Tuy nhiên, thực tiễn công tác quản lý nhà nước về thương mại cho thấy Việt Nam chưa có một hệ thống công cụ pháp luật hoàn chỉnh để điều hành xuất khẩu, nhập khẩu, tận dụng những công cụ
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG _
7885
29/4/2010
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước 3
Chương 1: NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG
VÀ CÁC CÔNG CỤ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG NGOẠI THƯƠNG
6
1.1.1 Xu hướng chính sách ngoại thương được áp dụng trên thế giới 6
1.1.2 Khái niệm ngoại thương 9
1.1.3 Một số quan điểm về chính sách ngoại thương 10
1.2 Các công cụ thực hiện chính sách ngoại thương chủ yếu 13
1.2.3 Các biện pháp phòng vệ thương mại 24
1.2.4 Chính sách xúc tiến xuất khẩu 31
Chương 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ
NGOẠI THƯƠNG CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ
34
2.1 Hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý ngoại thương của Việt Nam hiện nay 34
2.1.1 Định hướng phát triển ngoại thương 34
2.1.2 Hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý ngoại thương của Việt Nam 36
2.2 Những cam kết quốc tế liên quan đến ngoại thương 61
2.2.2 Các nội dung cam kết liên quan đến ngoại thương 62
2.2.3 Những đối xử đặc biệt và khác biệt trong các hiệp định dành cho Việt Nam 79
Chương 3: HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VÀ THỂ CHẾ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
NGOẠI THƯƠNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
94
Trang 33.1.1 Hệ thống pháp luật quản lý hoạt động ngoại thương ở Hoa Kỳ 94
3.1.2 Các nước có luật ngoại thương 96
3.2 Mô hình các cơ quan quản lý nhà nước về ngoại thương của một số nước trên
thế giới
107
3.2.2 Mô hình của Ấn Độ 109 3.2.3 Mô hình của Trung Quốc 111 3.2.4 Mô hình của Hoa Kỳ 112
Chương 4: NHỮNG KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VÀ THỂ
CHẾ ĐỂ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG
114
4.1 Những tồn tại, hạn chế trong hệ thống quy phạm và quản lý nhà nước để thực
hiện chính sách ngoại thương của Việt Nam
114
4.1.1 Còn thiếu và bất cập trong nội dung các quy định pháp luật 114
4.1.2 Thiếu tính chiến lược trong việc sử dụng công cụ chính sách ngoại thương 118
4.1.3 Hệ thống pháp luật và cơ chế thực thi chưa cụ thể hóa được đường lối, chính
4.2 Những vấn đề đặt ra nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, thể chế để thực hiện
chính sách ngoại thương
122
4.2.1 Hệ thống pháp luật điều chỉnh ngoại thương còn tản mát và chồng chéo 123
4.2.2 Hệ thống pháp luật hiện hành chưa tạo được cơ sở pháp lý cơ bản để sử dụng
các công cụ quản lý ngoại thương
4.3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật và nâng cao năng lực quản lý ngoại thương 126
4.3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 126
4.3.3 Kiến nghị nâng cao năng lực quản lý ngoại thương 128
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế,
cụ thể là suốt quá trình đàm phán gia nhập WTO từ năm 1995, Việt Nam đã liên tục cải thiện chính sách, công cụ pháp luật để thực hiện quản lý các mặt của nền kinh tế phù hợp với điều kiện hội nhập, nhất là chính sách ngoại thương
Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam vẫn đang nỗ lực hoàn thiện chính sách quản
lý nhà nước về thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế để tận dụng cơ hội hội nhập đồng thời hạn chế những bất lợi về vị thế và năng lực cạnh tranh trong thương mại quốc tế Tuy nhiên, thực tiễn công tác quản lý nhà nước về thương mại cho thấy Việt Nam chưa có một hệ thống công cụ pháp luật hoàn chỉnh để điều hành xuất khẩu, nhập khẩu, tận dụng những công cụ được WTO cho phép để tạo dựng các biện pháp tự vệ thương mại và những hàng rào cần thiết để bảo vệ sản xuất trong nước, chưa tận dụng được những đối xử khác biệt và đặc biệt mà WTO dành cho các nước đang phát triển Sau khi Luật Thương mại 2005 ra đời, công tác điều hành xuất nhập khẩu đã có những bước cải tiến rõ rệt, minh bạch hơn và tạo thuận lợi cho thương mại hơn, song vẫn còn nhiều văn bản quy phạm tản mạn, rải rác ở nhiều khâu, nhiều lĩnh vực rời rạc mà không nằm trong hệ thống chung
Sự thiếu sót của các công cụ pháp luật để thực hiện chính sách ngoại thương một cách có hiệu quả, điều đó thể hiện trong thời gian kể từ sau gia nhập WTO, công tác điều hành xuất khẩu, nhập khẩu cũng đã gặp những khó khăn nhất định, như không thúc đẩy được xuất khẩu ở những thời điểm có lợi nhất, không hạn chế được hàng nhập khẩu kém chất lượng tràn lan vào thị trường Việt Nam.v.v
Chính vì vậy, việc hoàn thiện các công cụ pháp luật để thực hiện chính sách ngoại thương là hết sức cần thiết, cần phải được kiến nghị dựa trên những nghiên cứu
cụ thể về hệ thống hiện hành, về pháp luật và kinh nghiệm các nước, về khuôn khổ pháp lý của WTO
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Trong những năm qua, mặc dù Chính phủ và các Bộ, ngành đã có những nỗ lực trong việc hoàn hệ thống pháp luật và đổi mới cơ chế, chính sách để phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập Luật Thương mại năm 2005 đã thực hiện pháp điển hóa các quy định về thương mại và sau đó đã có nhiều văn bản dưới luật này quy định chi tiết về hoạt động xuất, nhập khẩu và các hoạt động liên quan nhằm đảm bảo khung pháp lý cho hoạt động ngoại thương Tuy vậy, trong quản lý ngoại thương vẫn còn những bất cập, cụ thể như sau:
- Về xuất khẩu hàng hóa, việc quản lý và điều hành xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực chưa phù hợp với thị trường (chẳng hạn mặt hàng gạo); chính sách xúc tiến xuất khẩu chưa được thực hiện một cách lâu dài trên cơ sở đánh giá hiệu quả và
có căn cứ cụ thể về lợi thế so sánh của hàng hóa sản xuất trong nước; chưa có công
cụ rõ ràng để thực hiện chuyển dịch cơ cấu xuât khẩu (tỷ trọng xuất khẩu hàng thô, gia công vẫn chiếm đa số); chưa xác định được các biện pháp liên kết nhằm hỗ trợ
Trang 5sản xuất trong nước (kể cả về kỹ thuật, công nghệ) để khuyến khích xuất khẩu theo hướng tăng sức cạnh tranh (ví dụ các địa phương đề xuất hỗ trợ giống lúa, giống mía, công nghệ sau thu hoạch… nhưng chưa có… cơ chế)
- Về nhập khẩu hàng hóa, chúng ta chưa kiểm soát được tình trạng hàng nhập khẩu, thể hiện ở ba điểm chính Một là, chưa kiểm soát được kim ngạch nhập khẩu, bao gồm kim ngạch nhập khẩu chung một cách cập nhật và kim ngạch nhập khẩu theo từng mặt hàng có khả năng ảnh hưởng đến ngành công nghiệp trong nước Hai
là, chưa kiểm soát được chất lượng hàng nhập khẩu, nhất là hàng có xuất xứ từ Trung Quốc Ba là, chưa kiểm soát được khả năng bán phá giá hoặc trợ cấp của hàng nhập khẩu vào thị trường Việt Nam Do vậy, chúng ta đặt ra các sắc thuế nhập khẩu đa số dựa trên thực hiện cam kết mà không phải dựa trên tính toán kinh tế và cũng chưa sử dụng được các công cụ tự vệ thương mại Hệ quả của những hạn chế này là không kiểm soát được thâm hụt thương mại hàng hóa và thâm hụt cán cân vãng lai, dễ dẫn đến lạm phát và khủng hoảng, nhân dân phải tiêu dùng sản phẩm độc hại, doanh nghiệp phải chịu cạnh tranh không lành mạnh với nước ngòai ngay trên thị trường nội địa
- Về thương mại dịch vụ: Ngoài các quy định trong các ngành dịch vụ kinh doanh có điều kiện, hiện chúng ta chưa có các quy định nhằm thực hiện quản lý xuất, nhập khẩu dịch vụ, nhất là theo các mode 1 và 4
- Bên cạnh đó, do không có một chiến lược quản lý ngoại thương thống nhất, minh bạch, lâu dài nên các doanh nghiệp thường phải chịu những quyết định “bất ngờ” của cơ quan quản lý nhà nước Ví dụ, việc cấp phép tự động được thực hiện đối với một số mặt hàng tiêu dùng nhưng được thực hiện gấp làm cho rất nhiều hàng hóa
về đến cảng nhưng không được khai báo hải quan, gây thiệt hại cho doanh nghiệp nhập khẩu, cũng là thiệt hại chung cho nền kinh tế vì tiền hàng đã thanh toán thì không có giá trị làm giảm nhập siêu Hoặc quy định tăng thuế suất thuế nhập khẩu của một số mặt hàng (thép) nhưng được thực hiện có hiệu lực trở về trước làm cho doanh nghiệp phải chịu truy thu mức thuế có thể dẫn đến phá sản Trong hoạt động xuất khẩu, do không có một chính sách ổn định cho xuất khẩu và sản xuất nên trong nhiều năm liền người sản xuất hàng xuất khẩu luôn phải chạy theo sự thay đổi vốn thất thường của thị trường Ví dụ, khi giá café tăng thì nông dân thi nhau trồng, nhưng giá xuống thì phá bỏ, và như vậy luôn làm hao phí nguồn lực lao động và tài nguyên đất Trong một số hoạt động cũng chưa có các quy định cho thương nhân họat động, ví dụ thực hiện mua bán tại Sở giao dịch hàng hóa ở nước ngoài Trong thương mại dịch vụ, hiện nay, nhiều thương nhân gặp phải các vấn đề kinh doanh thực tiễn nhưng chưa có pháp luật điều chỉnh Chẳng hạn làm đại lý trong một số ngành dịch vụ cho thương nhân nước ngoài
Chính vì vậy, một nghiên cứu toàn diện về chính sách và hệ thống pháp luật
quản lý ngoại thương nhằm đưa ra giải pháp khắc phục các bất cập trên là một yêu cầu cấp thiết
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 6Nghiên cứu này nhằm chỉ ra những bất cập của hệ thống chính sách và pháp luật cũng như việc sử dụng các công cụ trong quản lý ngoại thương hiện nay nhằm
đề xuất các giải pháp khắc phục
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về mặt lý thuyết, Đề tài nghiên cứu các lý thuyết hiện đại về chính sách ngoại thương và nghiên cứu cơ bản các công cụ quản lý ngoại thương tạo cơ sở đánh giá thực trạng của Việt Nam Đề tài nghiên cứu và đánh giá thực trạng hệ thống chính sách và pháp luật hiện hành liên quan đến quản lý ngoại thương để chỉ ra những tồn tại, đồng thời nghiên cứu chính sách, pháp luật và hệ thống cơ quan quản lý nhà
nước về ngoại thương của một số nước để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở áp dụng những phương pháp nghiên cứu chung trong khoa học xã hội, Nhóm nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
• Phương pháp lịch sử
Đề tài nghiên cứu một lĩnh vực chính sách, pháp luật kinh tế được áp dụng trong thực tiễn, do vậy cần thiết phải sử dụng phương pháp lịch sử để tổng hợp vấn
đề trong một khoảng thời gian dài Sử dụng phương pháp này,
• Phương pháp điển cứu (nghiên cứu trường hợp)
Để rút ra bài học kinh nghiệm, Đề tài sử dụng phương pháp này để nghiên cứu một số trường hợp đã xảy ra trong thực tiễn phản ánh những tồn tại, bất cập của các quy định hiện hành
• Phương pháp toán học
Để có thể đánh giá các số liệu nghiên cứu cũng như đánh giá về mặt lý thuyết tính hiệu quả của chính sách, Đề tài sử dụng phương pháp toán học để phân tích và đưa ra những đánh giá những công cụ được sử dụng trong quản lý ngoại thương
5 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước
* Nghiên cứu ngoài nước:
Một số nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan Tuy nhiên không có đề tài nào giải quyết mục tiêu mà nghiên cứu này đặt ra Một số đề tài cụ thể, bao gồm:
- Tên : Developing country trade policy reform and the WTO
Tác giả: Razeen Sally – Giảng viên đại học London School of Economic and Political Science 17/11/1999
Trang 7Đề tài khoa học đề cập đến tiến trình cải cách các chính sách ngoại thương tại các nước đang phát triển, từ khi các nước còn trong tiến trình cải cách trong nước, đề
ra các chính sách ngoại thương và tiến tới đồng bộ hóa với các quy định của WTO
Đề tài đề cập đến 3 con đường mà các nước sử dụng để đồng bộ hóa các quy định trong nước đó với các quy định của WTO
- Tên : United States and EU trade policies and East Asia
Tác giả: Peter Drysdale and Christopher Findlay - Australian and Japan Research Center Pacific Economic Papers 2006
Đề tài đề cập đến sự thiếu ăn khớp giữa các chính sách ngoại thương của Hoa
Kỳ và Liên Minh Châu âu ảnh hưởng rất lớn đến các động lực của các nước đang phát triển hoàn thành các nghĩa vụ của WTO Đề tài muốn giải quyết vấn đề liệu có một giải pháp để gây sức ép lên Hoa Kỳ và EU từ các nước đang phát triển (nhất là ở khu vực Đông Á) để tạo ra một sự ăn khớp trong các chính sách ngoại thương các nước này
- Tên : Trade policies and Economic Growth
Tác giả: Francisco Rodriguez (University of Maryland) and Dani Rodrik (Kennedy School of Government – Havard University) 2000
Đề tài sử dụng các thước đo, tính toán kinh tế để đo đạc ảnh hưởng của các chính sách ngoại thương lên tăng trưởng kinh tế Cơ sở dữ liệu được tập hợp dựa trên
số liệu của hầu hết các quốc gia đã tham gia WTO và một số không tham gia WTO, được chia thành các khu vực kinh tế tại cả 5 châu lục
