1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các căn cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng quy định về nhập khẩu phế liệu thép, nhựa, giấy cho sản xuất công nghiệp

49 489 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu các căn cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng quy định về nhập khẩu phế liệu thép, nhựa, giấy cho sản xuất công nghiệp
Tác giả ThS Phan Công Hợp
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý môi trường, Công nghiệp, Thương mại
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 2,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đánh giá tổng quan công nghệ của ngành sản xuất giấy và nhu cầu phế liệu PHẦN III: ĐỀ XUẤT CÁC NỘI DUNG QUY ĐỊNH VIỆC KINH DOANH NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU NHẰM ĐẢM BẢO MỤC TIÊU QUẢN

Trang 1

CễNG NGHIỆP

Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thương

Cơ quan chủ trì đề tài: Vụ Khoa học và Công nghệ

Chủ nhiệm đề tài: ThS Phan Công Hợp

8609

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN 1 KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ NHU CẦU VÀ THỰC TRẠNG NHẬP

KHẨU PHẾ LIỆU CỦA NGÀNH SẢN XUẤT THÉP, NHỰA, GIẤY;

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

3

1 Nghiên cứu đánh giá tổng quan công nghệ của ngành sản xuất thép và

nhu cầu phế liệu

3

2 Nghiên cứu đánh giá tổng quan công nghệ của ngành sản xuất nhựa

và nhu cầu phế liệu

15

3 Nghiên cứu đánh giá tổng quan công nghệ của ngành sản xuất giấy và

nhu cầu phế liệu

PHẦN III: ĐỀ XUẤT CÁC NỘI DUNG QUY ĐỊNH VIỆC KINH DOANH

NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU NHẰM ĐẢM BẢO MỤC TIÊU QUẢN LÝ CỦA NHÀ

NƯỚC VÀ THÁO GỠ KHÓ KHĂN VỀ NGUYÊN LIỆU PHỤC VỤ SẢN XUẤT

CHO CÁC NGÀNH SẢN XUẤT THÉP, NHỰA, GIẤY

36

II Đối tượng và điều kiện kinh doanh nhập khẩu phế liệu 37

III Thủ tục cấp Giấy Chứng nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu 38

IV Trình tự, thủ tục kiểm tra giám định, thông quan, xử lý vi phạm đối

với hoạt động nhập khẩu phế liệu

Trang 3

Tuy nhiên, việc gia tăng nhập khẩu phế liệu cả về số lượng và chủng loại không chỉ mang đến mặt tích cực là tăng nguồn nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp mà bên cạnh đó đã xuất hiện không ít trường hợp các loại phế liệu có hàm lượng chất thải độc hại lớn, thậm chí có cả những trường hợp chất thải từ nhiều nước khác nhau đã được nhập khẩu vào Việt Nam gây ô nhiễm môi trường Vì vậy, vấn đề nhập khẩu phế liệu dùng làm nguyên liệu cho sản xuất cần phải được quản lý chặt chẽ thông qua các quy định cụ thể, bảo đảm phế liệu khi nhập khẩu vào Việt Nam phải đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường, ưu tiên việc sử dụng, tái chế phế liệu, chất thải phát sinh trong nước

Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Luật Thương mại năm 2005, Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Bảo vệ môi trường, Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về việc Quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công

và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư liên tịch số 02/2007/TTLT-BCT-BTNMT ngày 30 tháng 8 năm 2007 hướng dẫn thực hiện Điều 43 Luật Bảo

vệ môi trường về tiêu chuẩn điều kiện kinh doanh nhập khẩu phế liệu Thông tư liên tịch này đã đóng vai trò tích cực trong việc bảo vệ môi trường và bảo đảm thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong kinh doanh, nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất Tuy

Trang 4

phải sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng các yêu cầu bảo vệ môi trường ngày càng cao

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 61/TTg-KTTH ngày 12 tháng 01 năm 2010 về việc giao Bộ Công Thương,

Bộ Tài nguyên và môi trường cùng chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, các Hiệp hội ngành hàng sản xuất có nhu cầu sử dụng phế liệu và Văn phòng Chính phủ ban hành Thông tư mới qui định việc kinh doanh

nhập khẩu phế liệu Để có căn cứ pháp lý xây dựng dự thảo, Đề tài "Nghiên

cứu các căn cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng quy định về nhập khẩu phế liệu thép, nhựa, giấy cho sản xuất công nghiệp ” nhằm nghiên cứu làm sáng tỏ một số nội dung sau đây:

1 Khảo sát, đánh giá nhu cầu và thực trạng nhập khẩu phế liệu của ngành sản xuất thép, nhựa, giấy; những vấn đề đặt ra;

2 Nghiên cứu các quy định hiện hành về kinh doanh nhập khẩu phế liệu;

3 Đề xuất các nội dung quy định việc kinh doanh nhập khẩu phế liệu nhằm đảm bảo mục tiêu quản lý của Nhà nước và tháo gỡ khó khăn về nguyên liệu phục vụ sản xuất cho các ngành sản xuất thép, nhựa, giấy Thực tế việc nhập khẩu các loại phế liệu thép, giấy, nhựa trong thời gian qua, chủ yếu phế liệu thép được nhập với khối lượng lớn và đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần đảm bảo nguồn nguyên liệu cho sản xuất Các loại phế liệu nhựa và giấy thực tế được nhập khẩu trong thời gian qua với khối lượng không lớn và các vướng mắc liên quan đến nhập khẩu các loại phế liệu này cũng không nhiều, do đó đối tượng khảo sát của đề tài tập trung vào hiện trạng và các vấn đề liên quan đến nhập khẩu phế liệu thép làm đại diện là chủ yếu

Nhóm thực hiện nội dung nghiên cứu của đề tài đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các Vụ trong Bộ như Vụ Pháp chế, Xuất Nhập khẩu, Công nghiệp nặng và các Bộ, ngành liên quan Đặc biệt, Cục Kiểm soát ô nhiễm thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Hải quan thuộc Bộ Tài chính, các Hiệp hội, doanh nghiệp và nhiều nhà khoa học đã tham gia

và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để nhóm tác giả hoàn thành nội dung nghiên cứu của đề tài

Những người thực hiện đề tài xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó và mong muốn tiếp tục nhận được các ý kiến góp ý để hoàn thiện nội dung nghiên cứu của đề tài /

Nhóm tác giả

Trang 5

PHẦN 1 KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ NHU CẦU VÀ THỰC TRẠNG NHẬP

KHẨU PHẾ LIỆU CỦA NGÀNH SẢN XUẤT THÉP, NHỰA, GIẤY-

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

1 Nghiên cứu đánh giá tổng quan công nghệ của ngành sản xuất thép

và nhu cầu phế liệu

1.1 Đánh giá tổng quan công nghệ của ngành sản xuất thép Việt Nam

1.1.1 Nguyên liệu luyện thép

Để sản xuất thép người ta dùng nguyên liệu là gang và sắt thép vụn

Gần đây, đưa thêm sắt xốp vào làm nguyên liệu luyện thép (công nghệ

luyện kim phi cốc) nhằm tránh sự thiếu hụt cốc cũng như tận dụng nguồn

tài nguyên khí thiên nhiên Tuy nhiên, công nghệ lò cao vẫn giữ vai trò

quan trọng nhất (xem bảng 1.1) Sản lượng thép thế giới năm 2005 đạt

1060 triệu tấn, dự báo năm 2010 đạt 1193 triệu tấn

Bảng 1.1: Sản lượng các loại nguyên liệu cho luyện thép của thế giới

Đơn vị tính: 1 000 tấn

Năm Nguyên liệu

608 45392

655

49

387

693 43361

China

(thép thô)

