1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề án : Tăng cường năng lực tư pháp xã, phường, thị trấn đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp

57 633 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề án : Tăng cường năng lực tư pháp xã, phường, thị trấn đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp
Trường học Học viện Tư pháp
Chuyên ngành Công tác tư pháp / Cải cách hành chính
Thể loại Đề án
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ quan chủ trì : Viện Khoa học Pháp lý Nội dung : Giới thiệu thực trạng năng lực tư pháp xã, phường, thị trấn. Trình bày kết quả nghiên cứu hoàn thiệt thể chế về công tác tư pháp có liên quan đến tổ chức và hoạt động tư pháp cấp xã; Đề xuất giải pháp và lộ trình tăng cường năng lực tư pháp đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ

ĐỀ ÁN

TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC TƯ PHÁP

XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH, CẢI CÁCH TƯ PHÁP

8222

HÀ NỘI - 2009

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN THỨ NHẤT: SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1

I NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ PHÁP XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN LÀ YÊU

CẦU KHÁCH QUAN CỦA QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH, CẢI

1.1 Cải cách hành chính xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của

cơ quan Tư pháp các cấp trong đó có Tư pháp cấp 21.2 Cải cách hành chính đẩy mạnh phân cấp quản lý công tác tư

pháp cho chính quyền cấp xã

3

1.3 Cải cách hành chính tăng cường tính công khai và đơn giản

hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực tư pháp 51.4 Cải cách hành chính với yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ,

công chức chuyên nghiệp, hiện đại

6

2 Những yêu cầu cải cách Tư pháp đặt ra đối với công tác tư

2.1 Cải cách tư pháp đặt ra yêu cầu tăng cường vai trò của

UBND cấp xã trong công tác thi hành án

11

2.2 Cải cách tư pháp đặt ra yêu cầu tôn trọng và phát huy quyền

dân chủ của nhân dân đối với cơ quan tư pháp

12

2.3 Nâng cao chất lượng hoạt động xét xử và yêu cầu phát huy

II THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TƯ PHÁP XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN 14

1 Về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Tư pháp cấp xã 14

Trang 3

PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CỦA TƯ

PHÁP CẤP XÃ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH, CẢI

II NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP VÀ LỘ TRÌNH THỰC HIỆN 34

1 Hoàn thiện thể chế về công tác tư pháp có liên quan đến tổ

chức và hoạt động của Tư pháp cấp xã

34

2 Nhóm giải pháp đảm bảo đủ về số lượng, nâng cao chất lượng

đối với đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch 35

2.1 Đảm bảo đủ số lượng công chức Tư pháp - Hộ tịch 352.2 Tiêu chuẩn hoá đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch 362.3 Xây dựng và thực hiện quy hoạch đội ngũ công chức Tư

pháp - Hộ tịch

37

2.4 Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng công chức Tư pháp – Hộ

tịch đáp ứng với tiêu chuẩn chức danh và thực hiện có hiệu

quả nhiệm vụ được giao

38

3 Đổi mới chế độ, chính sách đối với đội ngũ 40

4 Đổi mới, hiện đại hoá phương thức làm việc; bảo đảm cơ sở vật

chất, phương tiện làm việc, bao gồm cả cung cấp thông tin, văn

bản pháp luật

41

5 Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Cán sự đảng Bộ Tư

pháp, cấp uỷ và chính quyền địa phương và sự phối hợp của

các ban, ngành, đoàn thể trong triển khai thực hiện công tác

Tư pháp cấp xã

42

II TRÁCH NHIỆM CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ

TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG

45

Trang 4

PHẦN THỨ NHẤT

SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

I NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ PHÁP XÃ PHƯỜNG, THỊ TRẤN LÀ YÊU CẦU KHÁCH QUAN CỦA QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH, CẢI CÁCH TƯ PHÁP

Cải cách hành chính, cải cách tư pháp là những chủ trương lớn của Đảng

và Nhà nước ta nhằm xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

và hội nhập kinh tế quốc tế; đáp ứng tốt yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước Cùng với cải cách lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp đang được triển khai một cách đồng bộ với những mục tiêu, yêu cầu, nội dung cụ thể, theo đó, các cấp, các ngành nói chung, trong đó có Ngành Tư pháp đang đứng trước những yêu cầu, thách thức xuất phát từ nội tại công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp đặt ra Trong các giai đoạn cách mạng, đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh, phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì việc xây dựng, củng cố chính quyền cấp xã, trong đó có công tác tư pháp ngày càng đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định

1 Những yêu cầu cải cách hành chính đặt ra đối với công tác Tư pháp cấp xã

Cải cách hành chính ở nước ta được đề ra từ Đại hội VI của Đảng và ngày càng hoàn thiện về mặt quan điểm trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa VII, các văn kiện của Đại hội Đảng VIII, IX, X và Nghị quyết Trung ương V (số 17-NQ/TW) của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước

Để thể chế quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về cải cách hành chính, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 về việc phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai 2001 - 2010 (sau đây gọi là Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg) với 07 chương trình hành động cụ thể Mục tiêu tổng thể của Chương

trình cải cách hành chính giai đoạn này là: Đẩy mạnh cải cách hành chính

nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện

Trang 5

đại; đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực; hệ thống các cơ quan nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế; đáp ứng tốt yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước Để thực hiện mục tiêu

này, Chương trình tổng thể đã xác định 04 nội dung tương ứng với 04 bộ phận cấu thành của nền hành chính quốc gia bao gồm: Cải cách thể chế hành chính; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công Từng nội dung của cải cách hành chính đã và đang đặt ra những yêu cầu cho Ngành Tư pháp nói chung và công tác Tư pháp cấp xã nói riêng Cụ thể như sau:

1.1 Cải cách hành chính xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Tư pháp các cấp trong đó có Tư pháp cấp xã

Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg xác định một trong 09 mục tiêu của

Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010 đó là: “Hoàn

thiện hệ thống thể chế hành chính, cơ chế, chính sách phù hợp với thời kỳ công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó trước hết là về tổ chức và hoạt

động của hệ thống hành chính” Thực hiện mục tiêu này, trong giai đoạn 10

năm 2001-2010, Bộ Tư pháp đã tham mưu trình Chính phủ ban hành 02 Nghị định quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp, bao gồm Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính Phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp

và Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp (sau đây gọi là Nghị định số 93/2008/NĐ-CP)

Đối với cơ quan Tư pháp địa phương, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày 28/4/2009 của Bộ Tư pháp - Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng

Tư pháp thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện và công tác tư pháp của Uỷ ban nhân dân cấp xã (sau đây gọi là Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV) Theo Thông tư này, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tư pháp cấp

xã không chỉ được hoàn thiện theo hướng cụ thể, rõ ràng, không chồng chéo, không bỏ sót nhiệm vụ, bảo đảm bao quát hết các nhiệm vụ của công tác tư pháp mà còn được tăng cường, mở rộng trên các lĩnh vực xây dựng pháp luật, theo dõi tình hình thi hành văn bản bản quy phạm pháp luật, quản lý, đăng ký

hộ tịch, chứng thực, Cụ thể là:

Trang 6

- Bổ sung nhiệm vụ “Theo dõi, báo cáo tình hình thi hành văn bản quy phạm pháp luật, phát hiện, đề xuất biện pháp giải quyết những khó khăn vướng mắc trong thi hành văn bản quy phạm pháp luật ở cấp xã với Phòng Tư pháp cấp huyện”;

- Tăng cường thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp xã trong lĩnh vực về đăng ký, quản lý hộ tịch và công tác chứng thực trên cơ sở đẩy mạnh phân cấp quản lý hành chính nhà nước về tư pháp cho chính quyền cấp xã (chi tiết xem tại mục 1.2)

