Họ tên Đàm Trung Hiếu Lớp 14LTTD LK01 Môn Luật thuế và quản lý thuế Trường Kinh doanh và công nghệ Hà Nội Bài Tiểu Luận MỞ ĐẦU Khi nhà nước ra đời, để có tiền chi tiêu cho sự tồn tại và hoạt động của[.]
Trang 1Họ tên: Đàm Trung Hiếu
Lớp: 14LTTD- LK01 Môn: Luật thuế và quản lý thuế Trường: Kinh doanh và công nghệ Hà Nội
Bài Tiểu Luận
MỞ ĐẦU
Khi nhà nước ra đời, để có tiền chi tiêu cho sự tồn tại và hoạt động của mình, nhà nước đã đặt
ra chế độ thuế khóa Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, có vai trò lớn trong việc duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước đồng thời là công cụ quan trọng để điều tiết nền kinh tế, thực hiện công bằng xã hội tuy nhiên kể từ khi ban hành đến nay việc thực thi các luật thuế là chưa thật sự hiệu quả cao, số tiền thuế thất thu còn rất lớn mà nguyên nhân chủ yếu là từ tình trạng trốn thuế, gian lận thuế Cùng với sụ phát triển của kinh tế - xã hội, những hành vi trốn thuế, gian lận thuế hiện nay càng ngày càng diễn ra phức tạp, phạm vi ngày càng rộng, quy mô ngày càng lớn với những thủ đoạn rất tinh vi, vì vậy cần phải thực hiện chống gian lận trốn lậu thuế Nhận thức được sự cần thiết của vấn đề nội dung bài viêt của em sẽ đi tìm hiểu về những nguyên nhân dẫn đến tình trạng gian lận trốn lậu thuế hiện nay
NỘI DUNG
I MỘT SỐ VẤN VỀ GIAN LUẬN THUẾ VÀ TRỐN LẬU THUẾ
1 Khái niệm liên quan
- Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật pháp qui định đối với các pháp nhân và thể nhân thuộc đối tượng chịu thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước Thuế
là hình thức phân phối lại bộ phận nguồn tài chính của xã hội, không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp
Trang 2- Hành vi gian lận thuế, là hành vi của cá nhân, tổ chức cố ý làm sai lệch các thông tin kế toán – tài chính làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm
- Hành vi trốn lậu thuế là hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về thuế dẫn đến làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn giảm
2 Cơ sở để xác định hành vi gian lận, trốn lậu thuế là:
- Chủ thể của hành vi là các cá nhân hoặc tổ chức thuộc đối tượng nộp thuế
- Hậu quả của hành vi vi phạm này là dẫn đến việc làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm
3 Đặc điểm của hành vi gian lận, trốn lậu thuế
Về chủ thể: thực hiện các hành vi gian lận, trốn lậu thuế là các cá nhân, tổ chức có hoạt động sản xuất, kinh doanh hay các hoạt động khác mà theo quy định của pháp luật thuộc đối tượng chịu thuế đã thực hiện các hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về thuế dẫn đến làm giảm
số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm
Về đối tượng: đối tượng của các hành vi trốn thuế, gian lận thuế là các quy định pháp luật về thuế liên quan đến số thuế phải nộp hoặc số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm
Về mục đích - hậu quả của hành vi: Mục đích của hành vi trốn thuế và gian lận thuế là giống nhau, làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm
4 Các văn bản pháp lý quy định hành vi trốn thuế, gian lận thuế 3.1 Luật quản lý thuế 2006 3.2 Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007 quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế 3.3 Nghị định số 13/2009/NĐ-CP ngày 13/2/2009 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 98/2007/NĐ-CP) 3.4 Thông tư số 61/2007/TT-BTC hướng dẫn xử lý vi phạm pháp luật về thuế
5 Một số hành vi gian lận, trốn lậu thuế như:
- Bỏ ngoài sổ sách kế toán
Đây là thủ đoạn khá phổ biến hiện nay Theo đó, người nộp thuế thường sử dụng đồng thời hai
