SỰ CẦN THIẾT ÁP DỤNG QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Trang 1CHƯƠNG I LÝ THUYẾT QUYỀN CHỌN
CHƯƠNG II SỰ CẦN THIẾT ÁP DỤNG QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
1 Tổng quan thị trường chứng khoán Việt Nam: 5
2 Phân tích sự biến động của VN-Index trên thị trường
3.1.1 Rủi ro thị trường (loại rủi ro phổ biến và thường thấy nhất): 13
4 Nhu cầu của nhà đầu tư đối với quyền chọn cổ phiếu hiện nay: 17
5 Ý nghĩa của việc áp dụng quyền chọn cổ phiếu trong thời gian tới: 17
5.1 Tạo ra công cụ bảo vệ lợi nhuận và kiếm lời cho nhà đầu tư trên thị trường: 17 5.2 Góp phần thúc đẩy thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển hơn nữa: 18 5.3 Tác động gián tíếp đến các công ty niêm yết: 18 5.4 Thu hút nhiều hơn nguồn vốn đầu tư nước ngoài: 19
Trang 2CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT ÁP DỤNG QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU TRONG THỜI
GIAN TỚI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
1 Đánh giá thuận lợi và khó khăn khi áp dụng quyền chọn cổ phiếu:
1.1.1.Thị trường chứng khoán Việt Nam có tiềm năng phát triển rất lớn: 20
1.1.3 Sự quyết tâm của Chính Phủ xây dựng và phát triển
1.1.5 Được nhiều kinh nghiệm từ việc ứng dụng quyền chọn vàng
1.1.6 Thị trường chứng khoán có nhiều biến động mạnh
1.1.7 Những dự đoán khả quan về triển vọng phát triển
thị trường chứng khoán trong những năm tới: 22
1.2.1 Vẫn chưa có hệ thống pháp luật nào điều chỉnh
1.2.2 Chính sách thuế chưa khuyến khích nhà đầu tư: 23
1.2.4 Hàng hóa trên thị trường chứng khoán thật sự chưa nhiều
1.2.5 Giá giao dịch cổ phiếu vẫn còn nằm trong biên độ kiểm soát: 24
2 Những đề xuất để có thể áp dụng quyền chọn trong thời gian tới: 24 2.1 Nhà nước nên sớm nghiên cứu và áp dụng quyền chọn cổ phiếu
2.2 Nâng cao hơn nữa năng lực quản lý của nhà nước đối với thị trường 24 2.3 Tăng cung ứng cho thị trường về số lượng, chất lượng, chủng loại: 24 2.4 Khuyến khích các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường 25 2.5 Nâng cao tính hiệu quả, chính xác và minh bạch trong việc
2.6 Hoàn thiện quy trình và nâng cao trang bị kỹ thuật giao dịch 25 2.7 Thực hiện tốt công tác tuyên truyền phổ biến lợi ích của
các công cụ phái sinh và khuyến khích hướng dẫn các doanh nghiệp,
2.8 Hoàn thiện cơ sở hạ tầng đê chuẩn bị cho giao dịch phái sinh 26
KẾT LUẬN
Trang 3CHƯƠNG I LÝ THUYẾT QUYỀN CHỌN
1 Khái quát quyền chọn cổ phiếu:
Mức giá cố định mà người mua hợp đồng quyền chọn có thể mua hoặc bán
cổ phiếu được gọi là giá chốt hay giá thực hiện
Người mua quyền chọn phải trả cho người bán quyền chọn một số tiền gọi
là phí quyền chọn để đảm bảo người bán quyền chọn sẵn sàng bán, mua hoặc tiếp tục nắm giữ cổ phiếu theo điều khoản hợp đồng tuỳ theo yêu cầu người mua
1.2 Phân loại:
_ Theo kiểu quyền chọn:
+ Quyền chọn kiểu Mỹ: hợp đồng quyền chọn được thực hiện tại bất kỳ thời
điểm nào trước ngày đáo hạn
+ Quyền chọn kiểu Châu Âu: hợp đồng chỉ được thực hiện quyền vào ngày
đáo hạn
_ Theo hình thức:
+ Quyền chọn mua: cho phép chủ sỡ hữu của nó quyền mua cổ phiếu với
một mức giá thực hiện trước hay đúng vào ngày đã ấn định
+ Quyền chọn bán: cho phép chủ sỡ hữu của nó quyền bán cổ phiếu với
một mức giá thực hiện trước hay đúng vào ngày đã ấn định
1.3 Thị trường quyền chọn:
Quyền chọn tuy là một khái niệm kinh tế tài chính, nhưng ta vẫn thường gặp phổ biến trong đời sống xã hội thường ngày, dưới các hình thức thể hiện khác nhau Và với các đặc tính ưu việt riêng có, quyền chọn dần trở thành công cụ được
sử dụng thường xuyên bởi các nhà đầu tư kinh doanh, theo xu thế phát triển của
Trang 4nền kinh tế tiên tiến và sự phổ biến của các sản phẩm phái sinh, về sau này, quyền chọn chính thức được xem như một loại hàng hóa và được nâng tầm giao dịch trên thị trường có tổ chức: thị trường quyền chọn
2 Lịch sử hình thành thị trường quyền chọn:
Hệ thống thị trường quyền chọn hiện nay có nguồn gốc từ thế kỷ XIX gồm quyền chọn mua và chọn bán cổ phiếu Những năm đầu tiên của thập niên 1900, một nhóm các công ty được gọi là hiệp hội các nhà môi giới và kinh doanh quyền chọn mua và quyền chọn bán đã thành lập các thị trường quyền chọn với mục đích cung cấp kỹ thuật nhằm đưa những người mua và bán lại với nhau Nếu một người nào đó muốn mua quyền chọn, môt thành viên của hiệp hội sẽ tìm kiếm một người bán sẵn sàng muốn ký hợp đồng bán quyền chọn Nếu công ty thành viên không tìm được người muốn bán, tự công ty sẽ bán quyền chọn Vì vậy, một công ty thành viên có thể vừa là nhà môi giới - người mang người mua và người bán đến với nhau hoặc nhà kinh doanh - người thực hiện vị thế giao dịch
Tuy nhiên, thị trường quyền chọn phi tập trung này bộc lộ nhiều khiếm khuyết:
Thứ nhất, do không có thị trường thứ cấp nên hợp đồng quyền chọn có rất
ít, thậm chí không có tính thanh khoản
Thứ hai, việc thực hiện hợp đồng của người bán chỉ được đảm bảo bởi công
ty môi giới kiêm kinh doanh Do đó, rủi ro thanh toán, rủi ro phá sản đối với người nắm giữ quyền chọn là rất lớn
Thứ ba, phí giao dịch còn tương đối cao
Năm 1973, đã có một thay đổi mang tính cách mạng trong thế giới quyền chọn Sàn giao dịch Chicago Board of Trade (CBOT) – sàn giao dịch lâu đời nhất
và lớn nhất về các hợp đồng giao sau hàng hóa, đã tổ chức một sàn giao dịch dành riêng cho giao dịch quyền chọn cổ phiếu Sàn giao dịch này được đặt tên là Chicago Board Options Exchange (CBOE), mở cửa giao dịch quyền chọn mua vào ngày 26/04/1973 và giao dịch các hợp đồng quyền chọn bán trong tháng 06/1977
Trang 5CBOE đã tạo ra một thị trường trung tâm cho các hợp đồng quyền chọn Bằng cách tiêu chuẩn hóa các kỳ hạn và điều kiện của hợp đồng quyền chọn, nó đã làm tăng tính thanh khoản cho thị trường Tuy nhiên, quan trọng nhất, CBOE đã
bổ sung một trung tâm thanh toán đảm bảo cho người mua rằng người bán sẽ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng Vì vậy, người mua quyền chọn không còn phải lo lắng về rủi ro tín dụng của người bán Điều này khuyến khích quyền chọn trở nên hấp dẫn hơn đối với công chúng
Tiếp theo đó, thị trường chứng khoán Mỹ (AMEX) và thị trường chứng khoán Philadelphia (PHLX) bắt đầu thực hiện giao dịch quyền chọn vào năm