Với sự tăng cường, mở rộng về nhiệm vụ, quyền hạn và gia tăng về khối lượng công việc, trong khi đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch còn thiếu về

số lượng (trung bình cả nước có 1,27 công chức Tư pháp - Hộ tịch/01 đơn vị

xã, phường, thị trấn) và hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ (25,3% số công chức Tư pháp - Hộ tịch trên địa bàn cả nước chưa qua đào tạo về chuyên môn Luật trong đó có đến 9,85% số công chức chưa qua đào tạo) thì đây là một thách thức lớn đối với đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch với vai trò là người tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp tổ chức thực hiện các nhiệm

vụ, quyền hạn trong lĩnh vực quản lý nhà nước về tư pháp ở địa phương Vì vậy, yêu cầu tất yếu đặt ra là phải tăng cường năng lực cho đội ngũ công chức

Tư pháp – Hộ tịch cả về số lượng và chất lượng Yêu cầu này không chỉ có ý nghĩa trước mắt mà còn có ý nghĩa chiến lược để thực hiện những định hướng

về cải cách hành chính theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa

X, Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 -

2020, Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015 sẽ được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI vào tháng 01 năm 2011 với quan điểm

cơ bản là: “Thực hiện phân cấp mạnh và phù hợp hơn về nhiệm vụ từ Chính

phủ và các bộ cho chính quyền địa phương, phát huy tinh thần trách nhiệm, tính năng động sáng tạo của chính quyền địa phương trên cơ sở phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cấp trong bộ máy chính quyền, đồng thời xây dựng hành lang pháp lý bảo đảm sự thống nhất quản lý của Nhà nước ở Trung ương” Quá trình thực hiện các quan điểm, chủ trương trên của

Đảng sẽ tiếp tục tăng cường hơn nữa vai trò quản lý nhà nước bằng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, qua đó tiếp tục khẳng định

vị trí, vai trò của tư pháp cấp xã trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của Ngành Tư pháp

1.2 Cải cách hành chính đẩy mạnh phân cấp quản lý công tác tư pháp cho chính quyền cấp xã

Trang 7

Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg đặt ra mục tiêu: “Đến năm 2005, về cơ

bản xác định xong và thực hiện được các quy định mới về phân cấp quản lý hành chính nhà nước giữa Trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương; định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và tổ chức bộ máy chính quyền ở đô thị và nông thôn” Thực hiện mục tiêu này, Bộ Tư pháp

đã xây dựng, trình Chính phủ nhiều văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp

lý cao như Luật, Pháp lệnh, Nghị định, trong đó đẩy mạnh phân cấp giữa Trung ương và địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương, đặc biệt là phân cấp từ cấp tỉnh, cấp huyện cho cấp xã trong một số lĩnh vực thuộc phạm

vi quản lý của Bộ Cụ thể:

a) Trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch: Nghị định số

158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch (sau đây gọi là Nghị định số 158/2005/NĐ-CP) đã đẩy mạnh phân cấp cho UBND cấp xã trong việc đăng ký và quản lý hộ tịch ở địa phương, theo đó ngoài thẩm quyền về thực hiện đăng ký, đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi; đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn theo quy định của pháp luật đã được quy định tại Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch, UBND cấp xã còn thực hiện thẩm quyền thay đổi, cải chính hộ tịch cho người dưới 14 tuổi và bổ sung hộ tịch cho mọi trường hợp không phân biệt độ tuổi (thẩm quyền này theo Nghị định

số 83/1998/NĐ-CP được giao cho UBND cấp tỉnh thực hiện)

b) Trong lĩnh vực chứng thực: Luật Công chứng ra đời cùng với đó là

Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ

sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký (sau đây gọi là Nghị định số 79/2007/NĐ-CP) được ban hành đã làm rõ khái niệm về công chứng và chứng thực, đặc biệt phân định rõ thẩm quyền công chứng của Phòng Công chứng Nhà nước với thẩm quyền chứng thực của Phòng Tư pháp cấp huyện và Uỷ ban nhân dân cấp xã Theo đó, Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt; chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt; chứng thực các việc khác theo quy định của pháp luật Mặc dù, về thẩm quyền chứng thực của UBND cấp xã không thay đổi so với các quy định trước đây, song sự đẩy mạnh phân cấp cho chính quyền cấp xã nằm ở chỗ Nghị định 79/2007/NĐ-CP đã quy định:

- Chấm dứt thẩm quyền công chứng của Phòng công chứng đối với những việc thuộc thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP

Trang 8

- Thu hẹp thẩm quyền chứng thực của Phòng Tư pháp cấp huyện từ thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài, chứng thực chữ ký trong các văn bản (không phân biệt văn bản bằng tiếng Việt hay tiếng nước ngoài) để thực hiện các giao dịch theo quy định tại Nghị định số 75/2000/NĐ-CP sang chỉ còn thực hiện chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài và chứng thực chữ ký của người dịch trong các giấy tờ, văn bản từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài; chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài

Như vậy, thực hiện công cuộc cải cách hành chính, một trong những nội dung đã và đang được triển khai trong phân cấp quản lý hành chính nhà nước hiện nay đó là đẩy mạnh phân cấp thẩm quyền giữa Trung ương và địa phương

và giữa các cấp chính quyền địa phương Nội dung này được thể hiện rõ nét trong công tác Tư pháp, các thể chế được phân cấp mạnh cho UBND cấp xã trong vấn đề về đăng ký, quản lý hộ tịch và chứng thực, thông qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi thực hiện các giao dịch với cơ quan hành chính Nhà nước; đồng thời, tập trung cho cơ quan Tư pháp cấp tỉnh, cấp huyện trong việc quản lý công tác Tư pháp ở địa phương Do đó, để đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ nặng nề theo phân cấp của Chính phủ cho chính quyền cấp

xã, đòi hỏi ngành Tư pháp và chính quyền các cấp cần đặc biệt quan tâm tới việc nâng cao chất lượng và tăng cường số lượng đội ngũ công chức Tư pháp -

Hộ tịch cấp xã Đây chính là một trong những yêu cầu quan trọng mà công cuộc cải cách hành chính đặt ra đối với việc kiện toàn về tổ chức và nâng cao năng lực cơ quan Tư pháp các cấp nói chung, trong đó có Tư pháp cấp xã nói riêng Trong thời gian tới, thực hiện Nghị quyết Hội nghị trung ương 5 khóa X, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được xác định là một khâu đột phá trong cải cách hành chính và một trong những định hướng là tiếp tục phân cấp mạnh

và giao quyền chủ động hơn nữa cho chính quyền địa phương, nhất là trong quyết định về ngân sách, tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Trung ương Do đó, vấn đề kiện toàn năng lực Tư pháp cấp xã càng được chú trọng nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh phân cấp quản lý hành chính hiện nay

1.3 Cải cách hành chính tăng cường tính công khai và đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực tư pháp

“Xóa bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm

rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hành

Trang 9

quan trọng trong cải cách hành chính theo Chương trình tổng thể 136/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Thực hiện mục tiêu này, nhiều thủ tục hành chính trong lĩnh vực Tư pháp đã được đơn giản hóa theo hướng rút ngắn thời hạn, đồng thời áp dụng cơ chế “một cửa”, công khai và minh bạch, nhất là trong công tác quản lý và đăng ký hộ tịch, công tác chứng thực, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cũng như đáp ứng tốt nhất yêu cầu của người dân

Cụ thể:

- Thực hiện Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, hầu hết các thủ tục đăng ký

hộ tịch thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã đã rút ngắn thời hạn giải quyết từ

07 ngày (theo Nghị định số 83/1998/NĐ-CP) xuống còn 05 ngày (trừ những thủ tục đăng ký hộ tịch theo quy định của pháp luật được giải quyết trong ngày);

- Thực hiện Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04/9/2003 của Chủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương thì đăng ký hộ tịch và chứng thực là hai nhóm công việc phải áp dụng giải quyết theo cơ chế “một cửa” để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân khi giao dịch với cơ quan hành chính nhà nước Điều này đồng nghĩa với việc đội ngũ

công chức Tư pháp - Hộ tịch phải có đủ về số lượng (ít nhất mỗi đơn vị xã,

phường, thị trấn bố trí được 01 người trực bộ phận một cửa và 01 người triển khai các nhiệm vụ khác thuộc công tác Tư pháp cấp xã) và đáp ứng yêu cầu về

chất lượng nhất là về trình độ, thái độ, khả năng giao tiếp, trách nhiệm phục vụ nhân dân mới có thể giải quyết được khối lượng công việc đồ sộ ngày càng tăng lên trong khi yêu cầu về mặt thời hạn giải quyết ngày càng rút ngắn