hệ thống sổ sách kế toán, một hệ thống sổ kế toán nội bộ phản ánh đầy đủ các giao dịch kinh tế,
hệ thống kế toán còn lại chỉ phản ánh một phần các giao dịch kinh tế để khai thuế Kiểu hành vi này thường xảy ra ở các doanh nghiệp (DN) dân doanh hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bán
lẻ, ăn uống, khách sạn, xây dựng dân dụng và sản xuất nhỏ Đây chính là một kiểu hoạt động kinh tế ngầm mà môi trường thuận lợi của nó là nền kinh tế tiền mặt Rất khó có thể xác định được số thuế thất thu do hành vi trốn thuế này gây ra vì nếu xác định được thì đã không xảy ra thất thu thuế
Trang 3Một số vụ trốn thuế bị phanh phui thời gian qua cho thấy hành vi này khá phổ biến và gây thất thu ngân sách Chẳng hạn, Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) thông tin tín nhiệm và xếp hạng DN Việt Nam đã trốn thuế 1.028 triệu đồng qua hành vi không ghi sổ kế toán tiền bán quyền mua căn hộ; Công ty Viễn thông điện lực bán hàng không xuất hóa đơn, không phản ánh vào sổ kế toán để trốn thuế 37 tỷ đồng
- Tạo giao dịch bán hàng giả mạo
Mục tiêu của thủ đoạn này là chiếm đoạt tiền ngân sách nhà nước (NSNN) thông qua hoàn thuế hoặc tiếp tay cho hành vi tham nhũng NSNN của một bộ phận công chức được giao nhiệm vụ mua sắm tài sản, hàng hóa, dịch vụ cho cơ quan nhà nước Thủ đoạn này cũng liên quan đến hành vi giao dịch mua hàng giả mạo sẽ phân tích dưới đây nhằm giúp cho bên mua tăng thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào được khấu trừ và giảm chi phí tính thuế thu nhập DN
Điển hình cho thủ đoạn này là hành vi xuất khẩu khống nhằm chiếm đoạt tiền qua hoàn thuế GTGT từ NSNN Xuất khẩu khống chủ yếu diễn ra đối với phương thức xuất khẩu tiểu ngạch qua biên giới Dạng gian lận này đã có một thời bị ngăn chặn đấu tranh quyết liệt nên giảm bớt nhưng trong vài năm gần đây lại có xu hướng bùng phát với những hình thức tinh vi hơn, đặc biệt có dấu hiệu trầm trọng là ở các tỉnh giáp ranh Campuchia Lợi dụng hệ thống sông ngòi chằng chịt để quay vòng hàng hóa: Sau khi làm thủ tục xuất khẩu sang nước bạn thì lại đưa hàng hóa quay trở lại Việt Nam không qua cửa khẩu, rồi sau đó lại làm thủ tục xuất khẩu Trong trường hợp này, các đối tượng cấu kết với đối tác nước ngoài để hoàn tất các thủ tục để đủ điều kiện đề nghị hoàn thuế GTGT Cùng với đó, các đối tượng này cũng áp dụng chiêu thức mua hóa đơn để hợp thức hóa thuế GTGT đầu vào và chi phí tính thuế thu nhập DN Không phải ngẫu nhiên mà kim ngạch xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam sang Campuchia tăng nhanh đáng ngờ, kèm theo đó, số tiền hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa xuất khẩu sang Campuchia cũng tăng nhanh chóng: Năm 2011 tăng 196,4% so với năm 2010, năm 2012 tăng 190% so với năm 2011 Ngoài xuất khẩu khống, giao dịch bán hàng hóa, dịch vụ giả mạo còn được thực hiện chủ yếu thông qua các hợp đồng bán hàng khống; các hợp đồng cung cấp dịch vụ khống và xuất hóa đơn khống Hành vi này được thực hiện ở cả DN “ma” và cả ở các DN đang hoạt động kinh doanh bình thường
- Tạo giao dịch mua hàng giả mạo
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tính trung bình hằng năm có khoảng 10.000 mẫu hàng hóa được phân tích phân loại Trong đó, mẫu khai đúng chiếm khoảng 47%, sai khoảng 53%, giảm thuế khoảng 7,4%
Đây là hành vi trốn thuế khá phổ biến hiện nay, thực tế DN không có khoản chi này nhưng đã
