Bên cạnh lý do từ phía người dân, cũng có nhiều vụ việc mà cơ quan thi hành án có thể do cố ý, cũng có thể do không nắm vững các quy định về quy trình, thủ tục thi hành án nên đã có nhữn
Trang 1BỘ TƯ PHÁP VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ
Trang 2MỤC LỤC BÁO CÁO PHÚC TRÌNH
Danh sách cán bộ thực hiện Đề án iv-v
Hệ thống các tham luận của Đề án vi-viii
CHƯƠNG I TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRONG ĐÓ CÓ
VIỆC THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ BẤT ĐỘNG SẢN
09
1 Tình hình chung về công công tác thi hành án dân sự 10
2 Thi hành án dân sự đối với tài sản thi hành là bất động sản 16
CHƯƠNG II QUY TRÌNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY TRÌNH, THỦ TỤC THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ TRONG ĐÓ CÓ VIỆC THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI
TÀI SẢN LÀ BẤT ĐỘNG SẢN, NHỮNG KHÓ KHĂN VƯỚNG MẮC
23
I Thực tiễn áp dụng quy trình, thủ tục thi hành án dân sự trong đó có
việc thi hành án đối với tài sản là bất động sản, những khó khăn vướng
mắc
23
2 Giai đoạn xác minh điều kiện thi hành án 27
4 Giai đoạn tự nguyện – thỏa thuận thi hành án 36
Trang 3II NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH THA ĐỐI VỚI
TÀI SẢN THI HÀNH LÀ BẤT ĐỘNG SẢN
69
2 Vấn đề tạm dừng, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ trong công tác thi hành
án
71
3 Sự thiếu hợp tác của các cơ quan hữu quan 76
III SỰ THAM GIA CỦA CÁC CƠ QUAN LIÊN QUAN TRONG QUÁ
TRÌNH THA DÂN SỰ ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ BẤT ĐỘNG SẢN
77
1 Cơ quan tòa án trong công tác chuyển giao giao bản án, quyết định;
giải thích bản án, kháng nghị
77
2 Cơ quan Viện Kiểm sát trong việc kiểm sát hoạt động thi hành án 81
3 Với cơ quan công an – Lực lượng cản sát hỗ trợ tư pháp trong hoạt
động tổ chức cưỡng chế, trong việc phối hợp đối với người THA đang
5 Vai trò và mối quan hệ của Cơ quan THADS với chính quyền địa
phương nơi tổ chức THA
HÀNH DÂN SỰ NÓI CHUNG TRONG ĐÓ CÓ VIỆC THI HÀNH ĐỐI
VỚI TÀI SẢN LÀ BẤT ĐỘNG SẢN VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM
88
Trang 4BẢO TÍNH THỐNG NHẤT CHO CÁC QUY TRÌNH NÀY
II MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUY TRÌNH,
THỦ TỤC THI HÀNH CÁC BẢN ÁN CÓ TÀI SẢN THI HÀNH LÀ
4 Xây dựng, hoàn thiện quy trình, thủ tục THADS trong đó có việc
THADS đối với tài sản là bất động sản chung, thống nhất
96
Phụ lục: QUY TRÌNH THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRONG ĐÓ CÓ VIỆC THI
HÀNH ÁN ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ BẤT ĐỘNG SẢN
Báo cáo kết quả khảo sát thực tiễn của Đề án trên địa bàn thành phố Hà
Nội Báo cáo kết quả khảo sát thực tiễn của Đề án trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh
Trang 5DANH SÁCH NHÓM THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
“KHẢO SÁT KHOA HỌC VỀ QUY TRÌNH, THỦ TỤC THI HÀNH CÁC BẢN ÁN CÓ TÀI SẢN THI HÀNH LÀ BẤT ĐỘNG SẢN VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THỐNG NHẤT CHO CÁC QUY TRÌNH NÀY”
CHỦ NHIỆM: TS Đinh Thị Mai Phương
Trưởng ban, Ban nghiên cứu pháp luật Dân sự - Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp
Nghiên cứu viên, Ban nghiên cứu pháp luật Dân sự - Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý, Bộ
Tư pháp
2 CN Phạm Văn Bằng Nghiên cứu viên, Ban nghiên cứu pháp luật Dân sự - Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý, Bộ
Tư pháp
CÁN BỘ THAM GIA: 1 ThS Lê Thị Kim Dung, Vụ trưởng, Vụ giải
quyết khiếu nại, tố cáo – Tổng cục Thi hành
án dân sự - Bộ Tư pháp
2 ThS Trần Thị Quang Hồng - Phó ban, Ban nghiên cứu pháp luật Dân sự - Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp
3 ThS Nguyễn Minh Khuê - Phó ban, Ban nghiên cứu pháp luật Tư pháp – Hình sự, Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp
4 CN Phan Huy Hiếu - Chuyên viên, Vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo – Tổng cục Thi hành
án dân sự - Bộ Tư pháp
5 CN Trương Hồng Quang - Nghiên cứu viên, Ban nghiên cứu pháp luật Dân sự - Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp
6 CN Nguyễn Mai Trang - Nghiên cứu viên, Ban nghiên cứu pháp luật Dân sự - Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp
7 Đ/c Nguyễn Thị Thanh Hồng – Chấp hành
Trang 6viên, Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh
8 Đ/c Nguyễn Thị Lương – Chuyên viên Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh
9 Đ/c Nguyễn Hồng Hà – Chấp hành viên, Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh
10 Đ/c Nguyễn Bích Hạnh - Chấp hành viên, Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội
11 Đ/c Phạm Quang Dũng - Chấp hành viên, Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội
12 Đ/c Phạm Anh Dũng - Chấp hành viên, Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội
13 Đ/c Trịnh Cao Sơn - Chấp hành viên, Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội
14 Đ/c Nguyễn Kim Thoa – Phó Cục trưởng, Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội
15 Đ/c Nguyễn Văn Lạng – Chấp hành viên, Chi cục Thi hành án dân sự Quận Ba Đình,
Hà Nội
16 Đ/c Nguyễn Song Hà, Chi cục trưởng, Chi cục thi hành án dân sự Quận Thanh Xuân,
Hà Nội
Trang 7HỆ THỐNG CÁC THAM LUẬN CỦA ĐỀ ÁN
1.1 Tham luận: Hệ thống hoá quy định pháp luật hiện hành về thi hành án dân sự
mà tài sản thi hành là bất động sản
1 2 Tham luận: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hiện hành về quy trình, thủ
tục thi hành án đối với tài sản là bất động sản những khó khăn, vướng mắc
1.3 Tham luận: Vấn đề tự nguyện trong thi hành án đối với tài sản là bất động sản
và những vướng mắc trong quá trình thi hành án đối với loại tài sản này
1.4 Tham luận: Tổng quan về thi hành án mà tài sản là bất động sản, những khó
khăn vướng mắc trong công tác thi hành án tại địa phương
1.5 Tham luận: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hiện hành về quy trình,
thủ tục thi hành án đối với tài sản là bất động sản
1.6 Tham luận: Cần có các quy định về nghĩa vụ của người được thi hành án
trong trường hợp cơ quan thi hành án tiễn hành áp dụng biện pháp cưỡng chế trả vật, giấy tờ, quyền sử dụng đất
1.7 Tham luận: Các quy định về thông báo bán đấu giá quyền sử dụng đất theo
1.10 Tham luận: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động Kiểm sát
tuân theo pháp luật trong lĩnh vực Thi hành án tại TP Hồ chí Minh
Trang 81.11 Tham luận: Vấn đề tự nguyện trong thi hành án đối với tài sản là bất động
sản
1.12 Tham luận: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hiện hành về quy tình thủ
tục THA đối với tài sản là bất động sản trên địa bàn thành phố HN
1.13 Tham luận: Tổng quan về tình hình thi hành án mà tài sản thi hành là bất
động sản trên địa bàn thành phố Hà Nội và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật những khó khăn vướng mắc trong công tác thi hành án tại địa phương
1.14 Tham luận: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hiện hành về quy trình, thủ
tục thi hành án đối với tài sản là bất động sản khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, những khó khăn, vướng mắc trong giai đoạn này và khi có quyết định kết thúc thi hành án
1.15 Tham luận: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hiện hành về quy trình, thủ
tục thi hành án đối với tài sản là bất động sản trong trường hợp hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án và “sự can thiệp” của các cơ quan liên quan trong quá trình thi hành án, khó khăn, vướng mắc trong giai đoạn này và khi có quyết định kết thúc thi hành án
1.16 Tham luận: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hiện hành về quy trình, thủ
tục thi hành án đối với tài sản là bất động sản: Trong giai đoạn: Tống đạt và xác minh điều kiện thi hành án, những khó khăn, vướng mắc trong giai đoạn này
1.17 Tham luận: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hiện hành về quy trình, thủ
tục thi hành án đối với tài sản là bất động sản: Trong giai đoạn: áp dụng biện pháp bảo đảm và biện pháp cưỡng chế trong thi hành án đối với tài sản là bất động sản, những khó khăn, vướng mắc trong giai đoạn này
1.18 Tham luận: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hiện hành về quy trình, thủ
tục thi hành án đối với tài sản là bất động sản: Trong giai đoạn: định giá và bán đấu
Trang 9giá tài sản là bất động sản nhằm đảm bảo thi hành án,, những khó khăn, vướng mắc trong giai đoạn này
1.20.Tham luận: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hiện hành về quy trình, thủ
tục thi hành án đối với tài sản là bất động sản, những khó khăn vướng mắc trong
giai đoạn này
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của Đề án
Thi hành án là hoạt động quan trọng nhằm đảm bảo tính hiệu lực của các bản án, quyết định của Toà án, qua đó đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật cũng như góp phần đảm bảo quyền con người, quyền công dân Hiệu lực và hiệu quả của toàn bộ hoạt động Tư pháp thể hiện ở giai đoạn thi hành án Yêu cầu thực thi các bản án, quyết định của Toà án đã được ghi nhận trong Điều 136
Hiến pháp năm 1992: "Các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có
hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành" Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam, cải cách hệ thống tư pháp là chủ chương lớn mà Đảng và Nhà nước ta
đã đề ra trong Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị về
Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2-6-2005 của Bộ
Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Trong đó, vấn đề tăng
cường hiệu quả của công tác thi hành án là một trong những nội dung quan trọng cần thực hiện trong thời gian tới
Nghiên cứu các văn bản pháp luật liên quan đến thi hành án cho thấy một
hệ thống văn bản khá đồ sộ và phức tạp Do liên quan trực tiếp đến các quyền cơ bản của con người như quyền về nhân thân, quyền về tài sản, quyền về nơi ở , nên các quy phạm pháp luật liên quan đến thi hành án cũng được quy định tại nhiều luật chuyên ngành cũng như các văn bản hướng dẫn khác Tại thời điểm thực hiện Đề án có sự giao thời giữa Luật Thi hành án dân sự 2008 và Pháp lệnh thi hành án dân sự 2004 Để đảm bảo tính thống nhất và khả thi của các văn bản này cũng là một vấn đề đặt ra khi Luật thi hành án đi vào cuộc sống việc triển khai Đề án nhằm đánh giá bước đầu những vướng mắc của các quy định Luật khi đi vào thực tiễn áp dụng ra sao để từ đó có những kiến nghị, đề xuất kịp thời nhằm tháo gỡ những khó khăn đó
Trang 11có những hướng dẫn cụ thể trong việc áp dụng quy trình thủ tục thi hành án đối với tài sản là bất động sản cho phù hợp
Số liệu điều tra về thực trạng thi hành án cho thấy tuy công tác THADS đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, tuy nhiên, số lượng án phải thi hành ngày càng tăng, tính chất của các vụ việc ngày càng phức tạp, lượng tiền và tài sản phải thi hành lớn, nhưng còn một tỷ lệ rất đáng kể án chưa được thi hành, trong
đó số lượng các án chưa được thi hành liên quan đến bất động sản là không nhỏ Qua báo cáo tổng kết công tác thi hành án dân sự hàng năm Cơ quan thi hành án dân sự gửi Bộ Tư pháp; Báo cáo công tác thi hành án hàng năm của Bộ Tư pháp thì đa số các vụ việc thi hành án kéo dài, khó khăn, phức tạp liên quan đến việc thi hành án đối với tài sản là bất động sản chủ yếu là quyền sử dụng đất và
quyền sở hữu nhà
Việc thi hành án liên quan đến bất động sản gặp nhiều khó khăn có thể do nhiều lí do, lý do hay gặp phải nhất là do người dân – chủ yếu là người phải thi hành án - chưa nhận thức, hiểu được pháp luật, hoặc đã hiểu biết về pháp luật
Trang 12nhưng dùng đủ mọi cách chây ì để việc thi hành án không thể diễn ra Bên cạnh
lý do từ phía người dân, cũng có nhiều vụ việc mà cơ quan thi hành án có thể do
cố ý, cũng có thể do không nắm vững các quy định về quy trình, thủ tục thi hành
án nên đã có những quyết định vi phạm thủ tục thi hành án trong việc thi hành
án của mình, dẫn đến tình trạng khiếu kiện liên quan đến bất động sản phải thi hành án gia tăng, gây bức xúc cho người dân, không ít công chức, chuyên viên
cơ quan thi hành án phải nhận các hình thức kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự do vi phạm
Những vấn đề vướng mắc về quy định của pháp luật hiện hành cũng như thực trạng thi hành án liên quan đến bất động sản tồn tại rất nhiều vấn đề, đặt ra yêu cầu phải xác định một quy trình, thủ tục thi hành án đối với những bản án có tài sản thi hành là bất động sản và các biện pháp đảm bảo hiệu quả cũng như tính thống nhất của quy trình đó Cụ thể hơn là phải có sự nghiên cứu khảo sát
về quy trình thi hành án với tài sản là bất động sản ở các khía cạnh sau: quy trình về mặt pháp luật quy định, thực tế áp dụng quy trình này ở một số địa phương - có đảm bảo thực hiện đúng hay không, lý do, những khó khăn vướng mắc (về mặt pháp luật và thực tiễn)- những vấn đề phát sinh (hiệu quả thi hành tốt hay chưa tốt, niềm tin của người dân vào thực thi công lý, bộ máy vận hành
có thuận tiện hay không)…
Trước tình hình đó đặt ra cho công tác thi hành án, đòi hỏi phải có công trình nghiên cứu tổng thể phân tích, đánh giá về quy trình, thủ tục thi hành án các bản án có tài sản thi hành là bất động sản từ đó xây dựng quy trình thi hành
án dân sự chung thống nhất cũng như kịp thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền tháo gỡ những khó khăn vướng mắc về mặt thể chế kịp thời Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi cũng thấy rằng, do công tác thống kê không phân loại theo tiêu chí tài sản là bất động sản hay động sản, mặc khác hoạt động thi hành án mà tài sản thi hành là bất động sản rất đa dạng, có thể bản án, quyết định của tòa không giải quyết tranh chấp bất động sản, nhưng thực tiễn thi hành
án tài sản phải xử lý để thi hành là bất động sản cũng được Đề án nghiên cứu
Trang 132 Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua các hoạt động nghiên cứu, khảo sát để xác định một cách khách quan những khó khăn vướng mắc trong việc thi hành án đối với tài sản là bất động sản Trên cơ sở các thông tin, số liệu, tài liệu thu thập được, áp dụng các phương pháp khoa học để phân tích đánh giá thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân những khó khăn đó để đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh việc thi hành án đối với tài sản là bất động sản
3 Phạm vi nghiên cứu :
- Nghiên cứu, khảo sát quy trình, thủ tục thi hành án đối với tài sản là bất
động sản (bao gồm các bản án, quyết định có tài sản thi hành là bất động sản hoặc tài sản để đảm bảo thi hành là bất động sản do không có tài sản khác để đảm bảo thi hành án)
- Nghiên cứu quy trình, thủ tục thi hành án đối với các loại việc thuộc diện thi hành án theo đơn yêu cầu và thực tiễn thi hành án tài sản phải xử lý để thi hành là bất động sản
4 Nội dung nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu các bước theo quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về việc thi hành án đối với tài sản là bất động sản: về trình tự,
thủ tục, chi phí, thời gian từ khâu nhận hồ sơ, thụ lý hồ sơ, giai đoạn xác minh, cưỡng chế đến khi kết thúc thi hành án
Việc điều tra, khảo sát thực tiễn thi hành án đối với tài sản là bất động sản phải đảm bảo các yêu cầu sau: Các đánh giá được đưa ra phải đảm bảo tính đa chiều: nhận định từ nhiều khía cạnh, đối tượng khác nhau, đánh giá quy định pháp luật thực định và thực tiễn thi hành; Nghiên cứu, phỏng vấn sâu các vụ việc để có nhận định đúng về nguyên nhân các vụ việc thi hành án kéo dài, xảy
ra khiếu kiện bức xúc
4.2 Đánh giá những khó khăn, vướng mắc của từng giai đoạn trong quy trình thi hành án đối với tài sản là bất động sản (Tìm hiểu những khó khăn
Trang 14vướng mắc từ nhiều khía cạnh khác nhau, so sánh quy trình theo quy định pháp
luật với thực tiễn thi hành; so sánh thực tiễn vận dụng ở các địa phương):
- Đánh giá toàn diện khách quan về quy định pháp luật đảm bảo cho việc thi hành án đạt hiệu quả, đánh giá các thiết chế bảo đảm; Sự tuân thủ quy định pháp luật về quyền hạn trách nhiệm, thời hạn, thủ tục thực thi của cơ quan thi hành án, đương sự, tổ chức, cá nhân có liên quan
- Những xung đột pháp luật giữa các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự trong việc kê biên tài sản là bất động sản có tranh chấp với Luật nhà ở, Luật đất đai; giữa các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, về bán đấu giá tài sản pháp luật về tố tụng dân sự… cần phải điều chỉnh
