Trong đó, khoảng 65% Hiệp định là giữa các nước phát triển với nhau South- South RTAs ký kết trước năm 1995 có điều khoản liên quan đến chính sách cạnh tranh.. Các quy định này có thể mớ
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH
BÁO CÁO TỒNG KẾT ĐỀ TÀI
“ĐÁNH GIÁ THỰC TIỄN ĐÀM PHÁN, QUY ĐỊNH VỀ CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH TRONG FTAs, RTAs TRÊN THẾ GIỚI, ĐỀ XUẤT VỀ ĐÀM PHÁN CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH TRONG CÁC FTAs, RTAs
CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TIẾP THEO”
Thực hiện theo Hợp đồng số 01.10.RD/HĐ-KHCN ngày 18 tháng 01 năm 2010
giữa Bộ Công Thương và Cục Quản lý cạnh tranh
Chủ nhiệm đề tài: Ths Trần Phương Lan
Các thành viên tham gia: CN Trương Thùy Linh
TS Nguyễn Hữu Huyên
ThS Phan Vân Hằng
Hà Nội, 2010
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT……… 5
LỜI MỞ ĐẦU……….8
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO SONG PHƯƠNG VÀ KHU VỰC 11
1.1 Khái quát chung về sự hình thành, phát triển và bối cảnh đàm phán chính sách cạnh tranh trong các FTAs, RTAs trên thế giới 11
1.1.1 Khái quát chung về sự hình thành và phát triển các FTAs, RTAs trên thế giới 11
1.1.2 Bối cảnh đàm phán chính sách cạnh tranh trong các FTAs, RTAs 13
1.2 Quan điểm của các nước về đàm phán quy định chính sách cạnh tranh trong các FTAs, RTAs hiện nay 17
1.2.1 Quan điểm của nhóm các nước đang phát triển và có nền kinh tế chuyển đổi 17
1.2.2 Quan điểm của nhóm các nước phát triển 18
1.2.3 Quan điểm về cạnh tranh trong một số diễn đàn đa phương 20
1.3 Tổng quan chung về chương cạnh tranh trong các FTAs, RTAs trên thế giới 29
1.3.1 Một số mô hình về chính sách cạnh tranh trong các FTAs, RTAs trên thế giới29 1.3.2 Mức độ cam kết về chính sách cạnh tranh trong các FTAs, RTAs 31
1.3.3 Phân tích một số quy định pháp lý trong chương chính sách cạnh tranh trong các FTAs, RTAs trên thế giới 33
1.4 Nội dung chính sách cạnh tranh trong một số Hiệp định thương mại tự do song phương và khu vực trên thế giới 36
1.4.1 Một số Hiệp định giữa nhóm các nước phát triển 37
1.4.2 Một số Hiệp định giữa nhóm các nước phát triển và đang phát triển 40
1.4.3 Một số Hiệp định giữa nhóm các nước đang phát triển 43
CHƯƠNG II THỰC TIỄN ĐÀM PHÁN VÀ QUY ĐỊNH VỀ CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH TRONG CÁC FTAs, RTAs MÀ VIỆT NAM THAM GIA 45
2.1 Bối cảnh nền kinh tế và vai trò chính sách cạnh tranh trong các FTAs, RTAs Việt Nam tham gia 45
Trang 32.1.1 Tổng quan chính sách cạnh tranh và vai trò chính sách cạnh tranh trong nền
kinh tế Việt Nam 45
2.1.2 Chính sách cạnh tranh trong mối tương quan với các chính sách khác trong nền kinh tế tại Việt Nam 53
2.1.3 Thực trạng và quá trình thực thi chính sách cạnh tranh tại Việt Nam trong thời gian qua 56
2.2 Thực tiễn đàm phán chính sách cạnh tranh trong các FTAs, RTAs mà Việt Nam tham gia 57
2.2.1 Phân tích chính sách cạnh tranh trong các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết 60
2.2.2 Phân tích chính sách cạnh tranh trong các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đang và sẽ tham gia đàm phán 69
CHƯƠNG III MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 83
3.1 Quan điểm và định hướng trong đàm phán và cam kết về chính sách cạnh tranh của Việt nam trong các FTAs, RTAs thời gian tới 83
3.1.1 Bối cảnh và xu thế đàm phán chính sách cạnh tranh trong các FTAs/RTAs mà Việt nam tham gia trong thời gian tới 83
3.1.2 Quan điểm đàm phán chính sách cạnh tranh 85
3.1.3 Định hướng đàm phán và cam kết về chính sách cạnh tranh của Việt nam trong các FTAs, RTAs thời gian tới 87
3.2 Một số kiến nghị liên quan đến chính sách cạnh tranh trong đàm phán FTAs, RTAs của Việt nam trong thời gian tới 88
3.2.1 Cách tiếp cận đàm phán 88
3.2.2 Nguyên tắc đàm phán 90
3.2.3 Mức độ cam kết với một số nội dung cụ thể 91
KẾT LUẬN 97
PHỤ LỤC 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU BẢNG
Bảng 1.1 Mô hình chính sách cạnh tranh trong các FTAs của EU,
Bảng 1.2 So sánh một số nội dung về chính sách cạnh tranh trong một
Bảng 2.1 Mối quan hệ giữa chính sách cạnh tranh, chính sách công
Bảng 2.2 Nội dung Chương Cạnh tranh trong các FTA Việt Nam tham
Trang 5DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
AANZFTA Hiệp định Thương mại tự do ASEAN- Úc- New Zealand
ACFTA Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc
ADB Ngân hàng phát triển châu Á
AEC Cộng đồng kinh tế ASEAN
AFTA Khu vực thương mại tự do ASEAN
AIFTA Hiệp định hợp tác kinh tế ASEAN - Ấn Độ
AJCEP Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN- Nhật Bản
AKFTA Hiệp định thương mại tự do ASEAN- Hàn Quốc
ANZ Úc và New Zealand
ANZCERTA Hiệp định thương mại quan hệ kinh tế Úc - New Zealand
APEC Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEM Diễn đàn hợp tác Á – Âu
ATA Hợp tác giữa các cơ quan cạnh tranh
BIT Hiệp định Đầu tư song phương
BTA Hiệp định thương mại song phương
Trang 6CIS Cộng đồng các quốc gia độc lập
CN Tính trung lập cạnh tranh (competitive neutrality)
CP Chính sách cạnh tranh (Competition Policy)
CPDG
Nhóm công tác về chính sách cạnh tranh và nới lỏng cơ chế chính sách
CSCT Chính sách cạnh tranh
EAFTA Hiệp ước Cộng đồng kinh tế Châu Âu
ECN Mạng lưới cạnh tranh của EU
ECT Hiệp ước Cộng đồng kinh tế Châu Âu
EFTA Hiệp hội mậu dịch tự do Châu Âu
EU Liên minh Châu Âu (European Union)
FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA Hiệp định khu vực thương mại tự do (Free Trade Area)
FTAAP Khu vực mậu dịch tự do Châu Á - Thái Bình Dương
GATS Hiệp ước chung về Thương mại Dịch vụ
GATT Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch
ICN Mạng lưới cạnh tranh quốc tế
JSEPA Hiệp định đối tác kinh tế mới giữa Nhật Bản và Singapore
JVEPA Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản
M&A Mua bán và sáp nhập (Merger and Acquisition)
MERCOSUR
MNC
Hiệp định nội khối MERCOSUR Tập đoàn đa quốc gia (Multinational Corporation)
Trang 7NAFTA Hiệp định thương mại Tự do Bắc Mỹ
NZ New Zealand
ODA Viện trợ phát triển chính thức
OECD Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Âu
PCA Hiệp định Hợp tác và đối tác Việt Nam và liên minh Châu Âu
PTA Hiệp định mậu dịch ưu đãi (Preferential Trade Agreements)
RTA Hiệp định khu vực tự do (Regional Trade Agreement)
SDT Điều khoản đối xử đặc biệt (Special and differential treatment)
SEOM Hội nghị quan chức kinh tế cao cấp ASEAN
SME Doanh nghiệp vừa và nhỏ
SOE Doanh nghiệp nhà nước (State- owned Enterprise)
TAFTA Hiệp địnhthương mại tự do Thái Lan và Úc
TIFA
Cam kết về thuận lợi trong đầu tư và thương mại (Trade and Investment Facilitate Agreements)
TIFA Hiệp định khung về Thương mại và Đầu tư Việt Nam- Hoa Kỳ
TNZCEP Hiệp định đối tác kinh tế giữa Thái Lan và Niu- Di- Lân
TOR Điều khoản tham chiếu
TPP Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương
UNCTAD Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc
USSFTA
WTO
Hiệp định tự do thương mại giữa Hoa Kỳ và Singapore
Tổ chức kinh tế thế giới (World Trade Organization)
XNK Xuất nhập khẩu
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu
Trong quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia, quá trình tham gia vào các khuôn khổ định chế thương mại song phương và khu vực đem lại nhiều lợi ích cho các quốc gia nói riêng, cho khu vực và cho nền kinh tế thế giới nói chung Có thể nói
số lượng các hiệp định thương mại tự do song phương và khu vực đang gia tăng một cách nhanh chóng Hơn 300 Hiệp định thương mại RTAs có hiệu lực đã được chính thức thông báo lên Tổ chức thương mại thế giới WTO, bên cạnh nhiều Hiệp định khác đang trong quá trình đàm phán Nếu tính đến tất cả các Hiệp định đang có hiệu lực mà chưa được thông báo lên WTO, đã ký kết nhưng chưa có hiệu lực, đang trong quá trình đàm phán hoặc trong giai đoạn đề xuất triển khai, trên thế giới có khoảng gần 400 Hiệp định RTAs sẽ được thực hiện và hoàn tất trong năm 2010 Trong số
đó, có khoảng 90% Hiệp định là hình thức khu vực thương mại tự do và 10% là hình thức liên hiệp thuế quan Trên thực tế, tất cả các quốc gia đều tham gia và là thành viên của ít nhất một Hiệp định thương mại song phương hoặc khu vực Thậm chí một số quốc gia tại khu vực Đông Á vốn “lảng tránh” tham gia vào các Hiệp định hoặc hợp tác thương mại thì hiện nay cũng trở nên khá “tích cực” trong các đàm phán hiệp định thương mại khu vực
Rất nhiều lĩnh vực vốn trước đây chưa được đưa vào chương trình/ nội dung đàm phán của các Hiệp định, thì nay các nội dung đàm phán đã được mở rộng tương ứng với mức độ, mục tiêu liên kết giữa các đối tác tham gia Các Hiệp định thương mại tự do song phương và khu vực hiện nay thông thường bao gồm các quy định về chính sách cạnh tranh, môi trường, lao động, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, phòng
vệ thương mại và các rào cản kỹ thuật đối với thương mại, bên cạnh các quy định về gia nhập thị trường trong lưu thông hàng hóa thương mại
Đối với những nước đang phát triển như Việt Nam, việc tham gia FTA sẽ có tác động rất lớn đến nền kinh tế, đây cũng là điều kiện tạo ra thay đổi về môi trường, quá trình vận động của lao động và nguồn lực một cách hiệu quả nhất, đem lại lợi ích kinh tế, xã hội cao nhất Quá trình nhận thức tư tưởng, hệ thống pháp luật, quản
lý chính sách, năng lực cạnh tranh phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế là những nhân tố quan trọng khi các quốc gia tham gia vào các cam
Trang 9kết thương mại song phương và đa phương Tuy nhiên cho đến thời điểm này, chưa
