1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số điều kiện cần (cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, hoạt động hải quan, logictic; hệ thống cung cấp thông tin) để đẩy mạnh xuất kh

94 556 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu một số điều kiện cần (cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, hoạt động hải quan, logistics, hệ thống cung cấp thông tin) để đẩy mạnh xuất khẩu
Tác giả Thạc Sỹ Nguyễn Thuý Hiền, Thạc sỹ Nguyễn Hải Trung, Thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Bình, Thạc sỹ Nguyễn Hoàng Giang, Thạc sỹ Trần Ngọc Hải, Cử nhân Dương Hoài Thu, Cử nhân Vũ Trí Bình
Trường học Học Viện Chính Sách Và Phát Triển
Chuyên ngành Kinh tế vận tải, Quản lý logistics, Quản trị thông tin
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ CÔNG THƯƠNG VỤ KẾ HOẠCH BÁO CÁO TỔNG KẾT Đề tài nghiên cứu khoa học NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN CẦN CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG VẬN TẢI, HOẠT ĐỘNG HẢI QUAN, LOGISTICS, HỆ THỐNG CUNG CẤ

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG

VỤ KẾ HOẠCH

BÁO CÁO TỔNG KẾT

Đề tài nghiên cứu khoa học

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN CẦN (CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG VẬN TẢI, HOẠT ĐỘNG HẢI QUAN, LOGISTICS, HỆ THỐNG CUNG CẤP THÔNG TIN) ĐỂ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU

CƠ QUAN CHỦ QUẢN CƠ QUAN CHỦ TRÌ THỰC HIỆN

BỘ CÔNG THƯƠNG VỤ KẾ HOẠCH - BỘ CÔNG THƯƠNG

54 HAI BÀ TRƯNG - HÀ NỘI 54 HAI BÀ TRƯNG - HÀ NỘI

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI THẠC SỸ NGUYỄN THUÝ HIỀN

8717

Hà Nội, tháng 12 – 2010

Trang 2

BỘ CÔNG THƯƠNG

VỤ KẾ HOẠCH

Đề tài nghiên cứu khoa học

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN CẦN (CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG VẬN TẢI, HOẠT ĐỘNG HẢI QUAN, LOGISTICS, HỆ THỐNG CUNG CẤP THÔNG TIN) ĐỂ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU

CƠ QUAN CHỦ QUẢN CƠ QUAN CHỦ TRÌ THỰC HIỆN

BỘ CÔNG THƯƠNG VỤ KẾ HOẠCH - BỘ CÔNG THƯƠNG

54 HAI BÀ TRƯNG - HÀ NỘI 54 HAI BÀ TRƯNG - HÀ NỘI

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI THẠC SỸ NGUYỄN THUÝ HIỀN

Tham gia đề tài:

Thạc sỹ Nguyễn Hải Trung Thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Bình

Thạc sỹ Nguyễn Hoàng Giang

Thạc sỹ Trần Ngọc Hải

Cử nhân Dương Hoài Thu

Cử nhân Vũ Trí Bình

Hà Nội, tháng 12 - 2010

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 3

1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài 3

2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 3

3 Mục tiêu của đề tài 4

4 Đối tượng và phạm vi của đề tài 4

5 Phương pháp thực hiện đề tài 5

6 Nội dung của đề tài: 5

Phần thứ nhất: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG VẬN TẢI, HOẠT ĐỘNG HẢI QUẢN, LOGISTIC, HỆ THỐNG CUNG CẤP THÔNG TIN 6

I Lý luận chung về cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, hoạt động hải quan, logistic, hệ thống cung cấp thông tin 6

1 Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải 6

2 Hoạt động hải quan 8

3 Logistics 11

4 Hệ thống cung cấp thông tin 18

II Vai trò của cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, hoạt động hải quan, logistic, hệ thống cung cấp thông tin đối với hoạt động xuất khẩu 20

1 Vai trò của cơ sở hạ tầng giao thông vận tải 20

2 Vai trò của hoạt động hải quan 21

3 Vai trò của hoạt động logistics 22

4 Vai trò của hệ thống thông tin 24

Phần thứ hai: HIỆN TRẠNG VỀ CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG VẬN TẢI, HOẠT ĐỘNG HẢI QUAN, LOGISTICS, HỆ THỐNG THÔNG TIN PHỤC VỤ XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 26

I Hiện trạng về cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, hoạt động hải quan, logistic, hệ thống thông tin, phục vụ xuất khẩu của Việt Nam thời gian qua. .26

1 Thực trạng về cơ sở hạ tầng giao thông vận tải 26

2 Hiện trạng về dịch vụ hải quan 33

3 Thực trạng hoạt động dịch vụ logistics phục vụ cho xuất khẩu 44

4 Hiện trạng hệ thống thông tin phục vụ hoạt động xuất khẩu 50

II Đánh giá chung về cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, hoạt động logistic, hải quan, hệ thống cung cấp thông tin, phục vụ hoạt động xuất khẩu của Việt Nam thời gian qua .55

1 Những yếu tố đã đáp ứng 55

1.1 Hệ thống hạ tầng giao thông 55

1.2 Hoạt động Hải quan 57

1.3 Hoạt động logistics 59

1.4 Hệ thống cung cấp thông tin 62

2 Những yếu tố chưa đáp ứng 63

2.1 Hệ thống hạ tầng giao thông 63

2.2 Hoạt động Hải quan 65

2.3 Hoạt động logistics 67

2.4 Hệ thống cung cấp thông tin 70

Trang 4

Phần thứ ba: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN ĐIỀU KIỆN CƠ

SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG VẬN TẢI, HOẠT ĐỘNG HẢI QUAN, LOGISTICS, HỆ THỐNG CUNG CẤP THÔNG TIN NHẰM ĐẨY MẠNH

XUẤT KHẨU TRONG THỜI GIAN TỚI. 74

I Định hướng và mục tiêu phát triển xuất khẩu trong thời gian tới 74

1 Định hướng phát triển xuất khẩu 74

2 Mục tiêu phát triển xuất khẩu 76

3 Những vấn đề đặt ra đối với cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, hoạt động hải quan, logistics, hệ thống thông tin nhằm đẩy mạnh xuất khẩu 77

II Giải pháp cụ thể cho từng lĩnh vực 81

1 Hạ tầng giao thông vận tải 82

2 Hoạt động Hải quan 84

3 Hoạt động logistics 86

4 Hệ thống cung cấp thông tin 89

KẾT LUẬN 91

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài

Đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, đang vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những tác động bất lợi của cuộc khủng kinh tế thế giới để bước vào thời kỳ phát triển mới, xuất nhập khẩu vẫn tiếp tục là một động lực quan trọng đối với tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy hội nhập và tăng cường vị thế của nền kinh tế nước ta trong kinh tế toàn cầu

Mặc dù đã đạt được những thành tựu quan trọng nhưng là một nước đang phát triển, kinh tế có độ mở lớn nên Việt Nam đã và đang chịu những tác động bởi những biến động về kinh tế từ bên ngoài, xuất khẩu đã tăng chậm lại, kim ngạch giảm sút do thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, xuất hiện nhiều hơn các rào cản phi thuế và các biện pháp bảo hộ mới từ các nước nhập khẩu Để đẩy mạnh xuất khẩu, Chính phủ vừa qua đã ban hành nhiều biện pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2010 và giai đoạn 2011-2015, Chính phủ cũng đã nêu các định hướng phát triển cho các ngành như: hiện đại hoá và cải cách thủ tục hải quan, xây dựng lộ trình rút ngắn thời gian tiến hành các thủ tục hải quan cho hàng hoá xuất khẩu; phát triển dịch vụ vận tải nhằm nâng cao tỷ lệ tham gia vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu hay đẩy mạnh phát triển khu vực dịch vụ, trong đó có những dịch vụ hỗ trợ phát triển xuất khẩu hàng hoá Trong bối cảnh như vậy, việc nghiên cứu các điều kiện cần để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách nhằm đề xuất những giải pháp cải thiện các điều kiện cần hỗ trợ cho phát triển xuất khẩu hàng hoá trong thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Những điều kiện cần như: cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, hoạt động hải quan, logistic, hệ thống cung cấp thông tin nói chung là những yếu tố, dịch vụ hỗ trợ phát triển thương mại hàng hoá nội địa và xuất khẩu, ở trên thế

Trang 6

giới nhiều nghiên cứu có đề cập đến các lĩnh vực này như Tự do hoá trong giao dịch dịch vụ quốc tế do Cơ quan phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) thực hiện; Tài liệu về thống kê thương mại dịch vụ quốc tế do Uỷ ban châu âu (EC) thực hiện

Ở nước ta đã có một số đề tài nghiên cứu khoa học nghiên cứu vấn đề

về phát triển thương mại dịch vụ trong đó có đề cập đến phát triển cơ sở hạ tầng giao th«ng vËn t¶i, hoạt động hải quan, logistic, hệ thống cung cấp thông tin như: đề tài “Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thương mại dịch vụ của Việt Nam thời kỳ đến năm 2020” do Vụ Kế hoạch,

Bộ Thương mại cũ thực hiện, hay “Các giải pháp nhằm phát triển dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu chủ yếu đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam” do Viện nghiên cứu thương mại thực hiện trong đó có đề cập đến một số lĩnh vực như giao thông vận tải, logistic

Các điều kiện cần phục vụ cho xuất khẩu mới chỉ được đề cập riêng lẻ trong từng nghiên cứu, chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách đồng bộ về thực trạng của các điều kiện cần thiết này phục vụ xuất khẩu trong thời gian qua

3 Mục tiêu của đề tài

- Phân tích, đánh giá thực trạng xuất khẩu và một số điều kiện cần (cơ

sở hạ tầng giao thông vận tải, hoạt động hải quan, logistic, hệ thống cung cấp thông tin) phục vụ xuất khẩu giai đoạn vừa qua

- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp cải thiện điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, hoạt động hải quan, logistic, hệ thống cung cấp thông tin nhằm đẩy mạnh xuất khẩu trong thời gian tới

Mục tiêu kinh tế xã hội: Đưa ra những phản ánh trung thực về tình hình phát triển các điều kiện cần phục vụ cho xuất khẩu

