1.1 Những quan niệm về mặt hàng xuất khẩu chủ lực 1.2 Vai trò của xuất khẩu và xuất khẩu các mặt hàng chủ lực với sự phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRUNG TÂM THÔNG TIN CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG ĐỊNH HƯỚNG CƠ CẤU HÀNG HÓA XUẤT KHẨU CHỦ LỰC CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 - 2015
(Thực hiện theo Hợp đồng số 06709 RD/HĐ-KHCN ngày 03 tháng 03 năm 2009 giữa Bộ Công Thương và Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại)
Trang 2MỤC LỤC
Mở đầu
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về xuất khẩu các mặt hàng chủ lực
và vai trò của cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực đối với sự phát
triển kinh tế quốc dân
1.1 Những quan niệm về mặt hàng xuất khẩu chủ lực
1.2 Vai trò của xuất khẩu và xuất khẩu các mặt hàng chủ lực với sự phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay
1.2.1 Vai trò của xuất khẩu
1.2.2 Vai trò của xuất khẩu các mặt hàng chủ lực
1.2.3 Sự cần thiết chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và rộng
1.3 Những nhân tố chính tác động đến xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam thời gian qua
1.4 Quan điểm, chính sách đã ban hành thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng chủ lực (biện pháp đã áp dụng)
1.5 Kinh nghiệm xây dựng cơ cấu hàng xuất khẩu của một số nước có điều kiện tương đồng và bài học đối với Việt Nam
1.5.1 Trung Quốc
1.5.2 Thái Lan
1.5.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Chương 2: Thực trạng cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn
2005-2009
2.1 Khái quát thực trạng cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam
2.1.1 Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam 2005-2009
2.1.2 Quá trình hình thành cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
2.1.3 Một số mặt hàng xuất khẩu có tiềm năng đạt kim ngạch 1 tỷ USD
2.2 Thực trạng cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
2.2.1 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam
2.2.2 Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu đối với từng khu vực thị trường xuất khẩu
1
7
7
9911131821
29293336
38
38383941424246
Trang 32.3 Thị trường xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam và triển vọng đẩy mạnh xuất khẩu trong thời gian tới
Chương 3: Định hướng cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam giai
đoạn 2010-2015 và một số giải pháp thực hiện
3.1 Dự báo phát triển thương mại hàng hóa thế giới đến 2015
3.1.1 Bối cảnh thế giới đối với xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới
3.1.2 Cơ hội thách thức của xuất khẩu Việt Nam trong bối cảnh mới
3.1.3 Dự báo thương mại hàng hóa thế giới đến 2015
3.2 Định hướng phát triển xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đến 2015
3.2.1 Căn cứ xây dựng định hướng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
3.2.2 Định hướng về kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015
3.3 Định hướng về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam
92
929295100108108110123
126126130
133
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tỷ lệ hàng chế biến trong xuất khẩu giai đoạn 2005-2008 15 Bảng 2.1: Xuất khẩu của Việt Nam qua các năm 38 Bảng 2.2: Các mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD 39 Bảng 2.3: Các mặt hàng xuất khẩu có tiềm năng đạt kim ngạch 1 tỷ USD 41 Bảng 2.4 Kim ngạch và cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam 43 Bảng 2.5: Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam 2005 – 2009 47
Bảng 2.6: Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam
vào một số quốc gia ASEAN 49 Bảng 2.7: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu tới thị trường ASEAN 50 Bảng 2.8 Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu tới thị trường Nhật Bản 51 Bảng 2.9: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu tới thị trường Trung Quốc 53 Bảng 2.10: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU 2003-2007 55 Bảng 2.11: Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang EU 56
Bảng 2.12: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Hoa Kỳ 57 Bảng 2.13: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu sang
thị trường châu Đại Dương 59 Bảng 2.14: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu tới Nam Phi 60 Bảng 2.15: Xuất khẩu gạo của Việt Nam 2005 - 2008 theo thị trường 62
Bảng 2.16: Thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam 66 Bảng 2.17: Thị trường xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam năm 2008 67 Bảng 2.18: Các thị trường xuất khẩu chủ yếu của giầy dép Việt Nam 69 Bảng 2.19: Xuất khẩu giày dép của Việt Nam năm 2008 theo khu vực thị trường 70 Bảng 2.20: Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang
các thị trường chính từ 2003 đến 2009 71 Bảng 2.21: Xuất khẩu rau quả của Việt Nam 2005 - 2008 theo thị trường 79 Bảng 2.22: Xuất khẩu dây và cáp điện Việt Nam theo thị trường
giai đoạn 2005 – 2008 81
Trang 5Bảng 3.1 Dự báo triển vọng cung cầu gạo thế giới 103 Bảng 3.2 Dự báo sản lượng cà phê thế giới theo niên vụ 104 Bảng 3.3 Dự báo tiêu thụ cà phê thế giới 104 Bảng 3.4 Xu hướng giá gỗ nguyên liệu trên thị trường thế giới 105 Bảng 3.5 Dự báo tiêu thụ giày dép thế giới 107 Bảng 3.6 Định hướng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
giai đoạn 2010 – 2015 122 Bảng 3.7 Định hướng cơ cấu sản phẩm xuất khẩu giai đoạn 2010 – 2015 125 Bảng 3.8 Định hướng tỷ lệ hàng chế biến trong xuất khẩu
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu 2.1: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam qua các năm 38 Biểu 2.2: Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam năm 2008 44 Biểu 2.3: So sánh cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam
Biểu 3.1: Dự báo cơ cấu sản phẩm xuất khẩu năm 2010 124 Biểu 3.2: Định hướng cơ cấu sản phẩm xuất khẩu năm 2015 124
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI
ASEAN Association of Southeast Asian
Nations Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á CIF Cost, Insurance and Freight Giá thành, bảo hiểm và cước
EU European Union Liên Minh Châu Âu
EEC European Economic Community Cộng đồng Kinh tế Châu Âu
EMU European monetary union Liên minh kinh tế và tiền tệ
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FOB Free On Board Miễn trách nhiệm trên Boong tàu
nơi đi FTA Free Trade Agreement Khu mậu dịch tự do
GATT General Agreement on Tariffs and
Trade
Hiệp định chung về mậu dịch và thuế quan
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Quốc tế
ODA Official Development Aid Vốn hỗ trợ phát triển chính thức
TRIPS Trade-Related Aspects of
Intellectual Property Rights
Quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại
WCO World Customs Organization Tổ chức Hải quan thế giới
WEF World Economic Forum Diễn đàn Kinh tế thế giới
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu
Trong giai đoạn kinh tế hiện nay, các chính sách hỗ trợ đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu là một trong những nhóm chính sách quan trọng bảo đảm tăng trưởng kinh tế hợp lý Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề
ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006 – 2010, trong
đó có mục tiêu “Đẩy nhanh xuất khẩu, chủ động về nhập khẩu, kiềm chế và
thu hẹp dần nhập siêu; phấn đấu tăng nhanh tỉ trọng xuất khẩu các sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao, giàu hàm lượng công nghệ, có sức cạnh tranh, tạo thêm các sản phẩm xuất khẩu chủ lực mới, hết sức hạn chế và tiến tới chấm dứt xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên và nông sản chưa qua chế biến.”
Thực hiện mục tiêu này, những năm qua cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam đã có những chuyển biến, xuất khẩu của nhiều nhóm hàng chủ lực đã có nhiều sự thay đổi Cơ cấu hàng xuất khẩu trong năm 2008 cho thấy biểu hiện tích cực, trong đó tốc độ tăng trưởng của nhóm hàng nông, lâm, thủy sản đạt được ở mức 29,6% với kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 12,86 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 20,44% tổng kim ngạch xuất khẩu; nhóm nhiên liệu và khoáng sản cũng tăng kim ngạch 25,3% so với năm trước, kim ngạch đạt 11,89 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 18,9% và nhóm hàng chế biến, hàng công nghiệp và thủ công mỹ nghệ cũng tăng trưởng khá 27,7%, tỷ trọng đóng góp cũng được nâng lên gần 43% Sang năm
2009 xuất khẩu khoáng sản thô có xu hướng giảm mạnh, trong khi mũi nhọn tập trung vào nhóm hàng công nghiệp chế biến; nhóm nông, lâm sản cho dù khối lượng xuất khẩu tăng cao, nhưng do giá giảm nên kim ngạch thu được vẫn giảm nhiều; còn lại nhóm công nghiệp chế biến tuy gặp khó khăn do thị trường xuất khẩu chịu tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, nhưng vẫn trở thành mũi nhọn xuất khẩu với tỷ trọng đóng góp cao nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu
Có thể thấy rằng cho dù cơ cấu hàng hóa xuất khẩu đã có sự chuyển biến, nhưng hiệu quả xuất khẩu vẫn chưa được như mong muốn, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2009 vẫn đạt thấp hơn so với mục tiêu đề ra và cũng
Trang 8giảm so với năm 2008, số lượng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực có thể đem lại kim ngạch cao vẫn còn đơn điệu và phát triển rất chậm
Trước những biến động nhanh của thị trường thế giới, nhất là sau tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, vấn đề càng cần lưu ý của xuất khẩu Việt Nam
là hiệu quả kinh tế và cơ cấu của mặt hàng xuất khẩu Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân khiến giá trị xuất khẩu của Việt Nam thấp là vì chúng
ta chỉ làm gia công và lắp ráp, cơ cấu hàng xuất khẩu tuy đã có sự dịch chuyển nhưng chưa theo kịp được sự dịch chuyển của các nước xuất khẩu khác trong khu vực và thế giới, tỷ trọng những mặt hàng xuất khẩu thô, hàng nông sản lợi nhuận thấp, hàng gia công vẫn còn cao Điều này đòi hỏi phải có những nghiên cứu cụ thể để tiếp tục xây dựng cơ cấu hàng hóa xuất khẩu hợp lý hơn nữa, tìm những mặt hàng có kim ngạch tương đối lớn, tốc độ tăng trưởng cao trong những năm gần đây để tập trung các biện pháp mở rộng sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, đồng thời với việc nghiên cứu chính sách hỗ trợ xuất khẩu theo hướng chuyển dần sang xuất khẩu các nhóm hàng chế tạo có giá trị gia tăng cao và tăng hiệu quả kinh tế, chất lượng của xuất khẩu
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Nghiên cứu xây dựng định hướng
cơ cấu hàng hóa xuất khẩu chủ lực của Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015” đã
được chọn làm hướng nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu
Đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề này như:
- Việt Nam hướng tới 2010 (tuyển tập báo cáo phối hợp nghiên cứu chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội của của các chuyên gia quốc tế và Việt Nam) NXB chính trị quốc gia 2001 Sách gồm 2 tập trong đó tập 1 gồm 6 báo cáo Nội dung sách đã nêu bật vai trò của nhà nước và thị trường trong nền kinh tế, phân tích đánh giá những cơ hội cũng như thách thức mà Việt Nam gặp phải khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế
- Hướng phát triển thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam tới 2010, NXB thống
kê 1997, nội dung sách gồm 3 chương trong đó chương 1 đã làm rõ những căn
Trang 9cứ để xây dựng định hướng phát triển xuất nhập khẩu 1996-2000, các chính sách
và quyết định phát triển xuất nhập khẩu hiện hành và mới ban hành Chính sách mặt hàng và cơ chế điều hành xuất nhập khẩu năm 1997 Chương 2 tập trung nêu
và phân tích chính sách xuất nhập khẩu của các nước đối với Việt Nam Chương
3 đề xuất các chính sách chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu, chính sách chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu, và các chính sách phát triển sản xuất của Việt Nam hướng tới 2010
- Để nâng cao sức cạnh tranh của nông sản xuất khẩu – Tạp chí thương mại
số 37-2008 Nguyễn Thị Miền Bài phân tích khái quát tình hình sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam thời gian qua, nêu ra những hạn chế của các ngành kinh tế, dịch vụ liên quan đến sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp, từ đó bài phân tích đã nêu ra một số giải pháp để phát triển các ngành công nghiệp dịch vụ liên quan đến các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu giúp nâng cao sức cạnh tranh của nông sản xuất khẩu Việt Nam
- Nâng đẳng cấp cho hàng xuất khẩu – Hiểu Long tạp chí đầu tư chứng khoán
số 3- tháng 1/2006 Bài phân tích khái quát những thành tựu mà các doanh nghiệp, các sản phẩm hàng hóa của Việt Nam đã đạt được khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế Đồng thời cũng nêu ra những nhược điểm mà hàng xuất khẩu Việt Nam cũng như các doanh nghiệp Việt Nam phải đối phó khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế
- Định hướng và các giải pháp chủ yếu để chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu Việt Nam trong thời gian tới Luận án PTS KH Ktế - Trần Ngọc Sơn 1995 Luận án
gồm 3 chương: chương 1 phân tích những căn cứ khoa học cho việc xác định cơ cấu xuất khẩu nói chung, trên cơ sở phân tích các học thuyết kinh tế kinh điển của chủ nghĩa trọng thương Chương này cũng đề cập các khả năng và và điều kiện sản xuất hàng xuất khẩu ở Việt Nam Chương 2 luận án phân tích thực trạng xuất khẩu và quá trình hình thành cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam trong đó phân tích khá hệ thống các giai đoạn phát triển và chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu trong 1976-1980, 1981-1985, 1985-1990 Chương 3 luận án nêu ra định hướng và giải pháp chủ yếu của việc chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu đến 2005
Trang 10- Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam – PGS TS Nguyễn Hữu
Khải chủ biên, NXB thống kê, 2007 sách gồm 5 chương, chương 1 trình bày những cơ sở lý luận của quá trình chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam Chương 2 chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của một số nước và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam Chương 3 thực trạng chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu Việt Nam Chương 4 định hướng chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu Việt Nam chương 5 Một số biện pháp chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu Việt Nam Sách đã đánh giá tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam, đưa ra các quan điểm, định hướng và đề xuất các giải pháp chuyển dịch cơ cấu hợp lý, mang lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao hơn, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời đáp ứng tốt các cam kết về hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, cho đến thời điểm này vẫn chưa có công trình nào đánh giá được thực trạng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2005-2009, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế xảy ra vào nửa cuối 2008 kéo dài suốt cả năm 2009, đồng thời đề xuất xây dựng một cơ cấu xuất khẩu hàng hóa chủ lực phù hợp với những yêu cầu của giai đoạn tới (2010-2015) Với quan điểm cập nhật về thời gian và những biến động của thị trường thế giới trong năm
2008 và 2009, đề tài kế thừa các quan điểm của các công trình nghiên cứu trước đây và tiếp tục nghiên cứu bổ sung để xây dựng được định hướng cơ cấu hàng hóa xuất khẩu chủ lực phù hợp nhất trong giai đoạn 2010 – 2015 sắp tới
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng định hướng cơ cấu hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong điều kiện hiện nay
- Đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu và về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu chủ lực của Việt Nam thời gian qua
- Đề xuất định hướng cơ cấu hàng hóa xuất khẩu chủ lực của Việt Nam giai đoạn 2010-2015 và một số giải pháp để thực hiện mục tiêu đề ra
Trang 114 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam ra thị trường thế giới nói chung
và cụ thể tới các khu vực thị trường trọng điểm trên thế giới; sự đóng góp của các nhóm hàng hóa chủ lực trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
và mối liên hệ giữa sự thay đổi tỷ trọng đóng góp đó với sự biến động về kim ngạch xuất khẩu hàng hóa
- Phạm vị nghiên cứu:
+ Về mặt nội dung: Đề tài đánh giá hoạt động xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2005 – 2009; phân tích, dự báo xu hướng nhu cầu của thị trường thế giới đối với các hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2015; làm rõ sự đóng góp của các nhóm hàng hóa chủ lực trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, để từ đó xây dựng định hướng chiến lược về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam và một số giải pháp thực hiện
+ Về thời gian: Khái quát đối tượng nghiên cứu giai đoạn 2005 – 2009, định hướng đến năm 2015
+ Về không gian: Các hàng hóa xuất khẩu chủ lực của Việt Nam tới các thị trường trọng điểm như ASEAN, EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp sau:
- Tập hợp và nghiên cứu tài liệu, số liệu liên quan đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam và vấn đề chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp
- Lấy ý kiến chuyên gia, hội thảo khoa học về những nội dung đề tài nghiên cứu
Trang 126 Đóng góp của đề tài
- Về phía Bộ Công Thương: Đề tài là một căn cứ khoa học và thực tiễn quan trọng để Bộ có thể tham khảo trong việc điều chỉnh chính sách và quản lý, điều hành hoạt động xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2010 -2015 nhằm thúc
đẩy tăng trưởng xuất khẩu một cách hiệu quả
- Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo có tính chất định hướng cho việc xây dựng, hoạch định kế hoạch phát triển hoạt động xuất khẩu trong ngắn hạn, trung hạn để giúp doanh nghiệp chủ động trong công tác xây dựng chiến lược và
kế hoạch kinh doanh phù hợp giai đoạn mới, tập trung đầu tư cho các sản phẩm
phù hợp, đạt hiệu quả hơn trong hoạt động xuất khẩu
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
đề tài gồm 3 chương như sau:
Trang 13CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG CHỦ LỰC VÀ VAI TRÒ CỦA CƠ CẤU HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ
LỰC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1 Những quan niệm về mặt hàng xuất khẩu chủ lực
Từ nhiều năm nay, ở Việt Nam, mặt hàng xuất khẩu chủ lực được xác
định là các mặt hàng mà trong nước có khả năng tổ chức sản xuất ở quy mô lớn, tận dụng lợi thế so sánh quốc gia, có khả năng xuất khẩu ra các thị trường trên thế giới với khối lượng lớn và ổn định, có kim ngạch xuất khẩu lớn, có năng lực cạnh tranh về giá, có các dịch vụ phục vụ quá trình mua bán đầy đủ với chi phí cạnh tranh Hơn thế, đây phải là các mặt hàng mà quá trình sản xuất tạo sản phẩm xuất khẩu không gây cạn kiệt tài nguyên, không gây ô nhiễm môi trường, không gây hại cho sức khỏe của người tiêu dùng và đảm bảo sản xuất trong nước phát triển
Với các tiêu chí nêu trên, và với mục tiêu khuyến khích phát triển xuất khẩu, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu hàng năm
đạt từ 1 tỷ USD trở lên được coi là mặt hàng xuất khẩu chủ lực
Bên cạnh đó, nhiều quan điểm cũng cho rằng cần định nghĩa lại và có những tiêu chí khác ngoài tiêu chí về kim ngạch xuất khẩu như: Hàm lượng chế biến, mức độ thân thiện với môi trường, mức độ gây cạn kiệt tài nguyên, các tiêu chuẩn về kỹ thuật và vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường làm việc của người lao động, để xác định mặt hàng xuất khẩu nào của Việt Nam được công nhận là mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước Tuy nhiên, thực tế hiện nay, tiêu chí được sử dụng phổ biến vẫn là kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD bởi vì khi một mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1
tỷ USD, đồng nghĩa với việc nhiều tiêu chí trên đã được đáp ứng ở các mức độ khác nhau (ngoại trừ dầu thô, một số mặt hàng khoáng sản)
Trang 14Trong năm 2008, ngoài 10 mặt hàng có kim ngạch trên 1 tỷ USD đã thực hiện được từ năm 2007 (chủ yếu thuộc nhóm hàng công nghiệp chế biến, nông sản) là: Thủy sản, gạo, cà phê, cao su, dầu thô, dệt may, giầy dép, điện tử và linh kiện máy tính, sản phẩm gỗ và nhóm sản phẩm cơ khí, đã xuất hiện thêm 1 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD là dây điện và cáp điện Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực có khối lượng giảm nhưng do giá thế giới tăng mạnh nên về mặt trị giá tăng khá so với năm 2007 như: Dầu thô tăng 23,1% nhưng lượng giảm 7,7%,
cà phê tăng 5,8% nhưng lượng giảm 18,3%, cao su tăng 14,6% nhưng lượng giảm 9,8%
Mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn của quốc gia, ngành hay địa phương là
mặt hàng xuất khẩu xác định căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế của quốc gia, ngành hay địa phương đó ở các thời kỳ phát triển khác nhau Căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế của cả nước hay của địa phương ở các thời kỳ phát triển mà của quốc gia hay địa phương đó xác định phát triển các ngành mũi nhọn
để sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu mũi nhọn Ngành kinh tế mũi nhọn là các ngành kinh tế có thể huy động mọi nguồn lực tạo bước đột phá trong phát triển
và các sản phẩm xuất khẩu mũi nhọn cũng là các sản phẩm được sản xuất trên
cơ sở huy động mọi nguồn lực của đất nước, của địa phương có khả năng đột phá về thị trường và có khả năng đạt lợi nhuận từ xuất khẩu cao Tuy nhiên, đối
với Việt Nam, khái niệm này ít được sử dụng bởi nó thường gắn với thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế, hoặc nền kinh tế đang trong quá trình biến động mạnh
mẽ, mới bắt đầu tham gia kinh tế quốc tế
Một số quan điểm về xuất khẩu mặt hàng chủ lực
Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, quan
điểm phát triển xuất khẩu mặt hàng chủ lực của Việt Nam thời kỳ đến 2015, tầm nhìn 2020 được xác định như sau:
- Phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực phải được thực hiện với tốc độ nhanh trên cơ sở huy động mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế trong cả nước
Trang 15- Phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực phải nhằm mục tiêu đảm bảo tăng trưởng xuất khẩu bền vững, tăng kim ngạch xuất khẩu gắn liền với tăng trưởng kinh tế, đảm bảo trật tự an toàn xã hội và bảo vệ môi trường
- Phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực phải được thực hiện trên cơ
sở tăng cường liên doanh, liên kết, gắn kết thị trường trong và ngoài nước, chủ động giữ vững thị trường truyền thống, tích cực tìm kiếm, mở rộng thị trường trong khu vực và thế giới, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư để thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn lực bên ngoài
- Về cơ cấu hàng hoá xuất khẩu, từ nay đến 2020, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam cần thay đổi theo hướng:
+ Tăng tỷ trọng các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu như: Hàng dệt may, giày dép, cơ khí, điện- điện tử
+ Đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nông sản, thực phẩm chế biến trên
cơ sở phát triển sản xuất nông nghiệp, đổi mới giống cây trồng, vật nuôi, xây dựng cơ sở chế biến
+ Tăng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng thủ công truyền thống trên cơ
sở phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề
1.2 Vai trò của xuất khẩu và xuất khẩu các mặt hàng chủ lực với sự phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay
1.2.1 Vai trò của xuất khẩu
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp, có tổ chức, cả bên trong nước và ngoài nước nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi kinh tế, và từng bước nâng cao mức sống của dân cư của quốc gia Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh đem lại hiệu quả đột biến nhưng cũng phải đối mặt với nhiều rủi ro lớn vì nó phải đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể trong nước
Trang 16tham gia xuất nhập khẩu không dễ dàng và nhiều khi không thể khống chế hay kiểm soát được
Với khái niệm đó, vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế và các ngành kinh tế trong nước là rất lớn
- Xuất khẩu là một bộ phận quan trọng của cơ cấu kinh tế, một mặt nó bị chi phối và quyết định bởi cơ cấu của ngành và lĩnh vực chủ yếu, mặt khác nó có vai trò tạo tiền đề và thúc đẩy các ngành kinh tế trong quá trình hình thành và phát triển một cơ cấu kinh tế hợp lý
- Xuất khẩu đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP Tới nay, chưa có một hệ số cụ thể về mối liên hệ giữa tăng trưởng xuất khẩu và tăng trưởng GDP, nhưng suốt nhiều năm qua, thực tế tại Việt Nam cho thấy muốn có GDP tăng ở mức này thì xuất khẩu phải tăng cao hơn hai lần Năm 2006, Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP 8,7%, cao thứ hai tại châu Á, chỉ sau Trung Quốc, trong đó với mức kim ngạch đạt 39,6 tỉ USD, tăng trưởng 22% so với năm 2005, lĩnh vực xuất khẩu đã đóng góp hơn 60% trong tổng GDP Năm 2007, GDP tăng trưởng 8,47% thì xuất khẩu đã tăng trưởng 21,9% Với mức tăng trưởng GDP 6,23% của năm
2008, đóng góp vào mức tăng trưởng này có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ở mức 29,1% Sang năm 2009, tương quan nêu trên đã thay đổi, nhưng cũng có thể thấy khi xuất khẩu không có tăng trưởng thì GDP cũng giảm thấp
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá và hiện đại hoá của các quốc gia Thực tế đã cho thấy, bất kỳ nền kinh tế nào cũng cần phải nhập khẩu nhằm tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, đảm bảo đầu vào cho sản xuất và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân Tuy nhiên, để hoạt động nhập khẩu diễn ra thuận lợi thì cần phải có một lượng ngoại tệ cần thiết Xuất khẩu chính là một trong những hoạt động đem lại lượng ngoại tệ lớn và tương đối ổn định cho nhập khẩu
- Xuất khẩu tạo điều kiện để trong nước có thể sản xuất với quy mô lớn hơn trên cơ sở chuyên môn hoá và hợp tác quốc tế, tạo công ăn việc làm, tạo giá trị gia tăng và mở rộng thị trường tiêu thụ ra nước ngoài Nhờ sản xuất với quy
Trang 17mô lớn có thể thuận lợi cho đầu tư, cho hiện đại hoá kỹ thuật, công nghệ, cho hợp lý hoá sản xuất, cho việc tăng năng suất và hạ giá thành sản phẩm
- Xuất khẩu là khâu đưa chất lượng, trình độ kỹ thuật của sản phẩm trong nước ra đọ sức với thị trường quốc tế Ở đây, mọi sản phẩm đều gặp phải sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt của các đối thủ cạnh tranh trên toàn thế giới Thông qua xuất khẩu mà các doanh nghiệp có thể tự khẳng định mình và học hỏi được trình
độ, kinh nghiệm của các nền sản xuất tiên tiến trên thế giới, đặc biệt là công nghệ
và kỹ thuật của các nước phát triển Cũng chính sự cạnh tranh quyết liệt trong xuất khẩu mà việc hạ giá thành sản phẩm là mục tiêu phấn đấu trong việc xuất khẩu của từng quốc gia
- Xuất khẩu tạo điều kiện vật chất không những cho ngoại thương mà còn cho các mặt cân đối khác về thanh toán, về tài chính và tín dụng Đồng thời thông qua xuất khẩu có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện một chính sách ngoại thương chủ động và tích cực
- Xuất khẩu là một trong những hoạt động kinh tế trọng yếu của bất kỳ quốc gia nào dù là phát triển hay đang phát triển Việc thực hiện xuất khẩu hay phát triển xuất khẩu sẽ tác động làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra nhiều việc làm mới và góp phần cải thiện thu nhập cho người lao động Mặt khác, phát triển xuất khẩu sẽ tạo nguồn thu ngoại tệ lớn hơn để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho mua sắm máy móc thiết bị, nhập khẩu các sản phẩm trung gian phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia, đồng thời là nguồn để trả nợ nước ngoài, giúp cân bằng và lành mạnh cán cân thanh toán quốc tế, ổn định tình hình kinh tế, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế trong nước
1.2.2 Vai trò của xuất khẩu các mặt hàng chủ lực
Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực với vai trò là các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của mỗi quốc gia, chiếm trên 60% tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia, đóng góp vai trò như và thậm chí còn quan trọng hơn vai trò của xuất khẩu một mặt hàng xuất khẩu thông thường Nhiều khi, xuất khẩu các mặt hàng chủ lực
Trang 18còn có ý nghĩa quyết định sự thành công trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia ở từng thời kỳ nhất định
Ở mỗi nước trên thế giới, cơ cấu xuất khẩu cũng như mặt hàng xuất khẩu chủ lực được nghiên cứu, định hướng phát triển và chuyển dịch phù hợp tùy thuộc sự phát triển kinh tế, chính trị và ngoại giao ở từng thời kỳ Chính vì vậy, mặt hàng xuất khẩu chủ lực của mỗi nước là không giống nhau và ngay trong một nước, ở mỗi thời kỳ phát triển kinh tế mặt hàng xuất khẩu chủ lực được xác định cũng không giống nhau Quá trình chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu hợp lý và xác định mặt hàng xuất khẩu chủ lực phù hợp có ý nghĩa thiết thực trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, đa dạng hoá các mặt hàng và thị trường xuất khẩu, phát huy lợi thế, tiềm năng về nguồn nhân lực, vật lực và tài lực của đất nước
Kinh nghiệm phát triển hoạt động thương mại của các nước châu Á trong vài thập kỷ gần đây cho thấy xuất khẩu các mặt hàng chủ lực đóng vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế, tạo thêm nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế Ngoại thương nói chung, xuất khẩu nói riêng đã gắn kết nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, thúc đẩy sự thay đổi mạnh mẽ trong cơ cấu kinh tế nội địa theo hướng hợp lý hơn, hiệu quả hơn, năng động hơn
Các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao khả năng cạnh tranh ở nhiều nước ASEAN thông qua chuyển từ chiến lược thay thế nhập khẩu sang chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu, đặc biệt xuất khẩu các mặt hàng chủ lực là những bài học kinh nghiệm quý đối với Việt Nam Hàng hoá xuất khẩu được lựa chọn tuỳ theo thế mạnh của từng nước và thay đổi theo nhu cầu của thị trường quốc tế Trong giai đoạn đầu, các nước thường xuất khẩu khoáng sản dạng thô, sản phẩm công nghiệp nhẹ, tiến đến xuất khẩu sản phẩm chế biến cao cấp và sản phẩm công nghiệp nặng Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch từ nông nghiệp sang phát triển công nghiệp nhằm phục vụ tốt nhất cho chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu Chính phủ luôn hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tìm kiếm thị trường nước ngoài, ưu tiên nhập khẩu máy móc, công nghệ hiện đại, nguyên vật liệu cần
thiết để thực hiện mục tiêu quan trọng là tăng cường năng lực sản xuất trong
Trang 19Đối với Việt Nam, vai trò của xuất khẩu được thể hiện qua việc xuất khẩu các mặt hàng chủ lực, bởi xuất khẩu các mặt hàng này thường xuyên chiếm đến trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu và đã khẳng định được vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân
1.2.3 Sự cần thiết chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và rộng
Những năm vừa qua, xuất khẩu của Việt Nam đã thu được những kết quả khả quan và có những đóng góp to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trung bình giai đoạn
2001 - 2008 đạt 17,5% Các sản phẩm đạt trị giá kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỉ USD ngày càng tăng (như dầu thô, hàng dệt may, giày dép, thủy sản, đồ gỗ, hàng linh kiện điện tử, cà phê, gạo, cao su, dây điện và cáp điện) Nhiều mặt hàng xuất khẩu đã có chỗ đứng nhất định trên thị trường thế giới, thậm chí một số mặt hàng
đã có ảnh hưởng đến thị trường thế giới như gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều
và chè
Mặc dù kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong những năm qua đạt được mức tăng trưởng khả quan, nhưng nhìn về tổng thể quy mô xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn nhỏ bé Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa toàn thế giới đạt 15,78 nghìn tỷ USD, nhập khẩu đạt 16,12 nghìn tỷ USD Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 62,68 tỷ USD, chỉ chiếm 0,39% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả thế giới và chỉ đáp ứng được 0,38% nhu cầu nhập khẩu của toàn thế giới Các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu phần lớn có quy mô nhỏ bé, còn gặp nhiều khó khăn về vốn, công nghệ, nhân lực có kinh nghiệm quản lý, làm ăn trên thương trường, các chính sách hỗ trợ, giúp đỡ chậm được triển khai, không đồng bộ, ít hiệu quả
Kim ngạch xuất khẩu thời gian qua tăng nhanh nhưng chưa vững chắc Các mặt hàng xuất khẩu dễ bị tác động khi gặp rào cản thương mại của các thị trường nhập khẩu như các loại thuế chống bán phá giá, các rào cản qui định về kỹ thuật…
Trang 20Hàng xuất khẩu của Việt Nam đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ bị áp thuế chống bán phá giá do các ngành xuất khẩu mang tính tập trung quá lớn về mặt thị trường, trong khi sản xuất trong nước chủ yếu là hoạt động sản xuất gia công và xuất khẩu hàng nguyên liệu nông sản thô, ít qua chế biến còn chiếm tỉ trọng cao nên giá cả hàng hoá rẻ hơn cũng là một yếu tố khiến hàng của Việt Nam dễ bị kiện Đồng thời, tính tự chủ và tính liên kết của doanh nghiệp Việt Nam không cao cũng dẫn đến việc dễ dàng bị thua trong các vụ kiện bán phá giá Như trong
vụ kiện bán phá giá cá tra, basa tại thị trường Hoa Kỳ trước đây, do doanh nghiệp không đồng nhất trong việc giải quyết vụ kiện, một số hợp tác cùng Ban điều tra, nhưng một số doanh nghiệp lại từ chối cung cấp thông tin Kết quả là những doanh nghiệp có tinh thần hợp tác bị áp mức thuế thấp hơn những doanh nghiệp không có thiện chí
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam vẫn còn hạn chế Theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), năm 2008 Việt Nam đã tụt hai bậc, xuống vị trí 70 trong bảng xếp hạng cạnh tranh toàn cầu 2008-2009 Bảng khảo sát, công bố ngày 8-10-2008 tại Geneva, xếp hạng tính cạnh tranh của 134 nền kinh tế toàn cầu dựa trên phân tích những dữ liệu có sẵn và bảng khảo sát ý kiến hơn 12.000 nhà lãnh đạo doanh nghiệp Theo đó, Việt Nam có 23 chỉ tiêu lợi thế và 90 chỉ tiêu bất lợi Ưu điểm cạnh tranh của Việt Nam tập trung ở tính hiệu quả của thị trường lao động (xếp hạng 47) nhờ có lợi thế về nhân công giá
rẻ Trong khi đó, những yếu tố bất lợi làm giảm tính cạnh tranh của Việt Nam là lạm phát, cơ sở hạ tầng không đồng bộ, trình độ lực lượng lao động không đồng đều, tham nhũng và các chính sách thiếu ổn định
Những hạn chế trên một phần là do cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện như: quá trình chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng công nghiệp hóa diễn ra còn chậm Tỷ trọng hàng hóa xuất khẩu là những sản phẩm thô hoặc mới sơ chế chiếm tỷ trọng khá cao Các mặt hàng có giá trị gia tăng còn thấp…
Theo số liệu thống kê, trong năm 2007 tỷ trọng hàng chế biến hoặc đã tinh chế đã nhích tăng so với hàng thô hoặc mới sơ chế Nhưng sang năm 2008,
Trang 21tình hình kinh tế thế giới gặp biến động lớn, kim ngạch xuất khẩu hàng thô hoặc
mới sơ chế tăng mạnh hơn so với các mặt hàng đã chế biến nhờ lợi thế về giá
trong các tháng đầu năm Cuối năm 2008, do tác động của cuộc khủng hoảng tài
chính, xuất khẩu hàng chế biến hoặc đã tinh chế tăng trưởng chậm lại làm giảm
tỷ trọng của nhóm hàng này trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Bảng 1.1: Tỷ lệ hàng chế biến trong xuất khẩu giai đoạn 2005-2008
2005 2006 2007 2008
Trị giá (1.000 USD)
Tỷ trọng (%)
Trị giá (1.000 USD)
Tỷ trọng (%)
Trị giá (1.000 USD)
Tỷ trọng (%)
Trị giá (1.000 USD)
Tỷ trọng (%)
khẩu nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2005-2008 đạt khoảng 25,5%/năm (trong khi
kim ngạch xuất khẩu hàng hóa nói chung là khoảng 20,5%/năm) Trong những
năm vừa qua, đặc biệt trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu và thu hẹp thị
trường xuất khẩu trong hai năm 2008 và 2009, vai trò của xuất khẩu nông sản
càng được đánh giá cao Nông sản xuất khẩu tăng trưởng mạnh đã trở thành động
lực thúc đẩy nông nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao, góp phần chuyển
đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, hình thành nhiều vùng chuyên canh hàng hóa Tuy
nhiên, nhìn về dài hạn trong một tương quan giữa cung xuất khẩu nông sản và
cầu nhập khẩu nông sản vẫn bộc lộ nhiều vấn đề đáng quan tâm Những yếu tố
Trang 22yếu kém căn bản về cơ cấu trong chuỗi giá trị: giá thành cao, sản phẩm thô, chưa
có sản phẩm mũi nhọn có giá trị gia tăng cao, thương hiệu yếu, phụ thuộc nhập khẩu nguyên liệu chế biến một số ngành hàng lớn… Chẳng hạn, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam luôn thấp hơn so với giá gạo của Thái Lan, Ấn Độ, Hoa Kỳ
và Pakistan So sánh khác, Việt Nam xuất khẩu gạo nhiều hơn Hoa Kỳ 21,5% về lượng nhưng lợi nhuận thu được lại ít hơn 11,3% Ngoài ra, rất có nhiều khả năng, một số ngành hàng xuất khẩu nông sản của Việt Nam đã tăng trưởng đến ngưỡng, việc tăng kim ngạch khó khăn hơn Nguyên nhân là do ngành nông nghiệp còn rất nhiều hạn chế bởi phần lớn nông sản xuất khẩu dưới dạng thô, giá trị gia tăng thấp, nhiều lô hàng không đạt được chất lượng cao do sản xuất phân tán, nhỏ lẻ, thị trường xuất khẩu lại thiếu ổn định, các nhà sản xuất chưa xây dựng được thương hiệu cho sản phẩm của mình, hoặc nếu đã có lại không giữ gìn được uy tín lâu dài Công tác dự báo, thông tin thị trường, giá cả chưa tốt Vì thế, đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường thế giới, nhiều mặt hàng của Việt Nam đã không thể đương đầu được, cộng thêm diễn biến giá cả loại mặt hàng này thường thay đổi rất nhanh, khó đạt được giá cao so với hàng công nghiệp nên tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu nông sản giảm là điều khó tránh khỏi
Một thực trạng đáng quan tâm nữa là các mặt hàng chế biến xuất khẩu hiện giá trị gia tăng còn thấp, các mặt hàng công nghiệp phần lớn vẫn dừng ở công đoạn gia công nên giá trị gia tăng của các mặt hàng chưa cao Các công đoạn như xây dựng thương hiệu, tiêu thụ, nghiên cứu và phát triển thương hiệu là những mắt xích mang lại giá trị gia tăng lớn nhất đều nằm trong tay các nước phát triển Như với hàng dệt may, đây là mặt hàng luôn nằm trong nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu không ngừng gia tăng qua các năm Hiện Việt Nam đứng vị trí thứ 9 trong top 10 các nước xuất khẩu hàng may mặc thế giới Nhưng tốc độ tăng trưởng của ngành dệt may Việt Nam vẫn còn rất thấp so với nhiều nước châu Á, chỉ khoảng 20% - 30% Trong khi đó, Trung Quốc đạt tăng trưởng 80%, Indonesia 48%… Nguyên nhân là do ngành dệt may của ta chủ yếu là gia công hàng hóa và xuất khẩu qua nước thứ ba, nên hàm lượng giá trị gia tăng còn thấp, thương hiệu sản phẩm dệt may chưa thực sự
Trang 23khẳng định được tên tuổi Trong chuỗi giá trị ngành dệt may, khâu gia công (sản xuất) chỉ chiếm 5 – 10% tỷ suất lợi nhuận Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, hàng FOB xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 20% - 30%, còn lại chủ yếu là gia công Ngay cả những sản phẩm FOB của Việt Nam hiện cũng rất “sơ khai” Sản xuất FOB "thật sự", doanh nghiệp phải tự thiết kế mẫu mã, chọn nguyên phụ liệu, chào hàng (mua đứt, bán đoạn) Nhưng trên thực tế, doanh nghiệp Việt Nam đang được nhà nhập khẩu chỉ định mua nguyên phụ liệu, may theo mẫu họ đưa ra
và được hưởng 5% - 10% trên giá trị của sản phẩm Các mặt hàng da giày, điện
tử, linh kiện máy tính xuất khẩu cũng trong tình trạng tương tự hàng dệt may
Lực lượng lao động giá rẻ dồi dào được xem là một trong những lợi thế cạnh tranh hiện nay của Việt Nam Tuy nhiên, xét về lâu dài đây là vấn đề đáng báo động Lao động giá rẻ đồng nghĩa với chất lượng thấp, kéo theo mức trả lương cho người lao động thấp; chất lượng lao động thấp sẽ không đáp ứng được
xu thế đổi mới, sử dụng công nghệ sản xuất, quản lý ngày càng cao của doanh nghiệp Nếu coi lao động giá rẻ là một lợi thế so sánh là sai lầm vì yếu tố quyết định đến lợi nhuận của doanh nghiệp lại chính là năng suất lao động Hiện nay, năng suất lao động của người dân Nhật Bản đang cao hơn Việt Nam 135 lần, Thái Lan cao gấp 30 lần, Malaysia gấp 20 lần và Indonesia gấp 10 lần Chi phí
về lao động trên giá trị mới của Việt Nam rất cao, bằng 47,38%, tương đương với Nhật Bản và Hoa Kỳ Chẳng hạn, trong lĩnh vực dệt thoi, một công nhân Việt Nam đứng 10 máy, hiệu suất là 80%, trong khi một công nhân Đài Loan đứng 30
- 40 máy, hiệu suất 90% Năng suất lao động trong ngành dệt của Việt Nam chỉ bằng 90% của Trung Quốc, 85% của Thái Lan Khi sử dụng lao động giá rẻ, doanh nghiệp có thể tiết giảm được một phần trong quỹ tiền lương Nhưng về lâu dài, để tiếp tục phát triển, doanh nghiệp sẽ phải bỏ chi phí để đào tạo nhân viên
và so với các nước, chi phí này của lao động Việt Nam cao hơn bình quân từ
15-20 lần Và đến lúc này, lợi thế về giá nhân công rẻ đã bị triệt tiêu hoàn toàn
Với cơ cấu xuất khẩu này, Việt Nam đang phải đối mặt với thực trạng xuất khẩu có hiệu quả kinh tế chưa cao Bởi vì: Thứ nhất, tính co giãn về thu nhập bình quân đầu người của cầu đối với những sản phẩm nông sản thực phẩm
Trang 24và nguyên liệu là thấp hơn so với hàng công nghiệp chế biến và nhiên liệu Thứ hai, tỷ lệ tăng dân số của các nước phát triển trong thời gian gần đây đạt ở mức thấp, cho nên nhu cầu tăng thêm có thể mong đợi từ các thị trường này là không nhiều Thứ ba, tính co giãn về giá cả của cầu đối với hầu hết các sản phẩm sơ chế phi nhiên liệu là rất thấp làm cho tổng doanh thu xuất khẩu hàng nông sản bị sụt giảm Thứ tư, sự phát triển của các loại nguyên liệu, sản phẩm tổng hợp thay thế đang tạo ra áp lực cạnh tranh mạnh mẽ và gây ra hiện tượng giảm giá đối với những nguyên liệu, hàng hóa xuất khẩu truyền thống Thứ năm, việc tăng cường bảo hộ hàng nông sản ở các nước phát triển đang gây cản trở rất đáng kể đến sự
mở rộng xuất khẩu nhóm hàng nông sản của các nước đang phát triển
Như vậy, khả năng tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sẽ không thể giữ được mức tăng trưởng cao như các năm trước đây, hiệu quả kinh tế mang lại bị hạn chế do hàm lượng giá trị gia tăng trong hàng xuất khẩu không cao nếu không
có sự chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu hợp lý hơn Khả năng cạnh tranh dựa vào các lợi thế sẵn có như lao động, đất đai, tài nguyên thiên nhiên sẽ ngày một yếu đi do sự khai thác quá mức Chính vì vậy, để xuất khẩu tiếp tục đóng góp vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tế quốc dân, việc phải tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu trong bối cảnh hội nhập quốc tế là vô cùng cần thiết
1.3 Những nhân tố chính tác động đến xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam thời gian qua
Việc chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu chịu tác động của nhiều nhân tố gồm khả năng sản xuất của nền kinh tế Việt Nam, nhu cầu tiêu dùng của thị trường thế giới và xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại toàn cầu
Khả năng sản xuất của quốc gia
Sản xuất phải phát triển thì mới có sản phẩm để xuất khẩu Trình độ sản xuất và cơ cấu của nền kinh tế là một nhân tố quan trọng quyết định đến cơ cấu hàng xuất khẩu Với những nước đang phát triển có lợi thế về lao động và tài nguyên thiên nhiên, cơ cấu kinh tế của các nước này chủ yếu là nông nghiệp nên
cơ cấu xuất khẩu cũng tập trung vào các loại nông sản Đối với các nước phát
Trang 25triển có ưu thế về vốn và công nghệ, cơ cấu kinh tế tập trung vào khu vực công nghiệp và dịch vụ nên cơ cấu xuất khẩu hàng hóa cũng thiên về sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao
Đối với Việt Nam, trình độ khoa học, công nghệ, năng suất lao động còn thấp dẫn đến giá thành nhiều sản phẩm của Việt Nam cao hơn so với khu vực và thế giới Khả năng khai thác nguồn lực và tiềm năng trong nước chưa được tốt Đầu tư của Nhà nước chưa tập trung, bị thất thoát khá nhiều, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên chưa hợp lý Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, chất lượng thấp Sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, nhất là cổ phần hóa chưa đạt yêu cầu đề ra Chất lượng nguồn nhân lực thấp, lao động qua đào tạo còn thiếu, lao động nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ cao Chính vì vậy, cơ cấu hàng xuất khẩu hiện nay của Việt Nam vẫn nghiêng về các mặt hàng thô hoặc mới sơ chế như các mặt hàng nông sản, dầu thô
Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, lối làm ăn theo kiểu manh mún, nhỏ lẻ đã ngấm sâu vào tâm lý của nhiều doanh nghiệp Việt Nam Hậu quả là rất nhiều cơ hội lớn đã bị bỏ qua do đối tác nước ngoài cần đặt lượng hàng lớn nhưng doanh nghiệp không có khả năng đáp ứng, trong khi lại không liên kết với doanh nghiệp khác cùng làm Không chỉ bỏ lỡ các đơn hàng lớn mà sự thiếu liên kết còn khiến giá hàng hóa xuất khẩu không được cao do sự cạnh tranh không lành mạnh về giá giữa các doanh nghiệp với nhau Đây là một điểm yếu của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, là một trong các nhân tố làm giảm sức cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thương trường Quốc tế
Những yếu tố này đã và đang có những ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam thời gian qua
Nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng của thị trường thế giới
Tăng trưởng xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào tăng trưởng kinh tế thế giới Trong khi đó, thị trường thế giới lại đầy biến động và thay đổi khó lường Việc
Trang 26bám sát các xu hướng chuyển dịch nhu cầu tiêu dùng của thị trường thế giới sẽ giúp Việt Nam đưa ra những đối sách phù hợp hơn trong việc xác định cơ cấu xuất khẩu hợp lý
Thị trường hàng hóa thế giới ngày càng đa dạng và chia thành nhiều phân khúc Sự toàn cầu hóa và tiến bộ khoa học công nghệ một mặt thúc đẩy quá trình tiêu chuẩn hóa sản phẩm và hình thành thương hiệu toàn cầu, mặt khác nó cũng làm cho thị trường bị chia thành nhiều phân khúc Sự phần đoạn này không phải do sự khác biệt về địa lý và các rào cản thương mại mà là do thói quen của người tiêu dùng và một phần là do sự tác động của tình hình kinh tế thế giới Hiện nay, trên thị trường thế giới, tất cả các loại hàng hóa đều được phân khúc,
có nhiều cách phân khúc thị trường đối với một sản phẩm như: phân khúc theo lứa tuổi tiêu dùng, phân khúc theo phẩm cấp, theo giới tính, theo thu nhập, theo vùng lãnh thổ … Nhìn chung, việc phân khúc khiến thị trường ngày càng trở nên rộng lớn và mang lại nhiều cơ hội hơn cho các nhà xuất khẩu
Nhu cầu của thị trường là một yếu tố động, luôn luôn thay đổi theo thời gian và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như văn hóa, chính trị, kinh tế, thị hiếu… Tuy nhiên, dù có sự thay đổi như thế nào đi nữa thì điều quan trọng là các nhà xuất khẩu có thể tạo ra được sản phẩm phù hợp với thị trường không mà thôi Ví dụ, khi tình hình kinh tế tăng trưởng tốt, thu nhập của người tiêu dùng tăng lên thì khi đó, nhu cầu đối với các sản phẩm chất lượng cao cũng sẽ tăng theo Nhưng khi tình hình kinh tế khủng hoảng như trong giai đoạn vừa qua thì thị hiếu tiêu dùng sẽ chuyển hướng sang những sản phẩm tầm trung và giá rẻ
Việc tạo ra hàng xuất khẩu phù hợp với sự thay đổi nhu cầu của thị trường đồng nghĩa với việc tìm ra cơ cấu hàng xuất khẩu hợp lý Như vậy, việc dịch chuyển cơ cấu hàng xuất khẩu không phải chỉ dựa vào những gì Việt Nam
có mà phải dựa theo sự chuyển dịch nhu cầu của thị trường
Xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại toàn cầu
Toàn cầu hoá là một xu thế được hình thành từ lâu, hiện đang phát triển mạnh và lan rộng ra trên toàn thế giới Quá trình toàn cầu hoá kinh tế tạo cơ hội
Trang 27để các quốc gia có thể tận dụng và phát huy lợi thế so sánh của mình, thúc đẩy và duy trì tăng trưởng bền vững và góp phần nâng cao phúc lợi xã hội nhờ việc phân bổ các nguồn lực có hiệu quả hơn Bên cạnh đó, toàn cầu hoá là một quá trình phân chia lại thị trường thế giới bằng biện pháp kinh tế Mức độ cạnh tranh trên thị trường sẽ ngày càng gay gắt do thực hiện những cam kết quốc tế về mở cửa thị trường Với xu thế này, các công ty xuyên quốc gia không ngừng cấu trúc lại, hình thành những tập đoàn kinh tế khổng lồ Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay, để chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu sang các sản phẩm công nghiệp thì việc hợp tác với các công ty đa quốc gia là cơ hội
Các thỏa thuận về tự do hóa thương mại tạo cơ hội tiếp cận thị trường ngày càng rộng lớn cho các nước đang phát triển Với nông nghiệp, việc giảm thuế quan, loại bỏ dần trợ cấp xuất khẩu và hỗ trợ trong nước đối với hàng nông sản sẽ tạo điều kiện thúc đẩy thương mại nông sản trên toàn thế giới Đây là cơ hội cho các nước đang phát triển như Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản sang thị trường các nước phát triển Tuy nhiên, để bảo hộ hàng nông sản trong nước, nhiều quốc gia sẽ đưa ra những biện pháp bảo hộ mới với nhiều hình thức khác nhau như rào cản về vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường… Đây cũng là thách thức đặt ra đối với các nhà xuất khẩu Việt Nam Với sản phẩm công nghiệp, mức thuế quan giảm mạnh cũng là cơ hội đối với các nhà xuất khẩu Nhưng tình trạng bảo hộ lại có xu hướng gia tăng với những rào cản ngày càng tinh vi
Xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại toàn cầu là một trong những nhân tố quan trọng tác động đến cơ cấu hàng xuất khẩu Độ mở của nền kinh tế khiến các doanh nghiệp xuất khẩu nhìn thấy thách thức và cơ hội chuyển dịch cơ cấu đầu tư cho xuất khẩu các mặt hàng có giá trị cao, đặc biệt là xuất khẩu dịch vụ
Như vậy, khi nghiên cứu xây dựng cơ cấu hàng xuất khẩu cần căn cứ vào tất cả các yếu tố nêu trên, trong đó, mọi yếu tố đều có vai trò quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng xuất khẩu trong thời gian tới Hơn thế nữa, cũng cần học hỏi kinh nghiệm xây dựng cơ cấu hàng xuất khẩu của các nước đã từng trải qua giai đoạn phát triển như Việt Nam hiện nay
Trang 281.4 Quan điểm, chính sách đã ban hành thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng chủ lực
1.4.1 Quan điểm chiến lược, mục tiêu phát triển
Xuất khẩu đóng một vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế trong những năm vừa qua và trong những năm tiếp theo Do đó, đẩy mạnh xuất khẩu là quan điểm chiến lược của Chính phủ Việt Nam Tại Đại hội X, Đảng đã đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng gấp 2,1 lần so với năm 2000; mức tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5-8%/năm và phấn đấu đạt trên 8%/năm Đối với hoạt động xuất khẩu, chiến lược phát triển kinh tế xã hội
Việt Nam đã khẳng định “nỗ lực gia tăng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, tạo công ăn việc làm, thu ngoại
tệ, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, gia tăng sản phẩm chế biến và chế tạo, áp dụng công nghệ mới để tăng sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, mở rộng và đa dạng hóa thị trường và phương thức kinh doanh, hội nhập thắng lợi vào kinh tế khu vực và thế giới Chớp thời cơ thuận lợi tạo ra sự phát triển đột biến, nhanh chóng rút ngắn khoảng cách giữa kinh tế nước ta và các nước trong khu vực” Đây là căn cứ
quan trọng, là kim chỉ nam cho việc chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu của nước ta
Căn cứ vào quan điểm đó, Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) đã xây dựng chiến lược phát triển xuất nhập khẩu và xác định định mục tiêu tổng quát của hoạt động xuất khẩu là phát triển xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng cao
và bền vững Đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh, đồng thời tích cực phát triển các mặt hàng có tiềm năng thành những mặt hàng xuất khẩu chủ lực mới, theo hướng nâng cao hiệu quả xuất khẩu Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao; tăng sản phẩm chế biến, chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ
và chất xám cao, giảm dần tỷ trọng hàng xuất khẩu thô
Ngày 30 tháng 6 năm 2006 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
số 156/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006-2010 Theo đó, quan điểm phát triển trong giai đoạn này là: “Tích cực thực hiện chủ trương khuyến khích xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ nhằm góp phần tăng trưởng
Trang 29GDP, phát triển sản xuất, thu hút lao động phù hợp các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới và các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên Gắn kết thị trường trong nước với thị trường ngoài nước theo hướng: phát triển thị trường trong nước để tạo nguồn hàng xuất khẩu, đồng thời mở rộng thị trường xuất khẩu
để kích thích sản xuất và thị trường trong nước; mở rộng và đa dạng hoá thị trường xuất khẩu đi đôi với việc mở rộng và đẩy mạnh khai thác thị trường trong nước để hỗ trợ, giảm rủi ro cho xuất khẩu khi thị trường thế giới biến động Khuyến khích, huy động mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế và đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài để phát triển sản xuất hàng xuất khẩu, từng bước tạo ra các sản phẩm có thương hiệu đáp ứng yêu cầu của thị trường thế giới Phát triển xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững Đẩy mạnh đầu tư phát triển sản xuất cao mặt hàng xuất khẩu có lợi thế cạnh tranh, có khả năng chiếm lĩnh thị phần đáng kể trên thị trường thế giới Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao; sản phẩm chế biến, chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, giảm dần tỷ trọng hàng xuất khẩu thô; đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ Cụ thể:
Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá bình quân 17,5%/năm và đến năm 2010 đạt khoảng 72,5 tỷ USD
Đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ cả nước bình quân 16,3%/năm và đến năm 2010 đạt khoảng 12 tỷ USD
Đến năm 2010, xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản chiếm khoảng 13,7%, nhóm hàng nhiên liệu - khoáng sản chiếm khoảng 9,6%, nhóm hàng công nghiệp và công nghệ cao chiếm khoảng 54,0% và nhóm hàng hoá khác chiếm 22,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá Về cơ cấu địa lý, xuất khẩu hàng hoá sang thị trường châu Á chiếm khoảng 45,0%, thị trường châu Âu chiếm khoảng 23%, thị trường châu Mỹ chiếm khoảng 24%, thị trường châu Đại Dương chiếm khoảng 5,0% và thị trường khác chiếm khoảng 3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá
Cùng với đó, Chính phủ cũng đã có Quyết định số 73/2006/QĐ-TTg phê duyệt "Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam theo các
Trang 30vùng lãnh thổ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020", nhằm định hướng lâu dài phát triển ngành công nghiệp bao gồm sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp Theo đó, cơ cấu ngành công nghiệp sẽ chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp chế biến, đạt 87% - 88% vào năm 2020 Tỷ lệ hàng công nghiệp chế tạo trong xuất khẩu đạt 70% - 75% Tỷ trọng nhóm sử dụng công nghệ cao đạt 40% - 45% Giá trị xuất khẩu hàng công nghiệp đạt 85% - 90% giá trị xuất khẩu của cả nước.
1.4.2 Các chính sách đã ban hành thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam
Các chính sách của Chính phủ từ trước đến nay luôn tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp xuất khẩu Các chính sách hỗ trợ xuất khẩu của nước ta hiện nay cũng đang nhằm vào mục tiêu chiến lược là thay đổi cơ cấu trong xuất khẩu theo hướng chuyển dần sang xuất khẩu các nhóm hàng chế tạo có giá trị tăng cao
và tăng hiệu quả kinh tế và chất lượng của xuất khẩu Nhà nước đã ban hành các
cơ chế, chính sách quản lý và khuyến khích xuất khẩu đối với những ngành hàng
ưu tiên xuất khẩu Các chính sách khuyến khích xuất khẩu đã ban hành gồm:
Một số biện pháp đối với tín dụng xuất khẩu và đầu tư:
+ Bổ sung thêm nguồn vốn cho Ngân hàng phát triển để cho các doanh nghiệp được vay vốn tín dụng xuất khẩu Cơ cấu nguồn vốn tín dụng theo hướng
ưu tiên cho tín dụng xuất khẩu;
+ Sửa đổi, bổ sung Nghị định số 151/2006/NĐ- CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ theo hướng mở rộng danh mục mặt hàng được hưởng chính sách tín dụng xuất khẩu là gạo, dệt may, giày dép, sản phẩm nhựa, xe đạp, cao su, nhóm hàng cơ khí, sắt thép, các sản phẩm từ gang thép, VLXD, túi xách, vali, ôdù…
+ Rà soát quy trình, thủ tục và thời hạn cấp tín dụng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vay vốn
Hiện nay chính sách tín dụng xuất khẩu và đầu tư hiện hành được quy định tại Nghị định số 151/2006/NĐ- CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ và quy định tại Thông tư số 69/2007/TT-BTC ngày 25/5/2007 của Bộ Tài chính Theo
đó, Ngân hàng phát triển thực hiện hỗ trợ cho các đối tượng gồm các doanh
Trang 31nghiệp, tổ chức kinh tế trong nước có hợp đồng xuất khẩu hoặc các tổ chức nước ngoài nhập khẩu hàng hoá thuộc diện có vay vốn, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu
Vì vậy, Ngân hàng phát triển không chỉ thực hiện hình thức tín dụng xuất khẩu
áp dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu mà còn thực hiện cả hình thức tín dụng đầu tư thông qua các hình thức: cho vay đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư, hỗ trợ sau đầu tư cho các doanh nghiệp có dự án thuộc diện vay vốn đầu tư quy định tại Nghị định số 151/NĐ- CP Các doanh nghiệp sản xuất vẫn có thể vay vốn ưu đãi của Ngân hàng phát triển khi có các dự án thuộc diện vay vốn đầu tư của Nhà nước
Từ năm 2001, Chính phủ có chủ trương cho vay tín dụng hỗ trợ xuất khẩu
từ Quỹ hỗ trợ phát triển Theo thoả thuận gia nhập WTO, Thủ tướng Chính phủ
đã có quyết định bãi bỏ quỹ hỗ trợ phát triển.Và ngay trong quý 4 năm 2008, Bộ Tài chính cùng các bộ liên quan đã trình Chính phủ việc điều chỉnh, thay đổi các chính sách, cơ chế hiện hành nhằm thúc đẩy phát triển xuất khẩu phù hợp với các
cam kết trong WTO Tuy nhiên, số liệu xuất khẩu năm 2008 cho thấy việc xoá
bỏ trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp thay thế nhập khẩu không ảnh hưởng lớn đến sản xuất và xuất khẩu của các doanh nghiệp
- Về biện pháp bảo hiểm xuất khẩu: Đây là một biện pháp không vi phạm quy định của WTO đã được áp dụng tại nhiều nước phát triển trên Thế giới từ nhiều năm qua Bảo hiểm xuất khẩu được hiểu như một hình thức hỗ trợ của Chính phủ thông qua ngân hàng, công ty bảo hiểm cung cấp các dịch vụ tín dụng, bảo hiểm nhằm hỗ trợ cho các nhà xuất khẩu trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu Bảo hiểm xuất khẩu khuyến khích các nhà xuất khẩu tiến hành các giao dịch thương mại tại các thị trường chịu nhiều rủi ro nhằm mở rộng thị trường, đa dạng hoá sản phẩm, thúc đẩy xuất khẩu một cách hiệu quả nhất Khi được áp dụng, đây sẽ là một biện pháp thay thế các biện pháp bị cấm của Quỹ hỗ trợ xuất khẩu nhằm hỗ trợ doanh nghiệp một cách thiết thực
- Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia có hiệu lực từ cuối năm 2005 theo Quyết định 279/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ được xây dựng theo định hướng về thị trường, ngành hàng xuất khẩu của chiến lược xuất khẩu thời
Trang 32kỳ 2006-2010 Mỗi năm, Nhà nước đầu tư cho chương trình này từ hàng chục đến hàng trăm tỉ đồng (năm 2009, kinh phí là 172 tỉ đồng) nhằm hỗ trợ cho xuất khẩu
Chính sách thuế:
Từ cuối năm 2003, thuế xuất khẩu của hầu hết các hàng hoá thông thường
đã được bãi bỏ nhằm khuyến khích mở rộng xuất khẩu (trừ một số tài nguyên không thể tái tạo và nguyên vật liệu quý hiếm) Ngoài việc được miễn thuế xuất khẩu, các nhà xuất khẩu còn được miễn thuế giá trị gia tăng (VAT) và được hưởng những ưu đãi về thuế thu nhập, số lượng ưu đãi tuỳ thuộc vào mức độ định hướng xuất khẩu và định hướng phát triển vùng (ví dụ vùng nông thôn và khu công nghiệp) Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được hưởng nhiều ưu đãi thuế đặc biệt, thường gồm miễn thuế nhập khẩu máy móc và tư liệu sản xuất
Từ yêu cầu chung cần thiết phải có một hệ thống luật pháp riêng biệt quy định chi tiết, cụ thể về cách tính thuế cũng như phương hướng thực hiện quản lý
về thuế xuất nhập khẩu, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14/6/2005 đã ra đời kèm theo đó là một số văn bản hướng dẫn có liên quan như: Nghị định số 149/2005/NĐ-CP ngày 8/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Nghị định số 66/2002/NĐ-CP ngày 1/7/2002 của Chính phủ quy định về định mức hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh và quà biếu, tặng nhập khẩu được miễn thuế; thông tư số: 59/2007/TT-BTC Hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Từ đó, ta có thể thấy hệ thống thuế quan xuất khẩu Việt Nam đã và đang đi theo chuẩn mực chung của thế giới và phù hợp với điều kiện mới của đất nước trong quá trình hội nhập
Những ưu đãi và khuyến khích về thuế đã có tác động tích cực tới khả năng
cạnh tranh của hàng xuất khẩu đặc biệt việc đánh thuế xuất khẩu 0% đối với
hầu hết các loại hàng hoá xuất khẩu đã góp phần vào việc nâng cao khả năng
cạnh tranh về giá cho hàng xuất khẩu Việt Nam
Trang 33Gia nhập WTO, hệ thống luật pháp thương mại của Việt Nam đã từng bước được bổ sung, hoàn chỉnh và đến nay đã đáp ứng yêu cầu của WTO Việt Nam đã điều chỉnh và ban hành một loạt văn bản pháp luật như Luật Doanh nghiệp Ban hành Pháp lệnh về đối xử Tối huệ quốc MFN và đối xử quốc gia
NT, Nhìn chung, tất cả các luật lệ điều tiết trong lĩnh vực kinh tế, thương mại đến nay đều đã được bổ sung, điều chỉnh, sửa đổi
Đổi mới thương mại của Việt Nam được thực hiện ở 3 mảng lớn: Các công cụ chính sách thương mại; Quyền kinh doanh ngoại thương và tự do hoá cơ chế quản lý ngoại hối
* Các công cụ chính sách thương mại
Được điều chỉnh, bổ sung, xây dựng mới cho phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường và các cam kết quốc tế của Việt Nam Năm 2003, Việt Nam đã ban hành Biểu thuế mới tuân thủ theo nguyên tắc phân loại HS của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) và sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã có biểu thuế phù hợp với cam kết khi gia nhập WTO
Việt Nam cam kết sẽ miễn, giảm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trên cơ sở không phân biệt đối xử và sẽ không gắn việc miễn, giảm thuế với các yêu cầu về xuất khẩu hay nội địa hoá (Bởi việc miễn, giảm thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu dựa trên thành tích xuất khẩu hoặc tỷ lệ nội địa hoá bị coi là trợ cấp và bị cấm theo quy định của WTO)
Các hàng rào kỹ thuật: Các hàng rào của Việt Nam trong các lĩnh vực này như các quy định về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ sinh thái, bảo
vệ môi trường và đa dạng sinh học, bảo vệ an ninh quốc gia cũng như chống gian lận thương mại đều phù hợp với các quy định của WTO và các Công ước quốc tế
mà Việt Nam cam kết Các quy định liên quan tới nhãn mác hàng hoá cũng vậy, không có mục đích hạn chế xuất khẩu và không trái với quy định của WTO Tiêu chuẩn môi trường: Nhìn chung, các tiêu chuẩn và quy định về môi trường liên quan đến thương mại của Việt Nam trong Luật Bảo vệ môi trường (ban hành năm 1993) với nhiều thông tư, quy định khác không ảnh hưởng, bóp
Trang 34méo thương mại và được áp dụng phù hợp với các quy định của quốc tế và các điều ước quốc tế về môi trường mà Việt Nam tham gia
Các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS): Luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam đã được Quốc hội Việt nam bổ sung và hoàn chỉnh phù hợp với mọi quy định của Hiệp định TRIPS
* Quyền kinh doanh ngoại thương không ngừng được mở rộng
Kể từ khi gia nhập WTO, Nhà nước Việt Nam đã dành quyền kinh doanh đầy đủ cho tất cả các cá nhân và doanh nghiệp nước ngoài (kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) từ ngày 01/01/2007, ngoại trừ đối với một số sản phẩm chịu sự điều chỉnh của cơ chế “Thương mại nhà nước” (như xăng dầu, thuốc lá điếu, xì gà, băng đĩa hình, báo, tạp chí) và một số mặt hàng nhạy cảm khác mà Việt Nam chỉ cho phép sau một thời gian chuyển đổi (như gạo và dược phẩm, phải tới ngày 01/01/2011) Quyền kinh doanh đầy đủ dành cho các cá nhân và doanh nghiệp nói trên bao gồm quyền được bán sản phẩm nhập khẩu cho mọi cá nhân hoặc doanh nghiệp có quyền phân phối sản phẩm đó tại Việt Nam
Doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam được đăng ký quyền xuất nhập khẩu tại Việt Nam phù hợp thông lệ quốc tế
* Tự do hoá cơ chế quản lý ngoại hối
Mục tiêu chính của chính sách tiền tệ của Việt Nam là ổn định giá trị đồng tiền của Việt Nam, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội
Trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, trên nền tảng cơ chế tỷ giá đã lựa chọn, việc điều hành chính sách tỷ giá phải theo hướng ngày càng linh hoạt hơn NHNN đang thực thi lộ trình linh hoạt hóa tỷ giá kể từ năm 2004 qua nhiều bước Trước hết là bãi bỏ các trần cố định về tỷ giá kỳ hạn để thay bằng chênh lệch lãi suất (tháng 5-2004) Tiếp đến là thừa nhận tính tự do chuyển đổi của các ngoại tệ mạnh, cho phép chuyển đổi giữa các ngoại tệ không cần chứng
từ, chính thức áp dụng quyền chọn ngoại tệ (tháng 11-2004)
Trang 35Các ngân hàng thương mại tiến hành thí điểm quyền chọn USD và tiền đồng trong điều kiện được tự do thỏa thuận phí quyền chọn (tháng 6-2005) Bỏ biên độ giao dịch USD tiền mặt, cho thí điểm cơ chế mua bán ngoại tệ mặt theo giá thỏa thuận (tháng 7-2006) Gần đây, Ngân hàng Nhà nước đã có động thái được đánh giá là khá tích cực, đó là mở rộng biên độ dao động tỷ giá lên 5% Thực chất, đây
là một hình thức điều chỉnh tỷ giá đồng nội tệ có kiểm soát một cách từ từ Động thái này làm giá trị đồng Việt Nam gần sát hơn với giá trị thực mà không gây biến động lớn đối với nền kinh tế
Theo mục 2, Điều 39 Nghị định 160/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối thì cơ chế tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý do NHNN Việt Nam xác định trên cơ sở rổ tiền tệ của các nước có quan hệ thương mại, vay, trả nợ, đầu tư với Việt Nam phù hợp với mục tiêu kinh tế vĩ mô trong từng thời kỳ Như vậy, trong bối cảnh kinh tế hiện nay,
tỷ giá VND được xác định dựa trên rổ tiền tệ (B- Basket) thay vì chỉ dựa vào USD
Năm 2008 và năm 2009, thị trường ngân hàng trong nước đã trải qua những biến động lớn về lãi suất, tỷ giá Thực hiện chính sách tài chính tiền tệ linh hoạt, hiệu quả, ngành ngân hàng đã góp phần quan trọng trong việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội Tính chung cả năm
2008, Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần tăng và 5 lần giảm lãi suất cơ bản Lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu cũng có tần suất điều chỉnh tương ứng Cơ chế điều hành tỷ giá ghi nhận những điều chỉnh chưa từng có trong lịch sử Biên độ
có 3 lần nới rộng, từ +/-0,75% lên +/-3%; tỷ giá bình quân liên ngân hàng có 2 lần điều chỉnh mạnh, vào tháng 6 và cuối tháng 12
1.5 Kinh nghiệm xây dựng cơ cấu hàng xuất khẩu của một số nước có điều kiện tương đồng và bài học đối với Việt Nam
1.5.1 Cơ cấu hàng xuất khẩu của Trung Quốc
Kể từ khi bắt đầu cải cách kinh tế, cơ cấu hàng xuất khẩu của Trung Quốc
có sự thay đổi lớn Kể từ năm 1990, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng sơ chế
Trang 36của Trung Quốc có sự sụt giảm rõ rệt, từ mức 50,5% trong năm 1985 xuống còn 25,6% năm 1990 và giảm xuống chỉ còn 7,9% năm 2003 Trong khi đó tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghiệp thành phẩm có sự tăng trưởng vượt bậc, từ mức 49,5% năm 1985 lên mức 71,1% năm 1990 và đạt tới 92,1% năm 2003
Năm 1986, xuất khẩu hàng dệt của Trung Quốc đã vượt qua xuất khẩu dầu
mỏ, điều này cho thấy sự thay đổi từ xuất khẩu tài nguyên sang xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều lao động Xuất khẩu hàng dệt chiếm 60% tổng xuất khẩu vào năm 1993 Đến năm 1995, xuất khẩu máy móc và sản phẩm điện tử đã vượt xuất khẩu sản phẩm dệt, điều đó chỉ rõ sự chuyển đổi từ xuất khẩu các sản phẩm
sử dụng nhiều lao động truyền thống sang các sản phẩm sử dụng nhiều lao động trung gian Xuất khẩu máy móc và đồ điện tử chiếm một nửa tổng giá trị xuất khẩu năm 2000, trong đó các sản phẩm liên quan đến công nghệ thông tin tăng lên trong tổng xuất khẩu, trong khi tỷ trọng sản phẩm công nghiệp nhẹ trong tổng
giá trị xuất khẩu giảm Hơn thế nữa, sản phẩm máy móc và điện tử là qua hợp
đồng phụ mang tính quốc tế, điều đó cho thấy các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã trở thành lực lượng chính đóng góp cho sự tăng trưởng ngoại thương của Trung Quốc
Xuất khẩu Trung Quốc từ đầu năm 2009 đã giảm do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trong năm 2008 đã khiến nhu cầu nhập khẩu từ các khu vực thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản thu hẹp đáng kể Trong khi đó, từ đầu năm Trung Quốc lại có chiến lược tăng nhập khẩu một số mặt hàng chủ chốt như cao su, than đá, dầu, quặng kim loại…
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan Trung Quốc, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc trong 8 tháng đầu năm 2009 đạt 1.338,66 tỷ USD, giảm 22,4% so với cùng kỳ năm 2008 Trong đó, xuất khẩu đạt 730,74 tỷ USD, giảm 22,2%; nhập khẩu đạt 607,92 tỷ USD, giảm 22,7% Tổng xuất siêu đạt 122,82 tỷ USD, giảm 19%
Trong 8 tháng đầu năm 2009, kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng tập trung tỷ lệ lao động cao đã giảm ít hơn so với tổng thể Cụ thể, xuất khẩu quần áo
Trang 37và linh phụ kiện đạt 67,46 tỷ USD, giảm 10,4% so với cùng kỳ 2008; giày dép đạt 18,33 tỷ USD, giảm 5,8%; dụng cụ gia đình đạt 15,66 tỷ USD, giảm 9,4%; nhựa đạt 9,01 tỷ USD, giảm 8,1%; valy, túi xách đạt 8,03 tỷ USD, giảm 9,4%
Tuy nhiên, cơ cấu hàng xuất khẩu của Trung quốc vẫn còn tồn tại như:
- Cơ cấu xuất khẩu của Trung Quốc tương tự của các nước có giai đoạn phát triển giống với Trung Quốc ở châu Á Các nước châu Á ở giai đoạn đầu phát triển kinh tế, đều sản xuất hàng hoá sử dụng nhiều tài nguyên và sức lao động Xu hướng này làm cho cạnh tranh thương mại hàng hoá chế tạo sử dụng nhiều nguồn tài nguyên và sử dụng nhiều lao động trên thị trường quốc tế ngày càng gay gắt hơn, đặc biệt là với các nước đang phát triển- về cơ bản có cơ cấu thương mại xuất khẩu tương tự Trung Quốc Hiện đang có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các ngành xuất khẩu của Trung Quốc và các nước Đông Nam Á Các sản phẩm chủ yếu gồm: sản phẩm dệt, ngành may mặc và ngành chế tạo thiết bị điện cơ
- Mức độ phụ thuộc vào xuất khẩu tương đối cao và sự thay đổi điều kiện thương mại do nó gây ra Trung Quốc là một nước đông dân, lâu nay dựa vào xuất khẩu một số ít hàng hoá tài nguyên chủ lực và hàng hoá sử dụng nhiều lao động Sự cạnh tranh quốc tế gay gắt đã ảnh hưởng đến điều kiện thương mại của nước này Ví dụ, một số sản phẩm có sức cạnh tranh của Trung Quốc có thể gây ảnh hưởng tới giá cả trên thị trường quốc tế, để hoàn thành nhiệm vụ xuất khẩu thu ngoại tệ, một số công ty ngoại thương của Trung Quốc không tính đến hiệu quả kinh tế, cạnh tranh để thu mua hàng hoá ở thị trường trong nước, dẫn đến giá thành xuất khẩu tăng
Nhìn chung, cơ cấu xuất khẩu hàng hoá của Trung Quốc đã có những sự chuyển dịch nhất định Để tiếp tục đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu, Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra một số định hướng trong tương lai:
- Phát triển hợp lí ngành sử dụng nhiều sức lao động có sức cạnh tranh rõ rệt trên thị trường quốc tế Lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh của Trung Quốc chủ yếu tập trung ở các ngành sử dụng nhiều lao động, phát triển ngành sử dụng
Trang 38nhiều sức lao động là lợi thế trời cho, và rất có lợi cho việc giải quyết các vấn đề thiếu vốn Vì vậy, Chính phủ phải tăng đầu tư vào ngành sử dụng nhiều sức lao động, đặc biệt là đầu tư cho các sản phẩm tập trung nhiều kĩ thuật trong ngành sử dụng nhiều lao động, giúp doanh nghiệp đổi mới trang bị kĩ thuật, tăng cường thực lực cạnh tranh Nhanh chóng thúc đẩy chuyển hướng các ngành sử dụng nhiều lao động từ khu vực ven biển sang khu vực nội địa Đổi mới cơ cấu tổ chức ngành nghề, phát huy đầy đủ hiệu quả kinh tế và hiệu quả cạnh tranh
- Đầu tư vào các ngành kĩ thuật mới mang tính chiến lược Trung Quốc có lợi thế so sánh lớn về sức lao động, hơn nữa thiếu lợi thế về vốn và lợi thế so sánh về kỹ thuật Nếu kết hợp giữa lợi thế về sức lao động và vốn trong và ngoài nước cũng như các ngành chế tạo kĩ thuật cao thì lợi thế rất rõ ràng Vì vậy, xét
về thực lực kinh tế, lợi thế to lớn về thị trường tiêu thụ và sức lao động của Trung Quốc hiện nay, nếu nắm vững cơ hội từ quá trình chuyển giao công nghệ trên thế giới, có chính sách ưu tiên phát triển các ngành kĩ thuật mới, sẽ làm cho Trung Quốc trở thành trung tâm công nghệ mới trên thế giới
Ngành kỹ thuật mới là ngành trọng điểm trong cạnh tranh quốc tế, quyết định lợi thế cạnh tranh tổng thể của một nước, có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng Hiện nay, ngành kĩ thuật mới đã trở thành động lực quan trọng để phát triển kinh tế và sức cạnh tranh thương mại của Trung Quốc Tỉ lệ đóng góp trực tiếp của xuất khẩu hàng hoá kĩ thuật mới đối với sự phát triển kinh tế quốc dân tăng từ l,44% năm 1995 lên tới 5,47% năm 2002 Đồng thời xuất khẩu hàng hoá
kĩ thuật mới còn có thể lôi kéo việc cải tạo ngành truyền thống, lôi kéo tạo việc làm và tăng tiền lương, thúc đẩy tối ưu hoá cơ cấu ngành Từ đó có thể thấy sản phẩm kỹ thuật mới sẽ chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu ngoại thương của Trung Quốc
Phát triển ngành công nghiệp Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay phải thực hiện chiến lược hai tầng, nghĩa là áp dụng phương thức tăng trưởng tư bản, tập trung kĩ thuật trong các ngành nòng cốt để phát triển công nghiệp, thực hiện phương thức tăng trưởng sử dụng nhiều sức lao động trong các ngành phổ thông
Trang 39phát triển công nghiệp, bắt tay từ việc kết hợp giữa chính sách ngành với chính sách thương mại, xác định rõ con đường cao cấp hoá cơ cấu hàng xuất khẩu
Tại Trung Quốc, vấn đề về dư thừa năng lực sản xuất và xây dựng trùng lắp đó và đang rất được quan tâm Cuối tháng 8/2009, Thủ tướng Quốc vụ Viện Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã chủ trì Hội nghị Thường vụ Quốc vụ Viện, nghiên cứu các bước nhằm hạn chế việc dư thừa năng lực sản xuất và xây dựng trùng lắp của một số ngành, nhằm định hướng cho các ngành phát triển lành mạnh
Nhằm đối phó với tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ quốc
tế, từ đầu năm đến nay, căn cứ vào yêu cầu “bảo đảm tăng trưởng, mở rộng nội nhu, điều chỉnh cơ cấu”, Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra kế hoạch điều chỉnh và chấn hưng một số ngành trọng điểm, công bố một loạt biện pháp chính sách thúc đẩy điều chỉnh cơ cấu nhằm khống chế tổng lượng, đào thải kỹ thuật lạc hậu, đồng thời tổ chức lại các ngành, tự chủ sáng tạo ra cái mới Hiện nay, chính sách đã
có hiệu quả ban đầu, tình hình của các ngành về tổng thể phát triển tốt Thế nhưng việc điều chỉnh cơ cấu của một số ngành tiến triển còn chậm, vấn đề dư thừa năng lực sản xuất, xây dựng trùng lắp của một số ngành vẫn còn, phạm vi
mở rộng bừa bãi không chỉ giới hạn trong các ngành truyền thống có năng lực sản xuất dư thừa như gang thép, xi măng, mà ở các ngành mới phát triển như phát điện bằng sức gió, silic đa tinh thể cũng xuất hiện khuynh hướng xây dựng trùng lắp
Hội nghị đã nhấn mạnh, cần phải kiên trì kết hợp giữa việc khống chế tăng sản lượng với ưu tiên giải quyết lượng hàng tồn đọng, chỉ đạo phân loại, kết hợp giữa việc vừa bảo đảm vừa hạn chế Trước mắt, phải tăng cường chỉ đạo phát triển đối với một số ngành trọng điểm như gang thép, kính tấm, công nghiệp hóa than, silic đa tinh thể, thiết bị sản xuất điện bằng sức gió
Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 11 đưa ra năm 2006, Trung Quốc đặt trọng tâm vào việc bắt đầu xây dựng sức mạnh cạnh tranh trong tương lai của nước này
ở các lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới, thay vì chỉ tập trung vào nâng cao hiệu quả chi phí Một trong số những sáng kiến chủ chốt trong kế hoạch mới
Trang 40này là nâng tỷ lệ đầu tư cho nghiên cứu và phát triển so với GDP từ mức 1,3% trong năm 2005 lên mức 2,5% vào năm 2020
Hiện nay, Trung Quốc có 11 ngành kinh tế lớn bao gồm: công nghiệp đóng tàu, chế tạo máy móc thiết bị, công nghiệp nhẹ, dệt may, hóa dầu, kim loại mầu, logistics, sản xuất ô tô, sinh vật, gang thép, công nghệ thông tin thì đều thuộc nhóm những ngành phục vụ cho công nghiệp nặng và công nghiệp tiêu dùng Mới đây, trong Quy hoạch điều chỉnh và chấn hưng 11 ngành kinh tế lớn giai đoạn 2009 – 2011, Trung Quốc vẫn tiếp tục nhấn mạnh về tầm quan trọng hàng đầu của 11 ngành kinh tế trên Thêm vào đó, để thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững, Trung Quốc cũng đề cao việc chấn hưng những ngành kinh tế này Thực hiện tốt Quy hoạch điều chỉnh giai đoạn 2009 – 2011, Trung Quốc sẽ tái cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao tỷ lệ ngành công nghiệp dịch vụ trong GDP nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển một cách cân bằng hơn
1.5.2 Cơ cấu hàng xuất khẩu của Thái Lan
Trước 1985, xuất khẩu nông sản của Thái Lan (tính gộp cả giá trị xuất khẩu hải sản) luôn có tỷ trọng lớn hơn xuất khẩu hàng chế tạo Năm 1985, giá trị xuất khẩu hàng chế tạo lần đầu tiên đã vượt qua giá trị xuất khẩu hàng nông sản Giá trị xuất khẩu hàng chế tạo đã tăng với tốc độ 30-40% hàng năm, trong khi giá trị xuất khẩu hàng nông sản chỉ tăng trưởng với tốc độ trung bình 10% năm
Việc phát triển các mặt hàng xuất khẩu trong lĩnh vực chế tạo của Thái Lan được bắt đầu từ công nghiệp dệt may và giầy dép Trong giai đoạn cơ cấu lại lần đầu tiên, hàng xuất khẩu chế tạo của Thái Lan bao gồm những hàng có hàm lượng lao động cao như may mặc, giầy dép, hoa giả, đá quí và đồ trang sức Cơ
sở sản xuất của nhiều ngành công nghiệp này đã chuyển từ các nước NICs lần đầu sang những nước như Thái Lan và những nền kinh tế Đông Nam Á khác do những thay đổi trong lợi thế cạnh tranh
Tuy nhiên, mấy năm gần đây lợi thế của Thái Lan với cơ sở sản xuất hàng chế tạo có hàm lượng lao động cao đã nhanh chóng bị suy giảm do sự cạnh tranh
từ các nước có mức lương lao động thấp hơn như Trung Quốc, Inđônêsia và Việt