1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đề tài địa tô hình thái biểu hiện của địa tô liên hệ với việt nam

21 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Địa tô hình thái biểu hiện của địa tô liên hệ với việt nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề tài
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 223,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Contents LỜI MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 3 I Địa tô 3 1 Khái niệm, bản chất địa tô 3 2 Các loại địa tô 3 II Liên hệ với các chính sách của Nhà nước 10 1 Trong chính sách về thuế 10 2 Trong chính sách tài chính[.]

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 3

I Địa tô 3

1 Khái niệm, bản chất địa tô 3

2 Các loại địa tô 3

II Liên hệ với các chính sách của Nhà nước 10

1 Trong chính sách về thuế 10

2 Trong chính sách tài chính đất đai 11

3 Chính sách khuyến khích sử dụng đất, gia tăng thời hạn sử dụng đất, bồi thường 13

III Các hình thái biểu hiện của địa tô 16

1 Các hình thái biểu hiện của địa tô 16

2 Liên hệ 17

KẾT LUẬN 19

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Học thuyết Mác ra đời do Các-mac và Anghen sáng lập vào giữa thế kỉ XX,đây là thời kì lịch sử mà giai cấp tư sản đã giành được chính quyền, đã hoànthành cuộc cách mạng chủ nghĩa Đối tượng của kinh tế chính trị là quan hệ sảnxuất xã hội, trong mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất

và kiến trúc hạ tầng, kinh tế học chính trị nghiên cứu quan hệ sản xuất nhưngkhông phải nghiên cứu biểu hiện bên ngoài các hiện tượng và quá trình kinh tế

mà để rút ra quy luật chi phối sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng

Trong chủ nghĩa tư bản, nông nghiệp cũng trở thành lĩnh vực đầu tư của tưbản, cũng được kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa Chủ nghĩa tưbản xuất hiện trong nông nghiệp bằng cả con đường phân hoá của những ngườinông dân hình thành lớp giàu có kinh doanh nông nghiệp theo phương thức tưbản chủ nghĩa và bằng cả sự nhận thức của các nhà tư bản đầu tư vào nôngnghiệp Chính vì vậy, các nhà tư bản nông nghiệp đã đầu tư vào ruộng đất, nhà

tư bản kinh doanh ruộng đất được hưởng lợi nghuận bình quân , địa chủ là chủ

sở hữu ruộng đất được hưởng địa tô

Ở Việt Nam, đất nước ta đã trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữnước trải qua nhiều giai đoạn, nhiều thời kì, mỗi thời kì tồn tại những hình thức

tư hữu khác nhau Và cho đến ngày nay, khi đất nước đang trên đà phát triển đểtrở thành con rồng của châu Á, thì những quan hệ sản xuất đã dần được hoànthiện Và để hiểu sâu hơn về vấn đề này, nhóm em xin được thảo luận đề tài:”Địa tô Hình thái biểu hiện của địa tô Liên hệ với Việt Nam”

Trang 3

NỘI DUNG

I Địa tô

1.Khái niệm, bản chất địa tô

Để được sử dụng đất của địa chủ vào kinh doanh, sản xuất, nhà tư bản phảitrả cho địa chủ một khoản tiền nhất định theo hợp đồng Số tiền phải trả thườngđược tính theo hàng năm Số tiền phải trả đó dù là trả về ruộng đất canh tác hay

là đất xây dựng, hầm mỏ, ngư trường, rừng gỗ,… đều được gọi là địa tô Đóchính là giá trị kinh tế của quyền sở hữu đất đai của đại chủ Quyền đó mang lạicho chủ ruộng một lợi ích cụ thể Như vậy, “ địa tô là hình thái theo đó quyền sởhữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế, tức là đem lại thu nhập cho người

sở hữu ruộng đất” Khoản tiền mà chủ tư bản phải trả cho chủ ruộng, trên thực tế

dù nhiều hay ít đều được gọi là địa tô

Địa tô thể hiện mối quan hệ sở hữu về mặt kinh tế đối với đất đai Điều kiện

để có sự xuất hiện của địa tô: khi có sự tách rời giữa sở hữu và sử dụng Nhưvậy, địa tô thực chất chính là một phần của lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợinhuận bình quân

2.Các loại địa tô

2.1 Địa tô chênh lệch

Trong ngành nông nghiệp cũng như công nghiệp đã xảy ra lợi nhuận siêungạch Nếu như trong công nghiệp, lợi nhuận siêu ngạch chỉ là hiện tượng tạmthời đối với các nhà tư bản cá biệt nào đó có được do điều kiện sản xuất tốt hơn

Trang 4

điều kiện sản xuất trung bình của xã hội thì trái lại, trong nông nghiệp nó luôntồn tại tương đối dài và ổn định.