* Nghiên cứu trong nước:
Trong nước, đã có một số công trình nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của chính sách kinh tế nói chung và chính sách ngoại thương nói riêng, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào toàn diện về hệ thống pháp luật liên quan đến ngoại thương,
cụ thể có một số nghiên cứu sau:
- David O Dapice: “Chính sách kinh tế của Việt Nam từ năm 2001” (2003): đây là nghiên cứu nhiều mặt về chính sách kinh tế của Việt Nam tuy nhiên ở mức độ
cơ bản và ngắn gọn Đề cập đến chính sách ngoại thương, nghiên cứu này chỉ nêu ra những khía cạnh cơ bản mà chưa có đề xuất cụ thể về cải cách pháp luật
- Luận án Tiến sĩ Kinh tế cấp Nhà nước “Điều chỉnh chính sách thương mại của các nước đang phát triển ở Châu Á trong mối quan hệ với công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế - Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam” (NCS Phạm Thị Hồng Yến) Ngày 15/9/2008
Nghiên cứu tìm hiểu kinh nghiệm điều chỉnh chính sách thương mại của một
số nước đang phát triển ở châu Á trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập KTQT và rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam cũng như đề xuất phương hướng và giải pháp vận dụng các kinh nghiệm đó vào điều chỉnh chính sách thương mại của
Trang 8Việt Nam nhằm thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH trong điều kiện chủ động hội nhập KTQT
- Luận án Tiến sỹ Kinh tế “Các biện pháp vượt rào cản phi thuế quan trong thương mại quốc tế nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam”
Người thực hiện: NCS Đào Thị Thu Giang (Ngày 02/10/2008)
Nghiên cứu này nghiên cứu các rào cản phi thuế quan trong thương mại quốc
tế nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc đàm phán, yêu cầu đối tác mở cửa thị trường và tìm ra các biện pháp thích hợp để vượt được các rào cản, qua đó đẩy mạnh xuất khẩu
- Đề tài “Một số giải pháp vượt rào cản kỹ thuật thương mại trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế: áp dụng cho thành phố Hà Nội”, do PGS,TS Nguyễn Hữu Khải làm chủ nhiệm đề tài, dự kiến đề tài kết thúc tháng 12 năm 2008 Sau khi nghiệm thu chính thức đề tài được xuất bản thành sách dùng làm tài liệu tham khảo cho Bộ Công thương, Thành phố Hà Nội trong việc vượt qua các rào cản kỹ thuật thương mại nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, đáp ứng hội nhập kinh tế quốc tế; Các trường đại học khối kinh tế, các cơ quan nghiên cứu
6 Đóng góp của Đề tài
Đề tài có những đóng góp sau đây:
- Tổng hợp và đánh giá các nghiên cứu lý thuyết kinh tế về ngoại thương;
- Nghiên cứu toàn diện các công cụ sử dụng trong quản lý ngoại thương;
- Đánh giá và rút ra bài học từ chính sách và pháp luật các nước về ngoại thương;
- Chỉ ra những tồn tại, bất cập của pháp luật hiện hành về ngoại thương của Việt Nam;
- Chỉ ra những nội dung cam kết và đối xử khác biệt và đặc biệt dành cho Việt Nam trong các cam kết quốc tế;
- Kiến nghị những giải pháp cụ thể để hoàn thiện hệ thống pháp luật làm công
cụ thực hiện chính sách ngoại thương
Trang 9Chương 1 NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VÀ
CÁC CÔNG CỤ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG NGOẠI THƯƠNG
1.1 Chính sách ngoại thương hiện đại
1.1.1 Xu hướng chính sách ngoại thương được áp dụng trên thế giới
Xét trên khía cạnh lịch sử kinh tế, trong những thập kỷ gần đây, hầu hết các quốc gia đang phát triển đều sử dụng một trong hai chính sách (chiến lược) ngoại thương chính, đó là (1) công nghiệp hóa thế nhập khẩu (import substituting industrialization) và (2) công nghiệp hóa hướng xuất khẩu (export-oriented industrialization).1
Trên phương diện lý thuyết, các chiến lược này đòi hỏi các quốc gia thực hiện các yêu cầu cụ thể khác nhau xuất phát từ những đặc điểm của từng chiến lược
(Bảng 1)
Bảng 1: Chính sách ngoại thương và hai chiến lược phát triển
Mục tiêu Phát triển năng lực các ngành sản xuất
trong nước để thay thế hàng nhập khẩu
Phát triển dựa trên lợi thế so sanh của các ngành mạnh nhất:
Sự thịnh vượng có tác dụng lan tỏa
Công cụ c/s Rào cản thương mại, trợ cấp và chính
sách ngoại hối (gia tăng giá trị đồng nội tệ) là cần thiết để bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ trong nước: sự can thiệp của nhà nước thay thế cho giá thị trường
Tự do hóa thương mại (mở rộng các cam kết quốc tế, cởi
mở các cam kết có sẵn)
Áp dụng các biện pháp phá giá
để mở rộng thị trường
Lợi ích Rút ngắn khoảng cách công nghệ
Gia tăng khả năng điều phối vĩ mô và sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế
Thu được nhiều ngoại tệ
Lợi thế cạnh tranh nhiều mặt Chuyển giao công nghệ (nếu có)
Tạo nhiều công ăn việc làm
Mặt trái Hạn chế mức độ cạnh tranh
Thị trường các yếu tố đầu vào bị méo
mó, thiếu hụt
Chi phí hành chính tăng cao
Thâm hụt cán cân thương mại kéo dài (do duy trì nhập khẩu trong nhiều năm)
Ảnh hưởng lớn của các nhóm lợi ích
(Các ngành công nghiệp non trẻ từ chối
“trưởng thành”)
Thiếu thông tin nhiều mặt về thị trường, đối tác
Gặp phải vấn đề tiếp cận thị trường (do các đối tác dựng rào cản)
Khó khăn tạo sự lan tỏa lợi ích trong nền kinh tế (khó để thuyết phục các nhóm lợi ích về tự do hóa thương mại)
1 Chang Ha Joon,(2002), “Kick away the development ladder”, Antchem Press London 2002
Trang 10Phát triển sản xuất thay thế nhập khẩu là một hướng chiến lược chủ chốt của các nước đang phát triển từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến những năm giữa thập niên 80 Xuất phát từ những nghiên cứu gần như đồng thời của Singer (1949, phát biểu tại Liên Hiệp Quốc) và Raúl Prebisch (1950) trong đó ý tưởng chủ đạo của các tác giả là sự mất cân bằng về sức mạnh giữa các ngành công nghiệp mới của các nước đang phát triển và các nước công nghiệp phát triển hùng mạnh và rằng hầu hết phát triển trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa của mình đã áp dụng triệt để những công cụ hạn chế nhập khẩu2, hầu hết các nước đang phát triển từ Châu Á (nhất là tại các nước Nam Á), Châu Phi và nhất là các nước Mỹ La tinh đã áp dụng triệt để chiến lược phát triển này nhằm bảo hộ nền công nghiệp trong nước Với mục đích đó, các nước này đã đặt các hàng rào thuế quan rất cao nhằm ngăn chặn dòng nhập khẩu từ
Nguồn: Balassa (1971) The structure of protection in developing countries
Tuy nhiên, cho đến cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80, các chính sách ngoại thương này đã bộc lộ những yếu điểm, trên thực tế nó không hoàn toàn phù hợp cho giai đoạn sau của công nghiệp hóa Những năm đầu thập niên 80 của thế kỉ trước chứng kiến hàng loạt những cuộc cải cách ngoại thương quy mô lớn và triệt để tại các quốc gia mà ở đó chính sách phát triển sản xuất thay thế nhập khẩu đã từng thượng tôn trong hàng thập kỷ Hàng rào thuế quan được hạ xuống ở hầu hết các khu
vực trên thế giới (Biểu đồ 1)
Biểu đồ 1: Hàng rào thuế quan tại các nước đang phát triển 1980-1999
Nguồn: World Bank (2001)
2 Xem CHANG Ha Joon,(2002), « Kick away the development ladder », Antchem Press London 2002
Trang 11Trên thực tế, hầu hết các quốc gia bám chặt lấy hệ thống chính sách phát triển này đều đã thất bại Từ những năm 1950 cho đến những năm của thập kỷ 70, người dân Ấn Độ chỉ thấy thu nhập của họ tăng vài phần trăm (ví dụ của Ấn Độ phản ánh tình trạng chung của các nước Nam Á) Các nước Châu Mỹ latin có nước ở trong tình trạng cải thiện hơn chút ít (Braxin) nhưng cũng có nước trước đó được xếp hạng
là nước giàu phải chứng kiến thu nhập trên đầu người của họ sụt giảm(Áchentina) cho đến khi những cải cách ngoại thương được áp dụng Tại Châu Mỹ Latin3, chỉ có duy nhất một nước đã vươn lên để trở nên giàu có hơn là Chilê do đã có một bước chuyển hướng chiến lược vào giữa những năm 70: dưới sự độc tài của giới quân sự, đặc biệt của tướng Pinôchê, đất nước Chilê gặp phải rất nhiều khó khăn do kinh tế suy giảm nghiêm trọng (giá của nhôm – sản phẩm xuất khẩu duy nhất của Chilê đã sụt giảm nghiêm trọng) Tuy nhiên, dưới ảnh hưởng của một nhóm các nhà kinh tế học theo trường phái Chicago, chính sách ngoại thương của Chilê đã sang một bước hoàn toàn khác: các hàng rào thuế quan được hạ xuống triệt để, tỉ trọng xuất nhập khẩu tăng cao Kể từ sau các cuộc cải cách đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Chilê
đã vượt xa các nước láng giềng thuộc Châu Mỹ Latin và có thể sánh vai với các
“nước Châu Á tăng trưởng kinh tế cao” (HPAEs)4
Bên cạnh những câu chuyện thành công của một số nước Châu Mỹ Latinh, sẽ
là một thiếu sót lớn nếu như không nhắc đến bài học thành công (thường được nhắc đến như “những điều kỳ diệu”) của các nước ngay trong khu vực Đông Á Trên thực
tế, chiến lược mà Chilê theo đuổi chính là chính sách phát triển hướng đến xuất khẩu – chiến lược mà các quốc gia thuộc nhóm HPAEs đã theo đuổi từ những năm 50 của thế kỉ trước Có thể chia các nước này làm 3 nhóm: Nhóm đầu tiên chỉ có Nhật Bản – nước đã áp dụng chiến lược này rất sớm và nay đã đạt mức thu nhập bình quân đầu người ngang với các nước phát triển Tây Âu và Bắc Mỹ; nhóm thứ hai xuất phát chậm hơn trong những năm 60 gồm có bốn nước và vùng lãnh thổ là Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore – tất cả các nước này đều có thu nhập bình quân đầu người xấp xỉ các nước phát triển theo tiêu chí của OECD; nhóm cuối cùng gồm những nước có xuất phát sau cùng vào cuối những năm 70 nhưng có cùng một định hướng chiến lược là Indonesia, Thái Lan, Malaixia và Trung Quốc Các nước này hầu hết đều có tốc độ tăng trưởng kinh tế 8-9 phần trăm một năm (trường hợp của Trung Quốc còn trên 10%) Các nước này hầu hết đều có chung các đặc điểm: đó là
độ mở của nền kinh tế tương đối lớn (tỉ trọng xuất nhập khẩu trên GDP), các hàng rào thuế quan được hạ xuống thấp
Tuy vậy, những thành công cũng như thất bại của các nước đang phát triển trên thế giới không thể chỉ được kết luận bởi việc áp dụng chiến lược phát triển này hay chiến lược phát triển kia Các nhà kinh tế học hiện nay vẫn còn đang trăn trở với câu hỏi: Liệu chiến lược sản xuất thay thế nhập khẩu có hoàn toàn sai lầm hay không? Tự do hóa thương mại có phải là lời giải cho phát triển kinh tế thần kỳ hay không? Các nghiên cứu thực nghiệm (empirical studies) đều cho các kết quả không
rõ ràng5: Hoặc là các nước HPAEs đều hạ hàng rào thuế quan nhưng không triệt tiêu
3 Rajagopal(2003),Institutional reforms and Trade competitiveness in Latin America, Institute of Technology and Higher Education, Mehico
4 High Performance Asian Economies
5 Xem Krugman P, Osfeld M, International Economic Theory and Policy 7th Edition, Addison and Wesley Publisher
Trang 12hoàn toàn hoặc tất cả các nước đều sử dụng các biện pháp phi thuế quan (TBT, SPS)
khác để hạn chế ngoại thương (Biểu đồ 2):
Biểu đồ 2: Xu hướng tăng sử dụng hàng rào kỹ thuật/Xu hướng giảm thuế quan
tại các nước phát triển và đang phát triển
Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cho rằng việc áp dụng rập khuôn các mô hình phát triển chưa chắc đã mang lại hiệu quả tốt nhất cho nền kinh tế Theo đó, việc tốt nhất
mà các nước đang phát triển có thể làm là áp dụng các công cụ chính sách ngoại thương một cách tốt nhất trong hoàn cảnh của các nước đó thông qua các thể chế hiện có Một bước đột phá trong hiệu quả sử dụng các công cụ của chính sách ngoại thương chỉ có thể thông qua sự cải cách các thể chế hiện có (tăng cường năng lực, sự phối hợp, trao quyền ) khiến chúng hoạt động hiệu quả hơn, tận dụng tốt hơn các công cụ sẵn có.6
1.1.2 Khái niệm ngoại thương
Một cách đơn giản, ngoại thương được hiểu là sự buôn bán, trao đổi xuyên biên giới, với các nước, lãnh thổ bên ngoài bao gồm toàn bộ các giao dịch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ
Mặc dù trên nguyên tắc, khái niệm ngoại thương là tương đối rõ ràng nhưng vẫn có nhiều các ý kiến khác nhau khi xem xét nó dưới khía cạnh các chủ thể của buôn bán xuyên biên giới, quốc tế Nội hàm của khái niệm, trên thực tế cũng được xem xét theo sự phát triển của thương mại thế giới Trước đây, nói đến ngoại thương
là nói đến thương mại hàng hóa vượt ra khỏi biên giới Sau này, thương mại dịch vụ trở thành một lĩnh vực quan trọng của thương mại quốc tế (xét từ một quốc gia là ngoại thương) Kim ngạch dịch vụ đã lên tới gần 2000 tỉ USD (tính trong năm 2005)7tức gần bằng 1/5 tổng kim ngạch thương mại toàn cầu (ước tính vào khoảng hơn
6 Marion Jansen, Hildegunn Kyvik Nordås, (2004),Institution, trade policy and trade flow, WTO Working
Papers ERSD-2004-02.