Trong thời gian tới, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X xác định đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính là khâu đột phá để tạo môi trường thuận lợi, minh bạch cho hoạt động của nhân dân và doanh nghiệp, theo đó một loạt các biện pháp được đặt ra để thực hiện chủ trương này như: tập trung chỉ đạo

rà soát và cải cách mạnh mẽ các thủ tục hành chính, tạo môi trường thuận lợi nhất cho sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và nhu cầu chính đáng của người dân trong một số lĩnh vực trong đó có lĩnh vực hộ tịch và lĩnh vực công chứng, chứng thực; các cấp chính quyền và từng cơ quan hành chính nhà nước khẩn trương rà soát các loại thủ tục hành chính, bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền hoặc trình cấp trên xem xét, sửa đổi theo hướng tạo thuận tiện cho nhân dân và doanh nghiệp; công bố công khai các thủ tục (các loại giấy tờ,

Trang 10

biểu mẫu) và quy trình giải quyết công việc, thời gian giải quyết, phí, lệ phí theo quy định để nhân dân biết và thực hiện thuận lợi; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước và mở rộng áp dụng tại các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công như bệnh viện, trường học

Như vậy, cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi nhất cho doanh nghiệp và người dân vẫn đã, đang và sẽ là một mục tiêu quan trọng của Đảng

ta trong cải cách hành chính Điều này cần được tính tới khi chúng ta tiếp tục kiện toàn năng lực Tư pháp cấp xã nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cải cách hành chính đặt ra cho công tác Tư pháp cấp xã, cụ thể và trước hết là làm sao

để giải quyết tốt nhất yêu cầu của người dân trong khi khối lượng công việc ngày càng tăng lên nhưng thời gian giải quyết liên tục được rút ngắn Đó là một bài toán không đơn giản và lời giải không thể khác đó là phải không ngừng tăng cường năng lực Tư pháp cấp xã

1.4 Cải cách hành chính với yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, hiện đại

Chương trình tổng thể cải cách hành chính của Nhà nước ban hành kèm

theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg đã xác định mục tiêu “xây dựng đội ngũ

cán bộ, công chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, chuyên nghiệp, hiện đại, tuyệt đại bộ phận cán bộ, công chức có phẩm chất tốt và đủ năng lực thi hành công

vụ, tận tụy phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước và phục vụ nhân dân” Để

thực hiện mục tiêu đó, vấn đề hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh làm cơ

sở để quy hoạch, tuyển dụng, quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức là một trong những nội dung được đặt ra trong đổi mới, nâng cao chất lượng cán

bộ, công chức

Thời gian qua, Nhà nước ta đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống chức danh cán bộ, công chức cấp xã Kết quả quan trọng của nội dung cải cách này được thể hiện ở việc Chính phủ ban hành nhiều văn bản quan trọng liên quan đến xác định chức danh đối với những người làm công tác đảng, đoàn thể và chính quyền cấp xã, gồm:

- Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ về chế

độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường thị trấn;

- Luật Cán bộ, công chức năm 2008;

- Nghị định số 92/2010/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã,

Trang 11

phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã (thay thế Nghị định số 121/2003/NĐ-CP).

Theo các văn bản này, những người làm công tác đảng, đoàn thể, chính quyền cấp xã được định rõ về chức danh (cán bộ hoặc công chức hoặc những người hoạt động không chuyên trách), thay vì chức danh cán bộ nói chung, hưởng sinh hoạt phí theo các văn bản trước đây, trong đó người làm công tác Tư pháp - Hộ tịch là một trong 07 chức danh công chức cấp xã, chịu trách nhiệm tham mưu, giúp UBND cùng cấp trong lĩnh vực Tư pháp - Hộ tịch Trên cơ sở

đó, Bộ Nội vụ đã ban hành Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn Theo Quyết định này, công chức Tư pháp - Hộ tịch phải đáp ứng những tiêu chuẩn chung của cán bộ, công chức cấp xã và những tiêu chuẩn riêng của công chức

Tư pháp - Hộ tịch Cụ thể:

- Những tiêu chuẩn chung gồm:

+ Có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ở địa phương

+ Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, công tâm thạo việc, tận tuỵ với dân Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng Có ý thức

kỷ luật trong công tác

+ Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm

+ Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ học vấn, chuyên môn,

đủ năng lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao

- Những tiêu chuẩn cụ thể đối với chức danh Tư pháp-Hộ tịch

+ Tuổi đời: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu

+ Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng

và đô thị; tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi

+ Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên

+ Chuyên môn, nghiệp vụ: Ở khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp Luật trở lên và phải qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Tư pháp cấp xã sau khi được

Trang 12

tuyển dụng Đối với công chức đang công tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ Tư pháp cấp xã; nếu mới được tuyển dụng lần đầu phải có trình độ trung cấp luật trở lên Phải qua bồi dưỡng quản

lý hành chính Nhà nước sau khi được tuyển dụng Ở khu vực đồng bằng và đô thị phải sử dụng được kỹ thuật tin học trong công tác chuyên môn

Như vậy, sự hoàn thiện về chức danh và những tiêu chuẩn cụ thể đối với công chức cấp xã nói chung, trong đó có chức danh công chức Tư pháp -

Hộ tịch đòi hỏi chúng ta phải từng bước chuẩn hóa đội ngũ công chức Tư pháp

- Hộ tịch nhằm đáp ứng yêu cầu của cải cách hành chính, cải cách tư pháp đã

và đang đặt ra hiện nay

Bên cạnh đó, trong nội dung về đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, Quyết định 136/2001/QĐ-TTg cũng đề ra những yêu cầu cụ thể liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức cán bộ, công chức Theo đó, nhiều chương trình đào tạo dành cho đội ngũ cán bộ, công chức nói chung, trong đó có cán bộ, công chức cấp xã đã và đang được đặt ra và triển khai trên thực tế nhằm đáp ứng yêu cầu của cải cách hành chính, cụ thể là:

- Quyết định số 40/2006/QĐ-TTg ngày 15/02/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2006-2010;

- Quyết định số 34/2006/QĐ-TTg ngày 08/02/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn người dân tộc thiểu số giai đoạn 2006-2010;

- Quyết định số 28/2007/QĐ-TTg ngày 28/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn các tỉnh khu vực miền núi phía Bắc giai đoạn 2007-2010;

- Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án: “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”;

- Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ pháp lý nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo giai đoạn 2011-2020;

Theo các chương trình, đề án, kế hoạch đào tạo nêu trên, nâng cao trình

độ chuyên môn, năng lực công tác của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nói

Trang 13

chung trong đó có đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch nói riêng là mục tiêu xuyên suốt, là một nội dung của cải cách hành chính, đồng thời là một giải pháp nhằm đáp ứng tốt những yêu cầu đặt ra khi chúng ta thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính trên cả bốn nội dung: Cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy, đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

và cải cách tài chính công

Tiếp tục thực hiện yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Nghị quyết Trung ương 5 khóa X đã xác định một số nội dung quan trọng: thứ nhất, xác định rõ vị trí, cơ cấu và tiêu chuẩn chức danh công chức trong từng

cơ quan của Nhà nước để làm căn cứ tuyển dụng và bố trí, sử dụng cán bộ, công chức; thứ hai, làm tốt công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch cán bộ, công chức, thông qua việc đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, xác định rõ những người đủ và không đủ tiêu chuẩn, có chính sách thích hợp đối với người không đủ tiêu chuẩn phải đưa ra khỏi bộ máy; thứ ba, đổi mới chế độ tuyển dụng và quản lý cán bộ, công chức, trong đó việc bố trí, phân công nhiệm vụ cho cán bộ, công chức cần bảo đảm sự ổn định để chuyên môn hóa, đồng thời

có sự điều chuyển cần thiết để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và phòng ngừa tiêu cực; thứ tư, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Như vậy, hiện tại cũng như định hướng cho những năm tới, nâng cao trình độ, năng lực

và phẩm chất đối với đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã vừa là một yêu cầu trực tiếp của cải cách hành chính Nhà nước với mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, hiện đại vừa là nội dung nhằm đáp ứng những yêu cầu, thách thức đặt ra khi chúng ta thực hiện cải cách tổng thể nền hành chính nhà nước

2 Những yêu cầu cải cách tư pháp đặt ra đối với công tác Tư pháp cấp xã

Cùng với công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp cũng là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Chủ trương này thể hiện rõ nét qua Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (sau đây gọi là Nghị quyết số 49-NQ/TW), trong

đó mục tiêu đặt ra là: Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ,

nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự

tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao Chiến lược cải cách tư

pháp hiện nay được triển khai đồng bộ với 08 nhóm nhiệm vụ gồm: Hoàn thiện

Trang 14

chính sách pháp luật hình sự, pháp luật dân sự và thủ tục tố tụng tư pháp; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các

cơ quan tư pháp mà trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân; hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp; xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp trong sạch, vững mạnh; hoàn thiện cơ chế, giám sát của các cơ quan dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với cơ quan tư pháp; tăng cường hợp tác quốc tế về tư pháp; bảo đảm cơ sở vật chất và hoạt động tư pháp; hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp

Với những mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra từ Chiến lược cải cách tư pháp, Ngành Tư pháp đang đứng trước những nhiệm vụ hết sức quan trọng như: không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm hoàn thiện chính sách, pháp luật về tư pháp theo yêu cầu của Chiến lược cải cách tư pháp; hoàn thiện chế định về bổ trợ tư pháp và xây dựng đội ngũ cán bộ bổ trợ tư pháp - một trong những chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp bảo đảm các hoạt động bổ trợ tư pháp gồm Luật sư, công chứng, giám định tư pháp và bán đấu giá tài sản, hỗ trợ cho các hoạt động tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử) được khách quan, chính xác và đúng pháp luật

và một số các nhiệm vụ khác như tăng cường tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở Trong phạm vi Đề án tăng cường năng lực Tư pháp cấp xã đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp, một số yêu cầu của cải cách tư pháp đặt ra đối với công tác Tư pháp cấp

xã cụ thể như sau:

2.1 Cải cách tư pháp đặt ra yêu cầu tăng cường vai trò của UBND cấp xã trong công tác thi hành án

Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 xác định: “Chuẩn bị điều

kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống

nhất quản lý công tác thi hành án Xác định rõ trách nhiệm của Uỷ ban nhân

dân xã, phường, thị trấn và của cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trong việc thi hành án các hình phạt không phải là hình phạt tù để thực hiện các bản án của tòa án Từng bước thực hiện việc xã hội

hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án” Thể chế hóa nội dung

nêu trên, hệ thống pháp luật về thi hành án thời gian qua đã có những bước hoàn thiện cơ bản, trong đó tăng cường vai trò của UBND cấp xã trong công tác thi hành án

Trang 15

Yêu cầu đặt ra đối với công tác Tư pháp cấp xã hiện nay đó là tăng cường sự phối hợp hiệu quả giữa Uỷ ban nhân dân cấp xã (trực tiếp là công chức Tư pháp – Hộ tịch) với cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên thi hành án dân sự trong việc tổ chức thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án trên địa bàn, bảo đảm pháp luật được thực hiện nghiêm minh Sự phối hợp này đòi hỏi phải có con người trực tiếp tham gia phối hợp; nắm bắt được các thông tin về địa bàn và đối tượng phải thi hành án, có như vậy, sự phối hợp giữa cơ quan thi hành án với chính quyền địa phương trong việc tổ chức thi hành án dân sự mới đạt được hiệu quả Do đó, sự tăng cường về số lượng và chất lượng (nhấn mạnh yếu tố trách nhiệm, nhiệt tình) cũng như chính sách hỗ trợ cho đội ngũ này là yêu cầu hết sức quan trọng nhằm bảo đảm công tác Tư pháp cấp xã đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp đặt ra hiện nay Cụ thể là, Điều 175

Luật Thi hành án dân sự quy định rõ: “Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã trong

phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Chấp hành viên và cơ quan thi hành án dân sự trong việc thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án và các nhiệm vụ khác về thi hành án dân sự trên địa bàn” Theo quy định này, thì

công chức Tư pháp - Hộ tịch với vai trò là người tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp trong lĩnh vực Tư pháp sẽ chịu trách nhiệm giúp UBND cấp xã thực hiện nhiệm vụ phối hợp, hỗ trợ để công tác thi hành án dân

sự trên địa bàn xã, phường, thị trấn đạt kết quả tốt nhất

Trong thời gian tới, Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 xác định giao Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án bao gồm cả thi hành án dân sự, thi hành án hình sự, thi hành án hành chính Mặc dù vấn đề này đang trong quá trình nghiên cứu, thảo luận để tổ chức thực hiện nhưng dù phạm vi quản lý, cách thức chuyển giao như thế nào thì cũng cần sớm có các bước chuẩn bị về nguồn nhân lực và các điều kiện cần thiết khác ở cấp xã giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp quản lý nhà nước về công tác thi hành

án ở địa phương cũng cần được đặt ra nhằm tạo thế chủ động khi Bộ Tư pháp được giao giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác thi hành án theo yêu cầu của Chiến lược cải cách tư pháp

2.2 Cải cách tư pháp đặt ra yêu cầu tôn trọng và phát huy quyền dân chủ của nhân dân đối với cơ quan tư pháp

Phát huy dân chủ là mục tiêu cơ bản và thống nhất trên cả 03 công cuộc cải cách: cải cách lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay nhằm xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ở Việt Nam Để người dân thực sự là

Trang 16

chủ và làm chủ, đòi hỏi người dân phải nhận thức rõ quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình cũng như quyền, nghĩa vụ pháp lý của các cơ quan công quyền – đây được coi là công cụ quan trọng để người dân thực hiện quyền làm chủ Trên quan điểm đó, Nghị quyết số 49-NQ/TW xác định nhiệm vụ phát huy quyền

làm chủ của nhân dân đối với cơ quan tư pháp cần “Đẩy mạnh công tác tuyên

truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; không ngừng nâng cao trình độ dân trí pháp lý, ý thức sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật cho mọi người dân Mặt trận Tổ quốc và các thành viên tập trung làm tốt công tác động viên nhân dân phát hiện những hạn chế, khuyết điểm trong hoạt động tư pháp, qua đó kiến nghị với các cơ quan tư pháp khắc phục, sửa chữa Tăng cường vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền, cung cấp thông tin về hoạt động tư pháp”

Với vai trò là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác tư pháp ở địa phương, trong đó có nhiệm vụ tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật; quản lý, khai thác, sử dụng Tủ sách pháp luật ở cấp xã, nhiệm vụ cải cách tư pháp đặt ra đối với Uỷ ban nhân dân cấp xã hiện nay cũng như thời gian tới đó là cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cũng như hòa giải ở địa phương mình đáp ứng nhiệm

vụ phát huy quyền làm của nhân dân đối với cơ quan tư pháp như nhiệm vụ đã được đề ra trong Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2010 Để làm tốt nhiệm

vụ này, công chức Tư pháp – Hộ tịch không những cần phát huy vai trò là người báo cáo viên pháp luật trực tiếp mà còn phải có năng lực tham mưu cho UBND cấp xã trong việc phối hợp với các tổ chức đoàn thể ở địa phương xây dựng kế hoạch và tổ chức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong nhân dân để người dân hiểu và thực hiện tốt quyền làm chủ của mình nói chung, trong đó có quyền làm chủ của nhân dân đối với cơ quan tư pháp – một trong nhiệm vụ của công cuộc cải cách Tư pháp hiện nay

2.3 Nâng cao chất lượng hoạt động xét xử và yêu cầu phát huy vai trò hoạt động hòa giải ở cơ sở

Nâng cao chất lượng hoạt động xét xử là nhiệm vụ trọng tâm của Chiến lược cải cách Tư pháp giai đoạn 2010-2020 nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng một nền Tư pháp trong sạch, vững mạnh, nghiêm minh, bảo vệ công lý Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, các mối quan hệ xã hội diễn ra phức tạp và tranh chấp phát sinh là điều tất yếu – đã và đang tạo nên những áp lực lớn về công việc và ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân các cấp Vì vậy, giảm tải áp lực công việc cho Tòa

Trang 17

án nhân dân các cấp là một trong những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân hiện nay

Hiện nay, hòa giải ở cơ sở đã và đang là một trong những hình thức giải quyết tốt những mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong đời sống cộng đồng dân

cư Ngay từ năm 1998, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, theo đó hòa giải ở cơ sở được thực hiện thông qua hoạt động của Tổ hòa giải hoặc các tổ chức thích hợp khác nhau của nhân dân ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân Khoản

6 Điều 7 Thông tư số 01/2009/TTLT-BTP-BNV quy định một trong những nội dung quản lý Nhà nước về công tác Tư pháp trên địa bàn của Ủy ban nhân dân

cấp xã là: Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt

động hòa giải ở cơ sở, bồi dưỡng, cung cấp tài liệu nghiệp vụ cho tổ viên Tổ hòa giải trên địa bàn theo hướng dẫn của cơ quan tư pháp cấp trên Làm tốt

nhiệm vụ này là yêu cầu hết sức quan trọng, góp phần giảm bớt các vụ, việc phải xét xử tại Tòa án, qua đó nâng cao chất lượng xét xử của hệ thống Tòa án nhân dân – một trong những nội dung quan trọng của Chiến lược cải cách Tư pháp ở nước ta đến năm 2020 Yêu cầu này đặt ra đối với đội ngũ công chức

Tư pháp - Hộ tịch hiện nay đó là phải tham mưu tốt cho Uỷ ban nhân dân cấp

xã trong việc xây dựng, duy trì và phát triển về số lượng cũng như chất lượng hoạt động của mạng lưới tổ hòa giải ở cơ sở và đội ngũ hòa giải viên ở các tổ dân phố, thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc, cụm dân cư Đây là nhiệm vụ thường xuyên trong công tác Tư pháp cấp xã, đòi hỏi đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch phải không ngừng được tăng cường về năng lực nhằm đáp ứng những yêu cầu của cải cách tư pháp đặt ra

Tóm lại, cải cách hành chính, cải cách tư pháp đã, đang và sẽ đặt ra

những yêu cầu đối với công tác tư pháp nói chung và công tác Tư pháp cấp xã nói riêng Để triển khai một cách đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các các nhóm nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật đáp ứng tốt yêu cầu của cải cách hành chính, cải cách tư pháp, vấn đề nâng cao năng lực Tư pháp cấp xã là đòi hỏi tất yếu trong giai đoạn hiện nay

II THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TƯ PHÁP XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN

1 Về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Tư pháp cấp xã

1.1 Ưu điểm

Trong thời gian qua, việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ của Tư pháp cấp xã đã giúp chính quyền các cấp quản lý nhà nước có hiệu quả về mọi mặt

Trang 18

của đời sống xã hội trên địa bàn, đồng thời qua đó cũng đã khẳng định vị trí, vai trò của công tác Tư pháp trong quản lý nhà nước cũng như trong đời sống

xã hội, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để khuyến khích và thu hút đầu tư, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, chỉ đạo điều hành bằng pháp luật, thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương và của ngành Tư pháp

a) Công tác xây dựng pháp luật từng bước được triển khai thực hiện, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật của chính quyền cấp xã

Xây dựng pháp luật là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của cơ quan nhà nước các cấp Theo quy định của pháp luật, Uỷ ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; đồng thời, để chỉ đạo, quản lý các lĩnh vực đời sống xã hội trên địa bàn Công chức Tư pháp - Hộ tịch với vai trò là công chức chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giúp chính quyền cấp xã trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về công tác tư pháp thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật;

tổ chức việc lấy ý kiến nhân dân về các dự án luật, pháp lệnh và các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo hướng dẫn của cơ quan cấp trên; tự kiểm tra các văn bản do Uỷ ban nhân dân cấp xã ban hành Đồng thời công chức Tư pháp - Hộ tịch còn có trách nhiệm trong việc phối hợp với các tổ chức, cá nhân

có liên quan để hướng dẫn việc xây dựng hương ước, quy ước, bảo đảm các văn bản này phù hợp với quy định của pháp luật và đồng thời cũng phù hợp với phong tục, tập quán của địa phương

Nhiệm vụ này đòi hỏi công chức Tư pháp - Hộ tịch phải có trình độ chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ và kinh nghiệm, khả năng phát hiện vấn đề, tổng kết thực tiễn để đưa ra dự thảo các văn bản phù hợp, theo đúng quy định của pháp luật Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, công chức Tư pháp - Hộ tịch phải nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, các quy định pháp luật hiện hành của nhà nước và nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân cấp xã; đồng thời phải nắm được thực tiễn, tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội trên địa bàn để tham mưu và giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã ban hành hoặc đề nghị

cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản kịp thời, có tính khả thi cao và đáp ứng được với yêu cầu quản lý nhà nước của địa phương; đồng thời, cần có hiểu biết về kỹ thuật, quy trình soạn thảo văn bản, để các văn bản được ban hành đúng thể thức, đúng thẩm quyền, nội dung phù hợp, bảo đảm tính đồng

bộ, tính thống nhất của hệ thống pháp luật

Trang 19

Từ khi, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được ban hành, đến nay, công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp xã đã được quan tâm hơn và từng bước đi vào nề nếp Theo kết quả khảo khát năm 2008 của 1.493 xã, phường, thị trấn đại diện cho các vùng, miền, khu vực trong cả nước cho thấy trong 2 năm 2007-2008, có 73% (1.086/1.493 cấp xã) đã thực hiện soạn thảo các văn bản thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã Trong giai đoạn từ năm

2003 đến năm 2005, tỉ lệ công chức Tư pháp - Hộ tịch không thống kê được kết quả hoạt xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là 51,4% thì trong các năm

2007 và 2008, tỷ lệ này giảm xuống còn 27%

Đồng thời qua khảo sát cho thấy, kết quả triển khai thực hiện các nhiệm

vụ cụ thể trong công tác xây dựng pháp luật như sau: có 62% cấp xã (922/1.493 cấp xã) đã tổ chức lấy ý kiến trong nhân dân về các dự án luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật khác; 78,7% công chức Tư pháp

- Hộ tịch có tham gia ý kiến vào các văn bản pháp luật do Uỷ ban nhân dân cấp

xã ban hành với số lượng bình quân là 4,5 văn bản/tháng Bên cạnh đó, 84% công chức Tư pháp - Hộ tịch (1.332/1.493 cấp xã) đã giúp UBND cấp xã tự kiểm tra các Quyết định, Chỉ thị do Uỷ ban nhân dân cấp xã ban hành, tính trung bình mỗi công chức Tư pháp - Hộ tịch giúp UBND cấp xã tự kiểm tra văn bản bình quân là 9 văn bản/tháng Ngoài ra, công chức Tư pháp - Hộ tịch còn tham gia xây dựng hương ước, quy ước của thôn, làng, ấp, bản,

Với những kết quả đạt được trên đây, công tác xây dựng pháp luật đã giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp của các tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển

b) Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và hoà giải ở cơ sở được thực hiện với nhiều hình thức đa dạng, phong phú góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân

Phổ biến, giáo dục pháp luật là nhiệm vụ quan trọng của tất cả các cấp,

các ngành, cơ quan, đơn vị, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội Thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng

về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân trong đó đã xác định phổ biến pháp luật là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của các cơ quan Đảng, chính quyền, Nhà nước và cả hệ thống chính trị; coi công tác phổ biến

