1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài : So sánh pháp luật hình sự một số nước ASEAN

362 1,8K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh pháp luật hình sự một số nước ASEAN
Tác giả Nhóm tác giả đề tài
Người hướng dẫn TS. Phạm Văn Lợi, ThS. Nguyễn Văn Cương
Trường học Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp
Chuyên ngành Luật hình sự
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 362
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài : So sánh pháp luật hình sự một số nước ASEAN thuộc công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ

CÔNG TRÌNH NHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU, SO SÁNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

CỦA MỘT SỐ NƯỚC ASEAN

Chủ nhiệm đề tài: TS Phạm Văn Lợi

Viện trưởng Viện khoa học quản lý môi trường

Thư ký đề tài: ThS Nguyễn Văn Cương

8225

Hà Nội – Tháng 1/2010

Trang 2

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I BAN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

1 Chủ nhiệm: TS Phạm Văn Lợi

Viện trưởng Viện Khoa học quản lý môi trường

2 Thư ký: ThS Nguyễn Văn Cương

Phó trưởng ban Dân sự kinh tế, Viện Khoa học pháp lý

II DANH SÁCH CỘNG TÁC VIÊN CHÍNH

1 TS Trần Mạnh Đạt Trưởng ban Tư pháp hình sự, Viện Khoa

học pháp lý

2 ThS Nguyễn Văn Hiển Phó Trưởng ban Tư pháp hình sự, Viện

Khoa học pháp lý

3 ThS Lê Tuấn Sơn Tổ phó Tổ 30 Bộ Tư pháp

4 ThS Nguyễn Minh Khuê Nghiên cứu viên, Viện Khoa học pháp lý

5 ThS Nguyễn Mạnh Cường Nghiên cứu viên, Viện Khoa học pháp lý

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN I: BÁO CÁO PHÚC TRÌNH

Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ 5 QUỐC GIA ASEAN 5

I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ 5 QUỐC GIA ASEAN 6

II GIỚI THIỆU CHUNG VỀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ 5 QUỐC GIA ASEAN 11

Chương 2 NGHIÊN CỨU, SO SÁNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ 5 QUỐC GIA ASEAN: PHẦN CÁC QUY ĐỊNH CHUNG 22

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 22

1 Đối tượng áp dụng của pháp luật hình sự. 22

2 Nguyên tắc pháp chế trong việc áp dụng pháp luật hình sự 25

II CHẾ ĐỊNH TỘI PHẠM VÀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 27

1 Pháp luật Thái Lan 27

2 Pháp luật Philippines 33

3 Pháp luật Malaysia 41

4 Pháp luật Singapore 49

5 Pháp luật Indonesia 55

III HỆ THỐNG HÌNH PHẠT 58

1 Pháp luật Thái Lan 59

2 Pháp luật Philippines 64

3 Pháp luật Malaysia 78

4 Pháp luật Singapore 80

5 Pháp luật Indonesia………84

Chương 3 NGHIÊN CỨU, SO SÁNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ 5 QUỐC GIA ASEAN: PHẦN CÁC TỘI PHẠM CỤ THỂ 89

I CÁC TỘI XÂM PHẠM AN NINH QUỐC GIA 89

II CÁC TỘI VỀ CÔNG VỤ 92

III CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE 97

IV CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO CÁ NHÂN 102

1 Pháp luật Thái Lan 103

2 Pháp luật Philippines 109

3 Pháp luật Malaysia 112

4 Pháp luật Singapore 114

Trang 4

5 Pháp luật Indonesia 118

V CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU 122

VI CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ 128

1 Pháp luật Thái Lan 129

2 Pháp luật Philippines 135

3 Pháp luật Malaysia 139

4 Pháp luật Singapore 145

5 Pháp luật Indonesia 153

VII TỘI PHẠM VỀ MÔI TRƯỜNG 154

1 Pháp luật Thái Lan 155

2 Pháp luật Philippines 157

3 Pháp luật Malaysia 161

4 Pháp luật Singapore 163

5 Pháp luật Indonesia 165

Chương 4 NHẬN XÉT, KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 168

I VỀ NGUỒN CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ 168

II VỀ CHẾ ĐỊNH TỘI PHẠM VÀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 170

III VỀ HỆ THỐNG HÌNH PHẠT 171

IV VỀ MỘT SỐ TỘI PHẠM CỤ THỂ 172

1 Các tội xâm phạm an ninh quốc gia 172

2 Các tội về công vụ 172

3 Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe 173

4 Về các tội xâm phạm tự do cá nhân 174

5 Các tội xâm phạm sở hữu 175

6 Các tội xâm phạm về trật tự quản lý kinh tế 176

7 Tội phạm về môi trường 177

V MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 177

PHẦN II: HỆ CHUYỂN ĐỀ CỦA ĐỀ TÀI CHUYÊN ĐỀ 1 PHÁP LUẬT HÌNH SỰ CỦA THÁI LAN ThS Nguyễn Văn Cương- Viện Khoa học pháp lý 186

CHUYÊN ĐỀ 2 PHÁP LUẬT HÌNH SỰ CỦA MALAISIA ThS Nguyễn Văn Cương - Viện Khoa học pháp lý 209

Trang 5

CHUYÊN ĐỀ 3 ĐÁNH GIÁ, SO SÁNH CHẾ ĐỊNH TỘI PHẠM TRONG PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ NƯỚC ASEAN

ThS Lê Tuấn Sơn - Bộ Tư pháp 228

CHUYÊN ĐỀ 4 HỆ THỐNG HÌNH PHẠT TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ CỦA MỘT SỐ NƯỚC ASEAN

TS Phạm Văn Lợi - Viện Khoa học quản lý môi trường 262

CHUYÊN ĐỀ 5 PHÂN TÍCH QUI ĐỊNH VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ

DO CỦA CÔNG DÂN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ CỦA MỘT SỐ NƯỚC ASEAN

ThS Lê Tuấn Sơn - Bộ tư pháp 292

CHUYÊN ĐỀ 6 PHÂN TÍCH QUI ĐỊNH VỀ CÁC TỘI PHẠM XÂM PHẠM TRẬT

TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ CỦA MỘT SỐ NƯỚC ASEAN

Ths Nguyễn Văn Cương - Viện Khoa học pháp lý 314

CHUYÊN ĐỀ 7 PHÂN TÍCH QUI ĐỊNH VỀ TỘI PHẠM MÔI TRƯỜNG TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ CỦA MỘT SỐ NƯỚC ASEAN

TS Phạm Văn Lợi - Viện Khoa học quản lý môi trường 342

Trang 6

Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ 5 QUỐC GIA ASEAN

Thực hiện nhiệm vụ được giao về việc nghiên cứu, so sánh pháp luật hình

sự một số quốc gia ASEAN, trên cơ sở cân nhắc tình hình của 10 quốc gia ASEAN1 cũng như dựa vào những nguồn tư liệu có thể tiếp cận được2 và trong phạm vi nguồn lực có hạn, Ban Chủ nhiệm đề tài đã quyết định chọn lựa 5 quốc gia tiêu biểu nhất để tiến hành nghiên cứu gồm: Thái Lan, Malaysia, Philippines, Indonesia và Singapore

Đây là 5 thành viên sáng lập Hiệp hội ASEAN3 và trong một thời gian dài, họ cũng là 5 trong số những thành viên chủ chốt nhất của Hiệp hội Năm quốc gia này cũng có những đặc điểm về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và lịch sử rất đặc trưng cho khối ASEAN

Nội dung nghiên cứu, so sánh bao gồm cả các quy định chung của pháp luật hình sự và một số chế định tội phạm căn bản nhất4 trong pháp luật hình sự của các quốc gia này

Tất nhiên, với tư cách là một đề tài nghiên cứu tiến hành bởi nhóm cán bộ nghiên cứu của Việt Nam – một thành viên Hiệp hội ASEAN, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi thường xuyên có sự so sánh, đối chiếu pháp luật của các quốc gia được nghiên cứu với chính các quy định tương ứng trong pháp luật Việt Nam để hiểu rõ hơn điểm tương đồng, khác biệt của các hệ thống pháp luật trong cộng đồng ASEAN

1 Trước đây (trước năm 1999), khu vực Đông Nam Á được quan niệm gồm 10 quốc gia: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Brunei, Indonesia, Philippines và Myanmar Kể từ khi Đông Timo tách khỏi Indonesia để thành một quốc gia độc lập, hiện nay, khu vực Đông Nam Á có tất cả 11 nước (gồm 10 quốc gia trước đây và Đông Timor) Tuy nhiên, Hiệp hội các quốc gia ASEAN chỉ gồm 10 quốc gia Đông Nam

Á trước đây vì Đông Timor chưa gia nhập Hiệp hội này

2 Nguồn tư liệu này chúng tôi khai thác từ các cơ sở dữ liệu trên Internet (gồm cả cơ sở dữ liệu miễn phí và cơ sở

dữ liệu phải trả tiền) cũng như thông qua các mối quan hệ nghiên cứu để thu thập, củng cố tư liệu nghiên cứu cho Đề tài Nhân đây, chúng tôi xin trân thành cảm ơn giáo sư Andrew Harding, Khoa Luật Đại học Victoria, một trong những chuyên gia quốc tế hàng đầu về pháp luật các nước Đông Nam Á đã tạo điều kiện chia sẻ nguồn

tư liệu pháp luật về các nước Đông Nam Á mà giáo sư sau hàng chục năm chuyên nghiên cứu về pháp luật các nước trong khu vực Đông Nam Á đã thu thập được

3 Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967 bởi 5 quốc gia sáng lập là: Thai Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia và Philippines (http://en.wikipedia.org/wiki/ASEAN)

4 Gồm các chế định cơ bản như: các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, các tội phạm về công chức, công vụ, các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của công dân, các tội xâm phạm quyền tài sản và sở hữu của công dân, các tội trong lĩnh vực kinh tế và các tội trong lĩnh vực môi trường

Trang 7

I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ 5 QUỐC GIA ASEAN

Trong 5 quốc gia được chọn để nghiên cứu trong đề tài này, xét về kinh

tế, Singapore là quốc gia có GDP bình quân đầu người cao nhất, vào khoảng 52

ngàn USD (tính theo sức mua tương đương) Hiện nay, Singapore đã được coi thuộc về “thế giới thứ nhất” (nước phát triển) trong khi đó, các quốc gia còn lại vẫn chỉ được coi là các nước đang phát triển (Indonesia và Philippines) hoặc ở trình độ phát triển trung bình (Thái Lan và Malaysia) Tổng sản lượng bình quân đầu người5 của Philippines năm 2008 là 3.300 USD6, của Indonesia là 3.900USD, của Thái Lan là 8.500 USD, của Malaysia là 15.300 USD và của Singapore là 52.000 USD7

Về diện tích, trong khi Singapore có diện tích chỉ là 697km2, 4 nước còn lại đều là quốc gia có diện tích ngang hoặc hơn diện tích của Việt Nam Cụ thể, Philippines có diện tích 300.000km2, Malaysia có diện tích 329.487km2, Thái Lan có diện tích 513.120km2 và Indonesia có diện tích lớn nhất 1.904.569km2

Về dân số, nói chung, ngoại trừ Singapore là một quốc đảo với dân số chưa đến 5 triệu người, các quốc gia còn lại đều có một số dân tương đối lớn Cụ thể, Malaysia có 25,7 triệu dân, Thái Lan có 65,9 triệu dân, Philippines có 97,9 triệu dân và Indonesia có tới 240,2 triệu dân (xem bảng 1)

5 Tất cả đều tính theo phương pháp tính sức mua tương đương

6 Con số tương ứng của Việt Nam mới là 2.800 USD

7 Con số tương ứng của Hoa Kỳ chỉ có 47.000 USD, của Anh là 36.600 USD, của Pháp là 32.700 USD và của Nhật là 34.200 USD, Thụy Điển là 38.500 USD

Trang 8

Bảng 1: Thông tin chung về 5 quốc gia ASEAN8

Quốc gia Diện tích

(km 2 )