tự tạo ra chứng từ để hợp pháp hóa khoản chi không có thực, vì thế có thể gọi đây là chi khống Chi khống thể hiện qua những bảng kê thanh toán giả mạo với chữ ký giả, hợp đồng lao động giả mạo (có trường hợp tên người lao động không có thật; có trường hợp tên người lao động là có
Trang 4thật nhưng thực sự không làm việc cho DN đó) và thể hiện ở những hóa đơn đi mua của cơ sở kinh doanh khác Bằng hành vi này, DN không chỉ trốn thuế thu nhập DN mà còn trốn cả thuế GTGT thông qua việc khấu trừ khống thuế GTGT đầu vào Đối với những hóa đơn đi mua, để phát hiện, cơ quan thuế phải làm tốt công tác đối chiếu, xác minh Thực tế thời gian qua, thông qua công tác đối chiếu hóa đơn, cơ quan thuế các địa phương đã phát hiện khá nhiều trường hợp gian lận Chẳng hạn, năm 2012, Cục Thuế Hà Nội đã gửi 10.200 phiếu xác minh hóa đơn, gồm 28.444 số; kết quả trả lời xác minh 7.570 phiếu, chiếm 74,21% số phiếu gửi đi Qua xác minh hóa đơn và thanh tra, kiểm tra, phát hiện 786 hóa đơn vi phạm, truy thu thuế GTGT là 1.198 triệu đồng, thuế thu nhập DN là 1.658 triệu đồng và xử phạt hành vi trốn thuế 646 triệu đồng, xử phạt hành chính 369 triệu đồng” Tuy nhiên, với công nghệ đối chiếu hóa đơn thủ công như hiện nay thì hiệu quả còn rất thấp, bởi vì tỷ lệ hóa đơn có thể đối chiếu so với số hóa đơn cần đối chiếu là quá nhỏ Hơn nữa, trong trường hợp DN bán hóa đơn sử dụng hóa đơn của những khách hàng không lấy để bán cho những người có nhu cầu mua hóa đơn thì việc đối chiếu cũng không đem lại kết quả
Thủ đoạn tạo giao dịch mua hàng giả mạo không hoàn toàn trùng với thủ đoạn thành lập DN
“ma”, do việc tạo giao dịch mua hàng giả mạo không chỉ thực hiện thông qua hành vi mua hóa đơn, song giữa chúng có mối liên hệ mật thiết DN “ma” là DN được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhưng thực tế không sản xuất kinh doanh, chỉ nhằm mục đích đủ điều kiện
để được phát hành hoá đơn, từ đó bán hóa đơn cho các đối tượng khác hoặc trung gian lập hoá đơn mua bán khống, lập hồ sơ giả mạo để xin hoàn thuế Mức độ thiệt hại do những hoá đơn trôi nổi này gây ra là không thể kiểm soát được, bởi nó hoàn toàn phụ thuộc vào số chi phí đầu vào cần hợp thức hoá của DN mua bán hoá đơn
Hiện nay, hình thức gian lận này càng được tổ chức tinh vi hơn và có hệ thống, tuy nhiên có một số đặc điểm mang tính định vị như: Các DN “ma” thường thành lập dưới dạng công ty TNHH hay DN tư nhân; chủ DN thường là người có hộ khẩu thường trú ở địa phương khác đến đăng ký thành lập DN, hạn chế về trình độ học vấn, không am hiểu pháp luật; văn phòng giao dịch thường đi thuê thời hạn ngắn, trụ sở chật hẹp, tài sản không tương xứng với mô hình tối thiểu của một DN bình thường; đăng ký kinh doanh nhiều ngành nghề, chủ yếu là thương mại, dịch vụ tổng hợp, những ngành nghề không cần phải đăng ký vốn pháp định và không bắt buộc
có chứng chỉ hành nghề; doanh thu lớn nhưng chênh lệch giữa thuế GTGT đầu vào và thuế GTGT đầu ra ít nên kê khai thuế thấp, thậm chí có thuế GTGT phải nộp âm nhiều kỳ nhưng không làm thủ tục xin hoàn thuế…
- Ghi giá bán thấp hơn giá thực tế
Hành vi này được gọi là “down” giá Đây là hành vi ghi giá bán trên hóa đơn và kê khai doanh thu tính thuế thấp hơn giá khách hàng thực tế thanh toán Hành vi này thường gặp ở các DN kinh doanh nhà hàng khách sạn, vận tải tư nhân, xăng dầu, kinh doanh vật liệu xây dựng, bán ô tô và
xe máy, hàng trang trí nội thất Các công ty xây dựng (nhà dân và đơn vị xây dựng vãng lai) khi thi công các công trình ở các địa phương khác hay xây nhà tư nhân thường khai báo không trung
Trang 5thực, không kê khai hoặc giấu bớt một phần công trình Hành vi gian lận này làm giảm thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) phải nộp, gây ảnh hưởng không nhỏ đến số thu ngân sách hàng năm