Mục tiêu khoa học công nghệ: Đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa 4 yếu tố phân tích

4 Đối tượng và phạm vi của đề tài

Trang 7

- Đối tượng: Những vấn đề thực tiễn và giải pháp, kiến nghị nhằm cải thiện các điều kiện cần phục vụ hoạt động xuất khẩu

- Phạm vi của đề tài: Về nội dung, đề tài sẽ đi sâu nghiên cứu thực trạng một số điều kiện cần (cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, hoạt động hải quan, logistic, hệ thống cung cấp thông tin) phục vụ xuất khẩu giai đoạn vừa qua, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện chúng để phục vụ tốt hơn cho hoạt động xuất khẩu thời gian tới

- Phạm vi thời gian: Đánh giá hiện trạng từ năm 2005 đến nay và đề xuất giải pháp cho thời gian tới

- Phạm vi không gian: Tập trung phân tích thực trạng của một số ngành chủ yếu liên quan đến các Bộ: như Giao thông vận tải, Tài chính, Công Thương

5 Phương pháp thực hiện đề tài

Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm tác giả đã tiến hành nghiên cứu theo các phương pháp sau:

- Phương pháp tổng hợp (tham khảo, phân tích, tổng hợp, kế thừa những kết quả đã có)

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp xử lý thống kê, dự báo

6 Nội dung của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung đề tài gồm 4 phần sau:

Phần thứ nhất: Lý luận chung về cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, hoạt động hải quan, logistic, hệ thống cung cấp thông tin

Phần thứ hai: Thực trạng và đánh giá cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, hoạt động hải quan, logistic, hệ thống cung cấp thông tin phục vụ hoạt động xuất khẩu của Việt Nam thời gian qua

Phần thứ ba: Đề xuất giải pháp cải thiện điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, hoạt động hải quan, logistic, hệ thống cung cấp thông tin nhằm đẩy mạnh xuất khẩu trong thời gian tới./

Trang 8

1 Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải

Thuật ngữ cơ sở hạ tầng được sử dụng lần đầu tiên trong lĩnh vực quân

sự, sau chiến tranh thế giới lần thứ hai nó được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau như: giao thông, kiến trúc, xây dựng… Đó là những cơ sở vật chất kỹ thuật được hình thành theo một “kết cấu” nhất định và đóng vai trò

“nền tảng” cho các hoạt động diễn ra trong đó Với ý nghĩa đó thuật ngữ “cơ

sở hạ tầng” được mở rộng ra cả các lĩnh vực hoạt động có tính chất xã hội để chỉ các cơ sở trường học, bệnh viện, rạp hát, văn hoá phục vụ cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá…

Cơ sở hạ tầng là tổng thể các điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật và kiến trúc đóng vai trò nền tảng cơ bản cho các hoạt động kinh tế, xã hội được diễn

ra một cách bình thường

Từ khái niệm trên có thể quan niệm kết cấu hạ tầng giao thông vận tải

là một bộ phận của cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, bao gồm hệ thống những công trình vật chất kỹ thuật, các công trình kiến trúc và các phương tiện về tổ chức cơ sở hạ tầng mang tính nền móng cho sự phát triển của ngành giao thông vận tải và nền kinh tế

1.1 Đặc điểm của cơ sở hạ tầng

- Thứ nhất, có tính thống nhất và đồng bộ, giữa các bộ phận có sự gắn kết hài hoà với nhau tạo thành một thể vững chắc đảm bảo cho phép phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống

Trang 9

- Thứ hai, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông mang tính vùng và địa phương rõ nét

- Thứ ba, các công trình cơ sở hạ tầng có quy mô lớn và chủ yếu ở ngoài trời, bố trí rải rác trên phạm vi cả nước, chịu ảnh hưởng nhiều của tự nhiên

- Thứ tư, tính xã hội và công cộng cao thể hiện trong xây dựng và trong

sử dụng

1.2 Phân loại cơ sở hạ tầng giao thông vận tải

Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải được phân loại theo nhiều tiêu thức tuỳ thuộc vào bản chất và phương pháp quản lý Có thể phân loại theo hai tiêu thức phổ biến sau:

- Phân theo tính chất các loại đường

+ Hạ tầng đường bộ bao gồm hệ thống các loại đường quốc lộ, đường tỉnh lộ, đường huyện, đường xã, đường đô thị, đường chuyên dùng và hệ thống các loại cầu: cầu vượt, cầu chui cùng những cơ sở vật chất khác phục

vụ cho việc vận chuyển trên bộ như: bến bãi đỗ xe, tín hiệu, biển báo giao thông, đèn đường chiếu sáng

+ Hạ tầng đường sắt bao gồm các tuyến đường ray, cầu sắt, đường hầm, các nhà ga và hệ thống thông tin tín hiệu đường sắt

+ Hạ tầng đường sông bao gồm các cảng sông, luồng lạch, kè bờ là những tiền đề để tiến hành khai thác vận tải đường thuỷ

+ Hạ tầng đường biển bao gồm hệ thống các cảng biển, cảng nước sâu, cảng container và các công trình phục vụ vận tải đường biển như hoa tiêu, hải đăng

+ Hạ tầng hàng không là những sân bay, đường băng

Trang 10

- Phân theo khu vực

+ Hạ tầng giao thông đô thị bao gồm hai bộ phận: giao thông đối ngoại

và giao thông nội thị Giao thông đối ngoại là các đầu nút giao thông đường

bộ, đường thuỷ, đường sắt, đường hàng không nối liền hệ thống giao thông nội thị với hệ thống giao thông quốc gia và quốc tế Giao thông nội thị là hệ thống các loại đường nằm trong nội bộ, nội thị thuộc phạm vị địa giới hành chính của một địa phương, một thành phố Giao thông tĩnh trong đô thị bao gồm nhà ga, bến xe ô tô, các điểm đỗ xe

+ Hạ tầng giao thông nông thôn chủ yếu là đường bộ bao gồm các đường liên xã, liên thôn và mạng lưới giao thông nội đồng phục vụ sản xuất nông ngư nghiệp Hạ tầng giao thông nông thôn đóng góp một phần quan trọng vào hệ thống giao thông quốc gia, là khâu đầu và cũng là khâu cuối của quá trình vận chuyển phục vụ sản xuất, tiêu thụ hàng nông sản và sản phẩm tiêu dùng cho toàn bộ khu vực nông thôn

2 Hoạt động hải quan

Hải quan là cơ quan chịu trách nhiệm thi hành Luật Hải quan và chịu trách nhiệm thu thuế và lệ phí xuất nhập khẩu, đồng thời cũng chịu trách nhiệm thi hành các luật lệ khác liên quan tới việc nhập khẩu, quá cảnh và xuất khẩu hàng hoá

Hải quan là một trong những công cụ đối ngoại quan trọng của Chính phủ, có nhiệm vụ thay mặt nhà nước để tiến hành các biện pháp kiểm tra nhà nước về hải quan tại các cửa khẩu, thu thuế xuất nhập khẩu, thuế gián thu và các lệ phí khác có liên quan tới hoạt động đối ngoại, chống buôn lậu qua biên giới, thực hiện thống kê hàng hoá thực xuất và thực nhập

- Các hoạt động cơ bản của hải quan

Thực hiện các biện pháp hành chính - kinh tế (thuế quan hay phí thuế quan) như kiểm tra, kiểm soát hàng hoá xuất nhập khẩu, phương tiện vận tải

và hành khách xuất nhập cảnh; thu thuế xuất nhập khẩu; điều tra chống buôn

Trang 11

lậu và gian lận thương mại nhằm bảo hộ và thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước, tăng sức cạnh tranh hàng hoá xuất khẩu, bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước, bảo vệ lợi ích tiêu dùng, góp phần bảo vệ lợi ích chủ quyền kinh tế và an ninh quốc gia

Có thể hiểu hoạt động hải quan là hoạt động của các cơ quan hải quan liên quan đến quản lý, kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với hoạt động xuất nhập, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh qua lãnh thổ một quốc gia nhằm góp phần thực hiện chính sách của nhà nước về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia, phát triển hợp tác và giao lưu quốc tế

- Đối tượng hoạt động của hải quan bao gồm:

+ Tổ chức, cá nhân thực hiện xuất nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải

+ Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh

+ Vật dụng phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh

+ Các tài sản khác xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc lưu giữ trong địa bàn hoạt động của hải quan…

- Phạm vi địa bàn hoạt động của hải quan

Mỗi quốc gia, quy định địa bàn hoạt động của hải quan có sự khác nhau Địa bàn hoạt động của hải quan thường được quy định bao gồm các khu vực cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng biển quốc tế, cảng sông quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế, các địa bàn làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu, khu chế xuất, kho ngoại quan, kho bảo thuế, khu vực ưu đãi hải quan, bưu điện quốc tế và các địa điểm kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu trong lãnh thổ quốc gia và các vùng biển thực hiện chủ quyền quốc gia Trong địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hóa, phương tiện vận tải

Trang 12

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và đặc biệt là của Internet và sức ép phải tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế phục vụ cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của các quốc gia, đã và đang tạo ra một cuộc cách mạng trong phương pháp quản lý

và cung cấp các dịch vụ hải quan của các cơ quan hải quan các nước trên thế giới Khi đó dịch vụ hải quan điện tử ra đời, nhằm đáp ứng được các yêu cầu của sự phát triển

Vậy hải quan điện tử là gì? Trên thực tế không có định nghĩa thống nhất về hải quan điện tử Hải quan các nước, tùy theo quan điểm, đặc điểm, mức độ phát triển của đất nước đưa ra mô hình của riêng mình về hải quan điện tử

Theo nghĩa hẹp: Hải quan điện tử là việc ứng dụng công nghệ thông tin

để xử lý công việc tự động

Theo nghĩa rộng: Hải quan điện tử là môi trường trong đó cơ quan hải quan áp dụng các phương pháp, phương tiện, trang thiết bị hiện đại, đặc biệt

là công nghệ thông tin để điều hành hoạt động của mình và cung cấp dịch vụ

về thông quan cho người khai hải quan, phương tiện, hành khách xuất nhập cảnh và các bên có liên quan khác

Đặc điểm của hải quan điện tử là:

- Áp dụng công nghệ thông tin một cách tối đa, phù hợp với trình độ phát triển của công nghệ thông tin của ngành và của quốc gia

- Cung cấp các dịch vụ thông quan điện tử cho người khai hải quan như dịch vụ khai hải quan điện tử, dịch vụ thông quan điện tử, dịch vụ thanh toán điện tử…

- Việc chia sẻ thông tin, dữ liệu với các bên liên quan được thực hiện thông qua các hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử

Trang 13

- Có sự hỗ trợ các thiết bị hiện đại như máy soi container, hệ thống camera quan sát, giám sát, cân điện tử… trong kiểm tra, kiểm soát hải quan

3 Logistics

Logistics là một khái niệm đã xuất hiện từ lâu trên thế giới, được đưa ra lần đầu tiên bởi một nhà quân sự người Thuỵ Sỹ Baron Antonie Henry, trong tác phẩm “Tổng kết lịch sử quân sự” xuất bản năm 1838, với ý nghĩa là nghệ thuật điều chuyển quân đội Thuật ngữ logistics nguyên bản được sử dụng trong quân đội với ý nghĩa là quá trình cung cấp các phương tiện, trang thiết

bị phục vụ cho quân đội

Hiện nay có rất nhiều khái niệm về logistics, được đề cập bởi nhiều tổ chức khác nhau với các khía cạnh và quan điểm khác nhau như: Hội đồng quản trị logistics Mỹ - 1988: Logistics là quá trình lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu, hàng tồn, thành phẩm và các thông tin liên quan từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ, nhằm mục đích thoả mãn những yêu cầu của khách hàng

Theo quan điểm “5 đúng” (5 rights) thì : logistics là quá trình cung cấp đúng sản phẩm đến đúng vị trí, vào đúng thời điểm với điều kiện và chi phí phù hợp cho khách hàng tiêu dùng sản phẩm

Theo Hội đồng quản lý dịch vụ logistics quốc tế (CLM) thì logistics là một phần của quá trình cung cấp dây chuyền bao gồm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát hiệu quả, lưu thông hiệu quả và lưu giữ các loại hàng hoá, dịch vụ có liên quan đến thông tin từ điểm cung cấp cơ bản đến các điểm tiêu thụ để đáp ứng các nhu cầu của khách hàng

Theo Logistics and Supply Chain Management của MA Shuo, (World Maritime University, 1999) thì logistics là quá trình tối ưu hoá về vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên/yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế

Trang 14

Trong lĩnh vực quân sự, logistics được định nghĩa là khoa học của việc lập kế hoạch và tiến hành di chuyển và tập trung các lực lượng, các mặt trong chiến dịch quân sự liên quan tới việc thiết kế và phát triển, mua lại, lưu kho,

di chuyển, phân phối, tập trung, sắp đặt và di chuyển khí tài, trang thiết bị

Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 đã coi logistics là một dạng dịch

vụ và khái niệm như sau: Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác,

tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch

vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao (Điều 233- Luật Thương mại Việt Nam năm 2005) Hoặc hiểu một cách đơn giản, logistics là việc thực hiện và kiểm soát toàn bộ hàng hóa cùng những thông tin có liên quan từ nơi hình thành nên hàng hóa cho đến điểm

- Nhóm định nghĩa thứ 2 về dịch vụ logistics có phạm vi rộng, có tác động từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của người tiêu

Trang 15

dùng cuối cùng Theo nhóm định nghĩa này, dịch vụ logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên, nhiên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất

ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng Nhóm định nghĩa này của dịch vụ logistics góp phần phân định rõ ràng giữa các nhà cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ như dịch vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối, dịch vụ hỗ trợ sản xuất, tư vấn quản

lý với một nhà cung cấp dịch vụ logisitcs chuyên nghiệp, người sẽ đảm nhận toàn bộ các khâu trong quá trình hình thành và đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng Như vậy, nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp đòi hỏi phải có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng để cung cấp dịch vụ mang tính ''trọn gói'' cho các nhà sản xuất

Nghiệp vụ giao nhận truyền thống:

Chủ yếu là các khâu nghiệp vụ do chủ hàng trực tiếp thực hiện theo nghĩa vụ của mình được quy định trong hợp đồng, bao gồm:

Tổ chức chuyên chở, xếp dỡ hàng hoá từ nơi sản xuất đến các điểm đầu mối vận tải và ngược lại

Lập các chứng từ có liên quan đến giao nhận vận chuyển nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ hàng

Trang 16

Theo dõi và giải quyết những khiếu nại về hàng hoá trong quá trình giao nhận vận tải, đồng thời thanh toán các chi phí có liên quan đến giao nhận

Nghiệp vụ giao nhận quốc tế - Dịch vụ giao nhận:

Trừ trường hợp người gửi hàng (hoặc người nhận hàng muốn tự mình thực hiện bất cứ khâu thủ tục và chứng từ nào), còn lại thông thường người giao nhận thay mặt chủ hàng lo liệu quá trình vận tải qua các công đoạn Người giao nhận có thể trực tiếp thực hiện các dịch vụ thông qua các đại lý của họ hoặc thông qua những người ký hợp đồng phục vụ

Người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá có thể thay mặt người xuất khẩu hoặc người nhập khẩu hoặc thay mặt cả hai để thực hiện các dịch vụ:

- Nhận uỷ thác giao nhận vận tải trong và ngoài nước bằng các phương tiện khác nhau với các loại hàng hoá xuất nhập khẩu, hàng hội chợ, hàng triển lãm ngoại giao, quá cảnh, công trình, hàng tư nhân đóng trong Container, hàng bao kiện rời

- Làm đầu mối vận tải đa phương thức: kết hợp sử dụng nhiều phương tiện vận tải để đưa hàng đi bất cứ nơi nào theo yêu cầu của chủ hàng

- Thực hiện mọi dịch vụ có liên quan đến giao nhận vận tải như: lưu cước tàu chợ, thuê tàu chuyến, thuê các phương tiện vận tải khác, mua bảo hiểm cho hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo quản hàng, tái chế, đóng gói, thu gom hoặc chia lẻ hàng Thuê hoặc cho thuê vỏ Container, giao hàng đến tận cơ sở sản xuất, hoặc địa điểm tiêu thụ

Làm thủ tục tư vấn cho các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu về mọi vấn

đề liên quan đến giao nhận vận tải và bảo hiểm… Nhận uỷ thác và thu gom hàng xuất nhập khẩu

3.1.2 Kho bãi

Trang 17

Kho bãi là một bộ phận của hệ thống logistics, là nơi cất giữ nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm… trong suốt quá trình chu chuyển từ điểm đầu đến điểm cuối của dây chuyền cung ứng, đồng thời cung cấp các thông tin về tình trạng, điều kiện lưu giữ và vị trí của các hàng hoá được lưu kho

Kho bãi có vai trò quan trọng, là nơi có thể gom nhiều lô hàng nhỏ thành một lô hàng lớn để vận chuyển 1 lần, tiết kiệm chi phí vận tải, kho bãi đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cho sản xuất Thông thường trong quá trình sản xuất cần nhiều nguyên vật liệu, linh kiện khác nhau, được mua

từ các xí nghiệp khác nhau Do đó, khi mua nguyên vật liệu về, vật tư được chuyển về kho theo các phương thức khác nhau Ở đây, nguyên vật liệu được bảo quản để sử dụng dần cho quá trình sản xuất, bảo đảm cho sản xuất được diễn ra liên tục không bị gián đoạn

Trong trường hợp khách hàng cần những lô hàng lớn, hàng sẽ được vận chuyển theo các phương thức khác nhau và được đưa từ các nhà cung cấp về kho Hàng được tập trung thành những lô hàng lớn tại kho của công ty để cung cấp, đáp ứng nhu cầu của khách hàng Đối với những khách hàng cần những lô hàng nhỏ, hàng sẽ được vận chuyển từ nhà cung cấp về kho của công ty Tại kho sẽ chia tách lô hàng lớn thành nhiều lô hàng nhỏ, đủ số lượng, đảm bảo về chất lượng và vận chuyển đến khách hàng

Kho được chia thành nhiều loại:

- Kho đa năng (Cross docking): Kho đa năng được bố trí trong

khoảng giữa nhà sản xuất và nguời tiêu thụ nhằm mục đích phân loại, tổng hợp hàng hoá, hoàn thiện hàng hoá để đáp ứng nhu cầu khách hàng Sản phẩm được đưa về kho đa năng theo những lô hàng lớn và tại kho đa năng doanh nghiệp sẽ tách hàng, chuẩn bị theo những yêu cầu của khách hàng, rồi gửi cho khách Kho đa năng hiện đang rất phát triển và phục vụ chủ yếu cho hệ thống siêu thị và các nhà bán lẻ

Trang 18

- Kho thuê theo hợp đồng: Một sự lựa chọn mà các công ty có thể

quan tâm đó là “thuê kho theo hợp đồng”: hợp đồng thuê kho là sự thoả thuận giữa 2 bên: bên đi thuê kho và bên cho thuê kho về quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên, bên cho thuê kho sẽ phải đảm bảo cung cấp những dịch vụ kho bãi theo đúng những thoả thuận giữa 2 bên, bên đi thuê phải bảo đảm thanh toán tiền thuê cho bên cho thuê kho

- Kho bảo thuế: Là kho của chủ hàng dùng để chứa hàng hoá nhập

khẩu đã được thông quan nhưng chưa nộp thuế

- Kho ngoại quan: Kho được thiết lập trên lãnh thổ quốc gia và được

thành lập theo quy định pháp luật, hoạt động của kho chịu sự giám sát và quản lý của hải quan Kho ngoại quan lưu giữ hàng hoá sau: hàng hoá đã làm thủ tục hải quan được gửi để chờ xuất khẩu; hàng hoá từ nước ngoài đưa vào gửi để chờ xuất ra nước ngoài hoặc nhập khẩu theo quy định của pháp luật Chủ kho ngoại quan có thể làm nhiều dịch vụ như: lưu giữ, bảo quản, vận chuyển hàng hoá, môi giới tiêu thụ hàng hoá gửi trong kho hoặc dịch vụ khai báo hải quan, giám định, bảo hiểm, tái chế và gia cố hàng hoá trước khi xuất hoặc nhập khẩu

3.1.3 Vận tải

Vận tải biển

Vận tải đường biển có vai trò rất quan trọng trong việc vận chuyển hàng hoá giữa các quốc gia, các vùng lãnh thổ với nhau Trên thế giới có khoảng 85% tổng khối luợng hàng hoá buôn bán quốc tế vận chuyển bằng đường biển

Đặc điểm của vận tải đường biển: Năng lực vận chuyển lớn, với sức

chứa không bị hạn chế, các tuyến đường vận tải hầu hết là tuyến đường giao

thông tự nhiên vì vậy giá cước vận tải biển thấp, tuy nhiên quy trình tổ chức chuyên chở khá phức tạp, tốc độ chậm Chủ yếu dùng container để vận chuyển

Trang 19

Vận tải đường biển góp phần quan trọng làm thay đổi cơ cấu mặt hàng,

nguồn hàng trong buôn bán quốc tế, thông qua vận tải đường biển mà quan hệ buôn bán với các nước được mở rộng Cảng biển là đầu mối giao thông, là một mắt xích quan trọng và một bộ phận quan trọng của vận tải đường biển

Vận tải đa phương thức

Vận tải đa phương thức là một phương thức vận tải, trong đó hàng hoá được vận chuyển bằng hai hay nhiều phương thức vận tải khác nhau, trên cơ

sở một chứng từ vận tải và chỉ một người chịu trách nghiệm về hàng hoá trong suốt quá trình vận chuyển từ địa điểm nhận hàng để chở ở nuớc này đến địa điểm giao hàng ở nuớc khác

Các hình thức vận tải đa phương tiện chủ yếu:

Sea/ air: Vận tải đường biển gắn với vận tải hàng không

Air/Road: Sự kết hợp giữa vận tải hàng không và vận tải ô tô

Rail/Road: Sự kết hợp giữa tốc độ của vận tải đường sắt với tính cơ động của ôtô

Mini/ Bridge: Container được vận chuyển từ cảng này đến cảng khác, sau đó đuợc chuyển bằng đường sắt cảng thứ 2 của nước đến theo một vận đơn đi suốt do người chuyên chở đường biển cấp

3.1.4 Dịch vụ tư vấn ngoại thương

- Dịch vụ tư vấn pháp lý: ký kết và thực hiện hợp đồng là công việc

chủ yếu trong kinh doanh ngoại thương Hoạt động ngoại thương chịu sự quản lý của luật quốc gia, luật quốc tế, tập quán thương mại quốc tế Hợp đồng ngoại thương là một loại hợp đồng kinh tế, có chủ thể đăng ký kinh doanh ở tất cả các quốc gia khác nhau, có khách thể chính là mối quan hệ mua bán, quan hệ dịch chuyển sở hữu về hàng hoá Dịch vụ tư vấn pháp lý ra đời nhằm cung cấp những thông tin, những lời khuyên, những kinh nghiệm trong

Trang 20

quá trình soạn thảo, giao dịch, ký kết các hợp đồng và giải quyết những tranh chấp hợp đồng (nếu có)

- Dịch vụ tư vấn trong hoạt động xuất, nhập khẩu thiết bị máy móc, thiết bị toàn bộ

Đây là những công việc phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau Vì vậy, doanh nghiệp cần thiết phải thuê dịch vụ tư vấn kỹ thuật và xuất, nhập khẩu máy móc thiết bị phù hợp với yêu cầu của sản xuất và kinh doanh có hiệu quả, các doanh nghiệp có thể thuê dịch vụ trọn gói hoặc chỉ một khâu trong hệ thống công việc nhập khẩu thiết bị toàn bộ

4 Hệ thống cung cấp thông tin

Thông tin là một khái niệm trừu tượng dùng để mô tả những gì mang lại cho con người nhận biết về sự vật khách quan Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà khái niệm thông tin được giải thích theo những giác độ khác nhau Ta

có thể nêu ra định nghĩa về thông tin như sau: Thông tin là những tin tức mới,

được thu nhận, được cảm thụ và đuợc đánh giá là có ích cho việc giải quyết một nhiệm vụ nào đó

Hệ thống thông tin là một thuật ngữ mới, nó được sử dụng chủ yếu bắt đầu từ khi sử dụng máy tính và xây dựng hệ thống quản lý tự động hóa Hiện

nay hệ thống thông tin thường được định nghĩa là một tập hợp những con

người, những thiết bị phần cứng, phần mềm và những dữ liệu, để thực hiện các hoạt động thu thập, xử lý và phân phối thông tin trong một tập hợp các ràng buộc của môi trường

Hệ thống thông tin được thể hiện bằng những con người, những thủ tục, những dữ liệu, và những thiết bị tin học hoặc không tin học Đầu vào (Input) của hệ thống thông tin được thu thập từ những nguồn (Sources), được xử lý bởi hệ thống sử dụng nó và những dữ liệu lưu trữ từ trước Kết quả xử lý (Outputs) được chuyển đến đích (Destination) hoặc cập nhật vào kho lưu trữ

dữ liệu (Storage)

Trang 21

Hệ thống thông tin phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu là hệ thống thông tin được xây dựng nhằm cung cấp các thông tin thích hợp, hữu ích, giúp cho hoạt động xuất nhập khẩu của một doanh nghiệp, một quốc gia hoạt động hiệu quả

Hệ thống thông tin có thể mô tả bằng sơ đầu sau:

- Hệ thống thông tin được chia thành hai loại: hệ thống thông tin chính thức và hệ thống thông tin không chính thức

+ Hệ thống thông tin chính thức là một tập hợp những hoạt động thu thập và xử lý, thông tin, tiến hành theo những quy tắc và những phương pháp làm việc có văn bản hướng dẫn rõ ràng, hoặc chí ít cũng được thiết lập theo một truyền thống nhất định Thí dụ: hệ thống thông tin thống kê, hệ thống thông tin báo cáo kế hoạch, hệ thống trả lương truyền thống, thu thập dữ liệu

về thời gian cung cấp và tài khoản của khách hàng, hệ thống phân tích tình hình tiêu thụ hàng hóa và khía cạnh tài chính của những cơ hội mua bán hàng hóa, hệ thống lập kế hoạch ngân sách…

Nguồn

Thu thập

Kho dữ liệu

Xử lý lưu

Đích

Trang 22

+ Hệ thống thông tin không chính thức bao gồm một tập hợp những hoạt động thu thập và xử lý thông tin không có văn bản nào hướng dẫn rõ ràng và cũng không theo một cách truyền thống nào cả Thí dụ: ghi chép các dịch vụ, các cuộc nói chuyện điện thoại, các ghi chú trên bảng thông báo, ghi chép trên sổ công tác, ghi chép các bài viết trên các sách báo tạp chí…

II Vai trò của cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, hoạt động hải quan, logistic, hệ thống cung cấp thông tin đối với hoạt động xuất khẩu

1 Vai trò của cơ sở hạ tầng giao thông vận tải

Giao thông vận tải có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế- xã hội của một đất nước Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải là cơ sở nền tảng đảm bảo sự phát triển bền vững cho cả một hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của một quốc gia, là một bộ phận quan trọng cấu thành nên kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, kết nối hữu cơ giữa các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội; đảm bảo những điều kiện vật chất cho sản xuất phát triển, tạo thuận lợi cho hoạt động của các ngành kinh tế mũi nhọn, đấy nhanh quá trình tái sản xuất thông qua rút ngắn thời gian lưu thông vận chuyển, giảm được chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, khai thác có hiệu quả tiềm năng của đất nước, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và lưu thông hàng hóa trên thị trường Khi hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông phát triển hợp lý tạo ra sự thay đổi căn bản trong cơ cấu kinh tế và sự phát triển đồng đều giữa các vùng trong cả nước, góp phần quan trọng vào việc hình thành nên các cụm công nghiệp khu công nghiệp khu chế xuất là những tụ điểm kinh tế lớn của đất nước

Cơ sở hạ tầng giao thông là điều kiện tiên quyết ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động vận tải, nhằm đảm bảo cho ngành giao thông vận tải phát triển nhanh chóng Giao thông phát triển làm cho lưu thông hàng hóa nhanh chóng, thuận tiện từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng, nhờ đó thúc đẩy quá trình phát triển sản xuất hàng hoá và lưu thông hàng hoá, mở rộng giao lưu kinh tế giữa các vùng địa phương trong cả nước, giữa các nước trên thế giới Một nền

Trang 23

kinh tế ngày càng phát triển thì nhu cầu vận tải, lưu thông hàng hóa ngày càng tăng đòi hỏi cơ sở hạ tầng phải đi trước một bước để tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành, các lĩnh vực phát triển

Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải có vai trò là nền móng, là tiền đề vật chất hết sức quan trọng cho mọi hoạt động vận chuyển, lưu thông hàng hoá trong nền kinh tế, đặc biệt trong quá trình lưu thông hàng hóa xuất nhập khẩu Nếu không có một hệ thống đường giao thông đầy đủ, đảm bảo tiêu chuẩn thì các phương tiện vận tải như các loại xe ô tô, tàu hoả, máy bay sẽ không thể hoạt động tốt được, không đảm bảo an toàn, nhanh chóng khi vận chuyển hành khách và hàng hoá

2 Vai trò của hoạt động hải quan

Với chức năng kiểm tra giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu, quá cảnh Phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; Tổ chức thực hiện pháp

luật về thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất nhập khẩu; Tổ chức

thực hiện kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu hoạt động của cơ quan hải quan nói chung đóng vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước, thông qua việc thực hiện chế độ thuế quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu giúp cho cơ quan quản lý điều tiết tiêu dùng xã hội cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh Hoạt động chống buôn lậu, gian lận hải quan, vận chuyển hàng cấm qua biên giới góp phần bảo vệ lợi ích người tiêu dùng Cùng với hội nhập kinh tế quốc tế, việc lưu thông hàng hoá đòi hỏi cơ quan hải quan cần phải hiện đại hoá dịch vụ, hải quan điện tử là một trong những khâu quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác thông quan, cụ thể là: tăng năng suất làm việc cho cả cơ quan hải quan lẫn chủ thể hoạt động xuất nhập khẩu; sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực, giảm chi phí cho cả phía hải quan lẫn chủ thể hoạt động xuất nhập khẩu do giải phóng hàng nhanh, thông tin kịp thời, chính xác hơn và giảm ách tắc hàng hóa tại cảng, cửa khẩu và sân bay Tự động hóa thủ tục hải quan kết hợp với trao đổi thông tin điện tử cho phép chủ hàng thực hiện khai báo thông tin về hàng hóa sẽ xuất hay nhập