7 http://unstats.un.org/unsd/servicetrade/default.aspx
Trang 1310.000 tỉ USD) Ngoài ra, việc đưa yếu tố dịch vụ vào khuôn khổ luật pháp thương mại quốc tế - GATT (GATS) cũng là một bằng chứng cho thấy thương mại dịch vụ
là một phần không thể tách rời của ngoại thương8
1.1.3 Một số quan điểm về chính sách ngoại thương
Các nghiên cứu về ngoại thương thường được thực hiện xung quanh ba khu vực nghiên cứu chính: (a) lý thuyết về ngoại thương; (b) các nghiên cứu thực nghiệm; (c) chính sách ngoại thương Khu vực nghiên cứu đầu tiên nhằm mang đến hiểu biết một cách sâu sắc, cơ bản về ngoại thương thông qua những mô hình được cấu trúc chặt chẽ và những giả thuyết chuyên biệt Khu vực nghiên cứu thứ hai nhằm mục đích khảo nghiệm những tìm tòi do khu vực nghiên cứu thứ nhất đã tìm ra, nghiên cứu các dòng thương mại toàn cầu hoặc tìm ra các mối quan hệ giữa các chỉ
số kinh tế quan trọng với vai trò của ngoại thương Về khu vực thứ ba, nghiên cứu chính sách ngoại thương – như mọi chính sách kinh tế khác của Chính phủ, nhằm mục đích phân tích các can thiệp trực tiếp hay gián tiếp của Chính phủ vào môi trường buôn bán hàng hóa, dịch vụ quốc tế Những phân tích này thường đưa đến kết luận về những nhóm được hưởng lợi (winners) và những nhóm chịu thiệt thòi (losers) từ hoạt động ngoại thương sau khi có sự can thiệp của hệ thống chính sách ngoại thương của Chính phủ Nói như vậy, chính sách ngoại thương là một hệ thống mở: chúng chịu ảnh hưởng của các lợi ích từ các nhóm khác nhau của nền kinh tế và
do vậy, phải phản ánh được những lợi ích của các nhóm này trong nội hàm của các chính sách
Hiện nay, cách hiểu về chính sách ngoại thương rất phong phú, phụ thuộc rất lớn vào góc nhìn của các đối tượng nghiên cứu chúng Tựu chung lại, có thể tập hợp lại 2 dòng quan điểm chính: (1) Dòng thứ nhất, theo cách hiểu của hầu hết các nhà nghiên cứu kinh tế học thuần túy, hướng đến nghiên cứu chính sách ngoại thương như những công cụ kinh tế áp dụng tại biên giới (on the border lines) bao gồm (a) hàng rào thuế quan xuất, nhập khẩu, (b) hạn chế định lượng xuất khẩu và các biện pháp cấm, (c) trợ cấp xuất khẩu, (d) đàm phán các hiệp định thương mại Các chính sách liên quan đến dòng quan điểm này phải đáp ứng được các yêu cầu về tạo ra những khuyến khích tạo động cơ tăng trưởng thông qua việc giảm các hàng rào thuế quan, giảm các nhũng nhiễu hải quan, tạo thông thoáng cho dòng hàng hóa, dịch vụ xuyên biên giới với chi phí giao dịch thấp Dòng quan điểm này có thể được mở rộng hơn bằng việc phân tích thêm các chính sách bổ trợ cho các các công cụ áp dụng tại biên giới, gọi là các chính sách “đằng sau biên giới” (behind the border lines) Những chính sách này có mục tiêu cụ thể nhằm đưa ra các quy chuẩn, tiêu chuẩn kĩ thuật vừa phát triển công nghiệp nội địa vừa tạo ra các hàng rào kĩ thuật khi có nhu cầu cấp thiết phải bảo hộ công nghiệp trong nước, các chính sách phát triển hỗ trợ công nghiệp, đầu tư, xúc tiến thương mại Các nghiên cứu theo hướng này đã xuất hiện rất sớm, khởi phát từ bình minh của thương mại quốc tế cho đến ngày nay Tuy nhiên, cùng với thời gian, các hướng nghiên cứu dựa trên quan điểm này đang gặp phải những khó khăn nhất định Quá trình tự do hóa thương mại được hỗ trợ mạnh
mẽ của các khuôn khổ quốc tế - các hiệp định thương mại quốc tế (song phương, đa
8 Manual of Statistics on international trade in services (2002) Department of economic and social affairs- United Nations
Trang 14phương) làm giảm hiệu quả quản lý rõ rệt, thậm chí “khai tử” nhiều công cụ chính sách áp dụng tại biên giới; chính sách thương mại phải đối mặt với độ phức tạp gia tăng với sự giao thoa chặt chẽ với các lĩnh vực chính sách khác như khoa học công nghệ (an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường), với xu hướng tiêu dùng (bảo vệ súc vật, lao động trẻ em), với văn hóa – xã hội (phát triển bền vững, nhận dạng văn hóa, các tiêu chuẩn lao động ) Và như là một kết quả tất yếu, chính sách ngoại thương
đã được mở rộng đến những câu hỏi tưởng chừng hoàn toàn nằm ngoài phạm vi nghiên cứu như: Việc hạn chế buôn bán một số loài thủy sản thông qua áp đặt các phương pháp đánh bắt có được lý giải hợp lý bởi sự bảo vệ các loài đó khỏi sự nguy hiểm hay không? Việc yêu sách một số đối tác xuất khẩu (các nước đang phát triển) phải đáp ứng các tiêu chuẩn về lao động (nhất là về lao động trẻ em, an toàn lao động) của các nước phát triển là một biện pháp bảo vệ quyền con người hay là bảo
hộ trá hình không? Áp đặt yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường của Châu Âu cho một đối tác xuất khẩu đang phát triển của Châu Phi là hành động bảo vệ môi trường hay hành vi bảo hộ hàng hóa trong nước? v.v Những câu hỏi như vậy là những chủ đề tranh cãi của cả khoa học và ứng dụng chính sách
Để trả lời cho các khó khăn mà các chính sách ngoại thương theo dòng quan điểm thứ nhất gặp phải, (2) một dòng quan điểm mới được chấp nhận và cổ vũ bởi các nhà hoạch định chính sách, bởi các tổ chức quốc tế (đặc biệt là WB) và bởi một nhóm đang mở rộng các nhà kinh tế theo trường phái kinh tế học thể chế (the institutionalists và neo-institutionalist): đó là chính là trường phái hướng chính sách đến các vấn đề về thể chế (behind the border lines)
Trên thực tế, dòng quan điểm này không còn quá mới đối với kinh tế học mà
tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) hay các tổ chức hợp tác kinh tế như OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) đều đã bắt đầu triển khai các nghiên cứu theo hướng này từ giữa thập niên 80 Xuất phát từ những nghiên cứu của giải Nobel kinh tế học D.North (1990) cho rằng sự khác biệt về thu nhập trên thế giới nằm chủ yếu tại sự khác biệt về chất lượng thể chế9, các nghiên cứu về “quản trị khu vực công” (public sector governance)10 của Ngân hàng thế giới với một sêri các nghiên cứu nền tảng của Daniel Kaufman và đồng sự11 hay các nghiên cứu về chất lượng thể chế tác động đến môi trường kinh doanh thông qua sêri nghiên cứu hàng năm Doing Business (“Môi trường kinh doanh”) được triển khai trên diện rộng và có tác động rất sâu rộng đến các nhà hoạch định chính sách tại các nước đang phát triển Từ những gợi ý theo hướng này, các chương trình hợp tác, trợ giúp các quốc gia đang phát triển của các tổ chức quốc tế song phương hoặc đa phương đã đi sâu tìm tòi chi tiết đến từng ngành, lĩnh vực của nền kinh tế cũng như theo từng khu vực chính sách của quản lý Nhà nước theo hướng cải cách thể chế (institutional reforms) và xây dựng năng lực (capacity building)
Trang 15Mặc dù là một lĩnh vực quan trọng, các nghiên cứu thể chế liên quan đến chính sách ngoại thương dường như còn bị lép về so với các nghiên cứu hướng đến môi trường kinh doanh, trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ hay hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô hướng Bên cạnh đó, như đã trình bày ở trên, nhiều nghiên cứu loại này lại hướng chủ yếu đến phân tích các công cụ, tính đầy đủ và hiệu quả của các công cụ này thông qua các phân tích định lượng sắc sảo nhưng không xây dựng nên được một nền tảng lý thuyết phân tích các vấn đề thiết chế, cơ chế xoay quanh chính sách ngoại thương Vấn
đề chủ yếu nằm ở chỗ hướng nghiên cứu đó chỉ hiểu theo cách hạn hẹp là chính sách ngoại thương tương đương với việc áp dụng các công cụ chính sách tại biên giới, thiết lập các công cụ bổ trợ “đằng sau biên giới” Ngược lại, kinh tế học thể chế cho rằng chính sách ngoại thương phải được hiểu theo một nghĩa rộng hơn: đó là phải được nhìn theo sự vận động của cả nền kinh tế, trong đó các thiết chế hoạt động vốn riêng rẽ nay phải có các cơ chế
để đánh giá mức độ hiệu quả của các thiết chế này (các thiết chế đã làm việc hiểu quả, đã đáp ứng các yêu cầu chưa) cũng như giúp chúng làm việc với nhau (khi nhiều thiết chế phải hoạt động) phục vụ cho một chiến lược ngoại thương cụ thể, với các định hướng, mục tiêu rõ ràng (và nếu như các cơ chế phối hợp này đã có sẵn thì điều gì khiến chúng không hiệu quả) Các thiết chế trong dòng quan điểm này có thể hiểu là các cơ quan chính phủ, các cơ quan đại diện của xã hội dân sự, và thậm chí các tầng lớp nhân dân Sự thừa nhận chính sách ngoại thương theo nghĩa rộng có ý muốn nói rằng chính phủ và xã hội dân sự phải có một mục tiêu rộng, tổng thể và phải xem xét thực hiện các mục tiêu đó trong mối quan hệ tương hỗ giữa nhiều khu vực chính sách khác nhau cũng như phải xem xét đến tính hiệu quả của hệ thống thể chế hiện hữu
1.2 Các công cụ thực hiện chính sách ngoại thương chủ yếu
1.2.1 Chính sách thuế quan
a) Khái niệm
Thuế quan là các loại thuế áp dụng đối với hàng hóa được chuyên chở qua biên giới quốc gia hoặc lãnh thổ hải quan Thuế quan gồm thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu Thuế xuất khẩu thường được các nước đang phát triển áp dụng đối với một số mặt hàng nhằm tăng lợi ích quốc gia Trái lại, ở nhiều nước phát triển người
ta không sử dụng thuế xuất khẩu do họ không đặt ra mục tiêu tăng nguồn thu ngân sách từ thuế xuất khẩu Vì vậy, ở những nước này, thuật ngữ thuế quan thường được dùng để chỉ thuế nhập khẩu
Thuế nhập khẩu là công cụ để bảo hộ sản xuất nội địa Nó có tác dụng bảo hộ cho các lĩnh vực sản xuất then chốt, bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ cho đến khi chúng đủ vững mạnh để có thể cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài Do bị đánh thuế, hàng nhập khẩu trở nên đắt hơn so với hàng nội địa có thể thay thế và điều này làm giảm lượng nhập khẩu Đồng thời, thuế quan nhập khẩu có thể được áp dụng để trả đũa các biện pháp hạn chế thương mại do các quốc gia khác tiến hành Hiện nay trên thế giới, thuế xuất khẩu ít được sử dụng hơn, chủ yếu đánh vào các mặt hàng mà
Trang 16nhà nước không khuyến khích xuất khẩu như các mặt hàng sử dụng các nguồn tài nguyên khan hiếm đang bị cạn kiệt hay các mặt hàng mà tính chất quan trọng của nó đối với sự an ninh lương thực hay an ninh quốc gia được đặt lên trên hết Tuy nhiên,
cả thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu đều có tác dụng tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước Thực tế ở nhiều nước đang phát triển, nguồn thu từ thuế chiếm một tỷ trọng rất lớn trong ngân sách quốc gia
WTO thừa nhận thuế quan nhập khẩu là công cụ hợp pháp duy nhất để bảo hộ các ngành sản xuất trong nước Các hàng rào bảo hộ phi thuế phải được bãi bỏ Điều này được đặt ra do thuế quan là biện pháp bảo hộ ít bóp méo thương mại nhất và cũng là biện pháp mang tính minh bạch hơn cả Thuế quan phải được áp dụng trên nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) cho tất cả các thành viên WTO
Thuế quan đặc định (specific tariff) là loại thuế được tính theo giá trị cố định
bằng tiền trên một đơn vị hàng hóa (ví dụ: một tấn hàng hóa nhập khẩu sẽ phải chịu một mức thuế là 25$) Khoản thuế do vậy sẽ phụ thuộc vào lượng hàng xuất, nhập khẩu mà không phụ thuộc vào giá cả hay giá trị của hàng hóa Ưu điểm của loại thuế này là dễ thu, hạn chế việc khai man giá hàng hóa để trốn thuế Tuy nhiên, cách thu này khá cứng nhắc nên hiệu quả bảo hộ có thể không được đảm bảo Ví dụ: nếu giá
cả của hàng hóa nhập khẩu là $5 và mức thuế quan là $1 trên một đơn vị sản phẩm, mức thuế này tương đương với 20% Tuy nhiên, nếu như lạm phát xảy ra và giá cả của hàng hóa nhập khẩu tăng lên $10, thì mức thuế này bây giờ tương đương với chỉ
có 10% trên giá trị hàng hóa nhập khẩu Hơn nữa, cách tính thuế này tỏ ra thiên vị đối với loại hàng hóa đắt tiền, bởi vì khi chuyển mức thuế này thành mức thuế giá trị tương đương thì các mặt hàng đắt tiền sẽ chịu mức thuế thấp hơn so với mức áp dụng với các sản phẩm cùng loại rẻ tiền hơn
Thuế quan tính theo giá trị hàng hóa (ad valorem tariff) được đánh theo một
tỷ lệ phần trăm cố định trên giá trị của một đơn vị hàng hóa Nhược điểm của loại thuế này là khó khăn trong việc áp dụng vì nhân viên hải quan cần có nghiệp vụ chuyên môn để đánh giá đúng giá trị của hàng hóa để từ đó xác định đúng mức thuế Chẳng hạn, người ta phải làm rõ những gì được đưa vào giá trị hàng hóa: chi phí sản xuất, bảo hiểm, chi phí vận chuyển… Tuy vậy, loại thuế này đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới Nó có ưu điểm là luôn duy trì được mức bảo hộ đối với sản xuất trong nước, bất chấp lạm phát biến động như thế nào
Thuế quan hỗn hợp (conpound tariff) kết hợp hai cách tính thuế nói trên
Trang 17Việc lựa chọn loại thuế nào còn phụ thuộc vào tính chất sản phẩm Ví dụ, thuế tính theo số lượng thường được áp dụng đối với sản phẩm tương đối đồng nhất về chất lượng như các loại nông sản Hiện nay, nói chung hải quan thực hiện tính thuế nhập khẩu theo kiểu thuế theo giá trị hàng hóa là chủ yếu
- Thuế suất ưu đãi đặc biệt: Áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ
từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu với quốc gia đó theo thể chế khu vực thương mại tự do, liên minh thuế quan hoặc để tạo thuận lợi cho giao lưu thương mại biên giới và trường hợp ưu đãi đặc biệt khác
- Thuế suất thông thường: Áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ không thực hiện quy chế tối huệ quốc cũng như không thực hiện ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu với quốc gia đó Thuế suất thông thường luôn luôn cao hơn so với thuế suất ưu đãi và thuế suất ưu đãi đặc biệt của cùng mặt hàng đó