Để chống hành vi “down” giá ô tô và xe máy, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 71/2010/ TT-BTC hướng dẫn ấn định thuế đối với cơ sở kinh doanh ô tô, xe hai bánh gắn máy ghi giá bán
ô tô, xe hai bánh gắn máy trên hóa đơn giao cho người tiêu dùng thấp hơn giá giao dịch thông thường trên thị trường Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để cơ quan thuế đấu tranh ngăn chặn tình trạng “down” giá nhằm trốn thuế ở hai mặt hàng này Tuy vậy, còn một số lĩnh vực khác chưa có biện pháp quản lý hữu hiệu
- Hạch toán kế toán và kê khai thuế sai quy định
Mục tiêu chủ yếu của hành vi hạch toán kế toán sai quy định pháp luật là che giấu doanh thu tính thuế, hạch toán tăng chi phí tính thuế thu nhập DN và tăng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ Các kiểu hạch toán sai chế độ kế toán rất đa dạng Khi bị kiểm tra phát hiện, cán bộ kế toán
có thể lấy cớ là hạch toán nhầm để tránh bị phạt vì hành vi trốn thuế Kế toán có thể hạch toán giảm trừ doanh thu thông qua các hình thức giảm giá, chiết khấu không đúng quy định Kế toán
có thể hạch toán sai tài khoản kế toán để che giấu doanh thu
Chẳng hạn, khi phát sinh doanh thu bán hàng, lẽ ra phải hạch toán vào tài khoản 511 thì kế toán lại hạch toán vào các tài khoản kế toán khác, như hạch toán vào tài khoản 338, 138 Một số
DN nhượng bán, trao đổi vật tư không ghi nhận doanh thu mà chỉ hạch toán thay đổi cơ cấu tài sản lưu động bằng các bút toán nhập, xuất, thu, chi hoặc công nợ phải thu, phải trả; bán phế liệu không xuất hóa đơn, không ghi nhận doanh thu hoặc hạch toán giảm chi phí sản xuất
Các dạng hạch toán sai nhằm tăng chi phí được trừ tính thuế thu nhập doanh nghiệp và tăng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ chủ yếu là: hạch toán toàn bộ chi phí mua sắm tài sản cố định, xây dựng cơ bản vào chi phí quản lý DN; đưa khấu hao tài sản cố định phúc lợi vào chi phí khấu hao tài sản cố định; tài sản cố định hết thời gian khấu hao vẫn trích khấu hao; hạch toán vào chi phí được trừ các khoản chi từ thiện, các khoản chi thuộc nguồn kinh phí khác đài thọ, chi mang tính chất tiêu dùng cá nhân của chủ DN
Hành vi gian lận này chỉ có thể bị phát hiện qua kiểm tra báo cáo quyết toán thuế hoặc qua thanh tra tại cơ sở kinh doanh Muốn phát hiện được hành vi này, cán bộ thanh tra, kiểm tra phải vững vàng về nghiệp vụ kế toán và phải nhanh nhạy trong đánh giá báo tài chính của DN
- Các hành vi gian lận thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Trong điều kiện các hoạt động thương mại quốc tế ngày càng gia tăng, kéo theo sự tăng trưởng không ngừng của kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu, đồng thời, các hành vi gian lận về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cũng gia tăng đáng kể về hình thức gian lận, số vụ gian lận và quy mô số thuế gian lận
Trang 6Theo thống kê của cơ quan Hải quan, gian lận thuế trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu ngày càng gia tăng và có diễn biến phức tạp với các phương thức, thủ đoạn gian lận thuế ngày càng tinh vi, thay đổi theo hướng lợi dụng những bất cập trong quy trình thủ tục hải quan và sự thay đổi chính sách mặt hàng Trong đó, phổ biến nhất là các hành vi buôn lậu, gian lận, trốn thuế về mặt hàng, số lượng, mã hàng, xuất xứ, trị giá tính thuế hay lợi dụng các chính sách ưu đãi, ân hạn thuế hoặc nợ thuế để trốn thuế Cụ thể như sau:
- Buôn lậu
