Vì các hành động thực tế của người dân đều xuất phát từ nhận thức, niềm tin, định hướng giá trị, nhu cầu, tính cách, tâm lý dòng họ, cộng đồng… Do vậy, việc tiến hành nghiên cứu đề tài n
Trang 1Bộ khoa học và Công nghệ
chương trình KH & CN trọng điểm cấp nhà nước KX – 03
“Xây dựng con người và phát triển văn hoá Việt Nam
trong tiến trình đổi mới và hội nhập”
*********************
Báo cáo tổng hợp
Đề tài khoa học cấp nhà nước
Những đặc điểm tâm lý của các dân tộc thiểu số
ở khu vực Tây Bắc và ảnh hưởng của chúng đến
sự ổn định và phát triển ở khu vực này
Mã số: KX.03.02/06-10
Chủ nhiệm đề tài: GS.TS Vũ Dũng Thư ký đề tài : TS Lã Thị Thu Thuỷ
TS Phan Thị Mai Hương Cơ quan chủ trì : Viện Tâm lý học
7831
06/4/2010
Hà Nội – 2008
Trang 2danh sách những người tham gia
thực hiện đề tài
1 GS.TS Vũ Dũng – Viện Tâm lý học
2 TS Lã Thị Thu Thuỷ – Viện Tâm lý học
3 TS Phan Thị Mai Hương – Viện Tâm lý học
4 PGS.TS Lê Thị Thanh Hương – Viện Tâm lý học
5 TS Nguyễn Thị Hoa – Viện Tâm lý học
6 PGS.TS Phạm Quang Hoan – Viện Dân tộc học
7 TS Tô Ngọc Thanh – Viện Dân tộc học
8 TS Lý Hành Sơn – Viện Dân tộc học
9 TS Trần Văn Hà - Viện Dân tộc học
10 TS Đoàn Minh Huấn – Học viện Chính trị - Hành chính khu vực 1
11 ThS Nguyễn Thị Phương Hoa - Viện Tâm lý học
12 CN Tô Thuý Hạnh - Viện Tâm lý học
13 ThS Nguyễn Thị Lan - Viện Tâm lý Học
14 ThS Bùi Vân Anh – Viện Tâm lý học
15 TS Lê Văn Hảo – Viện Tâm lý học
16 CN Trần Anh Châu – Viện Tâm lý học
17 CN Lâm Thanh Bình – Viện Tâm lý học
18 CN Đỗ Duy Hưng – Viện Tâm lý học
19 CN Mai Thanh Thế – Viện Tâm lý học
20 CN Nguyễn Thị Thanh Huyền - Viện Tâm lý học
21 CN Phạm Thu Huyền - Viện Tâm lý học
22 CN Vũ Tuấn Anh – Viện Tâm lý học
23 CN Nguyễn Hồng Hạnh - Viện Tâm lý học
24 CN Phạm Thị Phương Cúc - Viện Tâm lý học
25 CN Lê Minh Thiện – Viện Tâm lý học
26 CN Nguyễn Thị Thanh Thuỷ – Viện Tâm lý học
27 CN Nguyễn Tuấn Thành - Viện Tâm lý học
28 CN Nguyễn Thị Hinh - Viện Tâm lý học
Trang 3Mục lục
Trang
III Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến
đề tài
6
2 Những nghiên cứu về dân tộc và tâm lý dân tộc ở trong nước 8
Chương I: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu 16
2 Giai đoạn điều tra chính thức của đề tài 21
5 Đặc điểm tuổi, giới tính, và học vấn của khách thể 28
Chương II: Kết quả nghiên cứu của đề tài 29
I Một số vấn đề lý luận liên quan đến nội dung nghiên cứu của
đề tài
29
Trang 4II Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu và mẫu nghiên cứu 36
1 Một số đặc điểm địa lý, tự nhiên và kinh tế – xã hội của khu vực
III Những đặc điểm tâm lý cơ bản của các dân tộc thiểu số ở
khu vực Tây Bắc và ảnh hưởng của chúng đến sự phát triển
kinh tế – xã hội ở khu vực này
64
1 Nhận thức của các dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc 64
2 Năng lực tổ chức sản xuất của các dân tộc thiểu số Tây Bắc 82
3 Giao tiếp và tri giác giữa các dân tộc thiểu số 104
5 Tiếp biến văn hoá và đồng nhất dân tộc ở khu vực Tây Bắc 165
6 Thuỷ điện Sơn La và một số vấn đề tâm lý nẩy sinh ở các dân tộc
9 Dự báo về sự biến đổi tâm lý của các dân tộc thiểu số Tây Bắc
trong thời gian tới
Trang 5mở đầu
I Lý do chọn đề tài
Tây Bắc Việt Nam là vùng lãnh thổ thuộc địa đầu Tổ Quốc, có địa hình phức tạp, núi non hiểm trở, có chung biên giới với Trung Quốc và Lào Tây Bắc gồm các tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, một phần lãnh thổ của Lào Cai, Yên bái, Hà Giang, miền Tây của hai tỉnh Thanh Hoá và Nghệ
An Dưới góc độ vị trí địa lý và chính trị thì Tây Bắc là địa bàn có vị trí quan trọng về kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng, là vị trí chiến lược, phên dậu quốc gia Tây Bắc còn là miền đất giàu tiềm năng về khoáng sản, lâm nghiệp, cây trồng nông nghiệp, công nghiệp, du lịch, có cửa khẩu quốc tế và khu kinh
tế mở quan trọng Mặt khác, vùng Tây Bắc có ảnh hưởng trực tiếp về môi trường sinh thái đến toàn bộ vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ Tây bắc là vùng cư trú lâu đời của hơn 20 dân tộc anh em thuộc 7 mhóm ngôn ngữ khác nhau (Tày – Thái, Ka Đai, Môn – Khơ me, H’mông – Dao, Hán, Tạng – Miến, Việt – Mường) Mỗi dân tộc có nguồn gốc, số phận lịch sử khác nhau, có bản sắc văn hoá, có các đặc điểm tâm lý riêng Sự đa dạng này của các dân tộc đã tạo nên một Tây Bắc với những sắc thái văn hoá độc đáo, đa dạng, góp phần tạo nên bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển kinh tế – xã hội miền núi, trong đó có vùng Tây Bắc như: Nghị quyết 22/NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá V), Nghị quyết 72/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, Nghị quyết 24/NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá VII), Nghị quyết TW 7 (khoá IX), Chỉ thị 45/CT/TW của Ban Bí thư, Quyết định số 135 và 136 của Thủ tướng chính phủ… Việc thực hiện các chủ trương chính sách trên đã góp phần quan trọng và sự phát triển kinh tế xã hội của vùng Tây Bắc Tây Bắc đã và đang thay đổi to lớn, đời sống của các dân tộc ngày càng được cải thiện, cơ sở hạ tầng phát triển, an ninh quốc phòng
được đảm bảo…
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau
mà Tây Bắc vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức, vẫn tiềm ẩn nhiều vấn đề bức xúc, nhạy cảm về chính trị, quốc phòng và an ninh Để tìm hiểu và giải quyết những vấn đề này rất cần tiếp cận từ góc độ của tâm lý học
Đó là các vấn đề sau:
- Thứ nhất, vấn đề di dân tự do trong nôi bộ các tỉnh, từ Tây Bắc đến Tây
Nguyên, di dân đến các xã biên giới, thậm chí di dân sang Lào để làm ăn sinh sống Điều này làm cho việc quản lý của các địa phương và khu vực biên giới khó khăn, kẻ thù có thể lợi dụng để gây mất ổn định ở Tây Bắc và biên giới Việt – Lào
Trang 6- Thứ hai, sự chuyển đổi tín ngưỡng truyền thống sang đạo Tin lành
(đạo Vàng chứ), làm cho số lượng các tín đồ đạo Tin lành ở khu vực này tăng lên đột biến từ 1980 đến nay Sự thay đổi này đã và đang dẫn tới sự thay đổi tư tưởng, định hướng giá trị, lối sống của các nhân và cộng đồng, tạo nên “cú sốc” văn hoá, từ đó dẫn tới mâu thuẫn, xung đột xã hội dây truyền… Đây cũng
là vấn đề để kẻ thù lợi dụng để gây mất ổn định xã hội ở khu vực này
- Thứ ba, vấn đề du canh du cư của đồng bào các dân tộc thiểu số thuộc
hai tỉnh Sơn La và Lai Châu vẫn còn tương đối nhiều, chủ yếu ở khu vực III, vùng biên giới Điều này ảnh hưởng xấu đến việc phát triển kinh tế xã hội, đến
đời sống của đồng bào và vấn đề an ninh của khu vực biên giới
- Thứ tư, vấn đề trồng thuốc phiện và nghiện hút còn diễn ra phức tạp ở
khu vực này Đây cũng là vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế – xã hội và an ninh của Tây Bắc
- Thứ năm, các tệ nạn xã hội như ma tuý, mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ
em cũng rất phức tạp tại khu vực Tây Bắc Những kẻ buôn bán lợi dụng quan
hệ thân tộc, đồng tộc hay kết nghĩa anh em giữa hai biên giới để hoạt động, hình thành các đường dây buôn bán ma tuý và phụ nữ xuyên quốc gia
Giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội, các vấn đề nhạy cảm, bức xúc trên không thể không tính đến các khía cạnh tâm lý của các dân tộc ở khu vực này Vì các hành động thực tế của người dân đều xuất phát từ nhận thức, niềm tin, định hướng giá trị, nhu cầu, tính cách, tâm lý dòng họ, cộng đồng…
Do vậy, việc tiến hành nghiên cứu đề tài này sẽ có ý nghĩa thực tiễn to lớn, góp những cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chủ trương chính sách phát triển kinh tế xã hội ở Tây Bắc phù hợp và có hiệu quả, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, kẻ thù đã và đang lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc như một nhân tố cơ bản để gây mất ổn định ở một số khu vực của nước ta như Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, kích động tư tưởng ly khai, đòi tự trị của một số dân tộc thiểu số ở các khu vực này Mặt khác, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần xây dựng các vấn đề lý luận cơ bản về một phân ngành tâm lý mới ở nước ta hiện nay – Phân ngành Tâm lý học dân tộc
II Mục tiêu của đề tài
1 Làm rõ các đặc điểm tâm lý cơ bản của các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc
2 Phân tích sự ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của các đặc điểm tâm lý này
đến sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực Tây Bắc
3 Đề xuất một số kiến nghị với Đảng và Nhà nước góp phần việc hoạch định
các chủ trương, chính sách phù hợp với các đặc điểm tâm lý của các dân tộc thiểu số, nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực Tây Bắc một cách hiệu quả hơn
Trang 7III Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Vấn đề dân tộc nói chung và tâm lý dân tộc nói riêng là lĩnh vực được
các nhà nghiên cứu nước ngoài rất quan tâm Bởi lẽ, mâu thuẫn và xung đột giữa các dân tộc đã và đang là vấn đề xã hội bức xúc, gây hậu quả nghiêm trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới Trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về tâm lý dân tộc
Cách tiếp cận vấn đề của các nhà tâm lý học rất đa dạng Có thể nêu ra một số công trình nghiên cứu về tâm lý dân tộc sau:
- Thứ nhất: Nghiên cứu tâm lý dân tộc theo hướng giao thoa văn hoá (Cross-culture)
P.Wesley schultz, Lyunette zelezny đã khảo sát 957 sinh viên của 5
nước (Mexco, Nicaragoa, Peru, Tây Ban Nha và Mỹ) về giá trị và hành vi của
họ đối với môi trường (1999) Robetrt Levine, Arei Noenayar đã tiến hành
nghiên cứu ảnh hưởng của nhịp điệu cuộc sống đến sự hình thành nhân cách
con người tại 31 quốc gia trên thế giới (1998) Nazr Akrami, Bo Ekehammar and Tadesse Arrya, trường Đại học Uppsala (Thuỵ Điển) nghiên cứu thái độ
đối với người nhập cư ở Thụy Điển (2002), Inga Jainskaja Lahti, Karmela Liebkinel tìm hiểu sự đồng nhất về bản sắc dân tộc của trẻ vị thành niên nói tiếng Nga ở Phần Lan (2000) R.Buda, M.Elsayed – Elklaouly nghiên cứu sự khác biệt văn hoá giữa người ả rập và người Mỹ (1999) Jeanne L.Tsai, Yu Wen Ying, Peter A.lee nghiên cứu của việc "sống làm người" của người Trung
Quốc và người Mỹ (2000) Nghiên cứu được tiến hành đối với những người Trung Quốc nhập cư vào Mỹ
Các công trình nghiên theo hướng này nhằm tìm hiểu đặc điểm tâm lý của các dân tộc trong cộng đồng dân cư có nhiều nền văn hoá khác nhau cùng tồn tại hoặc so sánh đặc điểm tâm lý của các dân tộc ở các quốc gia khác nhau với các nền văn hoá khác nhau Kết quả của các công trình nghiên cứu này còn cho thấy, trong cộng đồng dân cư đa dân tộc có thể diễn ra sự đồng nhất dân tộc, tức là các dân tộc thiểu số tiếp nhận các giá trị của dân tộc đa số
- Thứ hai: Nghiên cứu tâm, trạng, bản sắc dân tộc
Nghiên cứu của Drew Nesdale, Rosanna Roorey, Leigh Smith về sự
buồn khổ và giữ gìn bản sắc của người nhập cư (người Việt Nam) tại Mỹ
Nghiên cứu của Hing Keung Ma và Chan Kiu Cheung về cấu trúc đặc điểm
đạo đức của người Hồng Kông gốc Trung Quốc, người Anh và người Mỹ
(1998) Nghiên cứu này được thực hiện ở 24 nước trên thế giới Maxine Dalton và Meera Willson nghiên cứu về niềm tin qui gán trong văn hoá
phương Tây và văn hoá Trung Quốc (1999)
Trang 8Các nghiên cứu theo hướng này tìm hiểu tâm trạng, đặc biệt là những buồn tủi, đau khổ của các kiều dân tại các quốc gia mà họ sinh sống Sự mặc cảm này xuất phát từ sự ý thức về vị thế của họ trong xã hội, từ thái độ và các ứng xử, định kiến của người dân bản địa đối với kiều dân
- Thứ ba: Nghiên cứu về định kiến dân tộc
G.W Allport (1954) và Herbert Blumer (1961) nghiên cứu về cảm xúc mang tính định kiến của các dân tộc Nghiên cứu của Kramer (1949) và Maun (1959) về nhận thức và hành vi có tính định kiến dân tộc Nghiên cứu
này được tiến hành tại Mỹ
Các công trình nghiên cứu này cho thấy định kiến dân tộc thể hiện rất rõ trong xã hội Mỹ, trước hết là định kiến của người da trắng đối với người da
đen, người ả rập nhập cư vào Mỹ Định kiến này thể hiện ở các lứa tuổi khác nhau Nó chính là một nguyên nhân quan trọng dẫn tới xung đột sắc tộc, các hành vi bạo lực trong quan hệ giữa các dân tộc
- Thứ tư: Nghiên cứu về tri giác dân tộc
Nghiên cứu của W.Doise, D.Spini và A.Clemenece về biểu tượng của các dân tộc về nhau (2000) K.Greenland, R.Brown nghiên cứu những mong muốn trong giao tiếp của người Nhật và người Anh (1999) L.Johnton, nghiên
cứu về sự thay đổi khuôn mẫu trong nhận thức về dân tộc khác (1996)
Các nghiên cứu theo hướng này đã đi đến các nhận định: tri giác dân tộc
là một đặc điểm cơ bản của tâm lý dân tộc Nó thể hiện sự suy nghĩ của các dân tộc về nhau trên cơ sở sự tương tác, giao lưu Tri giác dân tộc là một nguyên nhân dân tới sự hình thành định kiến dân tộc, thái độ và hành vi của dân tộc này đối với dân tộc khác
- Thứ năm: Nghiên cứu về thái độ của các nhóm dân tộc
A Pedersen và I Walker nghiên cứu về thành kiến của các dân tộc ở Australia chống lại các dân cư bản xứ tại nước này (1994) G.Mikula, Ursula Sabine Heschgl và Arno Heimgaartner nghiên cứu về thái độ của các dân
tộc đa số và thiểu số đối với những dân tộc nhập cư Nghiên cứu được tiến
hành tại Hà Lan (1998) Nghiên cứu của M Verkuyter, M.Drables về sự tự
đánh giá, phân loại, tương tác tình cảm của các nhóm dân tộc thiểu số tại Hà Lan (1999)
- Thứ sáu: Nghiên cứu về xung đột, hợp tác giữa các nhóm dân tộc
M Sherint (1961) nghiên cứu về sự cạnh tranh như một nguyên nhân cơ bản dẫn tới định kiến dân tộc Nghiên cứu của R.D Vaneman, T.F Pettigrew (1972) về đường lối chính trị và dân tộc, ảnh hưởng của những
đường lối chính trị đến sự phân biệt chủng tộc ở Mỹ Nghiên cứu của Severy, Brigham và Schlenker (1990) về những hành vi bạo lực của người da trắng
Trang 9đối với người da đen ở Mỹ Nghiên cứu của Vander Zander, Fames Wilfrid (1977) về những hành vi phân biệt chủng tộc có tổ chức ở Mỹ M.J Carmichael (1978) nghiên cứu về hành vi phân biệt chủng tộc mang tính cá
nhân, trước hết là các hành vi khủng bố của người da trắng đối với người da
đen ở Mỹ
Mặc dù, trên đây mới chỉ là một số những dẫn chứng về các công trình nghiên cứu của nước ngoài, song cũng đã thể hiện các cách tiếp cận đa dạng
về đời sống tâm lý của các dân tộc và tính phức tạp về các biểu hiện tâm lý trong quan hệ giữa các dân tộc Kết quả của các công trình nghiên cứu này đã cung cấp những cơ sở khoa học cho Chính phủ và các nhà quản lý xã hội hiểu
được quan hệ của các dân tộc ở tầm sâu hơn và góp phần quan trọng vào việc
đưa ra các chính sách đối với các dân tộc phù hợp hơn và có hiệu quả hơn (phù hợp với tâm tư, nguyên vọng và lợi ích của họ)
2 Những nghiên cứu về dân tộc và tâm lý dân tộc ở trong nước
Mảnh đất Tây Bắc với một nền văn hoá rất đa dạng, phong phú, với vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ đất nước đã
và đang trở thành đối tượng quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong những năm qua và hiện nay Khu vực này được các nhà khoa học tìm hiểu từ nhiều góc độ khác nhau Có thể chỉ ra một số hướng nghiên cứu chính về Tây Bắc trong những năm gần đây:
- Thứ nhất: Nghiên cứu về các vấn đề kinh tế – xã hội của Tây Bắc
Các công trình nghiên cứu về sự phát triển kinh tế - xã hội ở Tây Bắc khá đa dạng Về hướng này có các tác giả sau:
Đặng Nghiêm Vạn (1982) đã phân tích những đặc điểm kinh tế – xã
hội truyền thống của các dân tộc thiểu số miền núi Tác giả đã phân tích tính chất của nền kinh tế cổ truyền, vấn đề sở hữu, các hình thức trồng trọt…
Diệp đình Hoa (1976) đã phân tích các loại hình làm rẫy với ý nghĩa là
sự chinh phục vùng đồi núi của các dân tộc thiểu số nước ta, mối quan hệ của các loại hình kinh tế này với các nông cụ, với sự ra đời của nông nghiệp…
Trịnh Bá Thảo (1986), tìm hiểu kết quả của việc thực hiện chính sách
định canh, định cư ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số nước ta trong thời gian qua
Nguyễn Văn Khanh (1983), phân tích chính sách cai trị của thực dân
Pháp đối với các dân tộc thiểu số Tây Bắc Để cai trị tốt, chúng đã sử dụng chính sách ngu dân, duy trì các phong tục tập quán lạc hậu, các tệ nạn xã hội…
Trang 10Vương Xuân Tình, Bùi Minh Đạo (2003), phân tích về vấn đề được
hưởng thụ đất đai của các dân tộc thiểu số vùng cao nước ta trong truyền thống
và sự biến đổi của vấn đề này hiện nay
L∙ Văn Lô (1981), tìm hiểu về những kinh nghiệm sản xuất cổ truyền
của các dân tộc thiểu số miền núi Tác giả cho rằng đây là lĩnh vực tri thức địa phương quí giá cần được giữ gìn và phát huy
Bế Viết Đẳng, Chu Thái Sơn, Ngô Đức Thịnh (1987), nghiên cứu
những vấn đề kinh tế xã hội của các tỉnh miền núi phía Bắc, những thành quả
đã đạt được và những vấn đề đặt ra cần được giải quyết hiện nay
Hà Quế Lâm (2002), tìm hiểu về thực trạng việc thực hiện chính sách
xoá đói giảm nghèo ở vùng các dân tộc thiểu số nước ta, đồng thời đề xuất một
số giải pháp để thực hiện chính sách này hiện nay
Khổng Diễn (1996) đã xây dựng được một bức tranh khá sinh động,
phong phú về các điều kiện tự nhiên, môi trường, kinh tế văn hoá, xã hội của các dân tộc miền núi phía Bắc
Năm 1993, Văn phòng Chính phủ đã tổ chức hội thảo khoa học về
những vấn đề cần được ưu tiên để phát triển kinh tế sản xuất hàng hoá ở miền núi và vùng đồng bào dân tộc nước ta
Jean Castella, Đặng đình Quang (2002) nghiên cứu sự chuyển đổi sử
dụng đất và chiến lược sản xuất của nông dân tỉnh Bắc Cạn
Trần Bình (2001) nghiên cứu các tập quán hoạt động kinh tế của một
số dân tộc Tây Bắc Việt Nam
Cầm Trọng (1998), tìm hiểu về lịch sử kinh tế xã hội cổ đại của người
Thái Tây Bắc Việt nam
Đặng Thanh Nga (2003), tìm hiểu về nghề dệt của người Thái ở Tây
Bắc trong điều kiện hiện nay
Cầm Văn Đoàn (1994), nghiên cứu mô hình kinh tế hộ gia đình ở Sơn
La và đề xuất một số kiến nghị về những vấn đề cần giải quyết
Lâm Mai Lan (2000), tìm hiểu những tác động của kinh tế- xã hội đến
hoạt động du lịch ở Sa Pa
- Thứ hai: Nghiên cứu về văn hoá của các dân tộc thiểu số Tây Bắc
Vấn đề tổ chức cuộc sống, phong tục, tập quán, bản sắc văn hoá của các dân tộc ở Tây Bắc cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Nguyễn Trúc Bình (1975), tìm hiểu những biến đổi trong sinh hoạt của
đồng bào vùng cao trong quá trình định canh, định cư
Bế Viết Đẳng (1975) nghiên cứu sinh hoạt văn hoá của các dân tộc
phục vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội hiện nay
Trang 11Nguyễn Chí Huyên (1995), phân tích thực tạng trình độ học vấn của
các dân tộc thiểu số và ảnh hưởng của chúng đến sự phát triển kinh tế – xã hội
ở các vùng miền núi nước ta
Đặng Nghiêm Vạn (1991), nghiên cứu về dòng họ và các gia đình của
các dân tộc thiểu số trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội nước ta hiện nay
Nguyễn Thế Huệ (1998), tìm hiểu về tình trạng tảo hôn ở một số dân
tộc thiểu số nước ta Tác giả phân tích nguyên nhân và ảnh hưởng của nó đến cuộc sống của các dân tộc
Phạm Quang Hoan (2000), nghiên cứu các ứng xử với bệnh tật của các
dân tộc thiểu số nước ta Tác giả phân tích tình trạng sức khoẻ, nguyên nhân bệnh tật, những trở ngại trong cách chữa trị bệnh do cách ứng xử với bệnh tật của đồng bào
Điều Thị Hảo (1986), phân tích về việc xây dựng một nền văn hoá mới,
con người mới ở các vùng dân tộc thiểu số
Đặng Thị Hoa (2001), nghiên cứu sựu tác động của các tri thức địa
phương tộc người đến chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình của các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam
Nguyễn Khắc Tụng (2000), nghiên cứu tập quán cư trú và nhà ở của
các dân tộc thiểu số Việt Nam
Nguyễn Thế Huệ (2001), tìm hiểu về thực trạng cơ cấu xã hội ở miền
núi phía Bắc Việt Nam
Nguyễn Trắc Dĩ (1972), nghiên cứu về nguồn gốc và phong tục của các
dân tộc thiểu số Việt Nam
Bế Viết Đẳng, Nông Quốc Chấn (1987), nghiên cứu về sự phát triển
văn hoá các dân tộc thiểu số Các tác giả chỉ ra cái chung và cái riêng của văn hoá các dân tộc thiểu số trong văn hoá chung của dân tộc ta
Nông Quốc Chấn, Vi Hồng Nhân, Hoàng Tuấn cư (1996) tìm hiểu
về vấn đề giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hoá của các dân tộc thiểu số nước ta Phan Hữu Dật và một số nhà nghiên cứu (2001) nghiên cứu một số vấn
đề lý luận và thực tiễn cấp bách trong quan hệ dân tộc ở nước ta hiện nay Vương Anh (2001), tìm hiểu về văn hoá bản Mường
Vi Hồng Nhân (2004),Vũ Ngọc Khánh (2004), Lò Giàng Páo (1997), Nguyễn Đăng Duy(2004)… nghiên cứu những vấn đề chung của văn hoá các
dân tộc thiểu số nước ta
Một số tác giả lại đi sâu nghiên cứu một số khía cạnh của văn hoá các dân tộc thiểu số:
Trang 12Hà Thị Nự (2004), tìm hiểu giá trị văn hoá trong nghề thủ công truyền
thống của các dân tộc thiểu số ở nước ta
Hoàng Lương (2004), nghiên cứu luật tục với việc bảo tồn và phát huy
di sản văn hoá truyền thống của các dân tộc ở Tây Bắc nước ta
Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, nghiên cứu việc giữ gìn và phát huy
di sản văn hoá của các dân tộc ở Tây Bắc
Ngô Ngọc Thắng (2002), tìm hiểu văn hoá bản làng truyền thống của
các dân tộc Thái, H Mông vùng Tây Bắc Việt Nam
Triệu Thị Mai (2001), nghiên cứu lễ cầu tự của người Thái ở Cao Bằng
Phạm Quang Hoan, Hùng Đình Quí (1999), tìm hiểu văn hoá truyền
thống của người Dao ở Hà Giang
Lý Hành Sơn (2003), nghiên cứu các nghi lễ đời người của nhóm Dao
Tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn
Trần Trí Dõi (2004), tìm hiểu thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân
tộc miền núi ở 3 tỉnh phía Bắc Việt Nam Tác giả đã đề xuất một số kiến nghị
và giải pháp cho vấn đề này
Bùi Chỉ (2001), nghiên cứu văn hoá ẩm thực dân gian của người Mường
ở tỉnh Hoà Bình
Ninh Văn Độ (2003), nghiên cứu văn hoá truyền thống của các dân tộc
Tày, Dao, Sán Dìu ở tỉnh Tuyên Quang
Nguyễn Thị Yên (2003) nghiên cứu về lễ hội nàng hai của người Tày ở
tỉnh Cao Bằng
Đỗ Ngọc Tấn, Đặng Thị Hoa, Nguyễn Thị Thanh (2004) nghiên cứu
về hôn nhân gia đình các dân tộc Hmông, Dao ở tỉnh Lai Châu và tỉnh Cao Bằng
Nông Quốc Tuấn (2004) nghiên cứu về văn hóa của dân tộc Pà Thẻn
Đặng Thị Oanh (2004), nghiên cứu về cầu thang nhà sàn của người
Thái ở Điện Biên, Lai Châu
Đỗ Thuý Bình (1994), tìm hiểu hôn nhân và gia đình của các dân tộc
Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam
Phượng Vũ, Hà Sơn Bình (1988), nghiên cứu về văn hoá Mường bi của
Trang 13Đặng Văn Lung, Bùi Thiện, Bùi Văn Lợi (1996), nghiên cứu về Mo
Mường và nghi lễ tang ma
Đặng Nghiêm Vạn, Hà Sơn Bình (1988), tìm hiểu về văn hoá cổ
truyền của dân tộc Thái ở Mai Châu, Hoà Bình
Bùi Xuân Trường (1999), nghiên cứu về vai trò của luật tục đối với
việc quản lý xã hội ở các dân tộc Thái, Hmông ở Tây Bắc
Trần Hữu Sơn (2001), nghiên cứu về lễ cưới của dân tộc Dao Tiền Đỗ Đức Lợi (2002), nghiên cứu về tập tục chu kỳ đời người của các dân
tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mông – Dao ở nước ta
Đỗ Thị Hoà (2003), nghiên cứu về trang phục của các dân tộc thuộc
nhóm ngôn ngữ Việt Mông – Dao ở Việt Nam
Vàng Thung Chúng (2003), tìm hiểu về phong tục tập quán của người
Nùng Dín ở Tùng Lâu
Hoàng Lơng (2000), tìm hiểu quan niệm tôn giáo của người Thái
Mường Tấc ở Phù Yên, Sơn La
Hoàng Cầm (20000 nghiên cứu nghi thức của nghi lễ của việc bảo vệ
tài nguyên thiên nhiên của người Thái
Lê Hồng Lý (1997), nghiên cứu về văn hoá lễ hội của người Dao Họ ở
Lào Cai
Nguyễn Thị Yên (1998), nghiên cứu về yếu tố tín ngưỡng trong lễ hội
của người Tày, Nùng
Lý Cẩm Tú, Hoàng Minh Lợi (1997), nghiên cứu một số tập tục của
người Hmông xanh của tỉnh Lào Cai
Thanh Bình (2002), nghiên cứu lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày ở
Cao Bằng
Dương Kim Quí (2002), Cư Hoà Vần (1994), Nguyễn Duy Quang
(1994) nghiên cứu về tộc danh, về tên gọi và dòng họ của dân tộc Hmông Triệu Hữu Lý (1994), nghiên cứu nguồn gốc tên gọi của dân tộc Dao
Trần Bình (1996), nghiên cứu về hội chiêng trống của các dân tộc thiểu
số ở Tây Bắc
Ngô Thế Long (1996), nghiên cứu về sự hoà nhập của văn hoá Thái
trong cộng đồng văn hoá Việt nam
Thứ ba: Nghiên cứu về tộc người
Bên cạnh những nghiên cứu về kinh tế – xã hội và các khía cạnh văn hoá của các dân tộc thiểu số Tây Bắc, một số công trình nghiên cứu còn đề cập đề
Trang 14cập một cách tương đối đầy đủ hơn về một dân tộc thiểu số Có thể nêu ra một
số nghiên cứu sau:
Ban Tuyên giáo tỉnh Tuyên Quang (1972), nghiên cứu sơ lược về các
dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang
Tuấn Quỳnh (1973), Hoàng Nam (1992), nghiên cứu về dân tộc Nùng
ở Việt Nam
Cư Hoà Vần , Hoàng Nam (1994), Diệp Đình Hoa (1998) nghiên cứu
dân tộc Hmông ở nước ta
Viện Dân tộc học (1992) nghiên cứu các dân tộc Tày, Nùng ở nước ta
Jean Cuisinier (1995), Bùi Tuyết Mai (1999) nghiên cứu về dân tộc
Mường
Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung (1971), nghiên cứu về
dân tộc Dao ở Việt Nam
L∙ Văn Lô, Mai Văn Trí (1958), Cầm Trọng (1978), nghiên cứu về
người Thái ở Tây Bắc
Trần Từ (1996), nghiên cứu về người Mường ở Hoà Bình
- Thứ tư: Nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số
ở Tây Bắc
Vương Duy Quang (2001), nghiên cứu về thực trạng đạo Vàng chứ, Thì
sùng và Tin lành ở dân tộc Hmông và dân tộc Dao ở vùng núi phía Bắc nước ta hiện nay
Hoàng Thị Bích Ngọc (2002) nghiên cứu về những vấn đề cấp bách về
Công giáo của các dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc nước ta
Vương Duy Quang (2002) nghiên cứu về Saman giáo của dân tộc
Hmông
Vương Duy Quang (2003) tìm hiểu về hiện tượng xưng vua của người
Hmông nước ta
Đỗ Quang Hưng (2003), nghiên cứu về những biểu hiện mới của vấn
đề tôn giáo – dân tộc trong tình hình hiện nay
Gary Lee, Nich Tapp (2002) nghiên cứu về 10 điểm chính về vấn đề
dân tộc của người Hmông
Vương Duy Quang (2004) tìm hiểu về những hiện tượng tôn giáo liên
quan đến sự phản ứng của họ ở Đông Nam á
Hoàng Tuấn Cư (2005), tìm hiểu về tín ngưỡng dân gian của dân tộc
Thái ở Tây Bắc
Trang 15Tìm hiểu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước ta có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Vấn đề tâm lý dân tộc được các nhà nghiên cứu nước ngoài rất quan tâm Các nghiên cứu này không chỉ tìm hiểu tâm lý các dân tộc trong một cộng đồng (vùng, miền, quốc gia) mà còn nghiên cứu so sánh giữa các nền văn hoá khác nhau (nghiên cứu tâm lý theo hướng giao thoa văn hoá) Các nghiên cứu tập trung tìm hiểu về tri giác, định kiến, tình cảm, đồng nhất dân tộc, về thái độ và các hành vi phân biệt chủng tộc
ở Việt Nam vấn đề dân tộc, trước hết là ở Tây Bắc cũng được nghiên cứu khá nhiều Các nhà nghiên cứu tìm hiểu về các dân tộc ở khu vực này từ nhiều góc độ khác nhau như : kinh tế, văn hoá, lịch sử, tôn giáo v.v… Điều đáng lưu
ý là hầu như chúng ta vẫn chưa có các công trình nghiên cứu về các dân tộc thiểu số Tây Bắc từ góc độ của khoa học tâm lý Do vậy, việc tiến hành một đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước về các đặc điểm tâm lý cơ bản của các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc là rất cần thiết Nó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao
Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, kẻ thù đã và đang sử dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo như một nhân tố chính gây mất ổn định ở một số khu vực của nước ta (Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ), kích động tư tưởng ly khai của một số dân tộc thiểu số
IV Giới hạn nghiên cứu của đề tài
1.Giới hạn về nội dung
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu 2 vấn đề chính sau:
- Nghiên một số đặc điểm tâm lý cơ bản của các dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Bắc
- Nghiên cứu sự ảnh hưởng của các đặc điểm tâm lý dân tộc đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc
2 Giới hạn về khách thể nghiên cứu
Tây Bắc là khu vực có đa dân tộc sinh sống (gần 30 dân tộc), trong đó
