MỤC TIÊU CHUNG CỦA ĐỀ TÀI Trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về nhà nước NN và pháp luật PL, đặc biệt là về các yêu cầu
Trang 1VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
ĐẢM BẢO YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT
- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CNĐT: NGUYỄN VĂN ĐỘNG
8226
HÀ NỘI – 2010
Trang 2BÁO CÁO PHÚC TRÌNH VỀ ĐỀ TÀI
1 MỞ ĐẦU
1.1 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1 MỤC TIÊU CHUNG CỦA ĐỀ TÀI
Trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm
của Đảng cộng sản Việt Nam về nhà nước (NN) và pháp luật (PL), đặc biệt là
về các yêu cầu phát triển bền vững (PTBV) đối với chiến lược, chính sách phát triển kinh tế (KT), văn hoá (VH), xã hội (XH), an ninh - quốc phòng (AN-QP), đối ngoại (ĐN); các quan điểm của NN về PTBV được thể hiện chủ yếu trong Định hướng Chiến lược PTBV ở Việt Nam (Chương trình nghị sự
21, được ban hành theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (CP) số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17 tháng 8 năm 2004), các thành viên Đề tài sẽ phân tích cơ sở lý luận của việc đảm bảo yêu cầu PTBV trong hoạt động xây dựng pháp luật (HĐXDPL); phân tích, làm rõ việc vận dụng lý luận vào thực tiễn đảm bảo yêu cầu PTBV trong xây dựng pháp luật (XDPL) về KT, tài chính - ngân hàng (TC-NH), đất đai (ĐĐ), môi trường (MT), lao động - việc làm (LĐ-VL), an sinh xã hội (ASXH), chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân (CS&BVSKND), bình đẳng giới (BĐG), VH, giáo dục (GD), khoa học - công nghệ (KH-CN), AN-QP, ĐN và đánh giá sâu sắc, khách quan, đầy đủ, toàn diện thực trạng của việc vận dụng đó; xây dựng (XD) các giải pháp đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL ở nước ta trong điều kiện đổi mới, PTBV và hội nhập quốc tế (HNQT)
1.1.2 MỤC TIÊU CỤ THỂ CỦA ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận của việc đảm bảo yêu cầu PTBV trong
HĐXDPL ở nước ta trong điều kiện đổi mới, PTBV và HNQT Cụ thể là tìm hiểu quan điểm PTBV của Liên hiệp quốc (LHQ), các tổ chức QT và của các nhà khoa học (KH) trên thế giới; các quan điểm cơ bản của Đảng, NN và của
Trang 3các nhà KH Việt Nam về PTBV và việc đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL; nghiên cứu làm rõ sự cần thiết khách quan của việc đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL, lý luận về HĐXDPL của NN ta trong điều kiện đảm bảo yêu cầu PTBV, như khái niệm, đặc điểm, mục tiêu, nguyên tắc, nội dung, quy trình, tiêu chuẩn, điều kiện đảm bảo,…
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề vận dụng lý luận vào thực tiễn đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL về các lĩnh vực KT, TC-NG, ĐĐ, MT, LĐ-
VL, ASXH, CS&BVSKND, VH, GD, KH-CN, AN-QP, ĐN nhằm thấy được những đặc điểm chung và đặc điểm riêng về mục đích, yêu cầu, nguyên tắc, nội dung, hình thức, trình tự, thủ tục lồng ghép nội dung PTBV vào các giai đoạn của quá trình HĐXDPL về những lĩnh vực ấy; phân tích, đánh giá thực trạng HĐXDPL trong từng lĩnh vực đó xét từ góc độ đảm bảo yêu cầu PTBV trên các mặt: mục tiêu, nội dung, quy trình, thủ tục, nhằm nêu ra những ưu điểm, nhược điểm và thấy rõ được nguyên nhân khách quan, chủ quan của ưu điểm, nhược điểm đó
- Luận giải để XD nên một hệ thống các giải pháp cơ bản có tính khả thi
về đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL ở Việt Nam trong thời gian tới theo hướng đổi mới tư duy pháp lý về HĐXDPL trong điều kiện đảm bảo yêu cầu PTBV, hoàn thiện PL về đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL, nâng cao kỹ thuật XDPL phục vụ việc đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL, tăng cường công tác kiểm tra và giám sát việc đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL, xử lý vi phạm PL về đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL
1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUỘC LĨNH VỰC CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƯỚC
Thập kỷ 70, thuật ngữ "xã hội bền vững" xuất hiện trong các công trình nghiên cứu của các học giả phương Tây như "Kinh tế học nhà nước mạnh" của Herman Daily (1973), "Những con đường sử dụng năng lượng mềm: về một nền hoà bình lâu dài" của Amory Lovins (1977) Khái niệm XDPL tiếp tục được đề cập và bổ sung với những đóng góp quan trọng trong các tác
Trang 4phẩm của Maurice Strong (1972), và Ignacy Sachs (1975) Đặc biệt, khái niệm này được đề cập toàn diện nhất trong công trình của Laster Brown "Xây dựng một xã hội bền vững" (1981) Đầu thập niên 80, thuật ngữ “phát triển bền vững” lần đầu tiên được sử dụng trong chiến lược bảo tồn thế giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên (TN) và tài nguyên thiên nhiên (TNTN) QT, Quỹ động vật hoang dã thế giới và Chương trình MT do Liên hiệp quốc đề xuất, cùng với sự trợ giúp của UNESCO và FAO Tuy nhiên, khái niệm này chính thức phổ biến rộng rãi trên thế giới từ sau Báo cáo Brundrland (1987)
Kể từ sau Báo cáo Brundtland, khái niệm bền vững trở thành khái niệm chìa khoá giúp các quốc gia XD quan điểm, định hướng, giải pháp tháo gỡ bế tắc trong các vấn đề phát triển (PT) Đây cũng được xem là giai đoạn mở đường cho Hội thảo về PT và MT của Liên hiệp quốc và Diễn đàn toàn cầu hoá được
tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazin) (1992) và Hội nghị thượng đỉnh thế giới về PTBV tại Johannesburg (Nam Phi) năm 2002 Theo Brundtland, "PTBV là sự
PT thoả mãn những nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Đó là quá trình PTKT dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự
đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật" Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm và nội hàm của nó không chỉ dừng lại ở nhân tố sinh thái mà còn đi vào các nhân tố XH, con người, nó hàm chứa sự bình đẳng (BĐ) giữa những nước giàu và nghèo, và giữa các thế hệ Thậm chí nó còn bao hàm sự cần thiết phải giải trừ quân bị, coi đây là điều kiện tiên quyết nhằm giải phóng nguồn TC cần thiết để áp dụng khái niệm PTBV Như vậy, khái niệm PTBV được đề cập trong Báo cáo Brundtland với một nội hàm rộng, nó không chỉ là sự nỗ lực nhằm hoà giải KT và MT, hay thậm chí PT kinh tế - xã hội (KT-XH) và bảo vệ môi trường (BVMT) Nội dung khái niệm này còn bao hàm những khía cạnh chính trị - XH, đặc biệt là bình đẳng xã hội (BĐXH) Với ý nghĩa này, nó được xem là "tiếng chuông" hay nói cách khác
là "tấm biển hiệu” cảnh báo hành vi của loài người trong thế giới đương đại
Kể từ khi khái niệm này xuất hiện, nó đã gây được sự chú ý và thu hút sự quan tâm của toàn nhân loại (các tổ chức QT, tổ chức phi CP, đảng phái chính trị, các nhà tư tưởng, các phong trào XH, và đặc biệt là giới KH với việc làm
Trang 5dấy lên các tranh luận về khái niệm này mà đến nay vẫn chưa ngã ngũ) Một
số quan điểm cho rằng khái niệm PTBV mới chỉ dừng lại ở cấp độ lý thuyết
mơ hồ và phức tạp Theo chúng tôi, khái niệm này mặc dù mới chỉ dừng lại ở cấp độ lý luận trừu tượng nhưng nó đã có những đóng góp nhất định Để hiểu
rõ khái niệm và khả năng áp dụng nó ở từng phạm vi hay cấp độ, cần phải định nghĩa và thao tác hoá khái niệm trong khuôn khổ mỗi phạm vi hay cấp
độ, khả năng áp dụng và tính phù hợp của khái niệm này chỉ có thể đo lường thông qua kiểm chứng thực tế
Tóm lại, PTBV có nội hàm rất rộng, mỗi thành tố trong đó đều có một ý nghĩa riêng Một mẫu hình PTBV là mỗi địa phương, vùng, quốc gia (QG)…không nên thiên về thành tố này và xem nhẹ thành tố kia Vấn đề là áp dụng nó như thế nào ở các cấp độ trên và trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống XH Để chuyển hoá khái niệm PTBV từ cấp độ lý thuyết áp dụng vào thực tiễn, khái niệm này cần được làm sáng tỏ sau đó áp đụng trực tiếp đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống XH Dưới đây là một số công trình nghiên cứu về PTBV:
- PTBV trong thế giới năng động Thay đổi thể chế, tăng trưởng và chất lượng cuộc sống Sách tham khảo Người dịch: Vũ Cương, Nguyễn Khánh Cầm Châu,
Hoàng Thanh Dương, Hoàng Thuý Nguyệt Người hiệu đính: Vũ Cương Nhà xuất bản (Nxb) Chính trị quốc gia (CTQG), Hà Nội (HN), 2003, 353 trang (tr.) Sách là Báo cáo PT thế giới năm 2003 của Ngân hàng thế giới, tập trung bàn về
sự tăng trưởng thu nhập và năng suất cần thiết ở các nước đang PT để xoá đói giảm nghèo và phát triển một cách bền vững cả về mặt MT và XH, nâng cao chất lượng cuộc sống Ngoài phần tổng quan, lời nói đầu, sách còn có 9 chương:
1 Thành tựu và thách thức, 2 Quản lý (QL)một cơ cấu tài sản đa dạng hơn, 3 Các thể chế cho sự phát triển, 4 Cải thiện sinh kế tại các vùng đất khó khăn, 5 Chuyển đổi các thể chế về đất nông nghiệp, 6 Tranh thủ những điều tốt nhất từ các thành phố, 7 Tăng cường sự phối hợp QG, 8 Những vấn đề toàn cầu và các mối quan ngại địa phương, 9 Con đường đi tới một tương lai bền vững Trong sách này, phần liên quan trực tiếp đến Đề tài là Chương 3 Khái niệm "thể chế" ở đây được hiểu là "những quy tắc, tổ chức và các chuẩn mực XH tạo điều kiện cho sự phối hợp hành động của con người" (tr 76) Tư tưởng xuyên suốt trong
Trang 6Chương này là các thể chế phải bảo vệ được người dân trước những thách thức
là tăng trưởng KT nhưng không quan tâm đến bảo đảm tiến bộ xã hội (TBXH), CBXH và cải thiện, nâng cao chất lượng và BVMT; các thể chế vừa phải ổn định, vừa có tính năng động, có khả năng thích ứng với những thay đổi trong vòng 50 năm tới như đô thị hoá, đổi mới công nghệ, tăng trưởng KT, thay đổi về giá trị XH và mức độ khan hiếm tài nguyên môi trường (TNMT) và tự nhiên, các mối liên kết chặt chẽ hơn giữa các QG; cần có thể chế mới để thích ứng với những thay đổi đó Cuốn sách nói chung, Chương 9 nói riêng, mặc dù không trực tiếp đề cập những vấn đề tổ chức - kỹ thuật của việc lồng ghép nội dung PTBV trong quá trình XDPL, nhưng đã đưa ra những định hướng tư tưởng quý báu cho việc XDPL có chứa đựng nội dung PTBV ở các QG trên thế giới
- Trong tác phẩm "Living with Environmenttall Change", Publishing house
Taylor & Francis, ISBN: 978041527224, hai tác giả là P Mick Kelly và Nguyen Huu Ninh Neil Adger cho rằng, Việt Nam và các nước quanh Việt Nam ở Đông Nam Á đang gặp phải những thách thức đa dạng do quá trình phát triển nóng đã tác động đến hệ thống KT, XH, MT và nguồn lực Bằng cách tiếp cận nghiên cứu đa ngành, các tác giả cuốn sách đã phân tích sâu tình hình Việt Nam, xác định các yếu tố định hình những ảnh hưởng và sự bàng quang của quá trình hoạch định chính sách đối với sự thay đổi MT và cân nhắc các giải pháp cho sự PTBV Còn cụ thể những giải pháp nào và đặc biệt
là các giải pháp pháp lý thì chưa được đề cập trong cuốn sách