Trang 24

khẩu trước khi hàng hóa thực xuất hay nhập Như vậy, cơ quan hải quan có thể kiểm tra được thông tin và thẩm định khả năng rủi ro ban đầu đối với lô hàng nhập khẩu Bên cạnh đó hải quan điện tử giúp thống nhất trong việc thực hiện Luật Hải quan, nâng cao hiệu quả công tác thu thế, công tác kiểm tra giám sát hải quan…

Dịch vụ đại lý hải quan là cầu nối giữa hải quan và doanh nghiệp, để làm các thủ tục hải quan Khi doanh nghiệp sử dụng đại lý hải quan, doanh nghiệp không phải đến làm thủ tục hải quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu của mình Dựa vào tính chuyên nghiệp trong hoạt động làm thủ tục hải quan của các đại lý hải quan, cơ quan hải quan có điều kiện để quản lý tốt hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa

- Đại lý hải quan chuyên hoạt động trong lĩnh vực làm thủ tục hải quan, khi đó công việc về thủ tục hải quan sẽ được đại lý hải quan thực hiện nhanh chóng, chính xác, cơ quan hải quan có điều kiện nắm bắt kịp thời, chính xác

về thông tin hàng hóa xuất nhập khẩu, giảm thiểu được gian lận thương mại

- Thông quan đại lý hải quan, hoạt động làm thủ tục hải quan của chủ hàng hóa xuất nhập khẩu được thuận tiện hơn, chính xác hơn và tiết kiệm thời gian thông quan, giảm được chi phí lưu kho bãi, đẩy nhanh hàng hóa xuất nhập khẩu và lưu thông

Bên cạnh đó, cơ quan Hải quan cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin, số liệu thống kê về xuất nhập khẩu hàng hoá qua đó giúp cho các cơ quan nhà nước có thể hoạch định, đưa ra các chính sách cần thiết được kịp thời trong điều hành xuất nhập khẩu nói riêng và nền kinh tế nói chung

3 Vai trò của hoạt động logistics

Logistics là quá trình tối ưu hoá mọi công việc, mọi thao tác từ khâu cung ứng, sản xuất, phân phối và tiêu dùng sản phẩm, được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội, như: quân sự, kinh tế,

Trang 25

xã hội, Trong mỗi ngành, lĩnh vực khác nhau, logistic có những đặc thù riêng với những vai trò nhất định Đối với nền kinh tế một quốc gia, logistics

có vai trò rất quan trọng không thể thiếu trong sản xuất, lưu thông, phân phối Các nghiên cứu gần đây cho thấy, chỉ riêng hoạt động logistics đã chiếm từ 10-15% GDP của hầu hết các nước tại Châu Âu, Bắc Mỹ và Châu Á Thái Bình Dương Vì vậy, nếu nâng cao hiệu qủa hoạt động logistics sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của đất nước Đối với doanh nghiệp, logistics đóng vai trò to lớn trong việc giải quyết bài toán đầu vào và đầu ra một cách có hiệu quả Logistics có thể thay đổi nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ logistics còn giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đặc biệt hoạt động xuất nhập khẩu, được thể hiện như sau:

- Logistics là công cụ liên kết và tối ưu hoá các hoạt động kinh tế quốc

tế như cung cấp, sản xuất, lưu thông phân phối, đặc biệt trong hoạt động xuất nhập khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu Trong bối cảnh toàn cầu hoá, mở cửa thị trường, logistics được các nhà quản lý ở các nước đang và chậm phát triển coi như là công cụ, một phương tiện liên kết các lĩnh vực khác nhau tạo

ra sự hữu dụng về thời gian và địa điểm cho các hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp hay một quốc gia

- Logistics có vai trò quan trọng trong việc tối ưu hoá chu trình lưu chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu và quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ khâu đầu vào nguyên vật liệu, phụ kiện…tới sản phẩm cuối cùng đến tay khách hàng Dịch vụ logistic của một quốc gia hoạt động tốt sẽ làm giảm chi phí và giá thành của các hàng hoá nói chung và hàng hóa xuất nhập khẩu nói riêng, đem lại hiệu quả cao cho nền kinh tế quốc gia

- Giúp các doanh nghiệp có nhiều sự lựa chọn phong phú trong vận tải, giao nhận, gắn kết nhanh hơn các hoạt động và các khâu trong dòng lưu chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu

Trang 26

- Hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc tư vấn ngoại thương, thông qua dịch vụ tư vấn pháp lý và tư vấn trong hoạt động xuất, nhập khẩu máy móc, thiết bị đồng bộ

Bên cạnh đó, logistics đóng vai trò hỗ trợ nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh Mục đích của sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, muốn đạt được lợi nhuận như mong muốn phải đưa ra được những phương án sản xuất kinh doanh tối ưu nhưng quá trình thực hiện, người sản xuất kinh doanh còn phải đối mặt với nhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan, để giải quyết được phải có cơ sở

để đưa ra những quyết định chính xác: nguồn nguyên liệu cung ứng ở đâu, thời gian nào, phương tiện vận tải nào sẽ được lựa chọn để vận chuyển, địa điểm kho chứa nguyên liệu, hàng hoá…tất cả những vấn đề này muốn được giải quyết hiệu quả không thể thiếu được vai trò của logistics Logistics cho phép người quản lý kiểm soát và ra quyết định chính xác những vấn đề như vật liệu cung ứng, lưu trữ trong kho, thời gian địa điểm cung ứng, phương thức vận chuyển… để giảm tối đa chi phí phát sinh đảm bảo hiệu quả trong sản xuất kinh doanh

4 Vai trò của hệ thống thông tin

Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới hội nhập ngày càng sâu rộng và cạnh tranh, hệ thống thông tin đóng một vai trò hết sức quan trọng nhằm hỗ trợ cho một ngành, một lĩnh vực, trong hoạt động xuất nhập khẩu hệ thống thông tin đóng vai trò quan trọng như:

- Hệ thống thông tin trợ giúp cho cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp có đủ những thông tin để thực hiện các hoạt động xuất nhập khẩu, đồng thời nhanh chóng nắm được những thông tin chính xác về tình hình hoạt động xuất nhập khẩu đang diễn ra trong nước và trên toàn thế giới, để tăng cường tính chủ động, linh hoạt trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, bảo đảm thực hiện thắng lợi các quyết định đã đề ra

Trang 27

- Hệ thống thông tin giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước có những thông tin cần thiết để tiến hành phân tích, đánh giá chính xác tình hình hoạt động xuất nhập khẩu và đề ra biện pháp, các chính sách thích hợp, kịp thời nhằm kiểm soát nhập siêu hay thúc đẩy xuất khẩu

- Với việc xử lý tốt các thông tin qua đó tăng cường khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp và hàng hoá xuất khẩu, giúp hàng hoá xuất khẩu của quốc gia có thể đứng vững, phát triển trên thị trường thế giới

Trang 28

Phần thứ hai:

HIỆN TRẠNG VỀ CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG VẬN TẢI, HOẠT ĐỘNG HẢI QUAN, LOGISTICS, HỆ THỐNG THÔNG TIN PHỤC

VỤ XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

I Hiện trạng về cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, hoạt động hải quan, logistic, hệ thống thông tin, phục vụ xuất khẩu của Việt Nam thời gian qua

1 Thực trạng về cơ sở hạ tầng giao thông vận tải

Hệ thống hạ tầng giao thông vận tải ở nước ta đã được tập trung đầu tư phát triển trong thời gian qua nhằm đáp ứng nhu cầu vận tải hành khách, hàng hoá, đi lại và phát triển kinh tế Theo quan điểm, chủ trương của Đảng, Chính phủ đối với hạ tầng giao thông phải “đi trước một bước”, Trong giai đoạn 1996-2005 Nhà nước đã ưu tiên dành phần lớn nguồn trong ngân sách nhà nước phát triển hạ tầng giao thông (đầu tư 83,4 nghìn tỷ đồng cho hạ tầng giao thông) Ngoài ra còn có nguồn đầu tư ngoài ngân sách dưới dạng BOT cho 43 dự án với tổng mức khoảng 42 nghìn tỷ đồng

Các tuyến giao thông huyết mạch và trọng yếu được nâng cấp mở rộng

và làm mới, về cơ bản đã bảo đảm vận tải hành khách và hàng hoá thông suốt trong cả nước

1.1 Đường bộ

Mạng lưới giao thông đường bộ nước ta được phủ khắp và phân bố tương đối hợp lý khắp cả nước, đã được cải thiện rõ rệt trong những năm qua Nhiều tuyến đường, cầu lớn đã được nâng cấp xây dựng phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Tổng chiều dài đường bộ nước ta tính đến năm

2009 hiện có trên 256.600 km, trong đó quốc lộ 17.228 km, đường tỉnh: 23.520 km và trên 150.000 km đường xã Theo chiều dài quốc lộ, bình quân mỗi vùng chiếm 8 - 10% tổng chiều dài, cao nhất là vùng Đông Bắc chiếm khoảng 22,66%, vùng Bắc Trung Bộ chiếm khoảng 20,36% tổng km; Mật độ

Trang 29

hạ tầng giao thông đường bộ theo diện tích là 0,0523 km/km2; Hệ thống đường bộ nước ta đã được cải thiện rõ rệt

