Trịnh Ngọc Điệp Đề án môn học Đề án môn học MỤC LỤC Lời cám ơn 2 Lời nói đầu 3 1 Phần 1 Lý luận về lễ hội dân gian Việt Nam 6 1 1 Lễ hội dân gian là gì?Những lễ hội dân gian tiêu biểu của 6 Việt Nam 6[.]
Trang 1MỤC LỤC
Lời cám ơn 2
Lời nói đầu 3
1 Phần 1: Lý luận về lễ hội dân gian Việt Nam 6
1.1 Lễ hội dân gian là gì?Những lễ hội dân gian tiêu biểu của 6
Việt Nam 6
1.1.1 Lễ hội dân gian là gì ? 6
1.1.2 Những lễ hội dân gian tiêu biểu ở Việt Nam 6
1.2 Đặc điểm, tính chất lễ hội dân gian Việt Nam 10
1.2.1.Tính thiêng liêng 11
1.2.2.Tính "cộng đồng" 11
1.2.3.Tính địa phương 11
1.2.4.Tính cung đình 12
1.2.5.Tính đương đại 12
1.3 Phân loại lễ hội ở Việt Nam 12
2 Phần 2: Lễ hội dân gian với du lịch Việt Nam, cơ hội và thách thức 16
2.1 Khái quát về du lịch văn hóa 16
2.2 Vai trò của lễ hội dân gian với du lịch Việt Nam 17
2.2.1 Vai trò chức năng của lễ hội dân gian với xã hội 17
2.2.2 Vai trò của lễ hội dân gian với du lịch Việt Nam 19
2.3 Điều kiện và tài nguyên du lịch để phát triển du lịch lễ hội ở Việt Nam 20
2.4 Thực trạng du lịch lễ hội dân gian Việt Nam 21
3 Phần 3: Một số phương án phát triển loại hình du lịch lễ hội ở Việt Nam 24
3.1 Cơ hội thị trường 24
3.2 Thự trạng tổ chức lễ hội 24
3.3 Đề suất phương án 27
Kết Luận 34
Danh mục tài liệu tham khảo 35
Trang 2Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo, Thạc sỹTrương Tử Nhân – giảng viên khoa Du lịch khách sạn, đã trực tiếp tận tìnhchỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện
đề án này
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, song không thế tránh khỏi những sai lầm,thiếu sót, rất mong sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo để em có thể thựchiện tốt hơn nữa
Trang 3Lời nói đầu
Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, gần trung tâm Đông Nam Á, vừa
có biên giới lục địa, vừa có hải giới rộng lớn, là cửa ngõ đi ra Thái BìnhDương của một số nước và của vùng Đông Nam Á Nước ta lại nằm trên vànhđai nhiệt đới bắc bán cầu, đúng vào khu vực gió mùa Đông Nam Á do đómang lại đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa Châu Á Nhờ vậy mà Việt Nam
có hệ thống động thực vật phong phú, đa dạng, hoa qua bốn mùa tươi mát.Việt Nam còn nổi tiếng với những danh thắng đã được UNESCO công nhận
là di sản văn hoá thế giới như vịnh Hạ Long, phố cổ Hội An, vườn quốc giaPhong Nha Kẻ Bàng…
Ngoài những thắng cảnh đẹp, Việt Nam còn có rất nhiều những làng nghề,
lễ hội truyền thống gắn với những nét đẹp văn hoá, những hệ thống di tích vàtruyền thống rất riêng, tạo nên một bức tranh văn hoá sống động, là một bảotàng “sống” vô cùng quý giá cho nhân loại.Đi dọc Việt Nam ta có thể thấybiết bao vùng quê với rất nhiều lễ hội dân gian , rải dọc từ bắc tới nam, mộtnền văn hoá đậm nét dân tộc, vô cùng phong phú, với 54 dân tộc anh em cùngsinh sống trên một mảnh đất với lịch sử ngàn đời, biết bao phong tục tậpquán, lễ hội khác nhau tạo nên sự đa dạng cho sản phẩm du lịch Việt Nam
Lễ hội dân gian (truyền thống) là bộ phận quan trọng của di sản văn hóaphi vật thể, hợp thành kho tàng di sản văn hóa quý báu của nhân dân ta, là nétđẹp văn hóa được hình thành, bổ sung và phát triển cùng với lịch sử lâu đờicủa dân tộc; trở thành nhu cầu không thể thiếu được của nhân dân, nhằm thỏamãn khát vọng về nguồn, nhu cầu văn hóa tâm linh, tăng cường giao lưu trongsinh hoạt văn hóa cộng đồng của từng không gian nhất định, góp phần tạo nên