- Về phương diện luật học, trước đây, nghiên cứu PTBV chủ yếu tập trung vào việc giải quyết các vấn đề pháp lý về MT ở các nước PT Trong những năm gần đây, nghiên cứu PTBV đã hướng tới việc lồng ghép các vấn đề pháp luật quốc tế (PLQT) liên quan đến KT, XH và MT với mục tiêu xoá đói, giảm nghèo ở các QG đang PT Cũng cần nhấn mạnh rằng, về phương diện luật học, vấn đề hiện còn đang tranh luận là có nên coi PTBV là một nguyên tắc của PLQT và pháp luật quốc gia (PLQG) hay nó chỉ nên được xem là một khái niệm mang tính định hướng cho việc XD, hoạch định chính sách và PL Các công trình nghiên cứu về PTBV ở phương diện luật học của các học giả trên thế giới được phân chia thành hai nhóm cơ bản: a) Nhóm thứ nhất là các công trình nghiên cứu liên quan đến những vấn đề chung về PTBV với tư
Trang 7cách là một yêu cầu đặt ra cho PLQT và PLQG trên mọi lĩnh vực có liên quan Những công trình nghiên cứu này đã cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức cơ bản về PTBV đặt trong mối quan hệ với việc XD và thực hiện PL trên bình diện QT và QG Các công trình tiêu biểu trong nhóm này
phải kể đến PL về PTBV: nguyên tắc, thực tiễn và triển vọng của Marie-Claire
Cordonier Segger và Ashfaq Khalfan, Nxb Đại học Oxford tại NewYork,
2004, 464 tr.; PLQT và chính sách (CS) PTBV [International law and policy
of sustainable development] của Duncan French, Nxb Đại học Manchester,
2005, 218 trang; PLQT về PTBV: nguyên tắc và thực tiễn áp dụng
[International law and sustainable development: principles and practice] của Nico Schrijver và Friedl Weiss, Nxb Martinus Nijhoff, 2004, 714 tr Trong
số các công trình nghiên cứu về những vấn đề chung về PL và PTBV, cuốn
sách PL về PTBV: nguyên tắc, thực tiễn và triển vọng của Segger và Khalfan
(2004) được giới học thuật đánh giá cao Sách này đã phân tích một cách khá chi tiết khái niệm PTBV và các kết quả của Hội nghị thượng đỉnh thế giới về PTBV tại Johannesburg Công trình nghiên cứu này cũng đã nhấn mạnh đến
ba nền tảng cơ bản của PTBV ở mọi cấp độ và nỗ lực quyết tâm chung để xóa đói, giảm nghèo, thay đổi mô hình tiêu dùng và sản xuất (SX) và QL, bảo
vệ nguồn TNTN Đặc biệt, sách đã tập trung vào việc phân tích vấn đề PL và PTBV trên bình diện QT ở sáu lĩnh vực được coi là phù hợp với yêu cầu PTBV, đó là: PL về thương mại (TM), đầu tư và cạnh tranh, PL về nguồn TNTN, PL về quyền con người và chống đói nghèo, PL về bảo vệ sức khỏe (BVSK), PL về đa dạng sinh học, và PL về biến đổi khí hậu; b) Nhóm công trình nghiên cứu thứ hai đi sâu vào phân tích yêu cầu PTBV trong việc XD và thực hiện PL ở từng lĩnh vực chuyên biệt cụ thể trên bình diện QT hoặc ở từng QG, đưa ra những kiến giải hướng tới việc đảm bảo thực hiện yêu cầu PTBV ở từng lĩnh vực cụ thể này Trong số các công trình nghiên cứu đó phải
kể đến PL về sử dụng đất cho mục tiêu PTBV [Land use law for sustainable
development] do Nathalie J Chalifour, Patricia Kameri-Mbote, Lin Heng Lye
và John R Nolon biên tập, Nxb Đại học Cambridge, 2007, 652 tr.; PTBV trong luật thương mại thế giới [Sustainable development in world trade law]
do Markus W Gehring và Marie-Claire Cordonier Segger biên tập, Nxb
Kluwer International, 2005, 735 tr.; PL bảo vệ rừng và vấn đề PTBV: sáng tỏ
Trang 8những thách thức hiện tại từ hoạt động cải cách PL [Forest law and
sustainable development: addressing comtemporary challenges through legal reform] của Lawrence C Christy và các cộng sự, Nxb.Ngân hàng thế giới,
2007, 256 tr.; PL về năng lượng và vấn đề PTBV [Energy law and sustainable
development] do Andrian J Bradbrook và Richard Ottinger biên tập do IUCN (Hiệp hội QT về bảo tồn thiên nhiên và nguồn TNTN) phát hành năm 2003
Cần nhấn mạnh rằng, mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về vấn đề PL và PTBV, nhưng cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam Qua tình hình nghiên cứu của
các nhà KH ở nước ngoài có thể thấy được rằng họ đều nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của PTBV đối với thế giới nói chung, mỗi QG, mỗi dân tộc nói riêng Tuy nhiên, do xuất phát từ nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, cho nên các nhà
KH đều rất ít, nếu như không muốn nói là không, trực tiếp đề cập đến các vấn đề
về những phương pháp (cách thức) thể chế hoá những tư tưởng về PTBV thành
PL về từng lĩnh vực quan hệ XH (QHXH) cơ bản được PL điều chỉnh Nói cách
khác, việc nghiên cứu của họ về PTBV chưa thật hay rất ít gắn với HĐXDPL của NN để tạo ra một hệ thống pháp luật (HTPL) bảo đảm PTBV cho mỗi QG, mỗi dân tộc
1.2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC
1.2.2.1 Một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về môi trường
Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 Về mặt học thuật, thuật ngữ này được giới
KH nước ta tiếp thu nhanh Đã có hàng loạt công trình nghiên cứu có liên quan đến PTBV mà trước hết là những công trình của các nhà KH về MT
Đầu tiên là "Tiến tới môi trường bền vững” (1995) của Trung tâm tài nguyên
và môi trường (TN&MT), Đại học Tổng hợp HN Công trình này đã tiếp thu
và thao tác hoá khái niệm PTBV theo báo cáo Brundtland như một tiến trình
đòi hỏi đồng thời trên bốn lĩnh vực: bền vững về mặt KT, bền vững về mặt nhân văn, bền vững về mặt MT, bền vững về mặt kỹ thuật Công trình thứ hai
là "Nghiên cứu XD tiêu chí phát PTBV cấp QG ở Việt Nam - giai đoạn I”
(2003) do Viện MT và PTBV, Hội Liên hiệp các Hội KH - kỹ thuật Việt Nam
Trang 9thực hiện Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí PTBV của Brundtland và kinh nghiệm các nước Trung Quốc, Anh, Mỹ, các tác giả đã đưa ra các tiêu chí cụ thể về PTBV đối với một QG là bền vững KT, bền vững XH và bền vững
MT, đồng thời cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêu chí PTBV cho
Việt Nam Tiếp đến là "Quản lý MT(QLMT) cho sự PTBV" (2000) của Lưu
Đức Hải và cộng sự, trong đó đã trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết và hành động QLMT cho PTBV Công trình này đã xác định PTBV qua các tiêu chí: bền vững KT, bền vững MT, bền vững VH; đã tổng quan nhiều mô hình PTBV như mô hình 3 vòng tròn KT, XH, MT giao nhau của Jacobs và Sadler (1990), mô hình tương tác đa lĩnh vực KT, chính trị, hành chính, công nghệ,
QT, SX, XH của WCED (1987), mô hình liên hệ thống KT, XH, sinh thái của Villen (1990), mô hình 3 nhóm mục tiêu KT, XH, MT của World Bank Chủ
đề này cũng được bàn luận sôi nổi trong giới khoa học xã hội (KHXH) Trong
công trình "Đổi mới chính sách XH (CSXH) - luận cứ và giải pháp" (1997),
tác giả Phạm Xuân Nam đã làm rõ 5 hệ chỉ báo thể hiện quan điểm PTBV: PTXH, PTKT, BVMT, PT chính trị, tinh thần, trí tuệ, và cuối cùng là chỉ báo
QT về PT Bài "XH học Việt Nam trước ngưỡng của thế kỷ XXI" của tác giả
Bùi Đình Thanh (Tạp chí Xã hội học, 2003) cũng chỉ ra 7 hệ chỉ báo cơ bản
về PTBV là chỉ báo KT, XH, MT, chính trị, tinh thần, trí tuệ, VH, vai trò của phụ nữ và chỉ báo QT Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này có một điểm giống nhau là thao tác hoá khái niệm PTBV theo Brundtland Tuy nhiên, cũng cần nói thêm rằng những thao tác này còn mang tính liệt kê, tính thích ứng của các chỉ báo với thực tế Việt Nam, cụ thể là ở cấp độ địa phương, vùng, miền, hay các lĩnh vực hoạt động của đời sống XH vẫn chưa được làm
rõ
1.2.2.2 Một số công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế học, xã hội học
và một số ngành khoa học xã hội khác ngoài lĩnh vực pháp luật
1) Đổi mới QLKT và MT sinh thái Viện nghiên cứu QLKT trung ương
(TƯ), tập thể tác giả, Nxb CTQG, HN, 1997, 341 tr Trong Mục III, Chương
3 - Khuyến nghị những định hướng CS QLKT gắn liền với BVMT, các tác giả đã kiến nghị "Hoàn thiện và tăng cường hiệu lực của khung pháp lý" (tiểu mục 1 của Mục III) về QLKT gắn với BVMT, gồm xác định rõ hơn quyền sở
Trang 10hữu và quyền sử dụng đối với TNTN; quy định rõ ràng hơn, cụ thể hơn và chặt chẽ hơn về khai thác tài nguyên; hoàn thiện các thủ tục hành chính và các quy định cho các tiêu chuẩn MT, giám sát MT và xử lý vi phạm BVMT (tr
143 - 144); 2) Đổi mới và thực hiện đồng bộ các CS, cơ chế QLKT, tập thể tác
giả, Nxb CTQG, HN, 1997, 388 tr Các tác giả đề xuất giải pháp thực hiện đồng
bộ các CSKT với bảo đảm TBXH theo quan điểm coi con người là trung tâm của CS KT - XH (tr 107 - 114); bảo đảm CBXH (tr 120 - 125); khai thác hợp lý TNTN (tr 338 - 339); kết hợp chặt chẽ giữa mục tiêu tăng trưởng KT với PTBV, ổn định chính trị, XH, AN-QP và sự bền vững của sinhh thái (tr 350 - 351); 3)PGS TS Mai Ngọc Cường, KT thị trường (KTTT) định hướng XHCN
ở Việt Nam (Sách tham khảo), Nxb CTQG, HN, 2001, 442 tr Tác giả đề xuất
giải pháp gắn PT KTTT định hướng XHCN với phân phối thu nhập, đảm bảo bình đẳng xã hội (BĐXH), xoá đói giảm nghèo, cải cách chế độ tiền lương, thực
hiện bảo hiểm xã hội (BHXH),… (tr 373 - 439); 4) PGS TS Nguyễn Đắc Hy, PTBV trong tầm nhìn của thời đại, năm 2003, 475 trang, do Viện sinh thái và
MT phát hành Tác giả đã xem xét và giải quyết vấn đề PTBV từ góc độ của
KH về MT và QLMT và PT Ngoài các nội dung mang tính tổng luận chung
về vấn đề PTBV, sách dành một phần đáng kể phân tích vấn đề này trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam từ góc độ chính sách và QLMT Đặc biệt, từ góc độ QLMT, cuốn sách đã có những phân tích khá chi tiết (trang 437 - 475) về hoàn thiện nội dung của pháp luật môi trường (PLMT)Việt Nam đảm bảo yêu cầu PTBV Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng, xét về phương diện luật học, công trình nghiên cứu của PGS TS Nguyễn Đắc Hy chỉ tập trung phân tích về việc đảm bảo yêu cầu PTBV trong việc XDPL về MT ở Việt Nam và chưa có điều kiện phân tích yêu cầu này trong HĐXDPL ở các lĩnh vực quan trọng khác Ngay cả khi tập trung phân tích các yêu cầu về PTBV trong lĩnh vực MT, cuốn sách này cũng chỉ đề cập đến khía cạnh nội dung của của các quy định PL gắn với yêu cầu PTBV mà chưa nghiên cứu, phân tích, đánh giá yêu cầu này gắn với các giai đoạn của quá trình XDPL về MT ở Việt Nam; 5)
Bộ khoa học và công nghệ (Bộ KH&CN) Dự án VIE/01/021 Kinh nghiệm XD
và thực hiện Chương trình nghị sự 21 về PTBV của Trung Quốc (Tài liệu tham
khảo), tập thể tác giả, HN, tháng 10 năm 2003, 2003 tr Sách nêu khó khăn của Trung Quốc hiện nay là dân số tăng nhanh, thiếu tài nguyên và ô nhiễm MT; xác
Trang 11định biện pháp ưu tiên để khắc phục tăng cường XD năng lực PTBV, đặc biệt là tiêu chuẩn hoá việc thành lập các hệ thống CS, PL, các quy định và các chỉ số về
mục tiêu chiến lược; 6) Nguyễn Thị Hiên - Lê Ngọc Hùng, Nâng cao năng lực PTBV BĐG, giảm nghèo Nxb Lý luận chính trị, 2004, 235 tr Các tác giả đề
xuất các giải pháp tạo dựng MT thể chế thuận lợi cho PTBV, trong đó đặc biệt coi trọng yếu tố PL (tr 151 - 154); 7) CS, PL biển của Việt Nam và chiến lược PTBV (Sách chuyên khảo), tập thể tác giả, chủ biên: PGS TS Nguyễn Bá
Diến, Nxb Tư pháp (TP), HN, 2006, 690 tr Các tác giả đã phân tích ý nghĩa, tầm quan trọng của CS, PL về biển của Việt Nam trong chiến lược PTBV ở nước ta Đối với PL về biển, các tác giả kiến nghị phải rà soát lại các văn bản (VB), bãi bỏ điểm bất cập, sự chồng chéo trong nội dung, quy định rõ trách nhiệm cá nhân, công dân và cộng đồng trong việc bảo vệ, cải thiện, nâng cao
chất lượng MT biển (tr 433 - 434); 8 Báo cáo PT Trung Quốc: tình hình và triển vọng Sách của Viện nghiên cứu Trung Quốc, Viện KHXH Việt Nam,