124.000 127.200 148.900 181.600 220.100

Trang 6

780 3.627 1.302

2.848 3.650

426

603 2.099

306

3.737 3.707 1.405

833 4.451 1.589

2.780 4.100

-

456 2.127

318

4.076 4.103

-

794 4.652 1.900

2.461 4.721

550

545 2.538

408

3.799 4.714 1.216

719 6.746 2.123

2.042 3.960

500

561 3.572

544

3.718 4.563 1.770

599

7498 2.389

Nguồn: SEAISI Steel Statistical Yearbook 2004

1.1.2 Trình độ công nghệ ngành sản xuất thép trên thế giới

a) Luyện Gang

Công nghệ luyện gang tại các nước trên thế giới, hiện nay đã rất hoàn chỉnh, các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đã đạt gần như giới hạn lý thuyết Các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào giảm tiêu hao than cốc, tăng năng suất lò và nâng cao chất lượng sản phẩm, các biện pháp cải tiến (phun than, làm giàu ôxy, tăng nhiệt độ gió nóng, nâng cao chất lượng liệu, nâng áp suất khí đỉnh lò, nạp liệu kiểu không chuông …) và hiện đại hóa các lò cao hiện có để giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất, kéo dài tuổi thọ thiết bị và cải thiện môi trường Gần đây, lò cao nhỏ (175-350m3) được xây dựng ở

Ấn Độ, Brazil và Trung Quốc cũng đạt những chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật khá

b) Luyện thép:

Sản xuất thép theo ba công nghệ chính: Lò chuyển (63% tổng sản lượng), lò điện hồ quang (33% tổng sản lượng) và lò bằng (3% tổng sản lượng) Hàng loạt tiến bộ mới được áp dụng như: điều khiển tự động hóa, tiết kiệm năng lượng đã tạo ra rất nhiều loại sản phẩm mới có giá trị cao hơn nhiều lần so với thép thông thường Trung bình các cường quốc về thép sản xuất khoảng 20% sản lượng là thép đặc biệt

- Lò chuyển với ưu điểm thời gian luyện thép nhanh, năng suất cao, chất lượng thép tốt mà sản lượng thép chiếm trên 60% tổng sản lượng thép trên thế giới Những nghiên cứu đổi mới công nghệ tập trung vào: Thổi đáy để khuẩy trộn thép và xỉ bằng khí trơ, kết hợp tinh luyện ngoài lò, kéo dài tuổi thọ lò, tự động hóa, xử lý khí thải, tối ưu hóa các quá trình công nghệ Hiện nay trên thế giới có khoảng 600 lò, trung bình mỗi lò sản xuất được một triệu tấn thép hang năm

- Lò điện hồ quang hiện đại có thể sản xuất được nhiều loại thép chất lượng nhau với thời gian luyện ngắn, năng suất cao Gần đây, lò điện siêu công suất (UItra High Power – UHP), được cường hóa bằng ôxy ra đời thì

Trang 7

lò EAF 140 tấn/mẻ sản xuất thép hợp kim thấp và trung bình chỉ mất 1,5 h/mẻ và đạt công suất 100 tấn/h Ngày nay lò điện hồ quang kết hợp với luyện kim thứ cấp có thể sản xuất các loại thép không gỉ với chỉ tiêu kinh tế

- kỹ thuật rất cao Tiêu hao điện năng đạt 450-520 kWh/tấn Nếu phun than 25-30 kg/tấn + 35 m3 ôxy/tấn thì tiêu hao điện năng chỉ còn 300 kWh/tấn Trong những năm gần đây trên thế giới (nhất là Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan) đã sử dụng 30-50% gang lỏng trong lò điện EAF cũng giảm đáng kể tiêu hao điện năng Đã có nhiều cải tiến như lò điện siêu công suất (UHP-EAF), lò điện hồ quang một chiều (EAF-DC), lò điện kiểu Fuchs, Danrc, Conarc, TwinsheII, Consteel đã làm cho lò điện hồ quang càng ngày các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật càng cao, có thể so sánh được với lò chuyển trong tương lai

c Công nghệ cán

- Cán thép thanh và dây (sản phẩm dài): Ở các nước đang phát triển, thường chiếm trên 50% tổng sản lượng thép các loại Các nghiên cứu cải tiến kỹ thuật trong công nghệ tập trung vào: Tăng tốc độ cán (thép thanh đạt tốc độ cán 40 – 50 m/s, thép dây đạt tới 120 m/s); Áp dụng công nghệ chẻ phôi, hàn nối phôi, điều khiển nhiệt để nâng cao cơ tính của sản phẩm,

tự động hóa điều khiển quá trình cán ;

- Công nghệ cán thép hình: áp dụng công nghệ đúc phôi gần giống với hình dạng sản phẩm Nhờ vào công nghệ này mà người ta có thể giảm số lần cán, do đó có thế xây dựng các dây chuyền cán dầm hoặc thép ray rất gọn so với trước đây mà vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm tốt, đạt hiệu quả kinh tế cao;

- Công nghệ cán tấm nóng: nhờ các cải tiến kỹ thuật, có thể cán được thép tấm có chiều dày xuống tới 0,8 mm với độ chính xác chất lượng bề mặt cao;

- Công nghệ cán tấm nguội: Trước đây, loại máy cán này chỉ dung để cán thép không gỉ và thép silic dung trong kỹ thuật điện, cán lá nhôm làm gói bao phẩm Hiện nay do giá thành thiết bị đã hạ hơn nên người ta đã

sử dụng để cán thép cacbon thong thường Loại máy này cho ra được các sản phẩm có chiều dày cực mỏng (đến 0,0015 mm), chất lượng rất cao

- Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp thép thế giới đã phát triển với một tốc độ rất cao Do ý thức được rằng thép vẫn là nguyên liệu chính của nhiều ngành công nghiệp nên các nước có ngành công nghiệp phát triển đã đầu tư nhiều vào KHCN Đặc biệt là trong bối cảnh tài nguyên của thế giới ngày càng cạn kiệt và nhu cầu về bảo vệ môi trường và duy trì phát triển bền vững được nhân loại quan tâm hơn bao giờ hết Kinh phí cho

Trang 8

R&D của các doanh nghiệp đạt từ 0,5 – 3,5 % doanh thu (ví dụ: Nhật chi 2

tỷ USD/năm – số liệu năm 1986, nguồn ESCAP) Nhật Bản hiện là nước có trình độ công nghệ trong ngành luyện kim cao nhất thế giới Mặc dù Nhật Bản là nước phải nhập khẩu toàn bộ nguyên, nhiên liệu cho ngành công nghiệp thép nhưng các sản phẩm thép của Nhật Bản có tính cạnh tranh cao trên thị trường thế giới