sự đa dạng văn hóa
Trang 4Bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội dân gian là góp phần quan trọng vào sựnghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, sự nghiệp xây dựng
và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trong những năm qua, công tác tổ chức và quản lý lễ hội ở nước ta đã cónhiều chuyển biến tích cực, từ tư duy nhận thức của các cấp lãnh đạo và toàn
xã hội; việc ban hành và thực thi các văn bản quản lý nhà nước, công tácthanh tra, kiểm tra lễ hội cho đến việc phục hồi và phát huy có hiệu quả nhiều
lễ hội dân gian, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ và phát huy giá trị di sảnvăn hóa lễ hội dân gian, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân
Trong xã hội đương đại, công tác tổ chức và quản lý lễ hội, bên cạnh nhữngmặt làm được, cũng đã và đang nảy sinh nhiều bất cập, nhiều hạn chế và tồntại Tình hình đó được phản ánh thường xuyên, liên tục trên các phương tiệnthông tin đại chúng, tại nhiều hội nghị, hội thảo cho đến cả nghị trường củaQuốc hội, gây không ít bức xúc trong xã hội Trước những vấn đề đó, emmuốn làm rõ hơn nữa ý nghĩa, vai trò của lễ hội dân gian đối với phát triển du
lịch văn hoá Việt Nam, do đó em lựa chọn đề tài: “ Tiềm năng phát triển du
lịch lễ hội dân gian ở Việt Nam”.
Với đề tài trên, em xin được trình bày những nội dung như sau
1 Phần 1: Lý luận về lễ hội dân gian Việt Nam
1.1 Lễ hội dân gian là gì ? Những lễ hội dân gian tiêu biểu của Việt Nam1.2 Đặc điểm, tính chất lễ hội dân gian Việt Nam
1.3 Phân loại lễ hội dân gian Việt Nam
2 Phần 2 : Lễ hội dân gian với du lịch Việt Nam, cơ hội và thách thức.
2.1 Khái quát về du lịch văn hóa
2.2 Vai trò của lễ hội dân gian với du lịch Việt Nam
Trang 52.3 Điều kiện và tài nguyên du lịch để phát triển du lịch lễ hội ở
Việt Nam
2.4 Thực trạng du lịch lễ hội dân gian Việt Nam
Trang 61 Phần 1: Lý luận về lễ hội dân gian Việt Nam
1.1 Lễ hội dân gian là gì?Những lễ hội dân gian tiêu biểu của
Việt Nam
1.1.1 Lễ hội dân gian là gì ?
Lễ hội là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng "Lễ" là
hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con ngườivới thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộcsống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện "Hội" là sinh hoạt văn hóa,tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống
Lễ hội là hoạt động tập thể và thường có liên quan đến tín ngưỡng, tôngiáo Con người xưa kia rất tin vào trời đất, thần linh Các lễ hội cổ truyềnphản ảnh hiện tượng đó Tôn giáo rất có ảnh hưởng tới lễ hội Tôn giáo thôngqua lễ hội đê phô trương thanh thế, lễ hội nhờ có tôn giáo đề thần linh hóanhững thứ trần tục Nhưng trải qua thời gian, trong nhiều lễ hội, tính tôn giáodần giảm bớt và chỉ còn mang nặng tính văn hóa 1
Theo thống kê 2009, hiện cả nước Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong đó có7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544
lễ hội tôn giáo (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm0,12%), còn lại là lễ hội khác (chiếm 0,5%).2