tập thể tác giả, chủ biên: PGS TS Đỗ Tiến Sâm, Nxb Thế Giới, HN, 2007,
422 tr Các tác giả trình bày những thách thức đang đặt ra đối với Trung Quốc
và kinh nghiệm của Trung Quốc thực hiện Chiến lược PTBV; 9) GS TSKH
Nguyễn Quang Thái, PGS TS Ngô Thắng Lợi, PTBV ở Việt Nam: thành tựu,
cơ hội, thách thức và triển vọng, Nxb Lao động - xã hội (LĐ-XH), HN, 2007,
483 tr Các tác giả trình bày những quan điểm của mình về những thách thức đang đặt ra ở nước ta về KT, XH, MT và triển vọng giải quyết các thách thức đó, trong đó có XD các thể chế đảm bảo PTBV
Từ việc nghiên cứu của các nhà KT học, XH học và một số ngành KHXH
ngoài lĩnh vực PL nêu trên, có thể thấy các kết qủa nghiên cứu về PTBV đó, nhìn chung vẫn chưa thật sự gắn với HĐXDPL của NN Nhiều vấn đề của PTBV đã
được xem xét từ góc độ KT học, XH học, nhưng các vấn đề đó có ý nghĩa như thế nào đến việc thể chế hoá thành PL để cả XH phải thực hiện, thì lại chưa được làm sáng tỏ
1.2.2.3 Các công trình nghiên cứu của các nhà luật học
1) PGS TS Nguyễn Văn Động, Một số ý kiến về nâng cao chất lượng và hiệu quả hệ thống hoá PL ở nước ta hiện nay, Tạp chí Luật học, số 5/2006,
Trang 12tr 11 - 17 Tác giả luận giải để kết luận rằng phải cải tiến công tác hệ thống hoá PL, đặc biệt là pháp điển hoá ở nước ta hiện nay Tuy vậy, tác giả còn chưa đề cập vấn đề lồng ghép nội dung PTBV vào quá trình XDPL; 2) TS
Nguyễn Minh Đoan, PL với việc khắc phục những mặt trái của nền KTTT,
Tạp chí Luật học, số 5/2006, tr 30 - 35 Bên cạnh nhiều ưu thế, những điểm tích cực, nền KTTT cũng có rất nhiều điểm hạn chế, những mặt trái cần được khắc phục Việc đi sâu phân tích vai trò của PL trong việc khắc phục những mặt trái của nền KTTT có ý nghĩa thiết thực, góp phần làm rõ một số phương hướng cơ bản trong sự PT của PL hiện nay Tác giả phân tích vai trò của PL biểu hiện trên những khía cạnh chủ yếu như chống cạnh tranh không lành mạnh, sự phân hoá giàu nghèo; chống các hành vi tiêu cực xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và của NN; tránh tình trạng bất ổn định của nền KT - XH hay sự PT mất cân đối, thiếu hài hoà; 3) ThS Nguyễn Hiền
Phương, KTTT và yêu cầu hoàn thiện PL ASXH, Tạp chí Luật học, số 4/2006,
tr 40 - 47 Sau khi đề cập những tác động của nền KTTT đối với vấn đề ASXH, thực trạng PL về ASXH Việt Nam hiện nay, tác giả phân tích một số định hướng, quan điểm và các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện PL về ASXH nước ta: Hạn chế đến mức tối đa bất BĐXH, kết hợp hài hoà các CS
KT - XH, XH hoá, đồng bộ; cần pháp điển hoá PL về ASXH, đẩy mạnh chiến lược phát triển bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân, hoàn thiện PL về cứu trợ XH
(CTXH), xoá đói giảm nghèo…; 4) PGS.TS Nguyễn Như Phát, Đưa PL chống cạnh tranh không lành mạnh vào cuộc sống, Tạp chí Luật học, số
6/2006, tr 29 - 35 Tác giả phân tích đặc điểm, tính chất, cơ cấu chung của PL cạnh tranh, khả năng phi thông lệ của PL hiện hành; đảm bảo sự hài hoà, tương thích giữa các luật có liên quan Cơ chế xử lí hành vi cạnh tranh không
lành mạnh; 5) ThS Bùi Thị Đào, Văn bản quy phạm(VBQPPL) trái PL và xử
lí VBQP trái PL, Tạp chí Luật học, số 10/2007, tr 21 - 26 Tác giả phân tích
khái niệm VBQPPL trái PL, các trường hợp cụ thể, thẩm quyền và hình thức
xử lí Bài viết đi sâu phân tích một số khía cạnh của trường hợp VBQPPL có
nội dung trái PL; 6) ThS Đoàn Thị Tố Uyên, Hoạt động lập pháp của Quốc hội (QH) trong thời kì đổi mới, Tạp chí Luật học, số 11/2007, tr 70 - 74
Theo tác giả, hoạt động lập pháp của Quốc hội (QH) qua hơn 20 năm đổi mới
có bước chuyển biến mạnh mẽ, đã thu được nhiều thành tựu to lớn Tuy
Trang 13nhiên, hoạt động lập pháp của QH vẫn còn một số bất cập và hạn chế như luật
và pháp lệnh còn mang tính khung, chưa cụ thể, quá trình tổ chức thực hiện
có nhiều khó khăn; nội dung của một số luật, pháp lệnh chưa theo kịp sự đòi hỏi của XH, lạc hậu, không phù hợp với thực tiễn, kĩ thuật lập pháp còn hạn chế; lực lượng giúp việc cho QH trong hoạt động lập pháp còn yếu, tính chuyên nghiệp chưa cao Bài viết đưa một số giải pháp cơ bản nhằm tăng
cường năng lực lập pháp của QH; 7) GS.TS Nguyễn Ngọc Hoà, Luật hình sự Việt Nam - sự PT trong hai mươi năm đổi mới và các định hướng hoàn thiện,
Tạp chí Luật học, số 1/2007, tr 2 - 10 Tác giả phân tích, so sánh khái quát quá trình PT của luật hình sự Việt Nam qua các giai đoạn trước khi có Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 và khi có BLHS năm 1999 Sự đổi mới của luật hình sự Việt Nam qua hai giai đoạn này được thể hiện trên ba nội dung lớn là: Hoàn thiện một bước các quy định thuộc phần chung để đảm bảo tính KH và thực tiễn; thay đổi kết cấu các chương tội phạm theo hướng vừa phù hợp với diễn biến mới của tình hình tội phạm vừa phù hợp với xu hướng chung của thế giới; phân hoá trách nhiệm hình sự ở mức độ cao hơn để nâng cao hiệu quả của luật trong thực tiễn áp dụng Sau khi đi sâu phân tích các nhóm nội dung đổi mới đó, tác giả tập trung kiến giải các định hướng hoàn thiện luật hình sự Việt Nam trong điều kiện hiện nay Các hướng chính được đề cập là: thay đổi quan niệm về nguồn của luật hình sự, bên cạnh các loại tội phạm thông thường được quy định trong BLHS, các tội phạm gắn liền với lĩnh vực
cụ thể như MT, TC, công nghệ thông tin… nên quy định trong chính các đạo luật đó; thay đổi quan điểm về chủ thể của trách nhiệm hình sự; v.v ; 8) Viên
Thế Giang, Hoàn thiện PL về cạnh tranh của các tổ chức có hoạt động ngân hàng trước yêu cầu thực hiện các cam kết QT, Tạp chí Luật học, số 11/2007,
tr 21 - 26 Tác giả đánh giá PL hiện hành về cạnh tranh của các tổ chức có hoạt động ngân hàng trong điều kiện Việt Nam là thành viên của WTO; phân tích các nguyên tắc và các giải pháp hoàn thiện lĩnh vực PL này; 9) PGS.TS
Đào Thị Hằng, Vấn đề LĐ, việc làm, thu nhập của người lao động khi Việt Nam là thành viên của WTO và một số giải pháp hoàn thiện PL, Tạp chí Luật
học số 11/2007, trang 27 - 35 Phân tích cơ hội, thách thức về vấn đề LĐ, VL
và thu nhập của người LĐ khi Việt Nam là thành viên WTO; hướng hoàn thiện PL điều chỉnh lĩnh vực này trên một số khía cạnh cụ thể; 10) ThS Trần
Trang 14Thuý Lâm, PL ưu đãi xã hội (ƯĐXH) trong thời kì đổi mới và một số kiến nghị, Tạp chí Luật học, số 5/2007, tr 11 – 14, 33 Điểm lại quá trình PT của
PL về ƯĐXH từ thời điểm đổi mới đến trước và sau khi có Pháp lệnh ưu đãi người có công năm 1994 đến nay, nêu một số kiến nghị hoàn thiện; 11)
Nguyễn Hiền Phương, Hoàn thiện PL về trợ giúp XH (TGXH) trong HTPL ASXH Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 11/2007, tr 43 - 49 Theo tác giả, cần
hoàn thiện PL về TGXH theo những hướng chính như: cơ chế huy động nguồn lực và QL sử dụng nguồn lực TGXH; mở rộng phạm vi, đối tượng hưởng TGXH có tính đến khả năng đáp ứng của điều kiện KT - XH hiện nay; cải cách về mức TGXH; XH hoá công tác TGXH; hoàn thiện PL về giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực TGXH; 12) TS Nguyễn Viết Tý,
Hai mươi năm PT của luật KT - nhìn dưới giác độ phương pháp luận; Tạp chí
Luật học số 1/2007, tr 63 - 68 Tác giả phân tích những thay đổi cơ bản về đối tượng, chủ thể và phương pháp điều chỉnh, sự phát triển toàn diện về nội
dung của luật KT trong quá trình đổi mới; 13) Hồ Văn Phú, PL về đầu tư - kinh doanh (KD) của một số nước trong ASEAN, Tạp chí Luật học, số 9/2007,
tr 51 - 56 Bài viết đề cập nguồn, nội dung cơ bản của PL điều chỉnh hoạt động đầu tư - KD các nước như Thái Lan, Malaysia, Phillipine, Singapore,
Việt Nam; 14) PGS TS Thái Vĩnh Thắng, Bàn về những nguyên tắc chung của
PL Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và HNQT, Tạp chí Luật học, số 7/ 2006) Tác
giả phân tích những nguyên tắc chung của PL Việt Nam Tuy nhiên, bài viết chưa đề cập vấn đề đảm bảo yêu cầu PTBV trong nội dung của PL như là một
nguyên tắc quan trọng; 15) PGS TS Thái Vĩnh Thắng, Mấy vấn đề lí luận về pháp điển hoá, Tạp chí Luật học, số 7/ 2006 Tác giả phân tích những vấn đề lý
luận của pháp điển hoá, góp phần đóng góp vào việc cải tiến hoạt động pháp điển hoá của QH Rất tiếc, bài viết còn chưa bàn tới việc đảm bảo yêu cầu PTBV trong nội dung hoạt động pháp điển hoá
Các công trình nghiên cứu của giới luật học trên đây, mặc dù có ý nghĩa nhất định đối với sự nhận thức về HĐXDPL, nhưng vẫn chưa gắn HĐXDPL với PTBV
Tóm lại, các công trình nghiên cứu KH ở ngoài nước và trong nước đều có
những hạn chế nhất định: có nghiên cứu PTBV nhưng chưa gắn PTBV với
Trang 15HĐXDPL; ngược lại, có nghiên cứu HĐXDPL nhưng cũng chưa gắn HĐXDPL với PTBV
1.3 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, việc nghiên cứu Đề tài trở nên cấp thiết bởi những lý do dưới đây:
Một là, PTBV đang là xu thế PT tất yếu của các QG trên thế giới nói chung, của Việt Nam nói riêng mà bản chất, nội dung chủ yếu của nó là kết hợp hài hoà, thống nhất giữa tăng trưởng KT với bảo đảm TBXH và bảo vệ, cải thiện, nâng cao chất lượng MT Sự bất cập trong PTKT, bảo đảm TBXH
và BVMT dẫn đến phá vỡ tính thống nhất hài hoà giữa ba thành tố tạo nên khái niệm PTBV đó đã đẩy không ít nước đứng trước bờ vực thẳm Ở nhiều nước, nhất là các nước PT và đang PT, mặc dù tốc độ PT KT của họ rất nhanh
mà người ta gọi đó là "nền KT nóng", nhưng họ đang phải gánh chịu nhiều hậu qủa tai hại do chính họ gây nên như bất CBXH, nghèo đói, bệnh tật, tệ nạn XH, gia tăng dân số, ô nhiễm MT, hiệu ứng nhà kính, tài nguyên kiệt quệ
và suy thoái, lũ lụt, hạn hán,…Chẳng hạn, Trung Quốc là nước có tốc độ tăng trưởng KT nhanh nhất thế giới, Mỹ là nước có nền KT hùng mạnh nhất thế giới nhưng cả hai nước này đang phải đối mặt với nhiều thách thức về XH và
có lượng khí thải gây ô nhiễm MT và gây hiệu ứng nhà kính nhiều nhất thế giới Theo Báo cáo phát triển Thế giới năm 2005 của Ngân hàng Thế giới IMF, ESCAP, năm 2004, Trung Quốc có tốc độ tăng GDP là 8,5% so với năm
2000, nhưng thu nhập quốc dân bình quân đầu người thấp, mới chỉ là 5.530 theo tỉ giá USD theo sức mua tương đương 1; năm 2003 có số nợ nước ngoài nhiều nhất châu Á (193,6 tỉ USD) 2; có chỉ số phát triển GD (EDI - chỉ số được tổng hợp trên cơ sở các chỉ tiêu tỷ lệ phổ cập GD tiểu học (GDTH), tỷ lệ biết chữ từ 15 tuổi trở lên, mức cân bằng về giới trong GD, chất lượng GD) là
0, 930, xếp thứ 54 trong 127 nước (Báo cáo giám sát GD toàn cầu 2005 của UNESCO) 3 ; so với các nước trong khu vực, có tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi năm 2002 đạt khá cao - 38%, đứng thứ 2 sau Inđônêxia và so với các
1 Phát triển bền vững ở Việt Nam (Sổ tay tuyên truyền) của Văn phòng Phát triển bền vững Dự án VIE/01/21, Hà Nội, 2006, tr 68
2 Phát triển bền vững ở Việt Nam (Sổ tay tuyên truyền), sách đã dẫn, tr 70
3 Phát triển bền vững ở Việt Nam (Sổ tay tuyên truyền), sách đã dẫn, tr 75
Trang 16nước trong khu vực, có chỉ số phát triển con người HDI năm 2001 đạt thấp 0,
721 điểm, đứng thứ 104 trong 177 nước trên thế giới (Báo cáo PT thế giới năm 2005 của Ngân hàng Thế giới) 4 Về ô nhiễm MT trên thế giới, mới đây (tháng 12 - 2007), LHQ đã tổ chức Hội nghị QT về biến đổi khí hậu ở Bali (Indonesia) Báo cáo của LHQ tại Hội nghị đã khẳng định rằng nguyên nhân của biến đổi khí hậu 90% do con người (mà chủ yếu là nạn phá rừng bừa bãi
