Mục lục Trang Danh mục các chữ viết tắt Danh mục bảng biểu Chương 1 CÁC ĐIỀU KHOẢN CỦA WTO VỀ TRƯỜNG HỢP NGOẠI LỆ ĐƯỢC SỬ DỤNG BIỆN PHÁP HẠN CHẾ THƯƠNG MẠI LIÊN QUAN ĐẾN CÁN CÂN THA
Trang 1VIỆN NGHIấN CỨU THƯƠNG MẠI
-
Bỏo cỏo tổng kết đề tài cấp Bộ:
Nghiên cứu các điều khoản về trường hợp
ngoại lệ liên quan đến cán cân thanh toán
của WTO và vận dụng vào Việt Nam
nhằm hạn chế nhập siêu
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Trần Công Sách
8361
Hà Nội 12 - 2009
Trang 2VIỆN NGHIấN CỨU THƯƠNG MẠI
-
Bỏo cỏo tổng kết đề tài cấp Bộ:
Nghiên cứu các điều khoản về trường hợp
ngoại lệ liên quan đến cán cân thanh toán
của WTO và vận dụng vào Việt Nam
nhằm hạn chế nhập siêu
(Thực hiện theo hợp đồng số: 041.09.RD/HĐ giữa Bộ Cụng Thương
và Viện Nghiờn cứu thương mại ngày 25 thỏng 2 năm 2009)
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Trần Công Sách
Các thành viên chính: - ThS Lương Hoàng Thái
- CN Bùi Quang Chiến
Trang 3Mục lục
Trang Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu
Chương 1 CÁC ĐIỀU KHOẢN CỦA WTO VỀ TRƯỜNG HỢP NGOẠI LỆ ĐƯỢC
SỬ DỤNG BIỆN PHÁP HẠN CHẾ THƯƠNG MẠI LIÊN QUAN ĐẾN
CÁN CÂN THANH TOÁN
5
1.1 Cán cân thanh toán và các điều khoản của WTO về trường hợp
ngoại lệ được sử dụng biện pháp hạn chế thương mại để bảo vệ cán
cân thanh toán
5
1.1.1 Khái quát chung về cán cân thanh toán và bản chất khó khăn của cán
1.1.2 Tổng quan các điều khoản của WTO về trường hợp ngoại lệ được sử
dụng biện pháp hạn chế thương mại để bảo vệ cán cân thanh toán 11
1.1.3 Tổng hợp và phân tích các nội dung, điều kiện, nguyên tắc vận dụng
các điều khoản của WTO về trường hợp ngoại lệ được sử dụng biện
pháp hạn chế thương mại để bảo vệ cán cân thanh toán
25
1.2 Các điều khoản của WTO về các ngoại lệ có thể được sử dụng biện
pháp hạn chế thương mại, nhưng không nhằm mục đích bảo vệ cán
cân thanh toán
28
Chương 2 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI TRONG VẬN
DỤNG CÁC ĐIỀU KHOẢN CỦA WTO VỀ TRƯỜNG HỢP NGOẠI LỆ
ĐỂ BẢO VỆ CÁN CÂN THANH TOÁN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
35
2.1 Khái quát chung về tình hình vận dụng các điều khoản của WTO về
trường hợp ngoại lệ để bảo vệ cán cân thanh toán
35
2.2 Kinh nghiệm của một số nước đã vận dụng các điều khoản của
WTO về trường hợp ngoại lệ trong sử dụng biện pháp hạn chế
thương mại để bảo vệ cán cân thanh toán
37
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước đã vận dụng thành công Điều XII của GATT trong sử dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu 37
2.2.1.1 Kinh nghiệm của Bungaria về vận dụng thành công Điều XII của GATT
trong sử dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu, cải thiện được cán cân
thanh toán
37
2.2.1.2 Kinh nghiệm của Hungary về vận dụng thành công Điều XII của GATT
trong sử dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu, cải thiện được cán cân
thanh toán
42
Trang 42.2.1.3 Kinh nghiệm của Slovakia về vận dụng thành công Điều XII của GATT
trong sử dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu, cải thiện được cán cân
thanh toán, nâng được mức dự trữ ngoại hối
45
2.2.1.4 Kinh nghiệm của Rumani về vận dụng thành công Điều XII của GATT
trong sử dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu, cải thiện được cán cân
thanh toán
47
2.2.1.5 Kinh nghiệm của Nam Phi về vận dụng thành công Điều XII của GATT
trong sử dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu, cải thiện được cán cân
thanh toán và nâng mức dự trữ ngoại tệ
49
2.2.2 Kinh nghiệm của một số nước đã vận dụng thành công Điều XVIII.B
của GATT trong sử dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu 50
2.2.2.1 Kinh nghiệm của Bănglađét về vận dụng thành công Điều XVIII.B của
GATT trong sử dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu đối với hàng nông
nghiệp
50
2.2.2.2 Kinh nghiệm của Ai Cập về vận dụng Điều XVIII.B của GATT trong sử
dụng biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu hàng dệt may và gia cầm 522.2.2.3 Kinh nghiệm của Ixraen về vận dụng Điều XVIII.B của GATT trong sử
dụng biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu hàng nông nghiệp 542.2.2.4 Kinh nghiệm của Pakixtan về vận dụng Điều XVIII.B của GATT trong sử
dụng biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu hàng may mặc 562.2.2.5 Kinh nghiệm của Philipin về vận dụng Điều XVIII.B của GATT trong sử
dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu ô tô và linh kiện ô tô, dầu khí và
hàng nông nghiệp
58
2.2.2.6 Kinh nghiệm của Srilanka, của Nigiênia, Thổ Nhĩ Kì về vận dụng Điều
XVIII.B của GATT trong sử dụng hạn chế biện pháp nhập khẩu đối với
hàng nông nghiệp, khoáng sản, ô tô
60
2.2.3 Kinh nghiệm của một số nước đã vận dụng không thành công Điều
XVIII.B và Điều XX của GATT trong áp dụng biện pháp hạn chế
nhập khẩu
64
2.2.3.1 Kinh nghiệm của Ấn Độ về vận dụng không thành công Điều XVIII.B
của GATT trong áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu 642.2.3.2 Kinh nghiệm của Malayxia về vận dụng không thành công Điều XVIII.B
2.2.3.3 Kinh nghiệm của Thái Lan đã vận dụng không thành công Điều khoản
XX.B của GATT trong sử dụng biện pháp nhập khẩu 74
2.3 Một số bài học rút ra cho Việt Nam từ kinh nghiệm nước ngoài về
vận dụng các điều khoản của WTO trong áp dụng biện pháp hạn
chế thương mại vì mục đích cán cân thanh toán
77
Chương 3 KHẢ NĂNG, ĐIỀU KIỆN, CÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG
CÁC ĐIỀU KHOẢN CỦA WTO VỀ TRƯỜNG HỢP NGOẠI LỆ LIÊN
QUAN ĐẾN CÂN THANH TOÁN NHẰM HẠN CHẾ NHẬP SIÊU CỦA
VIỆT NAM
86
Trang 53.1 Khái quát về nhập siêu, về cán cân thanh toán quốc tế và quan hệ
tương tác giữa tính trạng nhập siêu với cán cân thanh toán của Việt
Nam
86
3.1.1 Khái quát về nhập siêu của Việt Nam 863.1.2 Khái quát về cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam 913.1.3 Quan hệ tương tác giữa tình trạng nhập siêu và cán cân thanh toán quốc
3.2 Quan điểm và phương hướng vận dụng các điều khoản của WTO về
trường hợp ngoại lệ liên quan đến cán cân thanh toán nhằm kiềm
chế nhập siêu của Việt Nam
104
3.2.1 Quan điểm vận dụng các điều khoản của WTO liên quan đến cán cân
thanh toán nhằm kiềm chế nhập siêu của Việt Nam 1043.2.2 Phương hướng vận dụng các điều khoản của WTO liên quan đến cán
3.3 Khả năng, điều kiện, cách thức và giải pháp vận dụng các điều
khoản về sử dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu với lý do bảo vệ cán
cân thanh toán nhằm hạn chế nhập siêu của Việt Nam hiện nay
114
Trang 6Mở đầu
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài:
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) về bản chất là một diễn đàn thương lượng đa phương để tạo ra thể chế pháp lý điều tiết các mối quan hệ kinh tế - thương mại quốc tế mang tính toàn cầu, tạo ra cơ chế pháp lý điều chỉnh chính sách thương mại trong các lĩnh vực thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ nhằm điều chỉnh hoạt động kinh tế - thương mại toàn cầu hướng theo qui tắc về lợi thế so sánh và cạnh tranh công bằng Vì thế, các định chế pháp lý của WTO liên quan trực tiếp (hoặc gián tiếp) tới tất cả các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của các quốc gia thành viên, trước hết là liên quan đến các luồng trao đổi hàng hoá, dịch vụ và luồng vốn giữa một nước với các nước khác trên thế giới trong những thời kỳ nhất định Nói cách khác, các định chế của WTO tác động mạnh đến sự hình thành và điều tiết cán cân thanh toán quốc tế, đặc biệt là cán cân thanh toán vãng lai (mà bộ phận chủ yếu là cán cân thương mại) của các quốc gia thành viên với phần còn lại của thế giới Do thâm hụt cán cân thanh toán (có nhiều nguyên nhân) có thể gây ra nhiều tác động tiêu cực đến nền kinh tế quốc gia, nên WTO có đưa ra một số qui định cho phép các thành viên được sử dụng một số biện pháp hạn chế thương mại trong trường hợp quốc gia gặp khó khăn về cán cân thanh toán như là những trường hợp ngoại lệ Trên thực
tế, một số thành viên của WTO đã nghiên cứu, khai thác tốt các điều khoản của WTO về trường hợp ngoại lệ liên quan đến cán cân thanh toán để tìm ra các giải pháp thiết lập và điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế, nhất là cán cân thương mại của quốc gia theo hướng có lợi nhất cho lợi ích dân tộc Do đó, trong bối cảnh Việt Nam đang trong tình trạng thâm hụt cán cân thương mại, thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai, tỷ lệ nhập siêu rất cao so với KNXK (năm 2007 tỷ lệ nhập siêu so với KNXK là 29,1%, năm 2008 tỷ lệ này là 26,8%) thì việc nghiên cứu các điều khoản về trường hợp ngoại lệ liên quan đến cán cân thanh toán trong các Hiệp định WTO cũng như nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong việc vận dụng và tận dụng các điều khoản đó để điều chỉnh cán cân thanh toán theo hướng có lợi nhất sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm ra các giải phỏp nhằm hạn chế nhập siêu Đây cần được xác định là một trong những phương thức để chủ động điều chỉnh các mối quan hệ thương mại song phương và đa phương để hạn chế nhập siêu, xác lập cán cân thương mại hợp lý, phù hợp với các qui định của WTO
Trang 7Từ GATT 1947 đến GATT 1994 của WTO là sự tiếp tục, kế thừa và bổ sung hoàn thiện, nhưng về cơ bản GATT 1994 không có sự khác biệt về nguyên tắc với GATT 1947 Trong đó, nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT) là một trong bốn nguyên tắc nền tảng của WTO (tối huệ quốc, đãi ngộ quốc gia,
mở cửa thị trường và cạnh tranh công bằng), được qui định tại điểu III Hiệp định GATT, điều 127 hiệp định GATS và điều 13 Hiệp định TRIPs Nguyên tắc NT được hiểu là hàng hoá NK, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài phải được đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hoá cùng loại trong nước Các nước thành viên WTO về nguyên tắc không được áp dụng những hạn chế số lượng NK và XK (điều XI của GATT: loại bỏ hoàn toàn các hạn
chế định lượng), trừ những ngoại lệ được qui định rõ ràng trong các hiệp định
WTO Trong Hiệp định GATT, các trường hợp ngoại lệ cụ thể: để bảo vệ cán
cân thanh toán (điều XII, điều XV và XVIII.B); nhằm mục đích bảo vệ ngành
công nghiệp non trẻ trong nước (điều XVIII.C);các biện pháp khẩn cấp đối với nhập khẩu các sản phẩm nhất định (điều XIX);các ngoại lệ chung (điều XX) và
vì lý do an ninh quốc gia (điều XXI) Trong đó, WTO cũng qui định cụ thể về
các điều kiện áp dụng, thời hạn áp dụng và cách thức áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại Việc nghiên cứu kỹ lưỡng nội dung và nguyên tắc áp dụng các điều khoản của WTO liên quan đến cán cân thanh toán để tìm ra các cách thức, biện pháp hạn chế nhập khẩu phù hợp với qui định của WTO sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với việc hạn chế nhập siêu của Việt Nam hiện nay