Đây là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới những loại hàng hoá cấm, không khai báo, tránh sự quản lý của hải quan và trốn nghĩa vụ thuế Thời gian qua, việc buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ hàng nhập lậu, hàng cấm có diễn biến phức tạp, với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, khó kiểm soát Hàng nhập lậu chủ yếu là hàng tiêu dùng như quần áo, vải, giày dép,
đồ chơi trẻ em, rượu, bia và các loại nước giải khát, hàng điện máy gia dụng, điện lạnh, thực phẩm… Sau khi nhập lậu vào Việt Nam, các mặt hàng này được xé nhỏ, vận chuyển bằng xe khách, xe tải và được hợp pháp hoá bằng hệ thống hoá đơn mua qua bán lại giữa các DN
Trong những năm qua đã có 500 ôtô nhập vào Việt Nam theo hình thức tạm nhập tái xuất nhưng chỉ có 100 chiếc làm thủ tục xuất và nhập trở lại Nghĩa là còn 400 chiếc không làm thủ tục xuất và nhập trở lại mà lưu hành trong nội địa gây thất thu số tiền thuế rất lớn cho Nhà nước Bên cạnh hoạt động buôn lậu nêu trên, lợi dụng sự thông thoáng về thủ tục hải quan, nhiều chủ hàng đã thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu nhưng không khai báo đầy đủ các mặt hàng hoặc cố tình khai thiếu số lượng hàng xuất khẩu, nhập khẩu để không phải nộp thuế
- Khai sai chủng loại hàng hoá
Với sự gia tăng của khối lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong khi nguồn lực của cơ quan hải quan có hạn và thực hiện yêu cầu đơn giản, nhanh chóng, thuận lợi trong thủ tục hải quan, cơ quan hải quan chỉ tiến hành kiểm tra thực tế hàng hóa khi có nghi vấn hoặc có mức độ rủi ro cao Do đó, việc phân loại, khai báo và áp mã hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để tính thuế phụ thuộc rất lớn vào mức độ tuân thủ của người nộp thuế Thực tế thời gian qua, nhiều chủ hàng
đã lợi dụng các vấn đề trên để thực hiện gian lận thuế nhập khẩu bằng việc khai báo sai tên hàng, sai mã số hàng hóa Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tính trung bình hằng năm có khoảng 10.000 mẫu hàng hóa được phân tích phân loại Trong đó, mẫu khai đúng chiếm khoảng 47%, sai khoảng 53%, giảm thuế khoảng 7,4% Các hành vi thường gặp là:
Thứ nhất, Cố tình khai sai tên hàng hóa, chủng loại hàng hóa nhập khẩu nhằm mục đích giảm
số thuế phải nộp Chủ yếu là khai sai mã số hàng từ mã hàng có thuế suất cao sang mã hàng có thuế suất thấp Nhiều trường hợp, người nộp thuế lợi dụng sự phức tạp của các hàng hóa là các hỗn hợp, các hóa chất khó phân biệt, xác định bằng cảm quan để khai theo hướng có lợi cho mình
Trang 7Thứ hai, Người nộp thuế gian lận thuế bằng cách nhập khẩu hàng hóa là sản phẩm hoàn chỉnh nhưng lại tháo bớt một số bộ phận để trở thành hàng hóa chưa hoàn thiện nhằm hưởng thuế suất thấp của hàng linh kiện
- Khai sai xuất xứ hàng hóa nhập khẩu
Thuế suất thuế nhập khẩu của Việt Nam được phân biệt theo xuất xứ hàng hóa nhập khẩu Lợi dụng việc áp dụng thuế suất ưu đãi hoặc thuế suất ưu đãi đặc biệt đối với các hàng hóa có xuất
xứ từ các nước, vùng lãnh thổ, khu vực thị trường đã có thỏa thuận về ưu đãi tối huệ quốc hay ưu đãi đặc biệt với Việt Nam, các chủ hàng hóa cố tình khai sai xuất xứ hàng hóa nhập khẩu và làm các giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) giả để được hưởng các mức thuế suất ưu đãi, ưu đãi đặc biệt
- Gian lận giá tính thuế
Gian lận thuế trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu thông qua giá tính thuế là hành vi rất phổ biến hiện nay Các hành vi gian lận thường được các chủ hàng thực hiện dưới các hình thức sau: Thứ nhất, chủ hàng khai báo thấp trị giá đối với những mặt hàng chịu thuế suất cao, chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, những mặt hàng hay biến động về giá