và PT công nghiệp tràn lan), 10% do tự nhiên LHQ cũng công bố 10 nước thải khí CO2 nhiều nhất vào bầu khí quyển làm phá vỡ tầng ô zôn gây hiệu ứng nhà kính, trái đất nóng lên và băng tan ở Bắc cực, trong đó nổi bật nhất là
Mỹ (gần 2,8 tỉ tấn/năm), Trung Quốc (2,7 tỉ tấn/năm), Nga (661triệu tấn/năm), Ấn Độ (583/năm), Nhật Bản (400 triệu tấn/năm),…Ngoài những thảm hoạ ở trên, còn khoảng 20 - 30% các loài động thực vật sẽ bị diệt chủng, nhiều cuộc tranh chấp về TNTN sẽ nổ ra, mùa màng thất bát, 500 triệu người
sẽ buộc phải rời bỏ quê hương, bản quán để di cư đến những vùng ít bị ảnh hưởng bới biến đổi khí hậu,…5
Có nhiều nguyên nhân của tình trạng trên, nhưng một trong những nguyên
nhân chủ yếu nhất là nhiều nước trên thế giới, khi hoạch định CS và XDPL PTKT - XH đã không hoặc rất ít tính tới giải pháp bảo đảm kết hợp tăng trưỏng KT với bảo đảm TBXH và BVMT Cụ thể là họ không (hay rất ít) lồng
ghép yếu tố PTBV trong nội dung các chương trình, kế hoạch, CS, PL phát triển KT - XH Cũng có một vài nước, khi XD chính sách, PL cũng có đề cập yếu tố PTBV này nhưng không thực hiện đến nơi, đến chốn, không kiểm tra, giám sát và đặc biệt là không có những biện pháp đủ mạnh để xử lý các trường hợp phá hoại MTTN ảnh hưởng cuộc sống của con người Đại hội X của Đảng ta đã dự báo rằng, trong những năm sắp tới "Nhiều vấn đề toàn cầu bức xúc đòi hỏi các QG và các tổ chức QT phối hợp giải quyết: khoảng cách chênh lệch giữa các nhóm nước giàu và nước nghèo ngày càng lớn; sự gia tăng dân số cùng với các luồng di cư; tình trạng khan hiếm nguồn năng lượng, cạn kiệt tài nguyên, MT tự nhiên (MTTN) bị hủy hoại; khí hậu diễn biến ngày càng xấu, kèm theo những thiên tai khủng khiếp; các dịch bệnh lớn, các tội
4 Phát triển bền vững ở Việt Nam (Sổ tay tuyên truyền), sách đã dẫn, tr 76, 78
5 Báo Lao Động cuối tuần, số 51, ngày 28 - 30/12/2007
Trang 17phạm xuyên QG có chiều hướng tăng".6 Bức tranh toàn cảnh của thế giới về PTBV và dự báo của Đảng ta về tình hình thế giới xét từ góc độ PTBV trong những năm tới như trên đã và đang tác động mạnh mẽ tới mọi lĩnh vực hoạt động ở nước ta, trong đó có hoạt động KH pháp lý
Hai là, ở nước ta hiện nay, việc thực hiện đường lối, CS của Đảng và PL của NN về PTBV còn nhiều bất cập Đại hội IX của Đảng đã xác định: "PT nhanh, hiệu qủa và bền vững, tăng trưởng KT đi đôi với thực hiện TBXH, CBXH và BVMT" 7 Báo cáo chính trị của BCHTƯ Đảng khoá IX Tại Đại hội X của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: "Phấn đấu tăng trưởng KT với nhịp độ nhanh, chất lượng cao và bền vững hơn, gắn với PT con người" 8; Báo cáo của BCHTƯ Đảng khoá IX về phương hướng PT KT - XH 5 năm 2006 - 2010 chỉ rõ: " PT nhanh phải đi đôi với nâng cao tính bền vững, hai mặt tác động lẫn nhau, được thể hiện ở cả tầm vĩ mô và vi mô, ở cả tầm ngắn hạn và dài hạn…Phải rất coi trọng bảo vệ và cải thiện MT ngay trong từng bước PT " 9;
"Coi trọng việc thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ BVMT trong mọi hoạt động
KT, XH" 10 Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, QH đã ban hành nhiều đạo luật,
bộ luật về PT KT - XH và BVMT, trong đó có Luật BVMT ngày 29 - 11 -
2005 Đặc biệt, Thủ tướng CP đã ban hành Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17 - 8 - 2004 về Định hướng chiến lược PTBV ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam), trong đó nêu mục tiêu tổng quát PTBV ở nước ta là "đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và VH, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của XH, sự hài hoà giữa con người và tự nhiên; PT phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà được ba mặt là phát triển KT, phát triển XH và BVMT"; tám nguyên tắc PTBV là: coi con người là trung tâm của PT, PTKT là nhiệm vụ trung tâm, bảo vệ và cải thiện chất lượng MT phải được coi là một yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển, quá trình PT phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương
6 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 74
7 Đảng cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2001, tr 162
8 Đảng cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, sách đã dẫn, tr 76
9 Đảng cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, sách đã dẫn, tr 178 - 179
10 Đảng cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, sách đã dẫn, tr 221 - 222
Trang 18lai, KH&CN là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH), thúc đẩy PT nhanh, mạnh và bền vững đất nước, PTBV là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền, các bộ, ngành và địa phương; của các cơ quan (CQ), doanh nghệp (DN), đoàn thể XH, các cộng đồng dân cư và mọi người dân, gắn chặt việc XD nền KT độc lập, tự chủ với chủ động hội nhập KTQT (HNKTQT) để PTBV đất nước, kết hợp chặt chẽ giữa PTKT, PTXH và BVMT với đảm bảo AN-QP và trật tự an toàn XH (TTATXH); ba lĩnh vực hoạt động cần ưu tiên trong phát PTBV là KT, XH, TN-MT Tuy nhiên, việc thực hiện đường lối, CS của Đảng, PL của NN về PTBV chưa nghiêm chỉnh và thống nhất dẫn đến tình trạng là vẫn còn nhiều hộ nghèo, tệ nạn XH (TNXH) gia tăng, bất CBXH chưa được giải quyết, MT bị ô nhiễm nặng nề, tài nguyên bị suy thoái và kiệt quệ nghiêm trọng, hạn hán, lũ lụt, sụt
lở đất, đá, thay đổi khí hậu và thời tiết bất thường, dịch bệnh gia tăng,…Mặc
dù tốc độ tăng trưởng KT của Việt Nam đứng thứ hai trên thế giới (sau Trung Quốc), đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện đáng kể từ khi đổi mới (năm 1986) đến nay, nhưng chúng ta đang đứng trước nhiều nguy
cơ, thách thức mà nếu không có giải pháp kịp thời, cứng rắn, đồng bộ, toàn diện thì sự PT đất nước chắc chắn sẽ không thể bền vững và ổn định được Trong Báo cáo của CP về tình hình KT-XH năm 2007 và nhiệm vụ năm 2008 tại Kỳ họp thứ hai, QH khoá XII, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhận định
về KT, XH và MT như sau: "năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm và của cả nền KT tuy đã có bước tiến bộ nhưng vẫn còn thấp; hiệu quả đầu tư còn kém, chi phí sản xuất (SX) còn cao; SX và cung ứng điện chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển; công nghiệp gia công vẫn chiếm tỷ trọng lớn, công nghiệp phụ trợ chưa có tiến bộ rõ nét Cơ cấu KT chuyển dịch còn chậm";
"nhiều vấn đề XH bức xúc khắc phục còn chậm"; "Công tác bảo vệ môi trường còn nhiều yếu kém KT tăng trưởng cùng với quá trình đô thị hoá và dân số tăng nhanh đã làm gia tăng ô nhiễm và gây áp lực lớn đối với MT sống Nhiều hệ thống sông, như sông Sài Gòn, Đồng Nai, Thị Vải, sông Cầu, sông Nhuệ, sông Đáy,…bị ô nhiễm nghiêm trọng; nhiều khu công nghiệp XD trước đây với công nghệ và máy móc lạc hậu, nhiều vùng khai thác khoáng
Trang 19sản, làng nghề thủ công và khu đô thị bị ô nhiễm nặng, đang ở mức báo động đỏ Nhiều nơi, rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ vẫn tiếp tục bị chặt phá".11 Một điều đáng lưu ý là Việt Nam là một trong những quốc gia sẽ chịu những hậu qủa nặng nề nhất của biến đổi khí hậu toàn cầu Theo nghiên cứu của Tổ chức hợp tác và phát triển KT (OECD) thì thành phố Hồ Chí Minh nằm trong danh sách những thành phố bị đe doạ nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu (ngoài ra còn Calcutta và Bombay của Ấn Độ, Dacca của Bangladesh, Thượng Hải, Quảng Châu của Trung Quốc, Bangkok của Thái Lan và Yangon của Myanma) Báo cáo về phát triển con người năm 2007 - 2008 của UNDP cho hay, nếu nhiệt độ trên trái đất tăng thêm 2 độ C thì 22 triệu người
ở Việt Nam sẽ bị mất nhà ở và 45% diện tích đất nông nghiệp ở vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngập chìm trong nước biển (biển lấy đất) Theo các nghiên cứu gần đây của các nhà KH, bão, lụt, hạn hán, xâm nhập mặn đang xảy ra thường xuyên hơn và khó dự đoán; khí hậu Việt Nam đã nóng lên 0,1 - 0,2 độ C trong hơn 10 năm qua; mực nước biển cũng đã dâng cao hơn; thời điểm mưa đã thay đổi, mùa khô kéo dài hơn, mùa mưa nhiều mưa hơn;…12 Tháng 1 năm 2005, diễn đàn KT thế giới họp tại Davos (Thuỵ Sĩ) công bố báo cáo hàng năm về chỉ số về tính bền vững MT Theo báo cáo này, xét về độ an toàn của MT, Việt Nam cùng với Philipin đứng cuối bảng trong số 8 nước ASEAN và xếp thứ 88 trong 117 nước đang PT 13.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên mà một trong những nguyên nhân chính là chưa có sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động về
việc kết hợp chặt chẽ, thống nhất, hài hoà giữa tăng trưởng KT với bảo đảm TBXH với bảo vệ, cải thiện, nâng cao chất lượng MT - vốn vừa là một yêu cầu cơ bản, một nguyên tắc quan trọng, vừa là động lực, mục tiêu, kết qủa trong các CS và PL PL KT - XH và trong tổ chức thực hiện các CS, PL đó
Tình hình thực hiện đường lối, CS của Đảng, PL của NN về PTBV như trên
và yêu cầu, nhiệm vụ tiếp tục PT đất nước bền vững mà Đảng, Nhà nước đã
đề ra, đã và đang tác động mạnh mẽ tới tâm tư, tình cảm và thái độ của các
11 Báo Nhân Dân ngày 23 - 10 - 2007
12 Báo Lao Động cuối tuần, số 51, ngày 28 - 30/12/2007
13 Phát triển bền vững ở Việt Nam (Sổ tay tuyên truyền), sách đã dẫn, tr 84
Trang 20nhà KH pháp lý nước ta, suy nghĩ và hành động như thế nào để góp phần vào
sự nghiệp PTBV của đất nước
Ba là, trong thời gian qua ở nước ta, nội dung củaPL về KT, XH, VH, GD, KH
- CN, MT, AN-QP, ĐN chưa chứa đựng yếu tố PTBV, tức là chưa có sự kết hợp chặt chẽ, thống nhất, hài hoà giữa tăng trưởng KT với bảo đảm TBXH và BVMT Nhìn chung, những VBQPPL về KT còn thiên về tăng trưởng nhanh KT
mà ít chú ý tới vấn đề TBXH và chưa quan tâm đầy đủ, đúng mức đến tính bền vững khi khai thác và sử dụng TNTN và BVMT; các VBQPPL về chính trị, XH, AN-QP đối ngoại cũng chủ yếu thiên về ổn định XH, giữ vững AN chính trị, TTATXH, tăng cường phòng thủ đất nước, mở rộng quan hệ ĐN về chính trị chứ chưa thật sự chú trọng tới yếu tố thúc đẩy tăng trưởng KT và bảo vệ, cải thiện, nâng cao chất lượng MT; các VBQPPL về BVMT lại chú trọng việc giải quyết các sự cố MT, phục hồi suy thoái MT, mà chưa định hướng PT lâu dài nhằm đáp ứng những nhu cầu tương lai của XH, đặc biệt còn ít quan tâm tới kích
thích, thúc đẩy sự PTKT và làm lành mạnh MT XH, TBXH Bởi thiếu yếu tố PTBV trong nội dung, cho nên nhìn chung, PL nước ta hiện nay vẫn chưa đảm bảo được tính toàn diện, tính đồng bộ, tính KH, tính thực tiễn và tính bền vững, dẫn đến khó khăn và nhiều bất cập trong thực hiện trên thực tế Những khiếm
khuyết nêu trên trong nội dung của PL nước ta hiện nay xét trên phương diện đảm bảo yêu cầu PTBV, đã và đang đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ không chỉ cho các CQ, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trực tiếp XDPL, mà còn cho cả giới KH nước nhà, trước hết và đặc biệt là giới KH pháp lý Mọi người suy nghĩ và hành động như thế nào để khắc phục có hiệu qủa những hạn chế trong nội dung của
PL?