1.1.3 Ngành thép Việt Nam

a) Thị trường sản phẩm thép

Trong những năm qua, ngành thép đã có những bước tiến bộ đáng kể trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa của đất nước Đi lên từ xuất phát điểm thấp, đến nay ngành đã cung cấp đủ thép cho nhu cầu xây dựng cơ bản và góp phần bình ổn thị trường Với lượng phôi tự sản xuất trong nước đạt hơn 20%, phôi nhập ngoại đạt gần 80%; Ngành thép Việt Nam đến nay chỉ sản xuất được các sản phẩm dài cho ngành xây dựng, là thép tròn trơn, tròn vặn dạng thanh Φ10mm - Φ4mm, thép dây cuộn Φ6- Φ10mm (chỉ là những loại thép xây dựng thông thường; Thép dự ứng lực dùng xây dựng cầu, những công trình quan trọng vẫn phải nhập khẩu), thép hình cỡ nhỏ, cỡ vừa, gia công sản xuất ống thép hàn, tôn mạ, tôn hình uốn nguội, cắt xẻ tôn tấm từ sản phẩm dẹt nhập khẩu (các dự án cán nguội hiện nay cũng chỉ nhập khẩu thép cuộn cán nống về gia công cán nguội) Tham gia ngành thép có đầy đủ các thành phần kinh tế như 100% vốn nước ngoài, liên doanh, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, làng nghề, hộ sản xuất nhỏ-gia đình; Trong năm 2004, VSC chiếm 43% thị trường tiêu thụ sản phẩm thép xây dựng; Khối liên doanh chiếm 28%; Các đơn vị còn lại chiếm 29% Chất lượng sản phẩm cũng rất phụ thuộc loại hình nhà máy, như các nhà máy thuộc VSC, các công ty tư nhân xây dựng cơ sở với lượng vốn lớn, công suất đạt từ 150

000 t/n, các liên doanh, các cơ sở 100% vốn nước ngoài chất lượng tương đương các loại thép cùng loại của khu vực Các cơ sở sản xuất nhỏ, lẻ, hộ gia đình thì chất lượng kém, do nguồn vật tư, nguyên liệu, thiết bị, kỹ thuật lạc hậu Sản phẩm thép của Việt Nam hầu hết cung cấp trong nước, khó có khả năng xuất khẩu vì yếu tố chất lương, giá thành kém so với các nước khác

Bảng 2.1: Tiêu thụ thép 1996 – 2004 của Việt Nam

Đơn vị tính 1000 tấn

1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2010 2015

Trang 9

2.3922.075

2.4372.341

2.3652.727

3.530 3.015

4.688 4.166

6.2176.116

1 lò 50 m3 sẽ đưa tổng sản lượng gang đạt khoảng 280.000 tấn

- Về luyện phôi:

Công suất luyện phôi của ngành đến hết năm 2005 đạt 1,2 triệu tấn; trong đó, VSC đạt 700.000 tấn, chiếm 60%; năm 2005 VSC đạt sản lượng phôi 657.680 tấn

Tổng công suất thiết kế đến hết năm 2006 đạt khoảng 3 triệu tấn Tuy nhiên, do tất cả các nhà máy (trừ lò của công ty Gang thép Thái Nguyên)

sử dụng 50% gang lỏng phối liệu) đều đi theo công nghệ lò điện (hồ quang hoặc tần số), với nguyên liệu đầu vào là sắt thép phế liệu nên trong thời gian tới sẽ khó khăn trong việc cung cấp đủ thép phế liệu (thu mua trong nước chỉ đạt khoảng 1 triệu tấn; Số còn lại phải nhập khẩu, nhưng việc nghiên cứu thị trường và đảm bảo khả năng cung cấp thép phế liệu chưa được quan tâm đúng mức, chưa kể đến rào cản về môi trường đối với việc nhập khẩu, hạn chế về cơ sở hạ tầng, cảng biển ) Trong số các lò luyện thép mới được đầu tư, lò điện 70 tấn của công ty thép miền Nam ở Phú Mỹ

là được đầu tư dây chuyền đồng bộ luyện – đúc liên tục – cán hiện đại Các

cơ sở còn lại đều sử dụng các thiết bị nhập khẩu của Trung Quốc, có trình

độ ở mức trung bình

Trong năm 2005, dự án sản xuất thép không gỉ lớn nhất từ trước tới nay tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư 700 triệu USD, công suất thiết kế 720.000 nghìn tấn sản phẩm/năm đã được cấp phép; Nhà máy do doanh nghiệp Đài Loan đầu tư tại Bà Rịa Vũng tàu Ngoài ra, năm 2006, Tập đoàn thép Tycoons (Đài Loan) dự kiến đầu tư nhà máy thép liên hợp 5 triệu tấn phôi thép/năm với mức đầu tư 1 tỷ USD

Trang 10

- Về sản phẩm cán dài:

Đến cuối năm 2005, tổng công suất các máy cán dài đạt khoảng 6 triệu tấn với 23 công ty lớn và vừa (có công suất từ 100.000 tấn -400.000 tấn), cộng với hàng trăm cơ sở sản xuất nhỏ; trong đó, công suất của Tổng công ty thép Việt Nam (VSC) là 1,6 triệu tấn, chiếm 27 % năng lực cả nước Trong năm 2005, VSC cũng đưa vào hoạt động 2 dây chuyền cán sản phẩm dài hiện đại 300 000 tấn ở công ty Gang thép Thái Nguyên và 400.000 tấn ở Phú Mỹ Với sản xuất đầu tư thấp (khoảng 50 USD/tấn – đối với nhà máy có công suất 20 – 30 vạn tấn), thời gian xây dựng ngắn, khá năng thu hồi vốn nhanh Chính vì vậy, đến nay năng lực sản xuất này gần

đủ để đáp ứng nhu cầu thép cán dài đến năm 2015 Vì vậy, không nên tiếp tục đầu tư vào khâu này (thời gian gần đây, phần lớn các cơ sở sản xuất thép ở Việt Nam chỉ hoạt động ở mức 60% công suất thiết kế) Tổng sản lượng thép sản phẩm năm 2005 đạt 3,3 triệu tấn; Trong đó, thép xây dựng đạt 2,44 triệu tấn

- Về sản phẩm dẹt cán nguội/nóng:

VSC có nhà máy cán nguội công suất 205.000 tấn/năm với dải sản phẩm thép là cán nguội từ 0,15 – 1,8 mm (có khả năng nâng công suất lên 400.000 tấn/năm) đã bắt đầu đi vào hoạt động; Năm 2005, sản lượng đạt 50.000 tấn Ngoài ra có nhà máy cán tấm nóng của Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy công suất 200.000 tấn năm hiện đang xây dựng

- Về sản phẩm gia công sau cán:

Gồm các sản phẩm thép lá mạ mầu, mạ kẽm, mạ nhôm kẽm, ống thép hàn, lưới thép, thép hình bằng công nghệ hàn, tôn song với sản lượng thép ống đạt 0,21 triệu tấn, sản lượng tôn sơn mạ đạt 0,45 triệu tấn trong năm 2005

c) Về trình độ công nghệ

- Thành phần kỹ thuật: Nhìn chung trình độ công nghệ ngành thép

nước ta có thể chia ra 3 loại

- Loại công nghệ hiện đại:

Đây là những nhà máy mới được đầu tư xây dựng từ năm 2001 trở lại đây với công nghệ, máy móc thiết bị khá hiện đại, công suất tương đối lớn Dây chuyền thiết bị có mức độ tự động khá cao Tập trung ở nhóm này

có nhà máy luyện cán thép của Công ty thép miền Nam đặt tại Phú Mỹ, Dây chuyền cán sản phẩm dài 30 vạn tấn/năm của Công ty Gang thép Thái

Trang 11

Nguyên, nhà máy cán nguội Phú Mỹ số liệu điều tra năm 2004 cho thấy

các nhà máy cán hiện đại chiếm 38,7 % tổng công suất thiết kế (1,72 triệu

tấn/4,44 triệu tấn/năm)

- Công nghệ ở mức trung bình:

Cụ thể là những nhà máy của VSC, một số liên doanh và công ty tư

nhân Trang thiết bị của các nhà máy này chưa được tự động hóa ở mức

cao Các vấn đề về nhân sự, thông tin, tổ chức đều còn rất nhiều bất cập Số

liệu điều tra năm 2004 cho thấy các nhà máy cán này chiếm 48,9 % tổng số

công suất thiết kế (2,17 triệu tấn/4,44 triệu tấn/năm)