Trang 20

pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; để nhân dân hiểu biết, tuân thủ pháp luật và giám sát việc thực hiện pháp luật thì phải tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật Như vậy, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là nhiệm vụ của tất cả các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn

vị, đoàn thể quần chúng, trong đó các cơ quan tư pháp giữ vai trò nòng cốt trong việc định hướng và tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật

Để bảo đảm chất lượng, hiệu quả hoạt động, trên cơ sở kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật của cấp huyện và sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân cấp

xã, công chức Tư pháp - Hộ tịch đã cụ thể hoá kế hoạch tại cơ sở theo từng địa bàn, từng đối tượng để tuyên truyền các văn bản pháp luật theo các hình thức phù hợp Theo kết quả khảo sát tại 1.493 cấp xã thì 97% cấp xã (1.442/1.493 cấp xã) cho biết đã thực hiện hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật Đồng thời, đã có 83,4% cấp xã đã thành lập Hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật,

số lượng bình quân là 9,7 thành viên/Hội đồng Thành viên của Hội đồng bao gồm đại diện của Mặt trận tổ quốc, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân Một số Hội đồng còn có sự tham gia của đại diện các đơn vị dân cư là trưởng thôn và già làng Đối với các cấp xã ở khu vực miền núi, địa bàn có người dân tộc sinh sống thì phần lớn người tham gia Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là các già làng, trưởng bản Đối với các cấp xã ở khu vực biên giới thì các đồn biên phòng cũng có một vai trò quan trọng trong việc phối hợp cùng với Tư pháp cấp xã thực hiện nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật

Hình thức phổ biến giáo dục pháp luật đã được đa dạng hóa phù hợp với từng đối tượng Cụ thể, theo kết quả khảo sát của 1.493 cấp xã năm 2008, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã đạt được một số kết quả như sau: tuyên truyền miệng (đạt tỷ lệ 100%), loa truyền thanh (đạt tỷ lệ 73,6%), quản lý, khai thác và hướng dẫn sử dụng tủ sách pháp luật (đạt tỷ lệ 90,6%) Một số hình thức khác cũng được sử dụng nhưng ở tỷ lệ thấp hơn và không thường xuyên như thông qua việc thành lập và duy trì, hướng dẫn sinh hoạt của các câu lạc

bộ pháp luật (33,2%); tổ chức các hội diễn, hội thi, lồng ghép vào các hình thức sinh hoạt văn nghệ, thể thao (đạt tỷ lệ 42%)

Hoà giải ở cơ sở là một hoạt động mang tính xã hội tự nguyện, tự quản

đã trở thành đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, không chỉ đơn thuần góp phần hạn chế các tranh chấp dân sự, vận động nhân dân sống và làm việc theo pháp luật, củng cố tình làng, nghĩa xóm, tăng cường tình đoàn kết trong

Trang 21

phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh, tế xã hội

Thực hiện Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở, Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ngày 18/10/1999 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở; đồng thời, được sự quan tâm của cấp uỷ, chính quyền các cấp ở địa phương, trong thời gian qua công tác hoà giải ở cơ sở được kiện toàn, củng cố và ngày càng phát triển Hiện nay, cả nước đã có 126.293 tổ hoà giải với 1.504.928 hoà giải viên Trong năm 2009 đã hoà giải 381.658 vụ, việc, trong đó, số vụ việc hoà giải thành là 290.478 vụ, việc, đạt trên 76%

Kết quả của công tác phổ biến giáo dục, hòa giải ở cơ sở nêu trên đã nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân, giải quyết kịp thời, tận gốc tranh chấp, mâu thuẫn nhỏ trong nội bộ nhân dân, giảm số vụ việc khiếu nại, tố cáo, tranh chấp phải chuyển đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, góp phần tích cực vào việc giữ vững an ninh, trật tự an toàn

xã hội, tăng cường pháp chế, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương và cơ sở

c) Công tác hành chính tư pháp được phân cấp mạnh mẽ, gần dân, tạo điều kiện thuận lợi cho dân, rút ngắn thời gian giải quyết công việc của dân

Hoạt động hành chính tư pháp ở cấp xã được triển khai bao gồm nhiệm

vụ quản lý và đăng ký hộ tịch, chứng thực các vụ việc theo quy định của pháp luật Đây là những công việc phát sinh hàng ngày ở cấp xã, liên quan và góp phần trực tiếp bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

Trong lĩnh vực quản lý, đăng ký hộ tịch: Thực hiện chủ trương đẩy

mạnh phân cấp về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý lĩnh vực này cho địa phương nói chung và cấp xã nói riêng nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, đề cao trách nhiệm của UBND cấp xã, ngày 27/12/2005, Chính phủ

đã ban hành Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định về đăng ký và quản lý hộ tịch So với trước đây thì Uỷ ban nhân dân cấp xã được giao thêm nhiệm vụ thực hiện thay đổi, cải chính hộ tịch cho người dưới 14 tuổi và bổ sung hộ tịch cho mọi trường hợp không phân biệt độ tuổi (Điều 36-37 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP)

Với những nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, công chức Tư pháp - Hộ tịch ở cấp xã có trách nhiệm giúp

Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện quản lý và đăng ký hộ tịch với những công việc cụ thể như: thụ lý hồ sơ, kiểm tra, xác minh và đề xuất với Chủ tịch Uỷ

Trang 22

ban nhân dân xem xét, quyết định việc đăng ký hộ tịch; thường xuyên kiểm tra

và vận động nhân dân đi đăng ký kịp thời các sự kiện hộ tịch Công chức Tư pháp - Hộ tịch phải chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân về những sự kiện

hộ tịch phát sinh trên địa bàn xã, phường, thị trấn mà không được đăng ký; sử dụng các loại sổ, biểu mẫu hộ tịch theo quy định của pháp luật; tổng hợp tình hình và thống kê chính xác số liệu hộ tịch của Uỷ ban nhân dân cấp xã báo cáo

Uỷ ban nhân dân cấp huyện định kỳ 6 tháng và hàng năm; tuyên truyền, phổ biến vận động nhân dân thực hiện các quy định về đăng ký hộ tịch; giữ gìn, bảo quản, lưu trữ sổ hộ tịch và giấy tờ hộ tịch Kết quả khảo sát trong năm

2007 và quý I năm 2008 cho thấy, bình quân trong 01 tháng, một công chức

Tư pháp - Hộ tịch phải thực hiện 31,9 việc về đăng ký hộ tịch cho người dân tại địa phương (tăng 100% so với trước năm 2007 khi chưa được giao thêm nhiệm vụ)

Nhìn chung, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch đã đạt được những kết quả nhất định như: giải quyết kịp thời, nhanh chóng các yêu cầu của công dân trong lĩnh vực hộ tịch

- Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt (theo Nghị định số 79/2007/NĐ-CP), cụ thể là:

+ Chứng thực các giấy tờ, văn bản chỉ bằng tiếng Việt hoặc do cơ quan,

tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam cấp bằng tiếng Việt, có xen một số từ bằng tiếng nước ngoài (ví dụ: Giấy chứng nhận kết hôn của người Việt Nam và người nước ngoài, trong đó có ghi tên, địa chỉ của người nước ngoài bằng tiếng nước ngoài )

+ Chứng thực các giấy tờ, văn bản có tính chất song ngữ (ví dụ: Hộ chiếu của công dân Việt Nam, chứng chỉ tốt nghiệp của các trường đại học Việt Nam liên kết với trường đại học của nước ngoài trong đó có ghi đầy đủ bằng cả tiếng Việt và tiếng nước ngoài)

+ Chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt (theo

Trang 23

- Chứng thực hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân (theo Luật đất đai năm 2003)

- Chứng thực hợp đồng mua bán, thuê, thuê mua, tặng cho, đổi, thế chấp, cho mượn, cho ở nhờ, uỷ quyền quản lý nhà ở đối với nhà ở tại nông thôn (theo Luật nhà ở năm 2005)

- Chứng thực di chúc, văn bản từ chối nhận di sản (theo Bộ luật dân sự năm 2005)

Sau khi có sự điều chỉnh về thẩm quyền chứng thực thì khối lượng công việc công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã đã tăng đột biến Nếu như so với thời điểm trước khi chuyển giao, trong lĩnh vực chứng thực, bình quân trong 01 tháng, một công chức Tư pháp - Hộ tịch chỉ phải thực hiện 153 việc thì sau khi được chuyển giao từ tháng 7/2007 thì khối lượng việc bình quân trong một tháng đã lên đến 379 việc (tăng gầp 2-3 lần)

Hiện nay, việc chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký tại các địa phương nhìn chung được triển khai thực hiện tốt, đang dần đi vào nề nếp, đảm bảo giải quyết được kịp thời và rút ngắn được thời gian, đáp ứng được nhu cầu của người dân, khắc phục tình trạng ùn tắc, người dân phải xếp hàng chờ đợi như trước đây Tại nhiều địa phương đã thực hiện niêm yết công khai quy trình, thủ tục giải quyết từng loại việc, mức thu lệ phí, lịch làm việc…, bố trí phòng tiếp dân chu đáo… nên đã tạo nhiều thuận lợi, giảm thời gian và chi phí đi lại của người dân khi có nhu cầu chứng thực

Sau khi được tăng cường phân cấp trong lĩnh vực chứng thực và hộ tịch, nhóm các nhiệm vụ về hành chính tư pháp đã có sự gia tăng lớn về khối lượng công việc, chiếm phần lớn quỹ thời gian của công chức Tư pháp - Hộ tịch (việc

hộ tịch tăng 100%, việc chứng thực tăng 2-3 lần so với trước khi phân cấp, tăng thêm nhiệm vụ) Với khối lượng công việc lớn, nhưng nhìn chung việc triển khai thực hiện nhiệm vụ vẫn đạt kết quả tốt Theo thống kê tại 1.493 cấp

xã cho thấy, chỉ trong quý I năm 2008, đã thực hiện chứng thực được 1.699.031 việc Phản hồi từ phía người dân và chính quyền địa phương cũng

có những đánh giá tốt về chất lượng thực hiện nhiệm vụ này (tỷ lệ số người dân đánh giá tốt hoạt động chứng thực chiếm 64%)

Ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ trên, theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, công chức Tư pháp - Hộ tịch còn thực hiện nhiệm

vụ giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã phối hợp với Chấp hành viên và cơ

Trang 24

quan thi hành án dân sự thực hiện thông báo thi hành án, xác minh điều kiện

thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án

d) Việc tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ Tư pháp cấp xã ngày càng

đi vào nề nếp, khoa học, hiệu quả hơn

Công tác tư pháp cấp xã trong thời gian qua được tổ chức triển khai thực hiện theo chương trình, kế hoạch hàng năm; sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, UBND cấp xã được tăng cường hơn; sự hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc về chuyên môn, nghiệp vụ của Phòng Tư pháp cấp huyện được thường xuyên và sâu sát hơn; sự phối hợp của các chức danh công chức khác và các đoàn thể ở

xã được chặt chẽ và có hiệu quả Theo kết quả khảo sát cho thấy số lượng cấp

xã đã xây dựng được chương trình, kế hoạch công tác chiếm 93,2%; tổ chức sơ kết, tổng kết chiếm 73,7% 91,6% cấp xã cho biết Phòng Tư pháp và các cơ quan cấp trên có tổ chức việc kiểm tra công tác tư pháp hàng năm

Theo Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương và Quyết định số 127/2007/QĐ-TTg ngày 01/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức làm việc vào ngày thứ bảy hàng tuần để tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính để giải quyết các công việc của người dân, các cấp xã đã thực hiện nghiêm túc quyết định này trong các lĩnh vực hộ tịch, chứng thực 89% cấp xã cho biết đã triển khai cơ chế một cửa và 69,1% thực hiện làm việc ngày thứ bảy Ngoài ra ở một số địa phương, công chức Tư pháp – Hộ tịch còn thực hiện việc trực một cửa theo phân công của Uỷ ban nhân dân cấp xã

1.2 Nhược điểm, tồn tại, hạn chế

a) Nhiệm vụ của Tư pháp cấp xã ngày càng tăng về số lượng với yêu cầu cao về chất lượng và tiến độ đã dẫn đến sự quá tải về công việc của công chức Tư pháp - Hộ tịch Hiện nay, theo Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-

BTP-BNV, các công chức Tư pháp - Hộ tịch đang phải đảm nhận nhiệm vụ trong 12 lĩnh vực công tác tư pháp Cùng với quá trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp theo hướng tăng cường phân cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, thì các nhiệm vụ, quyền hạn của tư pháp cấp xã đã được mở rộng hơn với yêu cầu cao về chất lượng và tiến độ Bên cạnh đó, ngoài các nhiệm vụ

cụ thể đã được quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV thì công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã còn thực hiện các nhiệm vụ khác do Uỷ ban nhân dân cấp xã giao Trong đó, một khối lượng đáng kể công việc phát sinh là nhiệm vụ tham mưu, tư vấn các vấn đề pháp lý đối với các quyết định

Trang 25

của Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân ở địa phương, tham gia các Ban chỉ đạo

về nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, dân số, kế hoạch hoá gia đình… Trong khi đó, Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV chỉ quy định số lượng 01 công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã Điều này đã tạo ra sự quá tải, làm ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng của nhiệm vụ công tác tư pháp cấp

b) Việc triển khai thực hiện công tác tư pháp ở cấp xã chưa bao quát hết nhiệm vụ được giao

Hiện nay, trong số 12 nhóm nhiệm vụ được giao, công chức Tư pháp -

Hộ tịch chủ yếu tập trung nhiều vào nhóm nhiệm vụ về phổ biến, giáo dục pháp luật, đăng ký quản lý hộ tịch, chứng thực mà chưa dành nhiều thời gian cho công tác xây dựng pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật (tỷ lệ các cấp xã chưa triển khai công tác xây dựng pháp luật vẫn còn chiếm 23%) Việc thực hiện cơ chế một cửa và làm việc ngày thứ bảy tạo điều kiện thuận lợi cho công dân trong việc giải quyết các công việc nhưng cũng tạo ra khó khăn cho Tư pháp cấp xã vì số lượng cán bộ ít, phải dành thời gian thường xuyên trực tại phòng một cửa nên không có thời gian để giải quyết nhiều công việc chuyên môn khác

c) Một số nhiệm vụ chưa sâu sát, chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và nhu cầu của người dân

Trong điều kiện khối lượng công việc lớn và phần lớn các xã chỉ có 01 công chức Tư pháp - Hộ tịch nên trong một số trường hợp chưa đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và nhu cầu của người dân

Việc phổ biến, giáo dục pháp luật ở nhiều nơi vẫn còn mang tính phong trào, chưa đi sâu vào những nội dung pháp luật mà người dân cần Hình thức PBGDPL mặc dù đã được áp dụng khá đa dạng, phong phú, nhưng hiệu quả còn chưa cao Hiện nay, sau khi được phân cấp thực hiện chứng thực bản sao

từ bản chính, do việc bồi dưỡng nghiệp vụ chưa cụ thể, kịp thời, cùng với hạn chế về trình độ của cán bộ nên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cũng tiềm ẩn những nguy cơ sai sót, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích chính đáng của người dân

Việc đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn xã vẫn còn nhiều hạn chế

so với yêu cầu đặt ra như: ở nhiều địa phương còn chưa được thực hiện tốt, nhiều trẻ em đến tuổi đi học mới thực hiện việc đăng ký khai sinh; việc nghiên cứu và tìm hiểu nội dung của các văn bản này của một số cán bộ và nhân dân

Trang 26

chưa tốt, trình độ và khả năng tiếp nhận để xử lý các nhu cầu phát sinh còn chậm Một số địa phương còn chưa thật sự quan tâm đúng mức đến công tác tư pháp, chưa chú trọng đến yếu tố con người khi bố trí nhiệm vụ về hộ tịch

Vai trò công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã trong việc hỗ trợ các vấn đề

về pháp lý cho người dân chưa đáp ứng được với yêu cầu nhiệm vụ Thực tế cho thấy, hiện nay khi người dân gặp vấn đề liên quan đến pháp luật thì một số không nhỏ mong muốn được gặp các cơ quan hành chính để nhờ tư vấn pháp luật hay cung cấp các văn bản pháp lý có liên quan Nhưng một số đông vẫn không hiểu hoặc không biết đến cơ quan tư pháp địa phương và không hiểu được chức năng, nhiệm vụ của công chức Tư pháp - Hộ tịch

Một số hoạt động khác như tham gia trợ giúp pháp lý, hoà giải ở cơ sở

là những lĩnh vực đòi hỏi không chỉ kiến thức chuyên môn nghiệp vụ mà còn đòi hỏi cả về uy tín, khả năng ảnh hưởng của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp

xã đến quần chúng nhân dân cũng như nhiệt huyết đối với công việc của cán

bộ tư pháp Do hạn chế về quỹ thời gian nên công chức Tư pháp - Hộ tịch phần nhiều cũng chỉ tham gia hoà giải các vụ việc tranh chấp khi tổ hoà giải không thành, trong khi yêu cầu cần được giải quyết nhanh chóng để hạn chế thiệt hại thì điều này cũng dễ gây ra nhiều bức xúc cho người dân

d) Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV chỉ quy định công

chức Tư pháp - Hộ tịch giúp Ủy ban nhân dân thực hiện các nhiệm vụ công tác

Tư pháp cấp xã mà chưa quy định rõ nhiệm vụ nào công chức Tư pháp - Hộ tịch giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm, nhiệm vụ nào do công chức

Tư pháp - Hộ tịch thực hiện (các việc về hộ tịch) Do đó, chưa làm rõ phạm vi trách nhiệm của công chức Tư pháp - Hộ trong việc tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong triển khai thực hiện công tác

tư pháp và phạm vi trách nhiệm trong thực thi pháp luật về hộ tịch

có lúc chưa chưa thường xuyên (chiếm 15,5%) và sự chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Phòng Tư pháp chưa đáp ứng

Trang 27

- Đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã mặc dù đã được củng cố, kiện toàn, nhưng so với khối lượng công việc được giao thì vẫn còn mỏng Hiện nay trên cả nước mới có 1.847 xã/12.797 xã bố trí được 02 công chức Tư pháp - Hộ tịch (chiếm 14,64%), vẫn còn 85,36% số xã có 01 công chức Tư pháp - Hộ tịch Đồng thời, kết khảo sát cho thấy 52% số xã thiếu cán bộ Tư pháp – Hộ tịch Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức Tư pháp - Hộ tịch tuy đã được nâng lên nhưng vẫn chưa đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ được giao (xem phần về thực trạng về đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch)

- Thể chế quản lý các lĩnh vực công tác tư pháp có liên quan đến công tác tư pháp cấp xã mặc dù thường xuyên được điều chỉnh, bổ sung nhiều lần nhưng vẫn chưa đầy đủ, cụ thể, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý và nhu cầu xã hội trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải cách hành chính, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhất

là trong các lĩnh vực về quản lý và đăng ký hộ tịch, lĩnh vực chứng thực

- Việc phân cấp mạnh mẽ nhiều nhiệm vụ cho UBND cấp xã, đặc biệt là chứng thực và hộ tịch nhưng chưa gắn liền với các điều kiện bảo đảm để triển khai thực hiện nhiệm vụ như phân bổ thêm biên chế, bố trí kinh phí, chế độ đãi ngộ, việc đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch

- Cơ chế phối hợp với các ban ngành, đoàn thể ở địa phương chưa chặt chẽ, cụ thể, rõ ràng Các nhiệm vụ công tác tư pháp ở cấp xã ngoài tính chất hành chính, chuyên môn còn mang tính xã hội rộng rãi, kết hợp giữa quản lý nhà nước với sự tham gia của nhân dân Do đó, sự phối hợp thực hiện nhiệm

vụ Tư pháp ở cấp xã với các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương cấp xã có ý nghĩa quan trọng tới việc triển khai cũng như chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ công tác Tư pháp ở cơ sở Tuy nhiên, trên thực tế việc phối hợp này còn rất hạn chế Kết quả khảo sát tại 1.493 cấp xã thì có tới 45% số xã cho biết

cơ chế phối hợp giữa các ban ngành, đoàn thể ở địa phương chưa chặt chẽ, cụ thể, rõ ràng

- Trang thiết bị, điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ đối với công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã chưa đầy đủ và đồng bộ Kết quả khảo sát cho thấy, 72% công chức Tư pháp – Hộ tịch cho biết trang thiết bị, điều kiện làm việc chưa đáp ứng được yêu cầu công việc như: thiếu máy tính, máy fax, tủ đựng hồ sơ tài liệu, thiếu phòng làm việc, không có mạng internet, một số nơi thiếu cả phương tiện thông tin liên lạc

Trang 28

- Kinh phí hoạt động của UBND cấp xã còn eo hẹp, các định mức chi hỗ trợ một số nhiệm vụ đặc thù như xây dựng và kiểm tra văn bản quy pháp pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra Theo khảo sát tại 1.493 xã thì 73% số xã trả lời do kinh phí hạn hẹp nên khó khăn trong việc triển khai nhiệm vụ được giao

- Việc tin học hóa trong quản lý các lĩnh vực công tác tư pháp còn chậm trễ Ngành Tư pháp chưa có dữ liệu để có thể truy cập và cập nhật số liệu về nhân khẩu, hộ tịch từ các địa phương một cách đầy đủ và thuận tiện Hiện nay, việc đăng ký hộ tịch bằng các phương tiện rất “thủ công” đó là ghi chép bằng tay và việc ghi chép cũng mới chỉ dừng lại ở chỗ nếu người dân tự giác đi đăng

ký thì mới có số liệu

2 Về đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã

Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan tư pháp địa phương, nhất là công chức Tư pháp - Hộ tịch luôn được cấp ủy và chính quyền địa phương quan tâm xây dựng, phát triển để triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được giao, góp phần vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội của địa phương và bảo đảm quản lý thống nhất công tác tư pháp từ Trung ương tới cơ sở

2.1 Ưu điểm và kết quả đạt được

a) Đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch đã được kiện toàn, tăng cường

về số lượng để từng bước đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ được giao

Căn cứ Nghị định số 92/2009/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTNXH, Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV, ngày 19/7/2010, Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp đã có Công văn số 60-CV/BCS và Công văn số 74-CV/BCSĐ đề nghị Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Thành uỷ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lãnh đạo các sở, ban, Ngành có liên quan, cấp uỷ, chính quyền các cấp kiện toàn củng cố Tư pháp cấp xã Thực hiện các văn bản trên, căn cứ vào khối lượng công việc, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã bố trí tăng thêm công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã để triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao, nhiều cấp xã đã được bố trí từ 02 - 03 công chức Tư pháp - Hộ tịch Theo báo cáo của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tính đến tháng 5 năm 2010, tổng số công chức công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã là 12.797 người/11.078 cấp xã (trung bình mỗi cấp xã có 1,15 công chức) Tổng số xã có 02 công chức Tư pháp - Hộ

Ngày đăng: 15/04/2014, 10:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức sử dụng cán bộ hỗ trợ: - Đề án : Tăng cường năng lực tư pháp xã, phường, thị trấn đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp
Hình th ức sử dụng cán bộ hỗ trợ: (Trang 50)
Hình thức Cán  bộ làm vịêc theo  chế độ hợp đồng, hỗ - Đề án : Tăng cường năng lực tư pháp xã, phường, thị trấn đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp
Hình th ức Cán bộ làm vịêc theo chế độ hợp đồng, hỗ (Trang 50)
Hình  thức - Đề án : Tăng cường năng lực tư pháp xã, phường, thị trấn đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp
nh thức (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w