Ở Việt Nam, đến nay, đã có một vài công trình khoa học nghiên cứu bước đầu về cán cân thanh toán quốc tế (ví dụ đề tài cấp Bộ: “Cán cân thanh toán quốc tế và mối quan hệ của nó với tỷ giá hối đoái và chính sách kinh tế đối ngoại”, MS 1992-1993 của TS Nguyễn Đình Tài và tập thể tác giả), về cán cân thương mại của Việt Nam (ví dụ đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu cán cân thương mại trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá ở Việt Nam” của PGS TS Nguyễn Văn Lịch và tập thể tác giả) Và đề tài: "Nhập siêu và các giải pháp kiềm chế nhập siêu” do CN Nguyễn Thành Biên làm chủ nhiệm cũng đã bước đầu nêu ra vấn đề vận dụng các điều khoản của WTO liên quan đến cán cân thanh toán nhằm kiềm chế nhập siêu Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu trực diện và chuyên sâu về các điều khoản của WTO về trường hợp ngoại lệ liên quan đến cán cân thanh toán, kinh nghiệm vận dụng
Trang 8của các nước trên thế giới và khả năng, cách thức vận dụng của Việt Nam nhằm hạn chế nhập siêu
Với những lý do nêu trên, việc thực hiện đề tài : “Nghiên cứu các điều khoản của WTO về các trường hợp ngoại lệ liên quan đến cán cân thanh toán và vận dụng vào Việt Nam nhằm hạn chế nhập siêu" là rất cần thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là: Làm rõ các qui định của WTO trong các điều khoản về trường hợp ngoại lệ được sử dụng biện pháp hạn chế thương mại
để bảo vệ cán cân thanh toán; kinh nghiệm của một số nước về vận dụng các điều khoản đó; trên cơ sở đó, luận giải khả năng, điều kiện, cách thức và giải pháp vận dụng của Việt Nam nhằm hạn chế nhập siêu
3 Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các qui định của WTO tại các điều khoản về trường hợp ngoại lệ được sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại để bảo vệ cán cân thanh toán, kinh nghiệm của một số nước trong việc vận dụng các qui định đó và luận giải khả năng, điều kiện, cách thức áp dụng, giải pháp áp dụng của Việt Nam
- Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
+ Đề tài không đi sâu nghiên cứu về cán cân thanh toán quốc tế mà chỉ nghiên cứu xác định bản chất, nguyên nhân và ảnh hưởng tiêu cực của thâm hụt cán cân thanh toán đối với nền kinh tế quốc gia, từ đó xác định vấn đề: Cán cân thanh toán của một quốc gia được coi là gặp khó khăn Mặt khác, chỉ đánh giá khái quát thực trạng cán cân thanh toán của Việt Nam để làm căn cứ xác định mức độ đáp ứng các điều kiện của WTO để áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu thời gian tới
+ Đề tài không nghiên cứu tất cả các qui định trong các hiệp định của WTO
về trường hợp các thành viên được sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại mà chỉ nghiên cứu các điều khoản về trường hợp ngoại lệ liên quan đến cán cân thanh toán được qui định trong Hiệp định GATT 1994 của WTO Trong đó tập trung nghiên cứu các qui định tại Điều XII, Điều XV và Điều XVIII.B về sử dụng biện pháp hạn chế thương mại để bảo vệ cán cân thanh toán khi gặp khó khăn
+ Trọng tâm của đề tài là nghiên cứu các nội dung, điều kiện và khả năng vận dụng, cách thức và giải pháp vận dụng cỏc điều khoản của GATT về trường
Trang 9hợp ngoại lệ liên quan đến cán cân thanh toán nhằm hạn chế nhập siêu của Việt Nam
+ Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước đã tận dụng các qui định trong các điều khoản về trường hợp ngoại lệ của hiệp định GATT để thực hiện các biện pháp hạn chế thương mại nhằm bảo vệ cán cân thanh toán khi bị thâm hụt và gặp khó khăn Một số nước cụ thể, gồm: ấn Độ, Bulgaria, Hungary, Nam Phi, Banglađét, Ai Cập, , Ixraen, Nigiêria, Pakixtan, Philipin, Thái Lan, Srilanca, Tuynidi, Thổ Nhĩ Kỳ, Slovakia, Romania trong đó, xác định rõ hoàn cảnh áp dụng, biện pháp áp dụng, cách thức áp dụng
4 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn và một số phương pháp cụ thể như khái quát hoá, phân tích tổng hợp, chứng minh, thống kê, so sánh trong nghiên cứu các nội dung cụ thể của đề tài
5 Kết cấu chung của Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Các điều khoản của WTO về trường hợp ngoại lệ được sử dụng
biện pháp hạn chế thương mại liên quan đến cán cân thanh toán
Chương 2: Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong vận dụng các
điều khoản của WTO về trường hợp ngoại lệ để bảo vệ cán cân thanh toán và bài học cho Việt Nam
Chương 3: Khả năng, điều kiện, cách thức và giải pháp vận dụng các điều
khoản của WTO về trường hợp ngoại lệ liên quan đến cán cân thanh toán nhằm
hạn chế nhập siêu của Việt Nam
Trang 10Chương 1 CÁC ĐIỀU KHOẢN CỦA WTO VỀ TRƯỜNG HỢP NGOẠI LỆ ĐƯỢC SỬ DỤNG BIỆN PHÁP HẠN CHẾ THƯƠNG MẠI
LIÊN QUAN ĐẾN CÁN CÂN THANH TOÁN
1.1 Cán cân thanh toán và các điều khoản của WTO về trường hợp ngoại
lệ được sử dụng biện pháp hạn chế thương mại để bảo vệ cán cân thanh toán
1.1.1 Khái quát chung về cán cân thanh toán và bản chất khó khăn của cán
cân thanh toán cần được bảo vệ
• Cán cân thanh toán quốc tế (gọi tắt là cán cân thanh toán) – theo định
nghĩa của IMF – là một bảng thống kê cho một thời kỳ nhất định (thường là
1 năm) trình bày: a) Các luồng trao đổi hàng hóa, dịch vụ và thu nhập giữa nền kinh tế trong nước và thế giới bên ngoài; b).Những thay đổi về quyền
sở hữu và những thay đổi khác về vàng, quyền vay vốn đặc biệt (SDR) trong nền kinh tế, những khoản có và khoản nợ của nước đó với các nước khác trên thế giới; và c) Những khoản chuyển tiền không phải bồi hoàn và những khoản thu nhập tương đương cần phải cân bằng1
Theo IMF, cán cân thanh toán (International balance of payment) gồm hai tài khoản chính là cán cân tài khoản vãng lai (gọi tắt là tài khoản vãng
lai) và cán cân tài khoản vốn Tài khoản vãng lai (current account) ghi nhận
tất cả các giao dịch có liên quan đến việc di chuyển hàng hóa, dịch vụ, thu nhập từ đầu tư và di chuyển đơn phương giữa những người cư trú và những người không cư trú (gồm 3 hạng mục: xuất khẩu, nhập khẩu và dịch chuyển đơn phương ròng) Tổng của xuất khẩu hàng hóa và nhập khẩu hàng hóa
được gọi là cán cân thương mại hữu hình (visible balance) hay xuất khẩu
hàng hóa ròng (net export) Tổng của xuất khẩu dịch vụ và nhập khẩu dịch
vụ cộng với thu nhập từ đầu tư ròng (thu nhập từ đầu tư trừ đi thanh toán
cho đầu tư) được gọi là cán cân thương mại vô hình (invisible balance) Tài
khoản vốn ghi nhận tất cả các giao dịch có liên quan đến sự dịch chuyển
1 IMF “Sổ tay cán cân thanh toán” , Biance payment Manual 5, 1993
Trang 11vốn giữa những người cư trú và những người không cư trú Nó bao gồm dòng vốn chảy vào trong nước và dòng vốn chảy ra nước ngoài Ngoài hai tài khoản chính đã nêu thì những sai số, bỏ sót và không chính xác trong thống kê luôn luôn tồn tại trong cán cân thanh toán do những nguyên nhân khác nhau (các giao dịch bất hợp pháp như buôn lậu, rửa tiền; những khác nhau về nguồn số liệu của Hải quan và Ngân hàng; để trốn thuế, nhiều giao dịch bị đánh giá thấp hơn giá trị của nó…)
Trong cán cân thanh toán quốc tế, cán cân tài khoản vãng lai và cán cân tài
khoản vốn gọi là cán cân cơ bản (basic balance), cũng được gọi là khoản
mục tự định Riêng dòng vốn ngắn hạn ròng cộng với những khoản thay đổi
trong dự trữ chính thức được gọi là khoản mục cân bằng Cán cân quyết
toán chính thức (settlement balance) là phép cộng đại số của khoản mục tự
định và khoản mục cân bằng Tuy nhiên, đến nay do khó xác định động cơ của một số giao dịch, các nhà kinh tế còn có những quan niệm khác nhau
về số thặng dư hay thâm hụt cán cân thanh toán Chẳng hạn, dòng vốn ngắn hạn chảy vào trong nước với mục đích tài trợ cho việc nhập khẩu hàng hóa
và dịch vụ sẽ được ghi nhận trong khoản mục cân bằng, nhưng nếu dòng vốn đó chảy vào trong nước với mục đích tìm kiếm lãi suất cao do lãi suất trong nước cao hơn so với lãi suất thế giới thì giao dịch đó lại được ghi nhận trong khoản mục tự định
Tóm lại, Cán cân thương mại = Xuất khẩu hàng hóa – Nhập khẩu hàng hóa; Cán cân tài khoản vãng lai = cán cân thương mại hữu hình + cán cân thương mại vô hình + dịch chuyển đơn phương ròng; Cán cân cơ bản = cán cân tài khoản vãng lai + cán cân tài khoản vốn; Cán cân quyết toán chính thức = cán cân cơ bản + sai số, bỏ sót và không chính xác trong thống kê + cán cân giao dịch dự trữ chính thức
Đối với các nền kinh tế đang phát triển, do xuất nhập khẩu dịch vụ chưa phát triển nên trạng thái của cán cân thương mại (thâm hụt hay thặng dư) có vai trò rất lớn trong cán cân tài khoản vãng lai Do tài khoản vãng lai biểu thị dòng thu nhập của một nước nên nếu thu nhập từ xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ ( bao gồm cả dịch vụ sử dụng vốn) và dịch chuyển đơn phương vào trong nước (người không cư trú chuyển tiền cho người cư trú; trả lương cho người cư trú, viện trợ quốc tế…) lớn hơn những khoản phải thanh toán cho nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ và dịch chuyển đơn phương ra nước ngoài thì cán cân vãng lai sẽ thặng dư; và, ngược lại thì tài khoản vãng lai sẽ thâm
Trang 12hụt Nguyên tắc bút toán của cán cân thanh toán quốc tế cho thấy, thặng dư hay thâm hụt tài khoản vãng lai được cân bằng bởi thâm hụt hay thặng dư của tài khoản vốn Mặt khác, tuy nhập siêu không hoàn toàn đống nhất với mức thâm hụt cán cân thương mại nhưng khi nhập siêu kéo dài và tăng cao thường là nguyên nhân chủ yếu của thâm hụt cán cân vãng lai, cán cân thanh toán
Theo Nghị định số 164/1999/ NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về quản lý cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam – Cán cân thanh toán là bảng tổng hợp có hệ thống toàn bộ các chỉ tiêu về giao dịch kinh tế giữa người cư trú và người không cư trú2 trong một thời kỳ nhất định Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan chịu trách nhiệm chủ trì lập, theo dõi
và phân tích cán cân thanh toán
• Cán cân thanh toán của một quốc gia được coi là gặp khó khăn (hay thâm
hụt) nếu quốc gia đó phải thanh toán nhiều hơn là nhận được từ nước ngoài Mặc dù thâm hụt cán cân thanh toán trong một hoặc hai năm chưa gây nên hậu quả quá lớn cho nền kinh tế nhưng nếu thâm hụt kéo dài sẽ khiến cho quốc gia lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán và có thể dẫn đến tình trạng sụp đổ cả nền kinh tế Do vậy, khi một nước bị thâm hụt cán cân thanh toán, các chuyên gia kinh tế cho rằng, nước này có những dấu hiệu bất ổn đối với tình hình kinh tế vĩ mô
Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng khó khăn về cán cân thanh toán, bao gồm các nguyên nhân nội tại của nền kinh tế và bên ngoài nền kinh tế Các nguyên nhân nội tại có thể là một vài vụ thu hoạch nông sản thất bại nếu nông sản đóng góp chủ yếu vào kim ngạch xuất khẩu (XK) của quốc gia hoặc có thể do chính sách phá giá đồng nội tệ của Chính phủ Nguyên nhân bên ngoài có thể bao gồm những biến động giá cả, gián đoạn nguồn cung trên thị trường thế giới hoặc do hàng nhập khẩu tràn vào ồ ạt sau khi cắt giảm thuế quan, tự do hóa thương mại… gây ra nhập siêu lớn, làm thâm hụt nặng nề tài khoản vãng lai Về mặt lý thuyết, xét theo mục đích, nhập siêu của các nền kinh tế thường ở bốn dạng thái chủ yếu: nhập siêu để tăng trưởng, nhập siêu để tiêu dùng, nhập siêu chu kỳ và nhập siêu lợi thế so sánh
2 Người cư trú được hiểu là những thể nhân hoặc pháp nhân cư trú đang ở quốc gia được xét lâu hơn 1 năm, không phụ thuốc vào quốc tịch của họ
Trang 13Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, do khả năng tài chính đầu tư ra nước ngoài còn nhiều hạn chế, để tiến hành công nghiệp hóa thường phải khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài, nên nếu thâm hụt cán cân thanh toán thì thường là do thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai, chủ yếu do cán cân thương mại chi phối, khi đó, thâm hụt cán cân thương mại là thành tố chính tạo nên thâm hụt tài khoản vãng lai
Trường phái kinh tế tân cổ điển cho rằng, đường lối công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu được hầu hết các nước đang phát triển thực hiện cho
đến đầu những năm 70 đã tạo ra những bất hợp lý và ảnh hưởng xấu đến cơ cấu thương mại nói riêng, cán cân thanh toán vãng lai nói chung Họ cho rằng, có 4 nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai của các nước là: 1) Mức bảo hộ quá cao kết hợp với cơ cấu bảo hộ bất hợp
lý (chủ yếu bảo hộ hàng công nghiệp tiêu dùng) đã làm cho giá cả trong nước cao hơn giá trên thị trường quốc tế nên không khuyến khích các nhà sản xuất đẩy mạnh XK mà ngược lại, các nhà sản xuất được khuyến khích việc nhập khẩu các nguyên liệu và máy móc để sản xuất các mặt hàng công nghiệp tiêu dùng, do đó nhu cầu về chi tiêu ngoại tệ có thể vượt quá khả năng cung ứng 2) Việc duy trì tỷ giá và lãi suất thấp trong một thời gian dài đã không phản ảnh đúng giá của tiền tệ và tiền vốn nên một mặt làm thui chột khả năng cạnh tranh và xuất khẩu; mặt khác, khuyến khích nhập khẩu và các nhà doanh nghiệp xây dựng nhà máy với qui mô lớn, sử dụng nhiều vốn trái với lợi thế so sánh của các Nhà nước đang phát triển, cùng với hiện tượng sử dụng năng lực sản xuất không hết công suất cũng trở nên phổ biến 3) Qui mô của khu vực kinh tế Nhà nước nhanh chóng mở rộng vượt ngoài khả năng chi tiêu của Nhà nước, một phần không nhỏ chi tiêu của Nhà nước đã phải dựa vào phần vốn vay của nước ngoài với lãi suất cao, các doanh nghiệp Nhà nước phải gánh chịu phần chủ yếu nợ nước ngoài nhưng lại hoạt động kém hiệu quả làm cho khả năng trả nợ xấu thêm, gây ảnh hưởng xấu tới thâm hụt cán cân thanh toán 4) Chính sách tiền tệ lỏng lẻo trở thành nguồn gốc tạo nên nguồn vốn bù đắp bội chi ngân sách của Chính phủ đã góp phần mở rộng thêm sự thâm hụt cán cân thanh toán
Do đó, để cải thiện cán cân thanh toán vãng lai, khắc phục tình trạng nhập
Trang 14siêu và thiết lập lại cân bằng cán cân thương mại của nền kinh tế, cần thực hiện 5 cách thức chủ yếu sau:
- Thắt chặt cung ứng tiền tệ, giảm chi tiêu của ngân sách Nhà nước
- Phá giá đồng tiền nội để khuyến khích tận dụng năng lực sản xuất cho nhập khẩu và thay thế nhập khẩu
- Tự do hoá giá cả, đặc biệt là giá sản phẩm nông nghiệp; và nâng lãi suất
để khuyến khích tăng tiết kiệm, tăng đầu tư (theo quan niệm trường phái kinh tế này thì tiết kiệm và đầu tư luôn cân bằng)
- Tự do hoá thương mại, thực sự khuyến khích xuất khẩu, tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước
Trường phái kinh tế cơ cấu cho rằng, hiện tượng nhập siêu và thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai của các nước đang phát triển là khó tránh
khỏi do những nguyên nhân khách quan từ trong nội tại của nền kinh tế các nước này và những yếu tố bất lợi trên thị trường quốc tế Có 4 lý do chủ yếu sau: 1) Nền kinh tế các nước đang phát triển phụ thuộc nặng nề vào bên ngoài về máy móc, thiết bị, công nghệ sản xuất và một phần quan trọng là các nguyên liệu cơ bản (kể cả dầu mỏ), cho nên nhập khẩu ở qui mô lớn không chỉ là điều kiện tiên quyết để phát triển, mà còn để duy trì sự sản xuất bình thường của các nước đang phát triển 2) Trong điều kiện khả năng xuất khẩu còn ở mức hạn chế do tính giới hạn của xuất khẩu nông sản
và các nguyên liệu thô là những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của nền kinh
tế, độ nhạy cảm về cung của những mặt hàng này là rất nhỏ bé thì những biện pháp nhằm tăng cường cho XK như phá giá đồng tiền, tăng đầu tư
sẽ không mang lại kết quả mong muốn, hoặc cần một thời gian khá dài 3) Điều kiện thương mại quốc tế và cạnh tranh thương mại toàn cầu ảnh hưởng bất lợi đối với các nước đang phát triển (cánh kéo giá cả nông sản và sản phẩm thô với hàng công nghiệp có hàm lượng kỹ thuật cao có xu hướng xoạc rộng; giá cả xuất khẩu hàng nông sản và nguyên liệu thô giảm tương đối ) đã làm cho cầu về những mặt hàng XK của các nước đang phát triển giảm xuống Điều đó không chỉ làm giảm giá mà còn làm giảm tương đối khối lượng sản phẩm XK từ các nước đang phát triển (William cline đã ước
Trang 15tính rằng, do sự xấu đi về điều kiện thương mại, các nước đang phát triển
đã mất đi khoảng 250 tỷ USD do giảm giá hàng XK và mất đi khoảng 114
tỷ USD do giảm về khối lượng XK trong thời gian từ 1973 đến 1982) Do thuế nhập khẩu chiếm một vị trí quan trọng trong tổng thu về thuế của ngân sách Nhà nước các nước đang phát triển nên giảm nhập khẩu để thu hẹp thâm hụt cán cân thương mại có thể sẽ làm giảm thu ngân sách và cũng có thể làm giảm sản xuất trong nước, từ đó ảnh hưởng xấu đến nguồn thu ngân sách Nhà nước 4) Trong cơ cấu kinh tế của các nước đang phát triển, hàm lượng nhập khẩu của các mặt hàng xuất khẩu thường khá lớn, do đó, giảm nhập khẩu cũng có thể làm giảm cả kim ngạch xuất khẩu của nước đó Như vậy, theo các nhà kinh tế cơ cấu thì khả năng tăng xuất khẩu ở các nước đang phát triển không thể tăng lên một cách nhanh chóng, và phụ thuộc vào cả khả năng nhập khẩu Mặt khác, nếu giảm nhập khẩu để cải thiện cỏn cõn thương mại lại làm tăng thâm hụt ngân sách và giảm kim ngạch xuất khẩu; hậu quả của nó không chỉ làm trầm trọng thêm thâm hụt cán cân thanh toán mà còn giảm cả nhịp độ tăng trưởng kinh tế, tăng thêm thất nghiệp Do đó, phương thức cơ bản để cải thiện cán cân thanh toán, giảm nhập siêu là tang d?u tu cú hi?u qu?, là điều kiện cho sự phát triển lâu dài của các nước đang phát triển Đầu tư có hiệu quả để thay đổi căn bản lợi thế so sánh là một trong những điều kiện tiên quyết để giải quyết vấn đề nhập siêu, thâm hụt cán cân thanh toán trong dài hạn của các nước đang phát triển
Hiện nay, trường phái kinh tế cơ cấu vẫn đang có ảnh hưởng rất lớn đối với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như IMF, W.B, ADB nên các nhà hoạch định chính sách kinh tế của Việt Nam chú trọng đến quan điểm này Theo các chuyên gia của WB thì yếu tố quan trọng gây ra thâm hụt cán cân thanh toán của các nước đang phát triển là đầu tư tăng cao nhưng hiệu quả đầu tư thấp, tỉ giá hối đoái ủng hộ nhập khẩu mà không khuyến khích XK, mức tiết kiệm thấp, thâm hụt ngân sách Chính phủ… dẫn đến thâm hụt kép: vừa thâm hụt tài khoản vãng lai lớn vừa thâm hụt ngân sách Chính phủ cũng lớn Và, đây là một trong những nguy cơ gây ra khủng hoảng kinh tế
Trang 16• Do khủng hoảng cán cân thanh toán có thể gây ra nhiều tác động tiêu cực
đến nền kinh tế quốc gia nên WTO có đưa ra một số quy định về trường
hợp ngoại lệ, cho phép các thành viên được áp dụng một số biện pháp hạn chế nhập khẩu trong trường hợp quốc gia gặp khó khăn về cán cân thanh
toán nhằm bảo vệ cán cân thanh toán của quốc gia
Trong khuôn khổ của WTO, có ba điều khoản chính được quy định tại Hiệp định GATT 1994 đề cập đến vấn đề cán cân thanh toán là: Điều XII, Điều
XV và Điểu XVIII.B Ngoài ra, WTO còn có một số tài liệu hỗ trợ cho việc diễn giải nội dung các điều khoản nói trên; Trong đó, đáng chú ý nhất là tài liệu về “Cách hiểu và các điều khoản bổ sung cho điều XVIII.B của GATT 1994”
Các điều khoản nói trên quy định về các điều kiện áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại tạm thời và cách thức áp dụng các biện pháp này trong trường hợp quốc gia thành viên gặp khó khăn về cán cân thanh toán
1.1.2 Tổng quan các điều khoản của WTO về trường hợp ngoại lệ được sử
dụng biện pháp hạn chế thương mại để bảo vệ cán cân thanh toán
* Điều XII của GATT 1994: Hạn chế để bảo vệ cán cân thanh toán:
Điều XII của GATT 1994 có 5 khoản mục quy định tính chất nguyên tắc sử dụng biện pháp hạn chế thương mại để bảo vệ cán cân thanh toán; các điều kiện
áp dụng, các yêu cầu phải tuân thủ khi áp dụng biện pháp hạn chế thương mại; cách thức áp dụng; các biện pháp bổ sung nhằm hạn chế những tác động bất lợi đối với thương mại quốc tế khi một thành viên áp dụng kéo dài biện pháp hạn chế
số lượng hạn chế số lượng dẫn tới sự mất cân bằng chung làm giảm khối lượng thương mại quốc tế Cụ thể như sau:
- Khoản 1, Điều XII quy định quyền của mỗi thành viên WTO và mục đích của
việc áp dụng biện pháp hạn chế thương mại: “Bất cứ bên ký kết nào, để bảo vệ tình hình tài chính đối ngoại và cán cân thanh toán, có thể hạn chế số lượng hay giá trị hàng hoá cho phép nhập khẩu”
Trang 17- Khoản 2, Điều XII quy định tính chất, nguyên tắc áp dụng, hình thức và các
điều kiện áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại nhằm bảo vệ cán cân thanh toán của quốc gia khi gặp khó khăn (Xem hộp 1) Trong đó, biện pháp hạn chế
thương mại được sử dụng trong trường hợp dự trữ ngoại hối bị suy giảm nghiêm
trọng, với mục đích ngăn chặn sự suy giảm hoặc/và nâng mức dự trữ ngoại hối lên mức hợp lý Nguyên tắc cơ bản của việc duy trì hay mở rộng biện pháp hạn
chế thương mại với mục đích nêu trên là không được vướt quá mức cần thiết và phải ưu tiên áp dụng những biện pháp dựa vào giá hơn so với biện pháp hạn chế định lượng
Hộp 1: Tính chất, hình thức và các điều kiện áp dụng biện pháp hạn chế thương mại nhằm bảo vệ cán cân thanh toán (trích khoản 2, Điều
XII của GATT 1994):
(a) Các hạn chế nhập khẩu được định ra, duy trì hay mở rộng theo quy định của điều khoản này sẽ không vượt quá mức cần thiết:
(i) Để ngăn ngừa mối đe doạ hay để ngăn chặn sự suy giảm nghiêm trọng dự trữ ngoại hối
(ii) Trong trường hợp một bên ký kết có dự trữ ngoại hối rất thấp, để
nâng dự trữ ngoại hối lên một mức hợp lý
Trong cả hai trường hợp cần có sự quan tâm đúng mức đến bất cứ nhân tố đặc biệt nào có thể tác động đến dự trữ hay nhu cầu về dự trữ của một bên
ký kết, trong đó có tín dụng đặc biệt vay nước ngoài hay những nguồn khác