Dân số (triệu người - Tháng 7/2009)

GDP chính thức/GDP tính theo sức mua tương đương (tỷ USD- 2008)

GDP/đầu người tính theo sức mua tương đương (USD- 2008)

Từng là thuộc địa của

4/7/1946

8 Số liệu trích dẫn từ nguồn World Fact Book (https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/geos/th.html) (truy cập ngày 29/8/2009) Các số liệu được ước tính vào tháng 7/2009

Trang 9

Về sắc tộc, các quốc gia được nghiên cứu đều là quốc gia đa sắc tộc Chẳng hạn, theo điều tra dân số tiến hành năm 2000, ở Indonesia, tỷ lệ sắc dân sống ở quốc gia này như sau: Javanese 40.6%, Sundanese 15%, Madurese 3.3%, Minangkabau 2.7%, Betawi 2.4%, Bugis 2.4%, Banten 2%, Banjar 1.7%, các sắc dân khác 29.9%9 Tại Thái Lan, người Thái chiếm tới 75% dân số, người gốc Hoa chiếm 14% dân số, những sắc dân khác chiếm 11% Tại Malaysia, theo ước tính vào năm 2004, người Malay chiếm 50,4% tổng số dân, người gốc Hoa chiếm 23,7%, người bản địa (sắc tộc thiểu số) chiếm 11%, người gốc Ấn chiếm 7,1% dân số và 7,8% tổng số dân là người thuộc các sắc tộc khác10 Tại Singapore, theo điều tra dân số năm 2000, số người gốc Hoa chiếm tới 76,8%, người Malay chiếm 13,9%, người gốc Ấn chiếm 7,9% và người thuộc sắc dân khác chiếm 1,4%11 Tại Philippines, theo điều tra dân số năm 2000, tỷ lệ người dân thuộc các sắc tộc khác nhau như sau: người Tagalog 28.1%, người Cebuano 13.1%, người Ilocano 9%, người Bisaya/Binisaya 7.6%, người Hiligaynon Ilonggo 7.5%, người Bikol 6%, người Waray 3.4%, các sắc dân khác 25.3%12

Về tôn giáo, các quốc gia được nghiên cứu đều là các quốc gia đa tôn giáo Tuy nhiên, mức độ ưu trội của một tôn giáo nhất định ở mỗi quốc gia là không giống nhau Chẳng hạn, tại Thái Lan, theo điều tra dân số năm 2000, có tới 94,6% người theo đạo Phật, 4,6% người theo đạo Hồi, chỉ có 0,7% người theo đạo Thiên chúa và 0,1% người theo các tôn giáo khác hoặc không theo tôn giáo nào13 Tại Indonesia, theo điều tra dân số năm 2000, có tới 86,1% người theo đạo Hồi, 5,7% người theo đạo Tin Lành, 3% theo đạo Công giáo (La Mã), 1,8% người theo đạo Hindu và 3,4% số dân còn lại theo tôn giáo khác hoặc không theo tôn giáo nào14 Tại Malaysia, theo điều tra dân số vào năm 2000, số người theo đạo Hồi chiếm tới 60,4% dân số, số người theo đạo Phật chiếm 19,2% dân số, số người theo đạo Thiên chúa chiếm 9,1% dân số, số người theo

Trang 10

các tôn giáo truyền thống của Trung Quốc (Đạo giáo và các loại đạo khác) chiếm 2,6%, số người theo các tôn giáo khác là 1,5% và số người không theo tôn giáo nào là 0,8%15 Tại Singapore, theo điều tra dân số năm 2000, số người theo Đạo Phật chiếm 42,5% dân số, số người theo đạo Hồi chiếm 14,9% dân số,

số người theo Đạo giáo chiếm 8,5% dân số, số người theo đạo Hindu chiếm 4% dân số, số người theo đạo Công giáo (La Mã) chiếm 4,8% dân số, số người theo các nhánh Thiên chúa giáo khác chiếm 9,8% dân số, số người theo các loại tôn giáo khác là 0,7% và số người không theo tôn giáo nào là 14,8%16 Tại Philippines, theo điều tra dân số năm 2000, tỷ lệ người theo các loại tôn giáo khác nhau cụ thể như sau: người theo Công giáo (La Mã) 80.9%, người theo đạo Hồi 5%, người theo Anh giáo 2.8%, người theo đạo Iglesia ni Kristo 2.3%, người theo đạo Aglipayan 2%, người theo nhánh Thiên chúa giáo khác 4.5%, người theo tôn giáo khác 1.8%, còn lại là người không theo tôn giáo hoặc không xác định tôn giáo cụ thể (0,7%)17

Nhìn lại lịch sử, nhìn chung, cũng giống như nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, hầu hết các quốc gia được nghiên cứu (ngoại trừ Thái Lan) đều trải qua thời kỳ bị thực dân phương Tây xâm lược (giai đoạn thực dân hóa) Trước thời kỳ bị thực dân phương Tây đô hộ, các quốc gia này thường thiết lập chế độ phong kiến hoặc chế độ thần quyền Chẳng hạn, về mặt lịch sử, Philippine từng là thuộc địa của thực dân Tây Ban Nha trong hơn 300 năm (từ năm 1565 đến năm 1898) Sau đó, Philippine trở thành thuộc địa của Hoa Kỳ cho tới sau Thế chiến thứ 218

Indonesia là thuộc địa của Hà Lan trong hơn 300 năm từ năm 1602 cho tới tận những năm cuối thập niên 1930 khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra và Nhật Bản đã giành thuộc địa này của Hà Lan về tay mình Tháng 8/1945, dưới

sự lãnh đạo của ông Sukarno, Indonesia đã giành lại nền độc lập của mình ngay

Trang 11

sau khi phát xít Nhật thua trận và tuyên bố đầu hàng đồng minh Tuy nhiên, Hà Lan và nhiều quốc gia Tây Phương đã không công nhận nền độc lập này Ngay sau thế chiến thứ hai, Hà Lan đã có các hoạt động nhằm tái chiếm Indonesia làm thuộc địa Trước sự kháng cự của người Indonesia và áp lực của cộng đồng quốc

tế, nỗ lực này của Hà Lan đã bất thành Tháng 12/1949, Hà Lan phải chính thức công nhận nền độc lập của Indonesia

Di sản của thời kỳ bị thực dân hóa này vẫn rất đậm nét, nhất là trong lĩnh vực pháp luật Chẳng hạn, do ảnh hưởng của Anh trong suốt hàng trăm năm đô

hộ, cho đến nay, hệ thống pháp luật của Malaysia và Singapore vẫn là hệ thống luật án lệ - giống với hệ thống pháp luật của nước Anh Hệ thống pháp luật của Philippines thì có sự kết hợp của cả truyền thống pháp luật Tây Ban Nha lại vừa

có dáng dấp ảnh hưởng bởi pháp luật của Hoa Kỳ Chính vì thế, tuy luật thành văn là nguồn luật chính ở Philippines, án lệ (nhất là án lệ của Tòa Tối cao trong các vụ việc liên quan đến việc giải thích Hiến pháp) cũng là một nguồn luật được công nhận chính thức19 Pháp luật của Indonesia thì vẫn mang dấu ấn của

hệ thống luật thành văn theo mô hình của Hà Lan20 Riêng trường hợp của Thái Lan, tuy không bị “thực dân hóa”, nhưng trước sức ép của các thế lực thực dân phương Tây trong thế kỷ 19, quốc gia này đã buộc phải “hiện đại hóa” hệ thống pháp luật (mà kỳ thực là “phương Tây hóa” hệ thống pháp luật của mình) Mô hình pháp luật của quốc gia này về cơ bản là hệ thống luật thành văn của Châu

Hà Lan, chính quyền thuộc địa tại nước này đã áp dụng 2 loại quy định luật hình

sự khác nhau cho 2 nhóm dân: dân bản địa (người Indonesia) và người đến từ

19 http://www.aseanlawassociation.org/papers/phil_chp2.pdf Bộ luật dân sự Philippines còn quy định rõ (Điều 8 – Các quyết định của Tòa án áp dụng hoặc giải thích luật hoặc Hiến pháp là một phần của hệ thống pháp luật Philippines)

20 Điều này thể hiện rõ nét nhất trong các quy định của Bộ luật dân sự Indonesia và Bộ luật hình sự của

Indonesia (http://www.aseanlawassociation.org/papers/LegalSystem.pdf)

Trang 12

Hà Lan và châu Âu21 Điều dễ hiểu là, người bản địa thường bị áp dụng quy định

hà khắc hơn so với người châu Âu khi phạm cùng một loại tội

Do pháp luật hình sự là lĩnh vực pháp luật mang tính cổ xưa và truyền thống nhất trong các lĩnh vực pháp luật nói chung, nên những biến động lịch sử

kể trên cũng để lại dấu ấn đậm nét trong mô hình thiết kế các đạo luật trong lĩnh vực này, trong đó có mô hình thiết kế Bộ luật hình sự

II GIỚI THIỆU CHUNG VỀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ 5 QUỐC GIA ASEAN

Có một đặc điểm chung về nguồn của pháp luật hình sự ở cả 5 quốc gia được nghiên cứu đó là tất cả các quốc gia này đều có Bộ luật hình sự Với bối cảnh lịch sử như vừa nêu, mỗi quốc gia có một thời điểm ban hành Bộ luật hình

sự khác nhau Chẳng hạn, Bộ luật hình sự của Malaysia và Singapore được ban hành từ năm 1936 khi mà hai quốc gia này vẫn còn là thuộc địa của Anh (Malaysia chỉ giành lại độc lập từ năm 1957) Sau khi Malaysia giành lại độc lập

từ Anh (năm 1957), Bộ luật này chỉ được sửa đổi, bổ sung một số điều khoản cho phù hợp với tình hình mới chứ không thay thế toàn bộ Vì thế, về cơ bản, cơ cấu của Bộ luật hình sự Malaysia và Singapore vẫn được giữ nguyên cho tới ngày nay

Với trường hợp của Philippines, trong thời gian còn làm thuộc địa của Tây Ban Nha, pháp luật hình sự của Tây Ban Nha được áp dụng trực tiếp tại Philippine cho mãi tới năm 1876 khi chính quyền thuộc địa tại Philippine ban hành Bộ luật hình sự áp dụng riêng cho lãnh thổ Philippine Bộ luật này còn có hiệu lực cho tới năm 1930 (tức là cả trong thời gian Philippine là thuộc địa của Hoa Kỳ) Bộ luật hình sự đầu tiên của Philippine được ban hành lần đầu vào năm 193022 (có hiệu lực từ ngày 1/1/1932) và hiện Bộ luật này vẫn còn hiệu lực (sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung)

Bộ luật hình sự hiện hành của Indonesia thực chất là Bộ luật hình sự dành cho người Indonesia do chính quyền thực dân Hà Lan ban hành vào năm 1918

21 http://www.aseanlawassociation.org/papers/LegalSystem.pdf

22 http://en.wikipedia.org/wiki/Revised_Penal_Code_of_the_Philippines

Trang 13

(khi Indonesia đang là thuộc địa của Hà Lan) Bộ luật này được sửa đổi, bổ sung một số điểm vào năm 1948 bởi chính quyền mới (khi Indonesia đã giành lại độc lập từ năm 1945) Bộ luật này được áp dụng thống nhất trong toàn lãnh thổ Indonesia từ năm 195823

Thái Lan ban hành Bộ luật hình sự hiện hành vào năm 1956

Bên cạnh các Bộ luật hình sự có quy định trực tiếp về tội phạm và hình phạt, tại cả 5 quốc gia ASEAN được nghiên cứu trong đề tài này, các quy định

về tội phạm và hình phạt còn được tìm thấy trong các đạo luật chuyên ngành điều chỉnh những lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội Trong mối quan hệ giữa các đạo luật chuyên ngành và Bộ luật hình sự, khi có sự khác nhau trong quy định của đạo luật chuyên ngành với quy định của Bộ luật hình sự thì các đạo luật chuyên ngành được ưu tiên áp dụng Trong Bộ luật hình sự của một số nước (chẳng hạn Thái Lan24, Philippines25) còn quy định rõ, các quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự được coi như nguồn bổ sung khi áp dụng để xử lý các tội phạm được quy định trong các đạo luật chuyên ngành