- Sự can thiệp, hỗ trợ và sự phối hợp của các cơ quan có liên quan (cấp uỷ, Toà án, Viện Kiểm sát, Uỷ ban nhân dân, các đoàn thể ), đánh giá hiệu quả công việc của Ban chỉ đạo thi hành án ở các địa phương
- Ý thức chấp hành pháp luật của đương sự trong vụ việc thi hành án
4.3 Phân tích đánh giá thực trạng và các hệ luỵ liên quan trong trường hợp án bị tạm hoán, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành do tác động của bên ngoài và việc xử lý trong trường hợp các bản án, quyết định phải xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm:
- Tìm hiểu số vụ việc bị kéo dài thi hành án do sự can thiệp bất hợp lý của các cơ quan có thẩm quyền Tính hợp lý trong các trường hợp hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án theo quyết định của cơ quan bên ngoài (bao nhiêu vụ việc bị tác động bởi cơ quan bên ngoài, tác động đó là hợp lý hay chưa hợp lý, xác định trách nhiệm của cơ quan có liên quan trong trường hợp ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự )
- Điều tra thực tế việc kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, kiểm sát thi hành án đã đúng chức năng thẩm quyền hay không;
- Sự tham gia ý kiến của chính quyền địa phương có đúng hay không; tình trạng e ngại né tránh mất ổn định ở địa phương
Trang 15- Giải pháp hoàn thiện pháp luật: kiến nghị các giải pháp sửa đổi bổ sung các quy định pháp luật nhằm hoàn thiện quy trình thủ tục thi hành án, trong đó
có việc thi hành đối với tài sản là bất động sản
- Giải pháp hoàn thiện thiết chế thực thi, tăng cường năng lực cơ quan thi hành án, tăng cường hiệu quả công tác, trách nhiệm phối hợp của các cơ quan có liên quan; tăng cường điều kiện vật chất đảm bảo hoạt động thi hành án
5 Đối tượng, địa bàn nghiên cứu khảo sát
5.1 Về đối tượng nghiên cứu khảo sát
Nhóm nghiên cứu khảo sát đã xác định đối tượng khảo sát gồm:
(i) Thủ trưởng, chấp hành viên cơ quan thi hành án;
(ii) Người được thi hành án;
(iii) Người phải thi hành án;
(iv) Một số cá nhân, tổ chức khác: Uỷ ban nhân dân các cấp, Sở Tư pháp,
Sở Tài nguyên Môi trương, Trung tâm Bán đấu giá tài sản, Ngân hàng, cơ quan công chứng, cơ quan đăng ký bất động sản…
Ứng với mỗi nhóm đối tượng này, Ban chủ nhiệm đã xây dựng mẫu phiếu dành riêng cho từng nhóm đối tượng đó như : Mẫu phiếu dành cho cán bộ, cơ quan thi hành án dân sự ; Mẫu phiếu dành cho người được thi hành án ; Mẫu phiếu dành cho người phải thi hành án ; Mẫu phiếu dành cho cộng đồng bao gồm : Uỷ ban nhân dân các cấp, Sở Tư pháp, Sở Tài nguyên Môi trương, Trung tâm Bán đấu giá tài sản, Ngân hàng, cơ quan công chứng, cơ quan đăng ký bất động sản…
Trang 16- Phương pháp nghiên cứu tại chỗ: Nghiên cứu hệ thống văn bản pháp
luật; tìm hiểu các tài liệu nghiên cứu về vấn đề thi hành án đối với tài sản là bất
động sản theo các tham luận, chuyên đề
- Điều tra xã hội học bằng phiếu và phỏng vấn : Với mỗi đối tượng điều
tra Ban chủ nhiệm đã dùng 2 phương pháp đó là thông qua cơ quan thi hành án triển khai phát và thu phiếu sau đó chuyển lại cho Ban chủ nhiệm và trực tiếp Ban chủ nhiệm phát và thu phiếu cho những đối tượng đó
- Tại thành phố Hồ Chí Minh chúng tôi đã tổ chức các buổi tọa đàm: tại Cục Thi hành án dân sự thành phố, Chi cục thi hành án dân sự Quận và 3 phường( Phường 10 Quận 10, Phường 7 Quận 5 và phường tân Hưng Quận 7)
- Tại Hà Nội, chúng tôi đã triển khai được các buổi tọa đàm tại : Bộ Tư pháp, Chi Cục THADS Quận Thanh Xuân và 3 xã/phường (2 xã ở Huyện Chương Mỹ: Xã Quảng Bị và Xã Phụng Châu;1 phường ở Quận Thanh Xuân: Phường Thanh Xuân hạ)
Về kết quả thu được: Ban Chủ nhiệm Đề án đã thu được 17 báo cáo tham luận; 249 phiếu khảo sát trong đó có 180 phiếu thường (112 phiếu dành cho cán
bộ thi hành án, 68 phiếu dành cho người được thi hành án) và 69 phiếu phỏng vấn trực tiếp (21 phiếu dành dành cho người phải thi hành án và 48 phiếu dành cho cộng đồng)
Trang 178 Những điểm mới của Đề án
Đề án là công trình khảo sát thực tiễn đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về quy trình, thủ tục thi hành án các bản án có tài sản thi hành là bất động sản, trên cơ sở đối chiếu, so sánh giữa pháp luật thực định và việc triển khai trên thực tế các bước theo trình tự, thủ tục thi hành án và đã xây dựng được quy trình trình thi hành án mà tài sản phải thi hành là bất động sản, vì vậy có những đóng góp mới về khoa học, ứng dụng như sau:
Về thực tiễn, đây là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên đánh giá một cách toàn diện, tổng thể về quy trình, trình tự thủ tục thi hành các bản án có tài sản thi hành là bất động sản giữa pháp luật thực định với thực tiễn áp dụng và những khó khăn vướng mắc trong quá trình thi hành án đối với loại tài sản đặc thù này từ đó đề xuất các giải pháp nhằm sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn công tác thi hành án dân sự nói chung và thi hành án đối với tài sản là bất động sản nói riêng
Đây cũng là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên đánh giá tác động Luật sau khi Luật đi vào thực tiễn đời sống, tuy mới được 01 năm tuổi1 nhưng với sự đánh giá, phát hiện thông qua khảo sát thực tiễn sẽ có những kiến nghị kịp thời góp phần nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự trong thời gian tới
Về mặt lý luận, như đã nêu trên đây là công trình nghiên cứu trên cơ sở khảo sát thực tiễn với đặc thù của tài sản thi hành là bất động sản, Đề án đã làm
rõ và nhận diện được những đặc trưng của công tác thi hành án dân sự mà tài sản thi hành là bất động sản, những vấn đề lý luận về vai trò của các cơ quan liên quan đến quá trình tổ chức thi hành án,…
1 Theo quy định của Luật Ban hành văn bản 2008 thì đối với dự án Luật là sau 3 năm mới phải đánh giá tác động luật
Trang 18Phần mở đầu CHƯƠNG I TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG THI HÀNH DÂN SỰ TRONG ĐÓ CÓ VIỆC THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ BẤT
ĐỘNG SẢN
1 TÌNH HÌNH CHUNG VỀ CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1 Một số kết quả đạt được trong công tác thi hành án dân sự
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước công tác
thi hành án dân sự (sau đây gọi tắt là THADS) trở thành một trong các nhiệm vụ
trung tâm, với nhiều giải pháp hiệu quả nhằm tạo sự chuyển biến cơ bản trong công tác này Trong đó, có những giải pháp quan trọng về mặt thể chế đánh dấu
bằng sự kiện Pháp lệnh THADS 1993 và việc cơ quan thi hành án (sau đây gọi
tắt là THA) tách ra khỏi cơ quan tòa án, gần đây nhất là sự kiện Luật THADS
2008 được ban hành Theo đó, cơ cấu tổ chức của cơ quan THADS, trình tự thủ tục thi hành án cũng có sự thay đổi đáng kể Trên cơ sở đó, trong những năm
Trang 1916093
4223.7 1318.4
17745
4171 1664
19446
6252 1686
19451
8175 2416
22235
7816 3569
26587
9387 5411
Biểu đồ thể hiện công tác thi hành án dân sự theo giá trị qua các
năm (đơn vị: tỷ đồng) Gía trị phải thi hành
Gía trị có điều kiện thi hành
Gía trị thi hành xong
qua công tác THADS có những chuyển biến quan trọng cả về số lượng và chất lượng
Theo báo cáo thống kê công tác THADS các năm 2004-2009 của Tổng cục THADS cung cấp thì số việc thi hành án thụ lý có chiều hướng gia tăng cả
về số việc và giá trị thi hành Nhiều việc THA phức tạp, tồn đọng, khiếu nại kéo dài cơ bản đã được giải quyết dứt điểm Cụ thể, tổng số việc phải THADS tăng dần, năm sau nhiều hơn năm trước, mỗi năm tăng khoảng 23,000 việc, trong khi
đó số việc đã được giải quyết ở mức trung bình hàng năm khoảng trên 8,000 việc, như vậy mỗi năm còn khoảng 15,000 việc tồn đọng chuyển sang năm sau (xem biểu đồ)
Bên cạnh sự gia tăng về số việc phải thụ lý, giá trị tài sản phải thi hành quy đổi ra tiền cũng tăng lên trung bình mỗi năm tăng trên 20 tỷ đồng, trong khi
đó giá trị đã thi hành xong trung bình mỗi năm khoảng 2.127 tỷ đồng
Trang 20Trong tổng số 63 tỉnh thành trong cả nước thì thành phố Hồ Chí Minh và
Hà Nội là 2 tỉnh/thành có số vụ việc và giá trị tài sản thi hành là lớn hơn cả Thực tiễn công tác THA nhiều năm qua cho thấy công tác THADS tại thành phố
Hồ Chí Minh có số lượng án nhiều – lớn – phức tạp và giá trị tài sản phải thi hành luôn đứng vị trí đầu tiên trong cả nước Mỗi năm có khoảng 90,000 việc, với giá trị tài sản khoảng 12,000 tỷ đồng
Phân loại theo tính chất vụ việc trong 05 năm qua, mỗi năm số án có điều kiện thi hành khoảng 45,000 việc và số chưa có điều kiện thi hành khoảng 30,000 việc Trong số án có điều kiện thi hành, số đã thi hành xong năm sau cao hơn năm trước Cụ thể, năm 2005: 35.229 việc với giá trị là 621,5 tỷ đồng; năm 2006: 38.767 việc với giá trị 762,3 tỷ đồng; năm 2007: 40.008 việc với giá trị 1.187,7 tỷ đồng; năm 2008: 42.354 việc với giá trị 1.571,4 tỷ đồng và năm 2009:
Trang 2145.966 việc với giá trị là 1.756,3 tỷ đồng Theo số liệu Cục THADS thành phố
Hồ Chí Minh cho biết số vụ việc tồn đọng của năm trước chuyển sang năm sau
luôn ở mức trên 50.000 việc, thậm chí có hàng nghìn trường hợp chuyển qua
nhiều năm mà không thi hành được mà chưa có điều kiện thi hành, ảnh hưởng
đến hiệu quả trong hoạt động THA, ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự
Đối với Hà Nội, thực hiện Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH ngày
29/5/2008 của Quốc hội khóa 12 về việc mở rộng địa giới hành chính thủ đô Hà
Nội, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã có quyết định số 1378/QĐ-BTP ngày 01/8/2008
về việc thành lập Cục THADS thành phố Hà nội trên cơ sở hợp nhất 2 đơn vị
THADS Hà Nội cũ và THADS tỉnh Hà Tây, đồng thời tiếp nhân đơn vị THADS
huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc) và 04 xã của tỉnh Hòa Bình (nay gọi chung
Cục THADS thành phố Hà Nội)
Tính riêng của thành phố Hà Nội (cũ) trong 2 năm 2007-2008 tình hình
THADS thể hiện qua biểu đồ sau đây:
Đơn vị: việc
Số việc đã thi hành xong hoàn toàn 10.150 15.704
Tính riêng năm 2009 của chung toàn thành phố Hà Nội, tổng số việc phải
thi hành là 37.153 việc Về thực tiễn thi hành, trong tổng số 37.153 việc năm
2009 có 25.625 việc có điều kiện thi hành, số chưa có điều kiện thi hành là
9.589 việc Số đã thi hành xong là 22.242 việc, đạt tỷ lệ 87% trên số việc có điều
kiện thi hành So với cùng kỳ năm 2008 tỷ lệ việc thi hành xong tăng 5%, án
tồn đọng giảm 3624 việc đạt tỷ lệ 22% Tuy lượng án tồn đọng năm 2009 giảm
3624 việc so với năm 2008 những vẫn còn tồn đọng 12.603 việc
Tổng giá trị hiện vật phải thi hành đối với các vụ việc thi hành án theo
đơn yêu cầu trên địa bàn thành phố rất lớn chủ yếu đó là các tài sản liên quan
đến nhà đất, nhà xưởng, công trình… quy đổi ra tiền năm 2009 là 1884 tỷ đồng,
được thể hiện qua biểu đồ sau:
Trang 221884
0 500 1000 1500 2000
Tổng số tiền phải thi hành
Só có điều kiện thi hành
Số chưa
có điều kiện thi hành
Só có điều kiện thi hành
Số chưa có điều kiện thi hành
Số đã được giải quyết
1.2 Đánh giá chung về công tác thi hành án dân sự
Mặc dù, công tác THADS có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được nhiều kết quả nêu trên, công tác THADS vẫn còn những hạn chế, tồn tại, yếu kém nhất định như:
- Số lượng việc THA tồn đọng chưa thi hành được vẫn còn lớn: Tuy số
việc và giá trị thi hành năm sau nhiều hơn so với cùng kỳ năm trước, nhưng số việc THA có điều kiện chưa thi hành xong vẫn còn lớn, tỷ lệ giá trị phải thi hành tồn đọng cao hơn tỷ lệ về việc tồn đọng, tính đến tháng 8/2006 cả nước còn 210.815 việc tồn đọng chưa có điều kiện thi hành (tăng 4.091 việc so với năm 2005), có 108.397 việc thi hành có điều kiện nhưng chưa thi hành xong; đến năm 2007 số việc thi hành chưa có điều kiện thi hành là 208.155 việc, giảm được 2116 việc so với năm 2006, có 144.198 việc có điều kiện nhưng chưa thi hành xong; đến năm 2008 số việc chưa có điều kiện thi hành vẫn còn rất lớn 215.152 việc, tăng 6997 việc so với cùng kỳ năm 2007 và vẫn còn 118.330 việc
có điều kiện thi hành nhưng chưa thi hành xong2 Tuy nhiên, giá trị thi hành xong còn quá thấp so với giá trị phải thi hành: năm 2007 chỉ đạt 17,6%, năm
2008 đạt 16,0% trong khi đó số vụ đã thi hành được năm 2007 đạt 34,3%, năm
2008 đạt 34,6%
2 Nguồn: Tổng cục THADS Bộ Tư pháp
Trang 23- Tình trạng khiếu nại, tố cáo về THADS vẫn còn nhiều, liên tục tăng:
Qua số liệu thống kê liên quan đến công tác giải quyết khiếu nại tố cáo cho thấy tình trạng khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác THADS có chiều hướng gia tăng và phức tạp Năm 2007 Bộ Tư pháp đã nhận 2.815 lượt đơn khiếu nại (trong đó có 1.504 đơn trùng lặp) Bộ Tư pháp đã trực tiếp giải quyết 80 trường hợp, chuyển 844 đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết Các cơ quan THADS địa phương thụ lý 5.476 trường hợp, đã giải quyết xong 4.912 trường hợp; Năm 2008, còn 363 trường hợp khiếu nại, 14 trường hợp chưa giải quyết xong Qua báo cáo công tác THA các năm từ năm 2005-2008 thì hầu hết các vụ việc THADS có khó khăn, phức tạp, đương sự khiếu nại bức xúc, kéo dài chủ yếu liên quan đến tài sản thi hành là bất động sản như Vụ khiếu nại của Bà Vũ Kiều Trinh ở Lào Cai, Vụ Bà Lưu Thị Phương ở Quận Tây Hồ, Hà Nội, Vụ Ông Hoàng Văn Phái, Bà Phạm Thúy Quỳnh trong Bản án số 01/PTDS ngày 05/1/1995, Vụ ông Khúc Hoàng, Bà Đỗ My Thành trong Bản án số 59 ngày 11 tháng 8 năm 1994 của tòa án nhân dân tối cao,…
- Bên cạnh đó còn một số vấn đề về công tác cán bộ, cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động của cơ quan THA còn chưa được đảm bảo, mối quan hệ giữa cơ quan THA với các cơ quan liên quan trong quá trình THA hiệu quả chưa cao,…
Các hạn chế nêu trên xuất phát từ một số nguyên nhân cơ bản sau:
- Nguyên nhân chủ quan
+ Một số chấp hành viên, cơ quan THADS chưa thực sự tích cực thực hiện nhiệm vụ, còn trông chờ vào sự chỉ đạo của cấp trên, chưa có kế hoạch cụ thể trong việc THA, thậm chí có trường hợp ngại va chạm, không kiên quyết áp dụng biện pháp cưỡng chế ngay cả khi người phải THA có điều kiện thi hành
+ Việc trả lời, hướng dẫn giải quyết những khó khăn vướng mắc về mặt nghiệp vụ cho cơ quan THA địa phương của cơ quan Trung ương còn chậm
+ Trình độ hiểu biết kiến thức pháp luật của một bộ phận cán bộ ngành THA, ngay cả đội ngũ chấp hành viên còn chưa sâu, vấn đề chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của chấp hành viên còn có lúc, có nơi chưa được thực hiện nghiêm
Trang 24túc, còn vi phạm, gây bức xúc, khiếu nại THA, thậm chí một số cán bộ, Chấp hành viên bị kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự
+ Sự tự nguyện THA của các bên còn hạn chế, nhiều vụ khiếu nại, tố cáo nhiều lần, nhiều cấp, thậm chí khiếu nại tố cáo sai sự thật nhằm dây dưa, chống đối, cản trở công tác THA
- Nguyên nhân khách quan:
+ Do số lượng vụ việc yêu cầu THA và giá trị tài sản yêu cầu thi hành ngày càng lớn, trong khi đó số lượng cán bộ, biên chế có hạn dẫn đến quá tải trong công việc, số việc THA tồn đọng chuyển dồn từ năm này sang năm khác nhiều, chưa có giải pháp để giải quyết dứt điểm
+ Một số vụ việc thi hành chưa được do bản án tuyên không rõ, thậm chí
là có sai sót, thiếu tính khả thi không thể thực hiện được trên thực tế
+ Việc ban hành các quy định pháp luật hướng dẫn về quy trình thủ tục, THA còn chậm, một số quy định pháp luật còn chưa phù hợp với các quy định của pháp luật thuộc lĩnh vực khác cũng như thực tiễn thi hành án
+ Việc THA bị tạm đình chỉ do có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm trong hoạt động THADS
+ Nhiều trường hợp đương sự nộp đơn yêu cầu THA, nhưng do người phải THA không có tài sản để thi hành hoặc tài sản không còn tại thời điểm THA (năm 2007 có 12.274 việc, chiếm tỷ lệ 5,89%; năm 2008 là 14.596 việc, chiếm tỷ lệ 6,7% )
2 THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI TÀI SẢN THI HÀNH LÀ BẤT ĐỘNG SẢN
2.1 Khái quát hoạt động thi hành án đối với tài sản thi hành là bất động sản
Tài sản là bất động sản đảm bảo THA có thể là bất động sản được quy định ngay trong bản án, quyết định của tòa án; có thể là động sản, nghĩa vụ của người phải THA là loại tài sản khác nhưng chưa có điều kiện thi hành nhưng có bất động sản để đảm bảo thi hành
Trang 25Tài sản bất động sản3 là loại tài sản có giá trị lớn, nhất là ở khu vực đô thị