- Công nghệ lạc hậu:

Tập trung tại những nhà máy loại nhỏ với trang thiết bị rất lạc hậu,

chất lượng sản phẩm rất kém, hầu hết là không đạt tiêu chuẩn Cụ thể là các

cơ sở của các nhà máy cơ khí, cơ sở tư nhân Một đặc điểm dễ nhận thấy ở

khu vực này là thiếu đội ngũ lao động lành nghề, thiếu vốn nên hoạt động

cầm chừng Số liệu điều tra năm 2004 cho thấy các nhà máy cán lạc hậu

chiếm 12,4 % tổng công suất thiết kế (0,55 triệu tấn/4,44 triệu tấn/năm)

Bảng 2.2: Các chỉ tiêu KT – KT của ngành thép Việt Nam và Thế

Tiêu hao điện Kwh/tsp 550 – 690 - 380 – 410

Năng suất lao động Tấn/người.năm 125 - 650 (Nhật)

Trang 12

Tiêu hao dầu FO Kg/tsp 35 – 40 30 – 33 25

Tiêu hao điện Kwh/tsp 100 – 130 120 – 130 80

Tiêu hao trục cán Kg/t 2,0 – 3,0 0,26 – 0,5 0,2

Nguồn: Tổng hợp các báo cáo

Chi phí sản xuất cho một tấn thép ở Việt Nam cao so với thế giới Các

chỉ tiêu tiêu hao nguyên vật liệu đầu vào cho quá trình sản xuất thép

(phôi/cán) ở Việt Nam cao cùng với quy mô công suất nhỏ (quy mô trung

bình của các nhà máy sản xuất thép ở khu vực Đông Nam Á khoảng 500

ngàn tấn năm) dẫn đến sản phẩm (phôi/cán) đều có giá thành khá cao; Mặt

khác, các nhà máy sản xuất thép (cán) Việt Nam lại sản xuất trong tình

trạng dư thừa công suất (phần lớn hoạt động ở mức khoảng 60 % công suất

thiết kế) Chính vì vậy, nâng cao hiệu suất các nhà máy cũng có thể cho

phép nâng cao hiệu quả và giảm giá thành sản xuất

- Thành phần con người:

Công ty Gang thép Thái Nguyên có một đội ngũ lao động dồi dào gồm

8.972 người; trong đó 1.257 người có trình độ đại học, cao đẳng trở lên

chiếm 14 % (số liệu năm 2004) Là một đội ngũ đã qua thực tế sản xuất

nhiều năm và tích lũy được kinh nghiệm, có khả năng làm chủ công nghệ

Đây cũng là nơi cung cấp các cán bộ và công nhân nòng cốt cho nhiều nhà

máy thép xây dựng sau này Tuy nhiên, đội ngũ nhân lực của công ty cũng

còn nhiều hạn chế Trình độ chuyên môn còn hạn chế, nhiều cán bộ kỹ

thuật không cập nhật được những tiến bộ kỹ thuật mới trong ngành nên còn

hạn chế trong việc cải tiến công nghệ cũng như trong nghiên cứu phát triển

công nghệ mới Trình độ tin học ngoại ngữ còn kém nên hạn chế việc tiếp

Trang 13

thu các thông tin về đổi mới công nghệ trên thế giới Độ tuổi của cán bộ công nghân viên (CBCNV), nhất là các cán bộ kỹ thuật tương đối cao Nếu tính cho cả Công ty thì thành phần con người chỉ đạt H = 0,51 Công ty thép miền Nam hiện có đội ngũ CBCNV 3.688 người trong đó có khoảng

300 cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng trở lên, chiếm 8,1 % (số liệu năm 2004) So với Công ty Gang thép Thái Nguyên thì Công ty thép miền Nam

có nhiều thuận lợi hơn về mặt nhân lực: “gọn nhẹ” hơn, Công ty có khả năng thu hút cán bộ kỹ thuật nhất là cán bộ trẻ nhờ kinh doanh có hiệu quả, thu nhập của người lao động cao Tỷ lệ cán bộ biết ngoại ngữ cũng ở mức

độ cao hơn Có khả năng làm chủ được công nghệ mới Công ty cho thấy giá trị thành phần con người của Công ty ở mức trung bình H = 0,52

Các công ty liên doanh có đội ngũ gọn, phù hợp với yêu cầu của hệ thống thiết bị và công nghệ Tuy vậy, trong vấn đề tuyển chọn lao động, các lien doanh cũng gặp một số khó khăn do nguồn đào tạo và cung cấp nhân lực trình độ cao ở trong nước chưa đáp ứng được cả về số lượng và chất lượng

Hầu hết các cơ sở nhỏ đều thiếu cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề Điều này đã gây ra không ít khó khăn trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm của các đơn vị này Kết quả khảo sát cho thấy vấn đề nhân lực của các cơ sở nhỏ là rất bất cập (H = 0,32 – 0,41) Trong những năm tới tình hình này cũng rất khó được cải thiện vì nguồn nhân lực được đào tạo trong các trường của nước ta còn hạn chế mà nhu cầu lại rất cao

Các công ty thép hiện đại mới được xây dựng: Các cơ sở này còn nhiều bất cập, thiếu các cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm trong ngành luyện kim Tuy vậy, các cơ sở này đã thu hút được nhiều cán bộ kỹ thuật có trình độ từ các cơ sở của Tổng Công ty thép việt Nam và các công ty được thành lập trước đây

- Thành phần thông tin (Infoware)

Việc ứng dụng máy tính bước đầu đã nâng cao Tuy nhiên, chỉ tập trung cho công việc văn phòng, không sử dụng máy tính trong thiết kế và nghiên cứu Còn việc sử dụng máy tính để điều khiển các quá trình công nghệ chỉ

áp dụng ở một số đơn vị mới đầu tư của Công ty Gang thep Thái Nguyên

và Công ty Thép Miền Nam Việc cập nhật thông tin, sử dụng Internet hạn chế đối với khối doanh nghiệp của VSC; khối liên doanh và doanh nghiệp mới đầu tư ở mức khá hơn Các nguồn thông tin về công nghệ, khoa học công nghệ trong ngành còn rất hạn chế Đây cũng là tình trạng chung của nhiều ngành kỹ thuật ở nước ta Kết quả khảo sát ở các nhà máy về giá trị thành phần thông tin I đạt mức trung bình

- Thành phần tổ chức:

Trang 14

Vấn đề tổ chức sản xuất, bố trí nguồn nhân lực hợp lý đã được các

doanh nghiệp chú trọng Các công ty lien doanh và khối doanh nghiệp mới

đầu tư công nghệ hiện đại đã áp dụng mô hình tổ chức tiên tiến, phù hợp

với công nghệ sản xuất tiên tiền và kinh doanh trong nền kinh tế thị trường

Các doanh nghiệp nhỏ có bộ máy tổ chức phù hợp với cơ sở nhỏ nên đã tận

dụng được năng lực của thiết bị và chiếm được một số mạng của thị trường

trong nước Kết quả khảo sát ở các nhà máy về giá trị thành phẩm tổ chức

Nhìn chung ngành thép nước ta có hàm lượng nhập khẩu đầu vào khá

cao (xem Bảng 2.4), thể hiện sự phụ thuộc của ngành thép nước ta vào thị

trường nguyên nhiên liệu thế giới Với năng lực sản xuất phôi quá nhỏ bé,

ngành sản xuất nguyên liệu cho luyện thép (luyện gang, sắt thép phế) còn

hạn chế nên ngành thép mới chỉ đáp ứng được 20 – 25 % nhu cầu phôi của

các nhà máy cán Do phải nhập khẩu phần lớn phôi thép nên gây khó khăn

cho nền kinh tế đất nước, nhất là trong hai năm gần đây Với sự phụ thuộc

vào bên ngoài như vậy, ngành thép nước ta khó có thể phát triển ổn định và

bền vững trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế Đây cũng là một

khâu yếu trong chiến lược phát triển ngành mà những năm tới phải lưu ý

khắc phục Năm 2005 Việt Nam nhập khẩu 2.226.940 tấn phôi thép, trị giá

837.847.000 USD trên tổng lượng thép nhập khẩu là 5.523.987 tấn, trị giá

Ước nhập khẩu năm 2005

Sang năm 2006 đến năm

Trang 15

Vật liệu chịu lửa 40 % 4.800 tấn

- Trình độ công nghệ ngành thép nói chung ở mức độ trung bình và thấp Trình độ công nghệ cũng không đồng đều ở các khâu trong chu trình sản xuất luyện kim Khâu luyện gang đang ở mức độ lạc hậu, tương đương trình độ những năm 1960 – 1970 Khâu luyện thép tương đương những năm 1970 – 1980 Khâu cán thì đã xuất hiện một số nhà máy đạt mức độ hiện đại, nhưng đại đa số các nhà máy còn lại ở mức trung bình và lạc hậu

1.2 Nhu cầu phế liệu thép cho ngành công nghiệp sản xuất thép Việt Nam

Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu của nền kinh tế thế giới, các nước chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hợp tác, quan hệ trên cơ sở hai bên cùng có lợi, cùng nhau phát triển kinh tế Xu thế này đã góp phần tích cực vào sự tăng trưởng và phát triển của một số nước trên thế giới Đặc biệt

là đối với Việt Nam, thực trạng nền kinh tế sau chiến tranh giành độc lập hoàn toàn, tiến tới xây dựng, ổn định và từng bước phát triển kinh tế Việt Nam là một nước có nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, đời sống nhân dân còn quá thấp so với các nước trên thế giới Tình hình đó đòi hỏi nước ta phải có

sự đổi mới cho phù hợp với xu thế chung của thế giới Quan điểm mở rộng

Trang 16

hợp tác kinh tế của Việt Nam được thể hiện rõ trong các Nghị quyết của các đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X và được cụ thể hoá sâu sắc thêm trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XI vừa qua của Đảng Thực hiện đường lối kinh tế đối ngoại theo hướng mở rộng quan hệ kinh tế với tất cả các nước trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi Thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, phấn đấu thực hiện mục tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh”

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta được thực hiện thông qua việc mở rộng các hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài, tín dụng nước ngoài… Trong đó, hoạt động xuất nhập khẩu có tầm quan trọng hơn cả, là yếu tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh Nhập khẩu là để bù đắp những mặt hàng còn thiếu mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất nhưng không đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước Cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu bao gồm những mặt hàng sau: máy móc thiết bị, khoa học kĩ thuật, công nghệ và các loại nguyên vật liệu phục

vụ cho phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng ở nước ta

Trong giai đoạn trước đây, thép là mặt hàng quan trọng trong cơ cấu nhập khẩu của nước ta vì đây là mặt hàng cần thiết cho nhiều ngành công nghiệp, xây dựng nhà xưởng, cơ sở hạ tầng phục vụ cho nhiều ngành sản xuất nói chung Tuy nhiên, việc nhập khẩu thép thành phẩm chỉ là biện pháp trước mắt và tình thế Do đó, vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp sản xuất thép trong nước phải đẩy mạnh hoạt động sản xuất theo hướng ngày càng nâng cao chất lượng và sản lượng thép

Thế giới hiện đang sản xuất khoảng 1,2 tỉ tấn thép/năm, trong đó có 30% được sản xuất từ thép phế liệu (400 triệu tấn/năm), như vậy có thể thấy số lượng thép được sản xuất từ phế liệu là rất lớn

Ở Việt Nam, chỉ ở Thái Nguyên, thép được sản xuất từ quặng, còn lại hầu hết được sản xuất bằng lò điện Hiện nay phế liệu có nguồn từ trong nước cho sản xuất thép không đủ cung ứng cho các nhà máy, mới chỉ có khoảng 1,2 triệu tấn/năm trong khi nhu cầu khoảng gần 5 triệu tấn

Do giá quặng sắt cao, nên việc sử dụng thép phế để luyện thép trong

lò điện trở nên vô cùng quan trọng, nó vừa có ý nghĩa làm sạch môi trường, tái sinh kim loại đã qua sử dụng, vừa có ý nghĩa kinh tế to lớn Tất cả các nước trên thế giới đều coi thép đã qua sử dụng là nguồn nguyên liệu cho luyện thép chứ không phải là phế thải

Những năm gần đây, do lượng thép phế trong nước giảm nhiều, các doanh nghiệp sản xuất và thương mại phải chủ động tìm nguồn hàng và nhập khẩu một lượng lớn thép phế phục vụ sản xuất phôi thép để đáp ứng nhu cầu thép xây dựng cho thị trường trong nước

Trang 17

Theo Hiệp hội Thép Việt Nam, nhu cầu thép phế liệu nhập khẩu qua một số năm vừa qua như sau: 2006 nhập khẩu khoảng 1.000.000 tấn thép phế, năm 2007 phải nhập khoảng 1.500.000 tấn thép phế do nhiều cơ sở luyện phôi đã đầu tư hoàn tất và đi vào hoạt động Hiện tại, Việt Nam đang

có khoảng 9 công ty chuyên luyện thép mỗi năm nhập khẩu khoảng 3 triệu tấn thép phế liệu phục vụ cho nhu cầu sản xuất phôi, lượng thép phế thường được nhập về Việt Nam từ Mỹ, Nhật, Thỗ Nhĩ Kỳ, Trung Đông Nhu cầu nhập sắt thép phế liệu được dự báo sẽ tăng lên 4-5 triệu tấn trong vài năm tới

Nguồn nguyên liệu đầu vào cho luyện kim mà chủ yếu là thép phế liệu hiện tại thu gom được trong nước chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu Để đảm bảo sản xuất thép trong nước được ổn định thì 70% nhu cầu thép phế phải được nhập khẩu từ nước ngoài (theo thống kê của Bộ Công nghiệp Việt Nam trước đây – nay là Bộ Công Thương) Vì vậy, việc nhập khẩu thép phế liệu góp phần tích cực vào sự ổn định và phát triển ngành luyện thép ở nước ta, từ đó thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là động lực tích cực để xây dựng và cải tạo cơ sở của Việt Nam trong giai đoạn từ nay tới năm 2020

2 Nghiên cứu đánh giá tổng quan công nghệ của ngành sản xuất nhựa

và nhu cầu phế liệu

2.1 Đánh giá tổng quan công nghệ của ngành sản xuất nhựa Việt Nam

Dù có sự phát triển mạnh trong những năm gần đây nhưng ngành nhựa Việt Nam chủ yếu vẫn chỉ được biết đến như là một ngành kinh tế kỹ thuật về gia công chất dẻo, trong khi đó lại không chủ động được nguồn nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất, số lượng mẫu mã chủng loại nhựa sản xuất của Việt Nam còn đơn điệu chưa đáp ứng được yêu cầu đa dạng của các nhà nhập khẩu, của các ngành kinh tế sử dụng sản phẩm nhựa

kỹ thuật và của người tiêu dùng Giá trị xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam thời gian qua đạt mức cao và tăng trưởng nhanh nhưng mới chiếm 0,02% giá trị xuất khẩu các sản phẩm nhựa toàn cầu