có những dân tộc thuộc 7 nhóm ngôn ngữ (Tày - Thái, Ka đai, Môn - Khơ me, H'mông - Dao, Hán, Tạng - Miến, Việt - Mường) Có những dân tộc chỉ có hơn 1000 người Do vậy, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số dân tộc có số lượng lớn nhất, có vai trò và sự ảnh hưởng lớn nhất trong khu vực Đó là các
dân tộc thiểu số: Tày, Thái, Mường, Nùng, H'mông, Dao ở đây, dân tộc Kinh (dân tộc chiếm đa số, 61,86% dân số toàn khu vực) cũng được nghiên
cứu để so sánh với các dân tộc thiểu số
Trang 163 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Đề tài đã tiến hành khảo sát tại 7 tỉnh của Tây Bắc: Hoà Bình, Sơn La,
Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang
V Cái mới và ý nghĩa của đề tài
1 Nghiên cứu tâm lý dân tộc ở nước ta từ góc độ của khoa học tâm lý là
vấn đề còn rất mới mẻ Đây là đề tài cấp Nhà nước đầu tiên nghiên cứu các
đặc điểm tâm lý các các dân tộc ở Tây Bắc Điều đáng lưu ý là các đặc điểm tâm lý dân tộc này được nghiên cứu một cách có hệ thống, sâu và ở phạm vi lớn qua việc sử dụng đồng bộ một số phương pháp nghiên cứu phù hợp
2 Đề tài không chỉ nghiên cứu một số đặc điểm tâm lý của các dân tộc
thiểu số, mà còn chỉ ra sự ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của các đặc điểm tâm
lý này đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở Tây Bắc Với kết quả nghiên cứu này, chúng ta có thể sử dụng, phát huy các đặc điểm tâm lý dân tộc tích cực, khắc phục các đặc điểm tâm lý tiêu cực trong quá trình phát triển của Tây Bắc hiện nay
Có thể nói kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
to lớn:
a Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xây dựng một số
vấn đề lý luận của một phân ngành tâm lý học mới ở nước ta - phân ngành Tâm lý học Dân tộc Đây là lĩnh vực đang được quan tâm lớn ở nước ta hiện nay Nó đã được đưa vào giảng dạy tại nhiều trường đại học, song vẫn chưa có giáo trình về môn học này
b Về thực tiễn: Từ các kết quả nghiên cứu, đề tài đề xuất một số biện
pháp, kiến nghị góp phần vào việc xây dựng các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội Tây Bắc phù hợp với các dân tộc và có hiệu quả hơn
Trang 17Chương 1
Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
I Tổ chức nghiên cứu của đề tài
Đề tài “Những đặc điểm tâm lý của các dân tộc thiểu số ở khu vực Tây
Bắc và ảnh hưởng của chúng đến sự ổn định và phát triển ở khu vực này ”
được Bộ Khoa học và Công nghệ, Chương trình KH & CN cấp Nhà nước KX -
03 ký hợp đồng thực hiện từ ngày 10 tháng 5 năm 2007 Thời gian thực hiện gần 2 năm Đề tài kết thúc vào tháng 12/2008
Quá trình thực hiện đề tài được chia làm 4 giai đoạn cơ bản: Chuẩn bị,
điều tra chính thức, xử lý số liệu và hoàn thành
1 Giai đoạn chuẩn bị (Từ tháng 4/2007 – 6/2007)
Trong giai đoạn này, đề tài đã hoàn thành một số công việc cụ thể sau:
1.1 Sưu tầm và nghiên cứu tư liệu
Để có thể xác định những nội dung nghiên cứu, hoàn thiện đề cương chi tiết, xây dựng các phiếu điều tra, đề tài đã sưu tầm và nghiên cứu 174 tài liệu, trong đó có 148 tài liệu bằng tiếng Việt và 26 tài liệu bằng tiếng Anh Đó là các tài liệu nghiên cứu về kinh tế, văn hoá, lịch sử, tôn giáo và tâm lý của khu vực Tây Bắc
1.2 Tổ chức nghe một số báo cáo về Tây Bắc
Đề tài đã tổ chức cho các cán bộ tham gia thực hiện đề tài nghe một số báo cáo về tình hình kinh tế – xã hội, về mối quan hệ giữa các dân tộc ở Tây Bắc do cán bộ của Viện Tâm lý học và một số chuyên gia của các Viện nghiên cứu khác trong Viện Khoa học xã hội Việt Nam trình bày
Ngoài ra, Dự án còn tổ chức nghe báo cáo một số vấn đề lý luận về Tâm
lý học dân tộc như: tri giác giữa các dân tộc, đồng nhất, định kiến, xung đột dân tộc, giao tiếp giữa các nhóm dân tộc
1.3 Tổ chức các đoàn đi khảo sát thử tại Hoà Bình và Lai Châu
Dự án đã tổ chức một số đoàn đi khảo sát thử ở 2 tỉnh Hoà Bình và Lai Châu Mục đích của các đợt khảo sát thử này là tìm hiểu tình hình quan hệ giữa các dân tộc, tình hình phát triển kinh tế – xã hội của các dân tộc thiểu số,
địa bàn khảo sát phục vụ cho việc thiết kế phiếu điều tra và chọn mẫu nghiên cứu
1.4 Thiết kế phiếu điều tra
Quá trình thiết kế phiếu điều tra được thực hiện theo các bước sau:
Trang 18- Xác định những nội dung nghiên cứu cơ bản Trên cơ sở các nội dung nghiên cứu này, chúng tôi xác định các chỉ số để đo các nội dung nghiên cứu Nói cách khác, đây là quá trình thao tác hoá các khái niệm, xác định các chỉ
số để thiết kế các câu hỏi và phương án trả lời
1.4.1 Thiết kế phiếu điều tra định lượng (bảng hỏi)
a Các loại phiếu điều tra:
Đề tài đã thiết kế 2 phiếu điều tra mang tính chất định lượng để khảo sát các dân tộc ở Tây Bắc Đó là các phiếu:
- Phiếu điều tra số 1 (dành cho các dân tộc thiểu số)
- Phiếu điều tra số 2 (dành cho dân tộc Kinh)
Nội dung của 2 phiếu điều tra này giống nhau, nhưng có một số câu hỏi khác nhau về một số từ ngữ, cách hỏi để phù hợp với các nhóm dân tộc Phiếu điều tra định lượng gồm 71 câu hỏi
b Nội dung của phiếu điều tra
Các câu hỏi của phiếu điều tra định lượng đề cập đến các khía cạnh tâm
lý dân tộc sau:
1) Nhận thức của các dân tộc thiểu số
ở đây có các chỉ số để đo vấn đề nhận thức của các dân tộc thiểu số như sau:
- Tư duy sản xuất truyền thống
- Thực trạng nhận thức các dân tộc thiểu số hiện nay:
+ Nhận thức về một số chính sách quan trọng và thiết thực đối với các dân tộc
+ Nhận thức về cách thức sản xuất, chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng + Kế hoạch, chiến lược phát triển sản xuất gia đình theo hướng sản xuất hàng hoá
- Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của các dân tộc thiểu số:
+ Các điều kiện địa lý, môi trường
+ Văn hoá của các dân tộc thiểu số và của đất nước
Trang 193) Tính cách của các dân tộc thiểu số
- Đánh giá về các nét tính cách cơ bản
+ Tự các dân tộc đánh giá về tính cách của dân tộc mình
+ Các dân tộc khác đánh giá về tính cách của một dân tộc nào đó
- ảnh hưởng của tính cách đến sự phát triển kinh tế - xã hội của các dân
tộc thiểu số
4) Giao tiếp giữa các dân tộc và trong cộng đồng dân tộc
- Giao tiếp trong gia đình, dòng họ
- Giao tiếp giữa các dân tộc trong phạm vi cộng đồng dân cư (thôn bản)
- Mối quan hệ giữa tri giác và giao tiếp giữa các dân tộc
- Tri giác và sự giúp đỡ trong cộng đồng dân tộc và giữa các dân tộc
- Tri giác và xung đột dân tộc
6) Tiếp biến văn hoá giữa các dân tộc
a Tiếp nhận các giá trị của dân tộc khác:
- Các khía cạnh và giá trị tiếp nhận
- Mức độ tiếp nhận
- Nguyên nhân tiếp nhận
b Sự bảo lưu các giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số:
- Các biểu hiện của sự bảo lưu
- Mức độ bảo lưu
- Các nguyên nhân bảo lưu
7) Thái độ của các dân tộc thiểu số
- Thái độ đối với các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước
- Thái độ đối với các thành viên khác của dân tộc mình
- Thái độ đối với dân tộc khác
- Mối quan hệ giữa thái độ và quan hệ giữa các dân tộc, đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc
Trang 208) Một số khía cạnh tâm lý của những vấn đề xã hội nhạy cảm, bức xúc
- Khía cạnh tâm lý của hiện tượng du canh, du cư của các dân tộc thiểu
số, trong đó có di cư xuyên quốc gia của người Hmông
- Khía cạnh tâm lý của việc buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới
- Khía cạnh tâm lý của việc đòi quyền tự trị của các dân tộc thiểu số
- Vấn đề định kiến và kỳ thị dân tộc
- Sự chuyển đổi từ tín ngưỡng truyền thống sang đạo tin lành
9) Nguyện vọng và kiến nghị của các dân tộc thiểu số
- Các dân tộc đề xuất các nguyện vọng
- Các dân tộc đề xuất các kiến nghị
1.4.1 Thiết kế phiếu điều tra định tính (Phiếu phỏng vấn sâu)
Cùng với việc điều tra định lượng (điều tra với một số lượng lớn khách thể nghiên cứu), đề tài đã tiến hành điều tra định tính (phỏng vấn sâu) một số người dân, cán bộ lãnh đạo xã, thôn của các tỉnh Tây Bắc được khảo sát Đề tài
đã thiết kế 2 loại phiếu phỏng vấn sâu:
a Phiếu phỏng vấn sâu số 1 (dành cho các dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh) Nội dung của phiếu phỏng vấn sâu tập trung vào các vấn đề sau:
- Lý giải về thực trạng hiểu biết của người dân về các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước:
+ Những chính sách nào là quan trọng nhất, có ý nghĩa nhất đối với các dân tộc? Vì sao?
+ Việc thực hiện chính sách nào là khó khăn nhất ở địa phương? Tại sao? + Tại sao các dân tộc lại thay đổi hoặc không thay đổi cách thức sản xuất truyền thống của mình?
- Lý giải về năng lực sản xuất của các dân tộc thiểu số:
+ Tìm hiểu cách thức tổ chức sản xuất của các dân tộc, mục đích của việc sản xuất (để dùng hay để bán thành hàng hoá)
+ Cách thức tổ chức cuộc sống của gia đình
+ Hiệu quả của hoạt động sản xuất
+ Tìm hiểu các nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến năng lực tổ chức sản xuất của các dân tộc
- Lý giải về tính cách của các dân tộc thiểu số:
+ Những nét tâm lý đặc trưng của các dân tộc thiểu số Sự hình thành và biểu hiện của các nét tính cách này
Trang 21+ Sự ảnh hưởng của tính cách đến hoạt động sản xuất và sinh hoạt của các dân tộc thiểu số
- Lý giải về tri giác giữa các dân tộc:
+ Sự đánh giá của các dân tộc về nhau (dân tộc nào là thân thiện nhất và dân tộc nào là khó gần nhất? Tại sao?)
+ Những biểu hiện và nguyên nhân của các mâu thuẫn, xung đột dân tộc
- Lý giải về sự tiếp biến văn hoá và đồng nhất dân tộc:
+ Những biểu hiện và nguyên nhân của việc tiếp nhận các giá trị mới của các dân tộc thiểu số
+ Những biểu hiện và nguyên nhân của việc giữ gìn các giá trị truyền thống của các dân tộc thiểu số
- Lý giải về tinh thần cộng đồng và ý thức dân tộc:
+ Sự cố kết trong cộng đồng dòng họ và cộng đồng thôn bản, nguyên nhân của sự cố kết
+ ý thức dân tộc - những biểu hiện và vai trò của nó đối với sụ phát triển
và quan hệ giữa các dân tộc
- Lý giải những khía cạnh tâm lý của một số vấn đề xã hội nhạy cảm ở Tây Bắc hiện nay
+ Vấn đề du canh du cư, di dân - biểu hiện và nguyên nhân
+ Vấn đề trồng và buôn bán thuốc phiện, nghiện hút ma tuý - biểu hiện và nguyên nhân
+ Việc buôn bán phụ nữ và trẻ em, mại dâm - thực trạng và nguyên nhân + Tư tưởng lý khai và đòi quyền tự trị - có hay không ở các dân tộc thiểu
số Nếu có thì nguyên nhân là gì?
+ Việc chuyển đổi từ tín ngưỡng truyền thống sang tôn giáo mới, nhất là
đạo tin lành, nguyên nhân?
b Phiếu phỏng vấn sâu số 2 (dành cho cán bộ xã)
Nội dung của phiếu phỏng vấn này tập trung vào các vấn đề sau:
- Một số thông tin về cá nhân : Họ tên, chức vụ, tên xã, huyện, tỉnh
- Vài nét về đặc điểm địa lý, tình hình kinh tế xã hội của địa phương
Trang 22- Đánh giá thực trạng và lý giải nguyên nhân của cán bộ xã về các vấn
đề sau:
+ Nhận thức của người dân về các chủ trương chính sách của Đảng
và Nhà nước
+ Về năng lực sản xuất của các dân tộc thiểu số
+ Về tính cách dâ tộc và tri giác giữa các dân tộc
+ Về tinh thần cộng đồng và ý thức dân tộc
+ Về tiếp biến văn hoá và đồng nhất dân tộc
+ Về những vấn đề bức xúc, nhạy cảm của các dân tộc ở Tây Bắc + Về những mong muốn và nguyên vọng của người dân
c Phiếu khảo sát học sinh:
Phiếu có 2 câu hỏi mở:
- Câu 1: Các em thích lựa chọn mình là dân tộc nào?
- Câu 2: Tri giác (nhận xét) của các về dân tộc khác
2 Giai đoạn điều tra chính thức của đề tài
(Từ tháng 6/2007 – 2/2008 )
2.1 Địa điểm điều tra
Đề tài đã khảo sát 6 tỉnh của Tây Bắc: Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình, Lai
Châu, Lào Cai, Hà Giang
2.2 Hình thức điều tra
a Điều tra bằng bảng hỏi ( điều tra định lượng):
Tổng số người điều tra : 1.252 người
b Phỏng vấn sâu (điều tra định tính) :
Tổng số người điều tra: 200 người
c Điều tra học sinh:
Tổng số người điều tra: 565 người
Tổng số khách thể điều tra trên toàn mẫu: 2.017 người
3 Giai đoạn xử lý số liệu điều tra
- Các số liệu điều tra đã được xử lý theo phương pháp thống kê toán học SPSS Các câu hỏi đã được xử lý theo các tiêu chí sau: số liệu tổng quát và các
số liệu xử lý theo các biến số: dân tộc, các nhóm dân tộc, địa phương (tỉnh), học vấn, tuổi, chức vụ và giới tính
- Việc xử lý số liệu được thực hiện theo 2 giai đoạn:
Trang 23+ Giai đoạn 1: Đây là giai đoạn xử lý thô - xử lý số liệu từ các phiếu
điều tra theo 2 dạng – các số liệu tổng quát và các số liệu theo biến độc lập
+ Giai đoạn 2: Đây là giai đoạn xử lý tinh, tức là trên cơ sở số liệu của
giai đoạn 1, xử lý lại để có các bảng số liệu mang tính tổng quát hơn, dễ hiểu hơn
4 Tổ chức Hội thảo khoa học
- Sau khi hoàn thành việc tổ chức điều tra tại 7 tỉnh Tây Bắc, xử lý xong
số liệu điều tra, Đề tài đã tổ chức Hội thảo khoa học vào tháng năm 2008
- Mục đích của Hội thảo là trao đổi làm sáng tỏ những vấn đề được đề cập trong nội dung nghiên cứu của Đề tài, phục vụ cho việc viết báo cáo tổng kết và công tác nghiệm thu Đề tài
- Tham gia Hội thảo có các cán bộ nghiên cứu của Viện Tâm lý học, các viện nghiên cứu thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam có thực hiện các đề tài liên quan đến Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
- Hội thảo đã tập trung phân tích, trao đổi những vấn đề mà đề tài đã
điều tra tại Tây Bắc, cũng như đặt ra một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
II Phương pháp nghiên cứu
1 Cách tiếp cận nghiên cứu
Nghiên cứu những đặc điểm tâm lý của các dân tộc ở Tây Bắc được tiếp cận theo một số hướng sau và đây cũng là nguyên tắc chỉ đạo việc nghiên cứu của đề tài :
a Thứ nhất, tiếp cận theo hướng Tâm lý học dân tộc và Tâm lý học xã hội
Điều này có nghĩa là nghiên cứu tâm lý dân tộc là nghiên cứu về tâm lý của một loại nhóm xã hội lớn – nhóm dân tộc Các đặc điểm tâm lý của nhóm dân tộc không phải là sự cộng lại các đặc điểm tâm lý của các thành viên thuộc dân tộc đó, mà là những đặc điểm tâm lý tiêu biểu nhất, đặc trưng nhất của dân tộc Đó là sự kết tinh các đặc điểm tâm lý các thành viên trong cộng
đồng dân tộc đó Do vậy, mỗi thành viên của dân tộc mặc dù có những nét nhân cách riêng, nhưng khi soi vào tâm lý của dân tộc mình đều nhận ra mình trong đó
b Thứ hai, tiếp cận theo hướng khoa học liên ngành
Để nghiên cứu các đặc điểm tâm lý của một dân tộc chúng ta không chỉ tìm hiểu từ góc độ của khoa học tâm lý, mà cần tìm hiểu từ góc độ của một số khoa học khác như: Dân tộc học, kinh tế học, văn hoá, xã hội học, tôn giáo, lịch sử… Có như vậy chúng ta mới hiểu đúng và sâu sắc về các đặc điểm tâm
lý của một dân tộc
Trang 242 Các phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng đồng bộ một số phương pháp nghiên cứu Chúng tôi đã kết hợp giữa nghiên cứu định lượng với nghiên cứu định tính Dưới đây là các phương pháp nghiên cứu cụ thể mà đề tài đã thực hiện:
2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã nghiên cứu 174 tài liệu, trong đó có 148 tài liệu bằng tiếng Việt, 26 tài liệu bằng tiếng Anh Đây là các tài liệu về tâm lý học, kinh tế, văn hoá, dân tộc, lịch sử, tôn giáo… liên quan tới dân tộc nói chung và liên quan tới dân tộc ở Tây Bắc
2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng phương pháp bảng hỏi như một phương pháp chính của đề tài Đây là phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm chỉ ra thực trạng các đặc điểm tâm lý của các dân tộc ở Tây Bắc
Đề tài đã sử dụng 2 lọại bảng hỏi để điều tra tại 6 tỉnh của khu vực Tây Bắc với số lượng là 1.252 người thuộc 6 dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh để so sánh
Đề tài đã tiến hành điều tra bằng hỏi 565 học sinh cấp II và cấp III của một số trường phổ thông Mục đích của điều tra học sinh là nhằm tìm hiểu tri giác và định kiến dân tộc của các em
2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
ở khu vực Tây Bắc, đề tài đã tiến hành phỏng vấn sâu 200 người dân và cán bộ quản lý xã, thôn bản của 7 tỉnh đã được điều tra
Mục đích của phỏng vấn sâu là giúp đề tài lý giải sâu hơn những đặc
điểm tâm lý dân tộc mà nghiên cứu định lượng đã phát hiện ra Hay nói cách khác, tại sao các dân tộc lại có những đặc điểm tâm lý như vậy? Mặt khác tìm hiểu những khía cạnh tâm lý của một số vấn đề xã hội nhạy cảm ở khu vực Tây Bắc
2.4 Phương pháp thảo luận nhóm
Đề tài đã tổ chức một số cuộc thảo luận nhóm Mỗi nhóm thảo luận có
từ 10 đến 20 người Đa số các nhóm này đều là người dân tộc thiểu số và ở lứa tuổi thanh niên
2.5 Phương pháp tham gia
Đây là phương pháp mà các cán bộ điều tra của đề tài tham gia vào các hoạt động thực tế của địa phương nhằm phát hiện các đặc điểm tâm lý của các dân tộc, cũng như lý giải chúng Trong quá trình điều tra một số cán bộ nghiên
Trang 25cứu của đề tài đã ăn và ngủ tại nhà cán bộ xã, thôn là người dân tộc thiểu số để hiểu rõ hơn cuộc sống và tâm lý của các dân tộc
2.6 Phương pháp quan sát
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng phương pháp quan sát như một phương pháp bổ trợ quan trọng Những người thực hiện đề tài đã sử dụng máy ảnh, máy quay camera để ghi lại các hình ảnh về đời sống của đồng bào các dân tộc, cùng với sự quan sát trực tiếp của cán bộ nghiên cứu như quan sát nhà ở, trang phục, cách thức tổ chức cuộc sống hàng ngày v.v…
2.8 Phương pháp thống kê toán học SPSS (để xử lý số liệu)
Các số liệu điều tra đã được xử lý theo phương pháp thống kê toán học SPSS Hàng ngàn bảng số liệu đã được xử lý và sắp xếp theo các tiêu chí: số liệu tổng quát, số liệu theo các dân tộc và số liệu theo các vấn đề nghiên cứu của đề tài
III Mô tả mẫu nghiên cứu
1.Tổng số khách thể điều tra : 2.017 người
Bảng 1: Khách thể điều tra phân theo phương pháp nghiên cứu
TT
Phương pháp
nghiên cứu
Tổng số khách thể điều tra ( người )
Trang 262 Các địa điểm điều tra: 7 tỉnh ; 7 huyện; 11 xã, thị trấn
Bảng 2: Các địa điểm điều tra tại Tây Bắc
1 Hoà Bình Kim Bôi 1 Tú Sơn
2 Sơn La Mường La 1 Thị trấn ít Ong
3 Điện Biên Tuần Giáo 1 Xã Phú Nhung
4 Lai Châu Than Uyên 1 Xã Thân Thuộc
Trang 273 Các dân tộc đ∙ được điều tra
Các dân tộc đã được điều tra bằng phương pháp định lượng
Bảng 3: Các dân tộc đã điều tra tại Tây Bắc
Trang 284 Kh¸ch thÓ ®iÒu tra lµ häc sinh
B¶ng 4 : Kh¸ch thÓ ®iÒu tra lµ häc sinh ph©n theo d©n téc
Trang 295 §Æc ®iÓm tuæi, giíi tÝnh vµ häc vÊn cña kh¸ch thÓ
B¶ng 5 : Kh¸ch thÓ ®iÒu tra theo tuæi, giíi tÝnh vµ häc vÊn
TT Tiªu chÝ Tiªu chÝ cô thÓ Sè l−îng %
Trang 30chương II
Kết quả nghiên cứu của đề tài
I Một số vấn đề lý luận liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài
1 Khái niệm dân tộc
Khái niệm dân tộc thường được dùng theo hai nghĩa: Thứ nhất, dân tộc
với tư cách là một quốc gia Ví dụ: dân tộc Việt Nam (nước Việt Nam), dân
tộc Cămpuchia (nước Cămpuchia), Thứ hai, dân tộc với nghĩa là một tộc người
trong một quốc gia đa dân tộc Ví dụ: dân tộc Kinh (Việt), dân tộc Tày, Nùng,
Ê đê, Ja rai… Trong đề tài nghiên cứu này, khái niệm dân tộc dùng để chỉ một tộc người trong quốc gia đa dân tộc Việt Nam
Xác định nội hàm của khái niệm dân tộc là công việc rất khó khăn Vì
đây là đây là vấn đề tranh luận trong nhiều thập kỷ qua
Khi nói đến khái niệm dân tộc, người ta hay nhắc đến định nghĩa dân tộc của Stalin Trong cuốn “Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc” (1913), Stalin viết: “Dân tộc là một khối người cộng đồng ổn định, thành lập trong lịch sử dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, về lãnh thổ, về sinh hoạt kinh tế và hình thành tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng về văn hoá“ (Trích trong cuốn "Vấn
đề dân tộc và thuộc địa", NXB Sự thật, Hà Nội, 1962, trang 15)
Định nghĩa dân tộc trên của Stalin đã trở thành đề tài tranh luận của khoa học xã hội trong nhiều thập kỷ của thế kỷ XX Bởi vì, đây không chỉ là khái niệm khoa học mà còn là vấn đề lý luận dân tộc, nó gắn liền với chính sách chính trị, đường lối dân tộc của các quốc gia Về vấn đề này tồn tại hai khuynh hướng: Thứ nhất, đồng tình với định nghĩa này Thứ hai, không đồng tình Những người theo khuynh hướng thứ hai muốn đưa ra một định nghĩa khác về dân tộc
Trong Từ điển bách khoa Việt Nam, khi nói về dân tộc với tư cách là một tộc người trong một quốc gia đã chỉ ra tiêu chí quan trọng của khái niệm này: Dân tộc là cộng đồng được “liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hoá, nhất là ý thức tự giác tộc người” (Từ điển bách khoa Việt Nam, tập I, Hà Nội, 1995, tr 655)
Trong đề tài này, chúng tôi muốn xem xét nội hàm khái niệm từ góc độ của khoa học tâm lý Có những định nghĩa khác nhau về dân tộc
L.N Gumilev (1912-1992) đã xem dân tộc như là một hiện tượng địa lý,
tự nhiên, chứ không phải là một hiện tượng xã hội Ông coi dân tộc chỉ là một cộng đồng người, khác biệt với những cộng đồng khác, có cấu trúc đặc biệt bên trong và có định khuôn hành động riêng Nói cách khác, những đặc trưng
Trang 31tâm lý mà ông coi là dấu hiệu cơ bản của dân tộc gồm: tự ý thức (hay đồng nhất dân tộc), định khuôn hành động được hiểu như là những chuẩn mực trong quan hệ giữa các nhóm và các cá nhân, cũng như giữa các cá nhân
Có một số nhà nghiên cứu Xô viết lại ủng hộ việc xác định nội hàm khái niệm dân tộc từ góc độ xã hội – lịch sử Đại diện của trường phái này là nhà
dân tộc học Iu.V.Bromlei (1921-1990) Ông định nghĩa dân tộc như sau: Dân
tộc là cộng đồng người được hình thành về mặt lịch sử trên một lãnh thổ nhất
định, có những đặc điểm chung, tương đối bền vững về ngôn ngữ, văn hoá và tâm lý, cả ý thức về sự thống nhất và khác biệt với dân tộc khác (tự ý thức) ở nghĩa rộng dân tộc được coi là một cơ cấu xã hội – cộng đồng về kinh tế và
chính trị (Iu.V Bromlei, 1983)
Các nhà tâm lý học không quan tâm nhiều lắm đến những quan điểm khác nhau trong các hướng tiếp cận Họ thấy quan điểm chung của các hướng
tiếp cận này là thừa nhận tính đồng nhất dân tộc (tự ý thức dân tộc) là một
trong những đặc trưng của dân tộc, thậm chí là đặc trưng duy nhất Điều này
có nghĩa là dân tộc là cộng đồng tâm lý đối với các cá nhân Do vậy, nhiệm vụ của các nhà tâm lý học là nghiên cứu về những con người ý thức được mình là thành viên của nhóm này (của dân tộc mình)
Khi nghiên cứu về ý thức dân tộc, các nhà tâm lý học quan tâm đến vấn
đề là các thành viên của một dân tộc cùng tồn tại một quan điểm thống nhất về những đặc trưng của dân tộc mình, những cái làm cho dân tộc mình khác biệt với những dân tộc khác Những đặc trưng ấy rất đa dạng, như: ngôn ngữ, giá trị, chuẩn mực, ký ức lịch sử, tôn giáo, biểu tượng về tổ tiên, huyền thoại về tổ tiên, tính cách dân tộc, huyền thoại dân tộc, nghệ thuật… Trong quá trình phát triển của dân tộc, một số dấu hiệu truyền thống có thể mất đi và xuất hiện một
số dấu hiệu mới
Khi nói đến dân tộc như một cộng đồng là chúng ta nói tới một cộng
đồng của những biểu tượng chung về dáu hiệu nào đó, là niềm tin của mọi người vào cái mà họ liên kết với nhau một cách tự nhiên
Từ góc độ của tâm lý học xã hội ta thấy, dân tộc là một loại nhóm xã hội lớn bền vững với những đặc trưng tâm lý Dân tộc trước hết là một cộng
đồng tâm lý Những đặc trưng tâm lý này không phải là sự cộng lại các đặc
điểm tâm lý của các thành viên của nhóm mà là những đặc điểm tâm lý chung nhất, tiêu biểu nhất của các thành viên trong nhóm Những đặc điểm tâm lý này là cái mà mỗi thành viên của dân tộc đó soi vào đều nhận ra mình trong
đó Cái tiêu biểu, cái chung nhất của một dân tộc phải chăng đó là tự ý thức của mỗi thành viên về dân tộc mình ở đây, chúng tôi rất tâm đắc định nghĩa dân tộc của những người sáng lập ra Tâm lý học dân tộc là Lazarus và
Steinthal: “Dân tộc là một tập hợp của những con người, mà những con người
ấy tự xếp mình vào tập hợp đó ” (T.G Stephanenko, 2003) Với định nghĩa
Trang 32này ta thấy các thành viên của các cộng đồng dân tộc có thể khác nhau về giới tính, lứa tuổi, vị thế xã hội, tính cách, nhu cầu, sở thích…, nhưng mỗi người
đều nhận thấy ở họ có một nét chung – nét chung mà dù họ sống ở đâu cũng không thể mất đi được, đó là ý thức của họ về dân tộc mình
Khi định nghĩa về dân tộc chúng tôi cho rằng cần nhấn mạnh đến tự ý thức dân tộc (chung về tâm lý), tức là các thành viên của cộng đồng ý thức về những cái chung của cộng đồng mình Từ những phân tích trên, ta có thể đưa
ra khái niệm dân tộc như sau:
Dân tộc là cộng đồng người ổn định, mà những người đó ý thức rõ mình
là thành viên của cộng đồng trên cơ sở những dấu hiệu chung được tiếp nhận như là những đặc trưng phân biệt dân tộc một cách hiển nhiên và bền vững
Khi nói đến dân tộc là chúng ta nói đến những cộng đồng người không phân biệt trình độ phát triển, đa số hay thiểu số, có cùng chung ngôn ngữ, văn hoá
2 ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc và ý thức quốc gia
Khi nghiên cứu các đặc điểm tâm lý dân tộc chúng ta không thể không
nói tới các vấn đề ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc và ý thức quốc gia Ba vấn
đề này luôn nằm trong mối liên hệ biện chứng với nhau và ảnh hưởng đến đời sống xã hội của địa phương, cũng như của quốc gia Nói cách khác, chúng tác
động tương hỗ và ảnh hưởng lẫn nhau Tuỳ theo thời điểm, hoàn cảnh, đặc
điểm của mỗi dân tộc mà ý thức nào thể hiện nổi trội hơn và được quan tâm hơn
ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc và ý thức quốc gia được hiểu là sự nhận thức tích cực của chủ thể về cộng đồng, dân tộc, quốc gia và được biểu hiện bằng thái độ và hành động mà cá nhân nhận thấy cần phải có đối với cộng đồng, dân tộc, quốc gia của mình
ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc và ý thức quốc gia là ý thức về nhóm
ở ba cấp độ khác nhau
2.1 ý thức cộng đồng
Cấp độ cộng đồng là cấp độ hẹp nhất ở đây các cá nhân có những mối
liên hệ và phối hợp hành động với nhau trực tiếp hơn Sự ảnh hưởng giữa các cá nhân với nhau cũng rõ nét hơn Khái niệm cộng đồng trong nội dung nghiên cứu của đề tài là các thôn, buôn, ấp…và ở các đô thị là các tổ dân phố
Trang 33Đối với xã hội Việt Nam mà gần 80% dân số là cư dân nông nghiệp, sống ở nông thôn thì cộng đồng có đặc điểm rất riêng và có ý nghĩa lớn đối với cuộc sống của người dân
So với dân tộc và quốc gia thì cộng đồng là nhóm gần các cá nhân nhất Trong cộng đồng các mối quan hệ có tính trực tiếp hơn, sự phối hợp hành
động trực tiếp hơn ý thức cộng đồng là ý thức về nhóm chúng tôi – những suy
nghĩ tích cực của các nhân về nhóm chúng tôi, những thái độ và hành vi cho nhóm, vì lợi ích của nhóm chúng tôi
Khi nói tới ý thức cộng đồng của một dân tộc là nói tới hai khía cạnh: Cộng đồng cư dân và cộng đồng dòng họ Hai cộng đồng này đều có ý nghĩa quan trọng đối với các thành viên của một dân tộc
Trong lịch sử dân tộc ta, cộng đồng làng xã có vai trò to lớn đối với mỗi gia đình và cá nhân Cộng đồng đóng vai trò quan trọng đối với việc chống giặc ngoại xâm, chống thiên tai bão lụt, trrong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người dân Với tinh thần “lá lành đùm lá rách’’, ‘tắt lửa tối đèn có nhau’… cộng đồng giúp đỡ các gia đình trong lúc khó khăn, ốm đau, trong các công việc lớn như cưới xin, ma chay, làm nhà, giỗ chạp…
Cộng đồng dòng họ là cộng đồng gần nhất và có ý nghĩa quan trọng nhất đối với các thành viên của một dân tộc Trong những lức khó khăn nhất, trong lúc làm các công việc lớn của gia đình (cưới xin, ma chay, làm nhà, ốm
đau ) người ta trước hết người ta nhờ sự giúp đỡ của dòng họ Đây là cộng
đồng có sự cố kết, đồng cảm và hợp tác cao nhất của các dân tộc
Bên cạnh những mặt tích cực, cộng đồng cũng có những ảnh hưởng tiêu cực đến các cá nhân Trong suốt một thời gian dài, cộng đồng là nơi hình thành và duy trì tư tưởng bình quân chủ nghĩa, tư tưởng cào bằng Do vậy, nó hạn chế sự phát triển năng lực, sáng tạo của các cá nhân
2.2 ý thức dân tộc
Nếu ý thức cộng đồng là ý thức về nhóm chúng tôi thì ý thức dân tộc là
ý thức về nhóm chúng ta Do dân tộc là nhóm xã hội lớn, nên giao tiếp giữa
các thành viên của nhóm mang tính gián tiếp hơn Sự ảnh hưởng của dân tộc
đến các thành viên ít hơn, gián tiếp hơn sự ảnh hưởng của cộng đồng đến các cá nhân
ý thức dân tộc được thể hiện rõ khi các thành viên của dân tộc giao tiếp với dân tộc khác, khi lợi ích và sự tồn tại của dân tộc bị đe dọa (khi dân tộc
đứng trước sự xâm lăng của một dân tộc khác )
ý thức dân tộc cũng được thể hiện khi các cá nhân ý thức về cội nguồn,
về bản sắc của dân tộc mình ở đây, ý thức dân tộc thể hiện như niềm tự hào
về dân tộc mình
Trang 34Khi chúng ta nói tới ý thức dân tộc thực tế là chúng ta nói tới tự ý thức
So với hai nhóm xã hội trên thì quốc gia là nhóm xã hội lớn nhất (một
quốc gia có thể có nhiều dân tộc, trong đó có một dân tộc đa số và các dân tộc
thiểu số) ý thức quốc gia là ý thức về đất nước mình và được thể hiện rõ nhất
qua tình yêu đất nước, lòng tự hào đất nước và tinh thần sẵn sàng hy sinh khi
đất nước đứng trước các nguy cơ đe doạ (khủng hoảng kinh tế, chính trị, thiên tai, sự xâm lược của kẻ thù…) Khi chúng ta nói tôi là người con của dân tộc Việt (Kinh) thì đó là ý thức dân tộc Khi chúng ta nói tôi là người con của nước Việt Nam, tôi là một người Việt Nam thì đó là ý thức quốc gia
ở trong mỗi chúng ta đều tồn tại cả 3 ý thức trên Tuỳ thuộc vào các hoàn cảnh cụ thể mà mỗi loại ý thức trên được bộc lộ ra rõ hơn Nếu so trong 3 loại ý thức trên thì ý thức cộng đồng được thể nhiều hơn trong đời sống sinh hoạt hàng ngày (cưới xin, ma chay, dựng nhà văn hoá, nhà rông…), còn ý thức dân tộc và ý thức quốc gia thể hiện rõ hơn qua các sinh hoạt văn hoá (trang phục, nhà ở, lễ hội…) và khi lợi ích của dân tộc, quốc gia bị đe doạ
Có thể nói từ góc độ của khoa học tâm lý, vấn đề ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc và ý thức quốc gia còn ít được nghiên cứu và trên đây chỉ là những phân tích bước đầu
đầy đủ của chủ thể về các đối tượng xã hội (những người khác, các nhóm, các giai cấp, và dân tộc…)
Tri giác giữa các dân tộc phụ thuộc nhiều vào trình độ nhận thức, hiểu biết của các dân tộc, vào tần số và hiệu quả giao tiếp giữa các dân tộc, vào tính cách dân tộc, vào các thông tin mà các dân tộc nhận được về nhau
Đối với cộng đồng cư dân ở Tây Bắc, nếu trong cộng đồng (thôn, bản)
có những dân tộc khác nhau cùng sinh sống thì sự tri giác giữa các dân tộc sẽ tốt hơn (so với những cộng đồng chỉ có duy nhất một dân tộc sinh sống) Mặt
Trang 35khác, nếu sự hợp tác giữa các dân tộc trong hoạt động sản xuất kinh doanh
càng nhiều thì tri giác giữa các dân tộc càng tốt
Tri giác dân tộc là một cơ sở quan trọng để hình thành nên tình cảm,
cách thức ứng xử, thái độ và sự phối hợp hành động trong lao động sản xuất và
sinh hoạt hàng ngày giữa các dân tộc Tri giác dân tộc là yếu tố có ảnh hưởng
trực tiếp tới việc hình thành nên định kiến giữa các dân tộc
Tri giác dân tộc phụ thuộc vào đường lối chủ trương, chính sách, sự
tuyên truyền giáo dục của Đảng và Nhà nước
4 Đồng nhất dân tộc
Khi nghiên cứu tâm lý dân tộc chúng ta không thể không bàn tới vấn đề
đồng nhất dân tộc
Khái niệm đồng nhất dân tộc ở đây có thể hiểu ở hai góc độ: Thứ nhất,
đồng nhất dân tộc là quá trình cá nhân thống nhất bản thân mình với cá nhân
khác (thuộc dân tộc mình hoặc dân tộc khác) hay nhóm dân tộc của mình hoặc
nhóm dân tộc khác trên cơ sở những mối liên hệ cảm xúc, chuyển những
chuẩn mực, hình mẫu của họ vào thế giới nội tâm của mình Hình thức đồng
hoá này thẻ hiện rõ hơn ở trẻ em trước tuổi đến trường Thứ hai, đồng nhất dân
tộc thể hiện ở chỗ cá nhân nhìn nhận người khác như sự kéo dài của chính bản
thân mình hay là hình chiếu của mình
Đồng nhất dân tộc thể hiện ở hai khía cạnh:
a) Cá nhân đi tìm dân tộc cho mình ở đây chủ yếu nói đến đồng nhất
dân tộc của trẻ Đứa trẻ tự cho mình là người dân tộc gì Đó là quá trình đứa
trẻ nhận thức về dân tộc của mình, tình cảm đối với dân tộc của mình và từ đó
hình thành ý thức về dân tộc mình
b) Đồng nhất dân tộc có thể là quá trính các thành viên của một dân tộc
này tiếp nhận các giá trị của dân tộc khác (thường là dân tộc phát triển hơn về
kinh tế và văn hoá) để giúp họ hoà nhập và phát triển Tuy tiếp nhận các giá trị
của dân tộc khác, dẫn tới sự thay đổi trong cách thức sản xuất, ăn mặc, ở, sinh
hoạt, song các cá nhân vẫn luôn ý thức mình là người của dân tộc nào
Quá trình đồng nhất dân tộc với tư cách là quá trình tiếp nhận các giá trị
của dân tộc khác trong một quốc gia thường xẩy ra giữa các dân tộc kém phát
triển (dân tộc thiểu số) đối với dân tộc phát triển hơn (thường là dân tộc đa số)
Sự tiếp nhận này nhằm làm cho dân tộc tiếp nhận phát triển hơn, giúp họ dễ
dàng hơn hoà nhập hơn với nhịp độ phát triển chung của khu vực hay của quốc
gia
5 tính cách dân tộc
Tính cách dân tộc là một trong những vấn đề cơ bản trong nghiên cứu
về tâm lý dân tộc Đây là vấn đề phức tạp và khó khăn đối với các nhà nghiên
Trang 36cứu Nói về vấn đề này Gannhiep viết: “Tính cách của các dân tộc, tư tưởng và văn hoá là cái gì đó “rất khôn khéo” Khi ta biết được anh ta là ai và khi đó muốn gọi anh ta bằng từ nào đó mà ta cảm thấy rất khó thì thường nói tới cái chung nhất không chỉ đối với anh ta, mà chung cho cả dân tộc (Gannhiep,1988) Như vậy, tính cách dân tộc là cái chung và tiêu biểu cho một dân tộc
Tính cách dân tộc đầu tiên được mô tả trong văn học về các cuộc thám hiểm với mục đích thể hiện lối sống của dân tộc, sau đó một số nhà nghiên cứu cho rằng tính cách dân tộc là khí chất của dân tộc đó, trong nhân chủng học văn hoá người ta dùng các khái niệm như nhân cách cơ sở, mô thức nhân cách để chỉ tính cách dân tộc Sau đó các nhà nghiên cứu quay trở lại khái niệm tính cách dân tộc Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về tính cách dân tộc Theo nhà tâm lý học dân tộc Nga T.G Stefanenko (2003) cho rằng, tính cách dân tộc bị qui định bởi các nguyên tắc sau:
- Thứ nhất, tính cách dân tộc không phải là tổng số tính cách của từng thành viên của nó, mà là những nét điển hình được thể hiện ở một số lượng lớn các thành viên của dân tộc đó
- Thứ hai, không nên xem xét những nét nào đó là cái tiêu biểu cho một cộng đồng dân tộc Ví dụ, yêu lao động không phải là nét tính cách quan trọng nhất của dân tộc Nhật và dân tộc Đức
- Thứ ba, các nét tính cách có thể hiểu tổng số các giá trị phụ thuộc vào
điều kiện địa lý, điều kiện kinh tế – xã hội, lối sống và tín ngưỡng tôn giáo của dân tộc Yêu lao động là phẩm chất chung của nhân loại, nhưng trong các điều kiện lịch sử của các dân tộc khác nhau thì phẩm chất này có ý nghĩa khác nhau
Như vậy, nghiên cứu tính cách dân tộc là nghiên cứu về đặc điểm tâm lý xã hội tiêu biểu cho cộng đồng dân tộc đó và nghiên cứu tính cách dân tộc phải gắn với điều kiện tự nhiên, lịch sử và kinh tế - xã hội của dân tộc đó
Về khái niệm tính cách dân tộc chúng ta có thể xác định như sau:
Tính cách dân tộc là những đặc điểm tâm lý bền vững của một dân tộc,
được hình thành và biểu hiện trong hoạt động thực tiễn và trong giao tiếp
Tính cách dân tộc qui định cách thức hoạt động của các thành viên, cũng như của cộng đồng dân tộc Tính cách dân tộc cũng thể hiện tính nhất quán về quan điểm, đạo đức, nhu cầu, sở thích, tình cảm, ý chí và khát vọng của dân tộc Những biểu hiện này được thể hiện trong việc lựa chọn hành động, trong ứng xử, quan hệ của dân tộc Do vậy, khi nghiên cứu các đặc điểm tâm lý dân tộc thì tất yếu chúng ta phải tìm hiểu tính cách của dân tộc
Trang 37
II đặc điểm của địa bàn nghiên cứu và mẫu nghiên cứu
1 Một số đặc điểm địa lý, tự nhiên và kinh tế, x∙ hội của khu vực Tây bắc
Dưới góc độ địa lý - chính trị, các tỉnh Tây Bắc có vị trí quan trọng về kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng Tây Bắc thuộc địa đầu Tổ quốc, có vị trí chiến lược, phên dậu quốc gia, địa hình phức tạp hiểm trở, có nhiều ki-lô-mét
đường biên giới chung với nước bạn Trung Quốc và Lào Tây Bắc là miền đất giàu tiềm năng về khoáng sản, lâm nghiệp, cây công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, có các cửa khẩu quốc tế và khu kinh tế mở quan trọng Vùng Tây Bắc có
ảnh hưởng trực tiếp về môi trường sinh thái đến toàn bộ vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ
1.1 Điều kiện địa lý của Tây Bắc
Việc phân định ranh giới vùng Tây Bắc cũng tương đối khác nhau giữa các tác giả Năm 1998, Tây Bắc được hiểu gồm 3 tỉnh: Sơn La, Lai Châu và Hoà Bình Năm 2001, trong bản đồ du lịch, vùng Tây Bắc được mở rộng thêm với các tỉnh Yên Bái, Lào Cai Trong thời gian gần đây, vùng Tây Bắc được hiểu là vùng bao gồm các tỉnh: Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Hoà Bình và phía Tây của tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An Khi mở rộng thêm một địa phận của 2 tỉnh miền Trung, vùng Tây Bắc trở thành một vùng không đồng nhất về điều kiện địa lý, nhưng đồng nhất về trình độ phát triển Có thể nói đây là vùng nghèo khó nhất trong cả nước với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, không thuận tiện về giao thông
Về địa vực hành chính, hiện nay vùng Tây Bắc gồm 135 huyện, trong
đó có 10 huyện phía Tây tỉnh Thanh Hoá và 11 huyện Tây Nghệ An Nếu không tính diện tích của các huyện phía Tây Thanh Hóa và Tây Nghệ An (do chưa có con số thống kê đã được công bố) thì 7 tỉnh còn lại của khu vực Tây Bắc bao trùm một diện tích khoảng 58.643,9 km2, chiếm khoảng 17.7% diện tích của quốc gia, với dân số khoảng hơn 4 triệu người, chiếm 2,3% dân số cả nước (theo số liệu tổng điều tra dân số cả nước năm 1999)
Đây là vùng có mật độ dân số thấp nhất trong cả nước Với mật độ chỉ có 27 người/km2, Lai Châu là một trong những tỉnh có mật độ dân số thấp nhất trong cả nước Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy rằng mật độ dân số vùng Tây Bắc hiện nay đã tăng lên đáng kể so với giai đoạn 1960-1989 cùng với sự nhập cư của người Kinh và tỷ lệ tăng dân số cao của các dân tộc thiểu số địa phương Chẳng hạn, mật độ trung bình ở tỉnh Hà Tuyên cũ từ 26 người/km2 tăng lên 75 người/km2; Lai Châu từ 8 lên 27 người/km2; Sơn La từ 15 người /km2 lên 47 người /km2
Trang 381.2 Điều kiện tự nhiên của Tây Bắc
Tây Bắc Việt Nam là vùng lãnh thổ có đặc điểm địa hình phức tạp, núi non hiểm trở, giáp biên giới với Trung quốc và Lào Đây là nơi có địa hình núi
bị chia cắt mạnh với độ dốc lớn, trong đó sườn dốc chiếm phần lớn diện tích Trên 50% vùng cao có các sườn dốc trên 20 độ Địa hình dốc và chia cắt làm cho việc xây dựng đường sá khó khăn và bảo dưỡng tốn kém Việc tắc đường
do trượt đất là mối đe doạ thường xuyên Có ít đất bằng phẳng để làm ruộng lúa, buộc nông dân phải làm nương rẫy trên các sườn núi dốc ở huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình, các nương rẫy thậm chí còn được tiến hành trên cả các sườn dốc trên 50 độ, dốc đến mức con người đứng thẳng rất khó khăn nếu không bám vào các thân cây xung quanh
Mưa ở đây theo mùa, phần lớn lượng mưa cả năm tập trung vào một thời gian ngắn Những cơn giông ác liệt, thậm chí lũ quét gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, đường sá, hệ thống thuỷ nông Tình trạng mất đất do sói mòn là tương đối phổ biến Lượng mưa tập trung vào một thời điểm còn dẫn
đến độ hạn hán lớn vào mùa khô, ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất nông nghiệp
Đất ở vùng Tây Bắc có tính đa dạng khá lớn, trong đó đất faralitic đỏ vàng là loại phổ biến Nhiều đất bị phong hoá mạnh, đất nghèo chất dinh dưỡng rất dễ bị suy thoái do sói mòn nếu lớp phủ thực vật bị tàn phá …
Về mặt địa hình và sinh thái, vùng Tây Bắc là khu vực đa dạng Một số lưu vực giữa núi có thềm rộng, bằng phẳng, trong đó Điện Biên Phủ là thung lũng lớn nhất, cùng với nhiều thung lũng sâu, hẹp, đặc biệt là các thung lũng sông Hồng và sông Đà Bản thân các triền núi cũng biến đổi về địa hình và thổ nhưỡng, từ các ngọn đồi tròn bằng granit của Yên Bái đến các đỉnh núi đá vôi rất dốc của Sơn La, Lai Châu
Các kiểu khí hậu cũng khác nhau giữa các nơi khác nhau trong vùng Các tỉnh nằm ở hữu ngạn sông Đà thường có khí hậu ấm hơn và khô hơn nhiều
so với các tỉnh tả ngạn, điều này được phản ánh trong địa lý sinh vật Ngay trong một đới khí hậu, sườn dốc là nguồn gốc quan trọng của sự biến đổi Sự tái sinh của rừng sau khi chặt có vẻ thành công hơn ở các sườn dốc hướng Bắc, trong khi ở các sườn phía Nam cỏ và cây bụi có thể mọc nhiều hơn
Điều kiện tự nhiên và khí hậu tương đối khắc nghiệt và tính đa dạng trong nhiều lĩnh vực đã mô tả trên đây có ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội cũng như mối quan hệ giữa các dân tộc ở khu vực này
Trang 391.3.Văn hoá, dân tộc và tôn giáo
Vùng Tây Bắc có sự đa dạng về thành phần dân tộc Đây là nơi cư trú của hơn 20 dân tộc được nhận biết chính thức, tiếng nói thuộc 7 nhóm ngôn ngữ chính:
1) Nhóm ngôn ngữ Tày- Thái (có các dân tộc Thái, Lào, Lự, Tày, Nùng, Cao Lan), Giáy, Bố y, Pu Nà, Thuỷ) 2) Nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ me (có các dân tộc Mảng, Kháng, Xinh Mun, Khơ Mú, Bru - Vân Kiều, ơ Đu) 3) Nhóm ngôn ngữ Hmông – Dao (có các dân tộc H'mông, Dao, Pà Thẻn, Tống) 4) Nhóm ngôn ngữ Việt – Mường (có các dân tộc Việt, Mường, Nùng (Thổ), Chứt) 5) Nhóm ngôn ngữ Hán (có các dân tộc Hoa, Sán Dìu, Sán Chỉ,
Tu di) 6) Nhóm ngôn ngữ Tạng – Miến (có các dân tộc Lô Lô, Phù Lá, Hà Nhì, Si La, La Hủ, Cống) 7) nhóm ngôn ngữ Ka đai (có các dân tộc Pu Péo,
Cờ Lao, La Chí, La Ha) Sự đa dạng này dẫn đến sự đa dạng văn hoá đang tồn tại ở vùng Tây Bắc
Sự phân loại nhóm dân tộc và vùng văn hoá gặp rất nhiều khó khăn do việc xác định tiêu chí ban đầu chưa thống nhất hoàn toàn Vì thế mỗi nhà nghiên cứu có những cách tiếp cận riêng để tiến hành nghiên cứu của mình
Sự phân loại dân tộc đang được chấp nhận hiện nay ở Việt Nam được nhận xét là quá rộng khi bao gồm bên trong sự đa dạng (Terry Rambo, 1997)1
Ví dụ, nhóm người Sán Chảy bao gồm cả người Cao Lan và người Sán Chỉ, các nhóm phụ cũng không có ngôn ngữ chung (người Cao Lan nói tiếng Thái, người Sán Chỉ nói tiếng Trung Hoa) Hoặc mặc dù nói cùng một thứ tiếng, nhưng người H’mông cũng chia thành nhiều nhóm khác biệt về văn hoá như người Hmông đỏ, Hmông trắng, Hmông Hoa nằm rải rác hàng trăm km từ biên giới phía bắc giáp Trung quốc xuống phía nam tới các tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An ở miền Trung
Nếu theo cách tiếp cận khác là xác định các vùng văn hoá thì vùng Tây Bắc được chia thành tiểu vùng Tây Bắc do nền văn hoá Thái thống trị (gồm Lai Châu, phần bắc Sơn La và phần tây của Lào Cai và Yên Bái), và tiểu vùng Mường Thái (gồm Hoà Bình và Nam Sơn La) Hoặc chia thành các “văn hoá cảnh quan” sử dụng tiêu chuẩn sinh thái văn hoá thì khu vực Tây Bắc gồm 3 cảnh quan văn hoá khác biệt: vùng thung lũng – lưu vực Thái, vùng cao Dao – Hmông và vùng trung gian hay rìa Môn-Khmer
Sự phức tạp trong cách phân chia càng làm cho chúng ta nhận thức được tính đa dạng văn hoá đang ngự trị ở vùng Tây Bắc hiện nay cũng như tính phức tạp của việc duy trì mối quan hệ giữa các dân tộc trong sự đa dạng văn hoá đó
Cảnh quan phân bố tộc người ở vùng Tây Bắc như sau:
1 Terry Rambo (1997), Những xu hướng phát triển ở miền núi phía bắc Việt Nam, trong cuốn “Những xu
Trang 40- Vùng thung lũng, ven chân núi, nơi có địa hình tương đối bằng phẳng
là địa bàn cư trú của các tộc người thuộc ngôn ngữ Tày – Thái, Việt – Mường,
canh tác ruộng nước là nguồn sống chính Trong hai nhóm ngôn ngữ này, dân
tộc Thái có dân số tương đối đông, cư trú tập trung ở Sơn La, Điện Biên và Lai
Châu Trước năm 1945, thiết chế xã hội và văn hoá Thái có ảnh hưởng đáng kể
đến một số dân tộc, nhất là những tộc người thuộc ngôn ngữ Môn – Khmer Một trong những thiết chế xã hội truyền thống đó là bản mường đã có từ lâu
đời được tổ chức khá chặt chẽ, vẫn có ảnh hưởng tới hệ thống tổ chức cơ sở hiện nay
- Vùng giữa và vùng cao là địa bàn cư trú của của các tộc người thuộc
ngôn ngữ Môn – Khmer, Hmông – Dao, và Tạng – Miến Những dân tộc này chủ yếu canh tác nương rẫy, đồng thời làm ruộng nước hoặc ruộng bậc thang ở những nơi có thể Cho đến nay, bản vẫn là cơ cấu xã hội truyền thống còn
được duy trì Dòng họ và quan hệ dòng họ còn bền chặt, đóng vai trò chi phối
trong nhiều lĩnh vực đời sống xã hội, tiêu biểu nhát là tộc người Hmông
Một đặc điểm dễ nhận thấy ở vùng Tây Bắc là sự xâm nhập lẫn nhau của các nhóm dân tộc trong cùng một lãnh thổ, nhưng lại thường nói các tiếng nói không có quan hệ gì với nhau Điều này hoàn toàn khác với tình hình vùng cao Trung Bộ, nơi mà mỗi nhóm ngôn ngữ dân tộc chiếm cứ lãnh thổ riêng
Đây chính là một khó khăn hiện hữu khi muốn thực hiện các chương trình phát triển vùng có sự tham gia của mọi người dân, mà họ lại ở trong hoàn cảnh đa dạng về văn hoá và ngôn ngữ Việc chọn một thứ ngôn ngữ để tuyên truyền là
điều dễ làm với nhà tổ chức nhưng lại gây khó khăn cho người dân hoặc ngược lại Bên cạnh đó, sự đa dạng dân tộc và văn hoá trong một địa vực sẽ gây ra không ít khó khăn cho công tác quản lý khi các dân tộc có trình độ phát triển khác nhau, phong tục tập quán sinh hoạt và làm ăn khác nhau
Các nghiên cứu về lịch sử dân tộc phía Bắc cũng chỉ ra rằng các dân tộc khác nhau của vùng chưa bao giờ bị cô lập với nhau hoặc với các ảnh hưởng bên ngoài Đây chính điều kiện để các dân tộc trong vùng hình thành thói quen giao lưu trong sinh hoạt chung Vì thế, sự có mặt của nhiều nhóm dân tộc khác nhau trong cùng một địa phương là cơ hội để tăng cường mối quan hệ giữa các dân tộc, và các dân tộc này có thể chia sẻ những giá trị văn hoá truyền thống của mình với nhau, từ đó có thể gia tăng sự hiểu biết, sự giao thoa cũng sự học hỏi lẫn nhau
Về tôn giáo, vùng Tây Bắc có 6 hình thức tôn giáo chính là: Công giáo, Phật giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao đài và Hoà hảo Trong đó, Công giáo, tiếp
đến là Phật giáo là hai hình thức tôn giáo phổ biến nhất Trong những năm gần
đây, đạo Tin lành có xu hướng lan rộng, đặc biệt ở đồng bào dân tộc Hmông cùng với sự gia tăng các hình thức tuyên truyền của các lực lượng không chính thức về hình thức tôn giáo này cũng như một số những xáo trộn nhất định trong cuộc sống xã hội ở các địa phương gây ảnh hưởng đến sự phát triển bền