1.1.2 Những lễ hội dân gian tiêu biểu ở Việt Nam.
Lễ hội đền Hùng
Đền Hùng là tên gọi khái quát quần thể đền chùa thờ phụng các Vua Hùng
và tôn thất của nhà vua trên núi Nghĩa Lĩnh, gắn với lễ hội Đền Hùng được tổchức tại địa điểm đó hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch Hiện nay, theo
1 Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
2 Tổng cục thống kê VIệt Nam
Trang 7các tài liệu khoa học đã công bố đa số đều thống nhất nền móng kiến trúc đềnHùng bắt đầu được xây dựng từ thời vua Đinh Tiên Hoàng trị vì Đến thờiHậu Lê (thế kỷ 15) được xây dựng hoàn chỉnh theo quy mô như hiện tại.Quần thể di tích đền Hùng nằm từ chân núi đến đỉnh ngọn núi Nghĩa Lĩnhcao 175 mét (núi có những tên gọi như Núi Cả, Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, HyCương, Hy Sơn, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn), thuộc địa phận xã HyCương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, trong khu rừng được bảo vệ nghiêmngặt giáp giới với những xã thuộc huyện Lâm Thao, Phù Ninh và vùng ngoại
ô thành phố Việt Trì, cách trung tâm thành phố Việt Trì khoảng 10km Khuvực đền Hùng ngày nay nằm trong địa phận của kinh đô Phong Châu củaquốc gia Văn Lang cổ xưa.3
Khu di tích lịch sử đền Hùng bao gồm bốn đền chính là đền Hạ, đền Trung,đền Thượng và đền Giếng Từ những bậc đầu tiên dưới chân núi, du khách sẽqua cánh cổng, bước nhiều bậc đá lên thắp hương và thăm thú các đền, kếtthúc tại đền Thượng trên đỉnh Nghĩa Lĩnh, nơi có lăng mộ vua Hùng thứ Sáu.Sau khi lên đến đền Thượng du khách sẽ dừng tiếp tục cuộc hành trình theomột con đường khác với đường đi lên, và điểm dừng chân cuối cùng là đềnGiếng ở dưới chân núi Đền Giếng là nơi được cho rằng rất linh nghiệm chonhững ai muốn cầu duyên Tên gọi của đền do trong đền có chiếc giếng ngọctương truyền là nơi hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa thường soi dungnhan Nguồn nước thiêng của giếng ngọc tuôn chảy từ lòng núi Nghĩa Lĩnh
Hùng Tân Mão năm 2011, tỉnh Phú Thọ đón hơn 4 triệu lượt khách về dự lễ
Với số lượng khách lớn như thế, cho nên lễ hội cũng gặp phải rất nhiềunhững khó khăn trong việc quản lý cũng như khâu tổ chức do chất lượng sản
3 Theo cuốn Ngọc phả Hùng Vương
4 Theo Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ Hoàng Dân Mạc
Trang 8phẩm và nguồn nhân lực không đồng đều Cụ thể như quản lý dịch vụ gửi xeôtô, xe máy của các ngành liên quan còn thiếu chặt chẽ, chưa thống nhất, hiệntượng chèo kéo khách tại các điểm trông giữ xe tự phát của người dân vẫndiễn ra, dẫn đến tình trạng mất an ninh trật tự tại những khu vực này.