Các doanh nghiệp nhựa trong nước do quy mô vốn nhỏ nên đang chịu áp lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp FDI có thế mạnh về vốn,

kỹ thuật, kinh nghiệm và thị trường tiêu thụ

Sự phát triển của các doanh nghiệp nhựa Việt Nam mang nặng tính

tự phát, chưa theo quy hoạch, các doanh nghiệp nhựa vẫn chưa thật sự gắn

bó, hỗ trợ lẫn nhau tạo sức mạnh tổng hợp để cạnh trạnh có hiệu quả trên thị trường

Trang 18

Năng lực thiết kế sản phẩm để bán ra thị trường của các doanh nghiệp nhựa Việt nam còn nhiều hạn chế

Giá trị xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam thời gian qua còn quá nhỏ bé trong giá trị xuất khẩu các sản phẩm nhựa toàn cầu do tăng trưởng xuất khẩu các sản phẩm nhựa Việt Nam chủ yếu là do sự đóng góp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và một phần đáng kể là gia công theo mẫu mã của nước ngoài nên giá trị gia tăng thấp

Các nhà đầu tư tư nhân ngành nhựa thường tập trung những mặt hàng “ăn khách” nhất thời nên dẫn đến tình trạng chồng chéo, cạnh tranh lẫn nhau, gây lãng phí về vốn và ít hiệu quả kinh tế

Các dự án đầu tư sản xuất nguyên liệu cho ngành nhựa là một mục tiêu quan trọng của ngành nhựa Việt Nam để giải quyết bài toán cung cấp một phần nguyên liệu trong nước cho ngành Việc chủ động nguồn nguyên liệu nội địa ngày càng trở nên bức thiết đặc biệt là cung ứng hoặc sản xuất

PP, PVC, PS, PE - những nguyên liệu cơ bản trong ngành gia công chất dẻo

Do nguyên liệu trong nước chỉ mới đáp ứng được khoảng hơn 15% nhu cầu của các doanh nghiệp nhựa nên mỗi năm ngành nhựa vẫn phải nhập khẩu các loại nguyên liệu như PP, PVC, PS, PE, ABS

Vì nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong thời gian qua, hầu hết các dự án sản xuất nguyên liệu cho ngành nhựa đã không thực hiện được Tính đến năm 2010 mới chỉ có nhà máy hạt nhựa Polypropylen (nhà máy PP1) được khởi công xây dựng từ tháng 2/2008 với tổng vốn đầu tư

235 triệu USD Tuy nhiên điều đáng nói là mặc dù tiến độ có bị chậm hơn

so với quy hoạch, các dự án trong quy hoạch vẫn đang tiếp tục được thực hiện và sẽ hoàn thành trong giai đoạn tới

Nam

Hiện nay, mỗi năm ngành nhựa cần trung bình 2,2 triệu tấn các loại nguyên liệu đầu vào như PE, PP, PS chưa kể hàng trăm loại hoá chất phụ trợ khác nhau, trong khi khả năng trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng 450.000 tấn nguyên liệu Năm 2010 các doanh nghiệp ngành nhựa trong nước cần khoảng 4 triệu tấn nguyên liệu để phục vụ cho hoạt động sản xuất

Bên cạnh đó, giá thành sản xuất của ngành nhựa cũng bị biến động theo sự biến động của giá cả nguồn nguyên liệu nhập khẩu, đặc biệt là sự biến động về giá của 2 loại nguyên liệu được sử dụng nhiều trong sản xuất

là PP và PE với mức tăng trung bình là 13%

Trang 19

Phế liệu nhựa được xem như là một giải pháp để giảm sức ép từ cơn sốt giá nguyên liệu nhựa Nguồn phế liệu nhựa trong nước rất dồi dào nhưng chúng ta vẫn chưa tận dụng được Nguyên nhân là do hệ thống thu gom nhỏ lẻ, không tập trung, phế liệu hầu như không được xử lý và phân loại theo đúng cách, công nghệ lạc hậu

Ngành công nghiệp tái chế phế liệu nhựa của Việt Nam chưa phát triển, hệ thống thu gom phế liệu nhựa chưa hữu hiệu trong khi đó việc nhập phế liệu theo quy định hiện hành là rất hạn chế nên trong nước không cung cấp được nguyên liệu nhựa tái chế đạt chất lượng và giá cả cạnh tranh giúp các doanh nghiệp giảm giá thành sản phẩm

Các nhà máy nhựa hiện nay đã quay vòng được 100% lượng nhựa phế thải trong quá trình sản xuất của mình do vậy nhựa tái chế đề cập đến ở đây là lượng phế thải dân sinh, từ ngành công nghiệp khác và từ phế liệu nhập khẩu

Việc hình thành các nhà máy tái chế phế liệu nhựa sẽ là bước khởi đầu trong nỗ lực giảm bớt gánh nặng khó khăn về nguyên liệu cho doanh nghiệp Việc đầu tư này không khó, vốn đầu tư cũng không lớn nhưng việc thu gom phế thải theo hệ thống để có đủ nguyên liệu cho nhà máy lại là vấn

đề cần được quan tâm đúng mức Cần phải có sự quan tâm của nhà nước vì đây là một công việc có tính toàn xã hội Các cấp chính quyền cần vào cuộc

từ việc giáo dục cho người dân trong việc phân loại và thải bỏ rác đúng với yêu cầu đến hình thành hệ thống thu gom từ các hộ dân, đơn vị sản xuất cho đến đầu tư xây dựng các nhà máy xử lý phế thải nhựa Làm tốt việc này sẽ giải quyết được 2 vấn đề lớn là bảo vệ môi trường và tiết kiệm ngoại

tệ do giảm lượng nguyên liệu phải nhập cho ngành nhựa hàng năm

Theo Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), hiện nay cả nước có hơn 2.000 doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nhựa, nhu cầu nguyên liệu hằng năm khoảng 2,2 triệu tấn các loại nhựa PE, PP, PS nhưng thị trường trong nước mỗi năm chỉ mới cung cấp được 450.000 tấn Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký VPA cho biết, ở các quốc gia lân cận như Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản, nguyên liệu nhựa tái chế được sử dụng hằng năm chiếm từ 15,9 - 25% tổng sản lượng nhựa, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm này đạt từ 2,5 - 4,5 tỉ USD, nguyên nhân chủ yếu là do tận dụng được nguồn nguyên liệu nhựa tái sinh nhằm làm tăng sức cạnh tranh về giá, nhưng không làm thay đổi chất lượng Ở Việt Nam, ước tính, nếu tận dụng được từ 35 - 50% nguyên liệu nhựa tái sinh thì

sẽ tiết kiệm được hằng năm khoảng gần 1 tỉ USD so với kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu chính phẩm, đồng thời tăng được 18 - 25% kim ngạch

Trang 20

xuất khẩu nhựa hằng năm của ngành

Hiện nay cơ quan quản lý nhà nước đã có hàng loạt văn bản liên quan đến việc nhập khẩu - tái chế phế liệu Theo quyết định 12/2006/QĐ- BTNMT của Bộ Tài nguyên - Môi trường, plastic (nhựa) ở dạng khối, thanh, ống, tấm, sợi mảnh được loại ra từ quá trình sản xuất, chưa qua sử dụng được phép nhập khẩu Tuy nhiên, thực tế dạng nguyên liệu này đều được thu hồi để tái sử dụng bởi chính nhà sản xuất nên số lượng cung cấp cho thị trường rất hạn chế, giá cả cũng cao gần với giá nguyên liệu chính phẩm nên doanh nghiệp hầu như không nhập Nguyện vọng của VPA là được phép nhập khẩu tất cả chủng loại nguyên liệu nhựa ở dạng khối, cục, thanh, ống, tấm, sợi được loại ra từ quá trình sản xuất đã hoặc chưa qua sử dụng