Trục dọc Bắc - Nam gồm 4 tuyến: Quốc lộ 1A; đường Hồ Chí Minh, đường cao tốc và đường ven biển Đây là các trục đường bộ quan trọng nhất trong hệ thống đường bộ Việt Nam Việc xây dựng, khôi phục, nâng cấp các tuyến này là nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững

an ninh chính trị, quốc phòng

- Quốc lộ 1A từ Hữu Nghị Quan đến Năm Căn, dài 2.298 km đã được hoàn thành nâng cấp, khôi phục vào năm 2005, toàn tuyến đạt tiêu chuẩn đường cấp III đồng bằng, 2 làn xe, chiều rộng nền đường 12m (hoặc 10m đối với đoạn qua đèo dốc) và mặt rộng 7m; đoạn từ Cà Mau đến Năm Căn có chiều rộng nền đường 9m, mặt đường 8m Một số đoạn, đặc biệt tại các đoạn gần đô thị lớn được mở rộng, nâng cấp thành đường từ 4 - 6 làn xe Các cầu lớn như cầu Gianh, Quán Hầu, Hàm Rồng mới, Mỹ Thuận, Cần Thơ, các hầm đường bộ qua đèo Ngang, Hải Vân đã xây dựng xong Một số đoạn tuyến được xây dựng tránh thành phố, thị xã và một số tuyến cao tốc nối các khu công nghiệp và khu kinh tế phát triển Một số đoạn trong khu vực miền Trung

sẽ được xây dựng kiên cố hóa để hạn chế thiệt hại do bão lụt gây ra, đảm bảo khả năng thông xe trong mùa bão, lũ

- Đường Hồ Chí Minh giai đoạn 1 quy hoạch từ Hòa Lạc (Hà Nội) đến ngã tư Bình Phước (TP Hồ Chí Minh), dài trên 1.700 km, được hình thành trên cơ sở nối liền các tuyến quốc lộ 21,15, 14B, 14 và 13 Giai đoạn này chủ yếu nối thông tuyến, một số đoạn nâng cấp hoặc xây dựng mới cơ bản đạt tiêu chuẩn đường cấp III với 2 làn xe Giai đoạn sau thực hiện theo quy hoạch toàn tuyến đường Hồ Chí Minh sẽ được phê duyệt riêng Đường Hồ Chí Minh bước đầu đã đạt được được hiệu quả tổng hợp Xét trên từng tuyến, từ Kon Tum – Gia Nghĩa – Bình Phước lưu lượng giao thông tăng rất cao, thậm chí không đáp ứng nổi, phải chuyển tiếp mở rộng giai đoạn 2 Lưu lượng giao

Trang 30

thông các đoạn thuộc miền Bắc, miền Trung tuy chưa cao nhưng đã thay đổi đáng kể đời sống dân cư những vùng đường chạy qua, từng rất khó khăn

Mặc dù vậy, kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ nước ta vẫn còn yếu kém, lạc hậu so với các nước trong khu vực, mật độ đường bộ của nước ta thấp, Trung Quốc là 0,2 km/km2, 1,44 km/1.000 dân; Hàn Quốc 1,01 km/km2, 2,1 km/1.000 dân; Thái Lan 0,11 km/km2, 0,9 km/1.000 dân; trong khi đó Việt Nam là 0,0523 km/km2, 0,21 km/1.000 dân Chất lượng kĩ thuật cũng ở mức thấp trong khu vực: tỷ lệ dải mặt mới chỉ đạt khoảng 31,2%, trong khi tỷ

lệ này ở Malaysia 81,32%, Hàn Quốc 76,82%, Trung Quốc 81,62%, Nhật Bản

là 77,7%, Thái Lan 98,5%

Nước ta mới có ba đoạn đường cao tốc: Pháp Vân - Cầu Giẽ, Thành phố Hồ Chí Minh – Trung Lương và đại lộ Thăng Long (cao tốc Láng – Hoà Lạc), quốc lộ có 4 làn xe chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ khoảng 4%, đường 2 làn xe khoảng 36% Trong khi đó các nước trong khu vực phát triển hạ tầng giao thông đường cao tốc rất nhanh như Trung Quốc, tuy mới xây dựng đường cao tốc từ năm 1998 song đến năm 2005 đã có 41.000 km, dự kiến đến năm 2010

sẽ có khoảng 65.000 km; Nhật Bản bắt đầu xây dựng đường cao tốc từ năm

1963, đến năm 2004 đã có 7.000 km, dự kiến đến năm 2020 sẽ có 14.000 km; Hàn Quốc có hơn 3.000 km đường cao tốc; Malaysia 1.821 km

Đường trục quốc gia mang tính chiến lược và các hành lang kinh tế trọng điểm mới bắt đầu hình thành, quy mô còn nhỏ bé, năng lực chưa đáp ứng yêu cầu Chất lượng đường bộ cả nước chưa cao, đường tốt chiếm 43%, trung bình chiếm 37%, đường xấu và rất xấu chiếm 20%, vẫn còn 334 cây cầu yếu trên mạng lưới quốc lộ

Hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ, mặc dù đã có cải thiện, song còn thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng kịp được yêu cầu phát triển nhanh của vận chuyển hành khách và hàng hoá Thực tế cho thấy, cứ theo chu kỳ 5 năm một lần, lượng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam lại tăng gấp 2 lần, nhưng cơ sở

Trang 31

hạ tầng giao thông lại không phát triển song song gây ra tình trạng ách tắc trong vận chuyển, bốc dỡ, xếp hàng hóa xuất nhập khẩu Do hiện nay, việc vận chuyển hàng hoá bằng đường sắt và đường thuỷ còn nhiều bất cập nên hầu hết các doanh nghiệp đều chọn phương thức vận tải hàng hoá bằng đường

bộ Theo thống kê, hàng hóa vận chuyển bằng đường bộ từ năm 1995 đến

2005 chiếm 64% tổng lượng hàng hóa vận chuyển, đến năm 2009 hàng hóa vận chuyển bằng đường bộ đã tăng lên đạt 494,6 triệu tấn hàng hóa trên tổng

số 699,8 triệu tấn hàng hóa, chiếm 70% tổng lượng vận chuyển hàng hóa của ngành vận tải Trong đó, hàng hóa xuất khẩu vận chuyển ra cảng bằng đường

bộ, chiếm khoảng hơn 80% tổng lượng hàng hoá xuất khẩu hiện nay Với số lượng hàng hóa vận chuyển lớn như vậy đã gây ra tình trạng đường bộ quá tải, ách tắc, không đáp ứng được tốc độ lưu chuyển hàng hoá Cụ thể, tình trạng tắc nghẽn giao thông kết nối cảng ở khu vực TP.HCM là một ví dụ hay tại Cảng Hải Phòng trong thời gian gần đây, thường xuyên bị ách tắc giao thông, ảnh hưởng trực tiếp tới việc vận chuyển tập kết và giải tỏa hàng tại cảng Nguyên nhân của tình trạng này là hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ kết nối chung quanh các cảng nằm dọc tuyến đường Chùa Vẽ - Đình Vũ quá tải và xuống cấp nghiêm trọng, đặc biệt là ngã ba khu vực nối giữa Chùa Vẽ, đường Nguyễn Văn Linh và đường đến khu công nghiệp Đình

Vũ Hiện nay, gần 90% lượng hàng xuất, nhập khẩu qua cảng Hải Phòng đều được vận chuyển qua tuyến đường bộ này bằng các xe container tải trọng lớn, thậm chí còn có không ít hàng siêu trường, siêu trọng khiến đường xuống cấp rất nhanh, không đáp ứng kịp yêu cầu tăng trưởng hàng hóa thông qua cảng hàng năm tăng từ 10% trở lên Tại cửa khẩu Móng Cái, tình trạng cũng tương

tự, từ 3 năm trở lại đây, tình trạng ùn tắc hàng hoá xuất khẩu tại khu vực biên giới Móng Cái có dấu hiệu tăng lên do đường sá, bến bãi xuống cấp và sông chưa được nạo vét luồng lạch, hạ tầng giao thông đường bộ, đường thuỷ chưa theo kịp đà tăng trưởng về tốc độ lưu chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu

Trang 32

Với thực trạng hạ tầng giao thông vận tải đường bộ yếu kém nên chi phí vận tải hàng hoá tại Việt Nam khá cao, chi phí vận tải chiếm 30 đến 40% giá thành sản phẩm (tỉ lệ này là 15% ở các quốc gia khác), điều này đã làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam

1.2 Đường sắt

Mạng lưới Đường sắt Việt Nam với tổng chiều dài 3.400 km nối liền từ bắc đến nam, trừ khu vực đồng bằng sông Cửu Long Đường sắt Việt Nam cũng nối liền với đường sắt Trung Quốc qua hai hướng: Tới Vân Nam Trung Quốc qua tỉnh Lào Cai và tới Quảng Tây Trung Quốc qua tỉnh Lạng Sơn

Mặc dù có chiều dài xuyên đất nước và có kết nối với nước bạn Trung Quốc nhưng Đường sắt Việt Nam hiện nay chủ yếu chuyên chở hành khách, vận chuyển hàng hoá còn rất hạn chế Theo thống kê vận chuyển hàng hoá qua hệ thống đường sắt ngày càng giảm dần, nếu như năm 1995 hàng hóa vận chuyển bằng đường sắt chiếm 3% tổng lượng hàng hóa vận chuyển của ngành vận tải thì đến năm 2000 chỉ còn chiếm 2% và từ năm 2005 đến 2009 chỉ chiếm 1% Như vậy, vận chuyển hàng hóa xuất khẩu qua đường sắt chiếm một tỷ lệ không kể Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận thực tế rằng: hiện nay hầu hết các cảng biển không có kết nối với đường sắt do vậy không đưa được hàng tới điểm nhận cuối cùng của khách hàng, từ đó dẫn đến tăng chi phí vận tải do phải tổ chức xếp dỡ chuyển tiếp đến điểm nhận cuối cùng, đẩy giá hàng hoá xuất khẩu lên cao Vì vậy các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ít lựa chọn phương thức vận chuyển hàng hoá bằng đường sắt

1.3 Hàng không

Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (VietnamAirlines) có 17 đường bay quốc tế, và 16 đường bay nội địa Các sân bay lớn: Nội Bài (Hà Nội), Tân Sơn Nhất (TP.HCM); Các sân bay nhỏ: Điện Biên (Lai Châu), Cát Bi (Hải Phòng), Vinh (Nghệ An), Đồng Hới (Quảng Bình), Phú Bài (Huế), Chu Lai

Trang 33

(Quảng Nam), Đà Nẵng (thành phố Đà Nẵng), Phù Cát (Bình Định), Đông Tác (Phú Yên), Cam Ranh (Khánh Hoà), Thành Sơn (Ninh Thuận), Trà Nóc (Cần Thơ), Rạch Giá (Kiên Giang) với tổng năng lực vận tải hành khách thông qua các sân bay vào khoảng trên 12 triệu hành khách/năm Cũng giống như đường sắt, đường hàng không chủ yếu vận tải hành khách, vận tải hàng hóa còn chiếm tỷ lệ không đáng kể, tuy nhiên có xu hướng tăng dần, năm

1995 ngành hàng không chỉ vận chuyển được 32 nghìn tấn hàng hóa, đến năm

2005 con số này tăng hơn 3 lần đạt 111 nghìn tấn và năm 2009 đạt 137,6 nghìn tấn trên tổng số 699,8 triệu tấn hàng hóa vận chuyển của ngành vận tải

cả nước Trong tổng số 137,6 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển thì vận chuyển hàng hóa ra nước ngoài, trong đó có hàng hóa xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 36% tức là khoảng 50 nghìn tấn Nguyên nhân, chúng ta đã thấy rõ, hầu hết các sân bay Việt Nam đều có quy mô nhỏ, tiêu chuẩn kĩ thuật thấp, kích thước đường băng ngắn và hẹp, không đáp ứng cho cất, hạ cánh máy bay cỡ lớn, mặt đường băng ở tình trạng rất xấu, đang xuống cấp, nhà ga có quy mô nhỏ (trừ Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất, còn lại các nhà ga đều có diện tích nhỏ hơn 1.000 m2), các trang thiết bị quản lý, điều hành lạc hậu Chúng ta cũng chưa có kế hoạch phát triển vận chuyển hàng hóa bằng đường không nên vận chuyển hàng hóa bằng đường không hiện nay không đủ phương tiện chở hàng (máy bay) cho việc vận chuyển vào mùa cao điểm Hiện chỉ có sân bay Tân Sơn Nhất là đón được các máy bay chở hàng quốc tế và các sân bay quốc tế của Việt Nam như Tân Sơn Nhất, Nội Bài, Đà Nẵng vẫn chưa có nhà ga hàng hóa, khu vực họat động cho đại lý logistics thực hiện gom hàng và khai quan như các nước trong khu vực đang làm

1.4 Đường thủy

Việt Nam có bờ biển chạy dài dọc đất nước và kết nối với hệ thống sông ngòi trên cả nước, vì vậy vận tải bằng đường thủy rất thuận lợi, tại những vị trí có điều kiện và nhu cầu đều được quy hoạch bố trí xây dựng cảng biển kết nối với đường sông nhằm phục vụ tốt các vùng kinh tế, các khu công

Trang 34

nghiệp, tiết kiệm chi phí đầu tư và chi phí khai thác cảng Một số Cảng biển chính: Hòn Gai, Hải Phòng, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Cam Ranh, Vũng Tàu, Sài Gòn Tổng năng lực thông qua cảng biển hiện vào khoảng 73 triệu tấn

Vận tải bằng đường thủy của Việt Nam hiện nay chủ yếu là vận chuyển hàng hóa, theo thống kê năm 2000 vận chuyển hàng hóa bằng đường sông chiếm 25% tổng lượng hàng hóa vận chuyển của ngành vận tải, tuy nhiên có

xu hướng giảm dần, năm 2005 còn số này chỉ chiếm 24% và năm 2009 chỉ còn chiếm 19%, trong đó, vận chuyển hàng hóa xuất khẩu bằng đường sông

ra cảng biển chiếm khoảng hơn 10% Nguyên nhân của tình trạng này do việc đầu tư hạ tầng cho vận chuyển đường sông còn hạn chế, luồng tàu không được cải tạo, nâng cấp hoặc nạo vét, duy tu không kịp thời làm hạn chế rất lớn tới năng lực vận chuyển

Trong khi đó vận tải bằng đường biển lại có xu hướng tăng dần, nếu như năm 2000 vận tải hàng hóa bằng đường biển chiếm chỉ 6% thì đến năm

2009 đã chiếm 9% trong tổng lượng hàng hóa vận chuyển của ngành vận tải Mặc dù vận tải hàng hóa bằng đường biển ngày càng gia tăng nhưng hạ tầng cho vận tải biển là cảng biển và luồng tàu vẫn còn hạn chế chưa đáp ứng với nhu cầu tăng trưởng của vận chuyển hàng hóa Cảng biển là nơi tập kết hàng hóa cuối cùng để xuất khẩu, cả nước hiện có khoảng 150 cảng, trong đó có 49 cảng biển nhưng hầu hết các cảng biển của Việt Nam đều không đáp ứng cho tàu có trọng tải trên 50.000DWT ra vào làm hàng Một số cảng lớn như Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn lại nằm ở cửa sông và cách biển từ 30-90km, gây bất lợi cho tàu lớn cập cảng Phần lớn các cảng đang trong quá trình container hóa nhưng chỉ có thể tiếp nhận các đội tàu nhỏ và chưa được trang bị các thiết

bị xếp dỡ container hiện đại, còn thiếu kinh nghiệm trong điều hành xếp dỡ container

Một số cảng nằm ở khu đô thị, khu dân cư nên tình trạng giao thông bị ngưng trệ, chỉ hoạt động được ban đêm nên hạn chế năng suất của các cảng

Về công nghệ bốc xếp, trừ một số bến cảng như Chùa Vẽ (Hải Phòng), Tiên

Trang 35

Sa (Đà Nẵng), Tân Cảng, VIC, Bến Nghé, Tân Thuận (TPHCM) đã trang bị một số phương tiện thiết bị xếp dỡ hiện đại, chuyên dụng container, còn lại hầu hết các cảng biển Việt Nam chủ yếu sử dụng thiết bị bốc xếp thông thường, thô sơ hoặc cần cẩu tàu là chính Năng suất xếp dỡ của các cảng ở Việt Nam bình quân mới đạt 8-10 container/h (bằng 1/3 so với các cảng trong khu vực) Vì vậy, chi phí vận tải biển, bốc xếp của Việt Nam tăng cao và không có tính cạnh tranh trong khu vực

Tóm lại, hệ thống cảng biển Việt Nam phục vụ cho hoạt động xuất khẩu vẫn còn nhiều hạn chế: Trình độ quản lý và khả năng áp dụng khoa học công nghệ của các cảng đa phần còn lạc hậu và yếu kém; Thiếu cảng nước sâu, cảng chưa đạt tiêu chuẩn quốc tế và khu vực; Sự phát triển thiếu đồng bộ giữa hạ tầng cảng biển và các hạ tầng cơ sở khác dẫn đến tình trạng năng suất của các cảng không được khai thác hiệu quả; Nhiều cảng chính nằm sâu trong nội địa, luồng tàu không được cải tạo, nâng cấp hoặc nạo vét, duy tu không kịp thời làm hạn chế rất lớn tới năng lực của cảng

2 Hiện trạng về dịch vụ hải quan

Trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu thì khâu cuối cùng là việc đưa hàng hoá qua cửa khẩu, để hàng hoá qua được biên giới, doanh nghiệp phải thực hiện việc kiểm tra, giám sát hàng hoá, thực hiện nghĩa vụ về thuế và thực hiện việc kiểm tra sau thông quan tại cơ quan hải quan Tóm lại, doanh nghiệp phải làm các thủ tục để xuất khẩu hàng hoá tại cơ quan hải quan Thời gian qua, ngành Hải quan cũng đã rất nỗ lực cải cách hệ thống thông quan nhằm giảm thiểu tối đa những thủ tục gây phiên hà, mất thời gian, chi phí cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu và gần đây nhất, ngày 10 tháng 8 năm 2009, Bộ Tài Chính ban hành Quyết định số 1904/QĐ-BTC về việc công bố bộ thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực hải quan, gồm 239 thủ tục Trong đó, cấp Tổng cục thực hiện: 15 thủ tục; cấp Cục thực hiện: 27 thủ tục

và cấp Chi cục thực hiện: 197 thủ tục Trong tổng số bộ thủ tục trên có hơn 40 thủ tục liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu Hiện nay ngành Hải quan

Trang 36

đang khẩn trương triển khai rà soát, kiểm tra lại tên các thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực hải quan đã công bố tại Quyết định số 1904/QĐ-BTC ngày 10/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Trong đó, thống kê sáp nhập các thủ tục hải quan theo phương thức điện tử với thủ tục hải quan theo phương thức truyền thống để đảm bảo giảm dần thủ tục hải quan; đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ điện tử vào từng thủ tục; cải cách, hiện đại hoá, giảm thời gian thực hiện từng thủ tục; giảm, thay thế chứng từ bằng giấy thuộc bộ hồ sơ hải quan bằng chứng từ điện tử; giảm các chứng từ bằng giấy phải xuất trình, phải nộp; giảm chi phí sao chụp chứng từ kèm bộ hồ sơ; kết hợp, thống nhất hoá phương thức điện tử - thủ công trong từng thủ tục để người khai hải quan (doanh nghiệp) có thể chủ động áp dụng việc lựa chọn một trong hai phương thức này để làm thủ tục xuất nhập khẩu cho hàng hoá

Nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa trong bối cảnh thương mại hoá toàn cầu và hội nhập kinh tế quốc tế thì cải cách thủ tục hải quan từ việc kê khai thủ tục hải quan thủ công chuyển sang thủ tục hải quan điện tử (HQĐT) là bước phát triển tất yếu trong quá trình thực hiện cải cách, hiện đại hoá Hải quan Cũng nằm trong chuỗi dịch vụ hỗ trợ thông quan hàng hoá xuất nhập khẩu thời gian qua còn có hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan, hoạt động này được coi là cánh tay nối dài, là người bạn đồng hành trong triển khai thủ tục hải quan điện tử, sau đây là thực trạng về các hoạt động này trong thời gian qua

2.1 Triển khai thủ tục hải quan điện tử (HQĐT)

Hệ thống văn bản pháp luật là cơ sở pháp lý cho việc triển khai thủ tục hải quan điện tử bao gồm: Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23/2/2007 của Chính phủ quy định về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính; Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử; Quyết định số 52/2007/QĐ-BTC

Trang 37

ngày 22/6/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về việc triển khai thí điểm thủ tục hải quan điện tử

Tham gia thủ tục hải quan điện tử, người khai hải quan sẽ sử dụng máy tính của mình để tạo thông tin khai hải quan điện tử theo đúng các tiêu chí và khuôn dạng chuẩn quy định cho từng chứng từ thuộc hồ sơ hải quan điện tử

và thông qua phương tiện điện tử truyền số liệu khai hải quan đến cơ quan hải quan Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của cơ quan hải quan tiếp nhận thông tin khai hải quan điện tử, kiểm tra, phản hồi thông tin hướng dẫn người khai hải quan thực hiện theo quy trình thủ tục hải quan hải quan điện tử

So với thủ tục hải quan thủ công truyền thống trước đây, việc triển khai thủ tục hải quan điện tử sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cả cơ quan hải quan và cộng đồng doanh nghiệp như: giảm thiểu số lượng giấy tờ phải nộp hoặc xuất trình; thời gian thông quan hàng hóa trung bình được rút ngắn, giảm chi phí không cần thiết cho việc đi lại; giảm tiếp xúc trực tiếp giữa công chức hải quan và người khai hải quan từ đó hạn chế sự gây phiền hà, sách nhiễu; giảm

tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa theo chủ quan của công chức hải quan; lệ phí hải quan được thu, nộp định kỳ hàng tháng và những quy định về thủ tục hải quan được minh bạch hóa

Xem xét hiệu quả từ việc áp dụng mô hình HQĐT qua ví dụ: Công ty Sữa Việt Nam tham gia HQĐT từ năm 2005, theo tính toán của Công ty, việc

áp dụng HQĐT giúp tiết kiệm 50% chi phí và thời gian giao nhận hàng Khi

có lô hàng cần thông quan, nhân viên công ty sẽ khai báo các loại chứng từ, biểu mẫu trên mạng bằng phần mềm do hải quan cấp Tiếp đó, dữ liệu được gửi đến bên nhận là chi cục hải quan Nếu mạng “chạy” ổn định, chỉ một thời gian ngắn, phía hải quan sẽ nhận được thông tin và ra quyết định thông quan nếu hồ sơ đạt yêu cầu Lúc này, nhân viên chỉ cần in quyết định, đến hải quan xác nhận, đóng dấu rồi mang ra cảng nhận hàng Với HQĐT, nhân viên xuất nhập khẩu của Công ty không phải in ấn, photocopy các loại chứng từ để nộp

Trang 38

cho hải quan như cách truyền thống Tất cả các thao tác trên đều được thực hiện qua mạng Internet, tiết kiệm được một khoản chi phí cho doanh nghiệp Bên cạnh đó, do chỉ phải làm thủ tục tại một nơi trong khi hàng hóa có thể ở nhiều cảng khác nhau nên doanh nghiệp còn tiết kiệm được chi phí đi lại Đặc biệt, thời gian thông quan được rút ngắn xuống đáng kể, có thể thông quan ngay trong ngày khai báo hồ sơ so với thời gian từ 1-2 ngày trước đây.

Khi áp dụng HQĐT, doanh nghiệp được hưởng nhiều ưu tiên so với thủ tục hải quan truyền thống Thứ nhất, nếu cùng làm thủ tục, so với việc kiểm tra thực tế hàng hóa, HQĐT sẽ được ưu tiên làm trước Thứ hai, doanh nghiệp tham gia HQĐT được phép lựa chọn một trong hai cách đóng lệ phí hải quan

là đóng từng tháng hoặc đóng theo lô hàng Hơn nữa, khi làm thủ tục HQĐT,

vị thế của doanh nghiệp trước nhân viên hải quan ở một khía cạnh nào đó đã khác trước rất nhiều Thực tế, nếu khai báo thủ công, doanh nghiệp sẽ phải mang bộ hồ sơ đó đến hải quan, xếp hàng chờ nhân viên hải quan xem xét Nhưng với HQĐT, mọi thủ tục được thực hiện qua mạng Internet, doanh nghiệp chỉ đến hải quan để xin xác nhận về quyết định thông quan Thời gian tiếp xúc với cán bộ hải quan bị hạn chế tối đa Vì vậy tránh được những tiêu cực có thể xảy ra

Ngoài những lợi ích có thể nhìn thấy được, HQĐT còn mang lại những lợi ích vô hình mà khó có thể đong đếm ngay được Khi giao dịch với các khách hàng nước ngoài, nếu các thủ tục được thực hiện bằng HQĐT, doanh nghiệp Việt Nam sẽ đáp ứng được những yêu cầu về tính minh bạch, hiện đại cũng như nhanh nhạy của đối tác Từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa, doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác

Tuy nhiên, để nhận được những lợi ích mà thủ tục hải quan điện tử đem lại đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao tính tuân thủ pháp luật hải quan hơn, đề cao tính tự kê khai, tự chịu trách nhiệm về nộp thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất nhập khẩu vì hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của

Trang 39

cơ quan hải quan sẽ tự động từ chối tiếp nhận khai hải quan điện tử, nếu doanh nghiệp không chấp hành tốt các quy định của pháp luật

Qua thời một thời gian thực hiện thí điểm HQĐT cho thấy quá trình thực hiện bước đầu đạt được những mục tiêu và nội dung chính đề ra Về mặt nhận thức, đã đem đến những tác động tích cực đối với cộng đồng doanh nghiệp,

cơ quan hải quan và các cơ quan khác của Chính phủ

Theo số liệu thống kê 3 năm sau triển khai thí điểm thủ tục Hải quan điện tử cho thấy: từ 2006 đến 2008, đã có 537 doanh nghiệp (DN) tham gia, thông quan cho gần 100.000 tờ khai với lưu lượng trung bình năm 2008 đạt

116 tờ khai/ ngày (tăng 17% so với 2007) Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu từ

2006 đến 2008 đạt xấp xỉ 9,853 tỷ USD với số thuế thu được xấp xỉ 9,287 tỷ đồng Kim ngạch xuất nhập khẩu đối với hàng hóa làm thủ tục tại Chi cục Hải quan điện tử tại Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh chiếm lần lượt 3,7%; 6,2% và 7,0% (theo 9 tháng năm 2006, 9 tháng đầu năm 2007, 9 tháng đầu năm 2008) trên tổng kim ngạch XNK đối với hàng hóa làm thủ tục tại hai Cục Hải quan trên Tỷ lệ phân luồng tại Hải Phòng: Xanh: 67%, Vàng: 10%, Đỏ: 23% Tại

TP Hồ Chí Minh: Xanh: 39%, Vàng: 49%, Đỏ: 12% Thời gian thông quan trung bình đối với các lô hàng luồng xanh là 5 – 10 phút, luồng vàng từ 20 –

30 phút, luồng đỏ phụ thuộc vào thời gian kiểm tra hàng hóa

Tổng kết việc thực hiện, Tổng cục Hải quan tiếp tục triển khai thủ tục hải quan điện tử một cách quyết liệt hơn, chuyển sang triển khai mở rộng áp dụng thủ tục hải quan điện tử cả theo chiều sâu (mở rộng về đối tượng và loại hình) và chiều rộng (về địa bàn), thời gian thí điểm mở rộng đến hết 2011 Theo số liệu của Tổng Cục Hải quan, đến hết tháng 8/2010, việc triển khai thủ tục hải quan điện tử đã đạt được những kết quả cụ thể rất đáng khích lệ:

- Số lượng các Cục Hải quan đã triển khai: 12/33, chiếm tỷ lệ 36,4%;

- Số lượng các Chi cục đã triển khai: 47, trong đó có 5 Cục Hải quan đã triển khai thủ tục hải quan điện tử tại 100% các Chi cục;

Trang 40

- Số lượng các doanh nghiệp tham gia thực hiện thủ tục hải quan điện tử: 1.778 doanh nghiệp;

- Số lượng tờ khai thực hiện thủ tục hải quan điện tử: 138.761;

- Kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 27,213 tỷ USD, chiếm 18% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu;

- Số thuế xuất nhập khẩu đạt 27.213 tỷ VNĐ;

- Thời gian thông quan trung bình: qua báo cáo của các Cục Hải quan tỉnh, thành phố đối với luồng xanh từ 3-15 phút; luồng vàng điện tử từ 10-20 phút; luồng vàng giấy từ 10-60 phút; luồng đỏ phu thuộc thời gian kiểm tra thực tế hàng hoá

- Số lượng loại hình thực hiện: 03 (bao gồm: kinh doanh, gia công, sản xuất xuất khẩu)

Hệ thống quy trình thủ tục hải quan điện tử đến nay đã bao trùm các khâu trước, trong và sau thông quan, đã mở rộng thủ tục hải quan điện tử cho hàng gia công, nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu, hàng hóa xuất nhập khẩu chuyển cửa khẩu Doanh nghiệp được hưởng sự ưu tiên về thủ tục

và được cơ quan hải quan hỗ trợ kịp thời trong quá trình khai báo cũng như làm thủ tục Số lượng giấy tờ phải nộp/ xuất trình giảm hẳn so với thủ tục hải quan truyền thống Thời gian thông quan trung bình được rút ngắn, chi phí thông quan hàng hóa giảm, đặc biệt với hàng kinh doanh xuất khẩu, thủ tục hải quan điện tử đã thể hiện tính thuận lợi so với thủ tục hải quan truyền thống Doanh nghiệp và cơ quan hải quan có khả năng kiểm soát toàn bộ quá trình luân chuyển của bộ hồ sơ cũng như việc thực hiện thủ tục hải quan của nhân viên cấp dưới Thông tin khai hải quan cũng trở nên nhất quán, chuẩn hóa cả từ phía Doanh nghiệp và cơ quan Hải quan, tạo thuận lợi cho công tác quản lý tại khâu thông quan và các khâu sau

Việc mở rộng thí điểm thủ tục HQĐT thời gian qua sẽ hoàn thiện dần quy trình thủ tục HQĐT, chuyển đổi từ thủ tục hải quan thủ công sang thủ tục HQĐT, đồng thời cải cách hoạt động nghiệp vụ hải quan theo hướng phù hợp

Ngày đăng: 15/04/2014, 09:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w