có thể tiếp cận, nhu cầu sử dụng thích hợp tín dụng hay các nguồn đó
(b) Các bên ký kết khi áp dụng các hạn chế nêu tại mục (a) của khoản này
sẽ nới lỏng các hạn chế đó khi các điều kiện dẫn tới hạn chế được cải thiện, chỉ duy trì các hạn chế đó ở mức độ các điều kiện đã nêu tại điểm
đó còn chứng minh được sự cần thiết phải áp dụng Họ sẽ loại bỏ các hạn chế khi các điều kiện không còn chứng minh được việc định ra hay duy trì các biện pháp đó theo như quy định tại mục (a) đó
Theo mục b, khoản 2, Điều XII của GATT 1994 thì một trong những điều kiện tiên quyết để một nước thành viên WTO áp dụng biện pháp hạn chế thương
Trang 18mại nhằm bảo vệ cán cân thanh toán là phải chứng minh được sự cần thiết phải áp dụng biện pháp hạn chế để thực hiện một trong hai điều kiện: dự trữ ngoại hối của thành viên đó bị sụt giảm nghiêm trọng cần phải ngăn chặn; và, nâng dự trữ ngoại hối từ mức rất thấp lên một mức hợp lý Tức là, khi dự trữ ngoại hối của một thành viên không còn bị suy giảm nghiêm trọng hoặc dự trữ ngoại hối đã được nâng lên một mức hợp lý, thì thành viên đó không được duy trì các biện pháp hạn chế nhập khẩu nữa
- Khoản 3, Điều XII: quy định những yêu cầu có tính điều kiện ràng buộc trong
áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại khi cán cân thanh toán gặp khó khăn Trong đó:
• Các chính sách trong nước phải quan tâm đúng mức đến nhu cầu duy trì hoặc tạo lập lại sự cân bằng cán cân thanh toán trên một sơ sở lành mạnh và lâu dài;
• Để đạt mục đích trên, cần vận dụng các biện pháp có tính chất mở rộng
thương mại hơn là các biện pháp ngăn cản thương mại ;
• Khi áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại, cần xác định tác hại của các hạn chế đến việc nhập khẩu lên các nhóm sản phẩm hay sản phẩm khác nhau để ưu tiên cho việc nhập khẩu các sản phẩm trọng yếu hơn;
• Tránh gây tổn thất không cần thiết cho quyền lợi thương mại và kinh tế của các thành viên khác (bất kỳ bên ký kết nào);
• Không áp dụng các hạn chế nhằm ngăn ngừa bất hợp lý việc nhập khẩu bất
kỳ sản phẩm nào có số lượng thương mại tối thiểu, nếu loại trừ số lượng đó
có thể làm đảo lộn các kênh thương mại bình thường;
• Chỉ trong trường hợp việc áp dụng các biện pháp dựa vào giá không có tác dụng giải quyết tình trạng sụt giảm mạnh cán cân thanh toán, khi thành viên mới áp dụng các biện pháp hạn chế định lượng Trong trường hợp này, thành viên WTO đó phải chỉ rõ lý do tại sao các biện pháp về giá chưa đủ
để giải quyết khó khăn cán cân thanh toán;
Trang 19• Không áp dụng các hạn chế mà có thể ngăn ngừa việc nhập khẩu các mẫu thương mại hoặc ngăn chặn việc tuân thủ các thủ tục về bằng sáng chế, nhãn hiệu, bản quyền hoặc các thủ tục tương tự (xem phụ lục 1)
- Khoản 4, Điều XII: Quy định về cách thức, thủ tục áp dụng các biện pháp hạn
chế thương mại khi thành viên gặp khó khăn về cán cân thanh toán Trong đó, quy định rõ cách thức tham vấn và thủ tục tham vấn với các thành viên khác của WTO khi một thành viên muốn áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại Các thủ tục
cụ thể như sau:
• Khi áp dụng các hạn chế mới hay nâng mức hạn chế của các biện pháp đang áp dụng, thành viên WTO đó sẽ phải tham vấn ngay hoặc nếu có thể thì tham vấn trước các thành viên WTO khác về: Tính chất của các khó khăn về cán cân thanh toán; các biện pháp có thể được áp dụng thay thế; và các tác động có thể của các hạn chế đó đối với nền kinh tế của các bên ký kết khác
• Việc tham vấn này phải diễn ra định kỳ hàng năm, nếu mọi hạn chế cho đến khi đó còn được áp dụng
• Trong quá trình tham vấn, nếu các thành viên WTO thấy rằng, các biện pháp hạn chế đó có thể gây thiệt hại hay đe dọa gây thiệt hại cho thương mại của mình thì thành viên WTO đó sẽ thông báo ý kiến cho thành viên WTO đang áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu biết, đồng thời có khuyến nghị thích hợp để trong một thời gian nhất định thành viên WTO đó phải tuân thủ các quy định liên quan của WTO Nếu thành viên WTO đang áp dụng biện pháp hạn chế thương mại vẫn không tuân thủ các khuyến nghị này, thì các thành viên WTO có khuyến nghị đó có thể cho phép bất kỳ thành viên WTO nào bị ảnh hưởng của các hạn chế đó được miễn bất kỳ nghĩa vụ nào đối với thành viên đang áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại thuộc phạm vi của Hiệp định GATT (xem phụ lục 1)
• Khi tiến hành các thủ tục tham vấn, các Bên tham gia ký kết GATT sẽ tính đến mọi nhân tố bên ngoài có tính chất đặc biệt làm thiệt hại cho XK của
Trang 20thành viên đang áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu (giống như biện pháp trả đũa trong thương mại quốc tế)
• Những đánh giá của các thành viên WTO để đưa ra khuyến nghị đối với thành viên dự kiến các biện pháp có tính trả đũa (nếu thấy cần thiết) cần phải được tiến hành nhanh chóng trong vòng khoảng 60 ngày kể từ ngày bắt đầu tham vấn
- Khoản 5, Điều XII: quy định cách thức áp dụng các biện pháp hỗ trợ cho biện
pháp hạn chế số lượng nhập khẩu trong trường hợp một thành viên WTO phải kéo dài biện pháp này có thể dẫn tới sự mất thăng bằng chung làm giảm khối lượng thương mại quốc tế nhằm xóa bỏ nguyên nhân căn bản của sự mất thăng bằng cán cân đó Điều khoản 5 này nêu rõ: “Trong trường hợp các hạn chế số lượng được
áp dụng với hàng nhập khẩu theo tinh thần của điều khoản này có tính chất kéo dài và có thể dẫn tới sự mất thăng bằng chung làm giảm khối lượng thương mại quốc tế, các bên ký kết sẽ tiến hành thảo luận để xem xét việc các biện pháp khác
có thể được các bên ký kết đang có cán cân thanh toán chịu tác động bất lợi hay các biện pháp ký kết đang có cán cân thanh toán đặc biệt thuận lợi hoặc mọi tổ chức liên Chính phủ có khả năng thi hành nhằm xóa bỏ nguyên nhân căn bản của
sự mất thăng bằng cán cân đó Khi được các bên ký kết mới, mỗi bên ký kết sẽ tham dự đàm phán như đã nêu trên”
* Điều XV của GATT 1994: Các thỏa thuận về ngoại hối
Nội dung Điều XV của GATT 1994 có 9 khoản mục quy định các thỏa thuận về ngoại hối liên quan đến cán cân thanh toán, trong đó, có các quy định sự ràng buộc của quá trình tham vấn với vai trò của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) Theo tinh thần của Điều XV, các thành viên WTO khi gặp khó khăn về cán cân thanh toán , khi muốn áp dụng biện pháp hạn chế thương mại tạm thời nhằm bảo vệ cán cân thanh toán thì sẽ tham vấn đầy đủ với IMF Lý do là các vấn đề liên quan tới
dự trữ tiền tệ hoặc ngoại hối không thuộc thẩm quyền của WTO, đây là những vấn đề được điều chỉnh bởi IMF, và trong quá trình tham vấn, các thành viên WTO có nghĩa vụ phải chấp nhận số liệu và đánh giá/kết luận của IMF Nội dung
cụ thể các khoản mục trong Điều XV GATT 1994 như sau:
- Khoản 1, Điều XV: quy định quan điểm và nguyên tắc ràng buộc giữa WTO với IMF trong các vấn đề liên quan đến ngoại hối Nội dung điều khoản XV.1 nêu rõ: “ Các bên ký kết sẽ cố gắng phối hợp với Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) nhằm duy trì chính sách có sự điều phối chung về những vấn
Trang 21đề ngoại hối thuộc thẩm quyền của IMF và các hạn chế số lượng hay các biện pháp thương mại khác thuộc thẩm quyền của các bên ký kết”
- Khoản 2, Điều XV: Qui định về các yêu cầu có tính ràng buộc về thủ tục tham vấn MF, về các ràng buộc điều kiện và trách nhiệm của thành viên WTO khi thực hiện các kết quả tham vấn với IMF để giải quyết các vấn đề
về hạn chế thương mại liên quan đến ngoại hối và cán cân thanh toán Nội
dung điều khoản này quy định rõ: “Trong mọi trường hợp khi các bên cam
kết cần xem xét hay giải quyết những vấn đề có liên quan tới dự trữ tiền tệ, tới cán cân thanh toán hay các quy định có liên quan đến ngoại hối, các Bên
sẽ tham vấn chặt chẽ với Quĩ Trong quá trình tham vấn, các Bên ký kết sẽ
chấp nhận kết luận của Quĩ về thực tế hay số liệu về dự trữ ngoại hối hay cán cân thanh toán; các bên cũng sẽ chấp nhận kết luận của Quĩ về tính phù hợp của các biện pháp về ngoại hối đã được một bên ký kết vận dụng,
so với điều lệ của Quĩ về tính phù hợp của các biện pháp về ngoại hối đã được một bên ký kết vận dụng, so với điều lệ của Quĩ hay các qui định của Hiệp định đặc biệt được ký kết giữa bên ký kết đó và Các bên ký kết” Điều khoản này cũng qui định rõ một thành viên WTO khi muốn áp dụng biện pháp hạn chế thương mại theo các tiêu thức được qui định tại điểm (a) Khoản 2, Điều XII hoặc Khoản 9, Điều XVIII của GATT 1994 (để ngăn ngừa hay ngăn chặn sự suy giảm nghiêm trọng dự trữ ngoại hối, hoặc để nâng mức dự trữ đang ở mức rất thấp lên một mức hợp lý; hoặc để bảo vệ
vị thế tài chính đối ngoại và bảo đảm đủ mức dự trữ ngoại hối nhằm thực hiện các chương trình phát triển kinh tế) thì quyết định cuối cùng của thành viên đó (sau khi tham vấn WTO) sẽ phụ thuộc vào các kết luận của IMF về các yếu tố để xác định liệu dự trữ ngoại hối của thành viên đó đã có sự suy giảm nghiêm trọng hay không, liệu hiện dự trữ đó có đang ở mưc rất thấp hay không hay dự trữ đang tăng dần với mức hợp lý Như thế, theo tinh thần của Khoản 2, Điều XV, việc các thành viên WTO khi xem xét tính hợp lý của biện pháp hạn chế thương mại đưa ra với lý do khó khăn về cán cân thanh toán cần phải tham khảo ý kiến của IMF
- Khoản 3,4, 5 Điều XV: Qui định về cách thức thực hiện kết quả tham vấn
với IMF của các thành viên WTO khi muốn thực hiện biện pháp hạn chế thương mại để bảo vệ cán cân thanh toán Trong đó, qui định rõ: Các bên
ký kết sẽ cùng IMF thỏa thuận về thủ tục tham vấn như đã nêu tại khoản 2 Điều XV (khoản 3); các bên sẽ không áp dụng các biện pháp ngoại hối trái
Trang 22với mục tiêu được qui định tại Hiệp định GATT 1994 và mọi biện pháp thương mại trái với mục tiêu được qui định tại Điều lệ của IMF (khoản 4) Nếu vào một thời điểm nào đó các bên ký kết cho rằng một bên ký kết đang
áp dụng các hạn chế về thanh toán và chuyển tiền liên quan đến nhập khẩu, không phù hợp với những ngoại lệ về hạn chế số lượng đã dự kiến tại Hiệp định GATT 1994, các bên sẽ gửi báo cáo tới IMF
Như thế, theo qui định của các khoản 1,2 ,3 ,4, 5, Điều XV của GATT 1994 thì IMF sẽ không chỉ cung cấp cho WTO số liệu thống kê và các số liệu thực tế liên quan tới dự trữ tiền tệ, cán cân thanh toán, chính sách ngoại hối
mà còn đưa ra kết luận, đánh giá về tình trạng tiền tệ của thành viên WTO
dự định áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu
* Điều XVIII.B của GATT 1994: Qui định ngoại lệ áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu để bảo vệ cán cân thanh toán đối với thành viên WTO là nước đang phát triển
Trong Điều XVIII có 6 khoản mục (1,2,3,4,5,6) qui định chung về trường hợp ngoại lệ đối với các thành viên WTO là các nền kinh tế đang phát triển có thể được phép áp dụng biện pháp bảo hộ hay các biện pháp tác động đến nhập khẩu