Về cấu trúc, nhìn chung, Bộ luật hình sự của cả 5 quốc gia đều có sự tách bạch 2 phần: phần các quy định chung về tội phạm và hình phạt và phần quy định về các tội phạm cụ thể Trong phần các tội phạm cụ thể, một số Bộ luật hình sự còn chia thành 2 phần là các tội phạm thường và các tội vi cảnh Chẳng hạn, Bộ luật hình sự Indonesia được chia thành 3 quyển: Quyển 1 “các quy định chung” từ Điều 1 đến Điều 103 và Quyển 2 “Các tội phạm thường” từ Điều 104 đến Điều 488 và Quyển 3 “Các tội vi cảnh” từ Điều 489 đến Điều 569 (xem bảng 2)

23 http://www.aseanlawassociation.org/papers/LegalSystem.pdf

24 Điều 17 Bộ luật hình sự Thái Lan quy định rõ “trừ trường hợp các đạo luật chuyên ngành có quy định khác, các quy định trong Quyển 1 [tức là phần chung – chú thích của nhóm nghiên cứu đề tài] sẽ được áp dụng đối với các tội quy định trong các đạo luật chuyên ngành”

25 Điều 10 Bộ luật hình sự Philippines quy định rõ “nếu trong tương lai có tội phạm được quy định trong các đạo luật chuyên ngành thì các quy định của đạo luật ấy sẽ được ưu tiên áp dụng so với các quy định trong Bộ luật này Trong trường hợp này, trừ khi các đạo luật chuyên ngành có quy định khác, các quy định của Bộ luật này sẽ được áp dụng với tư cách là nguồn luật bổ sung”

Trang 14

Bảng 2 Khái quát cấu trúc của Bộ luật hình sự 5 quốc gia ASEAN

2 Bộ luật hình sự

3 quyển:

Quyển 1: Các quy định chung (Điều 1-103);

Quyển 2: Các tội phạm thường (Điều 104 đến Điều 488);

Quyển 3: Các tội vi cảnh (Điều 489 đến Điều 569)

5 Bộ luật hình sự

Không nói rõ là chia thành 2 phần nhưng thực chất có thể coi Chương 1 đến Chương 5A (Điều 1 đến Điều 120B) là các quy định chung; Chương 6 đến Chương 21 (Điều 121 đến Điều 499) là phần các tội phạm cụ thể

Trang 15

Đi vào chi tiết hơn, có thể thấy rằng, về cơ bản, trong phần chung của các

Bộ luật hình sự, các nội dung sau đây được quy định:

- Nguyên tắc pháp chế trong việc áp dụng pháp luật hình sự;

- Cơ sở phát sinh trách nhiệm hình sự;

- Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

- Các tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi;

- Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt;

- Các giai đoạn thực hiện tội phạm;

- Chế định đồng phạm;

- Các loại hình phạt và ý nghĩa pháp lý của mỗi loại hình phạt;

- Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Tuy nhiên, đi vào chi tiết, cấu trúc của phần chung của 5 Bộ luật rất khác nhau (xem bảng 3)

Bảng 3 Kết cấu phần chung trong Bộ luật hình sự 5 nước ASEAN

TT Bộ luật Kết cấu phần chung

1 Thái Lan 2 thiên (106 điều):

Thiên 1 “Các quy định áp dụng với mọi tội phạm” Thiên này gồm 9 chương: Chương 1 “Các định nghĩa”, Chương

2 “Áp dụng luật hình sự”, Chương 3 “Hình phạt và các biện pháp bảo đảm an toàn cho công chúng”, Chương 4

“Trách nhiệm hình sự”, Chương 5 “Nỗ lực phạm tội”, Chương 6 “Chính phạm và tòng phạm (trong vụ đồng phạm)”, Chương 7 “Phạm nhiều tội”, Chương 8 “Tái phạm”, Chương 9 “Thời hiệu”

Thiên 2 “Các quy định áp dụng riêng với tội vi cảnh”

2 Indonesia 9 chương (103 điều): Chương 1 “Phạm vi áp dụng”,

Chương 2 “Hình phạt”, Chương 3 “Miễn trừ, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự”, Chương 4 “Nỗ lực phạm tội”, Chương 5 “Tham gia phạm tội” (tương tự như chế

Trang 16

định đồng phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam), Chương 6 “Phạm nhiều tội”, Chương 7 “Yêu cầu truy tố tội phạm của nạn nhân”, Chương 8 “Thời hiệu”, Chương 9

“Giải thích thuật ngữ”

3 Philippines 6 thiên (113 điều): Thiên mở đầu “Hiệu lực của Bộ luật

hình sự”; Thiên 1 “Tội phạm và các tình tiết ảnh hưởng trách nhiệm hình sự”; Thiên 2 “Người phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ đồng phạm”; Thiên 3 “Hình phạt”; Thiên 4 “Chấm dứt trách nhiệm hình sự”; Thiên 5 “Trách nhiệm dân sự (trong vụ án hình sự)”

4 Malaysia 7 chương (121 điều): Chương 1 “Sơ khởi (hiệu lực của Bộ

luật)”; Chương 2 “Các định nghĩa và giải thích”, Chương

3 “Hình phạt”, Chương 4 “Các ngoại lệ” (tức là các tình tiết miễn trừ, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự), Chương 5 “Hỗ trợ phạm tội (trong vụ đồng phạm)”, Chương 5A “Cấu kết phạm tội” (tương tự như phạm tội có

tổ chức trong pháp luật hình sự Việt Nam) và Chương 23

“Nỗ lực phạm tội”

5 Singapore 6 chương (120 điều): Chương 1 “Sơ khởi (hiệu lực của Bộ

luật)”; Chương 2 “Các định nghĩa và giải thích”, Chương

3 “Hình phạt”, Chương 4 “Các ngoại lệ” (tức là các tình tiết miễn trừ, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự), Chương 5 “Hỗ trợ phạm tội (trong vụ đồng phạm)”, Chương 5A “Cấu kết phạm tội” (tương tự như phạm tội có

tổ chức trong pháp luật hình sự Việt Nam)

Trong phần các tội phạm cụ thể, ngoại trừ Bộ luật hình sự của Thái Lan

và Bộ luật hình sự của Indonesia có 1 phần riêng quy định về các tội vi cảnh, Bộ luật hình sự của Philippines, Malaysia và Singapore đều không có phần này Trong phần các tội phạm thường, nói chung, các Bộ luật hình sự đều tập

Trang 17

trung điều chỉnh các nội dung cơ bản như:

- Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

- Các tội về công vụ;

- Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp;

- Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, các quyền tự do của người dân;

- Các tội xâm phạm sở hữu;

- Các tội về tình dục, hôn nhân, gia đình

Tuy nhiên, đi vào chi tiết, cách kết cấu chương, điều của phần này cũng không hoàn toàn giống nhau (xem bảng 4)

Bảng 4 Kết cấu của phần quy định về các tội phạm cụ thể trong Bộ

luật hình sự 5 nước ASEAN

1 Thái Lan 12 Thiên: Thiên 1 “Các tội xâm phạm an ninh quốc

gia”26; Thiên 2 “Các tội xâm phạm bộ máy hành chính công”, Thiên 3 “Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp”, Thiên 4 “Các tội về tôn giáo”, Thiên 5 “Các tội về trật tự công”, Thiên 6 “Các tội gây nguy hiểm cho công chúng”, Thiên 7 “Các tội về giả mạo và thay đổi”, Thiên 8 “Các tội

về thương mại”, Thiên 9 “Các tội về tình dục”, Thiên 10

“Các tội xâm phạm tính mạng và thân thể”, Thiên 11 “Các tội xâm phạm quyền tự do và danh tiếng”, Thiên 12 “Các

tội xâm phạm sở hữu”

2 Indonesia 31 Chương: từ Chương 1 (quyển 2) đến Chương 31

(quyển 2): Chương 1 “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia”, Chương 2 “Các tội xâm phạm nhân phẩm của Tổng thống và Phó Tổng thống”, Chương 3 “Các tội xâm phạm tới các quốc gia có quan hệ hữu nghị với Indonesia”; Chương 4 “Các tội đảm bảo sự thực thi công vụ của nhà nước”, Chương 5 “Các tội xâm phạm trật tự công”,

26 Có một thiên mới bổ sung là Thiên 1/1 quy định về các tội khủng bố

Trang 18

Chương 6 “Đấu súng/đọ kiếm/dao”, Chương 7 “Các tội xâm phạm tự do của người khác”, Chương 8 “Các tội xâm phạm cơ quan công quyền”, Chương 9 “Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp”, Chương 10, “Giả mạo tiền giấy”, Chương 11 “Giả mạo con dấu”, Chương 12 “Giả mạo văn bản”, Chương 13 “Các tội xâm phạm việc quản lý hộ tịch”, Chương 14 “Các tội mang tính đồi trụy”, Chương 15

“Bỏ mặc người cần giúp đỡ”, Chương 16 “Các tội xâm phạm danh dự”, Chương 17 “Tiết lộ bí mật”, Chương 18

“Các tội xâm phạm quyền tự do cá nhân”, Chương 19

“Các tội xâm phạm tính mạng”, Chương 20 “Ngược đãi”, Chương 21 “Tội gây chết người hoặc thương tích”, Chương 22 “Trộm cắp”, Chương 23 “Tống tiền”, Chương

24 “Biển thủ”, Chương 25 “Lừa đảo”, Chương 26 “Xâm phạm quyền của chủ nợ”, Chương 27 “Hủy hoại tài sản”, Chương 28 “Tội phạm về chức vụ”, Chương 29 “Tội phạm

về lai dắt hàng hải”, Chương 29A “Tội phạm trong lĩnh vực hàng không”, Chương 30 “Tiêu thụ đồ gian”, Chương

31 “Vấn đề tái phạm trong một số tội danh cụ thể”

3 Philippines 14 Thiên: Thiên 1 “Các tội xâm phạm an ninh quốc

gia”27; Thiên 2 “Các tội xâm phạm các quyền tự do cơ bản của công dân28”; Thiên 3 “Các tội xâm phạm trật tự công cộng”; Thiên 4 “Các tội xâm phạm lợi ích công”; Thiên 5

“Các tội về ma túy”; Thiên 6 “Các tội xâm phạm đạo đức công”29; Thiên 7 “Các tội do quan chức thực hiện”30; Thiên 8 “Các tội xâm phạm con người”; Thiên 9 “Các tội xâm phạm tự do cá nhân”; Thiên 10 “Các tội xâm phạm tài sản”; Thiên 11 “Các tội xâm phạm tiết hạnh”31; Thiên 12

“Các tội xâm phạm chế độ quản lý hộ tịch”; Thiên 13

27 Được quan niệm khá hẹp, chỉ bao gồm các tội: phản quốc, gián điệp, kích động chiến tranh, cướp biển Các tội gây bạo loạn, lật đổ, đảo chính,

28 Được quan niệm gồm: quyền tự do đi lại, cư trú; bất khả xâm phạm về chỗ ở; tự do hội họp; tự do tôn giáo

29 Gồm các tội như: Đánh bạc, mại dâm, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy

30 Tức là các tội về chức vụ (như tham ô, nhũng nhiễu, lạm quyền, nhận hối lộ, tiết lộ bí mật công tác, v.v.)

Trang 19

“Các tội xâm phạm danh dự”; Thiên 14 “Vi phạm gần như tội phạm”32

4 Malaysia 17 Chương: từ Chương 6 đến Chương 22:

Chương 6 “Các tội chống lại nhà nước”, Chương 7 “Các tội liên quan đến lực lượng vũ trang”, Chương 8 “Các tội xâm phạm trật tự công cộng”, Chương 9 “Các tội liên quan tới công chức”, Chương 10 “Xúc phạm cơ quan công quyền”, Chương 11 “Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp”, Chương 12 “Các tội về tiền tệ và con dấu của chính quyền”, Chương 13 “Các tội về đo lường”, Chương 14