Bốn là, HĐXDPL ở nước ta từ trước tới nay, xét từ góc độ đảm bảo kết hợp chặt chẽ, thống nhất, hài hoà giữa tăng trưởng KT với bảo đảm TBXH với bảo vệ, cải thiện, nâng cao chất lượng MT, cũng còn nhiều bất cập Sự bất
cập đó được thể hiện ở chỗ: trong nhận thức còn chưa coi đảm bảo yêu cầu PTBV vừa là một yêu cầu cơ bản, một nguyên tắc quan trọng, vừa là động lực, nguồn lực, mục tiêu và kết quả của HĐXDPL của nước ta trong thời kỳ đổi mới, phát triển nhanh, bền vững và HNQT; chưa lồng ghép được nội dung PTBV vào các giai đoạn của quá trình XD các VBQPPL về KT, XH, VH, GD, KH - CN,
MT, AN-QP, ĐN, nhất là những VBQPPL do QH, Ủy ban thường vụ QH
Trang 21(UBTVQH), CP ban hành, từ giai đoạn lập chương trình, kế hoạch XD VBQPPL, soạn thảo (ST) VBQPPL, thẩm định, thẩm tra đến thảo luận và thông qua VBQPPL Tình hình đó đang làm cho HĐXDPL nước ta không đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của nước ta và thế giới về một HTPL PTBV trong thời đại hiện nay Đây cũng là một nguyên nhân cơ bản dẫn tới việc phải nghiên cứu
để xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL ở nước ta hiện nay, đặc biệt là tìm ra được cách thức (phương thức, phương pháp) và cơ chế hữu hiệu nhất cho việc lồng ghép nội dung PTBV vào quá trình HĐXDPL để khắc phục những hạn chế, thiếu sót về nội dung của PL như đã nêu ở trên Những hạn chế trong HĐXDPL nêu trên, xét từ góc độ đảm bảo yêu cầu PTBV, đã và đang đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ cho các CQ, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền trực tiếp XD hệ thống các quy phạm pháp luật (QPPL) phải nhanh chóng đổi mới, cải tiến nội dung, hình thức, phương pháp, quy trình HĐXDPL và tổ chức thực hiện quá trình hoạt động đã được đổi mới, cải tiến đó nhằm đáp ứng yêu cầu đảm bảo nội dung PTBV trong từng giai đoạn của quá trình HĐXDPL Sự bất cập trong HĐXDPL, xét trên phương diện đảm bảo lồng ghép nội dung PTBV vào toàn bộ quy trình XDPL, cũng đang đặt ra nhiệm vụ của KH pháp lý nước nhà phải làm gì và làm như thế nào để cung cấp kịp thời và đầy đủ những luận cứ KH cho việc đổi mới, cải tiến nội dung, hình thức, phương pháp, quy trình HĐXDPL và tổ chức thực hiện quá trình HĐXDPL đã được đổi mới, cải tiến đó, nhằm đáp ứng yêu cầu đảm bảo nội dung PTBV trong từng giai đoạn của quá trình HĐXDPL
Năm là, công tác nghiên cứu KH pháp lý để cung cấp những luận cứ KH cho việc đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL thời gian qua chưa được quan tâm đúng mức và đầy đủ, dẫn đến sự chậm trễ trong việc cung cấp những luận cứ KH cho Đảng, NN hoạch định đường lối, CS, PL về PTBV, đặc biệt cho NN trong việc đổi mới, cải tiến nội dung, hình thức, phương pháp, quy trình HĐXDPL và tổ chức thực hiện quá trình HĐXDPL đã được đổi mới, cải tiến đó Một trong những hạn chế lớn nhất trong nghiên cứu KH
ở trong và ngoài nước về PTBV và HĐXDPL thời gian qua là có nghiên cứu PTBV nhưng chưa gắn PTBV với HĐXDPL; có nghiên cứu HĐXDPL nhưng cũng chưa gắn HĐXDPL với PTBV Nhiệm vụ của KH pháp lý hiện nay là
nghiên cứu phối hợp giữa PTBV với HĐXDPL, trong đó trọng tâm nghiêng
Trang 22về nghiên cứu quá trình HĐXDPL gắn với PTBV, phục vụ cho PTBV Nhiều vấn đề quan trọng và cấp bách liên quan đến việc thực hiện nguyên tắc kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng KT, bảo đảm TBXH với BVMT trong HĐXDPL còn chưa được làm sáng tỏ về mặt KH, từ nhận thức KH về vấn đề PTBV, sự cần thiết, nội dung, hình thức, cơ chế, điều kiện bảo đảm của việc lồng ghép nội dung PTBV vào HĐXDPL đến thực tiễn đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL và các giải pháp nhằm đảm bảo yêu cầu PTBV trong hoạt động XDPL ở nước ta trong điều kiện đổi mới, PT nhanh, bền vững và HNQT Những yếu kém trong nghiên cứu KH pháp lý thời gian qua về vấn đề này không những đã gây khó khăn, lúng túng cho việc đổi mới, cải tiến nội dung, hình thức, phương pháp, quy trình HĐXDPL và tổ chức thực hiện quá trình HĐXDPL đã được đổi mới, cải tiến đó trước yêu cầu đảm bảo nội dung PTBV trong từng giai đoạn của quá trình HĐXDPL, mà còn góp phần tạo nên
sự trì trệ, thiếu tính nhạy bén, tính năng động và tính hiện đại của KH pháp lý trước xu thế PTBV của thế giới và của Việt Nam Những hạn chế trong nghiên cứu KH pháp lý trước yêu cầu PTBV của đất nước đã và đang đặt ra nhiệm vụ cho các nhà KH pháp lý phải nghiên cứu một cách sâu sắc, đầy đủ, toàn diện tất cả những vấn đề lý luận và thực tiễn về HĐXDPL trước yêu cầu đảm bảo nội dung PTBV trong toàn bộ quá trình XDPL, nhằm tạo ra một HTPL thật sự toàn diện, đồng bộ, KH, thực tiễn, bền vững phục vụ sự nghiệp PTBV của nước ta trong điều kiện đổi mới và HNQT Việc nghiên cứu này cũng sẽ là một hành động tích cực góp phần vào việc cung cấp những luận cứ
KH cho Đảng ta XD Chủ thuyết phát triển Việt Nam trong thế kỷ XXI và
tương lai
Từ những điều trình bày ở trên, cho phép chúng tôi khẳng định rằng nghiên cứu vấn đề "Đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong hoạt động xây dựng
pháp luật - những vấn đề lý luận và thực tiễn" là việc làm thực sự mang tính
cấp thiết, vừa có ý nghĩa lý luận sâu sắc, vừa có giá trị thực tiễn to lớn.
1.4 NHỮNG VẤN ĐỀ MỚI ĐƯỢC ĐẶT RA ĐỂ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
- Trước hết, cần xác định rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Đề tài vì
đây là những vấn đề cốt lõi cùng với mục tiêu nghiên cứu Đề tài quy định các
Trang 23vấn đề mới về lý luận và thực tiễn mà Đề tài đặt ra cần nghiên cứu Cũng cần nói thêm rằng việc phân định các vấn đề lý luận và những vấn đề thực tiễn chỉ mang ý nghĩa tương đối Đảm bảo yêu cầu PTBV trong PTXH là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành KH như triết học, KT học, XH học, luật học, MT học,… Mỗi ngành KH xem xét vấn đề này từ góc độ riêng của mình với các phương pháp cụ thể đặc trưng cho ngành KH nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra Luật học là một KHXH nghiên cứu vấn đề đảm bảo yêu cầu PTBV cũng từ góc độ riêng của mình mà một trong những đặc trưng của góc
độ nghiên cứu ấy là gắn vấn đề được nghiên cứu với lĩnh vực PL, do đó, đối tượng nghiên cứu của Đề tài là những vấn đề liên quan đến đảm bảo yêu cầu PTBV trong lĩnh vực PL phục vụ việc PTBV của đất nước Thế nhưng, đảm bảo yêu cầu PTBV trong lĩnh vực PL lại là một vấn đề rất rộng và phức tạp cần có nhiều thời gian và công sức để nghiên cứu một cách toàn diện Điều này liên quan đến phạm vi nghiên cứu của Đề tài, theo đó, Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề đảm bảo yêu cầu PTBV trong "HĐXDPL ở Việt Nam hiện nay" Như vậy, việc nghiên cứu Đề tài sẽ được tiến hành không chỉ trong phạm vi (giới hạn) nhất định của lĩnh vực hoạt động PL của NN mà còn trong phạm vi (giới hạn) nhất định theo không gian và thời gian
Trên cơ sở xác định rõ được đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Đề tài như vậy, có thể thấy Đề tài đặt ra 3 vấn đề mới, cơ bản về lý luận và thực tiễn cần nghiên cứu sau đây:
Thứ nhất, cơ sở lý luận của việc đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL ở nước ta Việc nghiên cứu những vấn đề này có giá trị to lớn không chỉ đối với
nhận thức tư tưởng, nhận thức lý luận KH về một vấn đề có ý nghĩa sống còn của nước ta và của toàn thế giới là PTBV và về việc đảm bảo PTBV trong HĐXDPL ở Việt Nam, mà còn đối với việc giải quyết 2 vấn đề cơ bản còn lại trong nội dung nghiên cứu của Đề tài là thực tiễn đảm bảo nội dung PTBV trong HĐXDPL về các lĩnh vực QLNN, QLXH và thực trạng của việc đảm bảo đó; những giải pháp đảm bảo nội dung PTBV trong HĐXDPL
Thứ hai, đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL về KT, TC-NH, ĐĐ, MT, LĐ-VL, ASXH,CS&BVSKND, BĐG, VH, GD, KH-CN, AN-QP, ĐN Đây là
những vấn đề liên quan đến việc vận dụng lý luận vào thực tiễn của Đề tài mà
Trang 24việc nghiên cứu chúng sẽ giúp chúng ta hiểu được những điểm chung, giống nhau và điểm riêng, khác nhau trong vận dụng, bởi vì mỗi lĩnh vực QHXH cơ bản mà PL điều chỉnh đều có những tính chất, nội dung, đặc điểm riêng; cũng như điểm chung, giống nhau và điểm riêng, khác nhau giữa Việt Nam với một
số nước trong khu vực và trên thế giới nói chung Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy được bức tranh toàn cảnh của HĐXDPL của nước ta từ trước tới nay xét
từ góc độ đảm bảo yêu cầu PTBV, bởi vì người nghiên cứu không chỉ tìm hiểu, luận giải để đi tới những kết luận cần thiết mà còn phải phân tích, đánh giá thực trạng HĐXDPL xét trên quan điểm đảm bảo yêu cầu PTBV
Thứ ba, những giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL ở nước ta trong điều kiện đổi mới và HNQT Đây là vấn đề vừa
mang tính lý luận vừa có tính thực tiễn Giải pháp đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL ở nước ta thì có nhiều và có thể được chia thành hai cấp độ - cấp độ chung và cấp độ riêng Ở cấp độ chung, có các giải pháp về KT, chính trị, tư tưởng, VH, XH, tổ chức, …Còn ở cấp độ riêng, theo quan niệm của chúng tôi, là các giải pháp mang tính tổ chức - kỹ thuật XDPL được áp dụng
để lồng ghép nội dung PTBV vào các giai đoạn của quy trình XDPL (mà về thực chất là các giai đoạn của quy trình XD các VBQPPL) và các thành viên
Đề tài sẽ phải tập trung nghiên cứu các giải pháp này
1.5 CÁCH TIẾP CẬN ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT BA VẤN ĐỀ
CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
1.5.1 CÁCH TIẾP CẬN ĐỀ TÀI
Trong mục về tình hình nghiên cứu Đề tài, chúng tôi đã trình bày và đưa ra kết luận rằng trên thế giới và ở Việt Nam trong thời gian qua, tuy đã có nghiên cứu vấn đề PTBV nhưng chưa gắn PTBV với HĐXDPL; ngược lại, cũng đã có nghiên cứu HĐXDPL nhưng cũng chưa gắn HĐXDPL với PTBV
Do đó, có thể nói, cho tới nay trong KH pháp lý trong nước và ngoài nước, đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL là một vấn đề hoàn toàn mới mẻ chưa được nghiên cứu Do đó, việc nghiên cứu vấn đề này như là một đề tài
KH độc lập ở cấp độ cao sẽ mang tính tổng thể, tính toàn diện, tính hệ thống, tính thực tiễn và tính năng động hơn rất nhiều Với lý do như vậy, cần có cách
Trang 25tiếp cận chung và cách tiếp cận riêng từng vấn đề sau đây để việc nghiên cứu
Đề tài đạt được các mục tiêu đã đặt ra
1.5.1.1 Cách tiếp cận chung đối với cả Đề tài
- Cách tiếp cận tổng thể, toàn diện và có tính hệ thống Cách tiếp cận này
nhằm mục đích nghiên cứu kỹ lịch sử hình thành, PT, bản chất của quan điểm PTBV với nội dung là kết hợp tăng trưởng KT, bảo đảm TBXH với bảo vệ, cải thiên, nâng cao chất lượng MT và đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL trên thế giới và ở Việt Nam; nghiên cứu sâu sắc lý luận và thực tiễn đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL ở ngoài nước và trong nước Như đã nói ở trên, vấn đề đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL còn chưa được nghiên cứu, thậm chí chưa bao giờ giới nghiên cứu về PTBV và HĐXDPL coi việc đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL như là một nguyên tắc, đòi hỏi, yêu cầu, động lực, nguồn lực, mục tiêu và kết quả của quá trình HĐXDPL ở nước ta trong bối cảnh đổi mới, PTBV và HNQT Vì vậy, cách tiếp cận tổng thể, toàn diện, hệ thống của việc nghiên cứu Đề tài sẽ làm rõ được nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn, từ đó XD các giải pháp khả thi nhằm đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL của nước ta trong thời gian tới
- Cách tiếp cận thực tiễn Mục đích của cách tiếp cận này là nhằm tổng kết,
đánh giá thực tiễn đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL ở nước ta để rút ra những bài học thành công và chưa thành công Ngoài việc tổng kết, đánh giá thực tiễn Việt Nam, các thành viên Đề tài sẽ còn phải nghiên cứu cả thực tiễn của một số nước, đặc biệt là các nước Đông Nam Á, để có căn cứ so sánh với Việt Nam Cách tiếp cận thực tiễn còn được thể hiện ở tính khả thi của những giải pháp được đề xuất, sao cho các giải pháp đó có thể được áp dụng ngay trong thực tiễn XDPL của nước ta trong thời gian gần nhất
- Cách tiếp cận "động" Bằng cách tiếp cận này, các vấn đề mà Đề tài đặt ra
sẽ được nghiên cứu trong bối cảnh vận động không ngừng của các QHXH có liên quan, đặc biệt là của những đối tượng mà PL điều chỉnh Cách tiếp cận
Đề tài mang tính "động" còn được thể hiện ở chỗ: các giải pháp được đưa ra phải có tính năng động, linh hoạt, uyển chuyển phù hợp với sự PT nhanh chóng của đất nước; của đổi mới tư duy nói chung, tư duy pháp lý nói riêng;
Trang 26của HTPL Việt Nam, PLQT và của mức độ, phạm vi, quy mô, nội dung, hình thức HN QT, trong đó có HNPL của nước ta hiện nay
1.5.1.2 Cách tiếp cận riêng từng vấn đề chủ yếu của Đề tài
- Trước khi đề cập cách tiếp cận riêng từng vấn đề cơ bản của Đề tài cần
quán triệt quan điểm tiếp cận sau đây: nhằm khắc phục nhược điểm trong nghiên cứu KH thời gian qua về PTBV và HĐXDPL, các thành viên Đề tài cần nghiên cứu phối kết hợp nhuần nhuyễn, linh hoạt, sáng tạo giữa PTBV
với HĐXDPL; không nghiên cứu sâu vấn đề PTBV trong mối quan hệ với
HĐXDPL mà chủ yếu là nghiên cứu HĐXDPL trong mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất với PTBV Xuất phát từ quan điểm đó, có thể đi tới nhận định rằng
để nghiên cứu Đề tài thì không thể không đề cập các vấn đề về tăng trưởng
KT, bảo đảm TBXH, bảo vệ, cải thiện và nâng cao chất lượng MT; mối quan
hệ chặt chẽ, thống nhất, tác động qua lại giữa ba yếu tố đó đã tạo nên bản chất của PTBV, cũng như sự kết hợp chặt chẽ, hài hoà ba yếu tố đó như là một yêu cầu, một nguyên tắc vô cùng quan trọng trong XD và PT đất nước, nhằm đảm bảo cho nước ta vừa PT nhanh vừa PTBV Tuy nhiên, cả ba vấn đề đó lại không phải là đối tượng nghiên cứu chính của Đề tài, mà chủ yếu chúng là đối tượng nghiên cứu của KT học, XH học và KH QL, BVMT Tiếp thu có chọn lọc những thành qủa của ba KH nói trên, ở đây, các thành viên Đề tài cần tiếp
cận Đề tài từ góc độ KH pháp lý, đặc biệt là từ góc độ tổ chức - kỹ thuật
XDPL để giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn mà Đề tài đặt ra trên cơ sở
mặc nhiên thừa nhận tính đúng đắn, tính lợi ích của PTBV (mà nội dung thực chất của nó là kết hợp thống nhất, hài hoà giữa tăng trưởng KT với TBXH với bảo vệ, cải thiện và nâng cao chất lượng MT) trong sự PT của đất nước nói chung, của HTPL nước nhà nói riêng
- Các thành viên Đề tài cần tiếp cận những vấn đề liên quan tới việc đảm bảo yếu tố "kết hợp chặt chẽ, thống nhất, hài hoà giữa tăng trưởng KT với bảo đảm TBXH với bảo vệ, cải thiện, nâng cao chất lượng MT" trong HĐXDPL
để cho ra đời một sản phẩm PL có tính bền vững, ổn định, khả thi nhằm bảo đảm sự PTBV của đất nước Cần thấu triệt nguyên tắc thống nhất giữa ba yếu
tố cấu thành khái niệm PTBV là tăng trưởng KT, bảo đảm TBXH và bảo vệ, cải thiện, nâng cao chất lượng MT Nếu chỉ thiên về hay quá nhấn mạnh một
Trang 27yếu tố nào trong cơ cấu ba thành thống nhất của nội dung khái niệm PTBV trong HĐXDPL thì đều dẫn tới sự phá vỡ tính thống nhất của mối quan hệ giữa ba yếu tố đó và như vậy sẽ không đạt được mục tiêu nghiên cứu của Đề tài Tuy nhiên, đối tượng điều chỉnh của PL ở nước ta bao gồm nhiều lĩnh vực QHXH cơ bản như KT, XH, VH, GD, KH-CN, MT, AN-QP, ĐN,… với những đặc điểm, tính chất và nội dung khác nhau, cho nên việc lồng ghép nội dung PTBV vào HĐXDPL về mỗi lĩnh vực QHXH cơ bản đó cũng đòi hỏi phải có nội dung, hình thức, phương pháp, mức độ, phạm vi khác nhau Điều
đó cho thấy lồng ghép nội dung PTBV vào HĐXDPL là một yêu cầu, một
nguyên tắc pháp lý bắt buộc, nhưng nguyên tắc đó phải được vận dụng một cách uyển chuyển, linh hoạt, sáng tạo trong từng lĩnh vực QHXH cơ bản được
PL điều chỉnh, sao cho việc lồng ghép đó vừa tương xứng với mục đích và phạm vi điều chỉnh của PL, vừa phù hợp với tính chất, nội dung, đặc điểm của lĩnh vực QHXH cơ bản mà PL điều chỉnh
- Mục đích HĐXDPL ở nước ta hiện nay là nhằm sáng tạo ra một hệ thống các QPPL có chất lượng và có tính khả thi cao, mà toàn bộ những QPPL đó được chứa đựng trong các loại VBQPPL khác nhau do các CQNN có thẩm quyền và cá nhân có thẩm quyền ban hành, theo trình tự, thủ tục do PL quy định Như vậy, xét theo khía cạnh này (khía cạnh hình thức chứa đựng hay hình thức thể hiện nội dung của các QPPL) thì HĐXDPL chính là hoạt động
XD các VBQPPL theo trình tự, thủ tục do PL quy định, và việc lồng ghép nội dung PTBV vào HĐXDPL thì về thực chất, là đưa nội dung "kết hợp chặt chẽ, thống nhất, hài hoà giữa tăng trưởng KT với bảo đảm TBXH với bảo vệ, cải thiện, nâng cao chất lượng MT" vào các giai đoạn của quá trình XD các VBQPPL Với nhận thức như vậy, tiếp cận sâu thêm Đề tài, chúng ta thấy cần nghiên cứu cả trên bình diện lý luận lẫn thực tiễn vấn đề lồng ghép nội dung PTBV vào các giai đoạn của quá trình XD các VBQPPL của TƯ và địa phương theo quy định của PL hiện hành, nhằm tạo cơ sở KH cho việc vận dụng những thành qủa nghiên cứu đó vào quá trình XD các VBQPPL về từng lĩnh vực cụ thể
- Vận dụng những thành quả nghiên cứu lý luận về đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL vào thực tiễn XDPL về KT, TC-NH, ĐĐ, MT, LĐ-VL, CS&BVSKND, BĐG, VH, GD, KH - CN, AN-QP, ĐN là một hướng nghiên
Trang 28cứu thể hiện cách tiếp cận Đề tài từ tổng thể đến cụ thể Phương pháp tiếp cận
và giải quyết những vấn đề nêu trên cần hết sức tỉnh táo, mềm dẻo, linh hoạt
và sáng tạo, nếu không sẽ đi chệch mục tiêu của Đề tài Nếu khai thác, tìm hiểu quá nông, hời hợt cách thức lồng ghép nội dung PTBV vào HĐXDPL trong một lĩnh vực QHXH cụ thể được PL điều chỉnh thì kết qủa sẽ thiếu tính thực tiễn và cũng không thể đi tới những kết luận KH cần thiết, làm cơ sở nhận thức, cơ sở phương pháp luận cho việc ứng dụng những thành tựu của lý luận KH vào thực tiễn Ngược lại, nếu khai thác, tìm hiểu quá sâu, quá tỉ mỉ, quá chi tiết cách thức lồng ghép nội dung PTBV vào HĐXDPL trong từng mặt cụ thể thì có thể bảo đảm được đầy đủ tính thực tiễn, nhưng e rằng lại khó đạt được những kết luận mang tính lý luận KH Do vậy, quan điểm tiếp cận ở đây là phải vừa từ lý luận để giải quyết những vấn đề của thực tiễn đang đặt ra
về đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL, vừa từ thực tiễn để khái quát lên thành lý luận KH để làm cơ sở tư tưởng tiếp tục chỉ đạo thực tiễn Bởi khi nghiên cứu vấn đề này còn cần phân tích, đánh gía thực trạng đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL từ trước tới nay, cho nên quan điểm tiếp cận vấn
đề đánh giá ở đây là phải dựa vào mục đích, yêu cầu, nguyên tắc, tiêu chuẩn
KH của việc đảm bảo chung cho cả quá trình HĐXDPL và của từng loại HĐXDPL trong mỗi lĩnh vực QHXH cơ bản được PL điều chỉnh; đánh giá cả mặt ưu, mặt khuyết và phân tích kỹ nguyên nhân của chúng
- Một câu hỏi được đặt ra cần giải đáp là: làm gì và làm như thế nào từ góc
độ PL để đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL? Đây cũng chính là vấn đề
cơ bản thứ ba cần nghiên cứu của Đề tài - những giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL ở nước ta trong điều kiện đổi mới, PTBV
và HNQT Quan điểm tiếp cận vấn đề này là không đề cập hết tất cả các giải pháp mà cần tập trung phân tích, làm rõ những giải pháp mang tính tổ chức -
kỹ thật XDPL chủ yếu được áp dụng chung cho cả quá trình HĐXDPL xét từ góc độ đảm bảo yêu cầu PTBV Nhà nghiên cứu cần căn cứ vào mục đích, yêu cầu của điều chỉnh PL, phạm vi điều chỉnh PL, tính chất, nội dung và đặc điểm của đối tượng điều chỉnh PL để xác định các giải pháp đó
Trang 291.5.2 HƯỚNG GIẢI QUYẾT BA VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
- Đối với vấn đề cơ bản thứ nhất - cơ sở lý luận của việc đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL ở nước ta, hướng giải quyết tập trung vào việc phân
tích, làm rõ các khái niệm, các quan điểm chính trị và quan điểm KH ở trong nước, ngoài nước về PTBV và đảm bảo yêu cầu PTBV khi hoạch định và thực hiện chính sách, PL; về bản chất, mục tiêu, nguyên tắc, nội dung, hình thức, quy trình,…của HĐXDPL; về mục tiêu, nguyên tắc của đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL Ở đây, cần chú ý rằng, HĐXDPL, xét về mặt hình thức, là hoạt động XD các VBQPPL Dó đó, việc lồng ghép nội dung PTBV vào quá trình hoạt động XD các VBQPPL, một mặt, phải phù hợp với mục đích điều chỉnh; tính chất, nội dung, đặc điểm của đối tượng điều chỉnh và phạm vi điều chỉnh của từng loại VBQPPL và phải theo đúng trình tự, thủ tục
ST và ban hành từng loại VB ấy như đã được quy định trong Luật ban hành VBQPPL ngày 3 - 6 - 2008 (xin được viết là "Luật ban hành VBQPPL năm 2008") và Luật ban hành VBQPPL của hội đồng nhân dân (HĐND), ủy ban nhân dân (UBND) ngày 3 -12 - 2004 (xin được viết là "Luật ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004") Trên cơ sở cách tiếp cận này, việc nghiên cứu lý luận sẽ luận giải các phương thức (cách thức) lồng ghép có hiệu qủa nhất nội dung PTBV vào quá trình hoạt động XD các VBQPPL của TƯ
và địa phương về KT, TC-NH, ĐĐ, MT, LĐ-VL, ASXH, CS&BVSKND, BĐG, VH, GD, KH-CN, AN-QP, ĐN
- Đối với vấn đề cơ bản thứ hai - đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL
về KT, TC-NH, ĐĐ, MT, LĐ-VL, ASXH,CS&BVSKND, BĐG, VH, GD, KH –
CN, AN-QP, ĐN sẽ được giải quyết theo hướng nghiên cứu ứng dụng các
thành qủa nghiên cứu lý luận ở phần trên vào quá trình hoạt động ST và ban hành các VBQPPL về từng lĩnh vực QLNN, QLXH Hướng nghiên cứu này mang tính thực tiễn cao, đòi hỏi phải làm sáng tỏ được những vấn đề như đặc điểm, nội dung, hình thức, phương pháp, mức độ, phạm vi lồng ghép nội dung PTBV vào quá trình XD các loại VBQPPL điều chỉnh những lĩnh vực QHXH
cơ bản khác nhau; phân tích, đánh giá một cách sâu sắc, đầy đủ, toàn diện, khách quan, KH thực trạng đảm bảo yêu cầu PTBV trong quá trình XD các VBQPPL ở nước ta hiện nay nhằm nêu ra được ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân của chúng
Trang 30- Đối với vấn đề cơ bản thứ ba - những giải pháp tổ chức - kỹ thuật XDPL chủ yếu nhằm đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL ở nước ta trong điều kiện đổi mới, PTBV và HNQT sẽ được làm sáng tỏ thông qua những lập luận
về sự cần thiết phải XD các giải pháp tổ chức - kỹ thuật XDPL ở cấp độ chung, khái quát cho cả quá trình HĐXDPL trước yêu cầu đảm bảo PTBV; nội dung và cách thức thực hiện từng giải pháp pháp ấy trong quá trình HĐXDPL về từng lĩnh vực QLNN, QLXH
1.6 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.6.1 KHÁI QUÁT CHUNG
- Một là các vấn đề lý luận Đây là những vấn đề mà việc phân tích làm rõ
chúng sẽ tạo tiền đề nhận thức tư tưởng quan trọng để giải quyết các vấn đề thực tiễn của Đề tài Đó là các vấn đề về quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về PTBV và XDPL phục vụ PTBV đất nước; quan điểm và nhận thức lý luận về HĐXDPL ở nước ta trước yêu cầu PTBV của đất nước; cách thức xác định yếu tố PTBV của PL và lồng ghép chúng vào quá trình XDPL; tiêu chuẩn đánh giá mức độ đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL; hài hòa hóa giữa PLQG với PLQT trong HĐXDPL trước yêu cầu PTBV đất nước Tất cả
các vấn đề lý luận nêu trên đều là những vấn đề mới của Đề tài
- Hai là những vấn đề thực tiễn (hay các vấn đề vận dụng lý luận vào thực tiễn) của Đề tài Trên cơ sở thành qủa nghiên cứu những vấn đề lý luận của
Đề tài, việc nghiên cứu các vấn đề thực tiễn sẽ làm sáng tỏ nội dung đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL (mà thực chất là hoạt động XD các VBQPPL)
về các lĩnh vực KT, TC-NH, ĐĐ, MT, LĐ-VL, ASXH, CS&BVSKND, BĐG,
VH, GD, KH-CN, AN-QP, ĐN; đánh giá hiện trạng của việc đảm bảo đó trên
hai phương diện ưu điểm, nhược điểm và nêu rõ nguyên nhân của ưu, nhược
điểm ấy Đây hoàn toàn là những vấn đề mới lần đầu tiên được nghiên cứu
- Ba là những vấn đề vừa mang tính lý luận vừa có tính thực tiễn - đó là các
vấn đề liên quan đến những giải pháp (trong đó các giải pháp mang tính tổ chức - kỹ thuật XDPL là quan trọng nhất) nhằm đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL ở Việt Nam trong điều kiện đổi mới, PTBV và HNQT Việc XD và
Trang 31đề xuất các giải pháp đó là hết sức quan trọng và cần thiết vì trong điều kiện hiện nay, bên cạnh một số điểm chung giống với các nước khác thì việc bảo đảm yêu cầu PTBV trong HĐXDPL ở mỗi QG, mỗi dân tộc còn có những đặc điểm riêng do điều kiện tự nhiên, điều kiện XH, con người, VH, trình độ phát triển KT, VH và XH quy định Không thể áp dụng máy móc, giáo điều mô hình của nước này cho nước khác được Nước ta cũng không nằm ngoài quy luật ấy Hơn nữa, ở nước ta hiện nay, việc bảo đảm yêu cầu PTBV trong HĐXDPL là một quá trình hoạt động hết sức gian khổ và khó khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau, vì vậy, muốn đạt được kết quả như mong muốn thì quá trình đó phải được thực hiện bằng những giải pháp phù hợp với tình hình
và đặc điểm của Việt Nam và khi đề xuất các giải pháp ấy cần phân tích làm
rõ được bối cảnh và đặc điểm riêng ấy Đây là những vấn đề mới của Đề tài
Như trên đã nói, trong các giải pháp cần đề xuất thì các giải pháp mang tính
tổ chức - kỹ thuật XDPL là quan trọng nhất (tạm gọi là các giải pháp pháp lý) Các giải pháp pháp lý này có thể được chia ra thành 2 cấp độ - cấp độ chung và cấp độ cụ thể
+ Ở cấp độ chung gồm những giải pháp được áp dụng chung cho toàn bộ HĐXDPL, như đổi mới tư duy pháp lý; đào tạo và bồi dưỡng cán bộ trong các
cơ quan trực tiếp XDPL; nâng cao trình độ kỹ thuật XDPL và học tập, tiếp thu
có chọn lọc và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm nước ngoài, hoàn thiện PL về XDPL;…
Về đổi mới tư duy pháp lý: cần nghiên cứu làm rõ tính tất yếu của việc đổi mới
tư duy pháp lý về HĐXDPL trước yêu cầu phải lồng ghép nội dung PTBV vào từng khâu của quá trình hoạt động đó và nêu rõ cần đổi mới những gì và để làm
gì Đổi mới tư duy pháp lý là một vấn đề không mới nhưng đổi mới tư duy pháp
lý về HĐXDPL trước yêu cầu phải lồng ghép nội dung PTBV vào các giai đoạn
của quá trình XDPL là một vấn đề mới mà Đề tài đặt ra để nghiên cứu
Về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên phục vụ công tác XDPL trước yêu cầu phải lồng ghép nội dung PTBV vào các giai đoạn của quá trình XDPL Đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ PL nói chung là vấn đề không mới, nhưng đào tạo, bồi dững cán bộ chuyên phục vụ việc lồng ghép nội dung PTBV vào các giai đoạn của
quá trình XDPL là một vấn đề mới cần nghiên cứu của Đề tài Cần nghiên cứu,
Trang 32phân tích làm rõ nguồn cán bộ, nội dung cần đào tạo, bồi dưỡng; hình thức và phương pháp đào tạo;…
Về nâng cao trình độ kỹ thuật XDPL và học tập vận dụng kinh nghiệm nước ngoài Kỹ thuật XDPL là toàn bộ các phương pháp, thủ pháp, cách thức, kỹ xảo,
thao tác,… được sử dụng trong quá trình sáng tạo ra các QPPL, các chế định PL
có chất lượng cao Vấn đề này cũng đã được nghiên cứu khá nhiều ở trong nước
và ngoài nước mà bây giờ cần tiếp tục nghiên cứu trên một bình diện mới của nó
là cải tiến, nâng cao kỹ thuật XDPL phục vụ việc lồng ghép nội dung PTBV vào
các giai đoạn của quá trình XDPL Đây là một vấn đề mới của Đề tài Cần
nghiên cứu, phân tích làm rõ cần nâng cao trình độ kỹ thuật gì và nâng cao như thế nào để phục vụ có hiệu quả việc lồng ghép nội dung PTBV vào quá trình XDPL Qua tìm hiểu thấy rằng, ở nước ngoài, việc lồng ghép nội dung PTBV vào quá trình XDPL chưa được KH pháp lý nghiên cứu, tổng kết về mặt lý luận Cũng có thể trên thực tế có nước này hoặc nước kia đã áp dụng Do đó, Đề tài cũng đặt ra nhiệm vụ phải nghiên cứu, tìm hiểu một cách thận trọng, và nếu có nước nào đó đã hoặc đang làm thì ta có thể học tập được kinh nghiệm gì ở họ
Đây vừa là một nhiệm vụ vừa là một vấn đề mới của Đề tài
Về hoàn thiện PL về XDPL Cần nghiên cứu làm rõ sự cần thiết và nội dung
của việc đổi mới, hoàn thiện PL về XDPL trước yêu cầu đảm bảo nội dung PTBV Về thực chất, đó là đổi mới, hoàn thiện các quy định PL hiện hành về trình tự, thủ tục soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, thảo luận và thông qua các VBQPPL, sao cho nội dung PTBV được lồng ghép vào các giai đoạn nêu trên Cụ thể là cần xác lập luận cứ KH cho việc hoàn thiện các quy định có liên quan, được thể hiện trong Luật ban hành VBQPPL năm 2008 và Luật ban
hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004 Đây cũng là một vấn đề mới
cần nghiên cứu của Đề tài
+ Ở cấp độ cụ thể, gồm các giải pháp sẽ được áp dụng trong từng khâu của quy trình XD các VBQPPL do PL quy định về các lĩnh vực QHXH mà PL điều chỉnh Các giải pháp này được đề xuất xuất phát từ vị trí, tính chất, đặc điểm, vai trò và mục đích của từng giai đoạn trong quy trình về XD các VBQPPL được quy định trong Luật ban hành VBQPPL năm 2008 và Luật ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004 Ngoài ra, việc XD các giải pháp đó còn phải căn
Trang 33cứ vào tính chất, đặc điểm, nội dung và yêu cầu PTBV của bản thân mỗi lĩnh vực QHXH được PL điều chỉnh (đó là các lĩnh vực KT, TC-NH, ĐĐ, MT, LĐ-VL, ASXH, CSSK&BVSKND, BĐG, VH, GD, KH – CN, AN-QP, ĐN)
Đây là những vấn đề mới của Đề tài
1.6.2 CÁC CHUYÊN ĐỀ CỦA ĐỀ TÀI
1.6.2.1 Các chuyên đề về những vấn đề lý luận của việc đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam trong điều kiện đổi mới, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế
Chuyên đề 1: Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về phát triển bền vững và xây dựng pháp luật phục vụ phát triển bền vững ở Việt Nam trong điều kiện đổi mới và hội nhập quốc tế
Chuyên đề 2: Hoạt động xây dựng pháp luật trước yêu cầu phát triển bền vững của Việt Nam hiện nay
Chuyên đề 3: Cách thức xác định nội dung phát triển bền vững của pháp luật và lồng ghép chúng vào quá trình xây dựng pháp luật ở nước ta hiện nay Chuyên đề 4: Các tiêu chuẩn đánh giá mức độ đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong hoạt động xây dựng pháp luật của Việt Nam hiện nay
Chuyên đề 5: Hài hòa hóa giữa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế trong việc đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong hoạt động xây dựng pháp luật của Việt Nam hiện nay
1.6.2.2 Các chuyên đề về đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong hoạt động xây dựng pháp luật về kinh tế, tài chính- ngân hàng, đất đai, môi trường
Chuyên đề 6: Hoạt động xây dựng pháp luật về kinh tế trước yêu cầu đảm
bảo phát triển bền vững của Việt Nam trong điều kiện đổi mới và hội nhập quốc tế
Chuyên đề 7: Hoạt động xây dựng pháp luật về tài chính - ngân hàng trước yêu cầu đảm bảo phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay
Chuyên đề 8: Kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế với đảm bảo tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường trong hoạt động xây dựng pháp luật về đất đai ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Trang 34Chuyên đề 9: Đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong hoạt động xây dựng pháp luật về môi trường ở Việt Nam trong điều kiện đổi mới và hội nhập quốc tế
1.6.2.3 Các chuyên đề về đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong hoạt động xây dựng pháp luật về lao động - việc làm, an sinh xã hội, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, bình đẳng giới
Chuyên đề 10: Đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong hoạt động xây dựng pháp luật về lao động - việc làm ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế
Chuyên đề 11: Đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong hoạt động xây dựng pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay
Chuyên đề 12: Đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong hoạt động xây dựng pháp luật về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân ở Việt Nam hiện nay
Chuyên đề 13: Đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong hoạt động xây dựng pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay
1.6.2.4 Các chuyên đề về đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong hoạt động xây dựng pháp luật về văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ
Chuyên đề 14: Đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong hoạt động xây dựng pháp luật về văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Chuyên đề 15: Đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong hoạt động xây dựng pháp luật về giáo dục ở Việt Nam hiện nay
Chuyên đề 16: Lồng ghép "phát triển bền vững" vào hoạt động xây dựng pháp luật về khoa học - công nghệ của Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 351.6.2.5 Các chuyên đề về đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong hoạt động xây dựng pháp luật về an ninh - quốc phòng, đối ngoại
Chuyên đề 17: Hoạt động xây dựng pháp luật về an ninh - quốc phòng
trước yêu cầu đảm bảo phát triển bền vững của nước ta hiện nay
Chuyên đề 18: Hoạt động xây dựng pháp luật về đối ngoại trước yêu cầu đảm bảo phát triển bền vững của nước ta trong giai đoạn hiện nay
1.7 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CỤ THỂ CỦA ĐỀ TÀI
1.7.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về PTBV ở Việt Nam hiện nay Vận dụng phương pháp luận KH này, các vấn đề về đảm bảo PTBV trong HĐXDPL sẽ được xem xét dưới ánh sáng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đây là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho việc nghiên cứu đề tài đi đúng hướng về mặt lý luận
1.7.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỤ THỂ CỦA ĐỀ TÀI
- Phân tích - tổng hợp Nhờ việc vận dụng phương pháp nghiên cứu này mà
tất cả các vấn đề lớn của đề tài đều được tách ra thành từng vấn đề nhỏ để nghiên cứu nhằm hiểu sâu sắc đến tận gốc rễ của vấn đề nhỏ Sau đó tiến hành kết nối các vấn đề nhỏ đó lại với nhau nhằm thấy được sự liên hệ chặt chẽ và sự tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng, nhờ đó mà chúng ta nhận thức được vấn đề lớn một cách đúng đắn, đầy đủ, sâu sắc, toàn diện
- So sánh Đây là phương pháp nghiên cứu rất quan trọng, được vận dụng
để nghiên cứu so sánh việc đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL ở nước
ta qua các thời kỳ lịch sử, nhằm vừa thấy được những đặc điểm chung của việc đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL trong suốt chiều dài lịch sử, vừa hiểu được các đặc điểm riêng của việc đảm bảo đó trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử Chẳng hạn, so sánh giữa thời kỳ chưa đổi mới với thời
kỳ có đổi mới, thậm chí giữa các giai đoạn trong một thời ký, như giai đoạn
từ năm 1986 (năm bắt đầu đường lối đổi mới) tới năm 1992 với giai đoạn từ
Trang 36năm 1992 đến nay, khi yêu cầu lồng ghép nội dung PTBV trong HĐXDPL đã trở nên vô cùng cấp bách Bên cạnh đó, phương pháp so sánh còn được sử dụng để so sánh giữa nước ta với các nước trong khu vực và các nước khác trên thế giới về việc đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL, qua đó cũng thấy được giữa nước ta với các nước có cái chung, cái riêng, cái đặc thù, cái được, cái chưa được
- Điều tra, khảo sát thực tiễn Phương pháp này được vận dụng để thu thập
được các số liệu thống kê thực tiễn, dư luận và sự đánh giá của XH đối với các vấn đề được nghiên cứu Thông thường, phương pháp điều tra, khảo sát được tiến hành dưới các hình thức như ký kết các hợp đồng cung cấp số liệu
và tư liệu, phỏng vấn trực tiếp các đối tượng có liên quan, phát phiếu hỏi,…
- Thống kê Thống kê là phương pháp nghiên cứu được sử dụng để tập hợp
các số liệu, tư liệu theo một trình tự nhất định mà trình tự này dựa trên các tiêu chí nhất định, nhằm phục vụ cho việc theo dõi, phân tích, đánh giá sự vật
Đề tài để làm tư liệu hoàn thành các chuyên đề nghiên cứu của mình Các kết quả trung gian này cũng sẽ được lựa chọn, biên tập lại để đăng trên các tạp chí chuyên ngành phục vụ việc nâng cao nhận thức và kiến thức cho cán bộ và nhân dân về những vấn đề được nghiên cứu của Đề tài, tạo ra các “kênh” thảo luận, thu hút những ý kiến, quan điểm, sự bình luận từ mọi đối tượng quan tâm đến Đề tài Sau khi hoàn thành việc nghiên cứu Đề tài, các kết quả nghiên cứu sẽ được chuyển giao cho Thư viện Bộ tư pháp (Bộ TP) làm tư liệu tham khảo chung cho mọi đối tượng có quan tâm Các kết quả nghiên cứu của Đề tài cũng sẽ được chuyển giao cho Thư viện Trường Đại học luật Hà Nội để làm tư liệu tham khảo cho cán bộ, giáo viên, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh; cho Trung tâm thông tin của Văn phòng QH (VPQH) để làm tài liệu tham khảo cho các đại biểu QH (ĐBQH)
Trang 37Những kết quả nghiên cứu của Đề tài cũng sẽ được Ban chủ nhiệm Đề tài xem xét, lựa chọn cho xuất bản thành các sách chuyên khảo, tham khảo nhằm phục vụ đông đảo cán bộ nghiên cứu KH, cán bộ làm công tác đào tạo, cán bộ hoạt động thực tiễn và các đối tượng khác có quan tâm đến các vấn đề nghiên cứu của Đề tài Bởi là một đề tài KH có tính ứng dụng và tính thực tiễn cao, cho nên các kiến nghị KH của Đề tài về đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL có thể sẽ được các CQ, tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình XDPL vận dụng ngay, góp phần quan trọng vào việc triển khai thực hiện Chiến lược XD và hoàn thiện HTPL Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 theo tinh thần Nghị quyết số 48 ngày 24 - 5 - 2005 của Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương (BCHTƯ) Đảng cộng sản Việt Nam
1.9 CÁC LỢI ÍCH MANG LẠI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
- Đối với việc XD, hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng, PL của NN:
Những kết quả nghiên cứu đề tài sẽ cung cấp luận cứ KH cho Đảng tiếp tục
hoàn thiện đường lối, CS PT đất nước theo hướng bền vững, nhất là XD Chủ thuyết PT Việt Nam trong điều kiện đổi mới, PTBV và HN QT; cho NN tiếp
tục đổi mới nội dung của PL, sao cho PL chứa đựng được các yếu tố PT đất nước bền vững, cải tiến quy trình XDPL sao cho bảo đảm được yêu cầu PTBV đất nước Một khi được vận dụng trong XDPL, các kết quả nghiên cứu
đề tài còn được coi là một điều kiện bảo đảm và phát huy “tính bền vững” của chính bản thân PL, bởi vì PL mới – với tư cách là sản phẩm của quá trình XDPL có tính tới yếu tố PTBV của đất nước, một khi nó phản ánh được ý chí, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân thì sẽ được cả XH thường xuyên tự giác thực hiện, và như vậy, PL sẽ tồn tại lâu dài trong đời sống XH
- Đối với việc PT KT - XH: Khi được thực hiện thành công, các kết quả
nghiên cứu của Đề tài sẽ được vận dụng vào việc XD, hoàn thiện, phát huy đường lối, CS, PL phát triển KT - XH theo hướng vừa nhanh vừa bền vững, trong đó, kết hợp được chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng KT với bảo đảm TBXH, CBXH và BVMT, góp phần củng cố, tăng cường AN-QP và mở rộng quan hệ, hợp tác QT
Trang 38- Đối với nơi ứng dụng các kết quả nghiên cứu Đề tài: Địa chỉ ứng dụng là
các CQ, tổ chức, cá nhân tham gia vào qúa trình XD đường lối, CS của Đảng,
PL của NN Những kết quả nghiên cứu đề tài không chỉ giúp họ có được sự nhận thức đầy đủ, toàn diện, sấu sắc về định hướng XD, hoàn thiện đường lối,
CS, PL dựa trên nguyên tắc PTBV, mà còn trang bị cho họ những tri thức, kỹ năng cần thiết về phương pháp (cách thức, phương thức) đưa nội dung PTBV vào hoạt động XD, hoàn thiện đường lối, CS, PL, nhằm đưa lại sản phẩm có chất lượng cao là đường lối, CS, PL đảm bảo yêu cầu PTBV đất nước
- Đối với việc PT lĩnh vực KH có liên quan: Các kết qủa nghiên cứu Đề tài
sẽ góp phần hoàn thiện thêm tri thức KH về đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, PTBV và HNQT
- Đối với công tác đào tạo cán bộ KH (kể cả việc nâng cao năng lực nghiên
cứu của các cá nhân và tập thể KH thông qua việc thực hiện Đề tài): Quá trình nghiên cứu Đề tài sẽ góp phần trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực nghiên cứu và giảng dạy của đội ngũ giáo viên Trường Đại học luật Hà Nội
và của cán bộ các tổ chức phối hợp chính nghiên cứu Đề tài Việc ứng dụng kết qủa nghiên cứu Đề tài vào giảng dạy tại các cơ sở đào tạo đại học luật, đào tạo nghề luật, Trung tâm bồi dưỡng ĐBQH, các lớp tập huấn của Bộ TP cho cán bộ pháp chế bộ, ngành cũng là các kênh đào tạo
2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ĐẢM BẢO YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1.1 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ XÂY DỰNG PHÁP LUẬT PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
2.1.1.1 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về phát triển bền vững ở Việt Nam
- Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về phát triển đất nước theo hướng bền vững đã có từ rất sớm, đặc biệt là từ Đại hội VI của Đảng năm
1986 Đại hội VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước,
Trang 39trong đó có đổi mới tư duy PT đất nước theo hướng bền vững Báo cáo của BCHTƯ Đảng khóa V tại Đại hội VI của Đảng yêu cầu: "Cần thể hiện đầy đủ
trong thực tế quan điểm của Đảng và NN về sự thống nhất giữa CSKT và CSXH, khắc phục thái độ coi nhẹ CSXH, tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp XD chủ nghĩa xã hội (CNXH)" 1 Báo cáo nhấn mạnh mối quan hệ giữa CSKT và CSXH: "Trình độ PTKT là điều kiện vật chất để thực hiện CSXH, nhưng những mục tiêu XH lại là mục đích của hoạt động KT Ngay trong khuôn khổ của hoạt động KT, CSXH có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất LĐ, chất lượng sản phẩm, là một nhân tố quan trọng để PT SX Do
đó, cần có CSXH cơ bản, lâu dài và xác định được những nhiệm vụ, mục tiêu phù hợp với yêu cầu, khả năng trong chặng đường đầu tiên" 2 Về TN & MT,
Báo cáo của BCHTƯ Đảng về phương hướng, mục tiêu chủ yếu PT KT, XH trong 5 năm 1986 - 1990 nhấn mạnh phải "XD và bảo vệ vốn rừng hiện có,
làm cho vốn rừng không ngừng tăng lên, thực hiện các biện pháp toàn diện nhằm chấm dứt nạn phá rừng, cháy rừng" 3; "có kế hoạch XD, cải tạo một phần rừng tự nhiên thành rừng KT;…BVMT sống" 4 Một trong những điểm cần chú ý trong quan điểm của Đảng tại Đại hội VI của Đảng về PT đất nước theo hướng bền vững là đi đôi với PTKT - XH và BVMT phải luôn luôn quan tâm tới PT VH, GD, KH - CN và tăng cường QP và giữ vững AN chính trị, TTATXH Quan điểm này của Đảng xuất phát từ thực tế khách quan là nước
ta từ một nước kém PT đi lên XD CNXH và kẻ thù ở nước ngoài thường xuyên cấu kết với những phần tử phản động ở trong nước phá hoại sự ổn định
và công cuộc XD hòa bình của nhân dân Từ đây, chúng ta có thể nhận thức rằng để đất nước PTBV thì phải đồng thời PT KT - XH, BVMT, PT VH , GD,
KH- CN, củng cố AN-QP Đây là một trong những đặc điểm cơ bản của PTBV ở Việt Nam
- Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về PTBV được bổ sung, phát triển trong Đại hội Đảng lần thứ VII năm 1991 Báo cáo chính trị của BCHTƯ Đảng khóa VI tại Đại hội VII của Đảng đã đưa ra phương hướng,
1 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội,
1987, tr 86.
2 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, sách đã dẫn, tr 86
3 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, sách đã dẫn, tr 161.
4 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, sách đã dẫn, tr 162
Trang 40nhiệm vụ PT KT - XH 5 năm 1991 - 1995, trong đó đề cập những vấn đề cốt
lõi của PTBV: bảo đảm PTKT với PTXH; coi trọng BVMT Báo cáo của BCHTƯ khóa VI về các Văn kiện của Đại hội VII của Đảng tiếp tục nhấn
mạnh nhân tố con người trong sự nghiệp PT đất nước bằng việc đặt con người vào vị trí trung tâm của sự nghiệp PT KT-XH: "Sự nghiệp PT KT đặt con người vào vị trí trung tâm, thống nhất tăng trưởng KT với CB và TBXH" 5 Đại hội VII của Đảng đã phát triển tư tưởng của Đại hội VI về PTBV đất nước bằng nhiều quan điểm mới về bảo đảm PT SX ổn định, bảo đảm tiến bộ (TB) và CBXH và về các biện pháp khai thác, sử dụng tài TNTN, BVMT sinh thái và gắn kết chặt chẽ giữa việc bảo vệ TN, MT với PT KT So với Đại hội
VI thì nội dung tư tưởng của Đại hội VII về PTBV đất nước đã rõ ràng, cụ thể và đầy đủ hơn Mặc dù Đại hội sử dụng từ "vững chắc" trong Cương lĩnh
của Đảng nhưng nội dung của nó thì tương đồng với yêu cầu của PTBV Tuy
vậy, cũng nhận thấy một điều là Đại hội vẫn còn chưa đặt thẳng vấn đề PTBV đất nước, khái niệm PTBV chưa được chính thức sử dụng trong văn kiện Đại hội và Đại hội còn chưa gắn chặt vấn đề BVMT vào PT KT và PT XH
- Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về PTBV được bổ sung, PT trong và sau Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996
+ Trong Đại hội Đảng lần thứ VIII: Báo cáo của BCHTƯ Đảng khoá VII
về các văn kiện trình Đại hội VIII của Đảng đã tổng kết 10 năm đổi mới và
đưa ra 6 bài học kinh nghiệm, trong đó có vấn đề PTBV: "Tăng trưởng KT gắn liền với TB và CBXH, giữ gìn và phát huy bản sắc VH dân tộc, BVMT sinh thái" 6 Đây là lần đầu tiên Đảng đưa ra cụm từ tổng hợp này chứa đựng
3 yếu tố của khái niệm PTBV là tăng trưởng KT, TBXH và CBXH và BVMT
Một trong 5 tư tưởng chỉ đạo có tính nguyên tắc về thực hiện kế hoạch PT KT
- XH mà Báo cáo nêu ra là "kết hợp hài hoà tăng trưởng KT với phát triển
XH, tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc nhằm tạo được chuyển biến rõ
về thực hiện TB và CBXH" 7 Ở đây, Báo cáo đã bổ sung từ "hài hoà" sau