- nơi giá cả thị trường bất động sản trên địa bàn này luôn rất sôi động và biến đổi liên tục Cũng như các tài sản phải thi hành khác, việc xử lý tài sản là bất động sản, cơ quan THADS căn cứ bản án có hiệu lực pháp luật và áp dụng thủ tục chung như đối với các loại tài sản khác Tuy nhiên, do đặc thù của loại tài sản này như là loại tài sản phải đăng ký, việc chuyển dịch phải công chứng, chứng thực, liên quan đến nhiều cơ quan quản lý,…Do đó, ngoài sự điều chỉnh của các quy định về pháp luật THADS thì còn chịu sự điều chỉnh của nhiều quy định pháp luật chuyên ngành khác như đất đai, nhà ở, xây dựng, quy hoạch, giao dịch bảo đảm…
Mặt khác, tài sản phải thi hành là bất động sản có khi là nơi cư trú duy nhất của người phải thi hành án, không chỉ có giá trị lớn về mặt kinh tế nó còn
có giá trị rất lớn về mặt tín ngưỡng, văn hóa dẫn đến trên thực tế việc chống đối thậm chí còn “quyết tử” của người phải thi hành án, tỷ lệ khiếu nại, tố cáo về THADS đối với loại tài sản này chiếm tỷ lệ nhiều nhất4, sự “can thiệp”5 của các
cơ quan, cá nhân có “thẩm quyền” ở nhiều góc độ khác nhau, từ hình thức chính thức thông qua văn bản đến hình thức không chính thức dưới hình thức chỉ đạo, mệnh lệnh “cá nhân”… Tất cả các yếu tố này làm cho hoạt động THA liên quan đến bất động sản thường phức tạp, khó khăn hơn so với các việc THA khác
Hiện nay các Cục, Chi cục THADS không thực hiện thống kê riêng theo tiêu chí đối tượng phải thi hành theo loại tài sản phải thi hành6 Do đó, thực tiễn điều tra khảo sát thu thập được về hoạt động THA đối với tài sản là bất động sản không có số liệu thống kê cụ thể mà chỉ có những vụ việc đã và đang được chấp hành viên thụ lý cung cấp Theo kết quả khảo sát trên địa bàn thành phố Hà Nội
3 Theo tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế 2005 thì BĐS được định nghĩa gồm đất đai và những công trình do con người tạo nên gắn liền với đất
Theo quy định Điều 174, Bộ Luật dân sự: bất động sản bao gồm: đất đai, nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản gắn liền với đất đai
4 Nguồn: Phỏng vấn trực tiếp các cán bộ làm công tác giải quyết khiếu nại tại Cục THADS thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hà Nội, cho biết khoảng 2/3 đơn thư khiếu nại tố cáo đồng chí thụ lý giải quyết liên quan đến tài sản là bất động sản
5 Ý kiến phát biểu trao đổi thảo luận của các đại biểu tại buổi tọa đàm tại Bộ Tư pháp về thủ tục thi hành án đối với tài sản là bất động sản ngày 25/3/2010
6 Quyết định số 02/2006/QĐ-BTP của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ngày 14/4/2006 ban hành chế độ báo cáo thống kê THADS không phân định theo tiêu chí này
Trang 26số lượng vụ án liên quan đến tài sản là bất động sản trung bình mỗi năm khoảng
950 vụ, chiếm khoảng từ 7-10% tổng số bản án, quyết định của tòa Theo đó năm 2005 là 812 vụ7; năm 2006 là 989 vụ; năm 2007 là 923 vụ; năm 2008 là
1021 vụ và năm 2009 là 971 vụ (một vụ có thể có nhiều việc), chưa kể đến các việc thi hành án liên quan đến động sản, nghĩa vụ trả tiền,… chưa có điều kiện
để thi hành nhưng có tài sản là bất động sản Theo kết quả phỏng vấn trực tiếp một số chấp hành viên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hà Nội, cho biết: Trong tổng số việc thụ lý, số việc bản án quyết định tòa án tuyên liên quan đến tài sản là bất động sản chiếm khoảng 15% cộng với khoảng 17%
số việc khác không có tài sản thi hành nhưng có tài sản là bất động sản để đảm bảo thi hành Như vậy, số việc thi hành án dân sự đối với tài sản là bất động sản chiếm một tỷ tương đối lớn trong tổng số việc cơ quan thi hành án phải thi hành, khoảng 32%
Thực tế công tác THA8 cho thấy giá trị thi hành đối với tài sản bất động sản có giá trị rất lớn, đôi khi giá trị thi hành 1 việc THA tài sản là bất động sản cũng có thể bằng tất cả các việc phải thi hành liên quan đến án phí, lệ phí,… cơ quan THA phải thi hành
Ví dụ: Bản án dân sự phúc thẩm số 192/DSPT ngày 15/10/2008 của Tòa án
nhân dân tối cao tại Hà Nội về việc chia thừa kế là quyền sử dụng đất và hợp đồng liên quan đến chuyển quyền sử dụng đất – di sản thừa kế giữa nguyên đơn
là ông Nguyễn Văn Lạc và bị đơn là ông Nguyễn Văn Quang tại 39b, tổ 2, Phường Thượng Đình, Quận Thanh Xuân, Hà Nội Theo đó một việc trong bản
án quyết định đó là hủy hợp đồng mua bán nhà đất giữa ông Quang và Ông Quy Trị giá của diện tích đất hoàn trả với số tiền trên 8,9 tỷ đồng9, việc này do Cục THADS thành phố Hà Nội thi hành Trong khi đó tổng số tiền án phí, lệ phí Cục THADS thành phố Hà Nội trung bình 1 năm thu được khoảng 5- 8 tỷ đồng10
7 Một vụ có thể có nhiều việc phải thi hành
8 Trao đổi, thảo luận của các đại biểu tại các buổi tọa đàm tổ chức tại Thành phố HCM - HN
9 Trên cơ sở bản án và đơn yêu cầu của người được THA, Cục THADS thành phố Hà Nội đã có Quyết định số 685/QĐ.THA-DS
10 Tham luận tổng quan công tác THADS trên địa bàn thành phố Hà Nội của Phó Cục trưởng Cục THADS thành phố Hà Nội- Nguyễn Ngọc Qúy
Trang 27Như đã phân tích ở trên (phần 1.1) giá trị tài sản đã thi hành xong rất thấp, chỉ chiếm từ 11-16%/giá trị phải thi hành, trong khi số vụ việc đã thi hành xong đạt trên 34%/số việc phải thi hành Thông qua việc đối chiếu, so sánh giữa giá trị tài sản phải thi hành nhưng chưa thi hành xong của việc THA liên quan đến tài sản là bất động sản, qua một số vụ việc thi hành án liên quan đến bất động sản chưa thi hành được11 chúng tôi nhận thấy đa số việc THA chưa được thi hành là án liên quan đến tài sản là bất động sản, số vụ việc liên quan đến thi hành án là bất động sản chưa thi hành được chiếm một tỷ lệ tương đối lớn trong tổng số việc chưa thi hành được Do đó, chúng tôi khẳng định số lượng việc tồn đọng hiện nay chủ việc thi hành án liên quan đến bất động sản Theo kết quả khảo sát 68 đương sự là người được thi hành án dân sự trong việc thi hành án đối với tài sản là bất động sản thì có 12 người cho biết giá trị tài sản được thi hành từ 5-10 tỷ đồng; có 26 người cho biết giá trị được thi hành có giá trị từ 1-5
tỷ đồng và có 30 người cho biết giá trị tài sản được thi hành từ 500 triệu đến 1 tỷ đồng
Ví dụ: Bản án 192/2008/ DSPT ngày 15/10/2008 giải quyết về tranh chấp về
thừa kế, về hợp đồng mua bán nhà, về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong
đó riêng 2.525,13 m2 với giá trị sử dụng tại thời điểm định giá khi tuyên án đã là 49,5 tỷ đồng12 Như vậy trong tổng số 26.587 tỷ phải thi hành năm 2009, riêng
vụ việc này đã chiếm 0,5% tổng giá trị phải thi hành
Do tính chất của tài sản thi hành là bất động sản, dẫn đến sự phức tạp trong hoạt động THA, từ đương sự đến các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, có liên quan khác đều có thể có sự can thiệp Theo kết quả điều tra, khảo sát của Đề
án tại 2 thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với 112 chấp hành viên, khi được hỏi về khó khăn đến việc THA tài sản là bất động sản và THA đối với tài sản là động sản thì chỉ có 42/112 cán bộ cho biết là có khó khăn trong quá trình tổ chức THA mà tài sản là động sản, chiếm tỷ lệ 37,5%; có 69/112 cán bộ cho biết có khó khăn trong việc buộc thực hiện hành vi giao con, nhận người lao
11 Như Bản án 192/2008/ DSPT ngày 15/10/2008 của tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội với giá trị thi hành là 49,5 tỷ đồng; Vụ bà Nguyễn Thị Hoài Nhớ, Huỳnh Thị Sang, Hồ Văn Thành theo bản án số 515/DSPT ngày 11/1/1999 với giá trị thi hành là 2,2 tỷ đồng; Vụ bà Trần Thị Hoàng Mai và Huỳnh Thị Muông theo bản án 319/DSPT với giá trị là 1833,49 lượng vàng SJC…
12 Người được THA nộp đơn vào ngày 1/4/2009
Trang 28động trở lại làm việc, chiếm tỷ lệ 61,6%; có 89/112 cán bộ cho biết có khó khăn đối với việc THA mà tài sản thi hàn là bất động sản, chiếm tỷ lệ 79,5%
Qua phỏng vấn trực tiếp một số chấp hành viên, người được thi hành án, người phải thi hành án trên địa bàn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, cho thấy trong việc thực hiện các vụ việc THA liên quan đến tài sản là bất động sản thì tỷ
lệ các bên tự thương lượng, tự nguyện thi hành là rất ít, trong khi đó việc tổ chức cưỡng chế THA thường liên quan đến tài sản là bất động sản lại rất nhiều Theo kết quả phỏng vấn trực tiếp một số chấp hành viên thì tỷ lệ các đương sự tự thỏa thuận THA trong tổng số vụ việc được giao chiếm từ 25- 30%, nhưng việc thỏa thuận trong THA đối với tài sản chỉ chiếm từ 2-5%/tổng số vụ việc đương sự đã
tự thỏa thuận mà cơ quan THA thụ lý giải quyết
Trên cơ sở đó có thể khẳng định THADS đối với tài sản là bất động sản
là loại việc có tính chất phức tạp và khó thi hành nhất trong các loại việc mà cơ quan THA thực hiện hiện nay Tỷ lệ án tồn đọng với loại việc này cũng cao hơn rất nhiều so với các vụ việc khác nếu không muốn nói án tồn đọng chủ yếu hiện nay đều liên quan đến tài sản phải thi hành là bất động sản
2.2 Khung pháp luật điều chỉnh quy, thủ tục thi hành án dân sự đối với tài sản thi hành là bất động sản
Trước khi Luật THADS 2008 được thông qua, quy trình thủ tục THADS được thực hiện theo Pháp lệnh THADS 2004 và các văn bản hướng dẫn Pháp lệnh THADS 2004 Riêng đối với thủ tục thi hành án dân sự đối với tài sản là bất động sản thì việc thi hành còn chịu sự điều chỉnh của một số văn bản chuyên ngành, trong đó có Nghị định số 164/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 09 năm 2004 của Chính phủ về kê biên, đấu giá quyền sử dụng đất để đảm bảo thi hành án Tuy nhiên, do những hạn chế, bất cập của Pháp lệnh THADS, ngày 14 tháng 01 năm 2008 Quốc hội khóa VII, kỳ họp thứ tư đã thông qua Luật THADS và chính thức có hiệu lực ngày 01 tháng 07 năm 2009 Luật THADS là văn bản pháp luật
có hiệu lực cao nhất điều chỉnh các hoạt động liên quan đến công tác THADS, đánh dấu sự hoàn thiện về mặt pháp luật điều chỉnh hoạt động THADS Để
Trang 29- Công văn số 2315/CV-BTP ngày 17 tháng 07 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ
Tư pháp về việc áp dụng các quy định pháp luật trong THADS;
Như đã phân tích trên, trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với tài sản thi hành là bất động sản chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật khác nhau như Bộ Luật Dân sự 2005; Bộ Luật Tố tụng dân sự 2004; Bộ Luật Tố tụng hình
sự 2003; Luật Đất đai 2003; Luật Nhà ở 2005; Luật Kinh doanh bất động sản, Công chứng, giao dịch bảo đảm…
Mặt khác, hiện nay chưa có văn bản pháp luật trong lĩnh vực THADS quy định chuyên biệt điều chỉnh đối với tài sản phải thi hành là bất động sản Tuy nhiên, trong các văn bản quy định chung về trình tự thủ tục THADS như Luật THADS, Nghị định 59/2009/NĐ-CP có những quy định riêng điều chỉnh hoạt động thi hành án mà tài sản thi hành là bất động sản như: Điều 69, Điều 74, Điều 75, Điều 88, Điều 89, Điều 93, Điều 94, Điều 95, Điều 106, Điều 110, Điều 111, Điều 112, Điều 113, Điều 115, Điều 116, Điều 117 Luật THADS và Điều 10 Nghị định số 59/NĐ-CP…
Như vậy, quy trình, thủ tục THADS nói chung, trong đó có việc THA đối với tài sản là bất động sản được quy định tương đối rõ ràng, cụ thể, giải quyết được một số vướng mắc, bất cập của Pháp lệnh THADS 2004 Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật thi hành án dân sự, trong đó có việc THA đối với tài sản là bất động sản đã xuất hiện một số vướng mắc, khó khăn, việc chồng chéo, xung đột giữa văn bản pháp luật về THADS với các văn bản pháp luật chuyên ngành khác, việc hiểu và áp dụng pháp luật ở các cơ quan thi hành
án dân sự có sự khác nhau… Do đó, việc hoàn thiện thống nhất, đảm bảo tính hệ
Trang 30thống của văn bản quy phạm pháp luật, phù hợp với chiến lược cải cách tư pháp nói chung, cải cách tư pháp trong lĩnh vực THADS nói riêng, đây cũng là yêu cầu của Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Trang 31CHƯƠNG II QUY TRÌNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY TRÌNH, THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRONG ĐÓ CÓ VIỆC THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ BẤT ĐỘNG SẢN, NHỮNG KHÓ KHĂN VƯỚNG MẮC
I THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY TRÌNH, THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN
SỰ, TRONG ĐÓ CÓ VIỆC THA ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ BẤT ĐỘNG SẢN, NHỮNG KHÓ KHĂN VƯỚNG MẮC
Thủ tục THADS là những quy định về trình tự tổ chức thi hành một bản
án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật Thủ tục THA đối với tài sản
là bất động sản mang những điểm chung của công tác THADS và có những đặc thù nhất định trong công tác tổ chức THA
Hiện nay, thủ tục THADS nói chung trong đó có THADS tài sản thi hành
là bất động sản có thể chia thành 02 loại: Vụ việc THA chủ động và vụ việc THA theo đơn yêu cầu.13 Quy trình thủ tục THADS đối với tài sản thi hành là bất động sản được thực hiện thông qua các bước cơ bản sau:
1 Giai đoạn tiếp nhận hồ sơ và thụ lý
Hiện nay, việc nhận hồ sơ yêu cầu THA được thực hiện theo Điều 31, Điều
32, Điều 33, Điều 34, Điều 35 Luật THADS 2008; Điều 2, Điều 4 Nghị định 58/2009/NĐ-CP Khi nhận hồ sơ, trong nghiệp vụ THA thì cán bộ thi hành cần xem xét các điều kiện nhận yêu cầu thi hành theo quy định pháp luật THA, bao gồm các nội dung sau:
- Thẩm quyền thi hành án: Hiện nay, Luật THADS quy định rất cụ thể
về thẩm quyền THA giữa các cơ quan THADS với nhau, với cơ quan THA cấp quân khu tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 35 Luật THADS Đây là căn cứ quan trọng để xác định có tiếp nhận hay không tiếp nhận đơn yêu cầu THA khi
có yêu cầu THA
- Hiệu lực của bản án, quyết định: Cơ quan THADS chỉ ra quyết định
THA đối với bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật Vì vậy, khi tiếp
13 Trong phạm vi nghiên cứu của Đề án, Đề án tập trung nghiên cứu quy trình, thủ tục THA khi có yêu cầu khi hành án
Trang 32nhận đơn yêu cầu THA, việc kiểm tra yếu tố này hết sức quan trọng Để kiểm tra tính hiệu lực của bản án, quyết định dân sự Điều 2, Luật THADS xác định tính hiệu lực của bản án quyết định dân sự Tuy nhiên, để xác định chính xác tính hiệu lực bản án, quyết định đó cán bộ nhận hồ sơ cần phải căn cứ vào các văn bản QPPL khác như Luật Tố tụng dân sự 2004, Luật tố tụng hình sự 2003, Luật cạnh tranh 200414
- Thời hiệu yêu cầu thi hành án: Cũng như các vụ việc dân sự khác,
trong lĩnh vực THADS cũng quy định về thời hiệu yêu cầu THA của đương sự Đây cũng là một trong các điều kiện cơ bản để cơ quan THADS ra quyết định THA Để quy định về vấn đề này, Điều 30 Luật THADS quy định thời hạn thông thường yêu cầu THADS là 5 năm, kể từ ngày bản án quyết định có hiệu lực pháp luật Bên cạnh đó thì Luật quy định THA cũng quy định một số trường hợp được xem là bất khả kháng15 Để tính chính xác thời hiệu yêu cầu THA thì cán bộ THA còn phải căn cứ các quy định Điều 152, Điều 153 Bộ luật dân sự
2005 trong việc xác định thời hạn
- Điều kiện về quyền yêu cầu thi hành án: Đối với điều kiện này thì chủ
yếu liên quan đến tư cách chủ thể của đương sự khi yêu cầu THA và hồ sơ yêu cầu THA Theo khi tiếp nhận hồ sơ cán bộ tiếp nhận căn cứ Điều 7, Điều 31, khoản 1 Điều 33 Luật THADS để kiểm tra Đối chiếu các thông tin giữa người yêu cầu THA với đương sự trong bản án, quyết định, về tài liệu bắt buộc để cơ quan thi hành án có căn cứ thụ lý yêu cầu THA
Trên đây là những tiêu chí để cơ quan THA tiếp nhận hồ sơ để cơ quan THA đi tiếp trong các bước sau Đây là giai đoạn bắt buộc phải làm đối với cơ quan THADS dù đối tượng là bản án có tài sản thi hành là bất động sản hay động sản, nghĩa vụ khác thì đều phải thông qua giai đoạn này Tuy nhiên, thực tiễn công tác THADS, trong đó có yêu cầu thi hành án đối với tài sản là bất động sản còn một số vấn đề vướng mắc trong giai đoạn này cần có giải pháp, hướng dẫn kịp thời
14 Phụ lục Quy trình thi hành án dân sự đối với tài sản là bất động sản
15 Điều 2, Nghị định 58/2009/NĐ-CP hướng dẫn cụ thể về các trường hợp bất khả kháng
Trang 33Thứ nhất, về đơn yêu cầu thi hành án: Theo quy định tại điểm b, khoản
1, Điều 31, Luật THADS quy định về nội dung đơn yêu cầu THA phải có thông
tin về “tài sản hoặc điều kiện THA của người phải THA” Trên thực tế việc
hiểu và áp dụng quy định này tại các cơ quan THA trên địa bàn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trong việc cung cấp thông tin về tài sản16 của người phải THA có sự khác nhau, có nơi thì trong đơn yêu cầu thi hành án cung cấp thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án cơ quan THA yêu cầu phải có xác nhận của địa phương thì mới nhận, có nơi thì chỉ cần đương sự tự khai là được