d) Tác động của thuế quan đến nền kinh tế
Tác động rõ nhất và trực tiếp nhất của thuế quan là tác động đối với mức giá nội địa Thuế quan chủ yếu là thuế nhập khẩu, do đó chủ yếu tạo ra sự chênh lệch giữa giá nội địa và giá thế giới của hàng hóa Về mặt kinh tế, rõ ràng thuế nhập khẩu gây thiệt hại cho người tiêu dùng, họ buộc phải trả nhiều tiền hơn, hoặc phải mua số lượng hàng hoá ít hơn, hoặc cả hai Ngược lại, nhờ thuế quan, các nhà sản xuất nội địa thu được lợi thông qua gia tăng số lượng cũng như giá bán các sản phẩm của họ Tuy nhiên, lợi ích nhà sản xuất thu được không bù đắp được thiệt hại người tiêu dùng phải gánh chịu Lí do rất đơn giản: các nhà sản xuất có lợi nhờ tăng giá chỉ với lượng hàng nội địa, trong khi người tiêu dùng phải trả giá cao hơn cho cả hàng trong nước và hàng nhập khẩu Do đó, nếu chỉ tính đến nhà sản xuất và người tiêu dùng thì thuế quan mang lại thiệt hại
Song, ảnh hưởng của thuế quan lên nền kinh tế không chỉ là thay đổi thu nhập của nhà sản xuất và người tiêu dùng, thuế quan còn mang thu nhập cho ngân sách nhà nước
Có sự khác nhau trong tác động của thuế quan nhập khẩu và xuất khẩu Thuế nhập khẩu làm tăng giá hàng nhập khẩu, làm giảm số lượng nhập và số dư của người tiêu dùng, làm tăng số dư của người sản xuất nội địa, làm di chuyển nguồn nhân lực
từ ngành xuất khẩu này sang ngành xuất khẩu cạnh tranh khác Trong khi đó, thuế
Trang 18xuất khẩu làm giảm giá nội địa hàng hoá xuất khẩu, làm giảm khối lượng xuất khẩu
và số dư xuất khẩu, làm tăng số dư nguời tiêu dùng trong nước và thu ngân sách nhà nước Tuy nhiên, thuế quan luôn có mặt tác động tiêu cực là gây ra tổn thất ròng cho nền kinh tế trong nước nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung
1.2.2 Chính sách phi thuế quan
a) Khái niệm
Bên cạnh các hàng rào thương mại mang tính truyền thống, người ta vẫn thường nhắc đến khái niệm "các biện pháp phi thuế quan" (non-tarriff measures), được định nghĩa là tất cả các biện pháp ngoài thuế quan, có thể được quy định cụ thể hay thực tế tồn tại, có liên quan hoặc trực tiếp ảnh hưởng tới tự do thương mại
Trước đây các biện pháp phi thuế quan thường được các nước sử dụng chủ yếu với mục đích bảo hộ sản xuất trong nước Tuy nhiên, cho tới nay, các biện pháp với mục đích này đang dần được xóa bỏ và được thay thế bằng các biện pháp thuế quan Trong khuôn khổ của WTO, bắt đầu từ vòng đàm phán Tokyo (1973-1979), GATT đã đưa ra ý tưởng đặt các biện pháp phi thuế quan dưới sự ràng buộc của các quy định nhằm dỡ bỏ dần tiến tới loại bỏ hoàn toàn các biện pháp phi thuế quan
Các biện pháp phi thuế quan ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong chính sách thương mại của các quốc gia với những hình thức ngày càng phong phú Khi hàng rào thuế quan giảm đi thì hàng rào phi thuế sẽ tăng lên Hơn nữa, các biện pháp phi thuế có tính chất kín đáo, không rõ ràng nên có tác dụng hạn chế nhập khẩu tốt hơn so với các biện pháp thuế Mục tiêu của một nước khi sử dụng các NTMs có thể là:
- Bảo hộ sản xuất trong nước;
- Bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ động thực vật, bảo vệ môi trường;
- Hạn chế tiêu dùng;
- Đảm bảo cân bằng cán cân thanh toán;
- Đảm bảo an ninh quốc gia
Các biện pháp thuế quan có tính chất minh bạch hơn, dễ định lượng và được WTO cũng như các định chế thương mại khu vực thừa nhận là biện pháp bảo vệ hợp pháp duy nhất Đối với các biện pháp phi thuế quan, WTO không cho phép áp dụng các biện pháp hạn chế định lượng (trừ ngoại lệ) Một số các NTM khác như TBT, SPS vẫn được WTO cho phép áp dụng với điều kiện tuân thủ những quy định cụ thể
b) Một số biện pháp phi thuế quan
Trang 19Phần nội dung sau đây sẽ đề cập tới một số biện pháp phi thuế quan thường gặp
Nhóm các biện pháp hạn chế định lượng (quantitative restrictions)
¾ Cấm xuất khẩu, nhập khẩu
Cấm xuất khẩu, nhập khẩu là biện pháp bảo hộ cao nhất, gây ra hạn chế lớn nhất đối với thương mại quốc tế và nói chung không được phép sử dụng trong WTO Tuy nhiên, các thành viên có thể thi hành các biện pháp cấm xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở không phân biệt đối xử trong một số trường hợp sau:
- Cần thiết để đảm bảo an ninh quốc gia;
- Cần thiết để bảo vệ đạo đức xã hội;
- Cần thiết để bảo vệ con người, động vật và thực vật;
- Liên quan tới nhập khẩu hay xuất khẩu vàng và bạc;
- Cần thiết để bảo vệ các tài sản quốc gia về nghệ thuật, lịch sử hay khảo cổ;
- Cần thiết để bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên khan hiếm, với điều kiện là các biện pháp này cần phải thực hiện kèm theo việc hạn chế sản xuất hay tiêu dùng nội địa liên quan tới chúng;
- Được áp dụng một cách tạm thời để ngăn cản hay giảm bớt sự khan hiếm lương thực, thực phẩm hay các sản phẩm thiết yếu khác;
- Cần thiết để áp dụng các tiêu chuẩn hay quy định để phân loại, xếp hạng hay tiếp thị các sản phẩm trong thương mại quốc tế
Án lệ Ác-hen-ti-na: Da sống và da thuộc là một minh họa cho việc sử dụng biện pháp cấm xuất khẩu Tháng 12 năm 1998, EC đã yêu cầu Ác hen ti na tham vấn
về việc xuất khẩu da sống và nhập khẩu da thuộc của nước này EC cho rằng Ác hen
ti na trên thực tế đã áp dụng biện pháp cấm xuất khẩu đối với măt hàng da sống và sơ chế và đã vi phạm quy định của GATT 1994 Tháng 5/1999, Ban Hội thẩm đã được thành lập để xem xét vụ việc này Ban Hội thẩm, và sau đó là Cơ quan phúc thẩm đã
có kết luận ủng hộ EC, và yêu cầu Ác hen ti na sửa đổi biện pháp của mình cho phù hợp với quy định của WTO
Một vụ việc nổi tiếng liên quan tới cấm nhập khẩu là vụ Mỹ - Cấm nhập khẩu tôm và các sản phẩm tôm Từ ngày 1/5/1996, Mỹ quy định mọi kiện hàng tôm và các sản phẩm tôm gửi lên tàu tại Mỹ phải kèm theo tờ khai của người xuất khẩu tôm chứng nhận rằng tôm được đánh bắt theo các điều kiện không gây ảnh hưởng bất lợi cho rùa biển và sẽ cấm nhập khẩu các loại sản phẩm này nếu không thỏa mãn yêu cầu trên Một loạt các nước: Ấn Độ, Malaysia, Pakistan và Thái Lan đã phản đối quy định này của Mỹ và đưa vụ việc ra giải quyết tại WTO
Trang 20¾ Hạn ngạch:
Hạn ngạch hay hạn ngạch nhập khẩu là quy định của nhà nước để giới hạn về khối lượng hoặc giá trị của một số các hàng hóa nhất định được nhập khẩu nói chung hoặc nhập khẩu từ một thị trường nào đó, trong một thời hạn nhất định, thường là 1năm Trên thực tế, các hạn ngạch về số lượng được áp dụng nhiều hơn hạn ngạch về giá trị, do việc quản lý các hạn ngạch về giá trị khó thực hiện hơn
Một ví dụ cho việc sử dụng hạn ngạch nhập khẩu có thể kể đến trường hợp Nhật Bản Hệ thống hạn ngạch của Nhật bản được phân chia làm 4 nhóm: nhóm Hạn ngạch nhập khẩu theo kế hoạch, Hạn ngạch nhập khẩu hỗn hợp, Hạn ngạch đặc biệt cho vùng Okinawa, và Các hạn ngạch vì mục đích đặc biệt Các mặt hàng thuộc phạm vi điều chỉnh của hệ thống hạn ngạch nhập khẩu của Nhật Bản bao gồm:
- Nhóm mặt hàng không được đưa vào tự do hóa theo quy định của WTO do
có khả năng gây tổn hại tới cộng đồng (vũ khí, súng cầm tay các loại, thuốc phiện );
- Nhóm mặt hàng cần hạn chế nhập khẩu để bảo vệ sản xuất trong nước (chủ yếu là sản phẩm nông sản, hải sản );
- Nhóm mặt hàng động thực vật thuộc danh sách cần bảo vệ theo Công ước Washington
Các mặt hàng thuộc danh mục cần hạn ngạch nhập khẩu ở Nhật Bản sẽ được liệt kê trong bản "Thông báo nhập khẩu" (Import Notice) do Bộ Công Thương Nhật Bản ban hành
Nhật Bản đã từng bị nhiều nước thành viên yêu cầu tham vấn và đưa ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO về việc sử dụng hạn ngạch nhập khẩu Có thể
kể đến vụ Nhật Bản - Hạn ngạch nhập khẩu đối với tảo biển sấy khô và tảo biển tẩm gia vị Tháng 2 năm 2005, Hàn Quốc để nghị lập Ban Hội thẩm xem xét việc Nhật Bản áp dụng biện pháp hạn ngạch nhập khẩu đối với mặt hàng tảo biển Các bên thứ
ba tham gia trong vụ này có EC, Trung Quốc và Mỹ Hàn Quốc đã cáo buộc Nhật Bản sử dụng hạn ngạch nhập khẩu quá khắt khe, và trái với quy định của WTO đối với mặt hàng nêu trên Tuy nhiên, sau đó vụ việc này đã không được giải quyết tại cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO mà hai nước đã tự tham vấn và cùng đưa ra được mức hạn ngạch hợp lý thỏa đáng cho cả hai bên
Đối với WTO, tổ chức này không cho phép các thành viên sử dụng biện pháp hạn ngạch trừ một số trường hợp đặc biệt được áp dụng trên cơ sở không phân biệt đối xử như sau:
- Được áp dụng một cách tạm thời để ngăn cản hay giảm bớt sự khan hiếm lương thực, thực phẩm hay các sản phẩm thiết yếu khác;
- Cần thiết để áp dụng các tiểu chuẩn hay quy định để phân loại, xếp hạng hay tiếp thị các sản phẩm trong thương mại quốc tế;
Trang 21- Đối với nông sản và thủy sản: có thể hạn chế số lượng hay giá trị hàng nhập khẩu để bảo vệ sự cân bằng cán cân thanh toán Việc tạo ra, duy trì hay mở rộng hạn chế số lượng vì mục đích này không được vượt quá mức cần thiết;
- Để ngăn ngừa sự đe doạ sắp xảy ra hay để ngăn chặn lại sự thiếu hụt nghiêm trọng dự trữ tiền tệ;
- Trong trường hợp một thành viên có dự trữ tiền tệ rất thấp, để đạt được một mức tăng hợp lý dự trữ tiền tệ
¾ Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (VER)
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là thỏa thuận về thị trường, theo đó, một nước đồng ý hạn chế xuất khẩu của mình sang nước khác đối với một măt hàng nhất định một cách tự nguyện Thực chất đây là yêu cầu của nước nhập khẩu và nước xuất khẩu bắt buộc phải chấp nhận nếu không muốn bị áp dụng các biện pháp trả đũa quyết liệt
Trong giai đoạn 1981-1984, dưới sức ép của Mỹ, Chính phủ Nhật đã tự nguyện hạn chế xuất khẩu mặt hàng ô tô sang thị trường Mỹ Hạn chế xuất khẩu này
đã giúp ngành công nghiệp ô tô của Mỹ loại bỏ bớt đối thủ cạnh tranh từ thị trưởng bên ngoài
¾ Cấp phép nhập khẩu
Thủ tục cấp phép nhập khẩu được xác định như các thủ tục hành chính đòi hỏi doanh nghiệp phải đệ trình đơn và/hoặc các tài liệu khác (ngoài mục đích hải quan) cho một cơ quan hành chính để được phép nhập khẩu hàng hóa
Giấy phép nhập khẩu là một biện pháp thường được sử dụng ở những nước gặp khó khăn trong điều hòa cán cân xuất nhập khẩu Giấy phép này cũng được sử dụng phổ biến để khống chế số lượng nhập khẩu một mặt hàng nhất định hoặc thu thập dữ liệu thống kê về mặt hàng đó
Giấy phép nhập khẩu có hai loại thường gặp: Giấy phép tự động và giấy phép không tự động Đối với giấy phép tự động: Người nhập khẩu xin phép nhập khẩu thì cấp ngay không điều kiện nào, và thường phục vụ mục đích thống kê Đối với loại giấy phép không tự động: người nhập khẩu bị ràng buộc bởi các hạn chế nhập khẩu Giấy phép nhập khẩu ngày nay ít được sử dụng hơn so với trước Mặc dù vậy, hệ thống giấy phép này vẫn cần để quản lý nhập khẩu một số mặt hàng
Hiệp định về Thủ tục cấp phép nhập khẩu của WTO quy định các thủ tục mà các thành viên phải tuân thủ để giảm tối đa những công đoạn hành chính phiền phức gây cản trở thương mại Theo quy định của Hiệp định này, giấy phép không tự động
sẽ được cấp trong vòng 30 ngày theo nguyên tắc "đến trước - cấp trước" Nếu các đơn xin phép được xử lý đồng thời thì thời hạn cấp phép là trong vòng 60 ngày
Trang 22Quay trở lại với ví dụ về Nhật Bản Ở Nhật Bản, tuy hầu hết hàng nhập khẩu không cần giấy phép nhập khẩu của Bộ Công Thương nhưng các mặt hàng sau vẫn phải có giấy phép nhập khẩu:
- Hàng hoá nằm trong 66 mặt hàng liệt kê trong thông báo nhập khẩu thuộc diện có hạn ngạch nhập khẩu;
- Hàng hoá sản xuất hay vận chuyển từ các quốc gia, khu vực quy định trong thông báo nhập khẩu đòi hỏi phải có giấy phép nhập khẩu;
- Hàng hoá đòi hỏi phương thức thanh toán đặc biệt;
- Hàng hoá đòi hỏi sự xác nhận của hải quan về nhập khẩu hay sự xác nhận của một số Bộ, các nhà nhập khẩu được toàn quyền ký hợp đồng với các nhà xuất khẩu, nhưng việc đăng ký và thực hiện hợp đồng phụ thuộc vào sự cho phép hay xác nhận của các Bộ phận liên quan
Nhóm các biện pháp tương đương thuế quan (Para-tarriff measures)
UNCTAD định nghĩa các biện pháp tương đương thuế quan là những biện pháp làm tăng chi phí đối với hàng hóa nhập khẩu theo cách tương tự như các biện pháp thuế quan, nghĩa là làm tăng thêm một tỷ lệ phần trăm nhất định hay một mức nhất định, được tính theo giá trị và số lượng Các biện pháp này đòi hỏi người nhập khẩu phải trả một khoản tiền nhất định làm tăng chi phí nhập khẩu, nhưng lại không phải thuế quan, nên được gọi là tương tự thuế quan UNCTAD cũng liệt kê 4 biện pháp nằm trong nhóm này, bao gồm: phụ phí hải quan; các khoản phí và lệ phí bổ sung; thuế và phí nội địa đánh vào hàng nhập khẩu và định giá hải quan theo quy
định
¾ Phụ phí hải quan
Phụ phí hải quan, còn gọi là phí thu thêm hay thuế bổ sung, là một phương tiện chính sách thương mại độc lập để tăng thu nhập tài chính hoặc bảo hộ sản xuất trong nước
¾ Các khoản phí và lệ phí bổ sung
Phí và lệ phí bổ sung bao gồm thuế và lệ phí khác nhau đặt ra đối với hàng hóa nhập khẩu cùng với thuế và phụ phí hải quan Điều VIII của GATT 1994 quy định các khoản chi phí bổ sung ngoài thuế hải quan và các khoản thuế nội địa phải được giới hạn trong chừng mực đủ bù các chi phí cung cấp dịch vụ và không mang tính bảo hộ gián tiếp cho sản phẩm nội địa hay là thuế đánh vào xuất nhập khẩu với mục đích thu ngân sách
