Bài viết khẳng định trái cây, rau và hoa là những mặt hàng có ưu thế lớn trong sân chơi WTO so với các loại nông sản khác, nêu ra những vấn đề để phát triển mặt hàng rau, hoa, quả trở t
Trang 1Bộ Công thương TRUNG TÂM THÔNG TIN CÔNG NGHIệp và thương mại
ĐỀ TÀI NGHIấN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ
Tên đề tài: " Nghiờn cứu định hướng xuất khẩu cỏc mặt hàng rau,
hoa, quả Việt Nam và hoàn thiện cơ sở dữ liệu để phục vụ cho việc
định hướng xuất khẩu cỏc mặt hàng trờn”
Trang 2Mục lục
CHƯƠNG 1: THỊ TRƯỜNG CÁC SẢN PHẨM RAU HOA QUẢ
VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI
12
1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ các mặt hàng rau, hoa, quả Việt Nam
những năm gần đây
12
1.1.1 Tình hình sản xuất rau, hoa, quả của Việt Nam 12
1.1.2 Tình hình tiêu thụ các mặt hàng rau, hoa, quả Việt Nam 16
1.2 Khái quát thị trường rau, hoa, quả thế giới 19 1.2.1 Những yếu tố tác động đến nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng rau, hoa, quả
1.3.2 Sự cần thiết hoàn thiện cơ sở dữ liệu đối với xuất khẩu các mặt hàng
rau, hoa, quả
40
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÁC SẢN PHẨM RAU
HOA QUẢ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005-2009
43
2.1 Thực trạng xuất nhập khẩu các mặt hàng rau, hoa, quả Việt Nam giai
đoạn 2005-2009
43
2.1.1 Kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm
rau, hoa, quả Việt Nam
Trang 32.2.2 Xuất khẩu mặt hàng rau 56
2.2.4 Xuất khẩu mặt hàng quả 61 2.2.5 Đánh giá thực trạng xuất khẩu các mặt hàng rau, hoa, quả Việt Nam 62
2.3 Thực trạng vấn đề cơ sở dữ liệu và vai trò của cơ sở dữ liệu các mặt hàng
rau, hoa, quả đối với xuất khẩu các mặt hàng này của Việt Nam
68
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG RAU
HOA QUẢ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2015 VÀ MỘT SỐ GIẢI
3.1.1 Những dự báo chung về thị trường các mặt hàng rau, hoa, quả thế giới 77
3.1.2 Dự báo nhập khẩu các mặt hàng rau, hoa, quả các thị trường chính của Việt
Nam
79
3.1.3 Những cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu các mặt hàng rau, hoa,
quả Việt Nam giai đoạn 2011-2015
3.4.2 Giải pháp đối với Hiệp hội Rau, hoa, quả 95
3.4.3 Nhóm các giải pháp đối với doanh nghiệp 96
3.4.4 Giải pháp hoàn thiện cơ sở dữ liệu mặt hàng rau, hoa, quả 98
KẾT LUẬN 100
Trang 4Danh mục bảng Tên bảng Trang
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng rau từ 2005 đến 2010 7Bảng 1.2 Thương mại hàng hoá rau, hoa quả thế giới giai đoạn 2006-
2009
15
Bảng 1.3: Kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng rau của các nước nhập
khẩu chính trên thế giới
18
Bảng 1.4 Nhập khẩu các sản phẩm quả (HS08) của các nước nhập khẩu
chủ yếu trên thế giới
19
Bảng 1.5: Các nước nhập khẩu hoa chính trên thế giới 20Bảng 1.6 Nhập khẩu mặt hàng rau, quả chế biến HS20 22Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu rau, hoa, quả của Việt Nam qua các năm 37Bảng 2.2: Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam 38Bảng 2.3: Bảng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng rau, hoa, quả của Việt
Nam tới 1 số thị trường chính 2007-2009
39
Bảng 2.4: Kim ngạch nhập khẩu rau, hoa, quả của Việt Nam từ một
số thị trường chủ yếu
45
Bảng 2.5: Một số chủng loại rau, hoa quả được nhập khẩu nhiều từ
Trung Quốc năm 2009
Trang 5DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
IFPRI Viện Nghiên cứu Chính sách Lương thực Quốc tế GAP Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt
GATT Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch
NAFTA Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ
MERCOSUR hiệp định thương mại tự do giữa các nước Brasil,
Argentina, Uruguay, Paraguay FDA Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ FSIS Cơ quan kiểm định và An toàn thực phẩm Hoa Kỳ EPA Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu
Với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng thuận lợi, 70% dân số làm nghề nông và diện tích canh tác rau, quả khoảng 1.500.000 ha, Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển sản xuất và xuất khẩu mặt hàng rau, quả, đặc biệt khi xây dựng được một chiến lược phát triển ngành tầm quốc gia
Kể từ năm 2007, Việt Nam đã tham gia thị trường quốc tế với tư cách một thành viên đầy đủ của WTO, tập trung phát triển xuất khẩu đã trở thành vấn đề cấp bách hàng đầu Đối với ngành hàng rau, hoa, quả, Việt Nam được đánh giá là một nước giàu tiềm năng về cây trái do khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, các loại nông sản rất phong phú đa dạng, đồng thời rau, quả là ngành trồng trọt quan trọng trong nông nghiệp Việt Nam từ bao đời nay Vì vậy rau, hoa, quả có thể trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực nếu Việt Nam biết khai thác lợi thế về điều kiện khí hậu, sinh thái đa dạng và nguồn lao động dồi dào Đẩy mạnh trồng rau, cây ăn quả trong những năm tới không những sẽ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, giảm nhập khẩu, tăng kim ngạch xuất khẩu, mang lại hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ USD cho đất nước Không những thế, nằm ở vùng Đông - Nam Châu Á, chiều dài trên 15 vĩ độ, có hơn 3.000km
bờ biển và hệ thống giao thông đường bộ, đường biển, đường hàng không thuận tiện, Việt Nam hội đủ lợi thế so với nhiều nước để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa nói chung và xuất khẩu rau, quả nói riêng
Một số mô hình liên kết giữa doanh nghiệp với hộ nông dân hoặc hợp tác xã với hộ nông dân đã dần xuất hiện và có hiệu quả cao trong sản xuất mặt hàng rau, hoa, quả Trong mô hình này, doanh nghiệp và hợp tác xã là đầu mối
tổ chức xuất khẩu, còn hộ nông dân là vệ tinh Quan hệ giữa doanh nghiệp, hợp tác xã với hộ nông dân thể hiện trên các hợp đồng được ký kết; theo đó,
hộ nông dân tham gia sản xuất theo quy trình do doanh nghiệp và hợp tác xã quy định Cho đến nay, đã xuất hiện một số mô hình phát triển sản xuất và xuất khẩu rau, hoa, quả đạt hiệu quả kinh tế cao, cho thu nhập từ 400 – 500
Trang 7triệu đồng/ha/năm Phát triển sản xuất và xuất khẩu các loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao để thay thế cho các cây trồng có hiệu quả kinh tế thấp là rất cần thiết trong việc chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp, tạo thêm việc làm và thu nhập cho nông dân, góp phần vào tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa của cả nước Chính vì vậy, việc canh tác rau, hoa, quả phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu đã nhận được sự quan tâm của nhiều cấp, ngành trong cả nước
Tuy có những thuận lợi và đạt được một số kết quả bước đầu, nhưng nhìn chung tình hình sản xuất và xuất khẩu rau, hoa, quả của nước ta còn nhiều khó khăn Công tác quy hoạch chưa được quan tâm đúng mức và tổ chức thực hiện còn nhiều bất cập nên nhiều quy hoạch diện tích trồng rau, hoa, quả đã trở thành quy hoạch treo; một số nhà máy chế biến được xây dựng xong nhưng thiếu nguyên liệu hoặc có nguyên liệu nhưng không đảm bảo các yêu cầu và chất lượng cho chế biến xuất khẩu Vấn đề áp dụng các biện pháp
kỹ thuật canh tác tiên tiến chưa được hỗ trợ giải quyết thoả đáng, diện tích canh tác theo quy mô hộ nhỏ bé gây trở ngại cho việc áp dụng các kỹ thuật tiên tiến, hiện đại trong sản xuất và kinh doanh Việc nghiên cứu thị trường, xúc tiến thương mại và khuyến khích, hỗ trợ hoạt động xuất khẩu chưa được quan tâm đúng mức Sản xuất và kinh doanh rau, hoa, quả tươi luôn tiềm ẩn rủi ro cao nên các doanh nghiệp và hộ sản xuất kinh doanh còn chưa yên tâm tập trung đầu tư cho phát triển
Nhận thấy rau, hoa, quả là một mặt hàng có ý nghĩa về mặt xã hội và có nhiều tiềm năng phát triển, các cấp, các ngành cũng đã dành sự quan tâm đáng
kể Nhờ đó, thông tin và cơ sở dữ liệu đối với các mặt hàng rau, hoa, quả đã được chú trọng Hiện nay ở trong nước có khá nhiều các trang web cung cấp thông tin chuyên ngành Rau, Hoa, Quả Ngoài những trang web chính thống của các bộ ngành và địa phương còn có những trang web của các tổ chức, doanh nghiệp… với nhiều thông tin được cung cấp từ các bộ, ngành thông qua các trang web, nhiều thông tin có tính chính xác cao Các nguồn thông tin từ các tổ chức, doanh nghiệp đa dạng, phong phú rất hữu ích đối với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất, kinh doanh rau hoa quả Giúp doanh
Trang 8nghiệp kịp thời nắm bắt thông tin thị trường, xu hướng giá cả, từ đó có quyết định kinh doanh hợp lý Bộ Công Thương trong thời gian qua cũng đã dành sự quan tâm đối với việc cung cấp các thông tin về mặt hàng rau, hoa, quả thông qua trang web Rauhoaquavn.vn Trang web Rauhoaquavn.vn là một sản phẩm của đề án do thứ trưởng Trần Đức Minh chủ trì năm 2007 về mặt hàng rau, hoa, quả Tuy nhiên, công tác thông tin, hỗ trợ thông tin phục vụ sản xuất và xuất khẩu mặt hàng rau, hoa, quả tuy đã được đầu tư nhưng hiệu quả vẫn chưa được như mong đợi
Tóm lại những năm qua vấn đề phát triển sản xuất rau, hoa, quả cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu đã được quan tâm, nhưng chưa có sự gắn kết
chặt chẽ giữa sản xuất và xuất khẩu dẫn đến hiệu quả xuất khẩu chưa cao
2 Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề này như:
Hiện trạng phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam, Tạp
chí Hoạt động khoa học, Số 12 năm 2007 Bài viết khái quát về hiện trạng
nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam, nêu ra những tồn tại, khó khăn trong hoạt động của các khu nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam, từ đó nêu ra
kế hoạch phát triển nông nghiệp công nghệ cao đến năm 2015 và một số kiến nghị để thực hiện kế hoạch này
Nông nghiệp Trung Quốc sau 5 năm gia nhập WTO: Bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Nông thôn mới, số 214, 2007 Bài viết đề cập
tới tình hình nông nghiệp Trung Quốc trong 5 năm mới gia nhập WTO, những bất lợi đối với nông nghiệp và người nông dân Trung Quốc trong thời gian này Tuy nhiên với nhiều giải pháp, đặc biệt tập trung vào giải pháp “Tái cơ cấu nông nghiệp cũng như việc xuất nhập khẩu nông sản”, Trung Quốc đã thành công Từ một nền nông nghiệp kém cạnh tranh, Trung Quốc đã khắc phục dần những bất lợi do WTO đem lại và có tham vọng trở thành “Nông trại thế giới” Từ bài học Trung Quốc, bài viết rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 9Nông sản thời hội nhập: quy trình Việt GAP việc cần làm ngay, Tạp
chí Nông thôn mới, Số 206/2007 Bài viết khẳng định trái cây, rau và hoa là
những mặt hàng có ưu thế lớn trong sân chơi WTO so với các loại nông sản khác, nêu ra những vấn đề để phát triển mặt hàng rau, hoa, quả trở thành một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đặt biệt là việc cần xây dựng ngay quy trình nông nghiệp an toàn GAP (Good Agricultural Pracices)
Một số vấn đề về phát triển sản xuất và tiêu thụ rau, quả ở Việt
Nam, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn Số 10/2004 Bài viết nêu
lên thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau, quả và hoa cây cảnh ở Việt Nam trong giai đoạn 1999 đến 2004 Chỉ ra nguyên nhân gây mất cân đối và không ổn định trong việc phát triển sản xuất và tiêu thụ rau, quả Đề ra một số giải pháp phát triển sản xuất, tiêu thụ và nâng cao năng lực cạnh tranh cho rau, quả hàng hoá Việt Nam
Để đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu rau, quả trong thời gian tới,
Trung tâm Thông tin Thương mại, ngày 23/2/2006 Bài viết đề cập tới những
thuận lợi và khó khăn trong xuất khẩu rau, hoa, quả của Việt Nam, những điểm yếu của ngành rau, hoa, quả trong việc cung ứng đơn hàng xuất khẩu, từ
đó nêu ra một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau, hoa, quả trong thời gian tới
Giải pháp đầu ra cho ngành rau quả Việt nam, Tạp chí Tin tức, Số
30 (291), 28/7/2004 Những thành công và sự phát triển đi lên của ngành rau,
quả Việt Nam trong nửa đầu chương trình phát triển rau, quả và hoa - cây cảnh giai đoạn 1999 – 2010, tuy nhiên đầu ra của ngành rau, hoa, quả vẫn còn nhiều hạn chế, xuất khẩu rau, quả của Việt Nam còn chậm và lúng túng, hiệu quả chưa cao, nêu các giải pháp nhằm thúc đẩy ngành rau, hoa, quả của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Tuy nhiên, cho đến thời điểm này vẫn chưa có công trình nào tổng kết, đánh giá được thực trạng xuất khẩu các mặt hàng rau, hoa quả của Việt Nam giai đoạn
Trang 102005-2009, cũng như việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu đối với mặt hàng này nhằm đẩy mạnh xuất khẩu trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế tác động mạnh mẽ đến xuất khẩu của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này phù hợp với những yêu cầu của giai đoạn tới (2011-2015)
3 Mục tiêu của đề tài:
- Nghiên cứu thị trường rau, hoa, quả thế giới và triển vọng xuất khẩu các mặt hàng này của Việt Nam
- Đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu các mặt hàng rau, hoa, quả Việt Nam thời gian qua
- Đề xuất giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng này của Việt Nam giai đoạn 2011-2015
- Đánh giá thực trạng cơ sở dữ liệu rau, hoa, quả và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện cơ sở dữ liệu cho trang web rauhoaquavn.vn
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
- Thực trạng xuất khẩu các mặt hàng rau, hoa, quả của Việt Nam giai đoạn 2005-2009, tập trung chủ yếu trong giai đoạn 2007-2009
- Thực trạng cơ sở dữ liệu ngành rau, hoa, quả Việt Nam những năm qua, tập trung phân tích trang web www.rauhoaqua.vn
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về mặt nội dung: Đề tài tập trung đánh giá hoạt động xuất khẩu các mặt hàng rau, hoa, quả của Việt Nam trong 3 năm 2007-2009, thực trạng thông tin và cung cấp thông tin ngành rau, hoa, quả qua trang web www.rauhoaqua.vn Từ đó xây dựng định hướng xuất khẩu mặt hàng rau, hoa quả của Việt Nam trong những năm tiếp theo và một số giải pháp thực hiện
+ Về thời gian: Khái quát đối tượng nghiên cứu giai đoạn 2005 – 2009, tập trung chủ yếu trong 3 năm 2007-2009 và định hướng đến năm 2015
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp sau:
- Tập hợp và nghiên cứu tài liệu, số liệu liên quan đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam và vấn đề chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp
- Lấy ý kiến chuyên gia, hội thảo khoa học về những nội dung đề tài nghiên cứu
6 Đóng góp của đề tài
- Về phía Bộ Công Thương: Đề tài là một căn cứ khoa học và thực tiễn quan trọng để Bộ có thể tham khảo trong việc điều chỉnh chính sách quản lý, điều hành hoạt động xuất khẩu các mặt hàng rau, hoa, quả Việt Nam giai đoạn 2011 -
2015 nhằm thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu mặt hàng này
- Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu các mặt hàng rau, hoa, quả Việt Nam: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho việc xây dựng, hoạch định kế hoạch phát triển hoạt động sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng rau, hoa, quả tới các thị trường chính, các thị trường tiềm năng, giúp doanh nghiệp chủ động trong công tác xây dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh phù hợp giai đoạn mới, đạt hiệu quả trong hoạt động xuất khẩu
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 3 chương như sau:
Trang 12CHƯƠNG 1 THỊ TRƯỜNG CÁC SẢN PHẨM RAU HOA QUẢ VIỆT
NAM VÀ THẾ GIỚI
1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ các mặt hàng rau, hoa, quả Việt Nam những năm gần đây
1.1.1 Tình hình sản xuất rau, hoa, quả của Việt Nam
Trong những năm gần đây, diện tích trồng rau, hoa, quả của nước ta đã tăng lên đáng kể Với những lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh nghiệm trồng
trọt được thừa hưởng từ nhiều thế hệ, Đồng bằng Sông Hồng trở thành vùng
sản xuất rau lớn nhất nước, Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất quả
chủ yếu của cả nước
Sản xuất rau, củ:
Năm 2005, tổng diện tích trồng rau các loại trên cả nước đạt 676,1 nghìn ha, sản lượng 10,3 nghìn tấn; đến năm 2009, diện tích gieo trồng đạt 720
nghìn ha, với sản lượng đạt khoảng 11,6 nghìn tấn (tăng 6,5% về diện tích
gieo trồng và 12,6% về sản lượng so với năm 2005)
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng rau từ 2005 đến 2010 Chỉ tiêu Đơn vị 2005 2006 2007 2008 2009 2010 (ước)
Trang 13Đồng Bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long là 2 vùng sản xuất rau lớn nhất của Việt Nam với tỷ trọng lần lượt là: 24,9% về diện tích với 29,6% sản lượng rau cả nước và 25,9% về diện tích với 28,3% sản lượng Nhiều vùng rau an toàn đã được hình thành đem lại thu nhập cao cho người sản xuất và an toàn cho người tiêu dùng đang được nhiều địa phương chú trọng đầu tư xây dựng mới và mở rộng như: Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng,
TP Hồ Chí Minh, An Giang, Lâm Đồng (Đà Lạt)
Không chỉ đáp ứng nhu cầu nội địa, rau hiện cũng là một mặt hàng xuất khẩu có tiềm năng của Việt Nam Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu rau quả, trong những năm gần đây, những loại rau được xác định có khả năng phát triển để cung cấp sản phẩm cho xuất khẩu là cà chua, dưa chuột, đậu, ngô, cải các loại Các sản phẩm này phát triển mạnh cả về quy mô và sản lượng, trong
đó sản phẩm hàng hóa chiếm tỷ trọng cao
Hiện nay rau được sản xuất theo hai phương thức: tự cung tự cấp và sản xuất hàng hóa, trong đó rau hàng hóa tập trung chính ở 2 khu vực:
Vùng rau chuyên canh tập trung ven thành phố, khu tập trung đông dân
cư Sản phẩm chủ yếu cung cấp cho dân phi nông nghiệp, với nhiều chủng loại rau phong phú (gần 80 loại với 15 loại chủ lực), hệ số sử dụng đất cao (4,3 vụ/năm), trình độ thâm canh của nông dân khá cao, song mức độ không an toàn mặt hàng rau xanh và ô nhiễm môi trường canh tác rất lớn
Vùng rau luân canh: là vùng có diện tích, sản lượng lớn, cây rau được trồng luân canh với cây lúa hoặc một số cây màu Sản phẩm rất đa dạng; phục
vụ ăn tươi cho cư dân trong vùng, vùng lân cận, cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu
Sản xuất rau theo hướng nông nghiệp công nghệ cao đã bước đầu được hình thành như: sản xuất trong nhà màn, nhà lưới chống côn trùng, sản xuất trong nhà plastic không cố định để hạn chế tác hại của các yếu tố môi trường bất lợi, trồng rau bằng kỹ thuật thủy canh, màng dinh dưỡng, nhân giống và sản xuất các loại cây quý hiếm, năng suất cao bằng công nghệ nhà kính của Israel có điều khiển kiểm soát các yếu tố môi trường
Trang 14Sản xuất quả:
Diện tích cây ăn quả cả nước trong thời gian qua tăng khá nhanh, năm
2005 đạt 766,9 ngàn ha, năm 2009 cả nước có khoảng 790 ngàn ha (tốc độ tăng bình quân là 8,5%/năm), cho sản lượng 6,5 triệu tấn (trong đó chuối có sản lượng lớn nhất với khoảng 1,4 triệu tấn, tiếp đến quả có múi: 800 ngàn tấn, nhãn: 590 ngàn tấn)
Trên địa bàn cả nước, bước đầu đã hình thành các vùng trồng cây ăn quả tập trung, cho sản lượng hàng hoá lớn như vùng mận Bắc Hà - Lao Cai; cam Vị Xuyên - Hà Giang, Bưởi Đoan Hùng, vải tại Lục Ngạn - Bắc Giang, vải Thanh Hà - Hải Dương; nhãn Hưng Yên Đã có một số vùng sản xuất quả tập trung cho xuất khẩu như Thanh long của Bình Thuận, Sầu riêng cơm vàng hạt lép, Vú sữa Lò rèn, Nhãn xuồng cơm vàng của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu long Trong đó còn nhiều loại quả ngon, có lợi thế cạnh tranh, có triển vọng xuất khẩu cao như: xoài cát Hòa Lộc, bưởi năm roi, bưởi da xanh, sầu riêng Ri- 6, Chín Hóa (ở ĐBSCL); bưởi Phúc Trạch, bưởi Đoan Hùng, nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều (ở miền Bắc); bơ, chôm chôm, măng cụt, thanh long (ở khu vực Đông Nam bộ, miền Trung và Tây Nguyên)… Tuy nhiên, do sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, chất lượng chưa ổn định, màu sắc, kích cỡ… không đồng đều dẫn đến tính cạnh tranh của trái cây Việt Nam nhìn chung khá thấp
Sản xuất hoa:
Việt Nam hiện có khoảng 15.000 ha hoa, cây cảnh, tập trung ở Lâm Đồng, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Lào Cai, Sơn La Hoa của Việt Nam chủ yếu tiêu thụ trong nước, và chỉ xuất khẩu rất ít
Trong số 15 nghìn ha trồng hoa, cây cảnh, các tỉnh miền Bắc (tập trung chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng) có 6.400 ha, miền Nam 7.000 ha, thu nhập bình quân từ nghề này nằm trong khoảng từ 70 – 80 triệu đồng/ha/năm Những nơi có diện tích trồng hoa với quy mô lớn, như: Tây Tựu, Mê Linh (Hà Nội), Hoành Bồ (Quảng Ninh), người dân trồng hoa và cây cảnh có thu nhập từ 230 đến 260 triệu đồng/ha/năm Cá biệt, tại những vùng
Trang 15trồng hoa lớn tại Đà Lạt, mức thu nhập của người dân trồng hoa và cây cảnh
có thể đạt từ 400 – 500 triệu đồng/ha/năm
Trên cả nước cũng đã hình thành những vùng trồng hoa tập trung như vùng hoa Tây Tựu- Từ Liêm- Hà Nội với diện tích trồng hoa đạt 330 ha; Vùng trồng hoa tập trung thành phố Hồ Chí Minh với diện tích 700ha, vùng hoa Lâm Đồng với diện tích 2027ha, chủ yếu tập trung tại thành phố Đà Lạt, các
xã Hiệp Thành, Hiệp An…; vùng trồng hoa hàng hóa trung du miền núi phía Bắc với diện tích gần 136ha, vùng trồng hoa Lao Cai; vùng trồng hoa Hoành Bồ- Quảng Ninh Tại các vùng trồng hoa tập trung này, hoa hồng và hoa cúc vẫn là hai loại hoa cắt chủ đạo, với đa dạng chủng loại và phẩm cấp, từ hoa phục vụ trang trí hàng ngày, tặng trong dịp lễ tết, hoa cúng, hoa khuôn viên cho đến các loại hoa xuất khẩu cao cấp
Tại vùng trồng hoa Tây Tựu-Từ Liêm-Hà Nội, hoa hồng và hoa cúc là hai loại hoa có diện tích trồng và sản lượng cao nhất Hoa hồng cho thu hoạch quanh năm và tạo thu nhập thường xuyên Hoa cúc đứng thứ hai với chu kỳ 3 tháng một lần cho thu hoạch Hoa cúc của vùng không chỉ được tiêu thụ tại các thị trường phía Bắc mà đang được đưa dần vào thị trường phía Nam và xuất khẩu sang Trung Quốc
Vùng hoa công nghệ cao Đà Lạt, thiên đường hoa của Việt Nam, hoa hồng và hoa cúc cũng là hai loại hoa chủ đạo Hoa cúc có tới 40 loại khác nhau, chia thành 3 nhóm lớn là cúc đại đóa màu vàng anh, tím, cúc giống nhỏ
và cúc có nhóm tia có muỗng Hoa hồng cũng có tới trên 15 loại với chất lượng nổi trội Hồng Đà Lạt không chỉ được tiêu dùng Việt Nam đánh giá cao
mà còn được bạn hàng thế giới ưa chuộng với ưu điểm hoa to, cành thẳng, bền, thơm, sinh trưởng và phát triển tốt, khả năng kháng bệnh cao…
Trong diện tích gần 136 ha trồng hoa của vùng Trung du và miền núi phía Bắc, diện tích trồng hoa hồng đã chiếm tới trên 55,27% với sản lượng 26,53 triệu bông/năm Diện tích trồng hoa cúc lớn thứ hai với 14,5 ha, sản lượng 5 triệu cành/năm
Trang 16Với tỷ lệ hoa hồng và hoa cúc khá cao, cơ cấu ngành hoa Việt Nam tương đối phù hợp với thị hiếu của các thị trường cao cấp trên thế giới như Nhật Bản, Trung Quốc và Tây Âu Tuy nhiên, đây đều là những thị trường khó tính với những yêu cầu về chất lượng, mẫu mã và an toàn thực vật rất cao Các tiêu chuẩn về hàm lượng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ, bảo quản thực vật được đặt lên hàng đầu Bên cạnh đó, để có thể thâm nhập các thị trường này, hoa Việt Nam còn phải cạnh tranh về hình thức, giá cả và độ tươi lâu
Đặc điểm mặt hàng rau, hoa, quả:
So với các mặt hàng khác, mặt hàng rau, hoa, quả có những đặc điểm rất khác Mỗi mặt hàng rau, hoa, quả đều có đặc trưng riêng
Mặt hàng rau, hoa, quả rất phong phú về chủng loại, chịu sự tác động của nhiều yếu tố như mùa vụ, tổ chức các dịch vụ phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật và tổ chức sử dụng lao động trong sản xuất
Rau, hoa, quả là ngành sản xuất mang tính hàng hoá cao, là các mặt hàng có chứa hàm lượng nước cao, khối lượng cồng kềnh, dễ hư hỏng, dập nát, khó bảo quản và vận chuyển
Do là sản phảm mang tính thời vụ, nên khả năng cung cấp của chúng có thể dồi dào ở chính vụ nhưng lại khan hiếm ở thời điểm giáp vụ, trong khi nhu cầu của người tiêu dùng lại không mang tính thời vụ Tiêu dùng rau, hoa, quả phụ thuộc vào yếu tố thu nhập, tâm lý, tập quán, thói quen người tiêu dùng
Tiêu thụ rau quả dưới dạng tươi có hiệu quả cao nhất, nhưng vấn đề đặt
ra là không thể tiêu thụ toàn bộ dưới dạng tươi với sản lượng lớn mà phải có chế biến (đây cũng là một biện pháp bảo quản) nhất là đối với những chủng loại có sản lượng tương đối lớn hoặc thời vụ thu hoạch ngắn (dứa, vải, chôm chôm) Ngoài ra còn tận dụng được những trái cây có phẩm cấp thấp nên không thể xuất tươi được
1.1.2 Tình hình tiêu thụ các mặt hàng rau, hoa, quả Việt Nam
Nhìn chung, sản xuất cây ăn quả mới chỉ phục vụ thị trường trong nước, một thị trường dễ tính, đang tăng nhanh nhưng sẽ bị cạnh tranh mạnh trong tương lai Triển vọng của ngành sản xuất này là rất lớn với điều kiện đầu
tư thích đáng và đồng bộ từ nghiên cứu, tổ chức sản xuất giống, chế biến,
Trang 17đóng gói, vận chuyển, tiêu chuẩn chất lượng, nhãn hiệu, tiếp thị, những lĩnh vực Việt Nam còn rất yếu kém
Hiện nước ta có khoảng 60 cơ sở chế biến rau, quả và tổng năng suất
290 ngàn tấn sản phẩm/năm, trong đó doanh nghiệp nhà nước chiếm khoảng 50%, doanh nghiệp quốc doanh 16% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 34%, ngoài ra còn hàng chục ngàn hộ gia đình làm chế biến rau, quả ở
qui mô nhỏ
Đặc thù của thị trường rau, hoa, quả là tiêu thụ theo hộ gia đình, các mặt hàng rau, hoa, quả được tiêu thụ chủ yếu trong nước Ngoài ra, một đặc điểm lớn khác là tiêu thụ rau, hoa, quả có tính đặc trưng theo vùng: Đậu, su hào và cải bắp là những loại rau được tiêu thụ rộng rãi hơn ở miền Bắc; trong khi cam, chuối, xoài và quả khác lại được tiêu thụ phổ biến hơn ở miền Nam
Sự tương phản theo vùng rõ nét nhất có thể thấy với trường hợp su hào với trên 90% số hộ nông thôn ở miền núi phía Bắc và Đồng bằng sông Hồng tiêu thụ, nhưng dưới 15% số hộ ở miền Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long tiêu thụ Ở các khu vực thành thị, tỷ lệ hộ tiêu thụ đối với tất cả các sản phẩm đều cao Đã có một số nghiên cứu về tình hình tiêu thụ các loại rau, quả của Việt Nam trong thời gian qua Các nghiên cứu cho thấy rau và quả là hai sản phẩm khá phổ biến trong các hộ gia đình Theo nghiên cứu của IFPRI (2002), ICARD (2004): cho đến trước năm nghiên cứu, hầu hết các hộ đều tiêu thụ rau, và 93% hộ tiêu thụ quả Các loại rau, quả được tiêu thụ rộng rãi nhất
là rau muống (95% số hộ tiêu thụ), cà chua (88%) và chuối (87%) Hộ gia đình Việt Nam tiêu thụ trung bình 71 kg rau, quả cho mỗi người mỗi năm, trong đó
tiêu thụ rau chiếm tới 3/4
Ngoài việc tiêu thụ các mặt hàng rau, hoa, quả sản xuất trong nước, Việt Nam còn nhập khẩu nhiều mặt hàng rau, quả từ các nước để tiêu thụ Các thị trường mà Việt Nam nhập trái cây nhiều nhất là Trung Quốc, Thái Lan, Hongkong, Lào, Hoa Kỳ và Australia Chủng loại trái cây nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc gồm 14 loại như táo, quýt, lê, nho xanh, cam Theo thống
kê, hiện có khoảng 50 chủng loại trái cây được nhập khẩu vào Việt Nam Các
Trang 18loại sản phẩm này được nhập khẩu một phần phục vụ đối tượng khách nước ngoài, một phần phục vụ nhu cầu tiêu thụ của người dân trong nước Cùng với
xu thế hội nhập, hoạt động nhập khẩu đang đặt ra nhiều thách thức đối với ngành sản xuất rau, quả Việt Nam
Tiêu thụ trong nước không nhiều và giá cả thất thường phụ thuộc vào lượng hàng nông sản cung cấp trong khi mức tiêu thụ hạn chế dẫn đến tình trạng hàng nông sản có năm rất đắt, có năm lại rất rẻ ảnh hưởng đến tính bền vững trong sản xuất Với đặc trưng là trở thành hàng hoá ngay sau khi thu hoạch và rất dễ bị hư hỏng, trong khi hầu hết các vùng sản xuất hàng hoá lớn chưa có nơi sơ chế và kho bảo quản tạm thời, mặt hàng rau của Việt Nam chủ yếu dừng lại ở tiêu thụ trong nước, phục vụ trực tiếp cho khu vực sản xuất và các vùng lân cận
b Tình hình tiêu thụ sản phẩm quả
Mặc dù có nhiều loại trái cây ngon, có lợi thế cạnh tranh như: xoài cát Hòa Lộc, bưởi năm roi, bưởi da xanh, sầu riêng Ri- 6, Chín Hóa (ở Đồng bằng sông Cửu Long); bưởi Phúc Trạch, bưởi Đoan Hùng, nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều (ở miền Bắc); bơ, chôm chôm, măng cụt, thanh long (ở khu vực Đông Nam bộ, miền Trung và Tây Nguyên)… Tuy nhiên, sản xuất manh mún, nhỏ
lẻ, chất lượng chưa ổn định; màu sắc, kích cỡ… không đồng đều dẫn đến tính cạnh của sản phẩm trái cây Việt Nam rất thấp Việc liên kết giữa nông dân với nông dân trong sản xuất và nông dân với doanh nghiệp trong tiêu thụ diễn ra lỏng lẻo dẫn đến nhiều bất lợi cho tiêu thụ Trong đó, tình trạng vẫn thường hay diễn ra qua các năm là điệp khúc “được mùa mất giá, được giá mất mùa”
Trang 19Hiện nay, xu hướng phát triển sản xuất hàng hoá đối với nhiều mặt hàng nông sản trong đó có trái cây ngày càng tăng trên phạm vi cả nước, tuy nhiên mức độ thương mại hoá khác nhau giữa các vùng: Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có tỷ suất cao nhất với gần 70% sản lượng được bán ra trên thị trường; tiếp theo là Đông nam Bộ và Nam Trung Bộ với tương ứng là 60% và 58%; các vùng còn lại tỷ suất hàng hoá đạt từ 30-40% Mức độ thương mại hoá cao ở Miền Nam cho thấy xu hướng tập trung chuyên canh với quy mô lớn hơn so với các vùng khác trong cả nước Sản xuất nhỏ lẻ, vườn tạp vẫn còn tồn tại nhiều, đây chính là hạn chế của quá trình thương mại hoá, phát triển vùng chuyên
canh cây ăn trái có chất lượng cao
Trong xu thế hội nhập, trái cây nước ta không chỉ cạnh tranh trên thương trường quốc tế mà còn cạnh tranh ngay trên thị trường nội địa bởi trái cây ngoại nhập tràn vào ngày càng nhiều Để tránh tình trạng “thua trên sân nhà”, rất cần sự hỗ trợ của các ngành chức năng và tạo mối liên kết chặt chẽ “
bốn nhà” từ nghiên cứu, tạo giống, sản xuất, tiêu thụ đến xuất khẩu trái cây
c Tình hình tiêu thụ sản phẩm hoa
Hiện nay, sản xuất hoa ở nước ta được thực hiên bởi 2 đối tượng chính: nông dân sản xuất tự phát theo xu hướng nhu cầu thị trường trong nước và bởi các doanh nghiệp tư nhân trong nước, liên doanh với nước ngoài hoặc 100% vốn nước ngoài sản xuất hoa chủ yếu cho xuất khẩu Hoa tiêu thụ trong nước chủng loại đa dạng và cung cấp ra thị trường theo mùa vụ chất lượng từ thấp đến cao, giá cả vừa phải, hiệu quả kinh tế không cao, sản xuất nhỏ lẻ và thiếu
ổn định Các doanh nghiệp sản xuất hoa xuất khẩu với sản lượng hoa nhiều hơn mang tính hàng hoá, chất lượng hoa cao hơn và được sản xuất trong điều kiện kỹ thuật cao, sản phẩm được tiêu thụ theo hợp đồng
Việt Nam đã xuất khẩu được các sản phẩm hoa cắt cành như hồng, phong lan, cúc, đồng tiền, cẩm chướng, ly ly, sao tím sang Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật bản, Singapore, Australia, Ả rập; vạn niên thanh, mai chiếu thủy, mai cảnh sang Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản Tuy nhiên,
số lượng xuất khẩu không nhiều, với doanh thu hơn 10 triệu USD/năm Sở dĩ sản phẩm hoa, cây cảnh của Việt Nam khó thâm nhập thị trường thế giới là do
Trang 20chủng loại, chất lượng, kích cỡ không đồng đều, chưa đáp ứng được thị hiếu của khách hàng quốc tế Trong khi đó, tiêu thụ trong nước lại có xu hướng chạy theo mùa vụ (rằm, lễ, Tết, các ngày kỷ niệm) là chính
Đà Lạt là vùng sản xuất hoa nổi tiếng và là vùng có tiềm năng lớn nhất
về sản xuất hoa của cả nước Hiện nay công ty TNHH Đà Lạt – Hasfarm 100% vốn nước ngoài đang áp dụng công nghệ sản xuất hoa tiên tiến với qui
mô diện tích 15 ha sản xuất trong nhà kính và 2 ha nhà thép; có hệ thống tự động điều chỉnh nhiệt độ, ẩm độ, hệ thống tưới nhỏ giọt bằng nguồn nước sạch hòa tan với phân bón, thuốc bảo vệ thực vật Các chủng loại hoa Công ty Đà
Lạt - Hasfarm đang sản xuất bao gồm hoa hồng, cúc, cẩm chướng, ly, đồng
tiền và lá hoa trang trí Sản lượng hoa xuất khẩu sang các nước Hồng Kông, Nhật, Đài Loan, Singapore chiếm 55%, phần còn lại dành cho tiêu thụ nội địa Quy trình sản xuất được thực hiện khép kín từ gieo trồng đến thu hoạch,
kể cả công nghệ sau thu hoạch như xử lý dung dịch giữ hoa, đóng gói, bảo quản và vận chuyển trong ngày để gửi đến nơi tiêu thụ Đây là mô hình rất hiệu quả cần được nghiên cứu, phổ biến và nhân rộng
1.2 Khái quát thị trường rau, hoa, quả thế giới
Rau, hoa, quả là mặt hàng được giao dịch nhiều trên thị trường thế giới Theo ITC, trong khi thị trường giao dịch gạo, cà phê, cao su… trên thế giới mỗi năm không quá 10 tỷ USD/năm/loại; trà, điều nhân, hồ tiêu khoảng 3 tỷ USD/năm thì với rau, hoa, quả, kim ngạch đã đạt trên 14 tỷ USD/năm tùy theo loại và có tốc độ tăng bình quân tuy không cao nhưng khá ổn định Cụ thể, giao dịch các sản phẩm quả (HS08) có dung lượng thị trường đạt cao nhất, quy
mô thị trường đạt trên 60 tỷ USD/năm trong cả giai đoạn 2006-2009 với tốc độ tăng trưởng bình quân là 4% Năm 2006, dung lượng thị trường đạt 60,2 tỷ USD, tăng lên 69,1 tỷ USD trong năm 2007 và lên mức 79,5 tỷ USD trong năm 2008 Năm 2009, do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, quy mô thị trường này giảm còn 69,2 tỷ USD
Thị trường rau, củ thế giới (HS07) cũng là thị trường có quy mô khá lớn với giá trị giao dịch 45,6 tỷ USD trong năm 2009, với mức tăng trưởng bình quân cũng đạt 4% Quy mô thị trường các năm 2006, 2007 và 2008 lần lượt là 39,6 tỷ USD, 46,7 tỷ USD và 79,6 tỷ USD
Trang 21Thị trường rau, quả chế biến (HS20) cũng là thị trường có quy mô rất
lớn Năm 2009, quy mô thị trường đạt 42,1 tỷ USD, có tốc độ tăng trưởng bình
quân hàng năm là 5% Quy mô thị trường này cũng tăng dần trong những năm
gần đây Nếu như năm 2006 mới chỉ đạt 35,5 tỷ USD thì năm 2007 con số
này là 43,4 tỷ USD và tăng lên mức 48,9 tỷ USD trong năm 2008 Năm 2009,
quy mô thị trường này giảm so với 2008 còn 42,1 tỷ USD
Thị trường hoa, cây cảnh thế giới (HS06) có quy mô thị trường nhỏ
nhất trong số các loại rau, hoa, quả nhưng cũng đạt trên 10 tỷ USD/năm Năm
2006 quy mô thị trường đạt 14,5 tỷ USD và tăng lên mức 16,5 tỷ USD trong
năm 2007, đạt mức cao nhất trong năm 2008 với 17,8 tỷ USD và giảm còn
15,1 tỷ USD trong năm 2009 Đây là thị trường khá ổn định, có tốc độ tăng
trưởng thấp nhất trong số các thị trường rau, hoa, quả với mức tăng trưởng bình
quân cả giai đoạn 2006-2009 chỉ là 1%
Bảng 1.2 Thương mại hàng hoá rau, hoa, quả thế giới giai đoạn 2006-2009
Có thể thấy rằng, thị trường rau, hoa, quả thế giới là thị trường giao
dịch còn nhiều tiềm năng, nhất là khi Việt Nam hội tụ được nhiều điều kiện về
khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp cho phát triển sản xuất và xuất khẩu các chủng
loại sản phẩm này
1.2.1 Những yếu tố tác động đến nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng rau,
hoa, quả thế giới
Hiện nay, xu hướng chung đối với tiêu thụ các mặt hàng rau, hoa, quả ở bất
kỳ thị trường nào đều là xu hướng lựa chọn những sản phẩm có thương hiệu,
chất lượng cao và an toàn cho sức khỏe Ở các nước phát triển, các yêu cầu này
càng được coi trọng, các nước đang phát triển thì các yêu cầu này còn chưa được
quan tâm đúng mức, đặc biệt trong khâu bảo quản mặt hàng rau, quả
Trang 22Thị trường xuất - nhập khẩu nông sản thế giới đang được kiểm soát bởi
hệ thống đại siêu thị, tập đoàn đa quốc gia với các tiêu chuẩn ngặt nghèo về chất lượng cũng như vệ sinh an toàn thực phẩm Do đó, để nâng cao giá trị cho các mặt hàng rau, hoa, quả của Việt Nam, cần ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật với công nghệ tiên tiến trong sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Hiện nay, tiêu chuẩn GAP đối với rau, quả được coi là giải pháp lâu dài và cần thiết, mặc dù GAP không phải là rào cản hoặc điều kiện để xuất khẩu
Một yếu tố khác tác động đến nhu cầu tiêu thụ mặt hàng rau, quả là yếu
tố mùa vụ Mặc dù, kỹ thuật bảo quản rau, quả đã đạt được những tiến bộ nhất định, các loại rau xanh có thể bảo quản hàng tháng, rau, quả chế biến lên đến hàng năm, quả chín cũng lên đến hàng tháng, thậm chí hàng năm Tuy nhiên, yếu tố mùa vụ vẫn có vai trò hết sức quan trọng đối với tiêu thụ mặt hàng rau, quả Các loại rau, quả sau khi thu hoạch được tiêu thụ trực tiếp không qua xử
lý thường có chất lượng tốt, giữ được hương vị tự nhiên Tuy nhiên, để tham gia vào thị trường thế giới cần có biện pháp xử lý thích hợp, để bảo quản được lâu, điều này cũng ảnh hưởng nhất định đến chất lượng sản phẩm
Xu hướng tiêu thụ gần đây ở hầu hết các nước phát triển là hướng vào tiêu thụ các loại rau, củ, quả tươi giàu Vitamin có lợi cho sức khoẻ Bên cạnh
đó, nhu cầu cũng có xu hướng tăng đối với các loại rau được chế biến sẵn hoặc
ở dạng đông lạnh vì một bộ phận lớn dân cư thành thị có nhu cầu rút ngắn thời gian chế biến khi làm bếp Xu hướng này mở ra cơ hội lớn cho các nhà xuất khẩu ở các nước đang phát triển
Xu thế ăn kiêng cũng là một xu hướng đáng kể đối với tiêu thụ các mặt hàng rau, củ, quả tươi và qua chế biến, đây chính là nguyên nhân làm tăng nhập khẩu nhiều loại rau, quả tại các nước phát triển, thậm chí các loại trước đây ít phổ biến ở thị trường như Nhật Bản, Hoa Kỳ,
Vài năm gần đây, một xu hướng khác cũng làm tăng thương mại mặt hàng rau, quả ở nhiều nước phát triển là các nhà cung cấp thực phẩm ở nhiều nước phát triển tích cực tìm kiếm các nguồn nhập khẩu trái vụ, đồng thời, sức
Trang 23tiêu thụ mạnh của hệ thống siêu thị nhằm đáp ứng khẩu vị món ăn ngày càng
đa dạng của người tiêu dùng ngày càng chú trọng đến sức khỏe
1.2.2 Thương mại các mặt hàng rau, hoa, quả thế giới
Mặt hàng rau
Theo thống kê của ITC, các nước xuất khẩu rau chính trên thế giới là Hà Lan, Tây Ban Nha và Trung Quốc với kim ngạch năm 2009 lần lượt là 6,8 tỷ USD, 4,9 tỷ USD và 4,8 tỷ USD Với trình độ nông nghiệp phát triển ở mức cao, sản lượng rau sản xuất lớn, 3 nước này luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu rau toàn thế giới Hà Lan và Tây Ban Nha với lợi thế về khí hậu ôn đới cũng như vị trí địa lý thuận lợi cung cấp chủ yếu các mặt hàng rau ôn đới cho thị trường Châu Âu Trung Quốc với sản lượng rau rất lớn không những đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước mà còn dành để xuất khẩu Tuy nhiên, lượng xuất khẩu rau chỉ chiếm khoảng 10% tổng sản lượng rau sản xuất của Trung Quốc, còn phần lớn được dùng tiêu thụ tại thị trường trong nước Các nước sản xuất và xuất khẩu rau lớn khác trên thế giới như Mexico, Hoa Kỳ, Canada hay Bỉ và Pháp xuất khẩu khoảng từ 2 đến trên 3,5 tỷ USD loại sản phẩm này mỗi năm
Việt Nam với nhiều điều kiện thuận lợi để sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng rau nhiệt đới cũng đã vươn lên xếp thứ 24 trong số các nước sản xuất, xuất khẩu rau trên thế giới
Các nước nhập khẩu rau chính trên thế giới chủ yếu là các nước ở vùng ôn đới như Đức, Hoa Kỳ, Anh, Pháp hay Hà Lan, đây cũng là các nước có sản lượng
và lượng xuất khẩu rau khá lớn nhưng do điều kiện tự nhiên chỉ cho phép họ sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng rau ôn đới nên phần lớn các quốc gia này đều phải nhập khẩu các mặt hàng rau nhiệt đới cũng như các mặt hàng rau ôn đới mà nước mình không sản xuất được để tiêu thụ trong nước Do là các nước công nghiệp phát triển nên hầu hết các nước đều đặt tiêu chuẩn rất cao đối với rau nhập khẩu, đây là một rào cản khá lớn đối với các nước xuất khẩu rau nói chung và đặc biệt là đối với các nước có sản xuất rau chưa đạt trình độ cao như Việt Nam
Trang 24Bảng 1.3: Kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng rau của các nước nhập khẩu
chính trên thế giới (đvt: triệu USD)
Thị trường 2009 2008 2007 2006 Tăng trưởng bình quân
Các nước xuất khẩu sản phẩm quả chủ yếu trên thế giới là Hoa Kỳ, Tây Ban
Nha, Chile, Bỉ, Italia, với kim ngạch xuất khẩu hàng năm của mỗi nước đều lên
tới trên 3 tỷ USD Năm 2009, Hoa Kỳ là nước xuất khẩu các loại quả lớn nhất thế
giới với giá trị xuất khẩu đạt 8,7 tỷ USD chiếm 13,8% thương mại sản phẩm quả
toàn cầu, Tây Ban Nha là nước xuất khẩu lớn thứ 2 với giá trị xuất khẩu đạt 6,1 tỷ
USD chiếm 9,7% tổng xuất khẩu các loại quả thế giới Chi lê, Bỉ và Italia là các
nước xuất khẩu lớn thứ 3, thứ 4 và thứ 5 với giá trị xuất khẩu lần lượt là 3,9 tỷ
USD, 3,3 tỷ USD và 3,2 tỷ USD chiếm tỷ trọng 6,3%, 5,2% và 5,1% trong tổng
xuất khẩu các loại quả của thế giới
Các nước nhập khẩu các sản phẩm quả (HS08) chủ yếu trên thế giới là Hoa
Kỳ với kim ngạch năm 2009 đạt tới gần 9 tỷ USD, Đức với 7,5 tỷ USD và Anh với
4,6 tỷ USD, Nga với 4,4 tỷ USD, Tăng trưởng nhập khẩu thị trường các sản
phẩm quả thế giới tuy khá thấp nhưng ổn định Quy mô nhập khẩu thị trường Hoa
Kỳ tăng 6%, nhập khẩu của thị trường Đức tăng 3%, thị trường Anh thì ổn
định, sau khi tăng trưởng trong 2 năm 2007, 2008 lại sụt giảm trong năm 2009
Nga là một trong số ít các thị trường có mức tăng trưởng cao 12% trong cả
giai đoạn 2006-2009
Trang 25Bảng 1.4 Nhập khẩu các sản phẩm quả (HS08) của các nước nhập khẩu chủ
yếu trên thế giới (Đơn vị : triệu USD) Thị trường 2009 2008 2007 2006 Tăng trưởng
Thị trường quả thế giới chủ yếu bị chi phối bởi các nước phát triển, nơi có
ngành nông nghiệp đạt được nhiều tiến bộ, công nghệ chế biến bảo quản ở trình độ
cao Một nguyên nhân khác là hoạt động tái xuất đối với các loại quả cũng giúp
thương mại sản phẩm quả đạt kim ngạch ở mức cao
Các sản phẩm hoa:
Trên thế giới hiện có trên 300.000 ha sản xuất hoa, phân bố tại 27 nước
chủ yếu, trong đó EU chiếm 12% Các nước châu Á và Thái Bình Dương
chiếm 70% với 70% trong số diện tích này tập trung ở Trung Quốc và 15% ở
Ấn Độ Nhật Bản, Thái Lan và Đài Loan cũng là những nước sản xuất hoa
quan trọng ở châu Á và Thái Bình Dương với tổng diện tích chiếm 10% Hoa
Kỳ (7%), Mexico (5%), Brazil (2%) và Colombia (2%) là các nước sản xuất
hoa chủ yếu ở châu Mỹ, chiếm tổng số 16 % diện tích hoa của thế giới Công
nghệ nhà kính là yếu tố quan trọng tạo ra hiệu quả sản xuất cao trong ngành
hàng hoa thế giới
Trang 26Quy mô nhập khẩu hoa thế giới hàng năm đạt khoảng 15 tỷ USD, trong
đó, các nước nhập khẩu chính là các nước thuộc khối EU và Hoa Kỳ Năm 2009,
nước nhập khẩu lớn nhất là Đức với giá trị nhập khẩu lên đến 2,6 tỷ USD, cao
hơn gần 1 tỷ USD so với nước nhập khẩu lớn thứ 2 là Hoa Kỳ khi nước này nhập
khẩu 1,6 tỷ USD Các nước nhập khẩu lớn tiếp theo là Pháp, Hà Lan, Anh, Nga
Bảng 1.5: Các nước nhập khẩu hoa chính trên thế giới (Đơn vị : triệu USD)
Thị trường 2009 2008 2007 2006 Tăng trưởng bình quân
EU là khu vực xuất khẩu hoa lớn nhất thế giới Trong số 15 tỷ USD
xuất khẩu hoa các loại (HS06) của thế giới năm 2009, Hà Lan đã xuất khẩu tới
7,1 tỷ USD chiếm 46,2% tổng xuất khẩu cả thế giới, cao hơn hẳn nước xuất
khẩu lớn thứ 2 Colombia là nước xuất khẩu hoa lớn thứ 2 với kim ngạch xuất
khẩu năm 2009 đạt 1,1 tỷ USD chiếm 6,9% tổng xuất khẩu thế giới Bỉ là nước
xuất khẩu lớn thứ 3 thế giới với kim ngạch đạt 793 triệu USD chiếm 5,2%
tổng xuất khẩu thế giới Các nước xuất khẩu lớn tiếp theo là Bỉ, Italia, Đức,
Đan Mạch, Một phần lớn hoa nhập khẩu vào Hà Lan được tái xuất sang các
nước khác trong khối Cùng với Hà Lan, nguồn cung ứng từ bên ngoài chủ yếu
là các nước chậm phát triển như Kenya (8%), Colombia (3%), Equador (3%),
và Israel (3%)
Trong những năm qua, châu Phi đã nhanh chóng xác lập vị trí của mình
trên thị trường xuất khẩu hoa cắt cành Zimbabwe, Uganda, Nam Phi,
Trang 27Tanzania là các nước xuất khẩu chủ yếu của châu Phi Châu Á có vai trò không đáng kể trên thị trường xuất khẩu hoa thế giới Xuất khẩu của các nước châu Á chủ yếu giữa các nước trong khu vực Xuất khẩu ngoài khu vực sang châu Âu và Hoa Kỳ chỉ có Thái Lan và Trung Quốc Thái Lan là nước xuất khẩu lớn thứ 19 thế giới với kim ngạch 104 triệu USD, Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn thứ 15 thế giới với kim ngạch 188 triệu USD chiếm 1,2% tổng xuất khẩu thế giới Kim ngạch xuất khẩu của các nước khác còn rất hạn chế, Việt Nam là nước xuất khẩu lớn thứ 69 thế giới với kim ngạch 2,7 triệu USD
Tốc độ gia tăng nhập khẩu không lớn tương ứng với nhu cầu tiêu dùng
do bản thân các nước nhập khẩu hầu hết đều tự sản xuất hoa Bên cạnh đó, chi phí vận chuyển cao (chủ yếu qua đường hàng không) là yếu tố hạn chế gia tăng nhập khẩu Cũng do những khó khăn trong vận chuyển và bảo quản, các nước chậm phát triển chỉ chiếm lĩnh được một phần rất nhỏ trên thị trường này Mặc dù vậy, nhập khẩu từ các nước đang phát triển vẫn tiếp tục gia tăng nhờ các ưu thế cạnh tranh về nguồn nhân công rẻ và điều kiện khí hậu thuận lợi
Rau, quả chế biến (HS20) cũng là một thị trường có quy mô lớn với tổng nhập khẩu hàng năm lên tới trên 40 tỷ USD/năm Hoa Kỳ là nước nhập khẩu lớn nhất với mức nhập khẩu mỗi năm trên 5 tỷ USD, năm 2008 là năm có kim ngạch nhập khẩu cao nhất với 6,4 tỷ USD Đức là nước nhập khẩu lớn thứ 2 đối với các loại rau, quả chế biến, kim ngạch nhập khẩu của nước này mỗi năm cũng đạt khoảng 4,5 tỷ USD, năm cao nhất cũng là năm 2008 với 5,2 tỷ USD Nhìn chung, các nước nhập khẩu rau, quả chế biến lớn nhất thế giới đều là các nước phát triển
Bảng 1.6 Nhập khẩu mặt hàng rau, quả chế biến HS20 (Đơn vị : triệu USD) Thị trường 2009 2008 2007 2006 Tăng trưởng
Trang 28Thị trường Trung Quốc:
Trung Quốc là nước sản xuất, xuất khẩu và tiêu thụ rau, quả lớn nhất Châu Á 90% rau, quả của Trung Quốc hiện nay được tiêu thụ dưới dạng tươi, phục vụ thị trường nội địa rộng lớn, 10% còn lại được chế biến thành nước ép, đóng hộp, đông lạnh, sấy khô, mứt quả Các chính sách hỗ trợ đối với ngành làm vườn trong khuôn khổ Chương trình hỗ trợ ngành rau, quả được thực hiện
từ năm 1988, với các chương trình cải thiện kết cấu hạ tầng và phát triển hệ thống bán buôn Nhà nước hỗ trợ cho xây dựng các nhà kính, chuyển giao công nghệ mới, phát triển các mô hình trang trại, hệ thống dịch vụ nông nghiệp và đầu tư tư nhân – cả trong nước và nước ngoài – xây dựng hệ thống sản xuất với tiêu chuẩn quốc tế để cho ra đời các sản phẩm có chất lượng
Trang 29Rau chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu rau, quả của Trung Quốc (khoảng 70%) trong khi trái cây lại chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch nhập khẩu (khoảng 60%) Các loại rau, quả nhập khẩu của Trung Quốc chủ yếu là chuối, nho, cam, táo, cần tây, thanh long, nấm, đậu hạt Trung Quốc nhập khẩu chủ yếu từ Hoa Kỳ, Chi Lê và các nước Đông Nam Á
Trong những năm tới, Trung Quốc vẫn là thị trường có nhiều tiềm năng phát triển đối với rau, quả xuất khẩu của Việt Nam Trung Quốc là thị trường lớn, dễ thâm nhập, yêu cầu về chất lượng không quá cao, nhu cầu tiêu dùng của cư dân cũng rất đa dạng
Nhập khẩu rau (HS07) của Trung Quốc năm 2009 đạt 1,1 tỷ USD Các quốc gia cung cấp rau chính cho Trung Quốc là Thái Lan, Việt Nam, Canada, Indonesia và Ấn Độ, Trong đó, Thái Lan là nước cung cấp lớn nhất cho Trung Quốc, với tổng nhập khẩu từ Thái Lan đạt 582 triệu USD chiếm 55% tổng nhập khẩu của Trung Quốc Việt Nam là nhà cung cấp lớn thứ 2 với 283 triệu USD chiếm 27% tổng nhập khẩu, Canada là thị trường cung cấp lớn thứ
3 với 101 triệu USD chiếm 10% tổng nhập khẩu
Nhập khẩu quả các loại (HS08) của Trung Quốc là 1,7 tỷ USD, Thái Lan vẫn là nhà cung cấp lớn nhất với giá trị xuất khẩu lên đến 494 triệu USD chiếm 29% tổng nhập khẩu của thị trường này Việt Nam đứng ở vị trí thứ 2 với kim ngạch đạt 302 triệu USD chiếm 18% tổng nhập khẩu của Trung Quốc Thị trường lớn thứ 3 là Hoa Kỳ với 285 triệu USD chiếm 17% tổng nhập khẩu Tiếp theo là Chi lê với kim ngạch đạt 178 triệu USD chiếm 10% tổng nhập khẩu
Mặc dù rau, quả Việt Nam đã có chỗ đứng trên thị trường Trung Quốc nhưng đối với sản phẩm hoa (HS06) Việt Nam vẫn chưa phát huy được lợi thế của mình Trong tổng kim ngạch nhập khẩu 90,3 triệu USD của năm 2009, Hà Lan đã chiếm đến 44% với kim ngạch nhập khẩu đạt 39,6 triệu USD, Thái Lan với 18% đạt 16,6 triệu USD, Đài Loan với 7,8 triệu USD chiếm 9% Việt Nam không có tên trong số 8 nhà nguồn cung hoa lớn nhất cho Trung Quốc
Thị trường Nhật Bản:
Trang 30Mỗi năm Nhật Bản tiêu thụ 17 triệu tấn rau các loại, trung bình mỗi người dân tiêu thụ khoảng 100 kg rau/ năm Nhập khẩu rau tươi vào thị trường Nhật Bản luôn bị ảnh hưởng bởi thời vụ, nhất là khi sản xuất trong nước không đáp ứng được nhu cầu Thị phần rau tươi nhập khẩu đến nay chiếm khoảng 18% thị trường rau trong nước Nguồn nhập khẩu chủ yếu từ Hoa Kỳ, Mêhicô, NiuDilân, Ôxtrâylia, Trung Quốc Trong đó, Hoa Kỳ là nước cung cấp chủ yếu các loại hành, hoa lơ, măng tây, bí ngô NuiDilân và Ôxtrâylia thường cung cấp các loại rau tươi trái vụ do nằm ở vùng khí hậu Nam bán cầu Trung Quốc cung cấp nhiều rau tươi nhờ ưu thế thuận lợi về địa lý Năm 2009, Nhật Bản nhập khẩu 1,5 tỷ USD mặt hàng rau, củ các loại, Trung Quốc là thị trường cung cấp lớn nhất cho Nhật Bản với giá trị nhập khẩu lên tới 900 triệu USD chiếm 61% tổng nhập khẩu của Nhật Bản, Hoa Kỳ là nhà cung cấp lớn thứ 2 với giá trị 213,9 triệu USD chiếm 15% tổng nhập khẩu của Nhật Bản
Mặc dù kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Nhật Bản nói riêng đang gặp rất nhiều khó khăn nhưng nhu cầu chơi hoa của người dân nước này vẫn không ngừng tăng lên Do điều kiện thiên nhiên ưu đãi, Nhật Bản có thể tự trồng và cung cấp hầu hết nhu cầu hoa trong nước Tuy nhiên, do nhu cầu trong nước về các loài hoa khá phong phú và chi phí nhân công tại Nhật Bản đắt đỏ, không thể cạnh tranh với các nước khác, kim ngạch nhập khẩu hoa của Nhật Bản ngày càng tăng trong những năm gần đây Năm 2009, nhập khẩu sản phẩm hoa các loại (HS06) của Nhật Bản đạt 310 triệu USD, Trung Quốc cung cấp 75 triệu USD chiếm 24% tổng nhập khẩu hoa các loại của Nhật Bản, Malaixia là thị trường cung cấp lớn thứ 2 với 58,9 triệu USD chiếm 19%, các nước cung cấp lớn tiếp theo là Đài Loan, Colombia và Thái Lan
Hiện tại và trong những năm tới, Nhật Bản vẫn là khu vực đầy tiềm năng của nhiều loại rau, quả như bắp cải, dưa chuột, khoai tây, đậu quả các loại, dứa, cà chua, thanh long, tỏi, hoa… Đây cũng là những mặt hàng mà nước ta có năng lực sản xuất khá dồi dào Tuy vậy, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản mới chỉ chiếm 0,4% tổng kim ngạch nhập khẩu rau, quả của Nhật Bản
Trang 31Thị trường Bắc Mỹ (chủ yếu là Hoa Kỳ):
Mặc dù là một nước sản xuất rau, quả lớn trên thế giới, nhưng hàng năm Hoa Kỳ vẫn nhập khẩu một khối lượng lớn rau, quả Nguồn cung cấp rau, quả chủ yếu cho Hoa Kỳ là các nước láng giềng (Mexico và Canada chiếm gần 50% kim ngạch nhập khẩu rau, quả của Hoa Kỳ) và các nước Nam Mỹ Ngoài ra Hoa Kỳ cũng nhập khẩu từ một số nước Châu Á và Châu Âu Những mặt hàng nhập khẩu chính của Hoa Kỳ là chuối, cà chua, nho và khoai tây
Năm 2009, Hoa Kỳ đã nhập khẩu tới 8,9 tỷ USD các sản phẩm quả từ các nước đối tác trong đó các nước cung cấp chính trên thị trường Hoa Kỳ chủ yếu là các nước trong khu vực châu Mỹ la tinh như Mexico, Chilê, Costarica
và Canada Việt Nam cũng xuất khẩu được khá nhiều sản phẩm quả sang thị trường này, trong đó chủ yếu là các sản phẩm đã qua chế biến như nước quả, hoa quả sấy khô Việc xuất khẩu quả tươi rất hạn chế do điều kiện vận chuyển từ Việt Nam tới Hoa Kỳ tốn khá nhiều thời gian, ảnh hưởng lớn tới chất lượng quả tươi xuất khẩu
Việt Nam đứng thứ 9 trong số những nước xuất khẩu các sản phẩm quả vào thị trường này, kim ngạch xuất khẩu năm 2009 đạt 254 triệu USD Các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đáng kể khác là nấm rơm đã chế biến, dứa
đã chế biến Hiện đã có trên 50 mặt hàng rau, hoa, quả xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ, tuy nhiên, vẫn chưa thể hiện hết được khả năng cung ứng đa dạng các mặt hàng rau, hoa, quả của Việt Nam Trong các nhóm hàng rau, hoa, quả xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ thì kim ngạch xuất khẩu trái cây tươi vẫn còn nhiều hạn chế do những yêu cầu nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm
1.2.4 Các yêu cầu chủ yếu đối với hàng rau, hoa, quả nhập khẩu của một số đối tác chính
Mặc dù có kim ngạch lớn nhưng thương mại rau, hoa, quả trên thế giới vẫn tồn tại các rào cản lớn ảnh hưởng trực tiếp tới việc tăng cường hơn nữa sự phát triển của ngành:
Trang 32Rào cản thương mại đối với thương mại rau, hoa, quả trên thế giới bao gồm những rào cản tự nhiên và nhân tạo Rào cản thương mại tự nhiên bao gồm chi phí vận chuyển cao đối với các thị trường ở xa; và các rào cản nhân tạo bao gồm các biện pháp pháp lý, ví dụ như chính sách bảo hộ Tự do hoá thương mại thông qua các thỏa thuận quốc tế là những công cụ để giảm bớt các rào cản thương mại hợp pháp bằng cách giảm thuế quan và hài hoà các rào cản kỹ thuật đối với thương mại Tuy nhiên, những rào cản pháp lý vẫn là trở ngại chính cho sự phát triển thương mại mặt hàng rau, hoa, quả Các rào cản này tập trung vào các vấn đề:
Yêu cầu vệ sinh thực vật khoa học: quốc gia nhập khẩu thiết lập các tiêu chuẩn mà các đối tác thương mại tiềm năng phải đáp ứng để bảo vệ sức khỏe con người hoặc ngăn chặn sự lây lan của sâu bệnh Ví dụ, nhập khẩu táo Hoa Kỳ của Nhật Bản được giới hạn cho táo đỏ (Red) và Golden Delicious từ Washington và Oregon Người Nhật, vốn rất lo ngại đến sự lây lan của bệnh fire blight trên táo, đã áp đặt các yêu cầu nhập khẩu nghiêm ngặt và tốn kém đối với các chủ hàng táo Hoa Kỳ Táo nhập khẩu từ Hoa Kỳ phải trải qua một đợt xử lý lạnh và xông khói khử trùng với methyl bromide trước khi được xuất khẩu sang Nhật Bản, đồng thời có ba cuộc thanh tra các vườn táo của Hoa Kỳ trong giai đoạn sản xuất Sự lây nhiễm của ruồi giấm (Tepbritidae: Diptera), loại côn trùng phổ biến ở vùng nhiệt đới, là một hạn chế lớn cho việc sản xuất
và xuất khẩu trái cây nhiệt đới
Đổi mới công nghệ: Các nước có thể tăng khả năng cạnh tranh và tăng thị phần trên thị trường thế giới bằng cách cung cấp các sản phẩm chất lượng cao hơn với giá thấp hơn thông qua việc thúc đẩy đổi mới công nghệ, đặc biệt công nghệ chế biến và bảo quản mặt hàng rau, hoa, quả có vai trò rất lớn, có thể nói là quyết định trong việc đưa rau, hoa, quả trở thành sản phẩm hàng hóa trong thương mại thế giới Tự do hóa thương mại, thương lượng thông qua các Hiệp định và vòng đàm phán Uruguay (URA) (của GATT và thực hiện theo WTO), cũng như thông qua các hiệp định khu vực, chẳng hạn như NAFTA và MERCOSUR, đã mở rộng tiếp cận thị trường và tăng cường cơ
Trang 33chế chống rào cản thương mại phi thuế quan, chẳng hạn như hạn chế không có căn cứ khoa học về vệ sinh thực vật
a Thị trường Trung Quốc
Trung Quốc là nước sản xuất, xuất khẩu và tiêu thụ rau, quả lớn nhất Châu Á 90% rau, quả của Trung Quốc hiện nay được tiêu thụ dưới dạng tươi, 10% còn lại được chế biến thành nước ép, đóng hộp, đông lạnh, sấy khô, mứt quả Hệ thống siêu thị và các cửa hàng bán lẻ hiện đại đã phát triển nhanh chóng trong những năm qua, thay thế dần các chợ ngoài trời trong kinh doanh bán lẻ rau, quả Rau, quả nhập khẩu ngày càng trở nên phổ biến hơn trên thị trường Trung Quốc Thị trường Trung Quốc đã hình thành nên nhiều cửa hàng chuyên doanh rau, quả chất lượng cao và rau, quả nhập khẩu Các nhà bán lẻ
và các chuỗi cửa hàng bán lẻ thường tổ chức các hình thức hợp tác trong mua gom rau, quả nội địa cũng như nhập khẩu, ký kết hợp đồng cung ứng với các nhà sản xuất trong và ngoài nước để tiết kiệm chi phí nhờ quy mô Các hiệp hội của các nhà sản xuất rau, quả cũng có xu hướng phát triển nhanh chóng và ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong hệ thống kinh doanh rau, quả, trở thành cầu nối giữa người sản xuất và kinh doanh Các nhà cung cấp nước ngoài có thể xuất khẩu hàng vào Trung Quốc thông qua các công ty nhập khẩu/phân phối, các nhà nhập khẩu nhỏ, các công ty thu gom, đóng gói cũng nhu cung cấp trực tiếp cho các nhà bán lẻ lớn
Trung Quốc (đặc biệt là các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam)
là thị trường nhiều tiềm năng đối với việc xuất khẩu (hoặc trung chuyển) rau, quả tươi và chế biến của Việt Nam như Thanh long, chuối, dứa, xoài, mít sấy khô, dừa, nhãn, vải, dưa hấu, khoai tây, măng ta, cà chua, nấm, hạt tiêu, gừng,
ớt, nghệ ) vì chi phí vận tải thấp và thuận tiện trong việc xuất sang các thị trường khác
Chính sách quản lý nhập khẩu
Trung Quốc áp dụng các mức thuế nhập khẩu tương đối cao và chính sách phi thuế quan khá chặt chẽ Thuế suất trung bình phổ thông đối với rau chủ yếu khoảng 70% (thuế suất MFN tương ứng là 13%), trừ một số mặt hàng
Trang 34như nấm, măng, hành khô hoặc sơ chế, có thuế suất phổ thông cao hơn, khoảng 80 – 90% (nhưng thuế suất MFN vẫn là 13%) nhưng các loại hạt giống rau có thuế suất MFN khoảng 0 – 8%, các loại đâu, lạc thuế MFN khoảng 30% Riêng các loại quả tươi, khô có thuế suất cao hơn Thuế suất MFN trung bình với quả khoảng từ 30 – 50% (thuế phổ thông lên tới 100%)
Về chính sách phi thuế quan, Trung Quốc áp dụng chủ yếu các hình thức hạn ngạch, giấy phép hoặc chế độ đăng ký mặc định nhập khẩu
b Thị trường Hoa Kì:
Trong những năm gần đây, trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO và hiệp định thương mại tự do Việt Nam- Hoa Kỳ đi vào thực hiện Đặc biệt, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này Kể từ khi Hiệp định thương mại song phương Việt Nam và Hoa Kỳ được ký kết, xuất khẩu rau, quả của Việt Nam vào Hoa Kỳ trở nên dễ dàng hơn nhờ được hưởng quy chế đối xử tối huệ quốc (MFN), thuế nhập khẩu giảm đáng kể
Điều kiện xuất khẩu rau, quả vào Hoa Kỳ
1 Đối với rau, quả chưa chế biến
Đối với các sản phẩm như rau, củ các loại, trái cây, hạt các loại, tươi, khô, lạnh, hấp, luộc, đông lạnh hoặc xử lý bảo quản tạm (sản phẩm có thể còn nguyên dạng, đã bị cắt hoặc xử lý sơ nhưng chưa qua chế biến), việc nhập khẩu phải:
· Phù hợp với các quy định về chất lượng của Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm (FDA)
· Phù hợp với các quy định về thủ tục và thông báo hàng đến của FDA
· Phù hợp với các quy định về kiểm dịch của Bộ Nông nghiệp Hoa
Kỳ (USDA) – trong một số trường hợp có thể phải xin giấy phép
Trang 35· Phù hợp với các quy định về nhập khẩu và kiểm tra an toàn thực phẩm của Cơ quan kiểm định và An toàn thực phẩm (FSIS) thuộc USDA
· Phù hợp các quy định về môi trường của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) về dư lượng thuốc trừ sâu
· Một số loại cần có quota
2 Đối với rau, quả đã qua chế biến
Đối với các sản phẩm: rau, quả, hạt sơ chế hoặc ngâm đường, muối, đóng hộp, đóng lọ, nước quả các loại, hàng nhập khẩu cần:
Phù hợp với các quy định về chất lượng của FDA
Phù hợp với các quy định về thủ tục và thông báo hàng đến của FDA Một số loại cần có quota
3 Đối với hạt có dầu và các loại cây, trái cây, hạt nguyên liệu công nghiệp và dược liệu
Đối với các loại hạt và quả có dầu, các cây công nghiệp và cây dược liệu (đậu tương, lạc, copra, linseed, rapeseed, hạt hướng dương, hạt vừng, các loại cây hương liệu, cây dược liệu, ), việc nhập khẩu phải:
· Phù hợp với các quy định về chất lượng của FDA
· Phù hợp với các quy định về thủ tục và thông báo hàng đến của FDA
· Phù hợp với các quy định về kiểm dịch của USDA, có thể phải xin giấy phép
· Phù hợp với các quy định về hạn chế nhập khẩu của USDA, một
số trường hợp phải có giấy phép
· Phù hợp các quy định về môi trường của Cơ quan Bảo Vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA), về dư lượng thuốc trừ sâu
· Phù hợp với các quy định về thực vật quý hiếm
Trang 36· Đối với một số loại cây, hạt có chứa chất ma tuý, phải phù hợp với quy định của Cơ quan Kiểm soát Ma túy (DEA)
· Mác và nhãn hiệu phải ghi rõ tên nước xuất xứ Trên hoá đơn và nhãn hiệu phải ghi số lô hàng, tên sản phẩm và các ghi chú cần xử lý đối với sản phẩm
Thuế nhập khẩu
Kể từ khi Hiệp định thương mại song phương Việt Nam và Hoa Kỳ xuất khẩu rau, quả của Việt Nam vào Hoa Kỳ trở nên dễ dàng hơn Nhờ được hưởng quy chế đối xử tối huệ quốc (MFN), thuế nhập khẩu giảm đáng kể (ví dụ: thuế nhập khẩu nấm giảm từ 22cent/kg + 45% xuống còn 1,3cent/kg + 1,8%; hoặc đào lộn hột từ 35% xuống còn 3,2%)
Tuy vậy, hàng rau, quả xuất khẩu từ Việt Nam khó có thể cạnh tranh với những nước được hưởng quy chế GSP (Ưu đãi Thuế quan phổ cập) của Hoa Kỳ Những nước được hưởng quy chế này xuất khẩu rau, quả vào Hoa Kỳ được hoàn toàn miễn thuế
Kiểm dịch thực vật
Đối với rau, quả tươi, Việt Nam chưa có danh mục riêng được phép nhập khẩu vào Hoa Kỳ mà chỉ được nhập khẩu theo danh mục chung của APHIS (Cơ quan Kiểm dịch động thực vật trực thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ) Các mặt hàng rau, quả xuất khẩu chính của Việt Nam (như vải, hồng xiêm, thanh long, v.v ) lại không nằm trong danh sách này Như vậy, Việt Nam muốn xuất khẩu rau, quả tươi vào Hoa Kỳ cần phải tuân thủ quy chế của APHIS về việc đăng ký các loại rau, quả tươi để được phép nhập khẩu vào Hoa Kỳ Thủ tục này thường kéo dài 5 năm Hiện tại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang tiến hành làm việc với phía Hoa Kỳ.Tiến trình triển khai chậm nên chưa rõ khả năng khi nào sẽ kết thúc.Nếu thủ tục này không được giải quyết thì xuất khẩu rau, quả tươi của Việt Nam vào Hoa Kỳ sẽ khó có thể thực hiện được ở quy mô lớn
c Thị trường Nhật Bản:
Trang 37Các quy định Pháp Luật:
Tất cả các loại rau nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản đều phải đáp ứng các điều khoản của Luật Bảo vệ thực vật và Quy định vệ sinh thực phẩm Khi tiêu thụ rau tươi phải dán nhãn quốc gia xuất khẩu theo yêu cầu của Luật về tiêu chuẩn và dán nhãn hàng nông lâm sản (Luật JAS)
Nhật Bản rất thận trọng đối với các loại côn trùng trên rau như: ruồi hại hoa quả, bọ cánh cứng trên lá, nấm mốc Vì thế, khi phát hiện thấy những vùng nào, những quốc gia nào có biểu hiện các loại sâu bọ trên thì mọi loại rau tươi và đông lạnh ở đó sẽ không được xuất khẩu vào Nhật Bản Ngoài ra, hàng hóa sẽ không được phép nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản nếu không có Giấy chứng nhận vệ sinh thực phẩm của Chính phủ nước xuất khẩu cấp
Khi kiểm tra tại cảng nhập khẩu nếu phát hiện có dấu hiệu lây nhiễm hay ký sinh trùng trên sản phẩm thì hàng hóa sẽ bị gởi trả lại người xuất khẩu hoặc bị hủy bỏ tùy theo kết quả kiểm tra Ngoài ra, rau, quả ở dạng củ khi nhập khẩu vào Nhật Bản không được lẫn đất Có những loại rau không đuợc nhập khẩu dưới dạng tươi nhưng có thể nhập khẩu ở dạng đông lạnh, khô hoàn toàn, ngâm dấm hay dưới các dạng chế biến khác Ðối với khoai tây và khoai
sọ phải được trồng vào một thời gian nhất định và được kiểm tra tại vườn nơi thu hái nhằm phát hiện vi rút ngay cả khi sản phẩm có xuất xứ ngoài những khu vực bị cấm nhập khẩu Tất cả các loại rau tươi phải kiểm tra về dư lượng của thuốc trừ sâu, các tác nhân gây bệnh, các chất phóng xạ Rau đông lạnh phải được kiểm tra về các tiêu chuẩn đối với vi khuẩn
Yêu cầu về nhãn hàng hóa
Ðối với rau tươi: nhà phân phối phải cung cấp những thông tin để khách hàng lựa chọn như: tên và loại sản phẩm; nơi hay đất nước sản xuất; tên nhà sản xuất, nhà xuất khẩu, chủ tàu vận tải; số lượng bên trong; loại kích cỡ sản phẩm Ðối với rau đông lạnh: phải dán nhãn bao hàm những thông tin như; tên sản phẩm: thời hạn sử dụng; tên nhà sản xuất và địa chỉ hoặc tên nhà nhập khẩu và địa chỉ; danh mục các loại phụ phẩm thêm vào (nếu có); hướng dẫn sử dụng; phương pháp bảo quản
Trang 38Các doanh nghiệp nước ngoài lần đầu tham gia thị trường rau Nhật Bản cần lưu ý: phải hiểu rõ hệ thống bán đấu giá trên thị trường bán buôn và cả các chi phí phân phối để bảo đảm hàng đến tay nguời tiêu dùng nhanh và thuận lợi Có thể ký hợp đồng trực tiếp với các đơn vị dịch vụ thực phẩm lớn để cung cấp trực tiếp sản phẩm cho họ Các nhà sản xuất phải nghiên cứu kỹ phương pháp trồng trọt phù hợp với tiêu chuẩn quy định về dư lượng thuốc trừ sâu và phải kiểm tra sản phẩm nghiêm ngặt trước khi nhập khẩu
Với loại rau không thông dụng với người tiêu dùng Nhật Bản thì phải tiến hành quảng cáo giới thiệu sản phẩm và có những chiến dịch thông tin công cộng nhằm tạo ra nhu cầu cho sản phẩm của mình, hướng dẫn người tiêu dùng cách sử dụng sản phẩm của mình
Người Nhật Bản đòi hỏi rất nghiêm ngặt về chất lượng sản phẩm, nên nhà sản xuất phải đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng và dán nhãn sản phẩm, phải bảo đảm độ tươi, kích cỡ, màu sắc của sản phẩm Sản xuất an toàn và vệ sinh thực phẩm có lợi cho sức khỏe người tiêu dùng trong suốt quá trình chế biến là hết sức cần thiết
Người sản xuất cũng cần hiểu biết sở thích và văn hóa nấu ăn của người Nhật Bản Phải bảo đảm sản phẩm tươi và hạn chế tối đa sự dập nát Hàng tươi vào thị trường Nhật Bản rất khó, nhưng khi vào được thì nhu cầu tiêu thụ rất lớn Ðiều quan trọng là phải chú ý thường xuyên tới từng lô hàng Kinh nghiệm cho thấy, khi đã vào được thị trường Nhật Bản, chỉ một sơ xuất nhỏ trong một lô hàng do vấn đề vệ sinh thực phẩm có thể dẫn tới lô hàng bị hủy
bỏ thậm chí còn bị cấm nhập khẩu, khi đó khả năng thâm nhập trở lại của loại sản phẩm đó là rất khó
1.3 Hoàn thiện cơ sở dữ liệu phục vụ đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng rau, hoa, quả
1.3.1 Những vấn đề lý luận về xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc đẩy mạnh xuất khẩu
Trang 39Định nghĩa: Cơ sở dữ liệu (tiếng Anh là database) được hiểu theo cách
định nghĩa kiểu kĩ thuật thì nó là một tập hợp thông tin có cấu trúc Tuy nhiên, thuật ngữ này khi được dùng trong công nghệ thông tin thường được hiểu rõ hơn dưới dạng một tập hợp liên kết các dữ liệu, thường đủ lớn để lưu trên một thiết bị lưu trữ như đĩa hay băng Dữ liệu này được duy trì dưới dạng một tập hợp các tập tin trong hệ điều hành hay được lưu trữ trong các hệ quản trị cơ sở dữ liệu
Kiến trúc
Một số kiến trúc cơ sở dữ liệu tồn tại Nhiều cơ sở dữ liệu sử dụng một
sự kết hợp của các chiến lược
Cơ sở dữ liệu bao gồm các phần mềm dựa được cấu tạo để thu thập và lưu trữ thông tin để người dùng có thể lấy lại, thêm, cập nhật hoặc loại bỏ thông tin đó một cách tự động Chương trình cơ sở dữ liệu được thiết kế cho người dùng để họ có thể thêm hoặc xoá bất kỳ thông tin cần thiết Cấu trúc của một cơ sở dữ liệu là dạng bảng, bao gồm các hàng và cột của thông tin
Ngoài ra còn có các loại cơ sở dữ liệu mà không thể được phân loại như
là cơ sở dữ liệu quan hệ Đáng chú ý nhất là đối tượng cơ sở dữ liệu quản lý hệ thống, mà các cửa hàng đối tượng ngôn ngữ tự nhiên mà không cần sử dụng một ngôn ngữ định nghĩa dữ liệu riêng biệt và không được dịch vào một lược
đồ lưu trữ riêng biệt Không giống như các hệ thống quan hệ, các đối tượng cơ
sở dữ liệu lưu trữ các mối quan hệ giữa các loại dữ liệu phức tạp như là một phần của mô hình lưu trữ của họ trong một cách mà không cần tính toán thời gian chạy của các dữ liệu liên quan bằng cách sử dụng thuật toán đại số thực hiện quan hệ
Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu
Một hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu (DBMS) bao gồm phần mềm mà tổ chức lưu trữ dữ liệu Một DBMS điều khiển việc tạo, bảo trì, và sử dụng các cấu trúc lưu trữ cơ sở dữ liệu của các tổ chức xã hội và của người dùng của họ
Nó cho phép các tổ chức để đặt kiểm soát của tổ chức cơ sở dữ liệu rộng phát triển trong tay của quản trị cơ sở dữ liệu (DBAs) và các chuyên gia khác
Trang 40Trong các hệ thống lớn, một DBMS cho phép người dùng và phần mềm khác
để lưu trữ và lấy dữ liệu một cách có cấu trúc
Quản lý hệ thống cơ sở dữ liệu thường được phân loại theo các mô hình
cơ sở dữ liệu mà họ hỗ trợ, chẳng hạn như mạng, quan hệ hay mô hình đối tượng Mô hình này có xu hướng để xác định ngôn ngữ truy vấn mà có sẵn để truy cập vào cơ sở dữ liệu Một truy vấn ngôn ngữ được sử dụng phổ biến cho các cơ sở dữ liệu quan hệ là SQL , mặc dù SQL cú pháp và chức năng có thể khác nhau từ một DBMS khác Một ngôn ngữ truy vấn phổ biến cho các cơ sở
dữ liệu đối tượng là OQL , mặc dù không phải tất cả các nhà cung cấp của cơ
sở dữ liệu đối tượng thực hiện điều này, phần lớn trong số họ làm thực hiện phương pháp này Một số lượng lớn các kỹ thuật nội bộ của một DBMS là độc lập của mô hình dữ liệu, và quản lý có liên quan với các yếu tố như hiệu suất, đồng thời, tính toàn vẹn, và phục hồi từ thất bại phần cứng Trong các khu vực này có sự khác biệt lớn giữa các sản phẩm
Một hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu quan hệ (RDBMS) thực hiện các tính năng của mô hình quan hệ Trong bối cảnh này, nội dung toàn bộ thông tin của cơ sở dữ liệu có đại diện tại một và chỉ trong một cách Cụ thể như rõ ràng các giá trị cột ở các vị trí (thuộc tính) và các hàng quan hệ ( tuples ) Do
đó, không có gợi ý rõ ràng giữa các bảng có liên quan " Điều này trái ngược với cơ sở dữ liệu hệ thống quản lý các đối tượng (ODBMS), mà hiện rõ ràng các con trỏ lưu giữa các loại hình liên quan
Một số loại cơ sở dữ liệu:
Cơ sở dữ liệu phân tích, Kho dữ liệu, Cơ sở dữ liệu phân tán, Cơ sở dữ liệu người dùng, Cơ sở dữ liệu ngoài Hypermedia, cơ sở dữ liệu trên web, Cơ
sở dữ liệu Navigational, Cơ sở dữ liệu trong bộ nhớ, Cơ sở dữ liệu thời gian thực, cơ sở dữ liệu quan hệ, Các mô hình cơ sở dữ liệu quan hệ, Object mô hình
cơ sở dữ liệu
1.3.2 Sự cần thiết hoàn thiện cơ sở dữ liệu đối với xuất khẩu các mặt hàng rau, hoa, quả