“Các tội ảnh hưởng tới sức khỏe, an toàn, sự thuận tiện của công chúng, đạo đức”, Chương 15 “Các tội liên quan đến tôn giáo”, Chương 16 “Các tội xâm phạm thân thể con người”, Chương 17 “Các tội xâm phạm sở hữu”, Chương

18 “Các tội liên quan đến văn bản và chứng từ ngân hàng”, Chương 19 “Vi phạm hình sự trong hợp đồng dịch vụ”, Chương 20 “Các tội về hôn nhân”, Chương 21 “Bôi nhọ danh tiếng của người khác”, Chương 22 “Xúc phạm hoặc gây phiền nhiễu người khác”

5 Singapore 17 Chương: từ Chương 6 đến Chương 22:

Chương 6 “Các tội chống lại nhà nước”, Chương 7 “Các tội liên quan đến lực lượng vũ trang”, Chương 8 “Các tội xâm phạm trật tự công cộng”, Chương 9 “Các tội liên quan tới công chức”, Chương 10 “Xúc phạm cơ quan công quyền”, Chương 11 “Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp”, Chương 12 “Các tội về tiền tệ và con dấu của chính quyền”, Chương 13 “Các tội về đo lường”, Chương 14

“Các tội ảnh hưởng tới sức khỏe, an toàn, sự thuận tiện của công chúng, đạo đức”, Chương 15 “Các tội liên quan đến tôn giáo”, Chương 16 “Các tội xâm phạm thân thể con người”, Chương 17 “Các tội xâm phạm sở hữu”, Chương

32 Các tội với lỗi vô ý hoặc bất cẩn

Trang 20

18 “Các tội liên quan đến văn bản và chứng từ ngân hàng”, Chương 19 “Vi phạm hình sự trong hợp đồng dịch vụ”, Chương 20 “Các tội về hôn nhân”, Chương 21 “Bôi nhọ danh tiếng của người khác”, Chương 22 “Xúc phạm

hoặc gây phiền nhiễu người khác”

Về kỹ thuật lập pháp, có thể thấy rằng, cách kết cấu của từng điều luật cụ thể trong 5 Bộ luật hình sự được nghiên cứu vừa có điểm chung lại vừa có những điểm dị biệt

Trong phần các quy định chung, các điều luật của các Bộ luật hình sự chỉ chủ yếu mang tính giải thích các khái niệm hoặc ghi nhận các nguyên tắc, chính sách làm cơ sở áp dụng chung khi xử lý các tội phạm cụ thể

Còn trong phần quy định về các tội phạm cụ thể các điều luật thường

được kết cấu theo mô thức “người nào thực hiện hành vi X thì bị phạt hình phạt

Y…”

Ví dụ, đối với tội giết người (murder), Điều 248 Bộ luật hình sự Philippines quy định: “Người nào có hành vi tước đoạt tính mạng của người khác…thì phạm tội giết người và phải chịu hình phạt tù chung thân… nếu có một trong các tình tiết sau: (1) … nhờ người có hung khí hỗ trợ; (2)…giết thuê…; (3) …bằng cách phóng hỏa, bỏ thuốc độc, đặt chất nổ…; (4) … lợi dụng hoàn cảnh thiên tai…; … ; (6)… bằng thủ đoạn tàn ác”

Cũng với tội giết người, Bộ luật hình sự Thái Lan (Điều 288) quy định:

“người nào có hành vi giết người… thì bị phạt tử hình hoặc tù từ 15 năm đến 20 năm” Bộ luật hình sự Malaysia (Điều 302) và Bộ luật hình sự Singapore (Điều 302) quy định “người nào phạm tội giết người thì phải chịu hình phạt tử hình” Quy định về tội giết người trong Bộ luật hình sự Indonesia (Điều 340) cũng có kết cấu tương tự “người nào cố ý và có dự mưu tước đoạt tính mạng của người khác thì bị phạt tử hình, tù chung thân hoặc bị phạt tù đến 20 năm”

Tuy nhiên, đi vào chi tiết, trong một số Bộ luật hình sự, cách kết cấu các điều luật cũng có những điểm đặc thù Chẳng hạn, đi kèm với phần quy phạm có tính khái quát, trong Bộ luật hình sự của Malaysia và của Singapore thường có

Trang 21

các lời giải thích thêm hoặc có ví dụ minh họa

Ví dụ: Để đưa ra định nghĩa về hành vi cố sát (culpable homicide), Điều

299 Bộ luật hình sự của Malaysia và của Singapore có kết cấu gồm 3 phần: (1) phần quy định khái quát; (2) phần ví dụ minh họa; và (3) phần giải thích chi tiết Dưới đây là nguyên văn của Điều luật này (bản tiếng Anh và có bản dịch tiếng Việt đối chiếu ở bên cạnh):

“299 Whoever causes death by doing

an act with the intention of causing

death, or with the intention of causing

such bodily injury as is likely to cause

death, or with the knowledge that he is

likely by such act to cause death,

commits the offence of culpable

homicide

Illustrations

(a) A lays sticks and turf over a pit,

with the intention of thereby causing

death, or with the knowledge that death

is likely to be thereby caused Z,

believing the ground to be firm, treads

on it, falls in and is killed A has

committed the offence of culpable

homicide

(b) A knows Z to be behind a bush B

does not know it A, intending to cause,

or knowing it to be likely to cause Z’s

death, induces B to fire at the bush B

fires and kills Z Here B may be guilty

of no offence; but A has committed the

offence of culpable homicide

“Điều 299 Người nào làm chết người

khác bằng hành vi với ý định làm chết người, hoặc với ý định gây thương tích thân thể cho người khác tới mức có thể dẫn tới chết người, hoặc biết rằng hành vi của mình có

thể dẫn tới chết người thì phạm tội cố

sát

Các minh họa

(a) A đào một cái hố chông rồi ngụy trang bằng một lớp đất mỏng với ý định gây chết người hoặc nhận thức được rằng việc làm này có thể gây chết người Z, tin rằng, mặt đất không

có hố chông nên đã bước vào và ngã trong hố chông rồi chết Trong trường hợp này, A bị coi là phạm tội cố sát (b) A biết Z đang ở sau/trong một bụi cây B không biết điều này A, với ý định giết Z hoặc biết rằng việc làm của mình có thể làm Z chết, đã dụ cho

B phóng hỏa đốt bụi cây B đã phóng hỏa và làm chết Z Trong trường hợp này, B có thể không bị coi là phạm tội

Trang 22

(c) A, by shooting at a fowl with intent

to kill and steal it kills B, who is behind

a bush, A not knowing that he was

there Here, although A was doing an

unlawful act, he was not guilty of

culpable homicide, as he did not intend

to kill B, or to cause death by doing an

act that he knew was likely to cause

death

Explanation 1

A person who causes bodily injury to

another who is labouring under a

disorder, disease or bodily infirmity,

and thereby accelerates the death of

that other, shall be deemed to have

caused his death

Explanation 3

The causing of the death of a child in

the mother’s womb is not homicide

But it may amount to culpable

homicide to cause the death of a living

child, if any part of that child has been

brought forth, though the child may not

have … been completely born”

nhưng A thì bị coi là phạm tội cố sát (c) A, bắn chết một con gà của B với mục đích ăn trộm con gà đó Lúc đó, con gà đang ở sau bụi cây và B cũng đang ở sau một bụi cây ấy nhưng A không biết sự hiện diện của B Trường hợp này, mặc dù hành vi của

A là trái pháp luật, nhưng A không bị coi là phạm tội cố sát vì A không có ý định giết B và cũng không có ý định gây chết người bằng hành vi mà A biết rằng có thể gây ra chết người

Giải thích 1

Một người gây thương tổn về thân thể của người khác mà nạn nhân đang bị tâm thần hoặc mắc loại bệnh về thân thể mà vì hành vi gây thương tổn này làm cho nạn nhân chết sớm hơn thì người có hành vi gây thương tổn đó cũng bị coi là đã có hành vi làm chết người

… Giải thích 3

Việc gây ra cái chết cho một đứa trẻ còn ở trong bụng mẹ thì không bị coi

là hành vi giết người (homicide) Nhưng hành vi này có thể bị coi là hành vi cố sát đối với một đứa trẻ còn sống nếu một phần đứa trẻ này đã được đưa ra khỏi bụng mẹ mặc dù việc sinh đứa trẻ chưa hoàn tất”

Có thể thấy, cách kết cấu này giúp người đọc có thể hiểu một cách dễ

Trang 23

dàng và chính xác hơn nội dung điều luật Tuy nhiên, cách kết cấu như vậy thường không có độ khái quát và trìu tượng cao như cách kết cấu của các điều luật thông thường trong Bộ luật hình sự của Thái Lan, Indonesia, Philippines và ngay cả của Việt Nam Cách kết cấu điều luật như đã nói trong Bộ luật hình sự Malaysia và Singapore cũng mang đậm dấu ấn về kỹ thuật lập pháp trong các quốc gia theo hệ thống luật án lệ, theo đó, các điều luật thường là sự khái quát hóa lại các án lệ đã được xét xử bởi hệ thống Tòa án và các ví dụ minh họa, nhiều trường hợp chính là các tình huống thực tế cuộc sống đã diễn ra và đã được Tòa án giải quyết và nâng lên thành án lệ Cách kết cấu trong điều luật của

Bộ luật hình sự Thái Lan, Indonesia và Philippines trung thành hơn với truyền thống luật thành văn châu Âu lục địa

Một điểm đáng lưu ý nữa là trong các quy định về phần tội phạm cụ thể trong Bộ luật hình sự Thái Lan và Indonesia, trong một điều luật thường được kết cấu rõ thành 2 phần: mô tả hành vi phạm tội (và chủ thể thực hiện hành vi phạm tội) và mức hình phạt tương ứng Trong khi đó, trong nhiều trường hợp, giữa việc mô tả hành vi phạm tội và hình phạt lại được quy định tách biệt ở 2 điều luật khác nhau (thường là ngay gần nhau) trong Bộ luật hình sự của Malaysia và Singapore Đối với Bộ luật hình sự của Philippines, trong một số tội danh, cách kết cấu điều luật có phần nghiêng về cách làm của Malaysia và Singapore Có lẽ, đây là dấu ấn lập pháp khi mà Bộ luật hình sự của Philippines vừa chịu ảnh hưởng bởi tư duy lập pháp của họ pháp luật thành văn – Châu Âu lục địa (dưới thời kỳ Philippines còn là thuộc địa của Tây Ban Nha) lại vừa chịu ảnh hưởng bởi tư duy lập pháp của họ pháp luật án lệ (common law) khi Philippines còn là thuộc địa của Hoa Kỳ cho tới năm 194533

33 Chẳng hạn, Điều 139 quy định về “tội lật đổ chính quyền” chỉ mô tả các hành vi, không quy định mức phạt cụ thể Mức phạt được quy định chi tiết trong Điều 140 (áp dụng cho người lãnh đạo vụ xúi giục và những người tham gia), Điều 141 (áp dụng cho người tham gia cấu kết thực hiện hành vi phạm tội), Điều 142 (áp dụng cho người kích động việc lật đổ)

Trang 24

Chương 2 NGHIÊN CỨU, SO SÁNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ 5 QUỐC GIA ASEAN:

PHẦN CÁC QUY ĐỊNH CHUNG

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1 Đối tượng áp dụng của pháp luật hình sự

Nhìn chung, vấn đề đối tượng áp dụng của pháp luật hình sự được các Bộ luật hình sự của 5 nước ASEAN quy định khá cụ thể Trong số đó, các quy định

về đối tượng áp dụng của Bộ luật hình sự Thái Lan có phần cụ thể và chi tiết hơn cả Cụ thể:

Theo quy định tại Điều 4 Bộ luật hình sự Thái Lan, Bộ luật hình sự này sẽ được áp dụng đối với bất cứ người nào có hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ Thái Lan hoặc xảy ra trên tàu thủy hoặc tàu bay mang quốc tịch Thái Lan (kể cả khi tàu thủy hoặc tàu bay đó nằm ở ngoài lãnh thổ Thái Lan) Theo quy định tại Điều 5 và 6 của Bộ luật hình sự Thái Lan, trường hợp hành vi phạm tội thực hiện ở ngoài lãnh thổ Thái Lan nhưng hậu quả của hành vi nhằm vào Thái Lan hoặc một công đoạn của tội phạm được thực hiện ở trong lãnh thổ Thái Lan và phần còn lại được thực hiện ở ngoài lãnh thổ Thái Lan hoặc khi phạm tội có người đồng phạm ở ngoài lãnh thổ Thái Lan thì cũng đều bị coi như phạm tội trong lãnh thổ Thái Lan Ngoài ra, theo quy định tại Điều 7 Bộ luật hình sự Thái Lan, người thực hiện các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia chống lại Thái Lan, người có các hành vi khủng bố chống lại Thái Lan, người có hành vi làm giả tiền hoặc giấy tờ có giá do Thái Lan phát hành thì cũng bị áp dụng quy định của Bộ luật này để xử lý Theo quy định tại Điều 8 Bộ luật hình sự Thái Lan, công dân Thái Lan phạm một số loại tội ở nước ngoài hoặc người nước ngoài phạm một số loại tội gây thiệt hại cho chính phủ Thái Lan hoặc người Thái Lan

ở nước ngoài (các tội được Bộ luật quy định rõ gồm các tội xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe, quyền tự do của người khác, gây rối trật tự công cộng, làm giấy

tờ giả mạo, các tội xâm phạm sở hữu v.v.) thì cũng có thể bị xét xử theo quy định của Bộ luật hình sự Thái Lan Theo quy định tại Điều 9 Bộ luật hình sự Thái Lan, quan chức Thái Lan phạm các tội về công vụ dù hành vi phạm tội xảy

Trang 25

ra bên ngoài lãnh thổ Thái Lan thì cũng bị xét xử và trừng phạt theo quy định của Bộ luật hình sự này Tuy nhiên, Điều 10 của Bộ luật hình sự Thái Lan cũng quy định rõ người có hành vi phạm tội ở nước ngoài mà Bộ luật hình sự Thái Lan quy định sẽ bị trừng phạt theo quy định của Bộ luật này nhưng đã bị Tòa án nước ngoài tuyên bản án có hiệu lực là vô tội hoặc đã có bản án của Tòa án nước ngoài kết tội và người đó đã chấp hành hình phạt thì sẽ không bị xét xử và trừng phạt lại theo quy định của Bộ luật hình sự Thái Lan Trường hợp người bị kết án mới chấp hành một phần hình phạt ở nước ngoài thì Tòa án Thái Lan có thể áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn đối với người phạm tội Theo quy định tại Điều 11

Bộ luật hình sự Thái Lan, người có hành vi phạm tội được Bộ luật hình sự Thái Lan coi là xảy ra trên lãnh thổ Thái Lan nhưng đã bị Tòa án nước ngoài kết tội

và áp dụng hình phạt thì Tòa án Thái Lan vẫn có thể xét xử và áp dụng hình phạt nhưng với mức thấp hơn mức luật định

Ngược lại với Bộ luật hình sự Thái Lan, các quy định tương ứng trong Bộ luật hình sự Singapore có phần kém chi tiết hơn hẳn Chẳng hạn, theo quy định của Điều 2 và 3 Bộ luật hình sự Singapore, Bộ luật hình sự Singapore chỉ áp dụng đối với người có hành vi phạm tội diễn ra trên lãnh thổ Singapore trừ trường hợp luật có quy định khác

Các Bộ luật hình sự còn lại (Bộ luật hình sự Philippines, Bộ luật hình sự Indonesia và Bộ luật hình sự Malaysia) đều có quy định về đối tượng áp dụng nhưng ở mức kém chi tiết hơn so với quy định tương ứng trong Bộ luật hình sự Thái Lan và có phần chi tiết hơn khi so sánh với Bộ luật hình sự Singapore Chẳng hạn, Điều 2 Bộ luật hình sự Philippines quy định Bộ luật hình sự Philippines được áp dụng không chỉ trong phạm vi lãnh thổ của Philippines (bao gồm cả vùng trời, vùng nước nội thủy, các vùng lãnh hải) mà áp dụng cả với những đối tượng phạm tội ở ngoài lãnh thổ Philippines khi: (1) tội phạm đó xảy

ra trên tàu thủy hoặc tàu bay mang quốc tịch Philippines, (2) người phạm tội thực hiện hành vi làm giả tiền hoặc giấy tờ có giá phát hành bởi Chính phủ Philippines, (3) có hành vi liên quan tới việc đưa tiền giả hoặc giấy tờ có giá giả vào Philippines, (4) người phạm tội là công chức Philippines phạm tội trong quá

Trang 26

trình thi hành công vụ ở nước ngoài, (5) người có hành vi phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia đối với Philippines

Điều 2 Bộ luật hình sự Indonesia quy định Bộ luật hình sự được áp dụng với bất cứ người nào phạm tội trên lãnh thổ của Indonesia Theo quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, người phạm tội trên tàu bay hoặc tàu thủy của Indonesia thì cũng bị áp dụng quy định của Bộ luật này Theo quy định tại Điều 4 của Bộ luật này, người phạm tội ngoài các trường hợp trên mặc dù hành vi phạm tội diễn ra ngoài lãnh thổ Indonesia nhưng cũng bị xử lý theo quy định của Bộ luật này khi người đó phạm các tội liên quan tới an ninh quốc gia (chống lại Indonesia), các tội liên quan tới việc làm giả tiền và các giấy tờ có giá do Chính phủ Indonesia phát hành, các tội liên quan tới việc cướp biển (hải tặc) v.v Theo các luật gia của Indonesia, các quy định kể trên trong Bộ luật hình sự của Indonesia thể hiện 4 nguyên tắc: (1) nguyên tắc lãnh thổ - theo đó, bất kể quốc tịch của người thực hiện hành vi, nếu người này thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ của Indonesia thì đều chịu sự áp dụng của Bộ luật hình sự Indonesia; (2) nguyên tắc quốc tịch chủ động – theo đó, người mang quốc tịch Indonesia thì chịu sự áp dụng của Bộ luật hình sự Indonesia bất kể hành vi phạm tội xảy ra ở đâu; (3) nguyên tắc quốc tịch bị động – theo đó, Bộ luật hình sự sẽ được áp dụng bất cứ khi nào một lợi ích của Indonesia bị xâm hại, ngay cả khi lợi ích đó nằm

ở ngoài lãnh thổ Indonesia; (4) nguyên tắc phổ quát – theo đó, mọi hành vi bị coi là chống lại nhân loại thì dù xảy ra ở trong hay ngoài lãnh thổ Indonesia thì cũng đều có thể bị áp dụng bởi Bộ luật hình sự Indonesia34

Theo quy định tại Điều 2 Bộ luật hình sự Malaysia, người nào phạm một tội đã được quy định trong Bộ luật này trên lãnh thổ Malaysia thì sẽ bị áp dụng bởi quy định của Bộ luật này Theo quy định tại Điều 3 của Bộ luật, nếu luật quy định một tội danh nào đó phải được xét xử theo luật pháp của Malaysia thì các quy định tương ứng của Bộ luật này cũng được áp dụng (mặc dù hành vi phạm tội xảy ra ở ngoài lãnh thổ Malaysia) Theo quy định tại Điều 4 của Bộ luật, các quy định về tội xâm phạm an ninh quốc gia cũng sẽ được áp dụng đối với bất cứ

Trang 27

người nào mang quốc tịch Malaysia hoặc người có tư cách thường trú tại Malaysia nếu hành vi phạm tội xảy ra ở biển cả, ở trên tàu thủy hoặc tàu bay bất

kể tàu thủy hoặc tàu bay đó có mang quốc tịch Malaysia hay không

2 Nguyên tắc pháp chế trong việc áp dụng pháp luật hình sự

Nguyên tắc pháp chế trong việc áp dụng pháp luật hình sự là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự các quốc gia dân chủ và tiến bộ Theo nguyên tắc này, một hành vi chỉ bị coi là tội phạm và người thực hiện hành

vi này chỉ có thể bị áp dụng hình phạt khi hành vi này đã được quy định là tội phạm trong đạo luật còn hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi Nói cách khác, không ai phải chịu hình phạt khi thực hiện hành vi mà pháp luật tại thời điểm thực hiện hành vi không quy định đó là tội phạm Nguyên tắc này đã được trang trọng ghi nhận tại Điều 11 của Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 của Liên Hợp quốc35

Về cơ bản, Bộ luật hình sự của các quốc gia ASEAN được nghiên cứu trong đề tài này đều trực tiếp hoặc gián tiếp thể hiện tinh thần kể trên Tuy nhiên, các quốc gia ban hành Bộ luật hình sự trước năm 1948 (thời điểm công

bố của Tuyên ngôn nhân quyền Liên Hợp quốc) (như Philippines, Malaysia36) thường không có quy định một cách trực tiếp và rõ ràng nguyên tắc pháp chế trong các Bộ luật hình sự của mình37 Trong khi đó, các quốc gia ban hành Bộ luật hình sự sau năm 1948 thường quy định một cách minh thị và trực tiếp về nguyên tắc này trong Bộ luật hình sự Đây là trường hợp của Thái Lan và

Indonesia Chẳng hạn, Điều 1 Bộ luật hình sự Indonesia quy định rõ: “(1) Không

35 Nguyên văn của Điều 11 Khoản 2 của Tuyên ngôn này như sau: “No one shall be held guilty of any penal offence on account of any act or omission which did not constitute a penal offence, under national or international law, at the time when it was committed Nor shall a heavier penalty be imposed than the one that was applicable at the time the penal offence was committed” (Tạm dịch: Không ai bị quy kết phạm một tội hình

sự về một hành động hoặc không hành động mà tại thời điểm thực hiện hành vi luật pháp quốc gia hoặc luật pháp quốc tế không quy định hành vi đó là một tội hình sự Không ai phải chịu hình phạt nặng hơn mức hình phạt quy định tại thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện)

36 Lưu ý, tại thời điểm năm 1948, Singapore vẫn chỉ là một phần lãnh thổ của Malaysia

37 Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, Điều 5 Bộ luật hình sự Philippines có quy định như sau: “Trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, nếu Tòa án phát hiện ra các hành vi đáng bị trừng phạt về mặt hình sự nhưng chưa được quy định bởi luật hoặc các hành vi không đáng trừng phạt về mặt hình sự nhưng đã bị luật quy định áp dụng hình phạt quá nặng thì Tòa án có trách nhiệm báo cáo với người đứng đầu ngành hành pháp (thông qua Bộ Tư pháp)

để có các biện pháp phù hợp về mặt lập pháp” Điều này cũng có nghĩa rằng, Tòa án không được phép tự sáng tạo ra tội danh hoặc áp dụng pháp luật tương tự để quy tội đối với người thực hiện hành vi tuy nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa được pháp luật hình sự quy định là tội phạm

Trang 28

hành vi nào có thể bị trừng phạt trước thời điểm có đạo luật hình sự quy định hành vi đó là tội phạm; (2) trường hợp có sự thay đổi của pháp luật sau thời điểm xảy ra hành vi phạm tội theo hướng quy định có lợi hơn cho người phạm tội thì quy định có lợi hơn này sẽ được áp dụng” Tại Thái Lan, Bộ luật hình sự

của quốc gia này (Điều 2) cũng quy định rõ: “Một người chỉ phải chịu trách

nhiệm hình sự về một hành vi do người ấy thực hiện khi mà hành vi này được luật đang có hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi coi là tội phạm, và hình phạt áp dụng cho người thực hiện hành vi này sẽ là hình phạt do luật ấy quy định Trường hợp có đạo luật khác ban hành sau không coi hành vi đó là tội phạm nữa thì người thực hiện hành vi đó sẽ không bị coi là người thực hiện hành vi phạm tội; và nếu có phán quyết chung thẩm áp dụng hình phạt cho người này, thì người này sẽ được coi là chưa từng bao giờ bị kết án bởi phán quyết này về hành vi đã nêu Tuy nhiên, nếu người này vẫn đang chấp hành hình phạt, thì việc chấp hành hình phạt ấy phải được chấm dứt một cách ngay tức khắc.” Các học giả ở Thái Lan đã giải thích cụ thể hơn về nguyên tắc pháp chế

trong lĩnh vực luật hình sự như sau38:

(1) Nhà nước không thể ban hành một đạo luật quy định hiệu lực trở về trước (hiệu lực hồi tố) để tội phạm hóa một hành vi đã thực hiện và truy cứu trách nhiệm hình sự một ai đó

(2) Ngay cả khi một hành vi đã bị coi là tội phạm theo luật trong quá khứ thì nhà nước cũng không được ban hành luật để nâng hình phạt áp dụng cho hành vi phạm tội trong quá khứ; mức hình phạt mới chỉ được áp dụng kể từ khi đạo luật mới quy định hình phạt này phát sinh hiệu lực

(3) Ngược lại, khi một luật mới được ban hành mà có lợi hơn cho bị cáo

so với luật cũ thì các quy định này lại được áp dụng cho người phạm tội trong quá khứ nhưng bị xét xử ở thời điểm luật mới đã ban hành

(4) Tuy nhiên, bất cứ biện pháp chế tài nào mà không được coi là hình phạt chẳng hạn các biện pháp bảo đảm an toàn cho cộng đồng lại có thể được

áp dụng hồi tố

38 Kietkajorn Vachanaswasit, “Explanation of Criminal Law Part I,” 6th ed., 15-26 (Bangkok: Thammasat

Trang 29

(5) Dự thảo luật phải được xây dựng theo hướng dễ hiểu để công chúng nói chung có thể hiểu các điều cấm của luật một cách ngay tức khắc

(6) Luật quy định về thủ tục tố tụng hình sự hoặc các biện pháp chế tài

mà không phải là hình phạt thì không thuộc phạm vi áp dụng các quy định này

II CHẾ ĐỊNH TỘI PHẠM VÀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

Tiêu chí để xác định một hành vi vi phạm bị coi là tội phạm và phải chịu hình phạt là một trong những nội dung cốt lõi trong pháp luật hình sự của các nước trên thế giới Pháp luật hình sự của 5 quốc gia ASEAN được nghiên cứu,

so sánh cũng không nằm ngoài thông lệ chung này Pháp luật hình sự của 5 quốc gia ASEAN được nghiên cứu đều dành một phần rất đáng kể trong Bộ luật hình

sự của nước mình để quy định về tiêu chí xác định một hành vi bị coi là vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm) và những yếu tố ảnh hưởng tới việc xác định trách nhiệm hình sự của chủ thể (người) thực hiện hành vi vi phạm pháp luật đó

Nhìn chung, pháp luật hình sự của cả 5 quốc gia đều quy định rằng tiêu chí xác định một hành vi gây thiệt hại cho xã hội bị coi là tội phạm bao gồm không chỉ các tiêu chí về mặt khách quan của tội phạm (hành vi thể hiện ra bên ngoài, đối tượng tác động, hậu quả có thể xảy ra hoặc thực tế đã xảy ra) mà gồm

cả các tiêu chí về mặt chủ quan của người thực hiện hành vi phạm tội (nhất là yếu tố lỗi, dựa trên khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi cũng như khả năng tiên lượng hậu quả xấu cho xã hội có thể xảy ra khi hành vi được thực hiện)

Bên cạnh đó, Bộ luật hình sự của cả 5 quốc gia ASEAN được nghiên cứu đều có các quy định về những tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, những trường hợp miễn, giảm hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội

Tuy nhiên, đi vào chi tiết, các quy định trong Bộ luật hình sự của 5 quốc

gia này không hoàn toàn giống nhau như được trình bày trong phần dưới đây:

1 Pháp luật Thái Lan

- Quan niệm về tội phạm: Theo Điều 59 Bộ luật hình sự Thái Lan, “một

người phải chịu trách nhiệm hình sự chỉ khi người đó thực hiện một hành vi một

Trang 30

cách cố ý, ngoại trừ trường hợp Luật quy định rằng người đó phải chịu trách nhiệm hình sự ngay cả khi chỉ thực hiện một hành vi với lỗi bất cẩn (lỗi vô ý), hoặc ngoại trừ trong trường hợp luật quy định một cách rõ ràng rằng người đó phải chịu trách nhiệm hình sự ngay cả khi người này thực hiện hành vi một cách

không có chủ ý (không cố ý)” Cũng theo quy định tại Điều luật này, thực hiện

hành vi một cách cố ý là thực hiện hành vi một cách có ý thức và tại thời điểm

thực hiện hành vi, người thực hiện mong muốn hoặc có thể đã nhìn thấy trước hậu quả của việc mình làm Nếu người thực hiện hành vi mà không biết được các yếu tố trong hành vi phạm tội, thì sẽ không được phép suy đoán rằng, người

đó muốn hoặc có thể đã nhìn thấy trước hậu quả của việc mình làm Thực hiện

hành vi với lỗi bất cẩn là việc thực hiện một tội phạm một cách không có chủ ý

nhưng đã không thực hiện mức cẩn trọng mà người khác kỳ vọng một cách hợp

lý trong bối cảnh, điều kiện mà người phạm tội đang ở trong đó, và thực tế người thực hiện hành vi có thể thực hiện sự cẩn trọng như vậy nhưng đã không thực hiện một cách đầy đủ Khái niệm hành vi cũng bao gồm bất cứ hậu quả nào mang lại bởi việc không thực hiện một hành vi nhất định mà hành vi ấy phải được thực hiện để ngăn ngừa hậu quả đó xảy ra

Theo Siriphon Kusonsinwut39, có 3 yếu tố của trách nhiệm hình sự, một

người sẽ bị coi là có tội nếu: Một là, người này thực hiện hành vi bị cấm hoặc các yếu tố của tội phạm như được định nghĩa, mô tả trong Luật; Hai là, người

này đã hành động một cách cố ý hoặc bất cẩn hoặc không có ý định trước như đã được quy định trong Luật trong khi hành động một cách có ý thức, và mong muốn nguyên nhân, kết quả hoặc biết hậu quả có thể xảy ra từ hành vi của mình;

và ba là, không có tình tiết biện minh, miễn trừ cho hành vi này

Cũng theo Siriphon Kusonsinwut, Bộ luật hình sự Thái Lan không phân chia yếu tố cấu thành tội phạm thành (1) hành vi, (2) tình huống, và (3) kết quả

để áp dụng mặt chủ quan đối với mỗi yếu tố của tội phạm mà chỉ đòi hỏi “ý định” được áp dụng cho mọi yếu tố cấu thành tội phạm ngoại trừ một số loại tội chỉ cần lỗi “bất cẩn” (vô ý) hoặc thậm chí là một số tội bị truy cứu mà không cần

Trang 31

xét đến lỗi của người vi phạm (trách nhiệm nghiêm ngặt) (Điều 104 Bộ luật hình

sự Thái Lan) Cả khái niệm “hành vi” và “ý định” trong Bộ luật hình sự Thái Lan đã được làm rõ hơn trong thực tiễn xét xử của tòa án Ví dụ, trách nhiệm không thực hiện hành vi pháp luật quy định (dẫn đến hậu quả xấu cho xã hội và

bị trừng phạt về mặt hình sự) được hiểu là việc không thực hiện hành vi theo nghĩa vụ phát sinh từ luật định, từ quan hệ hợp đồng, từ quan hệ gia đình hoặc từ các nghĩa vụ đạo đức xã hội

- Về các tình tiết miễn, giảm trừ trách nhiệm hình sự, Bộ luật hình sự

Thái Lan cũng có một số quy định về vấn đề này Chẳng hạn, phạm tội trong trường hợp không biết tình tiết đó là một yếu tố cấu thành tội phạm (Điều 59 khoản 3), sai lầm về mặt thực tế (Điều 62), bị sử dụng chất kích thích theo Điều

66, bị bệnh tâm thần (theo Điều 65), tình thế cấp thiết (Điều 67), phòng vệ (Điều 68) Tuy nhiên, việc không hiểu biết pháp luật không được coi là một yếu tố

miễn, giảm trừ trách nhiệm hình sự Cụ thể:

+ Sai lầm về mặt thực tế (nhầm lẫn): Theo quy định tại Điều 59 đoạn 3

thì khi người phạm tội không nhận thức được hành vi của mình có thể cấu thành tội phạm thì trong trường hợp này, người phạm tội không bị coi là đã mong muốn hoặc đã có thể nhận thức trước hậu quả của hành vi mình thực hiện Trong thực tế áp dụng, quy định này gây ra sự nhầm lẫn với quy định tại Điều 62 theo

đó “khi một tình tiết nào đó thực sự tồn tại và vì sự tồn tại ấy làm cho việc thực

hiện một hành vi sẽ không bị coi là phạm tội, hoặc khi tình tiết ấy tuy không thực sự tồn tại nhưng do nhầm lẫn, người phạm tội tưởng rằng nó thực sự tồn tại, thì hành vi của người phạm tội thực hiện trong trường hợp này sẽ không bị coi là phạm tội hoặc sẽ được miễn hình phạt hoặc sẽ được giảm nhẹ hình phạt tùy từng trường hợp cụ thể Tuy nhiên, nếu người phạm tội không nhận thức được sự tồn tại của tình tiết kể trên do lỗi vô ý thì người này vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự” Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 64, sự nhầm lẫn về mặt pháp

luật không được coi là tình tiết miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

+ Việc sử dụng chất kích thích: Sử dụng chất kích thích không phải lý

do miễn tố trong cả tội phạm cố ý hoặc tội với lỗi bất cẩn Tuy nhiên, theo quy

Trang 32

định tại Điều 66 Bộ luật hình sự Thái Lan, nếu bị cáo không biết rằng mình đã

sử dụng chất kích thích hoặc bị cáo bị ép buộc sử dụng chất kích thích và vì thế

mà phạm tội trong trạng thái không ý thức và làm chủ được bản thân thì bị cáo được miễn áp dụng hình phạt Trường hợp nếu bị cáo vẫn ý thức được và điều khiển được một phần việc mình làm thì người này vẫn phải chịu trách nhiệm

hình sự

+ Tình thế cần thiết (Điều 67): Đây là một trong những lý do biện hộ để

miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự Thái Lan Theo quy định tại Điều 67 Bộ luật hình sự Thái Lan, việc thực hiện một hành vi phạm tội trong trường hợp cần thiết sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự Tình thế cần thiết được giải thích là một trong các tình thế như sau: (1) người gây thiệt hại bị áp lực (do người khác sử dụng vũ lực) phải thực hiện hành vi mà người này không thể tránh hoặc kháng cự lại được; (2) người gây thiệt hại thực hiện hành vi để tránh một mối nguy hiểm đã hiện hữu mà việc tránh nguy cơ này không thể bằng phương cách nào khác và việc gây ra mối nguy hiểm này không

do lỗi của người gây thiệt hại, và hành vi gây thiệt hại này là tương xứng với mối nguy hiểm đã hiện hữu

Trường hợp người gây thiệt hại thực hiện hành vi vượt quá mức độ cho phép của tình thế cần thiết, thì người này vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng với mức hình phạt nhẹ hơn (Điều 69)

+ Phòng vệ: Điều 68 Bộ luật hình sự Thái Lan quy định, người nào thực

hiện hành vi phòng vệ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác tránh khỏi sự xâm phạm trái pháp luật của người khác hoặc tránh khỏi mối nguy hiểm hiện hữu thì hành vi đó không bị coi là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự

Trường hợp người gây thiệt hại thực hiện hành vi vượt quá mức độ cho phép của việc phòng vệ, thì người này vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng với mức hình phạt nhẹ hơn (Điều 69)

+ Do vị đối xử bất công từ phía nạn nhân: Theo quy định tại Điều 72

Bộ luật hình sự Thái Lan, người nào phạm một tội tại thời điểm bị đối xử bất

Trang 33

công nghiêm trọng từ phía người khác40 và vì thế đã thực hiện hành vi phạm tội, thì người này vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng Tòa án sẽ áp dụng hình phạt nhẹ hơn

+ Do chưa đủ tuổi (Điều 73): Người chưa quá 7 tuổi thì không phải chịu

trách nhiệm hình sự Theo quy định tại Điều 74, người đủ 7 tuổi nhưng chưa đủ

14 tuổi khi phạm tội thì Tòa án không áp dụng hình phạt mà sẽ áp dụng chế độ giao người này cho người hoặc tổ chức có trách nhiệm thực hiện việc giáo dưỡng, chăm sóc đặc biệt

- Vấn đề các giai đoạn thực hiện tội phạm: Theo quy định của Bộ luật

hình sự Thái Lan, người thực hiện hành vi phạm tội không chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi tội phạm đã hoàn thành mà người này có thể bị truy cứu trách

nhiệm hình sự cả khi việc phạm tội thuộc vào trường hợp phạm tội chưa đạt Phạm tội chưa đạt được Bộ luật hình sự Thái Lan quy định bằng khái niệm “nỗ

lực phạm tội” (hoặc “cố gắng phạm tội” – Attempt to commit an offence) Theo

quy định tại Điều 80, “nỗ lực phạm tội” được định nghĩa là hành vi của “người

thực hiện một tội phạm, nhưng không thực hiện đến cùng, hoặc đã thực hiện đầy

đủ hành vi nhưng chưa đạt được kết quả mong muốn, thì coi là “nỗ lực phạm tội”” Người có hành vi “nỗ lực phạm tội” thì bị phạt về tội định phạm nhưng

với mức hình phạt bằng 2/3 mức hình phạt áp dụng cho tội phạm hoàn thành Tuy Bộ luật hình sự Thái Lan không giải thích rõ, “nỗ lực phạm tội” chỉ áp dụng đối với tội phạm với lỗi cố ý hay có thể áp dụng cả với tội phạm được thực hiện bởi lỗi vô ý nhưng trong thực tiễn áp dụng luật, các Tòa án chỉ áp dụng quy định này đối với tội phạm với lỗi cố ý Ngoài ra, quy định tại Điều 80 cũng không phân định rõ ranh giới phân biệt giữa hành vi “nỗ lực phạm tội” với hành vi

“chuẩn bị phạm tội” Trong thực tiễn, có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này, tuy nhiên, quan điểm được chấp nhận rộng rãi là việc sử dụng tiêu chí về

“bản chất của hành vi vi phạm” theo đó nếu hành vi này đã có yếu tố giống như

mô tả trong mặt khách quan của hành vi vi phạm, thì khi đó, hành vi này sẽ không còn là “chuẩn bị phạm tội” nữa mà sẽ bị coi là “nỗ lực phạm tội” (hay

40 Trong thực tế, các vụ vợ giết chồng do chồng ngược đãi vợ trong một thời gian dài thường được áp dụng quy định tại điều luật này

Trang 34

phạm tội chưa đạt) Trường hợp người phạm tội không thực hiện được hành vi phạm tội vì cách thức thực hiện tội phạm mà người này sử dụng không bao giờ

có thể khiến cho tội phạm có thể thực hiện được thì người thực hiện hành vi ấy vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 81 theo đó “người nào thực hiện hành vi hướng tới kết quả mà luật coi đó là một tội phạm, nhưng việc thực hiện hành vi ấy chắc chắn không đạt được kết quả theo cách thức mà người này thực hiện, thì vẫn bị coi là nỗ lực phạm tội nhưng chỉ phải chịu mức hình phạt bằng 1/2 mức hình phạt áp dụng cho tội định phạm mà luật quy định Trường hợp, việc thực hiện hành vi phạm tội dựa trên niềm tin mù quáng41 của người phạm tội thì Tòa án có thể miễn hình phạt” Trong thực tiễn áp dụng Bộ luật hình sự, chưa có vụ việc nào người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Điều 81 kể trên

- Về vấn đề đồng phạm, Bộ luật hình sự Thái Lan có các quy định về

việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với các chủ thể khác nhau cùng tham gia

thực hiện một tội phạm Theo quy định tại Điều 83, trường hợp một tội phạm do

hai người trở lên thực hiện trong đó có người được coi là “chính phạm” thì người chính phạm này sẽ bị áp dụng hình phạt đầy đủ như luật quy định Việc xác định người nào là chính phạm trong một vụ đồng phạm phải tùy vào từng trường hợp cụ thể Người chính phạm có thể đóng vai trò là người xúi giục Ví dụ: theo quy định tại Điều 84 Bộ luật hình sự Thái Lan, người nào, bằng việc sử dụng, cưỡng bức, đe dọa, thuê, nhờ vả hoặc xúi giục hoặc bằng cách thức khác,

khiến cho người khác thực hiện hành vi phạm tội thì người ấy được gọi là người

xúi giục (instigator) Theo quy định của điều luật này, khi người bị xúi giục đã

thực hiện hành vi phạm tội thì người xúi giục sẽ bị áp dụng hình phạt với tư cách là người chính phạm Trường hợp, người bị xúi giục không thực hiện hành

vi phạm tội hoặc chưa thực hiện hành vi phạm tội vì bất cứ lý do gì thì người xúi giục phải chịu trách nhiệm bằng 1/3 mức hình phạt mà luật quy định cho tội

phạm đó Theo quy định tại Điều 85 Bộ luật hình sự Thái Lan, người nào tuyên

truyền, xúi giục công chúng thực hiện một hành vi phạm tội mà tội này có mức

41 Chẳng hạn, dùng bùa phép siêu nhiên để giết người v.v mà không có hành động giết người trên thực tế (chú

Trang 35

mức hình phạt mà luật quy định cho tội đã phạm Tuy nhiên, so sánh với chế

định tội phạm trong pháp luật hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới, có thể

thấy rằng, chế định về cấu kết phạm tội (conspiracy) 42 không được quy định

cụ thể trong Bộ luật hình sự Thái Lan Tuy nhiên, việc tham gia những hội kín hoặc các băng, đảng trái pháp luật để thực hiện một số hành vi tội phạm nhất định cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 209-216 Bộ luật hình sự Thái Lan (mức phạt tù có thể ở mức 5 năm hoặc bị phạt tiền đến 10.000 baht hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt đối với người đứng đầu tổ chức trái

pháp luật này)

2 Pháp luật Philippines

Chế định về tội phạm và trách nhiệm hình sự được quy định trong Quyển

1 (phần các quy định chung) Bộ luật hình sự của Philippines năm 1930 (đã sửa đổi, bổ sung nhiều lần cho tới ngày nay) Cụ thể, việc định nghĩa và phân loại tội phạm được quy định tại Chương 1 của Bộ luật này (từ Điều 3 đến Điều 10)

- Quan niệm về tội phạm: Theo quy định tại Điều 3 của Bộ luật hình sự

Philippines, tội phạm được hiểu là “hành vi hành động hoặc hành vi không hành

động bị trừng phạt về mặt hình sự theo quy định của luật thì được gọi là tội phạm (delitos)” “Tội phạm không chỉ được thực hiện bằng lỗi cố ý mà còn có thể được thực hiện cả bằng lỗi bất cẩn (vô ý)” “Được coi là cố ý phạm tội khi hành vi được thực hiện với ý định có cân nhắc” “Được coi là vô ý phạm tội khi hành vi sai trái là kết quả của sự bất cẩn, thiếu sáng suốt, hạn chế khả năng

42 Tương tự như khái niệm “phạm tội có tổ chức” trong pháp luật Việt Nam

Trang 36

thấy trước, hoặc thiếu kỹ năng”

Theo quy định tại Điều 4 Bộ luật hình sự Philippines, trách nhiệm hình sự đối với một người sẽ phát sinh khi người này thực hiện hành vi mà pháp luật hình sự coi là tội phạm hoặc khi người này thực hiện hành vi xâm phạm tới thân thể hoặc tài sản của người khác mà trong hoàn cảnh ấy, việc xâm hại không phải

là lựa chọn duy nhất

Về việc phân biệt các giai đoạn thực hiện tội phạm, Điều 6 Bộ luật hình

sự Philippines quy định “Cả hành vi phạm tội hoàn thành, phạm tội chưa đạt

hoặc nỗ lực phạm tội đều phải chịu trách nhiệm hình sự Một hành vi được coi

là phạm tội hoàn thành khi tất cả các yếu tố cần thiết cho việc thực thi và hoàn tất tội phạm đó đều hiện diện Một hành vi phạm tội được coi là chưa đạt khi

người phạm tội thực hiện tất cả các hành vi cần thiết để thực thi tội phạm

nhưng việc phạm tội chưa đạt vì lý do nằm ngoài ý muốn của người phạm tội

Nỗ lực phạm tội là hành vi người phạm tội bắt đầu thực hiện hành vi phạm tội một cách trực tiếp nhưng đã không thực hiện hết các hành vi cần thiết để cấu thành nên tội phạm vì lý do hoặc sự kiện ngoài ý muốn chủ quan của người

này” Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 7 Bộ luật hình sự Philippines, đối với

các khinh tội, hành vi loại này chỉ bị trừng phạt khi tội phạm đã hoàn thành trừ

trường hợp đây là các hành vi xâm phạm tới thân thể hoặc tài sản của người khác

- Phân loại tội phạm: Theo quy định tại Điều 9 Bộ luật hình sự

Philippines, tội phạm ở Philippines được phân thành 3 loại: (1) trọng tội (tội nghiêm trọng), (2) tội ít nghiêm trọng và (3) khinh tội Cũng theo quy định tại

điều luật này, trọng tội là tội phạm mà luật quy định mức phạt cho hành vi này

là hình phạt tử hình hoặc hình phạt ở mức quy định tại Điều 25 của Bộ luật này43 Tội ít nghiêm trọng là các hành vi mà luật quy định mức phạt cho hành

43 Theo quy định tại Điều 25 Bộ luật hình sự Philippines, các hình phạt có thể được áp dụng theo quy định của

Bộ luật này bao gồm: hình phạt chính và hình phạt bổ sung

- Các hình phạt chính gồm: Hình phạt tử hình (đã được bãi bỏ từ năm 2006); Các hình phạt gây đau khổ

(Afflictive penalties) gồm: (1) tù chung thân (hay cách ly vĩnh viễn - reclusion perpetua); (2) tù dài hạn (hay

cách ly tạm thời - reclusion temporal); (3) tước vĩnh viễn hoặc tạm thời mọi bằng cấp chuyên môn (perpetual or temporary absolute disqualification); (3) tước vĩnh viễn hoặc tạm thời một bằng cấp chuyên môn (perpetual or

Trang 37

vi này trong hạng tối đa là “tù ngắn hạn”, theo quy định tại Điều 25 vừa kể trên Khinh tội là hành vi vi phạm pháp luật mà việc thực hiện hành vi này luật quy định mức phạt là tù tại gia hoặc một mức phạt không quá 200 pesos hoặc cả

hai Theo quy định tại Điều 10 Bộ luật hình sự Philippines, các tội phạm mà

hiện tại hoặc trong tương lại có thể bị trừng phạt về mặt hình sự theo các quy định của luật chuyên ngành thì không áp dụng quy định của Bộ luật này nếu Bộ luật này có quy định khác Trong trường hợp đó, Bộ luật này chỉ được coi là quy định bổ sung cho các luật chuyên ngành đó, trừ trường hợp Luật chuyên ngành

có quy định khác

Các yếu tố làm ảnh hưởng tới trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi phạm tội được quy định thành một chương riêng trong Bộ luật hình sự Philippines Cụ thể, các trường hợp được coi là không phạm tội (dù một người

đã thực hiện hành vi gây thiệt hại cho người khác) hoặc được miễn trừ trách nhiệm hình sự được quy định thành 1 chương riêng là chương 2 Bộ luật hình sự Philippines (Điều 11 và Điều 12) Các trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng được quy định trong một chương riêng (chương 3 với 1 điều duy nhất là Điều 13) Tương tự, các trường hợp làm tăng nặng trách nhiệm hình sự cũng được quy định trong một chương riêng (chương 4 với một điều duy nhất là Điều 14) Cụ thể như sau:

Theo quy định tại Điều 11 Bộ luật hình sự Philippines, người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội nhưng thuộc các trường hợp sau đây thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự:

“1 Người thực hiện hành vi để bảo vệ thân thể hoặc quyền lợi của mình,

miễn là các yếu tố sau cũng đồng thời xảy ra: Một là, có hành vi gây hấn trái pháp luật từ người khác; Hai là, đó là phương tiện cần thiết hợp lý để ngăn

penalties) gồm: (1) tù ngắn hạn (Prision correccional); (2) đưa vào trại cải tạo (Arresto mayor); (3) Án treo

(Suspension); (4) Quản chế (Destierro); Các hình phạt nhẹ (light penalties) gồm: (a) Tù tại gia (Arresto menor)

43 và (b) kiểm duyệt bởi công chúng (public censure) Các hình phạt đi kèm 3 loại hình phạt kể trên: (1) Phạt tiền

và (2) Đặt tiền bảo đảm an toàn

- Các hình phạt bổ sung: (1) tước vĩnh viễn hoặc tạm thời mọi bằng cấp chuyên môn (perpetual or temporary

absolute disqualification); (2) tước vĩnh viễn hoặc tạm thời một bằng cấp chuyên môn (perpetual or temporary special disqualification); (3) đình chỉ việc đảm nhiệm chức vụ công, tước quyền bầu cử và ứng cử (Suspension from public office, the right to vote and be voted for, the profession or calling); (4) tước quyền làm cha mẹ (civil

interdiction) 43; (5) bồi thường (Indemnification); (6) tịch thu phương tiện, công cụ và tiền phạm tội (Forfeiture

or confiscation of instruments and proceeds of the offense); (6) thanh toán các khoản chi phí (payment of costs)

Trang 38

ngừa hoặc chống trả sự gây hấn đó; Ba là, người này không có hành vi trái

pháp luật đối với người gây hấn

2 Người thực hiện hành vi để bảo vệ thân thể hoặc quyền của người phối ngẫu của mình, phụ mẫu hoặc các con, hoặc anh chị em ruột hoặc nuôi, họ hàng thân thích, miễn là các yêu cầu thứ nhất và thứ hai mô tả trong khoản ngay dưới đây là hiện hữu, và một điều kiện nữa là, người thực hiện hành vi phòng vệ không có hành vi gây hấn

3 Người hành động để bảo vệ thân thể hoặc quyền lợi của một người lạ, miễn là các điều kiện thứ nhất và thứ hai đề cập trong trường hợp đầu tiên của Điều luật này là hiện hữu và rằng việc chống trả của người này không vì động

cơ tư thù hoặc các động cơ sai trái nào khác

4 Người nào, để tránh một điều tai họa hoặc thiệt hại, mà không hành động và vì thế gây thiệt hại cho người khác, miễn là các điều kiện sau đây được thỏa mãn: thứ nhất, điều tai họa cần tránh thực sự hiện hữu; thứ hai, thiệt hại e ngại sẽ xảy ra lớn hơn thiệt hại cần hi sinh; thứ ba, không có cách hoặc phương tiện thực tế nào ít gây thiệt hại hơn tồn tại

5 Người thực hiện hành vi để đáp ứng một nghĩa vụ hoặc trong phạm vi hành xử hợp pháp một quyền năng hoặc một nhiệm vụ luật định

6 Người thực hiện hành vi tuân theo một lệnh của cấp trên vì mục đích hợp pháp”

Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự Philippines, người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội nhưng thuộc các trường hợp sau thì được miễn trừ trách nhiệm hình sự:

“1 Người bị bệnh tâm thần và hành xử khi bệnh tâm thần phát tác Trường hợp người bị tâm thần phạm tội thì Tòa án có quyền ra lệnh buộc người này phải bị bắt buộc chữa bệnh trong một cơ sở y tế nhất định và người này không được thả khi Tòa án này chưa cho phép

2 Người dưới 9 tuổi

3 Người từ đủ 9 tuổi nhưng chưa đủ 15 tuổi trừ khi người này thực hiện

Trang 39

Khi người chưa thành niên này được tuyên là không phải chịu trách nhiệm hình sự, Tòa án, phải giao người đó cho gia đình giáo dục và chăm sóc

để gia đình thực hiện việc giám sát và giáo dục người này Trường hợp nếu không thể giao cho gia đình giáo dục và chăm sóc thì người này sẽ bị thực hiện theo các quy định tại Điều 80 Bộ luật này

4 Người nào, trong khi thực hiện một hành vi hợp pháp một cách cẩn

trọng nhưng đã gây thiệt hại do xảy ra tai nạn mà mình không có lỗi cũng

nhưng không có y định gây ra thiệt hại đó

5 Người thực hiện hành vi do sự cưỡng bức về bạo lực mà không thể kháng cự được

6 Người thực hiện hành vi theo sự tác động của nỗi sợ hãi không tự chủ được về việc bị gây ra một thiệt hại tương đương hoặc lớn hơn

7 Người không thực hiện hành vi mà luật pháp yêu cầu khi bị ngăn cản bởi nguyên nhân ngoài khả năng điều khiển của mình”

Theo quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự Philippines, người phạm tội mà có các tình tiết sau thì sẽ được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

“1 Thuộc những trường hợp được coi là miễn trách nhiệm nhưng lại

thiếu một trong số các điều kiện để miễn trách nhiệm

44 Điều 80 Bộ luật hình sự Philippines quy định về án treo dành cho người chưa thành niên phạm tội như sau

“Khi người một người chưa thành niên, dù nam hay nữ, dưới 16 tuổi tại thời điểm thực hiện hành vi phạm một tội nghiêm trọng hoặc một tội kém nghiêm trọng bị truy tố trước Tòa án, thì sau khi xem xét chứng cứ theo thủ tục tố tụng, Tòa án, thay vì ra bản án kết tội, sẽ đình chỉ mọi hoạt động tố tụng, và quyết định đặt người chưa thành niên này dưới sự quản lý, chăm sóc của một tổ chức từ thiện hoặc ái hữu công hoặc tư, được thành lập theo quy định của pháp luật về chăm sóc, giáo dục trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa, trẻ em có khuyết tật hoặc trẻ em phạm pháp, hoặc đặt dưới sự quản lý của bất cứ người có trách nhiệm nào tại nơi nằm trong sự giám sát của Giám đốc cơ quan phúc lợi hoặc đại diện của người này, theo các điều kiện dưới đây cho tới khi người chưa thành niên này đạt độ tuổi thành niên hoặc với thời hạn ngắn hơn nữa theo quyết định của Tòa án khi Tòa án thấy là phù hợp

Tòa án, khi đặt người chưa thành niên vào tình trạng như trên, phải cân nhắc tới yếu tố tôn giáo của người chưa thành niên, hoặc yếu tố tôn giáo của cha mẹ hoặc người thân thích của người chưa thành niên, để tránh việc đưa người chưa thành niên này đặt dưới sự quản lý của tổ chức tư nhân mà không chịu sự quản lý hoặc giám sát của

tổ chức tôn giáo tương ứng;

Giám đốc cơ quan phúc lợi hoặc đại diện của người này, thanh tra của trường công hoặc đại diện của người này hoặc người đã được giao quản lý người chưa thành niên phạm tội, cứ mỗi 4 tháng (hoặc trong các trường hợp đặc biệt thì thời điểm có thể khác) lại phải đệ trình cho tòa án báo cáo bằng văn bản về các hành vi tốt và xấu (hạnh kiểm) của người chưa thành niên phạm tội và quá trình tiến triển về đạo đức và trí tuệ của người này Thời gian chấp hành sự quản lý kể trên có thể được kéo dài hoặc rút ngắn bởi Tòa án theo đề nghị của Giám đốc cơ quan phúc lợi hoặc đại diện của người này, hoặc của thanh tra trường công hoặc đại diện của người này tương ứng với sự tiến bộ trong hành vi cũng như sự chấp hành các điều kiện tòa án đã ấn định của người chưa thành niên….”

Trang 40

2 Người phạm tội chưa đủ 18 hoặc đã trên 70 tuổi Trường hợp người chưa đủ 18 phạm tội, việc xử lý người này sẽ được thực hiện theo các quy định

3 Người phạm tội không có ý định thực hiện hành vi phạm tội đạt tới mức nghiêm trọng như tội đã phạm

4 Phía nạn nhân có những lời nói hoặc đe dọa kích động trực tiếp phạm nhân thực hiện hành vi phạm tội

5 Hành vi được thực hiện dưới tác động của áp lực lớn khiến cho việc hành xử thành bị động hoặc bối rối

6 Người phạm tội có hành vi tự thú, hoặc tự nguyện nhận tội trước tòa trước khi các chứng cứ được đưa ra để truy tố;

7 Người phạm tội bị điếc, câm, mù hoặc chịu các khuyết tật về thể chất khác làm hạn chế khả năng hành động, kháng cự, thông tin với người khác;

8 Người phạm tội có bệnh làm ảnh hưởng tới năng lực nhận thức của người phạm tội tuy nhiên không triệt tiêu hoàn toàn khả năng nhận thức của người này

9 Và, các trường hợp các bản chất tương tự với các trường hợp đã đề cập ở trên”

Ngược lại, theo quy định tại Điều 14 Bộ luật hình sự Philippines, người phạm tội mà có các tình tiết sau thì sẽ bị tăng nặng trách nhiệm hình sự:

“1 Người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình

2 Hành vi phạm tội mang tính chất xúc phạm đối với cơ quan công quyền

3 Hành vi có tính chất xúc phạm tới nạn nhân về vị thế xã hội, độ tuổi, giới tính, hoặc hành vi được thực hiện tại nơi cư trú của nạn nhân

4 Hành vi phạm tội được thực hiện có sự lạm dụng sự tin tưởng của người khác, hoặc mang tính chất vô ơn rõ ràng

5 Tội phạm được thực hiện tại phủ Tổng thống hoặc nơi Tổng thống hiện diện,

Ngày đăng: 15/04/2014, 10:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Thông tin chung về 5 quốc gia ASEAN 8 - Đề tài : So sánh pháp luật hình sự một số nước ASEAN
Bảng 1 Thông tin chung về 5 quốc gia ASEAN 8 (Trang 8)
Bảng 2. Khái quát cấu trúc của Bộ luật hình sự 5 quốc gia ASEAN - Đề tài : So sánh pháp luật hình sự một số nước ASEAN
Bảng 2. Khái quát cấu trúc của Bộ luật hình sự 5 quốc gia ASEAN (Trang 14)
Bảng 3. Kết cấu phần chung trong Bộ luật hình sự 5 nước ASEAN - Đề tài : So sánh pháp luật hình sự một số nước ASEAN
Bảng 3. Kết cấu phần chung trong Bộ luật hình sự 5 nước ASEAN (Trang 15)
Bảng 4. Kết cấu của phần quy định về các tội phạm cụ thể trong Bộ - Đề tài : So sánh pháp luật hình sự một số nước ASEAN
Bảng 4. Kết cấu của phần quy định về các tội phạm cụ thể trong Bộ (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w