Các khoản phí bổ sung này có thể bao gồm:
- Thuế đối với các giao dịch chuyển đổi ngoại tệ
Trang 23- Thuế dán tem
- Lệ phí giấy phép nhập khẩu
- Lệ phí hóa đơn lãnh sự
- Thuế thống kê
- Thuế đối với các phương tiện giao thông
- Thuế và phụ phí đối với các hạng mục sản phẩm nhạy cảm
¾ Thuế và chi phí nội địa đánh vào nhập khẩu
Điều III GATT 1994 cho phép đánh thuế và chi phí nội địa đối với hàng nhập khẩu với điều kiện biện pháp này không nhằm mục đích bảo hộ sản xuất trong nước Mức thuế này phải tương đương với mức thuế nội địa đối với tất cả, hay hầu hết các sản phẩm tương tự có mặt trên thị trường Có thể phân ra các loại thuế và chi phí nội địa thường gặp như sau:
- Thuế hàng hóa chung: là thuế theo giá hàng tính trên tổng số hóa đơn bán hàng thu từ những người giao dịch
- Thuế đánh vào doanh thu: là thuế đánh vào sản xuất và phân phối ở tất cả các cấp dựa vào tổng số hóa đơn, và thuế thu được là thuế tích lũy
- Thuế giá trị gia tăng: đánh vào phần giá trị gia tăng thu được
- Thuế tiêu thụ đặc biệt: đánh vào các sản phẩm nhập khẩu đặc biệt, thường là hàng hóa xa xỉ hoặc không thiết yếu
- Thuế và phí đối với các sản phẩm thuộc hạng mục nhạy cảm
¾ Định giá hải quan theo quy định
Thuế hải quan và các chi phí khác đối với một số hàng hóa nhập khẩu có thể
sẽ được tính dựa trên cơ sở định giá hải quan theo quy định Biện pháp này đưa ra như một phương tiện để tránh gian lận hoặc bảo vệ sản xuất trong nước Biện pháp này trên thực tế có thể làm biến đối thuế theo giá hàng thành một dạng thuế đặc biệt
Các biện pháp kỹ thuật (TBT)
Nhóm các biện pháp kỹ thuật là các biện pháp hạn chế nhập khẩu dựa vào những tiêu chuẩn rõ ràng được thừa nhận chung Mặc dù "rõ ràng" như vậy song việc xác định các biện pháp kỹ thuật liệu có hình thành nên hàng rào kỹ thuật không lại không hề dễ thực hiện
Trang 24Quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn kỹ thuật đặt ra các yêu cầu cụ thể về sản phẩm Đó có thể là:
- Các yêu cầu về đặc tính: kích thước, hình dáng, thiết kế, chức năng của sản phẩm;
- Các quy định về phương pháp sản xuất, phương thức vận chuyển, bảo quản;
- Các yêu cầu về nhãn mác;
- Quy định về đóng gói, bao bì
Mục đích của các quy chuẩn và tiêu chuẩn này là để đảm bảo chất lượng hàng hóa, bảo vệ đời sống, sức khỏe của con người và động thực vật, bảo vệ an ninh và môi trường, ngăn chặn các hành vi lừa dối Các quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật được coi là một trong những cản trở lớn đối với việc tiếp cận thị trường, đặc biệt là tiếp cận các thị trường phát triển do các nước phát triển thường có những quy định rất chặt chẽ mà các nước kém phát triển và đang phát triển thường không đủ điều kiện để đảm bảo
Có thể tham khảo nội dung này trong Hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thương mại của WTO (Hiệp định TBT) WTO quy định các nước thành viên khi áp dụng các biện pháp kỹ thuật phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc:
- Không phân biệt đối xử;
- Không cản trở thương mại;
- Minh bạch hóa;
- Có căn cứ khoa học;
- Hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế;
- Đảm bảo tính tương đương;
- Thừa nhận lẫn nhau
Quy trình đánh giá sự phù hợp: có thể là các thủ tục xét nghiệm, thẩm tra xác thực, kiểm định chứng nhận, được sử dụng để đảm bảo rằng các sản phẩm đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật do các quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật đặt ra
Có thể quay lại vụ kiện cấm nhập khẩu tôm của Mỹ để minh họa cho biện pháp này Vụ việc này phát sinh từ việc chính phủ Mỹ ban hành các quy định liên quan tới các thức đánh bắt tôm đối với các loại tôm nhâp khẩu vào nước này Theo
đó, mọi chủ thể đánh bắt tôm bằng lưới của US phải sử dụng các dụng cụ loại trừ rùa (TEDs) TED là một cửa sập (trap door) được lắp đặt bên trong một lưới rà được thiết kế để cho phép tôm bơi qua đến mặt sau của lưới trong khi rùa biển và các loài
Trang 25lớn khác sẽ ở bên ngoài lưới Mỹ đã yêu cầu các nước xuất khẩu tôm sang Mỹ phải
sử dụng TEDs, và nếu không đáp ứng được yêu cầu này thì hàng sẽ bị cấm nhập khẩu vào Mỹ Trong trường hợp này, Mỹ đã sử dụng biện pháp áp đặt quy chuẩn kỹ thuật đối với hàng nhập khẩu vào nước mình
Các biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS)
Vệ sinh dịch tễ là khái niệm chung để chỉ các biện pháp nhằm đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm Đối tượng của các biện pháp này là hàng nông sản Mục đích của các biện pháp này là nhằm:
- Bảo vệ sức khỏe con người khỏi các nguy cơ phát sinh từ các chất phụ gia, chất độc, chất ô nhiễm, sinh vật gây bệnh trong đồ ăn uống, các bệnh tật lan truyền từ động thực vật;
- Bảo vệ các loài động thực vật khỏi nguy cơ từ việc xâm nhập, phát sinh hoặc lan truyền các loài sinh vật gây bệnh và mang bệnh;
- Khoanh vùng, ngăn chặn việc xâm nhập, phát sinh hoặc lan truyền các loài sâu bệnh
Dưới góc độ của nước nhập khẩu, việc đưa ra các quy định chặt chẽ về kiểm dịch là cần thiết để bảo vệ người tiêu dùng trong nước và bảo vệ nền kinh tế nông nghiệp của mình Nhưng dưới góc độ nước xuất khẩu, những biện pháp kiểm dịch
mà nước nhập khẩu áp dụng có thể gây khó khăn, nhiều khi trở thành "rào cản" đối với hàng xuất khẩu của họ Những quy định về kiểm dịch quá mức cần thiết nhiều khi sẽ bị quy kết là một biện pháp nhằm bảo hộ sản xuất trong nước
Hiệp định về các biện pháp vệ sinh dịch tễ của WTO (Hiệp định SPS) đã đưa
- Cần phải hài hòa các tiêu chuẩn;
- Cần công nhận tính tương đương của các biện pháp SPS của các thành viên khác;
- Đảm bảo thông tin kịp thời thông qua điểm hỏi đáp
Có khá nhiều các vụ tranh chấp trong WTO liên quan tới vấn đề này Chẳng hạn như vụ EC-Hoóc môn
Trang 26Trong suốt thập kỷ 70 của thế kỷ trước, người dân Châu Âu phải đối mặt với việc sử dụng các hoóc-môn tăng trưởng một cách rộng rãi trong quá trình chăn nuôi gia súc có thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người Điển hình là việc sử dụng loại hoóc-môn dethylstilboestrol trong hoạt động chăn nuôi bê ở Pháp, Ý và các vùng lân cận đã bị xem xét như một nguyên nhân gây rối loạn hoócmôn ở giới trẻ thời kỳ đó
Trước tình hình đó, bắt đầu từ năm 1980 và xuyên suốt 15 năm, EC đã ra hàng loạt các văn bản cấm nhập khẩu thịt và các sản phẩm thịt gia súc mà trong quá trình chăn nuôi có sử dụng một trong sáu loại hoóc-môn tăng trưởng, trong đó có 3 loại hoóc-môn tự nhiên và 3 loại hoóc-môn nhân tạo
Mỹ và Canađa đã phản đối quyết định này của EC và cho rằng việc EC áp dụng các biện pháp SPS như vậy là trái với Hiệp định SPS của WTO với những lý do: việc áp dụng không dựa trên việc đánh giá các rủi ro hay chứng cớ khoa học, áp dụng không với mức độ cần thiết nhằm bảo vệ sức khỏe con người, mà thực tế lại gây hạn chế thương mại hơn mức bảo vệ cần thiết và có sự phân biệt đối xử tùy tiện giữa các nước có cùng điều kiện tương tự nhau và đã tạo nên sự hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế
Giấy chứng nhận lưu thông tự do
Đây là điều kiện do một nước yêu cầu đối với hàng hóa nhập khẩu phải có Giấy chứng nhận lưu thông tự do (Certificate of Free Sale - CFS) ở nước xuất khẩu,
có nghĩa là hàng hóa đó được kinh doanh, lưu thông tự do trên thị trường nước xuất khẩu Quy định này nhằm đảm bảo hàng hóa đó đảm bảo các yếu tố kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ hay và những quy định pháp lý khác của nước xuất xứ và do đó có thể thay thế các giấy tờ khác nếu như các yêu cầu của chính nước xuất xứ cao hơn yêu cầu ở nước nhập khẩu Trên cơ sở đó, thường thì chỉ các nước phát triển yêu cầu CFS
từ các nước phát triển khác hoặc các nước đang phát triển yêu cầu CFS từ các nước phát triển hơn
1.2.3 Các biện pháp phòng vệ thương mại
a) Biện pháp tự vệ
Trong thương mại quốc tế, biện pháp tự vệ là việc một nước tạm thời hạn chế nhập khẩu một loại hàng hóa nhất định khi lượng hàng nhập khẩu tăng đột biến gây
ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước
Một nguyên tắc cơ bản của hệ thống thương mại quốc tế theo Hiệp định GATT và WTO là các nước thành viên bị ràng buộc với những cam kết đã được đàm phán của họ cho đến khi những cam kết này được sửa đổi phù hợp với các quy định hiện hành Nguyên tắc này nhằm đảm bảo sự ổn định của hệ thống thương mại quốc
tế và thúc đẩy hơn nữa thương mại phát triển Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng có ngoại lệ, cho phép các nước thành viên được giải thoát khỏi những nghĩa vụ đã cam kết của mình và hạn chế nhập khẩu trong trường hợp khẩn cấp khi sự gia tăng nhập khẩu có thể gây ra đổ vỡ không lường trước được cho ngành sản xuất trong nước Thuật ngữ “biện pháp tự vệ” được dùng để chỉ những hạn chế nhập khẩu đó Các quy
Trang 27định liên quan đến biện pháp tự vệ bao gồm Điều XIX, XII, XVIII Hiệp định chung
về thuế quan và thương mại 1994 (GATT 1994), Hiệp định về các biện pháp tự vệ, Thỏa thuận về cân bằng cán cân thanh toán của GATT 1994, Hiệp định về Nông nghiệp, Hiệp định về thương mại hàng dệt và may mặc và Điều XII Hiệp định chung
về thương mại dịch vụ (GATS) Trong đó, Điều XIX GATT 1994 và Hiệp định về các biện pháp tự vệ quy định các nguyên tắc cho việc sử dụng các biện pháp tự vệ nói
chung trong WTO Các nước thành viên khi xây dựng pháp luật nội địa về biện pháp
tự vệ có nghĩa vụ tuân thủ các nguyên tắc này
Khác với các biện pháp hạn chế nhập khẩu như chống bán phá giá hoặc chống trợ cấp được áp dụng trên cơ sở có hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các nhà xuất khẩu, biện pháp tự vệ được áp dụng ngay cả trong điều kiện cạnh tranh thương mại hoàn toàn bình thường Do vậy, điều kiện để một nước áp dụng biện pháp tự vệ
là rất chặt chẽ Các điều kiện này được quy định tại Điều 2 Hiệp định Tự vệ Theo
đó, nước nhập khẩu chỉ có thể áp dụng biện pháp tự vệ sau khi đã tiến hành điều tra
và chứng minh được đồng thời các yếu tố sau:
(1) Hàng hóa liên quan được nhập khẩu tăng đột biến về số lượng
Sự gia tăng hàng nhập khẩu là yếu tố đầu tiên mà nước thành viên muốn áp dụng biện pháp tự vệ cần xác định Sự gia tăng này có thể là gia tăng tuyệt đối (ví dụ: lượng hàng nhập khẩu tăng gấp hai lần) hoặc tương đối so với sản xuất trong nước (ví dụ: lượng hàng nhập khẩu đang thực tế giảm nhưng cùng thời điểm đó lượng hàng sản xuất trong nước lại giảm mạnh hơn) Ngoài ra, tốc độ gia tăng hàng nhập khẩu cũng là vấn đề quan trọng Biện pháp tự vệ là một công cụ khẩn cấp, được thiết
kế để giúp ngành công nghiệp trong nước tránh bị thiệt hại nghiêm trọng do sự gia tăng mạnh mẽ của hàng nhập khẩu Nếu lượng hàng nhập khẩu tăng dần dần trong một khoảng thời gian dài thì không thể khiến sản xuất trong nước rơi vào tình trạng cần phải phòng vệ khẩn cấp bằng biện pháp tự vệ Do đó, sự gia tăng nhập khẩu ở đây phải mang tính đột biến, xảy ra đột ngột, nhanh và tức thời
Theo quy định chung tại Điều XIX GATT, việc tăng đột biến lượng sản phẩm nhập khẩu gây thiệt hại nói trên phải là hiện tượng mà nước nhập khẩu không thể lường trước được khi đưa ra cam kết trong khuôn khổ WTO
(2) Ngành sản xuất sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với hàng hóa
đó bị thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng
Sản phẩm tương tự là sản phẩm giống hệt hoặc nếu không có sản phẩm giống hệt thì là sản phẩm tương đồng về tính chất, thành phần, chất lượng và mục đích sử dụng cuối cùng với sản phẩm nhập khẩu Sản phẩm cạnh tranh trực tiếp là sản phẩm
có thể thay thế cho sản phẩm nhập khẩu ở một mức độ nhất định trên và trong các điều kiện của thị trường nước nhập khẩu Theo Điều 4 Hiệp định về các biện pháp tự
vệ, thuật ngữ “thiệt hại nghiêm trọng” được hiểu là sự gây hại toàn diện đáng kể tới
vị trí của ngành công nghiệp nội địa; “đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng” có nghĩa là thiệt hại nghiêm trọng rõ ràng sẽ xảy ra, và việc xác định nguy cơ thiệt hại nghiêm trọng phải dựa trên cơ sở thực tế chứ không phải là phỏng đoán, viện dẫn hoặc khả năng xa Ngành công nghiệp nội địa ở đây chính là toàn bộ các nhà sản xuất sản
Trang 28phẩm tương tự hoặc sản phẩm cạnh tranh trực tiếp trong lãnh thổ nước nhập khẩu, hoặc tập hợp các nhà sản xuất mà đầu ra của sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp của họ chiếm phần lớn trong tổng số sản xuất nội địa của loại sản phẩm này Như vậy, chính phủ các nước không được áp dụng biện pháp tự vệ để hạn chế nhập khẩu trong trường hợp chỉ có một vài nhà sản xuất trong nước gặp khó khăn trong việc cạnh tranh với hàng nhập khẩu
(3) Có mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng nhập khẩu tăng đột biến và thiệt hại hoặc đe dọa thiệt hại nói trên
Các cuộc điều tra để áp dụng biện pháp tự vệ có thể do chính phủ nước nhập khẩu chủ động tiến hành khi thấy cần thiết hoặc trên cơ sở yêu cầu của ngành công nghiệp trong nước bị thiệt hại WTO không có nhiều quy định chi tiết về trình tự, thủ tục điều tra trong các vụ kiện liên quan đến tự vệ Việc điều tra và áp dụng biện pháp
tự vệ thực chất là một thủ tục hành chính, do cơ quan hành chính nước nhập khẩu tiến hành theo quy định của pháp luật nước này Tuy nhiên, Hiệp định Tự vệ có đưa
ra một số nguyên tắc cơ bản mà tất cả các nước thành viên phải tuân thủ như: đảm bảo tính minh bạch trong giai đoạn điều tra, đảm bảo quyền tố tụng của các bên, yêu cầu về bí mật thông tin Theo đó, cơ quan điều tra phải công bố công khai quyết định khởi xướng điều tra, báo cáo kết quả điều tra, quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp tự vệ; đảm bảo cho các bên có cơ hội trình bày các chứng cứ, lập luận của họ và phản biện lý lẽ của bên kia; không được tiết lộ thông tin có tính chất
bí mật nếu không được phép của bên cung cấp thông tin Trong quá trình điều tra, cơ quan có thẩm quyền không chỉ xem xét tất cả các tình tiết thực tế mà còn phải cân nhắc quan điểm của các bên liên quan và đảm bảo cân bằng những lợi ích khác nhau của họ
Trước khi áp dụng biện pháp tự vệ, nước nhập khẩu phải thông báo trước cho
Ủy ban về các biện pháp tự vệ của WTO, đồng thời dành cho các nước Thành viên
có lợi ích liên quan những cơ hội thích hợp để tham vấn trước Biện pháp tự vệ chỉ được phép áp dụng ở mức độ cần thiết để ngăn chặn hoặc bù đắp các thiệt hại nghiêm trọng và tạo thuận lợi cho việc điều chỉnh ngành sản xuất nội địa Thời hạn
áp dụng biện pháp tự vệ không được vượt quá 4 năm (tính cả thời gian áp dụng biện pháp tạm thời) và có thể được gia hạn khi nước nhập khẩu chứng minh được rằng việc gia hạn là cần thiết để ngăn chặn hay khắc phục thiệt hại và ngành công nghiệp trong nước vẫn đang tiến hành tự điều chỉnh Tuy nhiên, toàn bộ thời gian áp dụng và gia hạn nói trên không được quá 8 năm Trong trường hợp biện pháp tự vệ được áp dụng vượt quá 1 năm, nước nhập khẩu phải từng bước nới lỏng biện pháp này theo định kỳ sau năm đầu tiên áp dụng Trường hợp biện pháp được áp dụng trên 3 năm thì nước nhập khẩu phải tiến hành rà soát giữa kỳ để cân nhắc khả năng rút bỏ biện pháp hoặc giảm mức hạn chế nhập khẩu hơn nữa
WTO không có quy định ràng buộc về loại hình biện pháp tự vệ được áp dụng Trên thực tế, các nước thường sử dụng biện pháp hạn ngạch hoặc tăng thuế nhập khẩu đối với hàng hóa liên quan hoặc kết hợp cả hai hình thức này Riêng với hình thức hạn ngạch, nước nhập khẩu phải tiến hành thỏa thuận với các nước xuất khẩu có lợi ích cung cấp đáng kể đối với sản phẩm về việc phân định hạn ngạch Nếu thỏa thuận không đạt được, việc phân bổ hạn ngạch sẽ được thực hiện theo thị phần
Trang 29tương ứng của từng nước xuất khẩu trong giai đoạn trước đó Biện pháp tự vệ phải được áp dụng trên cơ sở không phân biệt đối xử về xuất xứ hàng hóa nhập khẩu liên quan Tuy nhiên, Điều 9 Hiệp định về các biện pháp tự vệ có quy định đối xử riêng dành cho các nước đang phát triển Theo đó, nước nhập khẩu không được áp dụng biện pháp tự vệ với nước xuất khẩu là nước đang phát triển có lượng nhập khẩu hàng hóa liên quan ít hơn 3% tổng lượng nhập khẩu hàng hóa tương tự vào nước nhập khẩu Quy định này sẽ không được áp dụng nếu tổng lượng nhập khẩu từ tất cả các nước đang phát triển chiếm trên 9% tổng lượng nhập khẩu hàng hóa liên quan vào nước nhập khẩu
Biện pháp tự vệ chính thức chỉ được áp dụng sau khi cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu kết thúc điều tra Trong trường hợp đặc biệt mà sự chậm trễ sẽ gây ra thiệt hại khó có thể khắc phục, nước nhập khẩu được phép sử dụng biện pháp
tự vệ tạm thời dựa trên việc xác định sơ bộ rằng sự gia tăng nhập khẩu đã gây ra hoặc
đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành công nghiệp nội địa Việc điều tra cũng như tham vấn với các nước có lợi ích liên quan sẽ được tiến hành ngay sau đó Biện pháp tạm thời được áp dụng dưới hình thức tăng thuế và sẽ được hoàn trả ngay nếu điều tra sau đó xác định rằng sự gia tăng nhập khẩu không gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng đối với ngành sản xuất trong nước Thời hạn áp dụng biện pháp tạm thời không quá 200 ngày và trong suốt thời gian đó các yêu cầu đối với một biện pháp tự vệ nói trên phải được tuân thủ
Được thừa nhận trong thương mại quốc tế nhưng lại đi ngược lại mục tiêu “tự
do hóa thương mại”, biện pháp tự vệ là một công cụ “phải trả giá” Điều này có nghĩa là các nước áp dụng biện pháp tự vệ để bảo vệ ngành sản xuất của mình phải bồi thường tổn thất thương mại cho các nước xuất khẩu liên quan Nước nhập khẩu phải tiến hành thương lượng với các nước xuất khẩu về biện pháp đền bù thương mại thỏa đáng Hình thức đền bù thường là việc nước nhập khẩu tự nguyện giảm thuế cho một số nhóm hàng hóa khác từ các nước xuất khẩu đó Trường hợp không đạt được thỏa thuận, nước xuất khẩu liên quan có thể áp dụng biện pháp trả đũa, thường là rút lại những nghĩa vụ nhất định theo WTO đối với nước áp dụng biện pháp tự vệ Tuy nhiên, việc trả đũa không thể được thực hiện trong 3 năm đầu kể từ khi biện pháp tự
vệ được áp dụng phù hợp với quy định của WTO
b) Chống trợ cấp và các biện pháp đối kháng
Trong WTO, trợ cấp được hiểu là bất kỳ khoản hỗ trợ tài chính, hỗ trợ thu nhập hoặc hỗ trợ giá nào do Nhà nước hoặc một tổ chức công cung cấp, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp hoặc ngành sản xuất Sự hỗ trợ tài chính từ phía chính phủ một nước có thể là:
(1) Hỗ trợ trực tiếp bằng tiền chuyển ngay (ví dụ cấp vốn, cho vay, góp cổ phần) hoặc hứa chuyển (như bảo lãnh tiền vay);
(2) Miễn hoặc bỏ qua những khoản thu lẽ ra phải nộp cho chính phủ (ví dụ miễn thuế);
(3) Mua hàng, cung cấp các dịch vụ hoặc hàng hóa không phải là cơ sở hạ tầng chung;
Trang 30(4) Góp tiền vào một cơ chế tài trợ, giao hoặc lệnh cho một tổ chức tư nhân tiến hành các hoạt động (1), (2), (3) nêu trên không khác với những hoạt động thông thường của chính phủ
Trợ cấp được coi là hành vi bóp méo thương mại quốc tế vì nó làm giảm giá xuất khẩu của sản phẩm được trợ cấp và gây ảnh hưởng bất lợi cho các nước khác
Do đó, nó có thể bị đối kháng bởi những nước này Đối kháng là biện pháp được áp dụng nhằm triệt tiêu những lợi thế mà trợ cấp mang lại cho một ngành hoặc một sản phẩm nhất định Hành vi đối kháng chỉ có thể áp dụng với những trợ cấp có tính riêng biệt, tức là trợ cấp được dành riêng cho một hoặc nhóm doanh nghiệp, ngành hoặc nhóm ngành sản xuất nhất định Hiệp định của WTO về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (Hiệp định SCM) đã xác định các loại trợ cấp tạo ra sự bóp méo thương mại và các biện pháp có thể sử dụng để đối phó với các trợ cấp này
Trợ cấp được được chia làm ba loại, bao gồm trợ cấp bị cấm, trợ cấp có thể bị đối kháng và trợ cấp được phép
Trợ cấp bị cấm (còn gọi là trợ cấp đèn đỏ) được coi là bóp méo thương mại
nhiều nhất Hình thức trợ cấp mà hiện tất cả các thành viên WTO đều bị cấm áp dụng
là trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp thay thế nhập khẩu Trợ cấp xuất khẩu căn cứ vào kết quả xuất khẩu để trợ cấp, như thưởng xuất khẩu, trợ cấp nguyên liệu đầu vào để xuất khẩu, miễn hoặc giảm thuế cao hơn mức mà sản phẩm tương tự bán trong nước được hưởng, ưu đãi bảo hiểm xuất khẩu, ưu đãi tín dụng xuất khẩu Trợ cấp thay thế nhập khẩu nhằm khuyến khích sử dụng hàng nội địa thay cho hàng nhập khẩu Trợ cấp đèn đỏ có thể bị kiện ra WTO mà không phải chứng minh tác động bất lợi của trợ cấp đối với thương mại hoặc có thể bị nước khác áp dụng biện pháp đối kháng
Trợ cấp có thể bị đối kháng (còn gọi là trợ cấp đèn vàng) bao gồm tất cả các
trợ cấp có tính riêng biệt (trừ các loại trợ cấp đèn xanh) tuy không bị cấm sử dụng nhưng lại có thể bị kiện ra WTO nếu gây tác động bất lợi đối với thương mại của nước khác hoặc bị nước khác áp dụng biện pháp đối kháng
Trợ cấp được phép (còn gọi là trợ cấp đèn xanh) bao gồm các trợ cấp không
mang tính riêng biệt và 3 loại trợ cấp riêng biệt nhưng được miễn trừ có điều kiện (hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu, hỗ trợ cho khu vực khó khăn, hỗ trợ điều chỉnh các điều kiện hạ tầng cho phù hợp với môi trường kinh doanh mới) Các nước thành viên được phép sử dụng các loại trợ cấp này mà không bị nước khác khiếu kiện hoặc
áp dụng biện pháp đối kháng
Hiệp định SCM thừa nhận hai cơ chế song song mà các nước thành viên được phép áp dụng để đối phó với hành vi trợ cấp bất hợp pháp từ phía một nước thành viên khác Theo đó, các nước có thể sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp đa phương của WTO thông qua khởi kiện chính phủ nước đã thực hiện việc trợ cấp; và cơ chế đơn phương thông qua điều tra để áp dụng thuế đối kháng với hàng nhập khẩu được trợ cấp gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước Như vậy, một vụ kiện chống trợ cấp có thể do cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu hoặc ngành sản xuất/đại diện ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu khởi xướng
Trang 31Hiệp định SCM có quy định nguyên tắc chung cho quá trình điều tra chống trợ cấp mà các thành viên phải tuân thủ khi xây dựng pháp luật nội địa về trình tự, thủ tục điều tra cụ thể
Để áp dụng biện pháp đối kháng, nước nhập khẩu phải tiến hành điều tra và chứng minh có sự tồn tại đồng thời của ba yếu tố:
(1) Hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp với trị giá phần trợ cấp không thấp hơn 1% trị giá hàng hóa liên quan (biên độ trợ cấp không thấp hơn 1%);
(2) Ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu bị thiệt hại hoặc
đe dọa thiệt hại đáng kể hoặc bị làm trì hoãn sự hình thành (gọi chung là thiệt hại);
(3) Có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu được trợ cấp và thiệt hại nói trên
Hình thức của biện pháp đối kháng mà nước nhập khẩu áp dụng là thuế đối kháng - khoản thuế bổ sung ngoài thuế nhập khẩu thông thường, đánh vào hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp Mục đích của biện pháp đối kháng là nhằm loại bỏ thiệt hại
mà trợ cấp gây ra cho ngành sản xuất trong nước nên về nguyên tắc, mức thuế đối kháng không được cao hơn giá trị trợ cấp tính theo đơn vị sản phẩm nhập khẩu được trợ cấp Mức thuế này phải được tính riêng cho từng nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài Trường hợp các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài không được lựa chọn để tham gia cuộc điều tra thì mức thuế đối kháng áp dụng cho họ không cao hơn biên độ trợ cấp trung bình của tất cả các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài được lựa chọn điều tra Sau khi áp thuế một thời gian, thường là theo từng năm, cơ quan có thẩm quyền tiến hành rà soát lại để xem xét điều chỉnh mức thuế hoặc chấm dứt việc áp thuế đối kháng nếu có yêu cầu Thời hạn áp thuế là không quá 5 năm kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền ra quyết định áp thuế hoặc kể từ ngày tiến hành rà soát lại trừ khi thấy rằng việc chấm dứt áp thuế sẽ làm cho trợ cấp và tổn hại tái diễn hoặc tiếp diễn
c) Biện pháp chống bán phá giá
Bán phá giá trong thương mại quốc tế là hiện tượng hàng hóa xuất khẩu được bán sang thị trường nước khác với mức giá thấp hơn giá thông thường tại thị trường nội địa nước xuất khẩu Bán phá giá và trợ cấp đều nhằm làm giảm giá xuất khẩu của hàng hóa Nhưng khác với trợ cấp là biện pháp của chính phủ tác động vào giá, bán phá giá lại là hành vi của các nhà xuất khẩu
Về mặt kinh tế, hành vi bán phá giá nhằm lũng đoạn thị trường chỉ có thể xuất phát từ phía các nhà xuất khẩu có tiềm lực tài chính vì họ phải duy trì mức giá thấp trong một thời gian dài12, và với mục đích đó thì bán phá giá được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh Do đó, WTO cho phép các quốc gia áp dụng những biện pháp mang tính phòng vệ để ngăn chặn và hạn chế hậu quả của hiện tượng này13 Tuy nhiên, ngay cả những quy định mang tính “luật” của WTO và luật chống bán phá giá của các nước là những tranh cãi trên khía cạnh kinh tế Sở dĩ như vậy là
12 Luật các nước thường quy định trong thời gian từ 6 tháng trở lên
13 Các quy định về chống bán phá giá được ghi nhận tại Điều VI Hiệp định GATT 1994 và được chi tiết hóa
trong Hiệp định thực thi Điều VI của GATT 1994, thường được gọi là Hiệp định chống bán phá giá
Trang 32vì các quy định đặt ra các điều kiện xác định bán phá giá không phải hoàn toàn dựa trên khía cạnh kinh tế, hơn nữa chúng còn có thể bị “bóp méo” bằng các thủ thuật vô
lý Chẳng hạn việc Mỹ áp dụng nguyên tắc “zeroing” (quy về 0) được coi là một biện pháp không công bằng xét trên khía cạnh kinh tế14
Tuy vậy, cho dù một nước thực hiện chính sách hạn chế nhập khẩu, cũng cần tính đến đến các điều kiện hiệu quả kinh tế để quyết định có áp dụng biện pháp chống bán phá giá hay không Những phân tích lý thuyết cơ bản đã chỉ ra các nguyên nhân của việc bán phá giá và có thể đánh giá hơn thiệt trong việc thực hiện biện pháp chống bán phá
- Bán phá giá xảy ra do phân biệt giá quốc tế
Phân biệt giá quốc tế xảy ra khi thị trường bị phân biệt giá là thị trường của các nước khác nhau Song giá xuất khẩu thường cao hơn giá của thị trường nội địa do nhà xuất khẩu phải chịu thêm nhiều chi phí xuất khẩu như vận chuyển, bảo hiểm…
Do đó, khi nhà sản xuất theo đuổi hành vi phân biệt giá quốc tế, tức là giá bán trong nước khác giá xuất khẩu thì hành vi đó chỉ bị coi là bán phá giá nếu giá xuất khẩu sản phẩm thấp hơn giá bán của sản phẩm đó ở trong thị trường nội địa Nhưng xét về mặt kinh tế, bán phá giá sẽ là một hiện tượng thông thường nếu như một công ty được hưởng lợi thế độc quyền trên thị trường nội địa do được bảo hộ bởi các rào cản thương mại tự nhiên và phi tự nhiên có thể bán sản phẩm trong nước với mức giá khá cao Nếu chi phí xuất khẩu hàng hóa tương đối thấp, mức giá xuất khẩu do công ty đặt ra có thể sẽ thấp hơn nhiều so với giá bán ở thị trường trong nước Bản chất hành