để thực hiện các chương trình và chính sách phát triển kinh tế hướng tới việc nâng cao mức sống chung của nhân dân Trong nội dung mục B Điều XVIII có 5 khoản mục (8,9,10,11,12) qui định cụ thể về trường hợp ngoại lệ thành viên WTO là các nền kinh tế đang phát triển được áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu khi gặp khó khăn về cán cân thanh toán bắt nguồn từ việc cố gắng mở rộng thị trường trong nước hoặc để bảo vệ vị thế tài chính đối ngoại và bảo đảm mức dự trữ ngoại hối nhằm thực hiện các chương trình phát triển kinh tế Đồng thời, điều khoản này cũng qui định cách thức, thủ tục vận dụng trường hợp ngoại lệ này đối với thành viên WTO Cụ thể như sau:
- Khoản 1 và khoản 2 Điều XVIII của GATT 1994 qui định: Đối với trường hợp thành viên WTO đang có một nền kinh tế chỉ đủ khả năng đảm bảo một mức sống thấp và đang trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, khi thực hiện các chương trình và chính sách phát triển kinh tế hướng tới việc nâng cao mức sống của nhân dân, cần có các biện pháp bảo hộ hay các biện pháp tác động đến nhập khẩu Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp đó chỉ khi và trong trường hợp thực hiện mục tiêu các chương trình phát triển kinh
tế phù hợp với mục tiêu chung của Hiệp định (GATT 1994) Mục đích là tạo điều kiện thuận lợi cho các nước có nền kinh tế đang phát triển có thể
Trang 23duy trì cơ cấu thuế quan mềm dẻo đủ để có một sự bảo hộ thông qua thuế
quan cần thiết cho việc tạo dựng một ngành sản xuất nhất định và kiến lập
các hạn chế số lượng nhằm bảo hộ cho cán cân thanh toán theo cách để có
tính toán đầy đủ đến mức nhu cầu nhập khẩu cao và ngày càng tăng có thể phát sinh do việc thực hiện các chương trình phát triển kinh tế
- Điểm a) khoản 4, Điều XVIII quy định: đối với các thành viên WTO có nền kinh tế chỉ đảm bảo được một mức sống thấp cho nhân dân và đang ở chặng đầu của sự phát triển có thể tạm thời làm trái với các qui định của các điều khoản khác thuộc Hiệp định này với nội dung cụ thể được qui định tại mục A,B, C của Điều XVIII Nội dung khoản 5 Điều XVIII đã xác định
rõ hơn đặc điểm của nền kinh tế đang phát triển ở chặng đầu của sự phát triển là: thu nhập từ xuất khẩu phụ thuộc vào một số ít các sản phẩm sơ cấp nên có thể sự giảm nguồn thu nghiêm trọng do suy giảm xuất khẩu các sản phẩm đó
- Mục B, Điều XVIII của GATT 1994 có các khoản qui định cụ thể về mục
đích, điều kiện, cách thức, thủ tục áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại nhằm bảo vệ cán cân thanh toán đối với trường hợp ngoại lệ thành viên WTO là các nước có nền kinh tế đang phát triển:
+ Các ngoại lệ gồm: Trường hợp các nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển nhanh, cán cân thanh toán có thể gặp khó khăn chủ yếu bắt nguồn từ các cố gắng mở rộng thị trường trong nước cũng như có sự không ổn định
về ngoại hối (khoản 8) Hoặc khi thực hiện các chương trình phát triển kinh
tế, thành viên (có nền kinh tế đang phát triển) có thể điều chỉnh tổng mức nhập khẩu bằng cách giới hạn khối lượng và giá trị của hàng hóa được phép nhập khẩu nhằm: a) để đối phó với sự suy giảm đáng kể dự trữ tiền tệ hay chấm dứt tình trạng này; hoặc b) để nâng mức dự trữ tiền tệ với tốc độ hợp
lý, trong trường hợp dự trữ đó đang ở mức thiếu hụt (khoản 9) Mục tiêu chung của các trượng hợp này là để các thành viên đó có thể bảo vệ được vị thế tài chính đối ngoại và đảm bảo đủ mức dự trữ ngoại hối nhằm thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh tế Tuy nhiên:
+ Những qui định điều kiện cụ thể mà các thành viên WTO phải đáp ứng khi áp dụng các trường hợp ngoại lệ nêu trên gồm:
• Trong cả hai trường hợp nêu trên (a và b) thành viên đó phải tính đến mọi nhân tố đặc biệt có thể tác động đến dự trữ tiền tệ của mình và
Trang 24nhu cầu về dự trữ tiền tệ, nhất là khi đang được sử dụng các khoản tín dụng đặc biệt hay nguồn khác, cần tính đến khả năng sử dụng thích hợp các khoản tín dụng và các nguồn vốn đó (khoản 9);
• Khi áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu nêu trên, thành viên WTO đó cần xác định tác động của các biện pháp này lên các sản phẩm khác nhau hay các sản phẩm chủng loại khác nhau sao cho có
sự ưu tiên với nhập khẩu các sản phẩm cần thiết để thực thi chính sách phát triển kinh tế của mình Tuy nhiên, các hạn chế phải được
áp dụng sao cho tránh không làm tổn hại quyền lợi kinh tế thương mại của bất kỳ thành viên nào khác một cách không cần thiết và không được gây trở ngại cho việc nhập khẩu những khối lượng hàng hóa có tính chất thương mại tối thiểu thuộc bất cứ loại nào mà nếu ngừng nhập khẩu hoàn toàn sẽ dẫn đến trở ngại cho tiến trình thương mại thông thường Ngoài ra, các hạn chế nói trên sẽ không được áp dụng dẫn đến trở ngại cho việc nhập khẩu mẫu hàng trong thương mại hay với việc tuân thủ các thủ tục liên quan tới bản quyền sáng chế, nhãn hàng, quyền tác giả hay các thủ tục tương tự (khoản 10);
• Khi thực hiện chính sách trong nước của mình, thành viên áp dụng biện pháp nêu trên và các thành viên có liên quan cũng phải tính toán đúng mức đến sự cần thiết phải lập lại thăng bằng cán cân thanh toán dựa trên một cơ sở lành mạnh bền vững và chú trọng sử dụng một cách kinh tế các nguồn lực sản xuất Khi tình trạng dần dần được cải thiện, thành viên đó sẽ giảm nhẹ dần các hạn chế được áp dụng và chỉ duy trì chúng ở mức cần thiết; đồng thời, sẽ phải loại bỏ các hạn chế khi tình huống đó không còn chứng tỏ sự cần thiết phải duy trì các biện pháp đó nữa (khoản 11)
+ Cách thức và thủ tục áp dụng biện pháp hạn chế thương mại đối với trường hợp ngoại lệ nêu trên, gồm:
• Một thành viên WTO muốn áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu mới hay nâng mức hạn chế so với trước đó thông qua tăng cường đáng kể các biện pháp đã áp dụng thì phải tham vấn ngay hoặc nếu có thể thì tham vấn trước với các thành viên WTO khác về các vấn đề: 1) tính chất các khó khăn đang tác động lên cán cân thanh toán; 2) các biện pháp điều chỉnh khác nhau (các biện pháp
Trang 25có thể được áp dụng thay thế) dẫn đến lựa chọn các biện pháp đang áp dụng; 3) các tác động có thể của các biện pháp đó với nền kinh tế của các thành viên WTO khác (điểm a khoản 12, Điều XVIII.B)
• Việc tham vấn nêu trên phải diễn ra theo định kỳ hàng năm để xem xét lại mọi hạn chế đang được áp dụng Trong quá trình tham vấn và sau khi đã tham vấn nếu các thành viên WTO thấy rằng biện pháp hạn chế được tham vấn hay đang áp dụng không phù hợp với qui định có thể gây thiệt hại hay đe dọa gây thiệt hại cho thương mại của mình, các thành viên WTO đó sẽ thông báo cho thành viên WTO đang áp dụng biện pháp hạn chế đó biết và có khuyến nghị thích hợp để trong một thời gian nhất định thành viên WTO đó phải tuân thủ các qui định có liên quan của WTO
đã nêu trên Nếu thành viên WTO đó vẫn không tuân thủ các khuyến nghị này trong thời hạn đã định thì các thành viên WTO
có thể cho phép bất kỳ thành viên WTO nào bị ảnh hưởng bởi các hạn chế đó được miễn bất kỳ nghĩa vụ nào trong Hiệp định GATT đối với thành viên đang áp dụng biện pháp hạn chế thương mại đó (điểm b, c, d, e khoản 12 Điều XVIII.B)
Trong vòng 60 ngày từ ngày biện pháp nói trên được áp dụng, bên ký kết
đó có quyền thông báo bằng văn bản cho Thư ký điều hành của Các bên ký kết biết ý định từ bỏ tham gia Hiệp định này Sự từ bỏ đó có hiệu lực trong vòng 60 ngày kể từ ngày Thư ký điều hành nhận được thông báo nói trên Trong mọi tiến trình thực hiện đúng theo điều khoản này, Các bên ký kết sẽ tính một cách hợp
thức đến qui định hạn 60 ngày kể từ ngày bắt đầu tham vấn
* Tài liệu bổ sung của WTO về “cách hiểu các điều khoản cán cân thanh toán của GATT 1994”
Tài liệu này nhằm bổ sung cho các qui định của Điều XII và Điều XVIII.B của GATT 1994 và tuyên bố về các biện pháp thương mại thực hiện cho các mục đích cán cân thanh toán được thông qua ngày 28/11/1979 (BISD 26S/205-209 hay còn gọi là tuyên bố 1979) Tài liệu bổ sung về “cách hiểu các điều khoản cán cân thanh toán của GATT 1994” gồm 4 nội dung thỏa thuận: 1)về việc áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại; 2) về các thủ tục đối với các tham vấn về cán cân thanh toán; 3) về thông báo về tài liệu; 4) về các kết luận của các cuộc tham vấn
về cán cân thanh toán Cụ thể như sau:
Trang 26- Đối với việc áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại:
• Các thành viên WTO cam kết thông báo một cách công khai, ngay khi có thể, các lịch trình cho việc xóa bỏ các biện pháp hạn chế nhập khẩu được thực hiện cho mục đích bảo vệ cán cân thanh toán Điều này được hiểu rằng các lịch trình như vậy có thể được sửa đổi cho thích hợp với những thay đổi trong tình hình cán cân thanh toán của thành viên WTO áp dụng biện pháp hạn chế thương mại Nếu thành viên WTO không thông báo công khai lịch trình đó thì phải có sự biện hộ, giải thích với các thành viên WTO khác lý
do về việc đó
• Các thành viên WTO cam kết dành ưu tiên cho các biện pháp ít gây tổn hại
nhất cho thương mại Các biện pháp như vậy được hiểu là “các biện pháp
dựa vào giá cả, bao gồm phụ thu nhập khẩu , các yêu cầu nhập khẩu ủy thác hoặc các biện pháp thương mại tương đương với tác động lên giá hàng nhập khẩu Các biện pháp dựa vào giá cả được thực hiện cho các mục đích
cán cân thanh toán, có thể được thực hiện bởi một thành viên WTO, nó có thể vượt quá các khoản thuế được qui định trong Danh mục ràng buộc của thành viên đó nhưng trong trường hợp này thì thành viên đó sẽ phải thông báo cho các thành viên khác và chỉ ra rõ ràng phần khối lượng mà biện pháp
dựa vào giá đó vượt quá mức thuế trần
• Các thành viên WTO cam kết sẽ cố gắng tránh việc áp đặt các hạn chế định lượng với mục đích cán cân thanh toán trừ khi tình hình cán cân thanh toán
bị nguy cấp, các biện pháp dựa vào giá cả không thể ngăn cản việc sụt giảm đột ngột cán cân thanh toán với bên ngoài Trong trường hợp này một thành viên WTO được áp dụng các hạn chế định lượng nhưng phải đưa ra sự biện
hộ cho các lý do tại sao các biện pháp dựa vào giá cả không phải là công cụ thích hợp để giải quyết đối với tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán của mình Một thành viên WTO khi duy trì các hạn chế định lượng sẽ phải tham vấn liên tiếp các thành viên khác về sự tiến bộ đã đạt được trong việc giảm một cách rõ rệt tác động và ảnh hưởng hạn chế thương mại của các biện pháp đang áp dụng Điều này được hiểu rằng không có quá một loại biện pháp hạn chế được thực hiện vì mục đích cán cân thanh toán có thể được áp
dụng cho cùng một sản phẩm
• Các biện pháp hạn chế nhập khẩu được một thành viên WTO thực hiện vì mục đích cán cân thanh toán có thể chỉ được áp dụng để kiểm tra mức độ