Mặt khác, khoản 2, khoản 3 Điều 4 Nghị định 58/2009/NĐ-CP hướng dẫn
Điều 31, Luật THADS, quy định: “Trường hợp đơn yêu cầu THA không có đầy
đủ các nội dung theo quy định hoặc không nêu rõ thông tin về điều kiện THA của người phải THA nhưng không yêu cầu xác minh thì cơ quan THADS thông báo để đương sự bổ sung nội dung đơn yêu cầu THA trước khi ra quyết định THA; Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, nếu có căn cứ từ chối nhận đơn yêu cầu THA, cơ quan THADS phải gửi văn bản thông báo cho đương sự biết về việc từ chối nhận đơn và nêu rõ lý do.” Tuy nhiên, thực tiễn
áp dụng quy định này phát sinh trường hợp khi cơ quan THA yêu cầu đương sự
bổ sung nội dung đơn nhưng đương sự không thực hiện, việc xử lý tình huống này tại các cơ quan THA cũng có sự khác nhau, nơi thì trả lại đơn và nơi thì vẫn nhận đơn yêu cầu thi hành án Cơ quan nhận từ chối nhận đơn thì vận dụng quy định trên để trả đơn yêu cầu THA Tuy nhiên, cơ quan nhận đơn cho biết họ không thể trả lại đơn trong trường hợp này vì Điều 34 Luật THADS quy định các trường hợp từ chối nhận đơn không quy định trường hợp về đơn thiếu thông tin nhưng nếu nhận đơn thì cơ quan THA lại gặp vướng mắc về thông tin về tài sản, điều kiện THA trong khi đương sự không yêu cầu xác minh điều đó Do đó, trong thời gian tới để đảm bảo việc áp dung luật thống nhất cần có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này
Thứ hai, về thẩm quyền thụ lý: Tại điểm b, khoản 2, Điều 35 Luật
THADS quy định trường hợp bản án, quyết định thuộc thẩm quyền thi hành của
16 Đối với tài sản là bất động sản thì các thông tin về tài sản đi kèm các giấy tờ chứng minh tư cách sử dụng, sở hữu - Tài sản phải đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu
Trang 34Cơ quan THADS cấp huyện (Chi cục THADS) nhưng Cơ quan THADS cấp tỉnh (Cục THADS) lấy lên để thi hành khi thấy ‘‘cần thiết’’ Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện quy định trên theo phản ánh của một số Chi cục THADS trên địa bàn thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh còn xuất hiện trường hợp “dễ lấy lên – khó đẩy xuống” Hiện nay, chưa có hướng dẫn cụ thể những trường hợp nào được coi là cần thiết Tuy nhiên, thực tiễn THA trên địa bàn thành phố
Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, trường hợp Cục THADS lấy các việc THDS thuộc thẩm quyền của Chi cục THADS bao gồm một số trường hợp như: Người phải THA là chính quyền địa phương cùng cấp với Chi cục THADS hoặc là thân nhân của những người đứng đầu chính quyền địa phương, Đảng ủy có nhiều khiếu nại về các mối quan hệ giữa đương sự với cơ quan THA hoặc liên quan đến nhiều quận/huyện trên địa bàn Đây cũng được xem là những trường hợp cần thiết nhưng cần có sự hướng dẫn thống nhất, cụ thể về vấn đề này
Thứ ba, về vấn đề thời hiệu yêu cầu thi hành án: Hiện nay, Luật
THADS quy định về thời hiệu yêu cầu THA là 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được THA, người phải THA có quyền yêu cầu
cơ quan THADS có thẩm quyền ra quyết định THA Để giải thích những trường hợp bất khả kháng, tại Điều 2 Nghị định 58/2009/NĐ-CP quy định một số trường hợp được coi là trở ngại khách quan Tuy nhiên, theo quy định trên vấn
đề thời hiệu được coi là bất khả kháng theo hướng dẫn của Nghị định 58/2009/NĐ-CP còn mang nặng cảm tính của người có thẩm quyền mà trực tiếp
là thủ trưởng cơ quan THADS Thực tiễn THADS đối với trường hợp bất khả kháng “không nhận được bản án, quyết định” một số đương sự đưa ra nhiều lý
do để được hưởng điều kiện này mà quyền quyết định do thủ trưởng cơ quan THADS quyết định Do đó, đối với trường hợp không nhận được bản án quyết định mà không phải do “lỗi” của đương sự, cần có hướng dẫn cụ thể hơn, bởi trong các quy định của tố tụng việc tống đạt bản án, quyết định đến với đương
sự đặt ra các trường hợp buộc đương sự phải biết Trong khi đó một số trường hợp tại khoản 2, khoản 3 Điều 16117 Bộ Luật dân sự 2005 quy định về thời gian
17 Khoản 2, khoản 3, Điều 161 Bộ Luật Dân sự 2005: “Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực
Trang 352 Giai đoạn xác minh điều kiện thi hành án
Việc xác minh ở đây được hiểu là xác minh điều kiện THA, khả năng THA của người phải THA để thực hiện nghĩa vụ theo quyết định, bản án có hiệu lực của tòa án
Khác với Pháp lệnh THADS năm 2004, Luật THADS chia ra làm 2 trường hợp khi tiến hành xác minh điều kiện THA (Điều 44 Luật THADS và Điều 6 Nghị định 58/2009/NĐ-CP):
- Xác minh trong trường hợp chủ động ra quyết định THA
- Xác minh trong trường hợp THA theo đơn yêu cầu
Theo quy định khoản 2, Điều 44 Luật THA, trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định hoặc kể từ ngày nhận được yêu cầu xác minh của người được THA, chấp hành viên phải tiến hành xác minh điều kiện THA của người phải THA Tuy nhiên, cơ quan THA chỉ thực hiện việc thay đương sự xác minh khi đương sự tự xác minh nhưng không có kết quả
Đối với việc xác minh điều kiện THADS, không phải vụ việc nào ngay từ đầu quyết định THA đã xác minh ngay đây là vụ việc THA có liên quan đến tài
sản là bất động sản (Ví dụ: Bản án, quyết định tài sản phải thi hành là động sản
hoặc nghĩa vụ không có điều kiện thi hành nhưng có bất động sản để đảm bảo thi hành) Khi đã xác định tài sản phải thi hành là bất động sản thì cơ quan THA phải chú ý đến một số vấn đề đặc thù của loại tài sản bất động sản như xác định chủ sở hữu, sử dụng hợp pháp, xác định ranh giới,…và một điều quan trọng hành vi dân sự; Chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện được trong trường hợp người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chết.”
Trang 36khác đối với các bản án, quyết định tài sản phải thi hành là động sản nhưng không có điều kiện thi hành song lại có bất động sản để đảm bảo thi hành đó là
“việc xử lý tài sản là bất động sản chỉ khi không còn tài sản khác để đảm bảo thi hành án” và cần cân nhắc đến “giá trị tài sản phải thi hành và giá trị hiện tại của
tài sản đó” ví dụ: bản án buộc một người phải trả 100 triệu nhưng người này
hiện tại chỉ có tài sản là quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất gắn liền với nhà khoảng 2 tỷ
Việc xác minh tài sản là bất động sản của người phải THA rất khó khăn
nếu không có sự phối hợp của các cơ quan chức năng liên quan: ví dụ: Cơ quan
tài nguyên và môi trường, Xây dựng, Quy hoạch, Kiến trúc, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất…
Hiện nay, Luật THA và Nghị định 58/2009/NĐ-CP bước đầu quy định về thủ tục và nội dung xác minh đối với trường hợp tài sản thi hành là bất động sản như: Lập biên bản xác minh (khoản 2, Điều 44, Luật THA), hiện trạng tài sản, những cá nhân, tổ chức có thể lấy thông tin (khoản 4, Điều 6, Nghị định 58)… Tuy nhiên, trên thực tế xác minh điều kiện THADS nói chung đối với bất động sản nói riêng, cán bộ xác minh gặp một số vướng mắc khó khăn cả về thực tiễn nghiệp vụ và pháp luật THA Trên thực tế xác minh chấp hành viên phải lên kế hoạch xác minh, thực tiễn xác minh chấp hành viên thường gặp một số khó khăn như xác định đối tượng xác minh, địa điểm xác minh, nội dung xác minh, thủ tục xác minh, Tuy nhiên, đối với việc xác minh đối với tài sản phải thi hành là bất động sản, trong quá trình xác minh gặp phải nhiều vấn đề vướng mắc, phức tạp: giấy tờ chứng minh tư cách chủ sở hữu, chủ sử dụng hợp pháp; tình trạng của tài sản đó (hiện có tham gia vào các giao dịch hay không, có tranh chấp hay không, có nằm trong quy hoạch không), tài sản đó thuộc loại hình sở hữu nào (riêng, chung theo phần, chung hợp nhất),…
+ Đối với trường hợp thi hành nghĩa vụ giao nhà phát sinh các vấn đề phức tạp trong việc xác định vị trí cụ thể của nhà, số phòng, diện tích sử dụng; địa hình, giao thông xung quanh, mốc giới; tình trạng nhà; nhà giao do ai đang
Trang 37Tại bản số 1017/HSPT ngày 14/11/2007 của TANDTC xét xử Bùi Quang Hưng và đồng bọn về tội đánh bạc và đưa hối lộ Phần quyết định có tuyên: Giữ đảm bảo THA của Bùi Tiến Dũng căn hộ theo lệnh kê biên số 16 ngày 12/6/2006 của cơ quan điều tra Bộ công an Kết quả xác minh của chấp hành viên cho thấy căn hộ đó Bùi Tiến Dũng mới ký hợp đồng mua bán căn hộ, theo hợp đồng phải đóng tiền làm 5 đợt, theo phiếu thu Bùi Tiến Dũng mới đóng 2 đợt còn phải đóng 3 đợt nữa, như vậy căn hộ chưa thuộc sở hữu của Dũng mà vẫn thuộc công ty, cơ quan THA chỉ yêu cầu công ty chuyển toàn bộ số tiền
mà Dũng nộp cho công ty về cơ quan THA để đảm bảo thi hành khoản tiền phạt
Nguồn: Tham luận thực tiễn THA đối đối với tài sản là bất động sản – Chấp hành viên: Phạm Quang Dũng – Cục THADS thành phố Hà Nội
quản lý, sử dụng; giấy tờ hiện ai đang nắm giữ; những ai đang sống trong nhà đó; trong nhà đó còn có những tài sản gì…
+ Đối với trường hợp thi hành nghĩa vụ giao quyền sử dụng đất: Vị trí, diện tích đất phải giao có đúng với bản án, quyết định không? xác định tài sản gắn liền với đất, có trước hay có sau khi có bản án, quyết định…
Như vậy, do đặc điểm của loại tài sản bất động sản đó là tài sản phải đăng
ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đo đó khi xác minh thì chấp hành viên thường căn cứ vào giấy chứng nhận do cơ quan có thẩm quyền cấp và bản án tòa án tuyên Tuy nhiên, thực tiễn xác minh liên quan đến tài sản này có một số vấn đề
về thời điểm xác lập quyền sở hữu và xác định phần tài sản của người phải thi hành trong khối tài sản chung
Vụ tranh chấp hợp đồng mua bán nhà của anh H và chị K, tòa yêu cầu anh H bàn giao nhà cho chị K Tuy nhiên khi tiến hành xác minh thì ngôi nhà này thuộc sở hữu nhà nước chưa hóa giá nhà Vấn đề đặt ra là nhà này chưa thuộc sở hữu của anh H Vậy hợp đồng trên là bán nhà hay bán quyền được thuê nhà biết rằng hiện nay chính phủ đã ban hành nghị định 61/CP ngày 05 tháng 07 năm
1994 về việc bán và kinh doanh nhà thuộc sở hữu của nhà nước (với giá rất
thấp)
Trang 38Hay trường hợp mua nhà trong thời kỳ hôn nhân đứng tên vợ hoặc chồng, theo quy định Luật Đất đai, Luật Nhà ở về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với vợ chồng thì phải ghi tên cả vợ và chồng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng Đất, quyền sở hữu nhà; Luật hôn nhân và gia đình và Bộ Luật tố tụng dân sự quy định về việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chỉ khi
họ có yêu cầu Do đó, trường hợp 1 bên phải thi hành án nhưng lại không đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà thì việc xác minh nguồn gốc tài sản là tài sản chung là rất khó đối với cơ quan THA Thực tiễn thi hành án còn gặp trường hợp khi chia tài sản chung để đảm bảo thi hành
án, tuy nhiên, trong quá trình giải quyết yêu cầu chia tài sản chung đó thì 1 bên chết, dẫn đến không còn nguyên đơn hoặc bị đơn trong việc chia tài sản chung
đó Do đó, lại phải chờ giai đoạn chia di sản thừa kế, gây khó khăn cho công tác
thi hành án
18 Nguồn: Tổng cục THADS – báo cáo công tác THADS 2008
Tài sản được kê biên không thuộc sở hữu của người phải THA
Bản án 1475/HSPT ngày 8/10/2002 buộc bà Phạm Thanh Vân trả cho ông
Lê Hữu Thái cùng một số bị hại khác tổng cộng hơn 2,4 tỷ đồng, bản án có nêu :
“ kê biên ngôi nhà ngõ 16A Trần Văn Cao, Hà Nội thuộc quyền sở hữu của vợ
chồng Phạm Thị Vân để đảm bảo THA” Tuy nhiên, khi xác minh ngôi nhà 16A
Trần Văn Cao, cơ quan THA cho biết ngôi nhà đứng tên cụ Lê Đình Văn, bố ông Bội ( đã chết) Trong quá trình xác minh, kê biên tài sản, các anh chị em ruột ông Bội đã tự chia thừa kế ngôi nhà đó ( không có xác nhận của cơ quan địa phương) Phần của ông Bội và 2 con được chia là 60m2, nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà Tuy nhiên, cơ quan THA vẫn tiến hành kê biên để đảm bảo THA Ông Bội không đồng ý với quyết định với lý
do đó là tài sản thừa kế của riêng ông Cùng thời điểm đó, đơn yêu cầu THA của người được THA cũng được gửi đi nhiều Hiện Bộ Tư pháp đang yêu cầu cơ quan THADS xác định lại nguồn gốc của diện tích đất 60m2 Theo ý kiến của các chấp hành viên, bản án không có điều kiện thi hành.18
Trang 39Pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án quy định chung trong hoạt động xác minh điều kiện THADS, trong đó có việc xác minh đối với tài sản là bất động sản, do đó, thực tiễn những vướng mắc về pháp luật THADS trong giai đoạn xác minh nói chung, thi hành án đối với tài sản là bất động sản nói riêng gặp một số vướng mắc, khó khăn sau:
Thứ nhất, quyền yêu cầu xác minh của đương sự Theo quy định tại
khoản 1, Điều 44 Luật THADS đương sự có quyền lựa chọn giữa việc tự xác minh hoặc yêu cầu cơ quan THA xác minh Tuy nhiên, đương sự chỉ có quyền yêu cầu cơ quan THA xác minh thì phải chứng minh là họ đã tự mình xác minh nhưng không có kết quả Để chứng minh việc đã tự xác minh nhưng không có kết quả, theo quy định Điều 6, Nghị định 58/2009/NĐ-CP hướng dẫn: “Đương
sự trực tiếp hoặc yêu cầu bằng văn bản nhưng đã quá thời hạn 01 tháng, kể từ
ngày yêu cầu nhưng không nhận được văn bản trả lời của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà không có lý do chính đáng”; Khoản 1 Điều 44 Luật THADS quy định
“Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân đó từ chối cung cấp thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do” Tuy nhiên, thực tiễn THA cho thấy khi đương sự đến
yêu cầu trực tiếp hay gián tiếp thì các cơ quan quản lý nhà nước thường không
có văn bản trả lời và việc chứng minh là đương sự đã đến cơ quan đó yêu cầu trực tiếp quá thời hạn 1 tháng và không có văn bản trả lời của cơ quan đó là rất khó Hơn nữa, hiểu như thế nào là lý do chính đáng thì đương sự lại phải chứng minh với cơ quan tiếp nhận hồ sơ và đương sự sẽ phải chứng minh như thế nào? Quy định này gây cản trở quyền yêu cầu xác minh của THA, bởi khi họ yêu cầu xác minh thì họ đã chấp nhận mất phí yêu cầu THA Điều này trái với nguyên tắc “Bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực phải được đảm bảo thi hành trên thực tế” Do đó, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của người được THA, Luật THADS cần quy định theo hướng tạo điều kiện cho đương sự trong việc lựa chọn trong quá trình xác minh điều kiện THA
Thứ hai, về chi phí thực hiện việc xác minh Luật THADS dành quyền
chủ động xác minh điều kiện THA của người phải THA Tuy nhiên, thực tiễn phát sinh trường hợp cơ quan THADS xác minh lại thấy không đúng với việc tự
Trang 40xác minh của đương sự, hiện nay pháp luật chưa quy định trường hợp này thì chi phí xác minh đó ai sẽ phải chịu? Thực tiễn THADS còn gặp trường hợp, để được
cơ quan THA thụ lý và không phải mất phí yêu cầu xác minh, đương sự “nại ra” các tài sản của người phải thi hành, có trường hợp họ khai báo tài sản đó ở nơi rất xa để được cơ quan THA nhận hồ sơ Do đó, khi nhận hồ sơ cơ quan THADS lại phải đi xác minh lại một lần nữa, điều này gây khó khăn và tốn kém chi phí cho phía cơ quan THA Do vậy, pháp luật cần quy định đối với trường hợp đương sự tự xác minh nhưng không đúng thì đương sự phải chịu chi phí xác minh lại của cơ quan THA như đối với trường hợp yêu cầu cơ quan THA thực hiện việc xác minh
Mặt khác, theo quy định pháp Luật THADS trường hợp đương sự yêu cầu
cơ quan THA thì phải chi trả phí xác minh Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn về vấn đề này, gây khó khăn trong quá trình THA, dẫn đến mỗi địa phương áp dụng 1 cách khác nhau Do đó, trong thời gian tới, Chính phủ cần có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này để đảm bảo thống nhất trong quá trình THA
Thứ ba, về nhiệm vụ quyền hạn của chấp hành viên trong hoạt động
xác minh Luật THADS 2008 đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành
viên tại Điều 20, Điều 21 Luật THADS: “Xác minh tài sản, điều kiện thi hành
án của người phải thi hành án; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan xử lý vật chứng, tài sản và những việc khác liên quan đến thi hành án.” Tuy nhiên, trên thực tế xác minh đối với tài sản là
bất động sản khi yêu cầu các cơ quan quản lý nhà nước như cơ quan tài nguyên môi trường, cơ quan quản lý nhà, cơ quan quy hoạch đô thị,… cung cấp tài liệu, trích lục bản đồ, hồ sơ địa chính gặp không ít khó khăn và luôn ở trong tình trạng không đúng thời hạn, có trường hợp yêu cầu các cơ quan trên cung cấp nhưng không nhận được sự hợp tác… đều này ảnh hưởng đến hoạt động thi hành án