vi bán phá giá kể trên không phải là do công ty đặt giá thấp ở thị trường xuất khẩu
mà do công ty đã bán giá cao ở thị trường trong nước Do đó, nếu bán phá giá xảy ra dưới hình thức phân biệt giá thì biện pháp chống bán phá giá sẽ không mang lại lợi ích kinh tế gì vì ta cần chống lại sự định giá cao tại thị trường nội địa chứ không phải loại bỏ mức giá thấp ở thị trường xuất khẩu
- Bán phá giá xảy ra do giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất
Những người ủng hộ quan điểm bán phá giá là sự phân biệt giá thường lập luận rằng bán phá giá do giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất cũng là một hình thức phân biệt giá Họ cho rằng các công ty không thể duy trì việc bán hàng dưới chi phí nếu không bù lỗ cho phần hàng này bằng những phần hàng bán trên chi phí trong thị trường khác, tức là công ty đó đang thực hiện biện pháp phân biệt giá
Tuy nhiên, lập luận trên chưa giải thích được tại sao giá xuất khẩu dưới chi phí sản xuất lại bị coi là bán phá giá Những phân tích kinh tế vi mô cho thấy hành vi này có thể giải thích được nhờ việc xem xét khái niệm “chi phí” bằng cách phân biệt
“chi phí trung bình” và “chi phí biên” Chi phí trung bình là chi phí tính trên một đơn
14 Trong việc tính toán biên độ phá giá, nếu như sau khi tính toán cho kết quả là không những công ty ngoại quốc không bán phá giá mà còn bán ở nước đang thực hiện điều tra với giá cao hơn giá bán trong chính nước
mình thì biên độ là sẽ là số âm (negative margin) Nhưng thay vì công nhận điều đó, DOC coi kết quả đó
ngang với số 0 Và do đó, trong việc tính toán để ra biên độ dumping cuối cùng, có rất nhiều biên độ khác nhau nên những biên độ âm bị quy thành 0 thì tổng cộng lại biên độ cuối cùng sẽ bị đẩy lên mức cao nhất có thể và như vậy hầu như sẽ luôn xảy ra tình trạng bán phá giá Từ đó có thể hiểu được tại sao tuyệt đại đa số các
điều tra của DOC dẫn đến một phán quyết là có dumping (affirmative determination)
Trang 33vị sản phẩm đầu ra Chi phí biên là chi phí tăng lên do sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm đầu ra
Sự phân biệt này có ý nghĩa quan trọng trong ngắn hạn khi nhiều loại chi phí sản xuất là cố định, không phụ thuộc vào số lượng sản xuất, chỉ có một phần nhỏ chi phí sản xuất là thay đổi khi lượng sản xuất thay đổi Chính chi phí biên là yếu tố quyết định trong việc định giá của một công ty trong ngắn hạn khi phải chịu chi phí nhất định để thâm nhập thị trường Điều này giải thích tại sao một công ty vẫn chấp nhận bán hàng với mức giá thấp hơn chi phí trung bình dù biết rằng đang bị lỗ Sở dĩ như vậy là vì nếu công ty không tiếp tục sản xuất thì công ty có thể sẽ bị lỗ nhiều hơn do vẫn chịu chi phí cố định15
Trong ngắn hạn, khi thị trường suy thoái bất cứ công ty nào dù là cạnh tranh hoàn hảo hay không hoàn hảo cũng có thể bán sản phẩm với giá thấp hơn chi phí trung bình chỉ cần mức giá này cao hơn giao điểm của chi phí biên và chi phí biến đổi trung bình Hành vi này của nhà sản xuất chính là để bù đắp chi phí cố định Nhà sản xuất có thể hy vọng rằng sau một thời gian suy giảm tạm thời, thị trường sẽ hồi phục và công ty có thể tăng giá; hoặc chỉ đơn giản là nhà sản xuất đang cố gắng bán hàng nhằm giảm thiểu thua lỗ trước khi rút khỏi thị trường
Khi cả nhà sản xuất trong nước và nhà xuất khẩu đều bán phá giá dưới chi phí trung bình do suy thoái của thị trường thì việc đánh thuế chống bán phá giá đối với nhà xuất khẩu là không hợp lý Trong trường hợp này, biện pháp chống bán phá giá chỉ mang tính bảo hộ đơn thuần nhằm làm giảm tác động bất lợi đối với công ty trong nước khi thị trường suy thoái Do đó, nhà xuất khẩu có thể bán ở mức giá mà các công ty trong nước đã đóng cửa, chỉ để bù đắp chi phí cố định đã bỏ ra
Như vậy, thông thường một công ty có thể bán hàng với giá thấp hơn chi phí trung bình chỉ cần mức giá này cao hơn chi phí biên Tuy nhiên trên thực tế vẫn có những công ty bán hàng dưới chi phí biên Nguyên nhân của hành vi này có thể do các công ty đánh giá sai chi phí biên, hoặc chấp nhận hy sinh lợi nhuận để đạt được một số mục tiêu khác như tối đa hoá doanh thu, độc chiếm thị trường, tăng thị phần hay tiếp thị hàng hóa Điều này xả ra do có tính cứng nhắc và bất ổn trong ngắn hạn
do khi bắt đầu xuất khẩu vào một thị trường, công ty thường phải đưa ra quyết định sản xuất trước khi xác định được chính xác mức giá trên thị trường bằng cách quyết định sản lượng sản xuất theo mức giá dự tính Mức giá dự tính của công ty là số bình quân gia quyền của tất cả các phương án giá cả có thể có với xác suất của mỗi phương án được sử dụng như các trọng số Nếu giá bán thực tế thấp hơn nhiều so với giá bán mong đợi ban đầu thì công ty sẽ phải bán hàng với mức giá thấp hơn chi phí biên định trước Khi công ty phát hiện ra đã xác định sai giá thị trường và do đó, xác định sai chi phí biên, công ty khó có thể điều chỉnh sản lượng ngay lập tức Mức sản lượng chỉ có thể điều chỉnh sau một thời gian dài, khi công ty có thể cải biến toàn bộ yếu tố đầu vào của nó, kể cả quy mô các nhà máy
Như vậy, có thể giải thích về mặt hành vi bán giá thấp (hơn chi phí sản xuất) của một công ty có thể chỉ xuất phát thuần túy từ lý do tối ưu hóa trong hoạt động
15 Bộ Thương mại (2003) “Chống bán phá giá – mặt trái của tự do hóa thương mại”
Trang 34kinh doanh Do vậy, về khía cạnh vĩ mô, cần xét đến yếu tố thời gian duy trì mức giá
để xác định công ty có bán phá giá nhằm mục đích lũng đoạn thị trường hay không Pháp luật hiện hành của Việt Nam chưa có quy định về điểm này Hơn nữa, việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá còn phải tính đến yếu tố mặt hàng Yếu tố này được xem xét khi tính đến mức độ thiệt hại của các nhà sản xuất trong nước đối với mặt hàng tương tự
Tóm lại, trong nhiều trường hợp các công ty nước ngoài có thể xuất khẩu hàng của mình sang thị trường nước khác với giá thấp hơn giá nội địa và thậm chí thấp hơn cả chi phí sản xuất, nhưng không phải mọi trường hợp đều nên cho là hành
vi “bán phá giá” để áp dụng biện pháp Trong nhiều trường hợp, làm như vậy sẽ tạo
ra sự bảo hộ không cần thiết cho ngành sản xuất trong nước, làm giảm lợi ích của người tiêu dùng cũng như của toàn xã hội Do đó, việc sử dụng công cụ này cần hết sức thận trọng trên cơ sở tính toán hơn thiệt về lợi ích cho nền kinh tế
1.2.4 Chính sách xúc tiến xuất khẩu
Xét trên khía cạnh chính sách ngoại thương, xúc tiến xuất khẩu là biện pháp của Chính phủ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong nước trong việc xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ ra nước ngoài Đây là biện pháp hỗ trợ “an toàn” nhất vì không bị cấm trong khuôn khổ WTO và cũng không bị các nước xem xét để “trả đũa”
Thực tiễn khảo sát cho thấy chính sách xúc tiến xuất khẩu được thực hiện dưới nhiều hình thức, có thể tóm tắt như sau:
- Thiết lập cơ quan đại diện thương mại tại thị trường xuất khẩu
Đây là cách thức tương đối phổ biến, do quan hệ thương mại giữa các nước không phải chỉ do các thương nhân thực hiện mà phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố chính trị, ngoại giao Tuy nhiên, cách thức này được thực hiện khác nhau, phụ thuộc vào thể chế kinh tế của từng nước Các nước có nền kinh tế thị trường phát triển thường thực hiện việc này thông qua đại diện thương mại tại các đại sứ quán và các phòng thương mại và công nghiệp Các cơ quan và nhân sự làm việc này không phải
để xúc tiến từng thương vụ cụ thể mà hoạt động tích cực cho những hành động mang tính chính sách, cho một ngành hoặc một nhóm các nhà xuất khẩu và nhà đầu tư nước họ Trong khi đó các nước đang phát triển và đặc biệt là các nước có nền kinh
tế chuyển đổi (từ kinh tế nhà nước sang kinh tế thị trường) thường duy trì các cơ quan đại diện thương mại độc lập có biên chế và bên cạnh việc hỗ trợ doanh nghiệp
về mặt thông tin thị trường, họ còn xúc tiến các thương vụ cụ thể
- Thiết lập cơ quan xúc tiến thương mại trong nước
Đây là hình thức phổ biến ở hầu hết các quốc gia Tuy nhiên, mô hình cơ quan xúc tiến thương mại ở các nước cũng có những khác biệt Những nước đang phát triển thường tập trung xây dựng cơ quan xúc tiến thương mại thuộc Chính phủ (hoặc một bộ của Chính phủ) để thực hiện các chương trình và hoạt động xúc tiến thương mại cho các hàng hóa có lợi thế xuất khẩu Một mặt họ thực hiện chức năng là cổng thông tin thương mại cho các doanh nghiệp xuất khẩu, mặt khác họ hỗ trợ trực tiếp
Trang 35các doanh nghiệp đi khảo sát, tìm hiểu thị trường, tổ chức các hoạt động triển lãm, hội chợ, v.v để giúp các doanh nghiệp trong nước tìm bạn hàng Một số nước khác bên cạnh việc duy trì cơ quan xúc tiến thương mại của Chính phủ để tập trung vào các chính sách hỗ trợ chung, họ duy trì các cơ quan phi chính phủ để thực hiện các hoạt động hỗ trợ trực tiếp Tuy nhiên, các cơ quan “phi chính phủ” này lại nhận được
hỗ trợ trực tiếp về nhiều mặt của Chính phủ Hàn Quốc là một ví dụ điển hình Tổ chức xúc tiến thương mại KITA16 (Hiệp hội Thương mại quốc tế Hàn Quốc – The Korea International Trade Association) là tổ chức xúc tiến thương mại lớn nhất Hàn Quốc ban đầu được thành lập với sự hỗ trợ về cơ sở vật chất của chính phủ trên cơ sở hoạt động có lợi nhuận làm mục tiêu thúc đẩy, đã trở thành một tổ chức có quy mô lớn17 Tổ chức này thực hiện hai nhóm dịch vụ chính là (i) ở mức độ vi mô, KITA thực hiện các hoạt động nhằm giảm và xóa bỏ các rào cản thương mại18 bằng việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ trực tiếp cho các thành viên, (ii) về mặt vĩ mô, KITA hỗ trợ và đề xuất Chính phủ thúc đẩy tự do hóa thương mại thông qua đàm phán các FTA và các hoạt động hội nhập khác19
Về mặt chính sách hỗ trợ, thông qua các hình thức khác nhau, Chính phủ thường hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu trên 3 phương diện chính Một là thúc đẩy quan hệ ngoại giao và thương mại tiến đến thỏa thuận những ưu đãi song phương hoặc đa phương để các doanh nghiệp có điều kiện thâm nhập thị trường Ngoài ra Chính phủ cũng có thể xúc tiến các hợp đồng thương mại có giá trị kim ngạch lớn như đối với một số mặt hàng dầu khí, lương thực,v.v Hai là hỗ trợ thông tin, là một hình thức ngày càng trở nên quan trọng Thực tế khảo sát các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam cho thấy, doanh nghiệp cần hỗ trợ thông tin hơn là hỗ trợ tài chính vì ở vị thế doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ thì đây là điểm yếu của họ Ba là hỗ trợ tài chính, là hình thức mang tính chất phụ trợ vì hiện nay doanh nghiệp tham gia các chương trình xúc tiến thương mại (của Cục xúc tiến Thương mại) thường được hỗ trợ về chi phí gian hàng và chi phí đi lại Tuy nhiên, nếu như không hỗ trợ tốt về thông tin thì các hỗ trợ chi phí này trở thành lãng phí
16 Nhóm nghiên cứu đã khảo sát tại trụ sở của Tổ chức này vào tháng 10 năm 2009
17 Được thành lập năm 1946, hiện có 65.000 thành viên hoạt động thương mại trên toàn thế giới
18 Theo nghĩa kinh tế là những khó khăn của doanh nghiệp
19 Hoạt động này có tính chất gắn kết chính sách vĩ mô với quyền lợi của doanh nghiệp, đảm bảo chính sách của Chính phủ về thương mại với các nước sẽ có lợi nhất cho doanh nghiệp trong nước
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ QUẢN
LÝ NGOẠI THƯƠNG CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ 2.1 Hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý ngoại thương của Việt Nam hiện nay
2.1.1 Định hướng phát triển ngoại thương
Kể từ Đại hội VI của Đảng (1986), công cuộc cải cách quản lý kinh tế của Việt Nam (Đổi mới), đã đi được một chặng đường dài hơn 20 năm Từ đó đến nay, nền kinh tế Việt Nam tuy đã trải qua nhiều thăng trầm, khó khăn khó khăn từ những vấn đề nội tại của nền kinh tế - của một th’nb h2ời gian dài quản lý kinh tế theo kế hoạch, tập trung, quan liêu bao cấp, cho đến những vấn đề liên quan đến bối cảnh kinh tế thế giới (khủng hoảng tài chính tại Đông Nam Á, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu) nhưng đã có những bước phát triển vô cùng lớn: Tổng thu nhập sản phẩm quốc dân - GDP đã tăng liên tục với tốc độ từ 7-7,5% trong một thời gian dài (từ năm 1991- nay); thu nhập đầu người gia tăng nhanh chóng từ chỉ khoảng gần 200 USD/người vào những năm đầu của thập niên 90 nay đã vượt qua mốc 1000 USD/người – đưa Việt Nam gia nhập câu lạc bộ các nước có thu nhập trung bình; điều kiện sống của người dân về y tế, giáo dục, văn hóa- xã hội đã có những bước tiến vượt bậc Đóng góp vào sự phát triển vượt bậc đó của đất nước là công lao không nhỏ của ngành ngoại thương
Kim ngạch xuất khẩu của nước ta năm 2008 đạt gần 63 tỉ USD, gấp 79,8 lần
so với năm 1986 (789 triệu USD) Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu theo đầu người của Việt Nam vượt mức 180 USD (đây là mốc được công nhận là quốc gia có nền ngoại thương bình thường), nhưng đến năm 2008 con số trên đã đạt mức 700 USD (gấp 3,8 lần so với năm 2000)
Đây rõ ràng là thành quả của chính sách đổi mới, cụ thể là xóa bỏ độc quyền ngoại thương Hệ quả là số doanh nghiệp tham gia xuất khẩu ngày càng nhiều - năm
2005 là 35,7 nghìn doanh nghiệp, gấp 1000 lần so với năm 1986 Ngay từ những năm đầu thực hiện “đổi mới” và “mở cửa, nghị quyết của Đại hội Đảng đã thể hiện
“xuất khẩu là mũi nhọn có ý nghĩa quyết định đối với nhiều mục tiêu kinh tế trong 5 năm này (1986-1990), đồng thời cũng là khâu chủ yếu của toàn bộ các quan hệ kinh
tế đối ngoại”20, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991-1995), sau khi tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng VI - Đại hội của Đổi Mới, của phát huy tinh thần tự lực, tự cường, quyết tâm xóa bỏ tư duy quản lý kinh tế cũ, Đại hội đã thông qua Báo cáo chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000 trong đó quan điểm của Đảng về việc phát triển ngoại thương được Đại hội thông qua là “
(1)Phát huy lợi thế tương đối, không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của sản xuất và đời sống, hướng mạnh về xuất khẩu, thay
20 Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế, xã hội trong 5 năm 1986-1990 Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 37thế nhập khẩu những mặt hàng trong nước sản xuất có hiệu quả (2) Mở rộng quan
hệ kinh tế với tất cả các nước, các tổ chức quốc tế, các công ty và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi Phát huy tinh thần độc lập tự chủ, không ỷ lại vào bên ngoài, khai thác tối đa mọi lợi thế
và nguồn lực của đất nước là điều kiện cơ bản để mở rộng có hiệu quả kinh tế đối ngoại, bảo đảm cho nền kinh tế luôn luôn phát triển trong thế chủ động.” 21 Để thực
hiện các quan điểm phát triển này, Đại hội cũng thông qua những định hướng chính
sách lớn với các năm nội dung cơ bản là: “(1)Đa dạng hoá và đa phương hoá quan
hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức kinh tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi Củng cố và tăng cường vị trí ở các thị trường quen thuộc và với các bạn hàng truyền thống, tích cực thâm nhập, tạo chỗ đứng ở các thị trường mới, phát triển các quan hệ mới; (2)Tăng nhanh kim ngạch và cải tiến
cơ cấu xuất khẩu theo hướng tăng các mặt hàng chế biến, giảm tỷ trọng các sản phẩm thô, tạo một số mặt hàng có khối lượng lớn và thị trường tương đối ổn định áp dụng các chính sách tỷ giá và thuế khuyến khích mạnh mẽ xuất khẩu; (3) Chính sách nhập khẩu phải phục vụ có hiệu quả cho phát triển sản xuất và đổi mới công nghệ, thúc đẩy nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của hàng hoá, đáp ứng nhu cầu cần thiết về đời sống; (4)Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý xuất, nhập khẩu và quản lý ngoại tệ; (5) Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và quyền hạn thành viên của nước ta trong các tổ chức quốc tế; gia nhập các tổ chức và hiệp hội kinh tế quốc tế khác khi cần thiết và có điều kiện.”22
Rõ ràng, những định hướng trên đã tạo ra những kết quả rất lớn Trong Báo
cáo tổng kết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã nêu: “(1)Trong
5 năm (1991 - 1995) tổng kim ngạch xuất khẩu đạt trên 17 tỷ USD (kế hoạch là 12 -
15 tỷ USD), bảo đảm nhập các loại vật tư, thiết bị và hàng hoá đáp ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống, góp phần cải thiện cán cân thanh toán thương mại Tổng kim ngạch nhập khẩu trên 21 tỷ USD, kể cả phần nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; tỷ trọng nhập khẩu vật tư, thiết bị tăng lên, đáp ứng được nhu cầu phát triển; (2) Quan hệ mậu dịch đã mở rộng với trên 100 nước và tiếp cận nhiều thị trường mới; (3)Nhà nước đã mở rộng quyền xuất, nhập khẩu cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, ban hành một số chính sách khuyến khích xuất khẩu ”23 Cũng trong Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về phương hướng và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội từ 1996-2000, Đại hội
đã nhất trí tiếp tục thực hiện những định hướng chiến lược lớn 10 năm 1991-2000 và cùng với đó đưa ra những mục tiêu cụ thể cho giai đoạn 1996-2000 trong đó ngoài những mục tiêu phải hoàn thành về xuất khẩu, nhập khẩu, hướng đi lớn của ngoại
thương Việt Nam trong giai đoạn này là “(1) Củng cố vị trí ở các thị trường quen thuộc, khôi phục quan hệ với thị trường truyền thống, tìm thị trường và bạn hàng mới, giảm sự tập trung quá mức vào một vài thị trường Tạo một số thị trường và
21 Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần VII của Đảng: Thông qua "Chiến lược ổn định và phát triển kinh
tế - xã hội đến năm 2000, ngày 27-6-1991 Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
22 Chương II Phần 4 Các chính sách và giải pháp về vốn và kinh tế đối ngoại, Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần VII của Đảng: Thông qua "Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, ngày 27-6-1991 Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
23 Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng: Phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996 – 2000 Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 38bạn hàng lâu dài về những mặt hàng xuất, nhập khẩu chủ yếu, giảm xuất, nhập qua thị trường trung gian Thực hiện nhất quán các chính sách khuyến khích xuất khẩu, bao gồm cả việc bảo hiểm về giá cho hàng xuất khẩu, điều tiết tỷ giá hối đoái hợp lý, có lợi cho xuất khẩu.(2) Tiếp theo việc gia nhập ASEAN và chuẩn bị cho việc tham gia Khối mậu dịch tự do (AFTA), cần xúc tiến việc tham gia Diễn đàn kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), từng bước tham gia các hoạt động của Hệ thống toàn cầu về ưu đãi thương mại với các nước đang phát triển (GSTP), áp dụng các chuẩn mực thương mại quốc tế và lựa chọn tham gia một số hiệp hội xuất khẩu quốc tế về từng mặt hàng xuất khẩu.”
Tiếp nối những thành công từ định hướng xuyên suốt trên, Đại hội đại biểu lần thứ IX đã khẳng định phương hướng phát triển của ngành ngoại thương trong 10 năm tiếp theo (2001-2010): đó là hướng các nguồn lực của nền kinh tế đến xuất khẩu, nhập khẩu có định hướng, bảo hộ có lựa chọn; mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Việt Nam thông qua tiến hành gia nhập các tổ chức quốc tế song phương
và đa phương trong đó quan trọng nhất là gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)24 Cụ thể hơn, Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương khóa IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã nêu rõ nhiệm vụ của ngành ngoại thương
trong kế hoạch 5 năm 2006-2010 Đó là: “(1)Tận dụng điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động và khẩn trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ và quản lý, phát huy lợi thế so sánh, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, của sản phẩm và dịch vụ Việt Nam tại thị trường trong nước và trên thế giới Đẩy nhanh xuất khẩu, chủ động về nhập khẩu, kiềm chế và thu hẹp dần nhập siêu Phấn đấu đưa tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm tới lên hơn hai lần 5 năm trước;(2) Thực hiện tốt đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; chủ động, tích cực hội nhập kinh tế sâu hơn và đầy đủ hơn với khu vực và thế giới Chuẩn bị tốt các điều kiện để bảo đảm thực hiện các cam kết khi nước ta gia nhập WTO.” Và cuối cùng, một
nhiệm vụ vô cùng quan trọng mang tính dài hạn nhằm phát huy nội lực, thay đổi cơ
chế quản lý, hỗ trợ việc hội nhập sâu rộng là “(3) Tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật bảo đảm lợi ích quốc gia và phù hợp với các quy định, thông lệ quốc tế ”
Như vậy, về mặt đường lối, chúng ta luôn coi ngoại thương là một trong những mũi nhọn hàng đầu của công cuộc phát triển kinh tế đất nước, về mặt chính sách kinh tế, chúng ta đồng thời thực hiện chiến lược hướng xuất khẩu và thay thế nhập khẩu Trên thực tế, điều đó không phải là hiển nhiên vì Đảng và Nhà nước cũng
đã đặt ra các mục tiêu cụ thể, đó là (1) gia tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam để đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập siêu; (2)chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; (3) tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật Việc thực hiện các mục tiêu này đòi hỏi phải sử dụng tốt các công cụ quản lý ngoại thương
2.1.2 Hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý ngoại thương của Việt Nam
2.1.2.1 Tổng quan
24 Mục 4 Chương IV: Chiến lược phát triển kinh tế 2001-2010 Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khoá VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
Trang 39Kể từ những năm đầu của công cuộc Đổi mới (1986) cho đến nay, hệ thống chính sách (được thể hiện bằng các văn bản quy phạm pháp luật có tính áp dụng toàn diện, rộng khắp) ngoại thương của Việt Nam đã trải qua rất nhiều các cuộc cải cách Hầu hết các cuộc cải cách này mang tính chất tiệm tiến, có nghiên cứu, điều chỉnh một cách cẩn thận Mặc dù vậy, vẫn có thể thấy dấu ấn các cuộc cải cách này thông qua những mốc lớn: (1) đó là sự chấm dứt độc quyền ngoại thương của chính quyền Trung ương (1988), ban hành một loạt các sắc thuế bao gồm Luật thuế xuất nhập khẩu (1988), Luật thuế tiêu thụ đặc biệt (1990), sử dụng hệ thống mã tính thuế hài hòa (HS) (1992) 25 (2) và đó là sự ra đời của Luật Thương mại 2005, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (2005), các Pháp lệnh liên quan đến phòng vệ thương mại đã tạo nên một khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh nhất từ trước đến nay Trong quá trình đệ đơn xin gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), hệ thống pháp luật về ngoại thương cũng đã được điều chỉnh để đáp ứng tối đa việc đồng bộ hóa các quy định trong nước với các quy định quốc tế
Hiện nay, trong công tác quản lý hoạt động ngoại thương, cơ chế quản lý được thể hiện bằng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật với các trụ cột chính là Luật Thương mại 2005, Luật thuế xuất nhập khẩu 2005, Các Pháp lệnh liên quan đến phòng vệ thương mại và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến an
toàn, chất lượng, vệ sinh dịch tễ, bảo vệ môi trường (Hình 1)
Hình 1: Mô hình hệ thống pháp luật quản lý ngoại thương của Việt Nam hiện nay
Về nội hàm chính sách của hệ thống quản lý ngoại thương của Việt Nam, cũng như các nước, chúng ta cũng áp dụng đầy đủ các công cụ chủ yếu như đã phân tích tại Chương 1 (1.2), Tuy nhiên, xét về nội dung các quy định có thể chia nhỏ và
bổ sung thành 7 nhóm biện pháp sau đây:
25 Chi tiết quá trình cải cách chính sách ngoại thương của Việt Nam từ sau Đổi mới (1986) cho đến năm 1998
có thể được tìm thấy tại Báo cáo chính sách thương mại Việt Nam 1998 của Trung tâm kinh tế quốc tế (CIE)
Các Nghị định của Chính
phủ hướng dẫn Luật
Thương mại, Luật Thuế
Xuất khẩu, Thuế Nhập
khẩu, các Pháp lệnh phòng
vệ thương mại.
Các Nghị định quy định chung quyền kinh doanh và quản lý một số mặt hàng đặc biệt (xăng dầu, thuốc lá,
rượu)
Quyết định của Thủ tướng CP về thương mại biên mậu, khu kinh tế
Thông tư, Quyết định hướng dẫn, quy định việc thực hiện của Bộ trưởng
Qđ về các biện pháp phi thuế (SPS, TBT,…)
Trang 40(1) Nhóm 1 gồm các biện pháp quản lý hoạt động thương mại của thương nhân;
(2) Nhóm 2 gồm các biện pháp quản lý xuất xứ hàng hóa và diện mặt hàng xuất, nhập khẩu: quản lý các loại hàng hóa có quy định riêng; xuất xứ
hàng hóa;
(3) Nhóm 3 gồm các biện pháp quản lý bằng công cụ thuế (thuế xuất nhập
khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt);
(4) Nhóm 4 gồm các biện pháp phi thuế quan, là các quy định về chất
lượng, vệ sinh dịch tễ (nằm trong khuôn khổ các hiệp định SPS và TBT mà Việt Nam cam kết khi gia nhập WTO)26;
(5) Nhóm 5 gồm các biện pháp phòng vệ thương mại như chống trợ cấp,
chống bán phá giá, các biện pháp tự vệ khẩn cấp
(6) Nhóm 6 gồm các biện pháp xúc tiến thương mại, cụ thể là các quy định
liên quan đến xúc tiến thương mại quốc tế;
(7) Nhóm 7 gồm các biện pháp ưu đãi kinh tế, là các quy định ưu đãi cho
các khu kinh tế, thương mại tự do, khu chế xuất và thương mại biên mậu
Nội dung cụ thể của các biện pháp này sẽ được phân tích ở phần dưới đây
2.1.2.2 Nội dung quy định pháp luật quản lý ngoại thương nhìn từ khía cạnh chính sách kinh tế
a) Kiểm soát hoạt động của thương nhân
Kiểm soát hoạt động của thương nhân trong lĩnh vực ngoại thương có nghĩa là kiểm soát quyền kinh doanh xuất, nhập khẩu của các doanh nghiệp đó Trên khía cạnh chính sách ngoại thương, pháp luật Việt Nam có quy định về vấn đề này như sau:
Đối với quyền xuất khẩu: Quyền xuất khẩu là quyền mua hàng hoá tại Việt
Nam để xuất khẩu, bao gồm quyền đứng tên trên tờ khai hàng hoá xuất khẩu để thực hiện và chịu trách nhiệm về các thủ tục liên quan đến xuất khẩu Quyền xuất khẩu không bao gồm quyền tổ chức mạng lưới mua gom hàng hoá tại Việt Nam để xuất khẩu, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam hoặc Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác (Nghị định số 23/2007/NĐ-CP của Chính phủ Quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá
và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam)
26 Hiệp định SPS : Sanitary and Phyto-sanitary Agreement; Hiệp định TBT: Technical Barriers to Trade Agreement