Trang 27tổng quát của nhập khẩu và không thể vượt quá những gì cần thiết để xác định tình hình cán cân thanh toán Việc thi hành các biện pháp hạn chế đó phải được công khai, minh bạch, các cơ quan có thẩm quyền của thành viên nhập khẩu đó phải cung cấp đầy đủ thông tin khi sử dụng các tiêu chí để xác định sản phẩm nào là đói tượng của việc hạn chế nhập khẩu Trong trường hợp đói tượng áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu là các sản phẩm thiết yếu thì thì thuật ngữ “sản phẩm thiết yếu” sẽ được hiểu theo nghĩa là các sản phẩm đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng cơ bản hoặc góp phần cho nỗ lực của thành viên để cải thiện tình hình cán cân thanh toán của họ, như là hàng hóa vốn hoặc các nhiên liệu cần thiết cho sản xuất
- Về các thủ tục đối với các tham vấn về cán cân thanh toán:
• Ủy ban về các hạn chế của cán cân thanh toán (BOP) sẽ tiến hành các tham vấn để rà soát lại tất cả các biện pháp hạn chế nhập khẩu được thực hiện với
mục đích cán cân thanh toán;
• Khi một thành viên WTO áp dụng các hạn chế mới hoặc tăng mức độ chung của các hạn chế hiện hành của họ thì sẽ phải đàm phán với Ủy ban BOP trong vòng 4 tháng kể từ khi thông qua các biện pháp đó Tuy nhiên, thành viên đó cũng có thể được quyền yêu cầu tổ chức tham vấn (theo khoản 4 (a) của Điều XII hay khoản 12 (a) của Điều XVIII), và nếu không có yêu cầu như vậy thì Chủ tịch Ủy ban sẽ mời thành viên đó tổ chức cuộc tham vấn Trong các nhân tố được xem xét trong các cuộc tham vấn sẽ bao gồm các hình thức mới của các biện pháp hạn chế đối với các mục đích cán cân thanh toán, hoặc việc gia tăng mức độ hay sản phẩm thuộc phạm vi của các hạn
chế
• Tất cả các hạn chế được áp dụng đối với mục đích cán cân thanh toán sẽ là đối tượng rà soát định kỳ của BOP, tùy theo việc thay đổi định kỳ của các tham vấn trong thỏa thuận với thành viên tham vấn hoặc theo đúng bất kỳ
thủ tục rà soát cụ thể nào có thể được Đại Hội Đồng WTO khuyến nghị
• Các thủ tục tham vấn đơn giản có thể cũng được sử dụng khi việc rà soát chính sách thương mại của nước thành viên đang phát triển đã được lên kế hoạch cho cùng năm khi ngày tháng đã định sẵn cho các cuộc tham vấn Trên cơ sở các cuộc tham vấn đơn giản và theo tinh thần tuyên bố 1979 sẽ quyết định việc liệu có sử dụng các thủ tục tham vấn đầy đủ hay không; trong trường hợp đối với các nước thành viên kém phát triển nhất cũng không quá hai cuộc tham vấn liên tiếp có thể được tổ chức theo các thủ tục tham vấn đơn giản “Thủ tục tham vấn đơn giản” được thông qua ngày 19/12/1972 (BISD 20S/47-49) chỉ được áp dụng trong trường hợp các nước thành viên WTO kém phát triển nhất hoặc trong trường hợp các nước thành
Trang 28viên đang phát triển đang theo đuổi các nỗ lực tự do hóa phù hợp với danh
mục đã được đưa ra Ủy ban (BOP) trong các cuộc tham vấn trước đó
- Về thủ tục thông báo và tài liệu:
• Mỗi thành viên WTO khi áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu phải có trách nhiệm thông báo cho Đại Hội Đồng WTO về sự việc đó hoặc bất kỳ thay đổi nào trong việc áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu được thực hiện với mục đích cán cân thanh toán, về bất kỳ các sửa đổi nào trong các thời gian biểu đối với việc loại bỏ các biện pháp hạn chế đó Trong đó, những thay đổi quan trọng sẽ phải thông báo trước cho Đại Hội Đồng không chậm quá 30 ngày Ít nhất mỗi năm một lần, thành viên đó phải trình Ban Thư ký WTO một bản thông báo đã được bổ sung, bao gồm tất cả các thay đổi trong các luật, qui chế, tuyên bố chính sách hay thông báo công cộng, để các thành viên khác của WTO xem xét Các thông báo đó phải gồm các thông tin đầy đủ trước hết là về dòng thuế, về các biện pháp điển hình được
áp dụng, các tiêu chí đã sử dụng cho sự quản lý hành chính của họ, sản phẩm và dòng thương mại chịu tác động của biện pháp hạn chế thương mại
• Sau khi nhận được thông báo của một thành viên WTO về việc áp dụng biện pháp hạn chế thương mại, các thành viên WTO khác có thể yêu cầu BOP xem xét làm rõ đối với vấn đề cụ thể đã được thông báo, kể cả việc thực hiện các cuộc tham vấn nhằm đảm bảo rằng một biện pháp hạn chế nhập khẩu đã được áp dụng đối với một thành viên khác phải được thực hiện
vì mục đích cán cân thanh toán
• Thành viên WTO có nhu cầu tham vấn về áp dụng biện pháp hạn chế
thương mại vì mục đích cán cân thanh toán sẽ phải chuẩn bị bộ tài liệu cơ sở
gồm: 1) Tài liệu về tình hình tài chính tổng thể cán cân thanh toán và các triển vọng, bảo đảm cân nhắc các yếu tố bên trong và bên ngoài chứa đựng tính thích hợp về tình hình cán cân thanh toán và các biện pháp chính sách nội địa được thực hiện để khôi phục tinh thần và nền tảng của sự bền vững; 2) Một bản mô tả đầy đủ các hạn chế thương mại đã áp dụng đối với các mục đích cán cân thanh toán, cơ sở luật pháp của họ và các bước thực hiện làm giảm ảnh hưởng ngẫu nhiên; 3) Bản báo cáo về các biện pháp được thực hiện từ cuộc tham vấn trước để cởi bỏ các hạn chế nhập khẩu, căn cứ vào kết luận của BOP; 4) Một bản kế hoạch cho việc loại bỏ và tiến tời nới lỏng các hạn chế đang tồn tại Theo các thủ tục tham vấn đơn giản, thành viên có nhu cầu tham vấn sẽ được trình một bản tuyên bố bằng văn bản bao gồm các
Trang 29thông tin chủ yếu về các nhân tố chứa đựng trong tài liệu cơ sở gửi cho Ban
Thư ký WTO Trên cơ sở đó, Ban Thư ký WTO sẽ chuẩn bị một tài liệu cơ bản xác thực giải quyết các khía cạnh khác biệt của chương trình cho các cuộc tham vấn Trong trường hợp là nước thành viên đang phát triển, tài liệu của Ban Thư ký sẽ bao gồm các tài liệu phân tích và cơ sở thích hợp về sự khách quan của môi trường thương mại bên ngoài đối với tình hình cán cân thanh toán và triển vọng của thành viên tham vấn đó Ban Thư ký WTO sẽ trợ giúp kỹ thuật trong việc chuẩn bị tài liệu cho các cuộc tham vấn của nước thành viên đang phát triển
- Về thủ tục ra kết luận và hiệu lực của các kết luận của các cuộc tham vấn về cán cân thanh toán
BOP có nhiệm vụ báo cáo về các cuộc tham vấn của Ủy ban với Đại hội đồng WTO Báo cáo này trình bày sơ lược các kết luận của BOP về các yếu
tố có liên quan và cơ sở pháp lý, các đề xuất khuyến nghị nhằm mục đích xúc tiến việc thi hành Điều XII và XVIII.B của GATT, tuyên bố 1979 Trên
cơ sở Báo cáo này, Đại hội đồng sẽ xem xét các trường hợp về các biện pháp đã đề xuất sử dụng theo một thời gian biểu cho việc sử dụng và loại
bỏ các biện pháp hạn chế được thực hiện với các mục đích cán cân thanh toán; nếu được chấp thuận thì Đại hội đồng sẽ đưa ra các khuyến nghị cụ thể mà thành viên WTO được sử dụng biện pháp hạn chế thương mại phải tuân theo các nghĩa vụ của GATT 1994 Bất kỳ khi nào Đại hội đồng WTO đưa ra các khuyến nghị cụ thể, các quyền và nghĩa vụ của các thành viên sẽ được xem xét căn cứ vào các khuyến nghị đó Trong trường hợp thiếu các
đề xuất cụ thể với các khuyến nghị của Đại Hội Đồng, các kết luận của BOP phải ghi các quan điểm khác nhau đã được trình bày trong Ủy ban và một quyết định về liệu có phải gửi yêu cầu các thủ tục tham vấn đầy đủ
Như vậy, căn cứ Điều XII, Điều XV và Điều XVIII.B của GATT và tài liệu
bổ sung của WTO về “Cách hiểu các điều khoản cán cân thanh toán của GATT 1994” ta thấy có sự không rõ ràng về mức dự trữ ngoại tệ “thích hợp”, “có nguy cơ giảm nghiêm trọng” và “cần được tăng lên ở mức hợp lý” để các nước thành viên làm căn cứ xác định có đủ điều kiện hay không
để tiến hành các thủ tục tham vấn về sử dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu Mặt khác, việc áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại dựa vào lý
do khó khăn về cán cân thanh toán cũng rất khó khăn, phức tạp Thành viên
Trang 30WTO muốn áp dụng biện pháp hạn chế thương mại để bảo vệ cán cân thanh toán không những phải tham vấn với các thành viên khác có thể bị ảnh hưởng bởi biện pháp của mình mà còn cần tham vấn cả với IMF về tính cần thiết và hợp lý của biện pháp mình định áp dụng, nếu IMF không chấp thuận thì cũng không thể làm thủ tục tiếp để xin kết luận của BOP và khuyến nghị cuối cùng của Đại Hội Đồng WTO
1.1.3 Tổng hợp và phân tích các nội dung, điều kiện, nguyên tắc vận dụng
các điều khoản của WTO về trường hợp ngoại lệ được sử dụng biện pháp hạn chế thương mại để bảo vệ cán cân thanh toán
Căn cứ Điều XII, Điều XV, Điều XVIII.B của GATT 1994 và tài liệu bổ sung “Cách hiểu các điều khoản cán cân thanh toán của GATT 1994” của WTO,
ta có thể tổng hợp những qui định về điều kiện áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại và cách thức áp dụng biện pháp này trong trường hợp có khó khăn về cán cân thanh toán như sau:
(1) Điều kiện áp dụng các qui định của WTO về biện pháp hạn chế thương mại vì lý do bảo vệ cán cân thanh toán:
Để bảo vệ tình hình tài chính đối ngoại và cán cân thanh toán, một thành viên WTO có thể hạn chế khối lượng hoặc giá trị hàng nhập khẩu Thành viên WTO đó phải thỏa mãn các điều kiện tối thiểu sau:
Thứ nhất, điều kiện về tính chất và mức độ khó khăn của cán cân thanh toán
Thành viên WTO muốn áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu phải biện hộ được về tính cần thiết và hợp lý của biện pháp mình định áp dụng khi tình hình cán cân thanh toán bị nguy cấp; khi dự trữ ngoại hối bị sụt giảm nghiêm trọng cần ngăn chặn sự suy giảm đó và/hoặc nâng mức dự trữ ngoại hối lên mức hợp lý Tuy nhiên, việc đáp ứng điều kiện tiên quyết này cũng không mấy dễ dàng vì WTO không quy định các tiêu chí cụ thể hoặc có định nghĩa
rõ ràng thế nào là mức dự trữ ngoại tệ “thích hợp”, hay mức dự trữ ngoại tệ
“hợp lý” Ngay cả IMF cũng không có qui định rõ ràng về vấn đề này
Thứ hai: Điều kiện về tính chất và hình thức biện pháp hạn chế nhập khẩu:
- Các biện pháp nhập khẩu được đưa ra hoặc duy trì không được vượt quá mức cần thiết để: 1) Ngăn ngừa mối đe dọa hay ngăn chặn sự sụt giảm nghiêm trọng dự trữ ngoại hối; hoặc 2) Trong trường hợp nước thành viên
Trang 31có dự trữ ngoại hối rất thấp, để nâng mức dự trữ ngoại hối lên một mức hợp
lý
- Các thành viên WTO phải ưu tiên áp dụng các biện pháp dựa vào giá (prace – based measures) hơn so với các biện pháp hạn chế định lượng Các biện pháp dựa vào giá được coi là biện pháp có ít tác dụng bóp méo thương mại nhất Những biện pháp này bao gồm: biện pháp phụ thu nhập khẩu, biện pháp yêu cầu ký gửi nhập khẩu (import deposit) và các biện pháp thương mại tương đương có tác động tới giá của hàng nhập khẩu Điều này được hiểu là bất kể qui định tại Điều II của GATT 1994 (các khoản thuế hay khoản thu khác áp dụng đối với các mặt hàng chịu thuế trần được ghi vào trong các danh mục nhân nhượng kèm theo GATT 1994 đối với mục thuế