Trong sản xuất nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất cơ bản Nó có đặcđiểm là có diện tích giới hạn, vị trí cố định và tốt xấu khác nhau, mà điều kiệnđại bộ phận là xấu Người ta không thể tạo thêm được ruộng đất tốt có điều kiệncanh tác thuận lợi trong khi đó hầu hết ruộng đất đã bị độc quyền kinh doanh

Do đó, những người kinh doanh trên ruộng đất tốt, có điều kiện sản xuất thuậnlợi sẽ sử dụng được sức tự nhiên một cách độc quyền nên luôn thu được lợinhuận siêu ngạch ổn định lâu dài

Khác với trong lĩnh vực công nghiệp, trong nông nghiệp giá cả sản xuấtchung của nông phẩm do điều kiện sản xuất xấu quyết định Bởi vì, chỉ có canhtác trên ruộng đất tốt và trung bình thì sẽ không đủ nông phẩm cho nhu cầu xãhội Do đó giá cả sản xuất chung phải đảm bảo cho tư bản đầu tư trên ruộng xấucũng thu được lợi nhuận bình quân Do đó không chỉ cả các nhà tư bản kinhdoanh trên ruộng đất tốt, xấu cũng thu được lợi nhuận bình quân mà tất cả cácnhà tư bản kinh doanh đều thu được lợi nhuận siêu ngạch tương đối ổn định vàlâu dài Nó là kết quả của việc sử dụng sức tự nhiên đã bị độc chiếm sẽ thuộc về

sở hữu ruộng đất dưới hình thức địa tô chênh lệch Như vậy, địa tô chênh lệch làphần lợi nhuận siêu ngạch thu được trên những ruộng đất có điều kiện canh táctốt Nó là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung của nông phẩm được quyếtđịnh bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá cả sản xuất cá biệt củanông phẩm trên ruộng đất trung bình và tốt

Nguồn gốc của địa tô chênh lệch và địa tô nói chung là phần giá trị thặng dư

do lao động của công nhân nông nghiệp tạo ra Địa tô chênh lệch gắn liền vớiđộc quyền kinh doanh tư bản chủ nghĩa về ruộng đất Hay nói cách khác, nó sinh

ra là do có sự độc quyền kinh doanh ruộng đất theo hướng tư bản chủ nghĩa

Trang 5

Không có độc quyền về sức tự nhiên thì không thể có bất cứ lợi nhuận siêungạch nào

Điều kiện tự nhiên thuận lợi không phải là nguồn sinh ra địa tô mà nó chỉ là

cơ sở tự nhiên của địa tô, có thể giúp nâng cao năng suất lao động Nói cáchkhác, nó là vật mang trong mình tiềm năng sinh ra địa tô, chứ không phải tạo rađịa tô Địa tô chênh lệch cũng như toàn bộ giá trị thặng dư trong nông nghiệpkhông phải do ruộng đất tạo ra Ruộng đất tốt hay xấu chỉ là điều kiện làm giảmgiá trị nông phẩm mà thôi Chế độ tư hữu ruộng đất cũng không phải nguyênnhân sinh ra lợi nhuận siêu ngạch mà là nguyên nhân làm cho mọi lợi nhuận siêungạch chuyển hoá thành địa tô, tức là làm cho địa chủ chiếm lợi nhuận siêungạch đó

Tóm lại, địa tô chênh lệch là kết quả của các năng suất khác nhau giữa những

tư bản nganh nhau bỏ vào ruộng đất

2.1.1 Địa tô chênh lệch I

Địa tô chênh lệch I là phần giá trị thặng dư ngoài lợi nhuận bình quân, là địa

tô thu được từ điều kiện sẵn có của đất đai, trên cơ sở ruộng đất màu mỡ Ngoài

ra, ruộng đất có vị trí thuận lợi như ở gần nơi tiêu thụ hay đường giao thôngthuận tiện cũng đem lại địa tô chênh lệch I, bởi vì ở gần nơi tiêu thụ như thànhphố, khu công nghiệp hay đường giao thông vận tải thuận tiện, sẽ tiết kiệm đượcmột phần lớn chi phí lưu thông khi bán cùng một giá; những người phải chi phívận tải ít hơn đương nhiên được hưởng một khoản lợi nhuận siêu ngạch so vớinhững người phải chi phí vận tải nhiều hơn, do đó mà có địa tô chênh lệch

Để có địa tô chênh lệch, cần có những điều kiện cơ bản sau: giá cả sản xuấttrên loại đất xấu nhất xã hội cần thiết phải là giá cả sản xuất chung, có tác dụngđiều tiết thị trường; có sự chênh lệch về các điều kiện tự nhiên của đất đai màcác chênh lệch đó phải dẫn đến chênh lệch về năng suất ruộng đất, dù chi phí tưbản là ngang nhau; vẫn cần có chế độ tư hữu về đất đai của địa chủ

Trang 6

Về bản chất, địa tô chênh lệch I là phần lợi nhuận siêu ngạch có được khôngphải do công lao của nhà tư bản mà do điều kiện tự nhiên, khách quan mang lại.

Do đó, địa tô chênh lệch I thuộc về chủ sở hữu đất

2.1.2 Địa tô chênh lệch II

Địa tô chênh lệch 2 có được trên cơ sở không nhừng gia tăng quá trình đầu

tư thâm canh của nhà tư bản:

 Đầu tư thêm tư bản( tư liệu sản xuất và lạo động) trên một đơn vị diện tích ruộngnhằm tăng độ màu mỡ, từ đó tăng sản lượng

 Cải tiến kĩ thuật nâng cao chất lượng canh tác nhằm tăng năng suất ruộng đất vànăng suất lao động

Từ cơ sở trên thì muốn tăng R2 thì:

 Người sử dụng khai thác hợp lý hơn, để tăng hiệu quả đầu tư

 Đầu tư làm thay đổi điều kiện đất đai theo hướng tạo ra điều kiện, chất lượng tốthơn

 Công tác quản lý đất đai tiết kiệm và hiệu quả

Địa tô chênh lệch R2 phải thuộc về nhà tư bản( người sử dụng) vì phần lợinhuận siêu ngạch có được là do quá trình lao động, không ngừng đầu tư thâmcanh của người sử dụng

Thực tế thì khi thời hạn hợp đồng sắp hết, chủ sở hữu lại luôn tìm cách nângcao mức địa tô để chiếm lấy số lợi nhuận siêu ngạch từ quá trình thâm canh mà

có, tức là biến lợi nhuận siêu ngạch trên thành địa tô chênh lệch 1 Từ đó dẫn tớicác hành vi của chủ sở hữu và nhà tư bản Chủ sở hữu chỉ muốn cho thuê trongthời gian ngắn còn nhà tư bản không muốn đầu tư nhiều vốn để cải tạo vì nhưvậy sẽ mất thời gian dài để thu hồi lại Vì vậy, trong thời gian thuê ruộng đất,nhà tư bản kinh doanh luôn tìm mọi cách khai thác, tận dụng hết độ màu mỡ củađất đai để thu hồi lợi nhuận nhiều hơn vì thế mà trong điều kiện canh tác của tư

Trang 7

bản thì độ phì của đất ngày một cạn kiệt Đúng như Mac nói :”Mỗi bước tiến củacông nghiệp tư bản chủ nghĩa là một bước tiến không những trong nghệ thuậtbóc lột người lao động ,mà còn là bước tiến trong nghệ thuật làm cho đất đaingày càng kiệt quệ; mỗi bước tiến trong nghệ thuật làm tăng màu mỡ cho đất đaitrong một thời gian là một bước tiến trong việc tàn phá những nguồn màu mỡlâu dài của đất đai.” Một ví dụ điển hình là ở Mỹ trước đây, chế độ canh tác bấthợp lí đã làm cho 16 triệu ha ruộng đất vốn màu mỡ đã trở thành bạc màu hoàntoàn.

2.1.3 Mối quan hệ giữa R1 và R2

Luôn có sự giao thoa giữa địa tô chênh lệch R1 và địa tô chênh lệch R2: R1

là cơ sở để tạo ra R2, và R2 sau khi tạo ra sẽ tác động ngược lại làm thay đổi,phát triển R1 Địa tô chênh lệch R1 thuộc về người sở hữu, nhưng ngay sau khi

có sự xuất hiện địa tô chênh lệch 2 đã làm tăng thêm giá trị cho R1 Chính vìvậy, trong địa tô chênh lệch R1 có một phần được tạo ra bởi người sử dụng Mặtkhác, địa tô chênh lệch R2 thuộc về người sử dụng nhưng những giá trị màngười sử dụng tạo ra lại dựa trên cơ sở của R1 mới có được Chính vì vậy, trongR2 cũng có một phần R1 tạo ra Do đó, khó có thể phân biệt được rõ ràng R1,R2 bao nhiêu phần thuộc về người sở hữu, bao nhiêu phần thuộc về người sửdụng R1 và R2 giao thoa nhau, sẽ có những khỏan lợi nhuận mà không thể phânđịnh được là do R1 hay R2 đem lại, điều đó đã làm nảy sinh mâu thuẫn trongquan hệ phân phối địa tô giữa người sở hữu và người sử dụng Điều đó đã dẫnđến rất nhiều các vụ khiếu kiện về đất đai

Luôn có sự chuyển hóa từ địa tô R1 sang R2 và ngược lại Do đó, cần phải

áp dụng các chính sách để điều tiết địa tô (thuế, các chính sách tài chính đất đai,

…) để khuyến khích người sử dụng đất ( tăng thời hạn sử dụng đất, phân phốiR2 hợp lí,…)

Trang 8

2.2 Địa tô tuyệt đối

Dưới CNTB không phải chỉ các nhà tư bản kinh doanh trên ruộng đất thuậnlợi mới phải nộp tô, mà kinh doanh trên ruộng đất xấu cũng phải nộp tô cho địachủ Đó là thực tế C.Mac gọi loại địa tô mà các nhà tư bản kinh doanh nôngnghiệp phải nộp cho địa chủ dù ruộng đất đó là tốt hay xấu là địa tô tuyệt đốivậy thì tư bản kinh doanh trên ruộng đất xấu lấy gì để nộp tô? Hiển nhiên khôngthể lấy trong số lợi nhuận bình quân, mà phải là số lợi nhuận ngoài lợi nhuậnbình quân, là lợi nhuận siêu ngạch Vấn đề đặt ra là làm sao kinh doanh trênruộng đất xấu cũng có được lợi nhuận siêu ngạch ? Ngoài địa tô chênhlêch địa chủ còn thu được địa tô tuyệt đối trong khi cho thuêruộng đất

  Phần trên, khi nghiên cứu địa tô chênh lệch chúng ta đã giảđịnh là người thuê đất xấu chỉ thu về chi phí sản xuất cộng vớilợi nhuận bình quân , và không tính đến việc phải nộp địatô.Thực ra không phải như vậy, người thuê ruộng đất dù là đấttốt hay xấu đều phải nộp địa tô cho chủ đất Địa tô mà các nhà

tư bản thuê ruộng đất nhất thiết phải nộp _”tuyệt đối” phải nộp

dù ruộng đất tốt ,xấu như thế nào , là địa tô tuyệt đối

Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa , nông nghiệp lạc hậu hơncông nghiệp , cả về kinh tế lẫn kĩ thuật Cấu tạo hữu cơ của tưbản trong nông nghiệp vì vậy thấp hơn trong công nghiệp Chonên nếu tỉ suất giá trị thặng dư tức là trình độ bóc lột ngangnhau từ một tư bản ngang nhau sẽ sinh ra trong công nghiệpnhiều giá trị thặng dư hơn trong nông nghiệp

   Ví dụ : có hai tư bản nông nghiệp và tư bản công nghiệpngang nhau,đều là 100 chẳng hạn; cấu tạo hữu cơ trong tư bản

Trang 9

công nghiệp là 80c + 20v (4/1) của tư bản nông nghiệp là 60c +40v (3/2) nếu tỉ suất giá trị thặng dư đều là 100% thì sản phẩm

và giá trị thặng dư sản xuất ra sẽ là

        Trong công nghiệp : 80c + 20v + 20m = 120

        Trong nông nghiệp : 60c + 40v + 40m = 140

Giá trị thặng dư dôi ra trong nông nghiệp so với công nghiệp là 20m

   Nếu là trong công nghiệp thì số giá trị thặng dư này sẽ đượcđem chia chung cho các nhà công nghiệp trong quá trình bìnhquân hoá tỉ suất lợi nhuận Nhưng trong nông nghiệp điều đókhông thể diễn ra được ,đó là chế độ độc quyền tư hữu ruộngđất không cho phép tư bản tự do di chuyển vào trong nôngnghiệp , do đó ngăn cản việc hình thành lợi nhuận bình quânchung giữa nông nghiệp và công nghiệp Và như vậy ,phần giátrị thặng dư dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân  ( Nhờ cấu tạo hữu

cơ của tư bản trong nông nghiệp thấp ,bóc lột được của côngnhân nông nghiệp nhiều hơn) được giữ lại và dùng để nộp địa tôtuyệt đối cho địa chủ

    Vậy địa tô chênh lệch tuyệt đối cũng là một loại lợi nhuậnsiêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, hình thành nên docấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệp thấp hơn trongcông nghiệp mà bất cứ nhà tư bản thuê ruộng đất nào cũngphải nộp cho địa chủ Nó là số chênh lệch giữa giá trị nôngphẩm và giá cả thực tế hình thành nên do cạnh tranh trên thịtrường

   Địa tô tuyệt đối gắn liền với độc quyền tư hữu ruộngđất Chính độc quyền tư hữu ruộng đất làm cho lợi nhuận siêu

Trang 10

ngạch hình thành trong nông nghiệp không bị đem chia đi vàlàm cho lợi nhuận siêu ngạch đó phải chuyển hoá thành địa tô.

   Về địa tô tuyệt đối ,Mac nói :” bản chất của địa tô tuyệt đối

là :Những tư bản ngang nhau của chúng sinh sản những khốilượng giá trị thặng dư khác nhau “

   Để minh hoạ cho những điều nói trên chúng ta có thể lấy ví

dụ sau đây:

    Do độc quyền về ruộng đất là nguyên nhân sinh ra địa tôtuyệt đối , cho nên nếu không có chế độ tư hữu về ruộng đất ,không có giai cấp địa chủ , thì địa tô tuyệt đối sẽ bị xoá bỏ , giá

cả nông phẩm sẽ giảm xuống có lợi cho xã hội

   Tóm lại , nêú điều kiện sản xuất có lợi (điều kiện tự nhiênhoặc điều kiện kinh tế do thâm canh đưa lại ) là điều kiện hìnhthành địa tô chênh lệch và độc quyền kinh doanh ruộng đất lànguyên nhân trực tiếp để tạo ra địa tô chênh lệch ấy , thì điềukiện để hình thành địa tô tuyệt đối là cấu tạo hữu cơ của tư bảntrong nông nghiệp  thấp hơn trong công nghiệp , và nguyênnhân trực tiếp đẻ ra địa tô tuyệt đối là độc quyền tư hữu vềruộng đất

   Song dù là địa tô chênh lệch hay địa tô tuyệt đối , nguồngốc và bản chất của địa tô cũng chỉ là một bộ phận của giá trịthặng dư , do lao động không công của công nhân làm thuêtrong nông nghiệp tạo ra Nói cách khác ,địa tô chỉ là một hìnhthái đặc thù của giá trị thặng dư mà thôi

   Địa tô cùng với lợi nhuận của nhà tư bản nông nghiệp chính

là cái xác định tính qui định về mặt xã hội của tư bản kinh

Trang 11

doanh trong nông nghiệp , nói lên tư bản nông nghiệp là mốiquan hệ bóc lột , gắn liền với một quan hệ bóc lột khác của địachủ do quyền tư hữu về ruộng đất sinh ra

II Liên hệ với các chính sách của Nhà nước

1.Trong chính sách về thuế

Ngày nay trong giai đoạn XHCN, quan hệ phân phối địa tô thể hiện đất đaithuộc quyền sở hữu của toàn dân do nhà nước đại diện là chủ sở hữu Nhà nướcgiao đất, cho thuê đất rừng cho các tổ chức kinh tế , đơn vị vũ trang, để sửdụng Ở đây thực hiện sự tách rời giữa quyền sở hữu với quyền sử dụng ruộngđất nhằm sử dụng tài nguyên của đất nước một cách hiệu quả Để bổ sung chonguồn nhân sách và thông qua ngân sách thực hiện một số chính sách phát triểnnông nghiệp những người thuê đất phải đóng thuế cho nhà nước Thuế này khác

xa với địa tô phong kiến và địa tô tư bản chủ nghĩa vì thuế này tập chung vàongân sách mang lại lợi ích cho toàn dân, nó không mang bản chất bóc lột của địa

tô phong kiến và địa tô tư bản chủ nghĩa

Theo Điều 7 Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp quy định về thuế suất.Giá tính thuế đối với đất được xác định bằng diện tích đất tính thuế nhân với giácủa 1m2 đất

a Thuế suất đối với đất ở bao gồm cả trường hợp sử dụng để kinh doanh ápdụng theo biểu thuế lũy tiến từng phần được quy định như sau:

Bậc

thuế Diện tích đất tính thuế (m2)

Thuế suất(%)

2 Phần diện tích vượt không quá 3 lần hạn mức 0,07

3 Phần diện tích vượt trên 3 lần hạn mức 0,15

Ngày đăng: 23/03/2023, 17:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w