có một nghiên cứu tổng thể nào về phương thức cam kết phù hợp về chính sách cạnh tranh trong quá trình đàm phán các FTA/RTAs của Việt Nam Do đó, nội dung nghiên cứu Đề tài có ý nghĩa hết sức quan trọng, thiết thực trước bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, và còn rất nhiều khó khăn, thách thức đối với Việt Nam trong việc tham gia đàm phán và thực thi các cam kết chính sách cạnh tranh trong các Hiệp định thương mại tự do song phương/ đa phương Nội dung nghiên cứu của đề tài sẽ đem lại cái nhìn tổng quan về thực trạng đàm phán chính sách cạnh tranh trong các Hiệp định thương mại tự do trên thế giới và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam tham gia, từ đó đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả đàm phán chính sách cạnh tranh trong các Hiệp định mà Việt Nam sẽ tham gia trong thời gian tới Đặc biệt đặt trong bối cảnh hợp tác quốc tế ngày càng phát triển, trào lưu liên kết trên thế giới và khu vực ngày càng mở rộng, Việt Nam cần có những phương án chủ động về chính sách cạnh tranh để hòa nhập vào kinh tế quốc tế
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở những nghiên cứu về thực tiễn đàm phán, quy định về chính sách cạnh tranh trong các FTAs, RTAs trên thế giới, từ đó Đề xuất nhằm tăng cường hiệu quả trong quá trình đàm phán chính sách cạnh tranh trong các FTAs, RTAs của Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ nghiên cứu của Đề tài, nội dung chính sách cạnh tranh sẽ được phân tích trên thực tiễn các Hiệp định hợp tác, thương mại tự do song phương
và đa phương đã tồn tại/ đang trong quá trình đàm phán hoặc sẽ đàm phán trong tương lai trên thế giới
Trong đó, Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu sâu hơn các vấn đề về cạnh tranh trong các Hiệp định mà Việt Nam đã ký kết và đang tham gia đàm phán bao gồm:
- Hiệp định Khu vực Tự do Thương mại ASEAN – Úc – New Zealand (AANZFTA) (đã ký kết);
- Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (JVEPA) (đã ký kết);
- Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương TPP (đang tham gia đàm phán);
Trang 10- Hiệp định Hợp tác và Đối tác Việt Nam và Liên minh Châu Âu (PCA) (đang tham gia đàm phán);
- Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và EFTA (đang tham gia nghiên cứu đàm phán)
Từ đó, lấy cơ sở làm nghiên cứu cho chiến lược và đề xuất nâng cao hiệu quả đàm phán trong những FTAs, RTAs của Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo
4 Phương pháp nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu đề tài sử dụng các biện pháp nghiên cứu trong Đề tài như sau:
- Thu thập tài liệu, nghiên cứu;
- Rà soát, phân tích, tham khảo các nguồn thông tin;
- Phương pháp tổng hợp nghiên cứu liên quan đến chủ đề nghiên cứu và kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đây
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, kết cấu của Đề tài gồm 03 hợp phần chính được trình bày như sau:
Chương I Tổng quan về chính sách cạnh tranh trong các Hiệp định thương mại tự do song phương và khu vực
Chương II Thực tiễn đàm phán và quy định về chính sách cạnh tranh trong các FTAs, RTAs mà Việt Nam tham gia
Chương III Một số khuyến nghị đối với Việt Nam trong thời gian tới
Trang 11CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO SONG PHƯƠNG VÀ KHU VỰC
1.1 Khái quát chung về sự hình thành, phát triển và bối cảnh đàm phán chính sách cạnh tranh trong các FTAs, RTAs trên thế giới
1.1.1 Khái quát chung về sự hình thành và phát triển các FTAs, RTAs trên thế giới
Số lượng các Hiệp định thương mại trên thế giới tăng một cách nhanh chóng
về số lượng, đặc biệt bắt đầu từ năm 1990s (Biểu 1.1) Chỉ trong vòng 10 năm từ
1990 đến 2000, có gần 200 FTAs/RTAs được thông báo lên WTO Riêng trong năm
2004 có 33 Hiệp định mới được thông báo1 Xu hướng này vẫn còn tiếp tục tăng trong tương lai, không chỉ trong liên kết đa phương mà cả song phương, không chỉ trong khu vực mà bao gồm nhiều đối tác từ các khu vực khác nhau Theo thống kê của Ngân hàng thế giới, tính cả số lượng các FTA đang trong quá trình đàm phán và chưa được thông báo lên WTO, đến năm 2008 có 3002
Hiệp định đã được chính thức
ký kết Ước tính hơn 40% thương mại thế giới được hưởng lợi ích từ những Hiệp định đã ký kết Nội dung về chính sách cạnh tranh trong các hiệp định thương mại cũng ngày càng được chú trọng và được đưa vào nhiều hơn trong các đàm phán
và Estevadeordal, Suominen & Teh, 2009, “Competition Policy in RTAs”, WTO
Trang 12Biểu 1.1 Số lƣợng FTAs ký kết tại Châu Á từ 2000-2009
(Nguồn: Cơ sở dữ liệu của Trung tâm hội nhập khu vực Châu Á của Ngân hàng ADB,
tính đến tháng 06/2009)
Cùng với chủ nghĩa đa phương hóa, Châu Á bắt đầu tập trung vào việc tham gia các Hiệp định FTAs như là một công cụ thương mại từ những năm đầu 1990s Riêng tại khu vực Châu Á, số lượng FTAs được ký kết trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2009 (tính đến tháng 06/2009) tăng lên đáng kể (Biểu 1.2) Số lượng FTAs được
ký kết tăng từ 3 lên đến 54 Hiệp định, trong đó có 40 FTAs hiện đang có hiệu lực Tốc độ tăng các Hiệp định của khu vực Châu Á khá nhanh với 78 Hiệp định đang trong quá trình đàm phán hoặc đề xuất đàm phán
Biểu 1.2 Số lƣợng các FTAs ký kết nội khối và bên ngoài khu vực Châu Á
(tính đến tháng 06/2009)
(Nguồn: Cơ sở dữ liệu của Trung tâm hội nhập khu vực Châu Á của Ngân hàng ADB)
Trang 13Có thể thấy, năm quốc gia có nền kinh tế lớn nhất tại khu vực đóng vai trò trung tâm trong các hoạt động FTA, trong khi đó các nước nhỏ tham gia với vai trò
là những thành viên kết nối Số lượng các FTA đã được ký kết của các quốc gia là Singapore (18), Nhật Bản (11), Trung Quốc (10), Ấn Độ (9) và Hàn Quốc (6), bên cạnh rất nhiều FTA đang trong quá trình đàm phán Một đặc điểm nổi bật là ASEAN- được coi là liên kết khu vực/ cộng đồng kinh tế đầu tiên tại Châu Á- đang trở thành trung tâm chính trong khu vực và tạo điểm nối giữa các nước thành viên ASEAN với các đối tác khác Ngoài các Hiệp định đã ký kết với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, ASEAN gần đây cũng đã kết thúc đàm phán và ký kết Hiệp định thương mại với Ấn Độ, Úc và New Zealand, bên cạnh quá trình khởi động đàm phán với EU
Trong thập kỉ vừa qua, sáng kiến đưa quy định chính sách cạnh tranh trong các cam kết song phương, đa phương và khu vực ngày càng trở nên phổ biến Cụ thể, theo thống kê của UNCTAD (2005), trong số khoảng 300 Hiệp định song phương và khu vực đang có hiệu lực trên thế giới, hơn 100 Hiệp định có nội dung quy định về cạnh tranh Khoảng 80% trong số 100 Hiệp định đàm phán trước năm
2000 nằm trong giai đoạn xu thế đàm phán sâu các điều khoản tự do thương mại, dịch vụ, đầu tư, nhân công và các quy định thương mại khác Trong đó, khoảng 65% Hiệp định là giữa các nước phát triển với nhau (South- South RTAs) ký kết trước năm 1995 có điều khoản liên quan đến chính sách cạnh tranh
Trong một nghiên cứu khác của OECD về các điều khoản cạnh tranh trong các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương trên thế giới, 86 Hiệp định có điều khoản về chính sách cạnh tranh đã được phân tích Trong đó, có 59 Hiệp định (chiếm 68%) được ký kết giữa các nước đang phát triển, chỉ có 4 Hiệp định (chiếm 5%) giữa các nước phát triển và còn lại 23 Hiệp định (chiếm 27%) giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển
1.1.2 Bối cảnh đàm phán chính sách cạnh tranh trong các FTAs, RTAs
Ngày nay, các hiệp định thương mại tự do (FTA, RTA) gia tăng một cách nhanh chóng Hơn 300 FTA có hiệu lực đã được thông báo với Tổ chức thương mại thế giới WTO và có rất nhiều FTA hiện đang được đàm phán Có thể thấy bối cảnh
và nội dung đàm phán trong các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa
Trang 14phương trên thế giới đã có nhiều thay đổi Trước đây, các nội dung đàm phán truyền thống trong các FTAs, RTAs chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như mở cửa thị trường, thương mại, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, rảo cản kỹ thuật trong thương mại,v.v Hiện nay, rất nhiều lĩnh vực mới đã được đưa vào và trở thành những nội dung đàm phán quan trọng Chính sách cạnh tranh là một trong những lĩnh vực đó
Chính sách cạnh tranh và vấn đề tự do hóa thương mại:
Với sự phát triển kinh tế, nhu cầu lưu thông hàng hóa cũng như cung ứng dịch
vụ ngày càng gia tăng, khuôn khổ WTO không đủ cho sự phát triển này Bởi vậy ngày càng nhiều FTA được đàm phán và ký kết, góp phần tháo rỡ và giảm thiểu các rào cản thương mại, nhằm hướng tới một thị trường chung bình đẳng Điều này không đồng nghĩa với việc xóa bỏ những đặc thù về lợi thế thương mại của quốc gia
Mà, thương mại tự do tạo cơ hội cho sự liên kết kinh tế giữa các quốc gia thông qua việc tập trung phát huy những lợi thế thương mại của mỗi nước Thương mại tự do
sẽ chuyển những lợi thế riêng ấy thành năng suất tối đa việc tập trung phát huy cho tất cả các thị trường Điều này chỉ có thể có được khi mọi rào cản thương mại được
dỡ bỏ để hàng hóa và tư bản có thể lưu thông tự do Để xây dựng một thị trường tự
do trên phạm vi toàn cầu hoặc khu vực, các quốc gia tham gia vào các định chế toàn cầu/ khu vực có nghĩa vụ xóa bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan theo một
lộ trình nhất định với mục tiêu đảm bảo cho hàng hóa và dịch vụ tự do di chuyển qua biên giới Mặt khác, quá trình tự do hóa kinh tế diễn ra đem lại cho thị trường của các quốc gia động lực phát triển mới đòi hỏi sự mở cửa, lành mạnh hóa thị trường nội địa bằng các công cụ chính sách và pháp lý phù hợp Tuy nhiên, việc rỡ bỏ các rào cản thương mại này có thể sẽ trở nên vô nghĩa hoặc không hiệu quả nếu các thành viên tham gia hiệp định FTA đó không có những chính sách cạnh tranh thích hợp Bởi vì chính sách và luật cạnh tranh được coi là nền tảng tạo lập một thị trường nội địa lành mạnh và bình đẳng, bởi lẽ:
Thứ nhất, chính sách tự do hóa thương mại làm gia tăng sự cạnh tranh từ các
hàng hóa, dịch vụ nước ngoài đồng thời hàng hóa, dịch vụ trong nước cũng mất dần
sự bảo hộ từ Nhà nước (thông qua các chính sách ưu đãi, chính sách thuế quan…) Điều này có thể là mầm mống nảy sinh các hành vi phản cạnh tranh một cách vô tình hay hữu ý như các thỏa thuận kinh doanh, lạm dụng vị trí độc quyền/ thống lĩnh của một hay một nhóm doanh nghiệp gây tổn hại đến môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp Sự tồn tại và phát triển của những hành vi đó sẽ làm gia tăng
Trang 15nguy cơ đe dọa đến quá trình hình thành thị trường tự do, do vậy các lợi ích có thể
có được từ quá trình tự do hóa thương mại có thể bị vô hiệu nếu pháp luật và chính sách cạnh tranh không thể bao trùm toàn bộ nền kinh tế hoặc tính khả thi bị hạn chế Mặt khác, với vai trò là cơ chế thiết lập, duy trì và bảo vệ cạnh tranh, chính sách cạnh tranh góp phần thúc đẩy sự hình thành các quan hệ thị trường cho đời sống kinh tế, hình thành cơ chế tự điều chỉnh của thị trường,…là những thiết chế cơ bản của quá trình dự do hóa thương mại Nói cách khác, chính sách cạnh tranh là công
cụ để bảo trợ cho quá trình tự do hóa thương mại
Thứ hai, chính sách thương mại tự do và chính sách cạnh tranh không đối
nghịch mà ngược lại là sự hỗ trợ hài hòa cho nhau Một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm luật lệ, quy định, các cam kết thực thi các hiệp định quốc tế để mở cửa thị trường theo lộ trình của quốc gia, chính sách thương mại tự do sẽ là cơ sở để hình thành một môi trường cạnh tranh quyết liệt và chính sách cạnh tranh duy trì và đảm bảo sự lành mạnh của thị trường ấy, cùng đem lại hiệu quả cho các nền kinh tế tham gia quá trình này một cách tích cực và chủ động
Như vậy, có thể thấy rằng chính sách cạnh tranh là một công cụ pháp lý gắn với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và có thể coi là một trong những nỗ lực đóng góp làm giảm các rào cản thương mại quốc tế Khi chính sách thương mại có xu hướng bảo vệ nền kinh tế nội địa (đưa ra các biện pháp phòng vệ thương mại, chống bán phá giá, hoặc chống trợ cấp) thì chính sách cạnh tranh trong đàm phán thương mại quốc tế được đặc biệt quan tâm như là một công cụ nhằm giảm thiểu tác động chính sách trong nước có thể gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nước ngoài, cũng như vấn đề cạnh tranh giữa các chủ thể trên thị trường
Những lý do đó chính là tiền đề cho việc mở rộng nguyên tắc cam kết trong khuôn khổ WTO và đưa ra những quy định trong cam kết song phương/ đa phương khác về chính sách và luật cạnh tranh Các quy định này có thể mới chỉ dừng lại ở những vấn đề về hành vi phản cạnh tranh, hành vi gây ảnh hưởng đến gia nhập thị trường và loại bỏ hiệu quả các hành vi đó hoặc phạm vi mở rộng hơn như hợp tác điều tra; các điều khoản gắn với cam kết tự do hóa thương mại mà khung pháp luật cạnh tranh quốc gia thành viên không gây ảnh hưởng tiêu cực đến tự do thương mại chung giữa các nước (ví dụ: việc miễn trừ cho hành vi thông đồng xuất khẩu); hoặc
cơ chế thực thi chống độc quyền giữa các nước thành viên đòi hỏi phải thống nhất và
Trang 16hợp tác, giảm thiểu tối đa các tác động từ các hành vi phản cạnh tranh gây ảnh hưởng đến tự do thương mại; v.v
Các quốc gia chủ động và tích cực tham gia đẩy nhanh quá trình tự do hóa thương mại đều là những nước phát triển và cũng có lịch sử hình thành và phát triển luật và chính sách cạnh tranh lâu đời, do vậy chính sách cạnh tranh luôn được coi là một công cụ hữu hiệu không chỉ là vấn đề điều tiết thị trường nội địa mà còn ở phạm
vi rộng hơn (khu vực và quốc tế)
Những đề xuất đó là tiền đề cho việc mở rộng nguyên tắc cam kết trong khuôn khổ WTO và đưa ra những quy định trong cam kết song phương/ đa phương
về chính sách và luật cạnh tranh Trong đó, các quy định có thể mới chỉ dừng lại ở những vấn đề về hành vi phản cạnh tranh, hành vi gây ảnh hưởng đến gia nhập thị trường và loại bỏ hiệu quả các hành vi đó; các điều khoản gắn với cam kết tự do hóa thương mại mà khung pháp luật cạnh tranh quốc gia thành viên không gây ảnh hưởng tiêu cực đến tự do thương mại chung giữa các nước (ví dụ: việc miễn trừ cho hành vi thông đồng xuất khẩu); hoặc cơ chế thực thi chống độc quyền giữa các nước thành viên đòi hỏi phải thống nhất và hợp tác, giảm thiểu tối đa các tác động từ các hành vi phản cạnh tranh gây ảnh hưởng đến tự do thương mại; v.v
Tuy nhiên, bên cạnh những ý kiến ủng hộ chính sách cạnh tranh trong các Hiệp định song phương và đa phương, một số ý kiến cho rằng chính sách cạnh tranh
là không cần thiết khi hợp tác giữa các cơ quan cạnh tranh hoàn toàn có thể giải quyết những vấn đề cạnh tranh phát sinh trong quan hệ thương mại giữa các thành viên3 Hoặc một số quan điểm khác cho rằng không nên ưu tiên đàm phán các quy định về chống độc quyền, cạnh tranh hay chính sách cạnh tranh do việc thúc đẩy tự
do hóa thương mại sẽ thúc đẩy cạnh tranh hiệu quả4
Các điều khoản về chống độc quyền nói riêng và chính sách cạnh trang nói chung trong khuôn khổ WTO cũng đang phải tạm ngừng đàm phán do khả năng thực thi khó, vì luật cạnh tranh quốc gia và cơ chế thực thi giữa các thành viên WTO quá khác biệt và không đồng nhất Rất nhiều thành viên chưa có chính sách và luật cạnh tranh, do đó không có kinh nghiệm trong việc thực thi các điều khoản này, trong khi các nước phát triển thường có chính sách và luật cạnh tranh từ rất lâu, sẽ có thể khai
3 Theo Klein, 1998 và Hoekman, B 2002
Trang 17thác lợi ích tốt hơn từ các quy định về cạnh tranh trong các hiệp định thương mại5
Một rào cản khó khăn nữa đó là quan điểm chính sách cạnh tranh chỉ bao gồm chống độc quyền, ngăn cản hành vi phản cạnh tranh của các doanh nghiệp hay bao gồm cả việc giảm trợ cấp chính phủ, hoặc các hình thức bảo hộ công nghiệp trong nước…Đây cũng là một trong những khó khăn trong thống nhất quan điểm đầy đủ
về vấn đề này giữa các thành viên
1.2 Quan điểm của các nước về đàm phán quy định chính sách cạnh tranh trong các FTAs, RTAs hiện nay
1.2.1 Quan điểm của nhóm các nước đang phát triển và có nền kinh tế chuyển đổi
- Sự phát triển kinh tế, sự gia tăng các thành phần kinh tế của các nước đang phát triển đòi hỏi một môi trường cạnh tranh hoàn thiện hơn, bởi thế có thể thấy rằng các nước đang phát triển đều đang hướng tới xây dựng nền tảng cho việc phát triển chính sách cạnh tranh tuy ở các mức độ khác nhau như một luật cạnh tranh toàn diện hay các quy định về cạnh tranh trong các lĩnh vực cụ thể Do vậy, các nước đang phát triển chỉ dừng việc hợp tác về chính sách cạnh tranh ở mức nền tảng pháp lý hiện hành, chủ yếu là việc thiết lập các nguyên tắc chung trên cơ sở thống nhất những mục tiêu chung và các vấn đề ưu tiên cho từng thời kỳ Với sự khác biệt và khoảng cách phát triển về chính sách và luật cạnh tranh của các nước đang phát triển
và các nước phát triển như vậy, việc hợp tác có hai nhóm nước này tham gia không tránh hỏi sự bất đồng về quan điểm và khó đạt được sự đồng thuận một “tiêu chuẩn”
Trang 18
về chính sách cạnh tranh (tự nguyện hoặc bắt buộc) được đưa vào các hợp tác đa phương như APEC, ASEAN, ICN, UNCTAD, OECD Tuy nhiên những “cam kết” mới chỉ tập trung vào việc trao đổi, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm thực tiễn
1.2.2 Quan điểm của nhóm các nước phát triển
- Chính sách cạnh tranh, chống độc quyền đã tồn tại và phát triển lâu đời tại các nước phát triển, do nhận thức được tầm quan trọng của chính sách cạnh tranh trong việc duy giữ vũng và duy trì một môi trường kinh doanh lành mạnh Các nước phát triển ủng hộ mạnh mẽ việc tham gia và hợp tác về chính sách cạnh tranh trong các diễn đàn/ tổ chức quốc tế và khu vực về cạnh tranh cũng như việc chính sách cạnh tranh phải được quy định trong các hiệp định thương mại tự do là bắt buộc Xu hướng toàn cầu hóa làm cho việc hội nhập kinh tế của các nước đang phát triển ngày càng sâu, rộng với việc hài hòa hệ thống thể chế với các “luật chơi” mang tính quốc
tế, trong đó chính sách cạnh tranh là một nên tảng không chỉ nhằm thiết lập một môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng mà còn nhằm tạo môi trường đầu tư tin cậy cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước
- Hơn nữa, làn sóng chuyển giao công nghệ sang các nước thứ ba (các nước đang phát triển) ngày càng gia tăng, các tập đoàn đa quốc gia phân bổ lại các nguồn lực tại các nước đang phát triển với mục tiêu tăng cường hoạt động sản xuất và mở rộng thị trường tại các nước này, điều này kéo theo các hoạt động cạnh tranh giữa các tập đoàn đa quốc gia, các nhà sản xuất và dịch vụ ở sở tại diễn ra mạnh mẽ Nên
để đảm bảo quyền lợi của mình, các nước đang phát triển đòi hỏi có sự hợp tác về chính sách cạnh tranh và xem đó là công cụ
Các nước phát triển coi chính sách cạnh tranh là một công cụ điều tiết vĩ mô các hoạt động của nền kinh tế, nhằm đảm bảo thị trường được vận hành theo đúng quy luật của thị trường cạnh tranh hoàn hảo Vì vậy, quan điểm cơ bản về chính sách cạnh tranh trong các FTAs có nhiều nét tương đồng Quan điểm về chính sách cạnh tranh của nhóm các nước phát triển trong những Hiệp định thương mại tự do như sau:
- Hợp tác về chính sách: hướng tới việc hài hòa và nhất thể hóa về chính sách Theo đó, các nước sẽ xây dựng và điều chỉnh pháp luật cạnh tranh cho phù hợp với
Trang 19chính sách chung Điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc thực thi pháp luật ở cấp độ đa quốc gia, kể cả việc kiểm soát các hoạt động cạnh tranh
- Hợp tác theo chiều sâu: tham gia vào các vụ việc của nhau, các cơ quan cạnh tranh của các nước phát triển có cơ sở nền tảng pháp lý để phối hợp với nhau xử lý các vụ việc có tác động tới môi trường cạnh tranh ngay tại chính các quốc gia đó Việc hợp tác sâu như vậy, về dài hạn và tổng thể, sẽ có những tác động tích cực và điều chỉnh thị trường kịp thời theo hướng đảm bảo môi trường cạnh tranh cho các bên tham gia thị trường
- Hợp tác trên cơ sở song phương: Đây là một xu hướng ngày càng xuất hiện nhiều do việc hợp tác song phương dễ đạt được sự đồng thuận và tiếng nói chung trong nhiều vấn đề cần được giải quyết Hình thức hợp tác song phương sẽ là các chương trình, hiệp định hợp tác khung, trên cơ sở đó sẽ quy định những hoạt động
cụ thể theo từng vụ việc/ vấn đề cụ thể phát sinh từ thực tiễn
- Đa phương: hướng tới việc xây dựng các nguyên tắc chung, các chuẩn mực chung và mô hình của một cơ quan cạnh tranh có hiệu quả Các nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc, EU luôn đi đầu trong việc đưa ra sáng kiến tại các diễn đàn APEC, OECD, ICN…về các nguyên tắc, chuẩn mực chung cho việc xây dựng và điều chỉnh thể chế về cạnh tranh; mô hình của cơ quan cạnh tranh hoạt động có hiệu quả
- Đưa nội dung về chính sách cạnh tranh để đàm phán với các nước đang phát triển thông qua các FTAs (là một nội dung của Hợp tác kinh tế) nhằm thiết lập một nền tảng tham gia vào vấn đề thể chế, trước mắt là cung cấp trợ giúp kỹ thuật để nâng cao năng lực thực thi cho các cơ quan cạnh tranh non trẻ Về lâu dài, đây cũng
là những bước đi trong lộ trình xây dựng văn hóa cạnh tranh cho các nước đang phát triển để hội nhập một cách toàn diện trong nền kinh tế toàn cầu khi mà vấn đề chính sách cạnh tranh được hởi động đàm phán trong khuôn khổ WTO
- Xu thế hình thành các diễn đàn cạnh tranh khu vực với vai trò đầu tàu của các nước phát triển (Đông Á, Châu Á…) Nhật Bản đã chủ động đề xuất Sáng kiến thiết lập mạng lưới cạnh tranh Đông Á tại nhiều diễn đàn, khuôn khổ hợp tác khác nhau Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) cũng đã đưa ra ý tưởng thiết lập một khuôn khổ cạnh tranh khu vực Châu Á là các minh chứng cho xu thế này
Trang 201.2.3 Quan điểm về cạnh tranh trong một số diễn đàn đa phương
1.2.3.1 Quan điểm về chính sách cạnh tranh trong Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC)
Trong khuôn khổ hoạt động của APEC, Nhóm công tác về chính sách cạnh tranh và nới lỏng cơ chế chính sách (CPDG) đã được thành lập với mục tiêu tăng cường cải thiện môi trường cạnh tranh trong khu vực bằng cách xây dựng và duy trì chính sách cạnh tranh, các luật lệ và các biện pháp thực hiện một cách có hiệu quả
và hợp lý; đảm bảo tính rõ ràng của các luật lệ, chính sách và qua đó thúc đẩy hợp tác giữa các thành viên APEC mang tính chiều sâu và đi vào thực chất Các hoạt động của Nhóm công tác cũng nhằm tối đa hóa hiệu quả của các hoạt động giao dịch thương mại, đảm bảo cạnh tranh công bằng giữa các nhà sản xuất, kinh doanh và đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng Với mục tiêu này, chính sách cạnh tranh là một nội dung chính trong chương trình cải cách cơ cấu của APEC, đã được các nhà lãnh đạo APEC thông qua năm 2003 Trước đó, tháng 9/1999, APEC đã đưa ra Tuyên bố ủng hộ tăng trưởng thông qua các thị trường vững mạnh và mở, trong đó đưa ra các nguyên tắc để củng cố cạnh tranh và cải cách cơ chế chính sách
Cải cách cơ cấu chính sách là một vấn để nổi cộm, xuyên suốt đã được đưa vào tất cả các cuộc họp của Nhóm công tác, trong đó chính sách cạnh tranh là chính sách trọng tâm của công cuộc cải cách thể chế của APEC để xây dựng một môi trường kinh doanh thuận lợi, tạo khuôn khổ pháp lý tự do và công bằng đối với mọi thành phần kinh tế, đồng thời bảo vệ lợi ích chính đáng của người sản xuất, người tiêu dùng và doanh nghiệp
Về nội dung hợp tác trong lĩnh vực chính sách và luật cạnh tranh: các nền kinh tế thành viên có nghĩa vụ duy trì hệ thống cơ sở dữ liệu về luật và chính sách cạnh tranh của APEC để đảm bảo tính minh bạch về luật và chính sách cạnh tranh Bên cạnh đó, với xu hướng gia tăng các khu vực mậu dịch tự do trên thế giới cả về
số lượng lẫn phạm vi hiệp định, các nền kinh tế phát triển của APEC như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc và Niu Di Lân đã đưa ra ý tưởng đưa nội dung chính sách cạnh tranh vào nội dung đàm phán của các Hiệp định FTAs/ RTAs và do vậy cần xây dựng Điều khoản mẫu về chính sách cạnh tranh trong các Hiệp định FTAs/ RTAs để làm
cơ sở tham khảo và định hướng cho các thành viên khi đàm phán và tiến hành ký kết
Trang 21các FTAs/ RTAs (Chi tiết Điều khoản mẫu về chính sách cạnh tranh của APEC xem tại Phụ lục 1)
Đối với Nhật Bản, chính sách cạnh tranh đã được đưa vào nội dung hợp tác trong hiệp định về khu vực mậu dịch tự do ASEAN- Nhật Bản Nội dung này chỉ tập trung vào việc trao đổi, chia sẻ thông tin và hỗ trợ kỹ thuật trong việc thực thi chính sách cạnh tranh
Đối với Úc và Niu Di Lân, với mục đích lấy APEC làm nền tảng và cơ sở cho việc đám phán các FTAs/RTAs, Niu Di Lân đã chủ động soạn thảo điều khoản mẫu
về chính sách và luật cạnh tranh, gồm các nội dung sau:
- Chính sách và luật cạnh tranh và hành vi kinh doanh phản cạnh tranh: Các nước sẽ đặt ra cam kết về các hành vi phản cạnh tranh cũng như việc thực thi luật và chính sách cạnh tranh;
- Hợp tác: gồm hai lĩnh vực, hợp tác trong việc thực thi luật và chính sách cạnh tranh và xây dựng chương trình hỗ trợ kỹ thuật dưới hình thức “xây dựng năng lực” liên quan tới năng lực thực thi;
- Tham vấn: xây dựng cơ chế tham vấn để thực thi chương cạnh tranh trong Hiệp định FTAs;
- Cơ chế giải quyết tranh chấp: đây là một điều khoản mở và không yêu cầu các thành viên phải áp dụng cơ chế này
1.2.3.2 Quan điểm chính sách cạnh tranh trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
Hiện nay, trong ASEAN có 5 nước đã ban hành và thực thi Luật Cạnh tranh,
đó là Singapore, Việt Nam, Thái Lan, Indonesia và Malaysia (Malaysia vừa ban hành Luật Cạnh tranh trong năm 2010 và có hiệu lực thực thi vào năm 2012) Trước đây tuy chưa có Luật cạnh tranh tổng thể, Malaysia đã điều tiết các hành vi cạnh tranh trong các lĩnh vực cụ thể (viễn thông và năng lượng) theo các pháp luật chuyên ngành Cách tiếp cận về cạnh tranh theo các lĩnh vực cụ thể như vậy nhằm phù hợp với nhu cầu và ưu tiên phát triển kinh tế theo từng giai đoạn cụ thể, phù hợp với mục tiêu phát triển ngành/ lĩnh vực của Chính phủ Malaysia
Trong đó, Luật Cạnh tranh của Singapore, Việt Nam (ban hành năm 2005), và Malaysia (2010) được đánh giá là toàn diện và tương đối hiện đại, bao gồm các quy
Trang 22định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vi trí thống lĩnh/ độc quyền và kiểm soát mua lại và sáp nhập (M&A) Các quy định này phản ánh được các hành vi cạnh tranh thường xảy ra tại các quốc gia phát triển với mức độ và quy mô có ảnh hưởng tới môi trường cạnh tranh không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn mang tính khu vực và quốc tế Với Singapore, Luật Cạnh tranh phù hợp với trình độ và quy mô phát triển của nền kinh tế ở mức độ cao nên mặc dù mới được hoàn chỉnh vào đầu năm 2007 nhưng đã thể hiện sự cần thiết và tính hiệu quả của một nền tảng pháp luật cạnh tranh Với Việt Nam, Luật Cạnh tranh được ra đời trong bối cảnh Việt Nam đang đàm phán để gia nhập WTO nên cũng đã thể hiện được ý chí chính trị hướng tới một nền kinh tế thị trường với đặc thù riêng Tuy nhiên, do nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi nên việc thực thi chưa thể hiện được tính hiệu quả của một công cụ chính sách vĩ mô (chính sách cạnh tranh) điều tiết nền kinh tế theo quy luật thị trường
Indonesia đã ban hành Luật Cạnh tranh vào năm 1999 song song với quá trình cải cách kinh tế Đây là một luật toàn diện gồm các quy định và hướng dẫn cả về nội dung và trình tự thủ tục cho các hành vi: độc quyền, ấn định giá, phân biệt về giá, cartels, thỏa thuận dọc Luật Cạnh tranh ra đời trong bối cảnh nền kinh tế vừa trải qua khủng hoảng và chính phủ cũng chưa mặn mà với việc chống độc quyền vì vẫn muốn duy trì đặc quyền cho một số doanh nghiệp lớn Thực thi Luật Cạnh tranh là
Ủy Ban Cạnh tranh và Tòa án Do thực trạng nền kinh tế nên cộng đồng doanh nghiệp và công chúng còn hoài nghi về tính hiệu quả thực sự của Luật Cạnh tranh cũng như nhận thức về văn hóa cạnh tranh Chính vì vậy, việc thực thi gặp nhiều thách thức, kể cả tại thời điểm hiện nay
Thái Lan đã ban hành đạo Luật Cạnh tranh thương mại vào năm 1999 với mục tiêu tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp tư nhân tại Thái Lan Đạo luật này thay thế cho Luật ấn định giá và chống độc quyền năm 1979 Đối tượng điều chỉnh của luật này phần lớn là các doanh nghiệp tư nhân (không điều chỉnh hành vi của các doanh nghiệp nhà nước, tổng công ty, liên minh nông nghiệp
và hợp tác xã, các cơ quan chính phủ và một số loại hình doanh nghiệp đặc thù) Luật quy định về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm, các hành vi cạnh tranh tạo ra độc quyền hay hạn chế cạnh tranh và kiểm soát việc sáp nhập Như vậy, Luật cạnh tranh mới chỉ điều chỉnh hành vi của các doanh nghiệp tư nhân Có thể thấy rằng, mặc dù là một nước được công nhận là nền kinh tế thị trường nhưng vẫn
Trang 23chưa sử dụng chính sách cạnh tranh như một công cụ chính sách vĩ mô thực sự Gần đây, Thái Lan cũng đã thể hiện quan điểm tiếp cận chính sách cạnh tranh theo lĩnh vực cụ thể hơn là tiếp cận nội dung một cách toàn diện, bao trùm nền kinh tế
Các nước quốc gia thành viên khác như Philippines, Myanmar, Lào, Campuchia và Brunei cũng đang trong quá trình xây dựng và ban hành chính sách và luật cạnh tranh và cũng đã tham gia một số Hiệp định FTA có chương cạnh tranh với các đối tác ngoài khối Tuy vậy, các nước này chủ yếu nghiêng về cách tiếp cận theo lĩnh vực cụ thể
Nhóm chuyên gia về chính sách cạnh tranh của ASEAN đã được thành lập và nhóm họp phiên lần thứ nhất tại Singapore vào năm 2008 Nhóm này là một cơ chế hoạt động trong khuôn khổ của SEOM/ AEM, kết quả được báo cáo chính thức lên SEOM/AEM và hoạt động theo chỉ đạo của AEM/SEOM Mục tiêu hoạt động của nhóm nhằm đưa chính sách cạnh tranh là một hợp phần hợp tác để tiến tới cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015 (AEC) Lộ trình thực hiện AEC bao gồm nội dung về chính sách cạnh tranh là một nền tảng không thể thiếu trong AEC Mặc dù hiện nay mức độ phát triển chính sách cạnh tranh của các nước ASEAN là khác nhau nhưng xu hướng thiết lập một nền tảng nguyên tắc về chính sách cạnh tranh trong ASEAN là không thể khác được Mặt khác, vấn đề này sẽ được thảo luận tại một cơ chế làm việc và đàm phán như các cơ chế hiện hành của ASEAN, tùy theo mức độ
và cấp khác nhau nhưng việc tham gia AEGC sẽ có những nhiệm vụ và cam kết nhất định (theo lộ trình)
1.2.3.3 Quan điểm chính sách cạnh tranh trong Cộng đồng kinh tế Châu Âu EC
Cộng đồng kinh tế Châu Âu EC là một mô hình điển hình nhằm hướng đến việc hòa nhập các kinh tế thành viên thành một thị trường chung, có thể hiểu là không hề có bất kỳ rào cản nào nội khối, và do đó các dòng chảy hàng hóa, nhân công, dịch vụ và vốn được đảm bảo (theo Điều 8a, Hiệp ước Cộng đồng kinh tế Châu Âu - ECT) Để đảm bảo môi trường lành mạnh trong khối và bình đẳng giữa các thành viên, Điều 85a của Hiệp ước ECT cấm các thỏa thuận và hành vi gây ảnh hưởng đến cạnh tranh trên thị trường chung và ảnh hưởng đến thương mại nội khối
EU Tuy nhiên, một số miễn trừ trong một số lĩnh vực cũng được xem xét cân nhắc trong vấn đề này Điều 86 lại cấm các hành vi lạm dụng ví trí thống lĩnh trên thị trường Thống lĩnh được hiểu và xác định dựa trên thị trường sản phẩm và địa lý liên
Trang 24quan, lạm dụng vị trí thống lĩnh có thể liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh, phân biệt đối xử giá, phân chia thị trường, ngăn cản không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường,v.v Các doanh nghiệp nhà nước và hoạt động trong lĩnh vực công ích sẽ được hưởng một số ưu đãi và quyền lợi đặc biệt đối với các quy định về cạnh tranh theo ECT, đồng thời cũng không cản trở đến các trách nhiệm của các doanh nghiệp này (theo Điều 90)
Hỗ trợ chính phủ cũng bị coi như không phù hợp với bối cảnh thị trường chung nếu những quy định đó ảnh hưởng đến thương mại, mặc dù thông thường trợ cấp chính phủ được cho phép trong các quy định với mục đích hỗ trợ một số bất lợi khi gia nhập khu vực mà một số doanh nghiệp gặp phải (Điều 92.3)
Nhìn chung, các quy định chung đối với các thành viên liên quan đến hỗ trợ chính phủ (trợ cấp), chống độc quyền, hoạt động mua sắm chính phủ và thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là những nội dung thường gặp trong cam kết trong khu vực Những quy định này cũng được làm rõ thêm theo luật pháp Châu Âu nhằm hướng đến việc cụ thể hóa và đảm bảo thống nhất trên thị trường chung Có những quy định
sẽ có tác động trực tiếp và được thực thi đồng thời bởi cơ quan cạnh tranh liên quốc gia và của từng quốc gia Các nội dung về chính sách cạnh tranh được coi là cần thiết để đạt được mục đích liên kết khu vực, và cụ thể hơn là đảm bảo cho quá trình cạnh tranh giữa các chủ thể trên thị trường có cơ hội bình đẳng như nhau Có một lưu ý rằng, cơ chế hoạt động trong EC không yêu cầu các quốc gia thành viên phải đồng nhất khung pháp luật chống độc quyền như nhau, mà phải phù hợp với điều kiện từng quốc gia
Ủy ban Châu Âu và các cơ quan cạnh tranh tại tất cả các nước thành viên EU hợp tác với nhau thông qua mạng lưới cạnh tranh Châu Âu nhằm:
- Thông báo cho nhau các vụ việc mới và quyết định xử lý vụ việc;
- Phối hợp trong quá trình điều tra khi cần thiết;
- Giúp đỡ nhau trong quá trình điều tra; và
- Trao đổi về chứng cứ
Liên minh Châu Âu cũng thiết lập Mạng lưới cạnh tranh Châu Âu (ECN) với mục tiêu chính là đảm bảo thực thi Luật Cạnh tranh EU đồng bộ với luật cạnh tranh của từng nước thành viên Thông qua mạng lưới ECN, các cơ quan cạnh tranh trong
Trang 25mạng lưới thông báo cho nhau về quyết định dự kiến xử lý vụ việc và tham khảo ý kiến của các cơ quan khác Trong trường hợp cần thiết, để đảm bảo cho việc thực thi luật có hiệu quả và đồng bộ, Ủy ban Châu Âu có thể quyết định tự xử lý vụ việc Có thể nói, tuy EU là khu vực kinh tế phát triển cao hơn nhiều so với ASEAN, đây cũng
có thể là một trong những bài học kinh nghiệm quý giá trong vấn đề cạnh tranh cho các nước ASEAN khi thực thi Kế hoạch tổng thể 2015
ECN thành lập các nhóm chuyên gia trong một số các lĩnh vực cụ thể như bảo hiểm và đường sắt để thảo luận về các vấn đề cạnh tranh trong các lĩnh vực này và tìm kiếm cách tiếp cận chung cho việc giải quyết các vụ việc trong các lĩnh vực chuyên ngành Ngoài ra, các quy định pháp luật cạnh tranh của EU được thể hiện tại Điều 81 và Điều 82 của Hiệp ước EC, quy định của EC số 139/2004 về sáp nhập, cụ thể như sau:
- Điều 81: Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, quy định các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm, kể cả thỏa thuận ngầm và các thỏa thuận cùng hành động, gồm các thỏa thuận ấn định giá bán hoặc giá mua; hạn chế sản xuất, thị trường, phát triển kỹ thuật hay đầu tư, phân chia thị trường hay nguồn cung giữa các đối thủ cạnh tranh, phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp không nằm trong thỏa thuận Điều 81 cũng có các quy định miễn trừ cho một số thỏa thuận nhằm thúc đẩy phát triển công nghệ hay cải thiện hệ thống phân phối như các thỏa thuận chuyển giao công nghệ hay các thỏa thuận phân phối Để thực hiện điều này, Ủy ban Châu Âu đã ban hành hướng dẫn cụ thể giúp doanh nghiệp phân biệt rõ những thỏa thuận nào được phép và những thỏa thuận nào bị cấm
- Điều 82: Lạm dụng vị trí thống lĩnh, quy định những hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh bị cấm như bán giá cao cho người tiêu dùng; bán giá thấp nhằm hủy diệt đối thủ cạnh tranh hay phân biệt đối xử giữa các đối tượng tiêu dùng khác nhau
- Quy định về sáp nhập: Các vụ sáp nhập trong EC đều phải thông báo cho Ủy Ban trước khi tiến hành sáp nhập theo Mẫu do Ủy ban ban hành Sau 25 ngày xem xét thông tin, Ủy ban sẽ quyết định cho phép hay không Thông thường, khoảng 95% vụ sáp nhập được chấp thuận, chỉ những vụ sáp nhập nào có khả
Trang 26năng tác động đáng kể tới môi trường cạnh tranh thì Ủy ban sẽ tiến hành điều tra
- Ngoài ra, Ủy ban còn kiểm soát hoạt động trợ giúp cho Chính phủ có khả năng làm méo mó môi trường cạnh tranh, đó là Chính phủ cho phép doanh nghiệp được sử dụng nguồn lực công để phát triển một số lĩnh vực kinh tế nào
đó hoặc bảo hộ một số ngành công nghiệp nội địa
Năm 2003, EC đã có một số chỉnh sửa và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và những quy định về điều khoản cạnh tranh nói riêng, những quy định mới
đã được đi vào thực thi kể từ ngày 01/5/2004 Trong đó, cơ quan cạnh tranh thành viên EU có quyền thực thi Luật Cạnh tranh chung của EU song song với việc Ủy ban Châu Âu sẽ có những điều tra và phán quyết đối với những hành vi ảnh hưởng cạnh tranh trên phạm vi khu vực
1.2.3.4 Chính sách cạnh tranh trong WTO
Cạnh tranh là một vấn đề mới trong WTO, đề cập tới các công cụ của chính sách cạnh tranh trong nước và quốc tế, như luật chống độc quyền và các luật cạnh tranh khác Với mục tiêu loại bỏ những rào cản đối với thương mại quốc tế, WTO
đã đưa vấn đề này ra bàn thảo tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ nhất tại Singapore năm
1996 Tại hội nghị này, các Bộ trưởng kêu gọi thành lập một nhóm công tác để chính thức kiểm tra mối quan hệ giữa thương mại và chính sách cạnh tranh (Điều 20 của Tuyên bố Bộ trưởng Singapore 1996) Kết quả là nhóm công tác này đã thành lập, và bắt đầu có buổi họp đầu tiên vào mùa hè năm 1997 Nhiệm vụ chủ yếu của nhóm công tác là phát hiện và phân tích mối liên quan giữa cạnh tranh và thương mại, làm thế nào để hạn chế các hành vi cạnh tranh nhằm thúc đẩy thương mại quốc tế
Mặc dầu phần lớn các thành viên đều nhất trí rằng chính sách cạnh tranh có ảnh hưởng lớn đến thương mại nhưng việc đưa ra những quy định điều chỉnh cạnh tranh vẫn gây nhiều tranh cãi Phần lớn các nước thành viên WTO (phát triển và đang phát triển) đã có luật cạnh tranh như các luật chống độc quyền để ngăn ngừa việc định giá, sáp nhập hay các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Tuy nhiên, còn nhiều nước thành viên vẫn chưa có luật hay chính sách này, và cũng chưa có cơ quan giám sát cạnh tranh Đây thực sự là một vấn đề rất phức tạp bởi vì việc thiếu luật chống độc quyền và các chính sách cạnh tranh khác có thể ảnh hưởng đến thị trường, không chỉ tại thị trường nước đó mà còn ảnh hưởng đến các nước khác
Trang 27Các nước đóng vai trò lớn cũng có những quan điểm khác nhau EU muốn một chuẩn mực chung về chính sách cạnh tranh, nhưng chấp nhận để các nước đang phát triển lựa chọn loại trừ một số lĩnh vực mà các nước đó không muốn tham gia Một số nước Mỹ La tinh ủng hộ chính sách này, trong khi đó các nước Châu Á thì tỏ
ra kém nhiệt tình hơn
Các nước đang phát triển lo ngại rằng, các tập đoàn lớn, đa quốc gia thuộc các nước phát triển sẽ bành trướng sang thị trường nội địa và đe dọa các công ty non trẻ đang phát triển của họ Nhiều nước đang phát triển không đồng tình với việc quốc tế hóa các biện pháp cạnh tranh vì cho rằng các biện pháp như vậy là quá can thiệp vào thị trường nội địa, các nước này cũng cho rằng chính sách cạnh tranh cần phụ thuộc vào điều kiện thị trường từng nước Tuy vậy, một số nước đang phát triển cũng miễn cưỡng chấp nhận bổ sung thêm một số vấn đề vào chương trình nghị sự của WTO trước khi các vấn đề còn tồn tại được giải quyết
Mặt khác, Mỹ và EU đều ủng hộ mạnh mẽ việc đưa ra một chính sách cạnh tranh chung, với lý lẽ rằng các hành vi phản cạnh tranh sẽ bóp méo thương mại không kém gì hàng rào thuế quan gây ra, và do đó cạnh tranh cần được điều chỉnh bởi WTO hơn là để cho từng chính phủ riêng rẽ Tuy vậy, Mỹ và EU cũng chưa nhất trí về các thức thực hiện
EU đã đưa ra một bản đề xuất mới với cố gắng quan tâm mối quan ngại của các nước đang phát triển EU kêu gọi một “hiệp định khung” linh hoạt Các nước thành viên sẽ cam kết một thể chế chung với một số ít các yếu tố chính Các yếu tố
cơ bản của thỏa thuận là một bảng gồm những nội dung chính sau:
(i) Các thành viên cam kết một số nguyên tắc chính trong luật cạnh tranh và thực thi chúng trong một số trường hợp cụ thể Cách thức cụ thể để thực thi chính sách cạnh tranh do mỗi nước tự quyết định sao cho phù hợp với nhu cầu cụ thể từng nước, nhưng trên cơ sở nguyên tắc của WTO là không phân biệt đối xử và minh bạch hóa
(ii) Các nước thành viên hợp tác thông qua thông báo và tham vấn các nước liên quan khi cần thiết và hỗ trợ trao đổi thông tin một cách tự nguyện trong khuôn khổ quy định bởi pháp luật về cung cấp thông tin mật
(iii) Hiệp định sẽ công nhận tính cần thiết của các chính sách xã hội và phát triển khác Các thành viên được tự do đưa ra các miễn trừ đối với các lĩnh vực cụ thể
Trang 28mà các nước đó lo ngại, miễn là các miễn trừ này phải được minh bạch hóa Các nền kinh tế nhỏ có thể tham gia vào chính sách cạnh tranh khu vực mà không cần phải xây dựng luật cạnh tranh riêng của mình hay một cơ quan thực thi luật Sự cần thiết của các nước đang phát triển cần được công nhận thông qua các cam kết hỗ trợ kỹ thuật, điều khoản về thời gian chuyển đổi và các đối xử đặc biệt và khác biệt khác
Các nước đưa ra đều cho rằng hiệp định khung đủ linh hoạt để gắn kết các thành viên, có cân nhắc đến chính sách phát triển Các nước này cũng biện hộ rằng một hiệp định như vậy có thể tăng cường hợp tác quốc tế và hỗ trợ kỹ thuật, và có lợi cho các nước đang phát triển, cho phép các quốc gia này có thể chống lại các hành vi phản cạnh tranh từ các tập đoàn lớn đa quốc gia, gây ra những ảnh hưởng bất lợi đến nền kinh tế nước này Tuy nhiên, nhiều thành viên vẫn còn hoài nghi về lợi ích từ hiệp định này và quan ngại rằng đây là công cụ mở cửa thị trường cho các
nước phát triển Các nước này cho rằng việc áp dụng cơ chế đối xử quốc gia và
không phân biệt đối xử là rất khó khăn và việc áp dụng điều khoản này có thể gây cản trở các chính sách hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp trong nước giúp cạnh tranh với các tập đoàn lớn nước ngoài Các nước đang phát triển muốn những bằng chứng
hệ thống hơn về những lợi ích thực chất mà hiệp định có thể mang lại chứ không chỉ
là những lợi ích tiềm năng lý thuyết, và việc đối xử đặt biệt và khác biệt cần được giải thích rõ ràng, cụ thể
Do tính chất phức tạp và việc “Một hiệp định đa biên về cạnh tranh có cần thiết cho việc tăng cường các chính sách trong nước hay không” vẫn còn đang tranh cãi, và đi vào “ngõ cụt” Bởi vậy, hội nghị Bộ trưởng Cancun 2003 đã quyết định tạm thời không bàn đến cạnh tranh trong chương trình nghị sự sau này Như vậy là, vấn đề “cạnh tranh” trong WTO mới chỉ dừng lại ở mức nhóm công tác để nghiên cứu, phân tích, và đưa ra các ý kiến đề xuất, chưa đi vào đàm phán cụ thể
Ngoài ra, trong một số diễn đàn khác như Tổ chức Hợp tác và Phát triển (OECD), Hội nghị của Liên Hiệp quốc tế Thương mại và phát triển (UNCTAD) và Mạng lưới cơ quan cạnh tranh quốc tế (ICN) cũng đề ra những cơ chế hợp tác về chính sách cạnh tranh Quan điểm về chính sách cạnh tranh trong các diễn đàn đa phương đó có thể xem thêm tại Phụ lục 2
Trang 291.3 Tổng quan chung về chương cạnh tranh trong các FTAs, RTAs trên thế giới
1.3.1 Một số mô hình về chính sách cạnh tranh trong các FTAs, RTAs trên thế giới
Có thể đưa ra một số phân tích về các mô hình về chính sách cạnh tranh trong
các Hiệp định FTAs, RTAs như sau:
Bảng 1.1 Mô hình chính sách cạnh tranh trong các FTAs của EU,
NAFTA và APEC
Mô hình của EU Mô hình của
NAFTA
Mô hình của APEC
Hiệp định - Hiệp định giữa Chi
Lê và EU, EFTA, EU
- Hàn Quốc,v.v
- Hiệp định giữa Chi
Lê và Canada, Trung
Mỹ, Hoa Kỳ, Mexico,v.v
- Hiệp định AANZFTA, NZ- Thái Lan,v.v
Mục tiêu - Cam kết thực thi
pháp luật cạnh tranh nhằm giảm các hành
vi phản cạnh tranh gây ảnh hưởng đến lợi ích phát sinh trong quá trình tự do hóa;
- Thúc đẩy hợp tác và
hỗ trợ lẫn nhau
- Ban hành và đảm bảo thực thi pháp luật cạnh tranh, thúc đẩy thương mại và đầu tư;
- Công nhận tầm quan trọng của quá trình hợp tác và hỗ trợ;
- Thúc đẩy hiệu quả kinh tế và lợi ích người tiêu dùng
- Công nhận tầm quan trọng chiến lược của việc thiết lập và duy trì thị trường mở và cạnh tranh, nâng cao hiệu quả kinh tế và phúc lợi người tiêu dùng
Nội dung cơ bản Cam kết cụ thể về
hợp tác bao gồm:
thông báo, hợp tác trong thực thi luật, tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật, công nhận và tôn trọng pháp luật của đối tác
- Đưa ra các quy định
cụ thể về độc quyền
và doanh nghiệp Nhà nước
- Thúc đẩy hợp tác, minh bạch và cơ chế tham vấn;
- Hợp tác giữa các cơ quan cạnh tranh (ATA- Agency to Agency) thường được
đi kèm với các Hiệp định
- Quy định về hợp tác, tham vấn, thông báo trong việc thực thi luật và chính sách cạnh tranh;
- Hợp tác kỹ thuật xây dựng năng lực trong thực thi chính sách và luật cạnh tranh
Trang 30Cơ chế giải quyết
tranh chấp
Thường không áp dụng trong lĩnh vực cạnh tranh, xu hướng giải quyết bằng tham vấn
Không áp dụng với một số điều khoản, chủ yếu tập trung thực thi vào các doanh nghiệp độc quyền và doanh nghiệp nhà nước
Không áp dụng giải quyết tranh chấp
(Nguồn: Silva & Alvarez, Nghiên cứu về Hợp tác về chính sách cạnh tranh trong các Hiệp định thương mại trong khu vực Mỹ Latinh và Caribe, 2006 và Tổng hợp của
Nhóm nghiên cứu đề tài)
Những quy định về chính sách cạnh tranh trong các Hiệp định tự do song phương và khu vực có nhiều ý nghĩa và mục đích Hầu hết những Hiệp định tự do bao hàm chương về chính sách cạnh tranh nhấn mạnh việc các điều khoản này nhằm mục đích đem lại lợi ích cho tự do thương mại và đầu tư và chống lại các hành vi phản cạnh tranh xuyên biên giới Hiệu quả của FTA chỉ thực sự được hoàn thiện khi các rào cản thương mại được loại bỏ không đồng nghĩa với việc các hành vi hạn chế cạnh tranh có thể diễn ra và gây hại đến thị trường (ví dụ các thỏa thuận phân chia thị trường, ấn định giá bán của một nhóm các doanh nghiệp gây hạn chế cạnh tranh
và tổn hại đến nền kinh tế, người tiêu dùng)
Nguyên nhân thứ hai của việc đưa các điều khoản quy định về chính sách cạnh tranh trong các FTAs/RTAs đó là việc tạo ra chính sách cạnh tranh mang tính khu vực, và các cơ quan cạnh tranh có tính chất hội nhập cao, với một mức độ nào
đó, hình thành nên các liên kết chính trị và kinh tế vững chắc Thông thường, các Hiệp định có mức độ cam kết cao sẽ có những điều khoản quy định rất cụ thể liên quan đến chính sách cạnh tranh Tuy nhiên, khi các đối tác tham gia Hiệp định muốn hướng tới thị trường chung với mức độ hội nhập và liên kết kinh tế cao (ví dụ như EU), thì quy định điều chỉnh các hành vi phản cạnh tranh cũng không thể chồng lấn hay trái với các quy định riêng của từng quốc gia trong khuôn khổ thị trường hội nhập
Cùng với việc mở rộng thị trường nội địa ra ngoài thị trường quốc tế, các quốc gia trở nên thận trọng hơn đối với các hành vi phản cạnh tranh tiềm ẩn có thể phát sinh từ các quốc gia lân cận, từ các hoạt động kinh doanh xuyên quốc gia Những hành vi đó bao gồm: các quan ngại về cạnh tranh xuyên biên giới, thông đồng cartel mang tính chất quốc tế, các vụ mua bán sáp nhập đa quốc gia có thể gây
Trang 31ảnh hưởng đến cạnh tranh như tạo nên sức mạnh thị trường, lạm dụng vị trí thống lĩnh/ độc quyền trên thị trường quốc gia đó Các vụ tập trung kinh tế có thể gây nên những quan ngại về cạnh tranh liên quốc gia hoặc bản thân một quốc gia xảy ra mua bán và sáp nhập (thường là ở các nước có nền kinh tế phát triển) do những vụ mua bán và sáp nhập đó có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh tại các chi nhánh/ công
ty con/ đại diện của các công ty tại nhiều quốc gia khác (thường là tại các nước đang phát triển) Bất kỳ hình thức tập trung kinh tế nào tạo nên việc hình thành các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh có thể tiềm ẩn cùng đó là các việc dẫn đến những quan ngại về hành vi hạn chế cạnh tranh trên thị trường
1.3.2 Mức độ cam kết về chính sách cạnh tranh trong các FTAs, RTAs
Về cơ bản, các mức độ cam kết về quy định chính sách cạnh tranh được mô tả như bảng sau đây 6, tuy nhiên hình thức diễn đạt và nội dung được sử dụng linh hoạt,
đa dạng trong các Hiệp định FTAs, RTAs
Mức độ 1 Mức độ 2 Mức độ 3 Mức độ 4 Mức độ 5
Tại các nước đang phát triển thường xuất hiện và hình thành nhiều hành vi phản cạnh tranh do năng lực sản xuất còn nhiều hạn chế, cả về số lượng lẫn chất lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, dẫn đến việc các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường khai thác và làm tổn hại Nhiều nước đang phát triển chưa ban hành Luật Cạnh tranh, hoặc đã có luật và chính sách cạnh tranh nhưng chưa đạt mức độ toàn diện, nguồn lực còn hạn chế, thiếu kinh nghiệm thực thi luật và đối phó với những hành vi phản cạnh tranh quốc tế Do đó, các nước đang phát triển thường dễ bị “tấn công” bởi các vụ thông đồng cartel quốc tế do khả năng thi hành luật cạnh tranh còn yếu và chưa hiệu quả Trong khi đó, lượng lưu thông hàng hóa và dịch vụ ngày càng
Cam kết thân thiện tiêu cực và tích cực
Phối hợp trong giải quyết vụ việc cụ thể
Cơ quan cạnh tranh chung
Trang 32tăng mạnh trong liên kết thương mại song phương và đa phương, các nước đang phát triển cũng có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi hành vi đối xử phân biệt giá quốc tế thay vì được hưởng lợi từ việc tăng cường thương mại từ việc liên kết thông đồng này Các nước đang phát triển do đó cần hết sức thận trọng khi xem xét và đưa ra những quy định về cạnh tranh trong các đàm phán FTAs/ RTAs nhằm đảm bảo rằng quá trình tự
do hóa thương mại và thị trường sẽ đạt được mục tiêu của Hiệp định, bên cạnh đó là việc đưa ra các biện pháp hiệu quả nhằm duy trì chính sách tự do thương mại cần thống nhất, đảm bảo đồng nhất với chính sách cạnh tranh quốc gia
Các quy định về cạnh tranh trong các Hiệp định tự do thương mại song phương và đa phương được phân ra theo một số tiêu chí, bao gồm nhiều quy định và nghĩa vụ cụ thể Một số Hiệp định chỉ đơn giản đưa ra những quy định về biện pháp cam kết “nỗ lực nhất” trong việc các bên tham gia Hiệp định ban hành, duy trì và thực thi luật cạnh tranh Một số Hiệp định thì quy định rõ ràng, mang tính chất ràng buộc pháp lý và chủ yếu tập trung vào vấn đề không phân biệt đối xử, thủ tục công bằng và minh bạch trong các quá trình thực thi luật cạnh tranh Bên cạnh đó, các Hiệp định còn có một số điều khoản quy định về việc hợp tác hoặc phối hợp thực thi luật cạnh tranh giữa các cơ quan cạnh tranh các bên tham gia Hiệp định
Các quy định về cạnh tranh trong các Hiệp định giữa các nước phát triển và các nước phát triển có nhiều đặc điểm tương đồng và phụ thuộc vào đối tác là các nước phát triển Các hiệp định của Canada và Hoa Kỳ thường nhấn mạnh vào việc hợp tác giữa các cơ quan cạnh tranh Các Hiệp định đa phương trong khuôn khổ EU thì thường tập trung vào việc thống nhất giữa chính sách và luật cạnh tranh các quốc gia tham gia nhằm thiết lập mạng lưới cơ quan cạnh tranh khu vực
Chính sách và luật cạnh tranh, với những hình thức phù hợp, sẽ đem lại nhiều lợi ích cho quá trình phát triển của các quốc gia Tuy nhiên, mỗi quốc gia cần lựa chọn những mô hình chính sách cạnh tranh phù hợp, linh hoạt và có thể thay đổi thích ứng với điều kiện thay đổi kinh tế Lựa chọn mô hình chính sách cạnh tranh hiệu quả là hết sức quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ và các doanh nghiệp trong nước phải cạnh tranh khốc liệt với các doanh nghiệp lớn nước ngoài
Trang 331.3.3 Phân tích một số quy định pháp lý trong chương chính sách cạnh tranh trong các FTAs, RTAs trên thế giới
Theo nghiên cứu của OECD, các điều khoản về cạnh tranh trong các FTA rất đa dạng Sở dĩ vấn đề cạnh tranh được quan tâm là do các nước e ngại rằng các hành vi phản cạnh tranh được thực hiện bởi nhà nước và các doanh nghiệp sẽ làm hỏng mục đích tự do hóa của FTA Như vậy, mục đích chính của chương cạnh tranh trong các FTA là góp phần giảm các rào cản thương mại trong tự do hóa thương mại
Có ba nhóm nội dung thường gặp trong các Hiệp định là:
(1) Các điều khoản đảm bảo cạnh tranh công bằng;
(2) Các điều khoản bắt buộc ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh;
(3) Các điều khoản khuyến khích việc ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh
Từ phía các quốc gia đang phát triển, điều rất quan trọng là việc điều chỉnh
và giám sát những vụ việc gây/ hoặc có nguy cơ tiềm ẩn ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh, đặc biệt là gây ra những hành vi phản cạnh tranh tại thị trường những nước này Trong một số FTA, việc đưa ra quy định tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh cho các doanh nghiệp nước ngoài là quy định cơ bản và bắt buộc Trong khi đó phần lớn các nước đang phát triển muốn giữ một số chính sách bảo hộ (có thể gây tổn hại đến môi trường cạnh tranh) để thúc đẩy và bảo vệ một số ngành công nghiệp và dịch vụ non trẻ Tuy nhiên, trước sức ép của các nước phát triển, một
số nước đang phát triển buộc phải ban hành chính sách/ luật cạnh tranh, thiết lập cơ quan cạnh tranh và trong nhiều trường hợp chưa thực sự phù hợp với điều kiện phát triển của quốc gia đó
Các nước phát triển thường đòi hỏi một số nội dung nhất định trong các điều khoản về cạnh tranh như: tất cả các doanh nghiệp được cạnh tranh công bằng, bình đẳng trên thị trường, không phân biệt loại hình doanh nghiệp; Quy định về thực thi pháp luật cạnh tranh; Cam kết cạnh tranh trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ; các vụ mua bán, sáp nhập có quy mô lớn (của các tập đoàn đa quốc gia) và tác động đến cấu trúc thị trường các nước đang phát triển
Có thể phân thành 06 nội dung chính trong cam kết về chính sách cạnh tranh trong các Hiệp định FTAs, RTAs như sau:
Trang 341 Biện pháp liên quan đến vấn đề ban hành và thực thi Luật Cạnh tranh;
2 Các quy định liên quan đến các hoạt động hợp tác/ phối hợp giữa các cơ quan thực thi Luật Cạnh tranh;
3 Các điều khoản liên quan đến các hành vi phản cạnh tranh và biện pháp chống lại các hành vi này;
4 Các điều khoản về không phân biệt đối xử, minh bạch và đúng quy trình thủ tục xét xử và minh bạch trong việc thực thi Luật Cạnh tranh;
5 Các điều khoản về áp dụng thủ tục giải quyết tranh chấp trong các vụ việc cạnh tranh;
6 Các điều khoản liên quan đến tính linh hoạt, hay còn được gọi là các điều khoản đối xử đặc biệt (special and diferential treatment – SDT)
Một khía cạnh quan trọng cần lưu ý khi cam kết chính sách cạnh tranh trong các FTAs, RTAs đó là việc đưa các điều khoản về đối xử đặc biệt SDT Thực tế các quy định SDT trong chương cạnh tranh của các Hiệp định giữa các nước phát triển
và đang phát triển không mang lại nhiều ý nghĩa Nhiều quốc gia đang phát triển chưa ban hành luật cạnh tranh hoặc Luật cạnh tranh chưa được thực thi hiệu quả Do
đó, quy định cạnh tranh trong FTAs/RTAs sẽ gây tác động trực tiếp đến công nghiệp nội địa và các nước phát triển thường muốn đưa SDT vào cam kết để đảm bảo cho các ngành công nghiệp cần được “bảo vệ”
Một số quy định thường gặp tại các Hiệp định có điều khoản về chính sách cạnh tranh bao gồm: các điều khoản liên quan đến trao đổi chứng cứ và thông tin, điều khoản về lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền trên thị trường, các điều khoản liên quan đến các hành vi hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp như cartel, các điều khoản không phân biệt đối xử (đặc biệt liên quan đến độc quyền nhà nước) và các điều khoản liên quan đến thành lập, khuyến khích cơ chế tham vấn giải quyết các vụ việc tranh chấp liên quan đến chính sách cạnh tranh
Bên cạnh đó, một số quy định trong số ít các Hiệp định đó là các điều khoản liên quan đến công nhận tính thân thiện tích cực, tiêu cực, các điều khoản về các vụ việc tập trung kinh tế gây hạn chế cạnh tranh, các điều khoản về loại trừ các biện pháp phòng vệ thương mại,v.v
Trang 35Về nguyên tắc cam kết trong chính sách cạnh tranh, các Hiệp định thường
đưa ra một số nguyên tắc chung nhằm đảm bảo quá trình thực thi sẽ mang lại lợi ích cho Hiệp định Nguyên tắc về minh bạch, không phân biệt đối xử là những điều khoản cơ bản trong chương về chính sách cạnh tranh
Về nguyên tắc minh bạch, là nguyên tắc áp dụng bao trùm đối với tất cả các
quy định cụ thể trong các chương về cạnh tranh Liên quan đến nguyên tắc chung, tính minh bạch bao gồm việc ban hành luật, các biện pháp, thông báo và thông tin liên hệ Các thành viên tham gia Hiệp định cũng bị yêu cầu phải ban hành hoặc công
bố công khai các luật hiện hành, các quy định, thủ tục và nguyên tắc quản lý về nội dung quy định có trong các Hiệp định Thành viên tham gia Hiệp định cũng phải thông báo cho các thành viên khác về các quy định pháp luật đang thực thi hoặc sẽ thực thi và gây ảnh hưởng đáng kể đến việc thực thi Hiệp định Các thành viên cũng phải đưa ra các thông tin liên hệ giữa các thành viên nhằm trao đổi các vấn đề liên quan đến cạnh tranh quy định trong Hiệp định Các quy định về tính minh bạch được bao hàm trong chương về cạnh tranh thì tập trung vào phạm vi hẹp và sâu hơn – như việc ban hành các quy định thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh hoặc các quy định chống các hành vi phản cạnh tranh
Nguyên tắc không phân biệt đối xử, nguyên tắc này được đề cập không chỉ
trong các điều khoản riêng mà thường được quy định trong các điều khoản chung Nội dung chung của nguyên tắc này đó là việc không được phép phân biệt đối xử giữa các quốc gia thành viên khi đã tham gia Hiệp định Nguyên tắc không phân biệt đối xử là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất trong các chương cạnh tranh Nguyên tắc này cũng đòi hỏi các cơ quan cạnh tranh thực thi luật cạnh tranh một cách bình đẳng, không được phân biệt giữa các quốc gia trong quá trình thực thi luật hay điều tra các vụ việc cạnh tranh
Mặc dù một số nước sẵn sàng ký kết và tham gia chương cạnh tranh trong các Hiệp định, rất nhiều quốc gia chưa có kinh nghiệm trong việc thực thi các quy định đó một cách hiệu quả và cải thiện môi trường cạnh tranh tại quốc gia mình Do
đó cần phải thận trọng đưa ra những quy định phù hợp với điều kiện kinh tế, thương mại của quốc gia đang phát triển, phù hợp với mức độ chênh lệch giữa những quốc gia đang phát triển và phát triển trong quá trình tham gia Hiệp định
Trang 361.4 Nội dung chính sách cạnh tranh trong một số Hiệp định thương mại tự do song phương và khu vực trên thế giới
Các cam kết về chính sách cạnh tranh trong các FTA có thể được tiếp cận với nhiều phương diện và nhiều hình thức liên kết tùy thuộc điều kiện chính sách và quy định về cạnh tranh tại các quốc gia tham gia hiệp định FTA giữa các nước có trình
độ kinh tế - xã hội phát triển như liên kết trong khu vực kinh tế Châu Âu, do những điều kiện về kinh tế, xã hội và pháp luật cạnh tranh khá tương đồng, các quy định về chính sách cạnh tranh ở mức độ sâu hơn mà đỉnh cao là thiết lập cơ quan cạnh tranh liên quốc gia Ví dụ, Hiệp định ANZCERTA, EC, EEA, v.v là những hiệp định cam kết giữa các đối tác có trình độ kinh tế cao, phát triển, có khung chính sách cạnh tranh khá tương đồng nên mức độ cam kết về chính sách cũng sâu hơn, cụ thể hơn ,
về hợp tác chính thức giữa các cơ quan cạnh tranh, về việc thi hành chống độc quyền của cơ quan liên minh giữa các quốc gia, cơ chế giải quyết cạnh tranh có tính chất ràng buộc pháp lý,v.v Có thể lấy ví dụ một số nội dung cam kết cụ thể về chính sách cạnh tranh trong một số Hiệp định có sự tham gia của các nước có trình độ phát triển cao như EU, Canada như trong bảng sau đây:
Bảng 1.2 So sánh một số nội dung về chính sách cạnh tranh trong một số
FTAs, RTAs
Agreements
Euro- Med
SUR
Canada- Chile Quy định
Trang 37Không Không Không Không Không Không n.a Không
(Nguồn: Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới và Trung tâm nghiên cứu phát triển kinh
tế, 2002)
Để tìm hiểu rõ hơn về các quy định về chính sách và luật cạnh tranh trong các FTAs, Đề tài sẽ phân tích một số nội dung chính sách cạnh tranh trong những Hiệp định thương mại điển hình trên thế giới giữa nhóm các nước phát triển, giữa các nước đang phát triển và giữa nước phát triển với nước đang phát triển
1.4.1 Một số Hiệp định giữa nhóm các nước phát triển
1.4.1.1 Hiệp định thương mại - quan hệ kinh tế giữa Úc và New Zealand New Zealand Closer Economic Relations Trade Agreement, ANZCERTA)
(Australia-ANZCERTA (hay còn gọi là CER) là Hiệp định thương mại tự do giữa Úc và New Zealand được ban hành năm 1983 Điều 12.1 (a) của Hiệp định có quy định hai quốc gia “xem xét phạm vi thực hiện nhằm thống nhất những quy định liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh” Khung pháp luật cạnh tranh của hai quốc gia thành viên tại thời điểm ký kết Hiệp định còn rất khác biệt Luật chống độc quyền của Úc theo
mô hình của Hoa Kỳ, trong khi hệ thống pháp luật cạnh tranh của New Zealand tương tự như mô hình của UK Do đó năm 1986, Nghị viện New Zealand đã ban hành hệ thống luật cạnh tranh mới nhằm điều chỉnh hài hòa và có những nét tương đồng với hệ thống Luật Cạnh tranh Úc
Trong Nghị định thư về thúc đẩy tự do thương mại hàng hóa trong khuôn khổ ANZCERTA năm 1988, Điều 4 quy định rõ hơn quá trình thực thi luật cạnh tranh đối với các hành vi phản cạnh tranh gây ảnh hưởng đến thương mại và các bên sẽ đồng nhất đưa ra những biện pháp phù hợp nhằm áp dụng luật cạnh tranh kể từ ngày 01/7/1990 Với những điều chỉnh quan trọng này, CER đã đạt được các điều kiện
Trang 38thuận lợi cho việc thực thi cam kết về thương mại tự do Tuy nhiên từ khi điều chỉnh
đi vào hiệu lực, chưa có vụ việc nào liên quan đến việc lạm dụng vị trí thống lĩnh, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh gây ảnh hưởng đến cạnh tranh trong nội khối Tasman diễn ra
Theo như cam kết về chính sách cạnh tranh trong Hiệp định, cơ quan cạnh tranh các bên sẽ có trách nhiệm hợp tác với nhau trong việc chia sẻ, cung cấp thông tin Luật chống độc quyền của Úc cũng được sửa đổi và mở rộng phạm vi đối tượng điều chỉnh bao gồm các doanh nghiệp có sức mạnh thị trường trên một trong hai nước hoặc trên thị trường kết hợp của cả hai quốc gia Toà án có quyền ra quyết định tại một quốc gia và phán quyết có thể được thi hành ở quốc gia kia Năm 1994, cơ quan cạnh tranh hai quốc gia thành viên cũng đồng thuận ký Hợp tác song phương trong lĩnh vực thực thi pháp luật cạnh tranh trong một số trường hợp cụ thể
1.4.1.2 Hiệp định đối tác kinh tế mới giữa Nhật Bản và Singapore (The Agreement between Japan and the Republic of Singapore for a New-Age Economic Partnership Agreement - JSEPA)
Hiệp định đối tác kinh tế mới giữa Nhật Bản và Singapore (ký kết ngày 13/01/2002 và có hiệu lực thi hành từ ngày 30/11/2002) đánh dấu một mốc quan trọng trong quan hệ song phương giữa hai quốc gia Hiệp định này đem lại nhiều lợi ích cho cả hai đối tác với việc tạo liên kết kinh tế, thương mại sâu hơn, cam kết thuế giảm, tự do hóa thương mại dịch vụ trong 135 lĩnh vực dịch vụ
Nội dung Hiệp định bao gồm một chương quy định về cạnh tranh và một chương quy định cụ thể về cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính Trong đó, Chương 12 Hiệp định có 3 điều khoản quy định về các hành vi phản cạnh tranh, hoạt động hợp tác và kiểm soát các hành vi phản cạnh tranh, cơ chế giải quyết tranh chấp Các bên sẽ tuân thủ theo luật pháp và quy định để có những biện pháp chống lại các hành vi phản cạnh tranh, nhằm thúc đẩy dòng chảy thương mại và đầu tư giữa các đối tác cũng như đảm bảo cấu trúc thị trường hoạt động hiệu quả Trong trường hợp cần thiết, các bên sẽ rà soát, sửa đổi hoặc ban hành các quy định nhằm kiểm soát hiệu quả các hành vi phản cạnh tranh Cơ chế hợp tác trong lĩnh vực này sẽ nằm trong phạm vi sẵn có giữa hai bên trong việc trao đổi thông tin trong quá trình thực thi cam kết của Hiệp định trong lĩnh vực cạnh tranh Nội dung hợp tác, chi tiết và thủ
Trang 39tục trong quá trình hợp tác, cơ chế giải quyết không có quy định riêng mà nằm trong khuôn khổ quy định chung của Hiệp định Riêng trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, các bên tham gia Hiệp định sẽ khuyến khích hợp tác trong lĩnh vực này, tạo điều kiện cho thị trường tài chính phát triển giữa hai quốc gia nói riêng và tại khu vực Châu Á nói chung
1.4.1.3 Hiệp định tự do thương mại giữa Hoa Kỳ và Singapore (The US- Singapore Free Trade Agreement – USSFTA)
Hiệp định được ký kết ngày 6/5/2003 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2004, đây là Hiệp định nhằm hỗ trợ các nhà xuất khẩu hai nước hưởng lợi ích từ việc giảm thuế, thúc đẩy cạnh tranh và thu hút đầu tư
Đây là Hiệp định được thực hiện giữa hai quốc gia có nền kinh tế phát triển,
do đó, quy định về điều khoản cạnh tranh cũng khá cụ thể và ở mức độ liên kết cao Chương chính sách cạnh tranh bao gồm ba nội dung chính: (1) Điều chỉnh các hành
vi phản cạnh tranh, (2) Độc quyền chỉ định và (3) doanh nghiệp nhà nước Những chủ đề này là đã tạo tiền đề cho những quy định mà một FTA muốn đạt được trong việc điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường
Chương 12 của Hiệp định quy định 8 điều khoản về cạnh tranh bao gồm các quy định về hành vi phản cạnh tranh, thúc đẩy cạnh tranh, thực thi về cạnh tranh, các trường hợp miễn trừ, cơ chế tham vấn và rà soát, tính minh bạch và công bằng Các hành vi phản cạnh tranh được quy định rõ là các hoạt động sản xuất hoặc kinh doanh hoặc các giao dịch có ảnh hưởng nghiêm trọng gây hạn chế cạnh tranh như: các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (thỏa thuận ngang, thỏa thuận dọc), lạm dụng sức mạnh thị trường, hành vi loại bỏ doanh nghiệp khác bằng việc hạ giá thành, các hoạt động mua bán sáp nhập gây hạn chế cạnh tranh Các bên vì thế cam kết sẽ tập trung vào kiểm soát các hành vi phản cạnh tranh trên lãnh thổ quốc gia mình, ban hành và thực thi các biện pháp phù hợp, với nguyên tắc xử lý minh bạch, đúng thời gian quy định, không phân biệt đối xử và thủ tục công bằng Một nội dung quan trọng nữa là việc cam kết chính phủ các nước không được ưu tiên đối với các doanh nghiệp nhà nước (loại trừ các trường hợp doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực công, phi lợi nhuận), tuy nhiên một số miễn trừ cũng được xem xét trong khu vực hoạt động chính sách công, vì lợi ích cộng đồng Hai bên cũng đảm bảo tính minh bạch về
Trang 40chính sách cạnh tranh và sẵn sàng cung cấp thông tin về các vấn đề liên quan đến môi trường cạnh tranh khi có yêu cầu
Đối với các Hiệp định thương mại tự do mà Singapore tham gia có điều khoản
về cạnh tranh, có thể tham khảo thêm một số Hiệp định như:
FTA giữa Singapore- Niu Dilân: có một điều khoản về cạnh tranh quy định hai bên sẽ tham vấn và hợp tác để xây dựng các biện phấp đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm thúc đẩy thương mại và đầu tư cũng như chia sẻ thông tin có liên quan
FTA giữa Singapore- Panama: có một điều khoản quy định về tính minh bạch
và yêu cầu cung cấp thông tin, tương tự với Mỹ
FTA giữa Úc và Singapore: Hai bên đồng ý nêu ra các hành vi phản cạnh tranh trên thị trường mỗi nước và sẽ nỗ lực áp dụng các biện pháp thích hợp để chống lại các hành vi này Mỗi nước sẽ tham vấn lẫn nhau theo yêu cầu các vấn đề liên quan đến các hành vi phản cạnh tranh Cam kết các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước sẽ tuân theo các quy tắc chung về cạnh tranh
1.4.2 Một số Hiệp định giữa nhóm các nước phát triển và đang phát triển
1.4.2.1 Hiệp định tự do Thái Lan và Úc (Thailand- Australia Free Trade Agreement – TAFTA)
Được ký kết ngày 05/07/2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2005, hướng đến việc tự do hàng hóa, thương mại và dịch vụ, cũng như hợp tác nhằm loại
bỏ rào cản phi thuế quan, ví dụ như các quy định về vệ sinh thực phẩm, các biện pháp chống bán phá giá,v.v Phạm vi hợp tác trong Hiệp định rất rộng bao gồm cả lưu thông thương mại trong một số lĩnh vực, thủ tục thuế quan, thương mại điện tử,
sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ và cả chính sách cạnh tranh
Chương 12 của Hiệp định quy định cụ thể về hợp tác chính sách cạnh tranh giữa hai đối tác Mục tiêu của chương chính sách cạnh tranh quy định trách nhiệm hoàn thành các mục tiêu của Hiệp định thông qua việc thúc đẩy cạnh tranh công bằng và ngăn chặn các hành vi phản cạnh tranh, trong đó quy định cụ thể các hành vi phản cạnh tranh bao gồm những hành vi thỏa thuận ngang/ dọc, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và sáp nhập mua bán gây hạn chế cạnh tranh