1975, thị trường chứng khoán Pacific (PSE) thực hiện giao dịch vào năm 1976 Khoản đầu thập niên 80, khối lượng giao dịch tăng lên nhanh chóng đến mức mà
số lượng cổ phiếu theo hợp đồng quyền chọn bán hằng ngày vượt quá khối lượng giao dịch cổ phiếu trên thị trường chứng khoán New York
Thập niên 80 cũng là giai đoạn phát triển đối với thị trường quyền chọn ngoại tệ, chỉ số chứng khoán và hợp đồng giao sau ở Mỹ Thị trường chứng khoán Philadelphia là nơi giao dịch quyền chọn ngoại tệ đầu tiên Chicago Board Options Exchange bắt đầu giao dịch quyền chọn chỉ số chứng khoán của S&P100 và S&P500 Thị trường chứng khoán Mỹ giao dịch về chỉ số chứng khoán của một số thị trường chính và thị trường chứng khoán New York giao dịch về chỉ số NYSE
Đa số các thị trường đều giao dịch quyền chọn đối với các hợp đồng giao sau
Từ đó, nhiều sàn giao dịch chứng khoán bắt đầu giao dịch quyền chọn Do nhu cầu của công chúng về quyền chọn tăng nhanh chóng, ngành kinh doanh này
đã tăng trưởng mạnh mẽ cho đến khi thị trường chứng khoán sụp đổ vào năm 1987 làm nhiều nhà đầu tư cá nhân từng sử dụng quyền chọn trước đây tránh xa thị trường và khối lượng giao dịch chỉ mới được hồi phục ở mức năm 1987 trong thời gian gần đây
Vào đầu thập niên 1980, nhiều công ty bắt đầu sử dụng hối đoái tiền tệ và lãi suất để quản trị rủi ro Với các chuyển biến thuận lợi của thị trường phi tập
Trang 6trung thời đó, các công ty bắt đầu tạo ra các hợp đồng phi tập trung khác như kỳ hạn và quyền chọn
Lúc này, các giao dịch quyền chọn trên thị trường phi tập trung được thỏa thuận qua điện thoại nhiều hơn là trên sàn giao dịch Một bên đối tác thường là ngân hàng đầu tư sẽ duy trì hạng mục đầu tư quyền chọn và bảo hộ bằng cách sử dụng một số công cụ Bên còn lại là khách hàng của ngân hàng đầu tư như là các nhà quản lý quỹ đầu tư hoặc là những người chịu trách nhiệm về vốn và ngoại hối của các tập đoàn lớn Các giao dịch quyền chọn này thường phổ biến nhằm đáp ứng nhu cầu cho các loại khách hàng
Vì định mức tối thiểu của mỗi giao dịch khá lớn và có rủi ro tín dụng, công chúng không thể tham gia vào thị trường phi tập trung mới hồi sinh này Tuy nhiên, sự phát triển của thị trường phi tập trung của các định chế đã gây áp lực nặng nề lên các sàn giao dịch quyền chọn Vào đầu thập niên 1990, các sàn giao dịch đã cố gắng trở nên sáng tạo hơn để dành lại thị phần giao dịch và kích thích mối quan tâm của công chúng đối với quyền chọn Tuy nhiên, các xu hướng này không có nghĩa là quyền chọn đang mất dần tính đại chúng Thật ra, chúng trở nên phổ biến hơn bao giờ hết đối với các định chế tài chính và doanh nghiệp, nhưng mức tăng trưởng thì tập trung ở các thị trường phi tập trung
Như vậy, thuật ngữ “quyền chọn” không hề xa lạ trong nền kinh tế thế giới
Nó là một công cụ phòng ngừa rủi ro hết sức hiệu quả, đáp ứng được hầu hết mọi khẩu vị của các nhà đầu tư, đặc biệt là đối với những ngành nghề, chủng loại hàng hoá nhiều rủi ro Riêng đối với quyền chọn cổ phiếu, thị trường sản phẩm bậc cao này đã thể hiện tính hiệu quả và năng động của mình song song với thị trường chứng khoán cơ sở Qua quá trình phát triển, quyền chọn đã chứng tỏ khả năng và
ưu điểm của mình đối với thị trường tài chính hiện đại
Trang 7CHƯƠNG II SỰ CẦN THIẾT CỦA QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
1 Tổng quan thị trường chứng khoán Việt Nam:
Nhận thức được vị trí và tầm quan trọng của thị trường chứng khoán đối với nền kinh tế, Đảng và Nhà nước chủ trương thành lập thị trường chứng khoán Việt nam với phương châm thận trọng và vững chắc
Theo Nghị định 75-CP, ngày 28/11/1996, Ủy Ban chứng khóan Nhà nước trực thuộc Bộ tài chính được thành lập, là cơ quan cao nhất quản lý mọi hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh được thành lập theo quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/7/1998, chính thức giao dịch từ ngày 28 tháng 7 năm 2000, đánh dấu 1 sự kiện quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội đất nước với chỉ hai doanh nghiệp niêm yết là REE và SAM với tổng mức vốn điều lệ khoảng 270 tỷ đồng
Tuy nhiên, với sự năng động của một trường trẻ, thị trường chứng khoán Việt Nam đã phát triển nhanh chóng trên tất cả các phương diện Tổng số lượng doanh nghiệp niêm yết trên cả 2 sàn tính đến nay là khoảng 290 doanh nghiệp với mức vốn hóa thị trường chiếm khoảng 40% GDP Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
đổ vào thị trường chứng khoán Việt Nam cũng tăng đáng kể, các nhà đầu tư nước ngoài đã đổ vào đây khoảng 20 tỷ USD
Theo dự tính, quy mô thị trường còn tiếp tục mở rộng do các doanh nghiệp Nhà nước đã cổ phần hóa sẽ tiếp tục đăng kí niêm yết giai đoạn 2008-2010
Số lượng nhà đầu tư mới tham gia thị trường ngày càng đông, đã có trên 340.000 tài khoản giao dịch chứng khoán được mở, trong đó, trên 10.000 tài khoản là của nhà đầu tư nước ngoài
Trang 82 Phân tích sự biến động của VN-Index trên thị trường chứng khoán Việt Nam:
Biểu đồ diễn biến VN-Index
Dựa theo biểu đồ diễn biến VN-Index, có thể phân chia sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam ra thành các giai đoạn:
2.1 Từ năm 2000 đến tháng 6/2001:
Nếu như thị trường chứng khoán sớm thành lập ở các nước thì đến năm
2000, thị trường chứng khoán mới hình thành ở Việt Nam sau một thời gian thử nghiệm
Đây là giai đoạn đầu tiên hình thành thị trường Do đó, tính bền vững thị trường còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chính sách, cơ sở vật chất, cũng như tính phổ cập đối với công chúng
Từ phiên giao dịch đầu tiên, một bộ phận không nhỏ nhà đầu tư đã quan tâm thị trường này Chính tâm lý mong chờ có điều kì diệu xảy ra như những gì họ
Trang 9được nghe về thị trường chứng khoán khiến số lượng nhà đầu tư tăng cao Tuy nhiên, phiên giao dịch đầu tiên chỉ có 8 công ty niêm yết với 6 loại cổ phiếu, 3 loại trái phiếu Chính phủ và 2 loại trái phiếu của BIDV Tổng giá trị niêm yết 33,9 triệu cổ phiếu là 338,4 tỷ đồng Hơn nữa, quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước diễn ra quá chậm, không thể tạo thêm hàng hóa cho thị trường Do đó, VN-index tăng liên tục từ 100 lên 571,04 điểm ở phiên giao dịch thứ 137 ngày 25/6/2001 với tổng khối lượng khớp lệnh là 2,681 triệu cổ phiếu, đạt giá trị 23,571
tỷ đồng, đánh dấu đỉnh điểm đợt sốt nóng lần thứ nhất trên thị trường chứng khoán Giai đoạn này, nhà đầu tư nước ngoài vẫn chưa được tham gia thị trường
2.2 Từ tháng 6/2001 đến tháng 12/2005:
Tuy nhiên, ngay sau đó, sự phấn khích của nhà đầu tư nhanh chóng biến thành nỗi ám ảnh khi VN-Index bắt đầu tuột dốc không phanh (giai đoạn tháng 7/2001 đến tháng 10/2001), khởi đầu một giai đoạn trầm lắng dài của thị trường chứng khoán với mốc đánh dấu sự khủng hoảng là phiên giao dịch thứ 652 ngày 24/10/2003, tổng giá trị giao dịch trên thị trường chỉ còn 1,782 tỷ đồng Nguyên nhân là một số ý kiến cho rằng giá cổ phiếu đã vượt qua giá trị thực của nó Để bảo vệ nhà đầu tư, Ủy ban chứng khoán đã đưa ra một số biện pháp như tăng cung chứng khoán, giảm biên độ giao dịch, quy định khối lượng giao dịch tối đa cho một loại chứng khoán…Và chúng đã thực sự có hiệu quả
Sau đó, thị trường chứng khoán có chút khởi sắc nhưng tốc độ tăng trưởng vẫn rất chậm
Năm 2004, Quỹ đầu tư chứng khoán đầu tiên VF1 được thành lập và niêm yết trên thị trường Tuy nhiên, thị trường chứng khoán hiện vẫn còn quá nhỏ, giá
và chỉ số luôn biến động, các công ty cổ phần niêm yết đa số là doanh nghiệp vừa
và nhỏ nên vẫn chưa có sức hút mạnh nhà đầu tư
2.3 Năm 2006:
Thị trường chứng khoán quả thật là một thị trường đầy biến động và thay đổi không ngừng Những tháng đầu năm 2006, thị trường đã tăng trưởng trở lại Ở phiên giao dịch đầu năm, ngày 3/1/2006, VN-Index đạt 305,28 điểm và đã liên tục
Trang 10tăng đến 623,69 điểm ở phiên giao dịch thứ 1276 Đỉnh điểm đợt sốt thứ hai còn cao hơn đợt một với nhiều chuyển biến tích cực của thị trường Tổng số chứng khoán trong phiên này được khớp lệnh là 37,767 triệu cổ phiếu với tổng giá trị giao dịch là 314,238 tỷ đồng
Tiếp tục điệp khúc thăng trầm, VN-Index sau đó cũng nhanh chóng hạ nhiệt
và chỉ còn 399 điểm ngày 1/8/2006, do nhiều nhà đầu tư không chịu nổi sự suy giảm đã bán ra ồ ạt làm VN-index sụt giảm 37% so với ngày 25/4 làm chao đảo nhà đầu tư khi tăng trở lại hơn 573,79 điểm ở phiên giao dịch ngày 17/11 Như vậy, tính từ ngày 30/12/2005, VN-Index tăng 66% và từ mức vốn hóa thị trường
144 triệu USD, gồm 26 công ty niêm yết cách đây hai năm đã tăng 21,5 lần lên 3,1
tỷ USD với 49 công ty niêm yết Đây quả là một bước tiến lớn
Giải thích nguyên nhân khởi sắc 4 tháng đầu 2006, ta có thể thấy các yếu tố
vĩ mô tích cực (chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng khá), kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết khả quan và nhất là sự mất cân đối cung cầu trên thị trường - số lượng doanh nghiệp niêm yết tăng không đủ nhanh so với sức cầu phát triển ồ ạt của nhà đầu tư khi thấy khả năng chiếm lợi nhanh trên thị trường này đã làm thị trường tăng trưởng nhanh chóng
Tuy nhiên, 6 tháng cuối năm sức cầu giảm rõ rệt do Ủy ban chứng khoán tăng cung, trong đó có 1 số mã có khối lượng giao dịch rất lớn như VSH, STB và thông tin về biến động một số ngành nghề trước thềm WTO Bên cạnh đó, nhiều ý kiến cho rằng giá chứng khoán tăng nóng, vượt quá giá trị thực của doanh nghiệp Nhưng sau đó, với sự kiện Việt Nam gia nhập WTO, tổ chức thành công hội nghị cấp cao APEC 14 cùng những dự báo lạc quan về tình hình kinh tế vĩ mô và vi
mô, sự tăng cường vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài đã giúp thị trường phục hồi trở lại
2.4 Năm 2007:
Thị trường chứng khoán Việt Nam 2007 đã có những biến động lớn với 3 con sóng dài tạo ra 3 mức đáy của VN-Index sau khi chỉ số này đạt đỉnh 1170,67
Trang 11điểm vào tháng 3/2007 Một điều đáng ghi nhận là diễn biến của VN-Index luôn gắn liền với những đợt IPO của các “đại gia”
Cụ thể:
Những tháng đầu 2007, thị trường có sự tăng tốc đầy bất ngờ Hãng tin News Network đánh giá “thị trường chứng khoán Việt Nam đã có màn trình diễn tuyệt vời và Việt Nam là ngôi sao mới nổi trên thị trường chứng khoán thế giới” VN-Index năm 2006 tăng 145% và chưa đầy 2 tháng của năm 2007, chỉ số này tăng thêm 44% Làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam trở thành thỏi nam châm thu hút mạnh nhiều đối tượng đầu tư, chuyên nghiệp và cả nghiệp dư Theo tạp chí Financial Times, đây thực sự là 1 cơn sốt chứng khoán, đã có 1 tầng lớp trung lưu mới nổi của Việt Nam lao vào cơn say chứng khoán, từ các doanh nhân
có kinh nghiệm thương trường đến các công chức nhà nước, sinh viên, các bà nội trợ cũng rủ nhau chơi chứng khoán với “giấc mơ thu được lợi nhuận trời cho” Trước tình hình này, đã có 1 số cảnh báo về việc các quỹ đầu cơ nước ngoài đang
đổ tiền vào Việt Nam, làm thị trường nóng lên bất thường và có dấu hiệu bong bóng, nguy hiểm hơn, quả bóng này có thể xì hơi - ảnh hưởng rất xấu đến thị trường chứng khoán Việt Nam non trẻ và cả nền kinh tế-xã hội Việt Nam.Chính điều đó đã dẫn đến việc bán tháo cổ phiếu của các nhà đầu tư nhỏ, làm VN-Index rơi vào giai đọan suy giảm lần 1 của năm kéo dài trong tháng 3 và 4/2007
Không lâu sau, khoảng cuối tháng 4 đầu tháng 5, thị trường phục hồi trở lại với sự tăng giá mạnh của các cổ phiếu Blue-chips do các nhà đầu tư nước ngoài tích cực mua vào và sự kiện IPO của Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam-Bảo Việt
Tuy nhiên từ tháng 5, thị trường chứng khoán lại bước vào đợt suy thoái dài hạn, VN-Index sụt giảm mạnh xuống 884 điểm vào ngày 23/8 Nguyên nhân trước nhất là do Ngân hàng Nhà nước ra chỉ thị 03/2007/CT-NHNN, giới hạn tỷ lệ cho vay đầu tư chứng khoán của các tổ chức tín dụng, các báo cáo không khả quan, dự đoán thị trường sẽ giảm xuống mức 900 điểm của các định chế tài chính lớn (HSBC, Merrill Lynch) Làm cho nhà đầu tư trong nước hoang mang và đẩy mạnh bán cổ phiếu Thời điểm này, giá trị giao dịch cũng giảm mạnh, bình quân khoảng
Trang 12450-500tỷ đồng/phiên, chỉ bằng 1/3 giá trị giao dịch bình quân thời điểm thị trường tăng nóng
Thị trường chứng khoán phục hồi trở lại giai đoạn cuối tháng 9 và 10, giá trị giao dịch bình quân hai sàn tăng mạnh, đạt 1600 tỷ đồng/phiên Nguyên nhân
có thể thấy là do sự phục hồi thị trường chứng khoán toàn cầu và sự kỳ vọng của nhà đầu tư nước ngoài trước những đợt IPO lớn sắp tới VN-Index nhanh chóng vượt các mức cản 900, 1000, 1100 điểm và đạt đỉnh 1107 điểm 4/10/2007 Tuy nhiên, sau giai đọan phục hồi trong tháng 10, thị trường lại bắt đầu điều chỉnh và suy giảm Tháng 12/2007, khi các thông tin về đợt IPO Vietcombank được công
bố, VN-Index đã giảm xuống mức 950 điểm Kết thúc phiên giao dịch cuối cùng của 2007, Việt Nam-Index đạt 927,02 điểm
Nhìn chung, năm 2007 là năm phát triển vượt bậc của thị trường chứng khoán Việt Nam, điều này thể hiện ở quy mô tăng mạnh của thị trường Năm
2006, mức vốn hóa thị trường chỉ chiếm khoảng 22,7% GDP thì năm 2007, tỷ lệ này là 43% Khối lượng chứng khoán giao dịch trên thị trường tập trung đạt khoảng 3591 triệu chứng khoán, tăng 2,7 lần với tổng giá trị giao dịch đạt hơn
355848 tỷ đồng, tăng 3,6 lần so với cả năm 2006 Năm 2007 cũng là năm đánh dấu sự ra đời và có hiệu lực của Luật chứng khoán và cũng là năm thực thi chuyển Trung tâm giao dịch chứng khoán TPHCM thành Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM, đánh dấu bước phát triển mới của thị trường chứng khoán Việt Nam
2.5 Đầu năm 2008:
Quý I/2008, không khí ảm đạm vẫn bao trùm thị trường chứng khoán, giá chứng khoán giảm trung bình 60% so với đỉnh cao hồi tháng 3/2007 Tiếp tục đà giảm giá từ cuối 2007, VN-index giai đoạn này liên tục tuột dốc không phanh Các đáy 800 rồi 700 điểm lần lượt bị phá cũng nhanh như khi nó tăng trưởng nóng Lượng đặt bán ngày càng tăng mạnh trong khi lượng đặt mua ngày càng giảm Theo ước tính, thị trường chứng khoán niêm yết của Việt Nam đã mất khoảng 16
tỷ USD giá trị thị trường kể từ đầu năm Trước tình hình đó, cùng với các kiến nghị của chuyên gia, “kêu cứu” của nhà đầu tư, ngày 5/3, trong phiên họp đưa ra
Trang 13nhóm 19 giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định nền kinh tế, Chính phủ có văn bản yêu cầu Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà Nước (SCIC) có biện pháp can thiệp thị trường, bằng cách mở nhiều tài khoản cùng lúc để mua vào số lượng lớn chứng khoán làm thay đổi cung cầu, cứu vãn tình hình Nhưng trong khi mà hiệu quả của biện pháp này chưa thể hiện rõ, thị trường chỉ tăng được một vài phiên thì nhìn chung VN-index vẫn tiếp tục suy giảm Để giúp nhà đầu tư hạn chế thua lỗ, Ủy ban chứng khoán đã thu hẹp biên độ giao dịch chỉ còn 1% trên sàn HOSE và 2% trên sàn HASTC (trước đó là 5% và 10%), sau 1 thời gian, biên độ lại được tăng lên 2% và 3%
Tuy Chính phủ và các ban ngành liên quan đã cố gắng sử dụng các biện pháp hành chính lẫn thị trường để thay đổi tình hình nhưng chỉ số thị trường vẫn giảm sâu, các đáy 600, 500 và thậm chí 400 cũng nhanh chóng bị phá Ngày 25/3, khi các mã chứng khoán đồng loạt giảm xuống mức sàn làm VN-Index giảm 24,43 điểm, còn 496,64 điểm đáy 500 chính thức bị phá Cho đến 16/5/2008, VN-Index còn 460 điểm, như vậy, chỉ số này đã giảm 50,4% so với cuối 2007 và giảm 60,7%
so với đỉnh cao 3/2007, nhiều mã chứng khoán đã xuống dưới giá trị thực Kết thúc phiên giao dịch ngày 4/6, Việt Nam-Index chính thức phá ngưỡng 400, đóng cửa ở mức 395,66 điểm, số mã chứng khoán giảm dưới mệnh giá tiếp tục tăng thêm) Ngay cả những nhóm cổ phiếu chủ chốt trên sàn như STB, SSI, FPT vẫn chưa thoát ra khỏi chuỗi ngày giảm giá Đến nay, hầu hết các cổ phiếu Blue-chips
đã giảm khoảng 50-75% so với hồi tháng 3/2007 Giải thích cho sự đi xuống trước cơn lốc bán tháo cổ phiếu dường như không có điểm dừng này, có thể thấy các nguyên nhân :
Trước tiên là sự tụt dốc chung của thị trường chứng khoán các nước Rồi tình hình lạm phát tăng cao, cuộc chạy đua lãi suất của các ngân hàng thương mại
và giá vàng tăng nóng đã thu hút vào các kênh đầu tư này một lượng tiền không nhỏ Cùng với các biện pháp ưu tiên kiềm chế lạm phát là chính sách tiền tệ thắt chặt của Ngân hàng Nhà nước đã gây khó khăn rất nhiều cho nhà đầu tư Chỉ thị
03 rồi quyết định 03 liên tiếp ra đời, hạn chế nguồn vốn đổ vào thị trường, vì đa số
Trang 14các nhà đầu tư sử dụng tiền vay ngân hàng để đầu tư chứng khoán, hơn nữa các khoản vay đó nay đã đến thời điểm đáo hạn, nhà đầu tư buộc phải bán chứng khoán với bất kì giá nào để có tiền trả nợ, nếu không trả được, các ngân hàng sẽ giải chấp lượng cổ phiếu đó Các yếu tố có tác động dây chuyền này càng làm mất cân đối cung cầu càng nghiêm trọng hơn Riêng với các nhà đầu tư trong nước vẫn còn tiền, dù biết đây là thời điểm rất tốt để đầu tư nhưng vẫn không dám mạnh dạn mua vào vì sợ thị trường sẽ vẫn tiếp tục xuống và cũng mong chờ thị trường tiếp tục xuống để có thể mua chứng khoán rẻ hơn nữa Một nguyên nhân khác hết sức đặc trưng của thị trường chứng khoán Việt Nam cũng không kém phần quan trọng chính là tâm lý “bầy đàn” của nhà đầu tư, mặc dù đang sở phiếu các cổ phiếu tốt của các công ty đang kinh doanh hiệu quả, nhưng vì muốn hiện thực hóa lợi nhuận, chạy theo trào lưu nên họ cũng sẵn sàng bán Trong khi đó, các nhà đầu tư nước ngoài đã lợi dụng cơ hội này để thu gom rất nhiều chứng khoán tốt tình hình này cũng khiến các doanh nghiệp đã IPO cũng dời ngày niêm yết, chưa dám lên sàn Tất cả những nguyên nhân trên như đang đẩy thị trường chứng khoán xuống sâu hơn dù giá cổ phiếu đã giảm ở mức không ngờ trong thời gian qua
Trong giai đoạn này, cũng có một sự kiện đáng ghi nhận: ngày 27/5, hệ thống công nghệ thông tin sàn HOSE bị sự cố và các giao dịch đã bị gián đoạn, một số công ty chứng khoán đã không thể nhập lệnh của nhà đầu tư vào hệ thống giao dịch của sở Sự cố này làm sàn HOSE phải tạm ngừng giao dịch trong 3 ngày
Sự tạm ngưng làm le lói tia hy vọng VN-Index sẽ đảo chiều khi sở giao dịch trở lại
nhưng thực tế càng làm các nhà đầu tư thất vọng hơn
3 Phân tích và đánh gía rủi ro trên thị trường chứng khoán Việt Nam:
Qua những phân tích trên thì ta thấy trong thời gian qua thị trường chứng khoán đã trải qua giai đoạn biến động rất mạnh Và điều đó có thể hiểu là rủi ro cho nhà đầu tư trong thời gian qua là rất lớn, họ đã trải qua thời kỳ thua lỗ Tuy nhiên thì thị trường vẫn đang ngày càng đi xuống Điều này càng làm cho nhà đầu
tư hoang mang và bán tháo cổ phiếu vì sợ sẽ tiếp tục thua lỗ sẽ làm cho thị trường
có nguy cơ suy thoái nghiêm trọng