mà mỗi thành viên áp dụng; các khoản thuế và khoản thu khác được ghi vào biểu cam kết đối với tất cả các ràng buộc thuế quan), các biện pháp dựa vào giá có thể được áp dụng vượt quá mức “thuế và khoản thu khác” trong biểu cam kết Thành viên WTO áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu phải công bố rõ ràng trong tài liệu thông báo WTO về mức độ chênh lệch giữa biện pháp dựa vào giá và thuế quan ràng buộc Chỉ trong trường hợp việc
áp dụng các biện pháp dựa vào giá không có tác dụng giải quyết tình trạng sụt giảm mạnh cán cân thanh toán, thì thành viên WTO mới áp dụng các biện pháp hạn chế định lượng Trong trường hợp này, thành viên WTO phải chỉ rõ lý do tại sao các biện pháp dựa vào giá chưa đủ để giải quyết khó khăn cán cân thanh toán
- Đối với mỗi sản phẩm, thành viên WTO không được áp dụng quá một biện pháp hạn chế định lượng
- Các biện pháp hạn chế nhập khẩu phải đảm bảo: 1) Tránh gây tổn hại không cần thiết cho quyền lợi thương mại và kinh tế của bất kỳ các thành viên nào khác của WTO; 2) Không áp dụng các hạn chế nhằm ngăn ngừa bất hợp lý việc nhập khẩu bất kỳ sản phẩm nào có số lượng thương mại tối thiểu; 3) Không áp dụng các hạn chế mà có thể ngăn ngừa việc nhập khẩu các mẫu thương mại hoặc ngăn chặn việc tuân thủ các thủ tục về bằng sáng chế, nhãn hiệu, bản quyền hoặc các thủ tục tương tự
- Những biện pháp hạn chế nhập khẩu đưa ra phải được dựa trên tình hình dự trữ ngoại hối, cán cân thanh toán thực tế Tình hình dự trữ ngoại hối phải được xác định bởi IMF
Trang 32Thứ ba, điều kiện về thời hạn áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu :
- Các biện pháp hạn chế nhập khẩu không được áp dụng vĩnh viễn mà chỉ được áp dụng cho đến khi không còn chứng minh được sự cần thiết phải duy trì các biện pháp để thực hiện một trong hai điều kiện tiền đề trên Tức
là khi dự trữ ngoại hối của một thành viên không còn bị suy giảm nghiêm trọng hoặc không còn mối đe dọa bị suy giảm nghiêm trọng, và hoặc dự trữ ngoại hối đã được nâng lên một mức hợp lý, thì thành viên đó không được duy trì các biện pháp hạn chế nhập khẩu nữa
- Các thành viên WTO phải sớm công bố lịch trình dỡ bỏ các biện pháp hạn chế nhập khẩu Trong trường hợp không công bố lịch trình này thì thành viên WTO đó phải cho biết lý do tại sao chưa đưa ra công bố đó
(2) Cách thức áp dụng các qui định của WTO về trường hợp ngoại lệ được sử dụng biện pháp hạn chế thương mại để bảo vệ cán cân thanh toán
Một thành viên WTO muốn áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu để bảo vệ cán cân thanh toán phải tiến hành tham vấn với các thành viên WTO khác
và tham vấn với IMF theo các cách thức sau:
- Khi áp dụng các hạn chế mới hay nâng mức hạn chế của các biện pháp đang áp dụng, một thành viên WTO đó sẽ phải tham vấn ngay hoặc nếu có thể thì tham vấn trước với các thành viên WTO khác về 1) Tình chất khó khăn về cán cân thanh toán của mình; 2) Các biện pháp có thể được áp dụng thay thế; và 3) Các tác động có thể của các hạn chế với nền kinh tế của các thành viên WTO khác Việc tham vấn này phải diễn ra theo định kỳ hàng năm Trong quá trình tham vấn, nếu các thành viên WTO thấy rằng các biện pháp hạn chế có thể gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho thương mại hoặc nền kinh tế của mình thì các thành viên WTO đó sẽ thông báo ý kiến cho thành viên WTO đang sử dụng biện pháp hạn chế biết, đồng thời có khuyến nghị thích hợp để trong một thời gian nhất định thành viên WTO đó phải tuân thủ các qui định liên quan của WTO đã nêu trên Nếu thành viên đó vẫn không tuân thủ các khuyến nghị này, các thành viên WTO có thể cho phép bất kỳ thành viên WTO nào bị ảnh hưởng của các hạn chế đó được miễn bất kỳ nghĩa vụ nào trong Hiệp định GATT đối với thành viên sử dụng biện pháp hạn chế đó
- Thành viên WTO muốn sử dụng biện pháp hạn chế thương mại phải tham vấn đầy đủ với IMF IMF sẽ không chỉ cung cấp cho đầy đủ với WTO số
Trang 33liệu thống kê và các số liệu thực tế liên quan đến dự trữ ngoại hối, cán cân thanh toán, chính sách ngoại hối mà còn đưa ra kết luận/đánh giá về tình trạng tiền tệ của thành viên dự định sử dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu
Do các vấn đề liên quan đến dự trữ tiền tệ hoặc ngoại hối không thuộc thẩm quyền của WTO mà là những vấn đề được điều chỉnh bởi IMF nên trong quá trình tham vấn WTO, các thành viên có nghĩa vụ phải chấp nhận số liệu và đánh giá/kết luận của IMF
(3) Thủ tục áp dụng các qui định của WTO về trường hợp ngoại lệ được sử dụng biện pháp hạn chế thương mại để bảo vệ cán cân thanh toán
- Về thủ tục chung, một thành viên WTO muốn sử dụng các hạn chế mới hoặc tăng mức độ chung của các hạn chế thương mại hiện hành của họ thì
sẽ phải đàm phán với “Ủy ban về các hạn chế của cán cân thanh toán” của WTO (BOP) trong vòng 4 tháng kể từ khi thông qua biện pháp đó Một thành viên WTO khi muốn sử dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu phải có trách nhiệm thông báo cho Đại Hội Đồng WTO về sự việc đó hay bất kỳ thay đổi nào trong việc sử dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu được thực hiện với mục đích cán cân thanh toán Trong đó, những thay đổi quan trọng phải thông báo cho Đại Hội Đồng không chậm quá 30 ngày Ít nhất mỗi năm một lần, thành viên WTO đó phải trình Ban Thư ký WTO một bản Báo cáo đầy đủ về những vấn đề có liên quan đến sử dụng biện pháp hạn chế thương mại
- Để phục vụ cho quá trình tham vấn và xin ý kiến khuyến nghị của Đại Hội Đồng WTO, thành viên WTO muốn sử dụng biện pháp hạn chế thương mại phải chuẩn bị đủ bộ tài liệu cơ sở (4 tài liệu) Ban Thư ký WTO và BOP thẩm tra và báo cáo Đại Hội Đồng WTO, trên cơ sở đó, Đại Hội Đồng xem xét và đưa ra khuyến nghị cụ thể Các quyền và nghĩa vụ của thành viên WTO đó sẽ được xem xét, thực hiện theo các khuyến nghị cụ thể của Đại Hội Đồng
1.2 Các điều khoản của WTO về các ngoại lệ có thể được sử dụng biện pháp hạn chế thương mại, nhưng không nhằm mục đích bảo vệ cán cân thanh toán
Ngoài các điều khoản qui định về hạn chế thương mại với mục đích để bảo
vệ cán cân thanh toán (đã nêu tại mục 1.1), WTO cũng có một số điều khoản qui định về những ngoại lệ khác mà theo đó, một thành viên WTO có thể được sử
Trang 34dụng các biện pháp hạn chế thương mại Tuy các biện pháp hạn chế đó không vì
lý do và mục đích bảo vệ cán cân thanh toán nhưng khi được sử dụng nó có tác động đến cán cân thương mại và do đó nó có liên quan đến cán cân thanh toán đối ngoại của một nước thành viên WTO Các trường hợp ngoại lệ đó nhằm mục đích bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ của nước thành viên đang phát triển (Điều XVIII.C); bảo vệ ngành sản xuất trong nước chống lại sự gia tăng đột ngột về nhập khẩu một mặt hàng nào đó (Điều XIX của GATT); các ngoại lệ chung vì các
lý do khác như: vì lý do sức khỏe và vệ sinh (Điều XX của GATT); và vì lý do an ninh quốc gia (Điều XXI của GATT) Cụ thể như sau:
* Điều XVIII.C của GATT: Hạn chế thương mại nhằm mục đích bảo vệ ngành
công nghiệp non trẻ trong nước của nước thành viên đang phát triển:
Theo qui định chung của Điều XVIII và các qui định riêng tại mục C của Điều này thì một nước thành viên có nền kinh tế chỉ đảm bảo được một mức sống thấp cho nhân dân và đang ở chặng đầu của sự phát triển, nếu thấy rằng Nhà nước cần có sự giúp đỡ tạo thuận lợi cho việc tạo dựng một ngành sản xuất nhất định
có tác dụng nâng cao mức sống chung của nhân dân thì có thể vận dụng biện pháp tác động tới nhập khẩu theo qui định cụ thể sau:
• Thành viên WTO đó thông báo cho các thành viên WTO khác biết những khó khăn đặc biệt gặp phải khi thực hiện mục tiêu tạo dựng một ngành sản xuất nhất định có tác dụng nâng cao mức sống chung của nhân dân; và nêu
rõ biện pháp tác động tới nhập khẩu mà mình định áp dụng để khắc phục được các khó khăn đó Nếu biện pháp đó ảnh hưởng đến nhập khẩu của một sản phẩm đã đưa vào biểu nhân nhượng thuế quan tương ứng thuộc phụ lục của Hiệp định GATT 1994 thì phải được các thành viên WTO khác chấp thuận Sau khi được các thành viên khác chấp thuận, khi ngành sản xuất nhận được sự giúp đỡ của Nhà nước đã đi vào hoạt động thì thành viên đó
có thể có biện pháp cần thiết để tránh nhập khẩu các sản phẩm liên quan
không vượt quá mức bình thường trong một khoảng thời gian nhất định
(khoản 14, Điều XVIII.C) Một biện pháp dự kiến (thuế quan và phi thuế quan) liên quan tới một ngành sản xuất trong thời kỳ đầu đã được tạo điều kiện thuận lợi nhờ vào sự bảo hộ phụ trợ có được do các hạn chế nhập khẩu được thành viên WTO áp dụng nhằm bảo hộ sự thăng bằng cán cân thanh toán theo qui định của Hiệp định này (GATT 1994), sẽ không được phép áp dụng nếu chưa được các thành viên WTO khác tán thành (khoản 19) Như thế, WTO không qui định biện pháp cần thiết để tác động đến nhập khẩu đó
Trang 35là biện pháp thuế quan hay phi thuế quan, là biện pháp hạn chế định lượng hay biện pháp dựa vào giá
• Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo về biện pháp nói trên, nếu thành viên đưa ra thông báo không được các thành viên WTO khác yêu cầu
tham vấn thì thành viên đó có thể áp dụng biện pháp đã dự định trong chừng
mực cần thiết Trong trường hợp các thành viên WTO khác có yêu cầu tham
vấn với các bên về đối tượng của biện pháp đã dự kiến, về các biện pháp khác nhau có thể lựa chọn trong khuôn khổ của Hiệp định GATT, cũng như các tác động có thể có của biện pháp đã dự kiến với quyền lợi thương mại hay quyền lợi kinh tế của các thành viên WTO Nếu sau khi tham vấn, các Bên nhận thấy để đạt được mục tiêu đã xác định nêu trên, trong thực tế không thể đưa ra biện pháp tương thích tốt hơn biện pháp đã dự kiến, thành viên WTO đó sẽ được miễn các nghĩa vụ thuộc các điều khoản khác của Hiệp định GATT để thực thi biện pháp đã dự kiến đó (Khoản 15, 16)
Nếu trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày gửi thông báo về các biện pháp dự kiến, các thành viên WTO khác không bày tỏ ý kiến với biện pháp đã dự kiến, thành viên WTO đó có thể áp dụng biện pháp đó sau khi đã thông báo cho các thành viên khác biết về sự áp dụng đó (khoản 17) Trong trường hợp
có ý kiến của thành viên khác yêu cầu một sự tham vấn, thỏa thuận về biện pháp dự kiến áp dụng thì thành viên đó phải tiến hành tham vấn để thỏa thuận với các Bên liên quan Nếu đã tiến hành tham vấn mà không đạt được thỏa thuận nào giữa các Bên, trong thời gian 60 ngày, kể từ ngày các Bên nhận được thông báo (sau khi thành viên đưa ra thông báo đó đã làm tất cả những gì hợp lý theo đúng qui định để có thể đạt tới một thỏa thuận); thành viên đó có thể tiến hành biện pháp đã dự định, nhưng chỉ ở trong chừng mực cần thiết và phải đảm bảo rằng, quyền lợi của các thành viên khác liên quan được bảo vệ đúng mức (Khoản 18)
• Trong thời kỳ một biện pháp hạn chế thương mại được áp dụng theo Khoản