Một số hoạt động văn hóa, thể thao phục vụ du khách hành hương về dựhội còn đơn điệu, chưa thực sự hoành tráng nên du khách đến xem và thưởngthức không nhiều
Lễ hội Đền Hùng thực sự là một lễ hội có tiềm năng du lịch lớn với tỉnhPhú Thọ nói riêng, và với Việt Nam nói chung, góp phần khai thác tốt hơnnguồn tài nguyên du lịch, nhiều sản phẩm, dịch vụ đơn lẻ đã được xâu chuỗithành tour khép kín, thu hút hàng trăm tỷ đồng của các nhà đầu tư vào hoạtđộng kinh doanh, dịch vụ, vận chuyển, lưu trú Riêng trong năm 2010, Dulịch Phú Thọ đã thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế 85 tỷ đồng xây dựng
21 cơ sở lưu trú; Đầu tư hạ tầng du lịch 130,4 tỷ đồng Từ 2005 đến 2010,ngành Du lịch Phú Thọ đã đón và phục vụ trên 23 triệu lượt khách (đạt tốc độtăng trưởng là 18,7%) ; trong đó khách tại các cơ sở lưu trú ước đạt 1,9 triệulượt ; khách quốc tế đạt trên 16 nghìn lượt Tổng doanh thu đạt gần 3.000 tỷ
đáng khích lệ trên, ta có thể thấy rất rõ lễ hội Đền Hùng có ý nghĩa rất to lớnđối với phát triển du lịch văn hoá Việt Nam
Hội Chùa Hương
Hội chùa Hương hay Trẩy hội chùa Hương là một lễ hội của Việt Nam,nằm ở Mỹ Đức, Hà Nội Trong khu thắng cảnh Hương Sơn, được xem là hànhtrình về một miền đất Phật - nơi Quan Thế Âm Bồ Tát ứng hiện tu hành Đây
là một lễ hội lớn, gây được tiếng vang ở miền Bắc, thể hiện ở sự quá tải sốlượng các phật tử tham gia hành hương Hội chùa Hương diễn ra trong 3
5 Theo baodulich.net.vn
Trang 9tháng, bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 3 âm lịch, đỉnh cao của lễ hội là từ rằm
Tích, tuyến Tuyết Sơn và tuyến Long Vân, Thanh Sơn Hội chùa đông nhất từ
15 đến 20 tháng 2 (chính hội).6
Lượng khách mua vé qua cổng mùa hội năm 2007 là 900.000 người (năm
2006, con số thống kê chưa đầy đủ là 380.000 người) Thậm chí, vào dịp caođiểm, mỗi ngày có thể bán ra gần chục vạn vé, gần 4.000 chiếc thuyền hoạtđộng hết công suất, chở 2, 3 lượt khách một ngày cũng không đủ phục vụ.7
Trong năm 2011, chỉ tính 5 ngày đầu năm mới đã có trên 7 vạn lượt dukhách đến trẩy hội chùa Hương Cụ thể: mồng 2 tết có khoảng 1,2 vạn lượt dukhách; ngày mồng 3 tết đón khoảng 2,2 vạn lượt du khách và ngày mồng 4 tếtđón trên 3,3 vạn lượt du khách
Với số lượng khách như thế, hệ thống nhà nghỉ và các khu vui chơi chưathực sự đáp ứng hết được, vẫn còn nhiều hạn chế, không đủ thu hút, phục vụnhu cầu của khách cả về số lượng cũng như chất lượng Đặc biệt là cơ chếquản lý tại đây còn nhiều bất cập Cụ thể:
Rác thải: Du khách vào hội vứt rác bừa bãi, trên bờ lẫn dưới sông Yến.
Ban quản lý đã có rất nhiều biển, băng rôn cấm xả rác, đặt các thùng rác Cácthùng rác được đặt ít, thùng nhỏ nên lượng rác đưa vào quá tải trước lượngrác khổng lồ Nhưng chủ yếu các động tác có trách nhiệm của du khách vẫnthờ ơ
Đò chở khách: Các chuyến đò vì lượng người quá đông thường chở
người quá quy định, tắc đò diễn ra thường xuyên Một số tình trạng chủ đòlừa lấy tiền trước, khách ngồi chờ nhưng lại không thấy chủ đò lại
6 Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia
7 Theo thống kê của Công ty CP Du lịch thắng cảnh Hương Sơn
Trang 10Nhà vệ sinh: Chủ yếu không được quy hoạch, nên các hộ gia đình tự làm
phục vụ khách có thu phí Các dạng này cũ kỹ và bẩn thỉu, nhiều khách ngại
vì bẩn nên vẫn tiểu tiện bậy bạ
Người làm đường: Do lượng người vào đi lễ đông, có những người làm
tự tiện phát cỏ làm đường tắt dẫn vào các lối Tự tiện đứng thu tiền do mìnhtạo ra, mà không có ai ngăn cấm
Tuy nhiên những bất cập đó chỉ là một phần bên cạnh những lợi thế mà hộiChùa Hương mang lại, bởi Hội Chùa Hương thực sự là một cơ hội vô cùnglớn, và cũng là một tiềm năng cho phát triển du lịch văn hoá ở miền Bắc ViệtNam Hiện nay, nhà nước ta đã chú trọng đầu tư rất lớn cho mục tiêu pháttriển du lịch nơi đây, nhiều hạng mục đầu tư xây dựng, chỉnh trang, nâng cấp
cơ sở hạ tầng trong khu vực di tích cũng đã được triển khai, hệ thống cáp treođược tu bổ lại, góp phần rất lớn trong việc đi lại thăm quan tại đây, do đó đã
94 vạn lượt khách thì năm 2010, con số này đã tăng lên 1,3 triệu lượt khách.8
Đây thực sự là con số rất đáng mừng đối với du lịch văn hoá Việt
1.2 Đặc điểm, tính chất lễ hội dân gian Việt Nam
Lễ hội ở Việt Nam được tổ chức nhiều nhất vào ba tháng mùa xuân và mùathu Do đa số người Việt Nam là sinh sống bằng nghề nông, và vào haikhoảng thời gian đó, người dân đang tiết nông nhàn Mùa xuân tiết trời ấm áp,mùa thu tiết trời mát mẻ, đều thuận lợi cho việc tổ chức lễ hội, điều đó lànhững yếu tố cơ bản tạo nên sự thoải mái, vui vẻ cho người đi dự hội Lễ hội
ở Việt Nam mang những đặc điểm rất chung, đó là:
1.2.1.Tính thiêng liêng
Muốn hình thành một lễ hội, bao giờ cũng phải tìm ra được một lý do mangtính "thiêng" nào đó Đó là người anh hùng đánh giặc bị tử thương, ngã xuống
8 Theo Vietbao.vn
Trang 11mảnh đất ấy, lập tức được mối đùn lên thành mộ Đó là nơi một người anhhùng bỗng dưng hiển thánh, bay về trời Cũng có khi đó chỉ là một bờ sông,nơi có một xác người chết đuối, đang trôi bỗng nhiên dừng lại, không trôinữa; dân vớt lên, chôn cất, thờ phụng Cũng có khi lễ hội chỉ hình thànhnhằm ngày sinh, ngày mất của một người có công với làng với nước, ở lĩnhvực này hay lĩnh vực khác (có người chữa bệnh, có người dạy nghề, có ngườiđào mương, có người trị thủy, có người đánh giặc ) Song, những người đóbao giờ cũng được "thiên hóa", đã trở thành "Thần thánh" trong tâm trí củangười dân.