Đề nghị trên của các doanh nghiệp ngành nhựa được xem là rất nhạy cảm Bởi lẽ, việc nhập khẩu "rác" lâu nay vẫn gây nhiều tranh cãi vì tác động tiêu cực đến việc bảo vệ môi trường, khó khăn trong việc khắc phục hậu quả Nhận thức được vấn đề này, các doanh nghiệp nhựa đã tự giác đưa ra nhiều giải pháp Theo kiến nghị của VPA, chỉ những doanh nghiệp có nhà máy xử lý phế liệu có công nghệ tiên tiến mới được phép nhập khẩu trực tiếp phế liệu nhựa để phục vụ việc tái chế

Trước tình hình đó, Bộ Công Thương đề nghị cho mở rộng mặt hàng nhựa phế liệu nhập khẩu Cần phải nhìn nhận và đánh giá khách quan hơn về việc nhập khẩu phế liệu nhựa trên mặt bằng chung của các nước trong khu vực và nhằm mục tiêu thúc đẩy phát triển công nghiệp trong nước Nếu quy định quá chặt chẽ thì công nghiệp không phát triển được

Bộ Công Thương cũng đã chính thức đề nghị Bộ Tài nguyên - Môi trường cho mở rộng các mặt hàng nhựa phế liệu nhập khẩu, quan trọng là phải kiểm tra, quản lý chặt chẽ công nghệ tái chế, bảo đảm sản phẩm đầu ra đạt tiêu chuẩn

Theo Cục Kiểm soát ô nhiễm (Tổng cục Môi trường) thì đề xuất trên của Bộ Công Thương rất khó thuyết phục Ranh giới giữa chất thải và phế liệu là rất mong manh Bộ Tài nguyên - Môi trường đang xây dựng tiêu chuẩn mới về phế liệu nhập khẩu, tuy nhiên để đánh giá chính xác lô hàng nhập khẩu có đúng yêu cầu hay không là rất khó Nếu quy định không rõ ràng, doanh nghiệp không hiểu rõ thì chất thải nhập khẩu về không biết bao nhiêu mà kể Đề xuất cho nhập khẩu tất cả các loại nhựa phế liệu của VPA

là rất khó thuyết phục

Trang 21

Trong một cuộc họp với các doanh nghiệp sản xuất nhựa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Mimh, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển đã “kêu gọi” các doanh nghiệp hiến kế nhằm cứu ngành nhựa thoát khỏi cơn khủng hoảng về giá nguyên liệu đang gia tăng đột biến

Ông Phạm Trung Cang, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty sản xuất bao bì nhựa Tân Đại Hưng (TP.HCM), cho rằng giải pháp khẩn thiết hiện nay là cho phép nhập khẩu nhựa phế liệu “Bài học” này rút ra được từ nước láng giềng Trung Quốc

Gần 10 năm nay, chủ trương của Trung Quốc là tổ chức thu gom nhựa phế liệu trên toàn thế giới để tái sinh Nguồn nguyên liệu tái sinh này chiếm 60-70% nguồn nguyên liệu đầu vào Điều này dẫn đến giá thành của doanh nghiệp Trung Quốc thường thấp hơn doanh nghiệp Việt Nam từ 20-30%

Thế nhưng, “tắc” hiện nay là cơ chế nhập khẩu phế liệu đang bị

“trói” bởi các qui định ngặt nghèo của Bộ Tài nguyên và Môi trường Theo khẳng định của các doanh nghiệp, phế liệu nhựa không phải là “rác”

Hiện có nhiều nhà máy nhựa của nước ngoài trong quá trình sản xuất

do một số thông số kỹ thuật không đạt nên sản phẩm làm ra bị loại Những sản phẩm “loại” này được ép thành từng khối, đem bán với giá chỉ bằng 10-20% so với giá nhựa chính phẩm

Hiện có khoảng 300 khách hàng Trung Quốc là khách quen của nguồn hàng này tại EU và Mỹ Một nguồn phế liệu nhựa nữa cũng được các doanh nghiệp yêu cầu cho phép nhập là “rác nhựa công nghiệp” “Rác” này sau khi đã được phân loại, đưa qua xử lý sạch sẽ ép lại thành kiện và chỉ bán với giá khoảng 300 USD/tấn

Ông Nguyễn Công Chương, Tổng Giám đốc Công ty nhựa Rạng Đông, khẳng định: “Sẽ không ai đi mua rác về để gây ô nhiễm môi trường” Nguyên Bộ trưởng Trương Đình Tuyển đã hứa sẽ trình các mẫu “rác” cho

Bộ Tài nguyên và môi trường thấy để xem lại các chính sách đã ban hành

Ông Tuyển cũng khẳng định không chỉ có ngành nhựa đang bị “trói” bởi các qui định về những đòi hỏi liên quan đến “độ sạch” của nguồn nguyên liệu nhựa phế phẩm, mà ngành thép cũng đang rất kẹt bởi “những vướng mắc phi lý này”

Theo Ông Tuyển, chỉ cần kiểm soát được chặt chẽ qui trình từ cảng chở về nhà máy, sau đó kiểm tra gắt gao công tác xử lý nguồn phế phẩm ngay tại nơi sản xuất thì doanh nghiệp không thể mang rác về Việt Nam được

Trang 22

3 Nghiên cứu đánh giá tổng quan công nghệ của ngành sản xuất giấy

và nhu cầu phế liệu

3.1 Đánh giá tổng quan công nghệ của ngành sản xuất giấy Việt Nam 3.1.1 Trong công nghệ sản xuất giấy và bột giấy:

- Trong công nghệ sản xuất giấy in, giấy viết đã áp dụng công nghệ tẩy trắng không dùng clo nguyên tố để nâng cao chất lượng sản phẩm và đặc biệt là giảm ô nhiễm môi trường Công nghệ xeo giấy trong môi trường a xít truyền thống cũng được thay thế bằng phương pháp xeo giấy trong môi trường kiềm nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm tiêu hao nguyên liệu và năng lượng

- Trước đây hầu hết thiết bị ngành Giấy đều phải nhập ngoại Những năm gần đây, đã chế tạo thành công hệ thống máy xeo giấy 10.000 – 15.000 tấn/ năm Trong những dự án xây dựng mới các nhà máy sản xuất giấy và bột giấy chúng ta đang từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hóa phần thiết bị (dự án nhà máy Giấy và Bột giấy Thanh Hóa, phần thiết bị sản xuất trong nước sẽ phải chiếm tới 50%), dần dần làm chủ về công nghệ và hạ giá thành cho chủ đầu tư

- Các dự án mới đang xây dựng cũng đã lựa chọn công nghệ nấu bột bằng phương pháp nấu liên tục kết hợp loại bỏ lignin bằng Ôxygen, tẩy trắng bằng 4 giai đoạn không dùng Clo nguyên tố để đảm bảo yếu tố môi trường

- Đã nghiên cứu sản xuất sản phẩm giấy tráng phủ tại Công ty Giấy Tân Mai, một trong những sản phẩm có nhu cầu rất cao mà từ trước tới nay chúng ta hoàn toàn phải nhập khẩu