Thứ hai, chủ hàng dựa vào danh mục dữ liệu giá của cơ quan hải quan để khai báo thấp trị giá của các lô hàng nhập khẩu giống hệt, tương tự thấp hơn trị giá giao dịch thực tế, sau đó khai báo thấp dần trị giá khai báo đối với các lô hàng cùng loại, tương tự đã nhập khẩu trước Bằng hành
vi này, chủ hàng đã lợi dụng các quy định về xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu theo phương pháp trị giá giao dịch hàng nhập khẩu giống hệt/tương tự để được tính thuế với mức giá thấp hơn so với trị giá giao dịch thực tế
Thứ ba, chủ hàng khai báo thấp trị giá đối với lô hàng nhập thử để thăm dò thái độ của cơ quan hải quan sau đó nhập khẩu ồ ạt liên tục trong một khoảng thời gian ngắn theo mức giá thấp đã khai báo trước đó và khi cơ quan hải quan chưa kịp xác minh, xử lý, chủ hàng đã tiến hành giải thể DN hoặc bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh
Thứ tư, do theo chính sách thuế đối với linh kiện hoặc nguyên liệu nhập khẩu thấp hơn hàng nguyên chiếc nên DN thực hiện việc “down” giá bằng thủ đoạn tháo rời hàng nguyên chiếc thành linh kiện hoặc nguyên liệu nhập khẩu Điều này được thực hiện qua việc chủ hàng thành lập nhiều công ty khác nhau hoặc tiến hành móc nối với nhiều công ty để mỗi công ty tiến hành nhập khẩu một bộ phận cấu thành của hàng nguyên chiếc về các cửa khẩu khác nhau trong nhiều thời điểm khác nhau để tránh sự kiểm soát của cơ quan hải quan
Thứ năm, chủ hàng lợi dụng các quy định về chiết khấu, giảm giá hoặc không khai báo tiền bản quyền, phí giấy phép, các khoản trợ giúp, phí hoa hồng hoặc các khoản thanh toán gián tiếp
để làm giảm trị giá tính thuế hàng nhập khẩu
Trang 8Thứ sáu, chủ hàng khai tăng trị giá tính thuế so với giá trị thực tế của hàng hóa nhập khẩu để tăng vốn đầu tư và chuyển lợi nhuận ra nước ngoài…
- Giả mạo mục đích xuất khẩu, nhập khẩu để được hưởng ưu đãi thuế
Chứng từ thường hay được các chủ hàng giả mạo với mục gian lận thuế thường là các chứng từ nộp thuế (nhằm giải tỏa cưỡng chế thuế của cơ quan hải quan) hoặc các hồ sơ hải quan (để hợp thức hóa các lô hàng nhập lậu) Trong đó, các trường hợp phổ biến là gian lận thuế qua việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với các dự án đầu tư; gian lận qua việc lợi dụng chính sách quản lý đối với hàng gia công; gian lận thông qua việc lợi dụng hình thức tạm nhập tái xuất và tạm xuất tái nhập Điển hình nhất là vụ buôn lậu xăng A92 lợi dụng hình thức tạm nhập tái xuất, trị giá ước tính 27 tỷ đồng tại vùng biển Thanh Hoá vào tháng 7/2012; hành vi buôn lậu của Công ty TNHH một thành viên xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco) dưới hình thức lợi dụng tạm nhập tái xuất xăng dầu qua cửa khẩu đường bộ để buôn lậu 296,6 tấn xăng A92, trị giá khoảng 8
tỷ đồng, số thuế DN gian lận ước tính 2,5 tỷ đồng
Cũng theo thống kê của Hải quan, trong những năm qua đã có 500 ôtô nhập vào Việt Nam theo hình thức tạm nhập tái xuất nhưng đến nay chỉ có 100 chiếc làm thủ tục xuất và nhập trở lại Nghĩa là còn 400 chiếc không làm thủ tục xuất và nhập trở lại mà lưu hành trong nội địa gây thất thu số tiền thuế rất lớn cho Nhà nước
Ngoài ra, nhiều chủ hàng lợi dụng quy định chuyển cửa khẩu để gian lận thuế; lợi dụng chính sách ân hạn thuế để nợ thuế sau đó tẩu tán bán hàng và bỏ trốn khỏi trụ sở kinh doanh mà không làm thủ tục giải thể DN để tránh thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
II NGUYÊN NHÂN CỦA TÌNH TRẠNG GIAN LẬN, TRỐN LẬU THUẾ.
1.Nguyên nhân chủ quan
Trước tiên, vấn đề chúng ta nhìn thấy rõ nhất là chính sách thuế hiện hành còn quá nhiều khe
hở, quá nhiều bất cập, chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa thật sự phù hợp với thực tại và yêu cầu phát triển của nền kinh tế, Luật được ban hành rất nhiều, gây khó khăn cho những người thực hiện, người quản lý
- Hiện nay khoản thuế từ các doanh nghiệp là rất lớn nhưng có thể thấy việc cho phép thành lập doanh nghiệp, công ty tuy nhiên theo quy định của luật thương mại điều kiện yêu cầu không cao, khá dễ dàng thực hiện được, nhưng khi thành lập xong rồi thì việc theo dõi nắm bắt tình hình hoạt động của doanh nghiệp đó cụ thể như thế nào, thực tế hoạt động ra sao lại buông lỏng chưa chặt chẽ cụ thể Từ khâu hậu kiểm, quản lý doanh nghiệp sau giấy phép đến sự phối hợp giữa cơ quan thuế và các cơ quan quản lý Nhà nước còn nhiều kẽ hở, tạo điều kiện cho việc thành lập các doanh nghiệp ma Mặt khác cơ chế thanh toán giữa các giao dịch kinh tế còn chưa bắt buộc thông qua hệ thống ngân hàng do vậy rất khó kiểm soát việc các hoạt động kinh tế đó đã phát sinh thực tế hay chỉ trên giấy tờ
Trang 9- Việc quy định trách nhiệm việc cung cấp các thông tin, tài liệu trong Luật quản lý thuế ngay khi đăng ký và có hoạt động phát sinh, nhưng trong quá trình hoạt động lại không thường xuyên cung cấp mà chỉ cung cấp khi cơ quan thuế có yêu cầu, cho nên có rất nhiều thông tin cần thiết nhưng cơ quan thuế không biết được đầu mối để cung cấp thông tin và yêu cầu cung cấp thông tin Ví dụ thông tin về tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp, thông thường các doanh nghiệp
mở rất nhiều tài khoản ở các ngân hàng thuộc các địa phương khác nhau, mà cơ quan thuế không biết doanh nghiệp mở tài khoản ở ngân hàng nào để yêu cầu cung cấp
- Luật Quản lý thuế một phần chưa xác định rõ cơ chế bảo đảm thực hiện, nên đã hạn chế tính khả thi của các quy định trong Luật Quản lý thuế và chính điều này chưa thực sự khuyến khích tính tuân thủ pháp luật của chủ thể có nghĩa vụ thuế
- Thiếu các quy định về nguyên tắc tổ chức hoạt động và cơ cấu tổ chức của bộ máy quan lý thuế và nguyên tắc xử lý mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý thuế, đặc biệt trong xu thế quản
lý thuế hiện đại Thứ hai, công tác kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm của các cơ quan chức năng cũng chưa răn đe, chưa được quyết liệt
- Công tác kiểm tra còn lỏng lẻo, không thường xuyên kiểm tra mà chỉ đột xuất, hay khi có khả nghi về hành vi vi phạm xảy ra, thì mới kiểm tra
- Công tác giám sát chưa chặt chẽ, mà gần như hoạt động giám sát không nhiều
- Trong chế tài để xử phạt hành vi vi phạm chưa đủ mạnh để răn đe,chưa thật hà khắc Ví dụ: Nếu làm thất thoát hàng trăm triệu đồng, hàng tỷ đồng mà việc xử phạt vài ba triệu đồng thì như vậy không ai sợ, vì khoản lợi mà họ thu được là rất lớn thậm chí có người còn chấp nhận ngồi tù vài ba năm để mang lại khoản lợi nhuận cao hàng tỷ đồng Vì hiện nay hình phạt cao nhất quy định tại BLHS năm 1999 là 7 năm tù còn mức phạt tiền cao nhất quy định tại BLHS năm 1999 là
7 năm còn mức phạt tiền cao nhất chỉ giới hạn bằng 3 lần số tiền thuế trốn Nếu không xử lý quyết liệt thì luật pháp không còn tính răn đe Do đó, tình hình tội phạm liên quan đến thuế, mặc
dù đã được công luận cảnh báo cơ quan chức năng, vẫn phát triển nhanh, đa dạng, tinh vi và ngày càng lớn về số tiền thuế chiếm đoạt
- Công tác xử lý vi phạm vẫn là một ẩn số, mà cần quan tâm
- Cơ quan thuế chưa thực sự chủ động trong công tác quản lý thuế Một số cán bộ thuế chưa làm tròn trách nhiệm thậm chí thoái hóa, biến chất vì tư lợi riêng để lợi dụng Không hiếm trường hợp chính cán bộ thuế gợi ý và tiếp tay cho một số cá nhân ăn cắp tiền thuế Thứ ba, Hiện nay để xác định một chủ thể vi phạm số tiền thuế là bao nhiêu là một khó khăn lớn Sau đó là trong quá trình xử lý vi phạm ở lĩnh vực xử lý hành chính và xử lý hình sự đều đang gặp nhiều khó khăn,
đó là tình hình luôn luôn gặp phải Ví dụ như xử lý vi phạm hành chính, cơ quan ra quyết định
xử phạt mà các đối tượng không thi hành, dùng mọi thủ đoạn để trốn chạy, gây khó khăn cho việc thực thi, các cơ quan yêu cầu mãi mà không tìm được đối tượng, thì nản, rồi lại kệ để đó không làm đến nơi đến chốn, điều đó có nghĩa đã vô hiệu hóa các quyết định của cơ quan chức
Trang 10năng Khi xử lý hình sự càng hết sức khó khăn nên một yêu cầu nhất thiết là Bộ Công an, Bộ Tài chính và hai tổng cục cần kết hợp với nhau để tháo gỡ vấn đề tồn tại, bàn bạc cân nhắc cụ thể Thứ tư, Trong nhu cầu sử dụng hàng hóa phần lớn hiện nay công chúng đi mua hàng không lấy hóa đơn, đây là một thói quen mua hàng của chế độ cũ, chế độ nền kinh tế lạc hậu Việc lấy hoá đơn gần như chưa hình thành, có nhiều trường hợp được quy tội gian lận thuế không do chủ ý của cá nhân kinh doanh mà do hiểu không đúng các quy định của thuế Về phía người tiêu dùng, cũng từ sự thiếu hiểu biết, họ tiếp tay một cách vô ý cho doanh nghiệp để thực hiện hành vi trốn lậu thuế Hơn nữa họ còn cảm thấy phiền khi lấy hóa đơn, và cũng không có động cơ giữ hoá đơn để làm gì, không cảm thấy cần thiết Đây là một sự yếu kém về khả năng nhận thúc của công dân Thứ năm, Một nguyên nhân mà chúng ta có thể khắc phục trước làm cho hoạt động gian lận, trốn lậu thuế không xảy ra, hay xảy ra ít, dó là công tác xây dựng chương trình kế hoạch phối hợp phòng, chống các hành vi vi phạm Tuy nhiên công tác này chưa thực hiện triệt để, có đơn vị xây dựng kế hoạch nhưng thiếu bám sát, chỉ đạo thực hiện hoặc mới chỉ tập trung đấu tranh chống các hành vi vi phạm mà chưa có giải pháp giải quyết triệt để các trường hợp doanh nghiệp
“ma” Đây cũng là một vấn đề cần được sự quan tâm phối hợp của mọi lực lượng, mọi quần chúng nhân dân
2 Nguyên nhân khách quan
Một là, nền kinh tế nước ta chưa phải nền kinh tế tiên tiến hiện đại, phần lớn những giao dịch chưa được thực hiện bởi công nghệ kỹ thuật cao, nền kinh tế nước ta vẫn mang bản chất nền kinh
tế tiền mặt Gần như tất cả các hạch toán và giao dịch đều có thể dùng tiền mặt như: tiền Việt Nam, vàng, ngoại tệ Đồng thời cộng với đó là tâm lý của họ cũng muốn theo kiểu “tiền trao cháo múc” Điều này được các doanh nghiệp khai thác lập bộ hồ sơ thanh toán giả tạo, không thực hiện đầy đủ chế độ hóa đơn chứng từ và như vậy cơ quan thuế cũng rất khó phát hiện để ngăn chặn kịp thời những hành vi đó Đối với các cá nhân các doanh nghiệp sử dụng hành vi
“trao tay” trực tiếp những khoản thu bằng tiền mặt đã giúp họ trốn được một khoản tiền thuế lớn phải nộp Giá trị thực tế lớn hơn rất nhiều so với giá trị được ghi nhận trong sổ sách của những khoản thu này Việc làm này cũng được rất nhiều công ty áp dụng, mà các cơ quan chức năng rất khó và không thể kiểm soát, quản lý được
Hai là, Nền kinh tế nước ta trong giai đang phát triển phần lớn các cơ sở kinh doanh quy mô theo kiểu doanh nghiệp tư nhân, họ không quan tâm đến chế độ kế toán quốc dân Không chỉ vậy
mà họ cho cho rằng sổ sách kế toán là công cụ của cơ quan Nhà nước kiểm tra, kiểm soát họ để thu thuế, mà không cho rằng sổ sách, tài khoản, chứng từ, là những phương tiện cơ bản giúp họ tiếp cận hoạt động kinh doanh được tốt hơn, chánh được những rư ro trước mắt, để đánh giá, đo lường và phân tích kết quả kinh doanh cũng như những dự đoán và dự báo cho tương lai của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung, để đem lại hiệu quả kinh doanh tốt nhất
Ba là, Hiện tượng này có nguyên nhân từ khía cạnh đạo đức, trình độ dân trí, trình độ cán bộ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật và một phần không nhỏ xuất phát từ sự buông lỏng pháp luật
Do hạn chế về nguồn nhân lực một số cán bộ còn thiếu tinh thần trách nhiệm trong quản lý nên