Nhân dân tin tưởng những người đó đã trở thành Thần thánh, không chỉ cóthể phù hộ cho họ trong những mặt mà sinh thời người đó đã làm: chữa bệnh,làm nghề, sản xuất, đánh giặc mà còn có thể giúp họ vượt qua những khókhăn đa dạng hơn, phức tạp hơn của đời sống
Chính tính "Thiêng" ấy đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho nhân dân trongnhững thời điểm khó khăn, cũng như tạo cho họ những hy vọng vào điều tốtđẹp sẽ đến
1.2.2.Tính "cộng đồng"
Lễ hội chỉ được sinh ra, tồn tại và phát triển khi nó trở thành nhu cầu tựnguyện của một cộng đồng Cộng đồng lớn thì phạm vi của lễ hội cũng lớn.Bởi thế mới có lễ hội của một họ, một làng, một huyện, một vùng hoặc cảnước
1.2.3.Tính địa phương
Lễ hội được sinh ra và tồn tại đều gắn với một vùng đất nhất định Bởi thế
lễ hội ở vùng nào mang sắc thái của vùng đó Tính địa phương của lễ hộichính là điều chứng tỏ lễ hội gắn bó rất chặt chẽ với đời sống của nhân dân,
nó đáp ứng những nhu cầu tinh thần và văn hóa của nhân dân, không chỉ ở nội
Trang 12dung lễ hội mà còn ở phong cách của lễ hội nữa Phong cách đó thể hiện ở lờivăn tế, ở trang phục, kiểu lọng, kiểu kiệu, kiểu cờ, ở lễ vật dâng cúng
1.2.4.Tính cung đình
Đa phần các nhân vật được suy tôn thành Thần linh trong các lễ hội củangười Việt, là các người đã giữ các chức vị trong triều đình ngày xưa Bởi thếnhững nghi thức diễn ra trong lễ hội, từ tế lễ, dâng hương, đến rước kiệu đều mô phỏng sinh hoạt cung đình Sự mô phỏng đó thể hiện ở cách bài trí,trang phục, động tác đi lại Điều này làm cho lễ hội trở nên trang trọng hơn,lộng lẫy hơn Mặt khác lễ nghi cung đình cũng làm cho người tham gia cảmthấy được nâng lên một vị trí khác với ngày thường, đáp ứng tâm lý, nhữngkhao khát nguyện vọng của người dân
1.2.5.Tính đương đại
Tuy mang nặng sắc thái cổ truyền, lễ hội, trong quá trình vận động của lịch
sử, cũng dần dần tiếp thu những yếu tố đương đại Những trò chơi mới, nhữngcách bài trí mới, những phương tiện kỹ thuật mới như rađio, cassete, video,tăng âm, micro đã tham gia vào lễ hội, giúp cho việc tổ chức lễ hội đượcthuận lợi hơn, đáp ứng nhu cầu mới
Tuy vậy, những sự tiếp thu này đều phải dần dần qua sự sàng lọc tự nguyệncủa nhân dân, được cộng đồng chấp nhận, không thể là một sự lắp ghép tùytiện, vô lý
1.3 Phân loại lễ hội ở Việt Nam
Khác với các di tích Việt Nam đã được kiểm kê và phân cấp theo quy định,các lễ hội ở Việt Nam chưa được quy định phân cấp bài bản Có những lễ hội
bị biến tướng, trần tục hoá, mở hội tràn lan nhiều ý kiến đề xuất việc kiểm
kê các lễ hội trên toàn quốc để tiến tới phân cấp lễ hội theo các cấp: lễ hội cấpquốc gia, lễ hội cấp tỉnh, lễ hội cấp huyện và lễ hội cấp làng Điểm yếu trong
Trang 13việc quản lý lễ hội hiện nay đó là chưa có cơ sở dữ liệu khoa học và quanđiểm tiếp cận đúng Không nên đánh đồng giữa lễ hội và festival2.
Tùy vào từng thời điểm, vào chủ thể mà lễ hội hiện nay được tổ chức ởnhiều cấp khác nhau Ví dụ như lễ hội đền Hùng được tổ chức ở quy mô quốcgia 2 năm/ lần Những năm số lẻ thì lại được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh
Xét về tình chất các lễ hội dân gian, ta có thể phân lễ hội thành ba loại nhưsau:
Lễ hội mang tính lịch sử như lễ hội đền Hùng, hội Gióng, Hoa Lư,Vạn Kiếp… Các lễ hội này thường được tổ chức gắn liền với các sự kiện có ýnghĩa lớn trong lịch sử hay để tưởng nhớ những người anh hung, người cócông lớn trong việc đánh đuổi giặc ngoại xâm, đem lại cuộc sống thanh bìnhcho nhân dân
Lễ hội mang tính giải trí như hội Lim, hội chọi Trâu Đồ Sơn… trongcác lễ hội này thường có những trò chơi giải trí mà nội dung và hình thức củanhững trò chơi này gắn liền với các hoạt động sản xuất của người dân
Lễ hội mang tính tôn giáo như hội chùa Hương, hội chùa Keo, hội PhủGiày… mà phổ biến nhất ở Việt Nam thường là các lễ hội mang tính PhậtGiáo
Tuy nhiên việc phân loại trên chỉ mang tính tương đối, bởi trên thực tế tínhchất của các lễ hội đan xen hoà quyện vào nhau Mỗi lễ hội được tổ chức đềumang những nét lịch sử, tôn giáo, và đặc biệt là không thể thiếu được nhữngtrò vui chơi giải trí
Một cách phân loại nữa đó là theo sự đặc sắc của lễ hội
- Lễ hội đặc sắc (loại *): Là lễ hội có tục hèm, hoặc có diễn xướng dân gianđộc đáo, ngoài ra còn có: (1) Có đình (đền,…), (2) Còn sắc phong, (3) Cóthần phả, (4) Có rước, (5) Có tế, (6) Có nhạc bát âm, (7) Có múa hoặc hát
Trang 14thờ, (8) Có trò chơi dân gian, (9) Có lễ vật đặc biệt, (10) Đọc sớ bằng chữnho
- Lễ hội loại khá (loại A): Có 6/10 thành tố trên
- Lễ hội loại bình thường (loại B): Không có rước
- Không có lễ hội ( loại C): Không có lễ hội, hoặc đã bị mất
4(9.5)
2(4.75%)
(0.9%)
13(11.71%)
60(54.05%)
37(33.33%)
(0.71%)
49(32.25%)
72(51.80%)
17(12.23%)
(1.4%)
42(61.76%)
22(32.35%)
3(4.2%)
(0.0%)
15(9.03%)
51(30.72%)
100(60.24%)
(0.57%)
155(29.46%)
209(39.73%)
159(30.23%)
9 [Nguồn: Phan Hồng Giang (chủ biên), Văn hóa phi vật thể ở Hà Nội, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2005.]
Trang 15+ Nội thành (các lễ hội ở phường)
Hoàn
Kiếm
0(0.0%)
3(12.0%)
7(28.0%)
15(60.0%)
(0.0%)
6(28.57%)
5(23.81%)
10(47.62%)
(0.0%)
3(25.0%)
6(50.0%)
3(25.0%)Hai Bà
Trưng
0(0.0%)
4(16.67%)
9(35.50%)
11(45.83%)
(0.0%)
4(50.0%)
4(50.0%)
0(0.0%)Thanh
Xuân
0(0.0%)
3(27.27%)
2(18.18%)
6(54.55%)
(0.0%)
2(28.57%)
4(57.14%)
1(14.29%)
(0.0%)
25(23.15%)
37(35.19%)
46(42.59%)
Trang 162 Phần 2: Lễ hội dân gian với du lịch Việt Nam, cơ hội và
thách thức
2.1 Khái quát về du lịch văn hóa.
Có thể hiểu du lịch văn hoá là một loại du lịch mà mục đích chính là nângcao hiểu biết cho cá nhân, đáp ứng sự ham hiểu biết qua các chuyến du lịchđến những vùng đất mới, tìm hiểu và nghiên cứu về lịch sử, kiến trúc, kinh tế,chế độ xã hội, cuộc sống và phong tục tập quán của địa phương, đất nước,hoặc có thể kết hợp những mục đích khác nữa
Xu thế quốc tế hoá trong sinh hoạt văn hoá giữa cộng đồng và các dân tộctrên thế giới ngày càng được mở rộng, dẫn tới việc giao lưu văn hoá, tìm kiếmnhững kiến thức về nền văn hoá nhân loại, về những miền đất mới ngày mộtđược ưa thích hơn Du lịch không còn hoàn toàn là nghỉ ngơi giải trí đơnthuần mà còn là hình thức nghỉ ngơi tích cực, có tác dụng bổ sung tri thức,làm phong phú đời sống tinh thần của con người Đó chính là nội hàm củakhái niệm du lịch văn hoá
Du lịch văn hoá vừa là phương tiện, vừa là mục đích của kinh doanh dulịch Du lịch văn hoá nhằm chuyển các giá trị văn hoá, các giá trị vật chấtcũng như tinh thần cho hoạt động du lịch Du lịch văn hoá là phương thức hấpdẫn vì nó giải quyết những nhu cầu về cảm thụ cảnh quan của quốc gia và dulịch văn hoá thường để dành cho du khách có trình độ cao trong xã hội
Du lịch văn hoá thường được xem là tổng thể của du lịch, xem đó là mộthiện tượng văn hoá – những yếu tố thu hút khách du lịch Tuỳ theo các tiêuthức khác nhau mà phân chia du lịch văn hoá ra làm nhiều loại:
Du lịch tìm hiểu bản sắc văn hoá: Khách du lịch tìn hiều các nền văn hoá
chủ yếu mục đích chuyến đi mang tính chất khảo cứu, nghiên cứu Đối tượngkhách chủ yếu là các nhà nghiên cứu, học sinh, sinh viên
Trang 17Du lịch tham quan văn hoá: Đây là loại hình du lịch phổ biến nhất, du
khách thường kết hợp giữa tham quan với nghiên cứu, tìm hiều văn hoá trongmột chuyến đi Đối tượng tham gia loại hình này rất phong phú, bên cạnhnhững khách vừa kết hợp đi để tham quan, vừa để nghiên cứu còn có nhữngkhách chỉ để chiêm ngưỡng, thoả mãn trí tò mò, hoặc theo trào lưu
Du lịch kết hợp giữa tham quan văn hoá với các mục đích khác: Đây
thường là những chuyến đi nhằm thực hiện công tác hoặc nghề nghiệp nào đó
và có kết hợp với tham quan văn hoá Đối tượng của loại hình này thường lànhững người đi tham dự hội nghị, hội thảo, kỷ niệm ngày lễ lớn, các cuộctriển lãm Loại khách này đòi hỏi trình độ phục vụ hiện đại, phong phú, chấtlượng cao, quy trình đồng bộ, chính xác Khách du lịch của loại hình này cókhả năng thanh toán cao, nhưng thời gian dành cho du lịch không nhiều
Tuy nhiên, sự phân loại du lịch văn hoá thành các loại hình trên chỉ làtương đối, vì trong một chương trình du lịch thường được kết hợp nhiều hoạtđộng khác nhau như: kết hợp du lịch dã ngoại với du lịch theo chuyên đề vănhoá, du lịch săn bắn… nhằm tránh gây cho khách cảm giác nhàm chán
Du lịch văn hoá là loại hình du lịch tiềm năng vì nó ít chịu ảnh hưởng vàchi phối của yếu tố thời tiết, khí hậu, nhưng lại phụ thuộc vào các yếu tố như
độ tuổi, giới tính, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, tôn giáo của khách
2.2 Vai trò của lễ hội dân gian với du lịch Việt Nam
2.2.1 Vai trò chức năng của lễ hội dân gian với xã hội
Lễ hội là một loại hình sinh hoạt cộng đồng được tổ chức theo phươngpháp cảnh diễn hóa (sân khấu hóa) với nhiều nội dung, hình thức phong phúnhằm vừa tôn vinh những giá trị thiêng liêng, vừa thỏa mãn các nhu cầu vănhóa tinh thần của con người và góp phần thắt chặt các quan hệ xã hội Là mộthình thức sinh hoạt văn hóa tổng hợp, lễ hội được cấu thành bởi hai yếu tố lễ
và hội, tương ứng với các mặt: tinh thần, tôn giáo -tín ngưỡng, linh thiêng là