- Đã áp dụng có hiệu quả công nghệ tự động hóa ủong các nhà máy sản xuất bột giấy và giấy, sử dụng hệ thống điều khiển phân tán DCS, QCS tự động hóa kiểm soát tối đa quy trình sản xuất

3.1.2 Trong công nghệ phát triển trồng rừng cây nguyên liệu giấy:

- Đã áp dụng công nghệ trồng rừng mới từ cây mô hom, phương pháp này cho năng suất trồng rừng tăng 3 – 4 lần so với công nghệ trồng rừng từ hạt

- Ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực trồng rừng vào ngành giấy với mục tiêu tạo được số lượng rừng trồng với chất lượng gỗ tốt nhất, đáp ứng yêu cầu về nguyên liệu để phát triển ngành

- Trong lĩnh vực chọn, tạo giống: đã nghiên cứu chọn, tạo các giống cây nguyên liệu giấy quý hiếm từ một số loài, xuất xứ và dòng ưu trội có năng suất cao, có khả năng chống chọi sâu bệnh hại

Trang 23

- Trong lĩnh vực nhân giống: Tổng Công ty Giấy Việt Nam đã ứng dụng công nghệ sinh học (sử dụng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật và dâm hom) để nhân nhanh các dòng ưu trội, chuyển giao công nghệ cho các đơn

vị sản xuất để nhanh chóng mở rộng diện tích trồng rừng nguyên liệu giấy trong phạm vi toàn quốc

- Đã nghiên cứu thành công và tạo được nhiều giống cây nguyên liệu giấy có năng suất, chất lượng tốt và được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận 11 giống và xuất xứ tiến bộ kỹ thuật đưa vào trồng rừng công nghiệp năng suất cao Bao gồm: 8 giống bạch đàn (PN2, PN14, PN3d, PN10, PN46, PN47, PN54, PN16) 3 dòng keo lai (KL2, KL20, KTTA3) và 2 xuất sứ keo tai tượng

- Năm 2005 đã chuyển giao công nghệ, quy trình kỹ thuật và kết quă nghiên cứu các giống mới cho 25 đơn vị, đã trồng được gần 3 000 ha rừng mới tại các khu vực thuộc vùng Bắc bộ, vùng Đông bắc, vùng Bắc trung bộ

ở quy mô công nghiệp và mang lại lợi ích cho nhiều cơ sở sản xuất cây giống ở nhiều địa phương trong cả nước

3.1.3 Những tồn tại trong ngành Giấy:

- Ngành giấy Việt Nam có trình độ công nghệ thấp, đầu tư còn phân tán, quy mô nhỏ Trừ một số công ty lớn còn lại thiết bị chủ yếu mang thương hiệu Trung Quốc, Đài Loan Năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh thấp

- Sản phẩm ngành giấy còn có hàm lượng công nghệ gia tăng thấp, giá thành cao, thương hiệu, uy tín và khả năng cạnh tranh của sản phẩm còn kém

- Đội ngũ nhân lực có tỷ lệ đào tạo chính quy, bài bản rất thấp Năng lực quản lý và điều hành chưa cao, thiếu khả năng thích ứng với công nghệ mới

và quy mô sản xuất lớn

- Do nguyên nhân khó khăn về tiềm lực kỹ thuật và vốn mà sự phát triển sản xuất của ngành giấy hiện nay có sự mất cân đối giữa năng lực sản xuất bột giấy và giấy Toàn ngành hiện nay chỉ sản xuất được 175.000 tấn bột các loại Lượng bột thiếu hụt được nhập khẩu và sử dụng giấy phế liệu

3.1.4 Kiến nghị về công nghệ nhằm tăng trưởng cho ngành giấy

Ngành giấy muốn đạt mục tiêu tăng trưởng cần chú trọng đầu tư trang thiết bị hiện đại, cụ thể:

a) Công nghệ sản xuất bột

Trang 24

Chỉ nên đầu tư các nhà máy có công suất không dưới 1.500 tấn bột/năm đối với nhà máy liên hợp bột và giấy không dưới 250.000 tấn/năm Sử dụng các công nghệ tiên tiến trên thế giới

b) Công nghệ sản xuất giấy

- Nếu đầu tư nhà máy mới thì công suất lựa chọn không dưới 100.000 tấn/ năm Nếu hội tụ được các điều kiện thuận lợi thì nên đầu tư nhà máy lien hợp sản xuất cả bột và giấy để nâng cao hiệu quả

- Về công nghệ chuẩn bị bột cần chú trọng lựa chọn xu hướng sử dụng các thiết bị đánh tơi bột (nghiền thủy lực) nồng độ cao đối với nhà máy sử dụng bột nguyên sinh và sử dụng thiết bị kiểu tang trống (fi-flow) cho sử lý giấy phế liệu Lựa chọn các thiết bị sang bột đa tác dụng để tiết kiệm điện năng và mặt bằng sản xuất

- Công nghệ xeo giấy: Nên lựa chọn các loại máy xeo thế hệ mới trong

đó chú trọng các khâu: hòm phun lưới và ép đảm bảo tính chất giấy hình thành, độ khô sau ép và tốc độ cao của máy xeo giảm các định mức tiêu hao sản xuất

- Công nghệ tự động hóa DCS, QCS đảm bảo duy trì ổn định chạy máy

và chất lượng sản phẩm, rút ngắn thời gian khởi chạy máy, giảm thời gian dừng máy do đứt giấy gây ra

c) Phát triển sản phẩm mới

Ngành giấy hiện nay chỉ sản xuất được một số sản phẩm chính Trong tương lai cần chú trọng nghiên cứu công nghệ sản xuất các sản phẩm mới

mà kinh nền kinh tế đang có nhu cầu, đó là:

- Phát triển công nghệ bột cơ học,

- Phát triển sản phẩm các lợi giấy và các tông có tráng phủ,

- Đầu tư một số công nghệ sản xuất các loại giấy kỹ thuật,

- Phát triển công nghệ tái chế giấy phế liệu làm nguyên liệu sản xuất giấy

- Tăng nguồn nguyên liệu cho ngành sản xuất giấy từ phế liệu nhập khẩu

d) Phát triển nguồn cây nguyên liệu giấy

- Tiếp tục nghiên cứu ra những giống cây nguyên liệu giấy có năng suất cao, chất lượng tốt Tiếp tục cải tiến quy trình thâm canh rừng cho năng suất rừng và chất lượng gỗ tốt, đáp ứng được yêu cầu về sản lượng cũng như chất lượng nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp giấy

3.2 Nhu cầu phế liệu giấy cho ngành công nghiệp sản xuất giấy Việt Nam

Ngày đăng: 15/04/2014, 09:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Bảo vệ môi trường Khác
4. Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về việc Quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài Khác
5. Thông tư liên tịch số 02/2007/TTLT-BCT-BTNMT ngày 30 tháng 8 năm 2007 hướng dẫn thực hiện Điều 43 Luật Bảo vệ môi trường về tiêu chuẩn điều kiện kinh doanh nhập khẩu phế liệu Khác
6. Luật sửa đổi một số điều của Luật hải quan của Quốc hội nước cộng hoà ax hôi chủ nghĩa Việt Nam số 42/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 Khác
7. Một số Dự thảo của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định điều kiện kinh doanh nhập khẩu phế liệu và Dự thảo Quy chuẩn phế liệu thép, nhựa, giấy Khác
8. Đánh giá trình độ công nghệ sản xuất các ngành Thép, Giấy, Nhựa - Bộ Công Nghiệp 2004 Khác
9. Dự thảo Quy hoạch phát triển ngành Nhựa Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2025 - Bộ Công Thương, 2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm