Tài chính và một số bộ đã bố trí cán bộ trực tiếp theo dõi và triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo ngành dọc Các cơ quan trung ương của các Đoàn thể cũng có các tổ chức pháp chế như một đơn vị cấp vụ ( Ban Dân chủ và pháp luật của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Chính sách và luật pháp của Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam…)
Ở địa phương, cơ quan tư pháp địa phương là cơ quan chuyên môn có nhiệm vụ tham mưu giúp UBND xây dựng kế hoạch và tổ chức phối hợp thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật
Ở cấp tỉnh, Sở Tư pháp đã kiện toàn cơ bản bộ phận chuyên trách thực hiện nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật Đến nay 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập riêng phòng phổ biến, giáo dục pháp luật trong Sở Tư pháp Hầu hết các đơn vị cấp huyện trong cả nước đã thành lập lại Phòng Tư pháp, trong
đó có bố trí cán bộ chuyên trách về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Nhiều sở, ban, ngành cấp tỉnh thành lập phòng pháp chế hoặc bố trí cán bộ pháp chế thực hiện nhiệm vụ xây dựng pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật Ở cấp xã, phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công chức tư pháp - hộ tịch Tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật còn các công chức khác
2.2 Tổ chức phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật:
Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL của Chính phủ được thành lập theo Quyết định số 03/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với thành viên là đại diện các bộ, ngành, cơ quan của Chính phủ, các tổ chức chính trị xã hội
Nhiều bộ, ngành, đoàn thể đã thành lập Hội đồng phối hợp hoặc Ban chỉ đạo công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Hiện nay 14 Bộ, ngành ở Trung ương có Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Có nơi Bộ trưởng trực tiếp làm chủ tịch Hội đồng (Bộ Nội vụ) Có Bộ đã thành lập Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở các tổ chức, đơn vị của mình (Bộ Quốc phòng, Bộ Công
an, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Giáo dục và Đào tạo ) Đến nay 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã thành lập Hội đồng phối hợp công
Trang 36thuộc tỉnh đã thành lập Hội đồng phối hợp cấp huyện; gần 80% đơn vị cấp xã cũng
đã thành lập Hội đồng phối hợp Đặc biệt, có doanh nghiệp đã thành lập Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL (Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên than Na Dương ở Lạng Sơn; huyện U Minh của tỉnh Cà Mau thành lập được 04 Hội đồng tại các Công ty lâm nghiệp )
Nhìn chung, Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL các cấp, các ngành đã duy trì hoạt động đều đặn, nâng cao tính chủ động trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Tham gia Hội đồng có đại diện nhiều cơ quan, ban, ngành nên đối với những nơi Hội đồng hoạt động tốt, đã phát huy được sức mạnh của hệ thống chính trị trong việc tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
3 Nhân lực làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Nhân lực làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật rất đa dạng, phong phú Trong số những người làm công tác này, có thể phân chủ yếu thành 2 loại: những người làm chuyên trách (hoặc bán chuyên trách) và những người tham gia khác
3.1 Cán bộ chuyên trách và bán chuyên trách thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật:
- Cán bộ tư pháp và cán bộ các tổ chức pháp chế:
Tại Bộ Tư pháp, Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật có trên 20 cán bộ, công chức
Ở 18 bộ, 4 cơ quan ngang bộ và 6 cơ quan thuộc Chính phủ có hơn 500 người làm công tác pháp chế Ở các Sở Tư pháp thường có từ 3 - 5 cán bộ thuộc biên chế Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật Ở các cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh bình quân mỗi cơ quan có từ 1-3 cán bộ pháp chế chuyên trách hoặc kiêm nhiệm (Hà Nội có 64 cán bộ chuyên trách, 50 cán bộ kiêm nhiệm, Đà Nẵng có 4 cán bộ chuyên trách, 14 cán bộ kiêm nhiệm…) Các Phòng Tư pháp cấp huyện có từ 1 - 2 cán bộ trực tiếp hoặc tham gia làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Các doanh nghiệp nhà nước cũng có các bán bộ pháp chế thực hiện kiêm nhiệm công tác này
- Báo cáo viên pháp luật:
Ở Trung ương, ngày 9/7/1999, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã có Quyết định số 210/1999/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế Báo cáo viên pháp luật (Gần đây
Trang 37nhất, ngày 05 tháng 11 năm 2010, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số18/2010/TT-BTP quy định về Báo cáo viên pháp luật) Theo số liệu của Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp, tính đến năm 2010, cả nước có trên 200 báo cáo viên pháp luật trung ương, gần báo cáo viên 5000 báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, hơn 15.000 báo cáo viên cấp huyện
3.2 Những người khác tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật
- Tuyên truyền viên pháp luật: Nhiều địa phương đã ban hành quy chế về tuyên truyền viên pháp luật và bước đầu xây dựng lực lượng này ở cơ sở (Hải Phòng, Nghệ An, Quảng Ngãi) Họ là nhóm nòng cốt tại cộng đồng dân cư, là các hoà giải viên, cán bộ đoàn thể ở cơ sở, cộng tác viên trợ giúp pháp lý, trưởng thôn, bản, già làng, tổ trưởng dân phố, cụm dân cư, các chức sắc tôn giáo, những người có uy tín trong cộng đồng Có bộ, ngành tổ chức được mạng lưới cả báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật theo ngành dọc xuống tận huyện, có nơi đến tận cấp xã
- Đội ngũ giáo viên dạy môn Giáo dục công dân, pháp luật trong các nhà trường không chuyên luật (phổ thông, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, cao đẳng, đại học không chuyên luật) tương đối đông đảo Thời gian qua, đội ngũ này đã được tăng lên cả về số lượng và chất lượng (trong đó có một bộ phận là giáo viên chuyên trách được đào tạo cơ bản về luật)
- Các phóng viên, biên tập viên chuyên mục, chương trình pháp luật của các cơ quan báo chí, đài phát thanh và đài truyền hình cũng tham gia rất nhiều vào công tác PBGDPL Bằng chính các hoạt động nghiệp vụ báo chí của mình, họ đã góp phần chuyển tải các thông tin pháp luật đến mọi vùng, miền, với nhiều đối tượng khác nhau
- Đội ngũ báo cáo viên tuyên huấn của Đảng, giáo viên các trường chính trị tỉnh, trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện cũng đã có những đóng góp tích cực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, gắn tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng với tuyên truyền pháp luật
- Các cán bộ, nhân viên các cơ quan pháp luật như tòa án, viện kiểm sát, công
Trang 38Tham gia vào công tác này còn có cả các hòa giải viên, các chức sắc tôn giáo, những người có uy tín trong cộng đồng như già làng, trưởng bản…
4 Kết quả hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật
4.1 Về đối tượng được tuyên truyền
Phổ biến, giáo dục pháp luật đã hướng tới tất cả đối tượng Tuy nhiên, tùy theo yêu cầu, nhiệm vụ, điều kiện, thời gian cụ thể mà phạm vi đối tượng có khác nhau: đại trà, hạn chế, phổ thông, chuyên trách, thậm chí cả đối tượng cá biệt Nhìn chung, phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng theo nhóm được thực hiện nhiều hơn Việc phân nhóm đối tượng dựa trên trình độ, năng lực, điều kiện, tính chất công tác, nhu cầu tìm hiểu pháp luật của đối tượng và yêu cầu của công tác quản lý nhà nước quản lý xã hội Ví dụ như nông dân, công nhân, hoặc thanh niên, phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số, học sinh, sinh viên, những người khuyết tật…
4.2 Nội dung pháp luật được tuyên truyền
Nội dung pháp luật được tuyên truyền được định hướng trong từng giai đoạn cụ thể đã bám sát các chủ trương, chính sách lớn của Đảng trong phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế và phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chính trị của ngành, địa phương Nội dung pháp luật được tuyên truyền khá đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: Dân sự, kinh tế (như Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp ); Quyền dân chủ của công dân (như Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước; pháp luật về dân chủ ở cơ sở ); An ninh, trật
tự (như Bộ luật Hình sự, pháp luật về trật tự an toàn giao thông, Luật Biên giới quốc gia, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, Pháp lệnh
Vệ sinh an toàn thực phẩm ); Hội nhập kinh tế quốc tế (như Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, các quy định liên quan đến việc Việt Nam gia nhập WTO ); Văn hoá - xã hội (như Luật Giáo dục, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em, Luật Khoa học và công nghệ, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo ); Phòng chống tham nhũng, lãng phí (Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết
Trang 39kiệm, chống lãng phí) Sự định hướng đúng và phù hợp về nội dung tuyên truyền đã phát huy tác dụng, góp phần nâng cao nhận thức về pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân
Nội dung pháp luật được lựa chọn để phổ biến đảm bảo được yêu cầu phù hợp, sát thực với từng đối tượng, địa bàn; trong đó chú trọng phổ biến các quy định pháp luật cụ thể để nâng cao tính hướng dẫn thực hiện, phổ biến đồng đều giữa pháp luật
có liên quan trực tiếp đến đời sống sinh hoạt, công việc của đối tượng và các văn bản pháp luật mới ban hành đáp ứng cơ bản nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và nhu cầu tìm hiểu pháp luật của người được tuyên truyền Đã tập trung cho việc tuyên truyền, phổ biến các nội dung pháp luật trong các đợt cao điểm diễn ra sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa quan trọng (bầu cử đại biểu Quốc hội, lễ hội lớn, hội nghị quốc tế ) Các văn bản pháp luật do chính quyền địa phương ban hành được quan tâm phổ biến nhiều hơn
4.3 Các hình thức, biện pháp phổ biến, giáo dục pháp luật
Các hình thức, biện pháp tuyên truyền truyền thống được vận dụng linh hoạt, sáng tạo; đã chú trọng ứng dụng công nghệ hiện đại; sáng kiến hình thức tuyên truyền mới phù hợp, có hiệu quả tiếp tục sử dụng và nhân rộng Cụ thể:
- Tuyên truyền miệng là hình thức tuyên truyền chiếm ưu thế, hiện được tất cả
bộ, ngành, địa phương sử dụng thường xuyên, thông qua hội nghị, hội thảo, tọa đàm, lớp tập huấn và một số hoạt động khác, nói chuyện chuyên đề, lồng ghép tuyên truyền kiến thức pháp luật trong các buổi họp thôn Hình thức này tiếp tục được đẩy mạnh theo tinh thần Chỉ thị số 17 - CT/TW ngày 15/10/2007 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới
- Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng: Hình thức này ngày càng được cải tiến và sử dụng có hiệu quả qua các kênh của Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Phát thanh và Truyền hình các địa phương, các chuyên trang, chuyên mục trên các loại báo chí, hệ thống loa truyền thanh cơ sở Hệ thống
Trang 40pháp luật Gần 100% xã, phường, thị trấn trong cả nước đã có hệ thống loa truyền thanh cơ sở
Đối với những vùng, miền có điều kiện khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng cao, vùng dân tộc ít người, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật thông qua đài phát thanh, truyền hình, chiếu phim lưu động đã phát huy được hiệu quả
- Thông qua tài liệu tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Tài liệu tuyên truyền, phổ biến pháp luật được biên soạn và phát hành khá phong phú, dưới nhiều hình thức khác nhau, từng bước được cải tiến về hình thức, nội dung để hấp dẫn người đọc, người xem Đó là các Đề cương giới thiệu, phổ biến các văn bản luật, pháp lệnh; Sách hỏi - đáp pháp luật; Tờ rơi, tờ gấp pháp luật; Đặc san tuyên truyền pháp luật; Các loại băng (băng tiếng, băng hình) với các nội dung pháp luật đơn giản, ngắn gọn
và các cuộc nói chuyện về pháp luật, các tiểu phẩm vui về các tình huống pháp luật bằng cả tiếng phổ thông và tiếng một số dân tộc ít người để phát lại trên loa truyền thanh đã được nhân rộng
Thông qua các loại bản tin: Tin nội bộ, tin hoạt động tư pháp được xây dựng, phát hành ở nhiều nơi và duy trì đều đặn hơn với số lượng phát hành lớn, chú trọng gắn hoạt động, thời sự của ngành, cơ quan với thông tin, phổ biến pháp luật (giới thiệu văn bản mới, câu chuyện pháp luật, gương điển hình)
- Thông qua các cuộc thi tìm hiểu pháp luật: Các cuộc thi tìm hiểu pháp luật được đổi mới về cách thức và được thực hiện thông qua nhiều phương tiện Trong 5 năm thực hiện Chương trình Phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ giai đoạn
2003 - 2007, cả nước đã tổ chức được 44.562 cuộc thi, hội thi và 176.291 cuộc giao lưu sinh hoạt văn hoá, văn nghệ lồng ghép nội dung pháp luật Các hình thức thi sân khấu hoá, hái hoa dân chủ, thi theo chủ đề có nội dung phong phú, sát thực được nhân rộng trên cả nước như "Nông dân và pháp luật", "Chủ tịch xã giỏi", "Hoà giải viên giỏi", "Nông dân lái xe an toàn", "Tuyên truyền viên pháp luật giỏi", "Công chức Tư pháp-Hộ tịch giỏi", "Nhà nông đua tài" Việc tổ chức thi qua mạng, gửi tin nhắn điện thoại với chủ đề tìm hiểu pháp luật trở nên phổ biến hơn Ngoài việc tổ chức các cuộc thi tìm hiểu văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao trên phạm vi toàn