17 nêu trên, vào bất kỳ lúc nào, với bất kỳ thành viên WTO nào chịu tác động đáng kể của biện pháp đó cũng có thể tạm ngừng việc cho thành viên
sử dụng biện pháp đó hưởng những nhân nhượng hay được miễn những nghĩa vụ đáng kể tương đương trong phạm vi của Hiệp định GATT, nhưng với điều kiện là phải báo trước cho thành viên đang sử dụng biện pháp đó một thời hạn 60 ngày, không chậm hơn 6 tháng kể từ ngày biện pháp được
sử dụng hay điều chỉnh nhằm vào thành viên bị tổn hại đó (Khoản 21)
Trang 36Điều khoản này của GATT đã được WTO cụ thể hóa và nâng lên thành Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (ASCM)
* Điều XIX của GATT 1994 : Các biện pháp khẩn cấp đối với nhập khẩu các
sản phẩm nhất định
- Khoản 1 Điều XIX của GATT qui định 2 trường hợp ngoại lệ mà theo đó, một thành viên WTO có thể áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại khẩn cấp đối với nhập khẩu các sản phẩm nhất định, với các điều kiện về tình huống thương mại, đặc điểm của sản phẩm nhập khẩu, tính chất và hình thức của biện pháp hạn chế và thời hạn biện pháp hạn chế nhập khẩu cụ thể như sau:
+ Trường hợp thứ nhất:
• Khi một sản phẩm được nhập khẩu vào lãnh thổ của một thành viên WTO với số lượng gia tăng và với điều kiện đến mức gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất những sản phẩm tương tự hay sản phẩm cạnh tranh trực tiếp trong nước;
• Tình huống nêu trên phải là do hậu quả của những diễn tiến không lường trước được và do kết quả của những nghĩa vụ, trong đó có những nhân nhượng thuế quan của một bên ký kết Hiệp định GATT;
• Trong trường hợp như vậy, biện pháp hạn chế nhập khẩu có thể được áp dụng là những biện pháp thuế quan Cách thức áp dụng biện pháp này là: thành viên WTO đó có quyền ngừng hoàn toàn hay một phần các cam kết của mình, rút bỏ hay điều chỉnh nhân nhượng thuế quan;
• Thời gian áp dụng biện pháp trên chỉ trong một thời hạn nhất định, cần thiết
để ngăn chặn hoặc khắc phục những tổn hại nêu trên
+ Trường hợp thứ hai: Một thành viên WTO đã chấp nhận một sự nhân
nhượng liên quan đến ưu đãi và sản phẩm là đối tượng ưu đãi được nhập khẩu
vào lãnh thổ của bên ký kết với số lượng gia tăng tới mức đã gây thiệt hại hoặc
đe dọa gây tổn hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất những sản phẩm tương
tự hay trực tiếp cạnh tranh là các nhà sản xuất trên lãnh thổ của nước thành
viên WTO đang được hưởng hay đã được hưởng sự ưu đãi đó, thành viên
đang nhập khẩu có quyền tạm ngừng hoàn toàn hay một phần các cam kết của mình, rút bỏ hay điều chỉnh nhân nhượng đối với sản phẩm đó trong một thời gian cần thiết để ngăn ngừa và khắc phục tổn hại đó
Trang 37- Về thủ tục: trong cả hai trường hợp nêu trên, trước khi thành viên WTO áp dụng biện pháp hạn chế tạm thời, theo cách thức nêu trên, phải thông báo trước bằng văn bản sớm nhất có thể cho các thành viên WTO khác có liên quan biết Đồng thời, tạo cơ hội cho các nước xuất khẩu các sản phẩm nêu trên cùng xem xét các biện pháp dự kiến được áp dụng Nếu thông báo về một nhân nhượng liên quan tới một ưu đãi, trong thông báo cần nêu rõ tên bên ký kết đã đề nghị áp dụng biện pháp đó Trong các hoàn cảnh khó khăn
mà có sự chậm trễ sẽ dẫn đến những hậu quả khó có thể khắc phục được, các biện pháp đã dự kiến nêu trên có thể tạm thời áp dụng mà không cần tham vấn trước, nhưng ngay sau khi áp dụng thì phải tiến hành tham vấn Nếu trong quá trình tham vấn các bên ký kết liên quan không đi đến nhất trí thì thành viên WTO đề nghị áp dụng và duy trì biện pháp đó có quyền tiếp tục hành động Nếu biện pháp đó được áp dụng hay tiếp tục được áp dụng, trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày các biện pháp được áp dụng và sau 30 ngày kể từ khi các bên ký kết nhận được thông báo trước bằng văn bản, các thành viên WTO chịu tác động của biện pháp đó có quyền ngừng không cho thương mại của thành viên đang áp dụng các biện pháp đó hưởng các nhân nhượng hay ngừng các nghĩa vụ tương ứng đáng kể khác thuộc Hiệp định GATT, và việc ngừng đó sẽ không bị các bên phản đối
Trường hợp các biện pháp được áp dụng theo tinh thần nêu trên mà không
có tham vấn trước, gây thiệt hại hay đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất trên lãnh thổ của một thành viên WTO chịu tác động của các biện pháp đó thì thành viên này có quyền ngừng cho thành viên áp dụng các biện pháp đó hưởng các nhân nhượng hay ngừng các nghĩa vụ khác trong thời hạn cần thiết để ngăn ngừa hay khắc phục những thiệt hại của mình
Điều khoản này của GATT đã được WTO cụ thể hóa và nâng lên thành Hiệp định về tự vệ trong thương mại (AC)
* Điều XX của GATT: các ngoại lệ chung
Các ngoại lệ chung được áp dụng đối với tất cả các thành viên WTO dù là nước đang phát triển hay là nước phát triển Điều XX của GATT 1947 qui định
10 trường hợp ngoại lệ chung mà theo đó, bất kể một thành viên WTO nào cũng được quyền áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại, bao gồm cả hạn chế nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu một số sản phẩm với các mục đích và lý do sau:
Trang 38a) Cần thiết để bảo vệ đạo đức cộng đồng (ví dụ: văn hóa phẩm đồi trụy); b) Cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khỏe của con người, động vật hay thực vật;
c) Liên quan đến xuất hoặc nhập khẩu vàng và bạc;
d) Cần thiết để đảm bảo tôn trọng pháp luật và các qui tắc không trái với qui định của Hiệp định GATT (chẳng hạn như liên quan tới áp dụng các biện pháp Hải quan, duy trì hiệu lực của chính sách độc quyền, liên quan tới bảo
hộ bản quyền, nhãn hiệu thương mại và quyền tác giả và các biện pháp thích hợp để ngăn ngừa các hành vi gian lận thương mại)
e) Liên quan tới các sản phẩm sử dụng lao động của tù nhân;
f) Áp đặt để bảo vệ di sản quốc gia có giá trị nghệ thuật, lịch sử hay khảo cổ; g) Liên quan tới việc giữ gìn nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt, nếu các biện pháp đó cũng được áp dụng hạn chế của với sản xuất và tiêu dùng trong nước;
h) Được thi hành theo nghĩa vụ của một Hiệp định liên Chính phủ về một hàng hóa mà cơ sở ký kết phù hợp với các tiêu thức đã trình ra các thành viên WTO và không bị phản đối hoặc bác bỏ;
i) Bao hàm cả các hạn chế với xuất khẩu một số nguyên liệu thiết yếu nhưng không dẫn tới tăng cường bảo hộ và không vi phạm nguyên tắc về phân biệt đối xử;
j) Hạn chế với xuất khẩu một sản phẩm thiết yếu thuộc diện khan hiếm trong nước, cần có sự phân phối, nhưng phải đảm bảo nguyên tắc công bằng trong việc quốc tế cung cấp các sản phẩm đó (ví dụ mặt hàng lương thực liên quan đến an ninh lương thực toàn cầu, sự hạn chế xuất khẩu của một nước XK chính có thể ảnh hưởng tới an ninh lương thực của nhiều nước khác);
Nguyên tắc chung của việc áp dụng các ngoại lệ nêu trên là không được theo cách tạo ra công cụ phân biệt đối xử độc đoán hay phi lý giữa các nước có cùng điều kiện như nhau, hay tạo ra một sự hạn chế trá hình với thương mại quốc
tế
* Điều XXI của GAT: ngoại lệ về an ninh:
Trang 39Theo tinh thần của điều này tất cả các thành viên WTO, dù là nước đang phát triển hay là nước phát triển đều được quyền áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại để bảo vệ quyền lợi thiết yếu về an ninh của nước mình như các biện pháp liên quan tới chất phóng xạ hay các chất dùng vào việc chế tạo chúng; liên quan tới mua bán vũ khí, đạn dược và vật dụng chiến tranh; các vật dụng trực tiếp hay gián tiếp phục vụ cho quân đội Thành viên WTO được áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại trong thời kỳ chiến tranh hoặc các tình huống khẩn cấp trong quan hệ quốc tế Các biện pháp hạn chế thương mại cũng có thể được một thành viên WTO áp dụng để thực thi các cam kết nhân danh Hiến chương Liên Hợp Quốc nhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế
Nhìn chung, trong các điều khoản về các trường hợp ngoại lệ nêu trên, ngoại trừ các ngoại lệ chung (Điều XX) và ngoại lệ về an ninh (Điều XXI) được các thành viên WTO áp dụng phổ biến, còn các trường hợp ngoại lệ được qui định tại Điều XVIII.C và Điều XIX rất khó khăn tiến hành áp dụng trong thời kỳ GATT, còn sau khi WTO thành lập, việc áp dụng được thực hiện theo Hiệp định ASCM và Hiệp định AC Bởi lẽ, nó bị ràng buộc bởi nhiều qui định tại các điều khoản khác của Hiệp định GATT Cách thức và thủ tục áp dụng rất phức tạp, phải tham vấn với các bên có liên quan và thường phải được các bên chấp thuận; mặt khác, nếu đơn phương áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại trong một số trường hợp, rất dễ bị các thành viên WTO khác chịu tác động của những biện pháp đó tiến hành “trả đũa”
Trang 40Chương 2 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
TRONG VẬN DỤNG CÁC ĐIỀU KHOẢN CỦA WTO VỀ
TRƯỜNG HỢP NGOẠI LỆ ĐỂ BẢO VỆ CÁN CÂN THANH TOÁN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
2.1 Khái quát chung về tình hình vận dụng các điều khoản của WTO về trường hợp ngoại lệ để bảo vệ cán cân thanh toán
Trong hệ thống thương mại đa phương từ GATT đến sau này là WTO Điều XII và Điều XVIII.B đã được khá nhiều thành viên WTO viện dẫn để áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu nhằm bảo vệ cán cân thanh toán Trong số trường hợp sử dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu để bảo vệ cán cân thanh toán của các thành viên WTO được thông báo tới Ủy ban BOP và các cuộc tham vấn tại Ủy ban cho thấy, viện dẫn Điều XII dễ được WTO chấp nhận hơn Điều XVIII.B
Trong lịch sử của GATT/WTO đã có nhiều trường hợp thành viên là các nước đang phát triển áp dụng điều XII của GATT được WTO chấp thuận với biện pháp áp dụng phổ biến là phụ thu nhập khẩu Trong thời kỳ từ sau năm 1980 đến nay có các trường hợp điển hình sử dụng các biện pháp này như Nam Phi, Hung Gari, Bulgaria, Romania, Slovakia
Đối với các trường hợp viện dẫn Điều XVIII.B của GATT để sử dụng biện pháp hạn chế thương mại, chủ yếu được diễn ra trong thời kỳ GATT từ năm 1960 đến những năm 1990 Các biện pháp hạn chế nhập khẩu đã được sử dụng chủ yếu
là đối với các mặt hàng nông nghiệp, dệt may, hàng tiêu dùng, một số khoáng sản,
ô tô, dầu khí, sản phẩm nhựa; biện pháp phụ thu nhập khẩu ít được sử dụng hơn Điển hình trong số các trường hợp này là Ấn Độ, Bănglađét, Ai Cập, Israel, Nigeria, Pkistan, Philipines, Srilanka, Tuynidi, Thổ Nhĩ Kỳ
Thời kỳ từ sau khi thành lập WTO đến nay cũng có một số nước thành viên WTO viện dẫn Điều XII và Điều XVIII.B của GATT để đề xuất biện pháp hạn chế số nhập khẩu nhưng rất khó được IMF và WTO chấp thuận nên phần nhiều trường hợp không thực hiện được mong muốn, điển hình là trường hợp Malayxia
năm 1998 Có nhiều lý do về vấn đề này Thứ nhất, theo qui định của WTO, một
nước thành viên WTO muốn được áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại để