NỘI DUNG ÔN TẬP HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC LÊ NIN 1 Khái niệm triết học; triết học Mác Lê nin 2 Vấn đề cơ bản của triết học 3 Biện chứng và siêu hình 4 Định nghĩa vật chất 5 Vận động 6 Ý thức 7 Mối quan h[.]
Trang 1NỘI DUNG ÔN TẬP HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC LÊ- NIN
1 Khái niệm triết học; triết học Mác Lê-nin
2 Vấn đề cơ bản của triết học
3 Biện chứng và siêu hình
4 Định nghĩa vật chất
5 Vận động
6 Ý thức
7 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
8 2 nguyên lý; 3 quy luật; 6 cặp phạm trù
9 Thực tiễn, vai trò của thực tiễn
10.2 giai đoạn của quá trình nhận thức
11 Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
12.Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
13 Tồn tại xã hội, ý thức xã hội
14 Khái niệm con người và bản chất con người
Trang 21.Khái niệm triết học; triết học Mác Lê-nin:
-Triết học Mác - Lênin là khoa học về những quy luật phổ biến chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người; trang bị cho con người thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật đúng đắn để nhận thức và cải tạo thế giới
2.Vấn đề cơ bản của triết học:
+ Mặt thứ nhất trả lời câu hỏi: Giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Nói cách khác, giữa vật chất và ý thức cái nào là tính thứ nhất, cái nào là tính thứ hai Có hai cách trả lời khác nhau dẫn đến hình thành hai khuynh hướng triết học đối lập nhau:
Những quan điểm triết học cho vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai hợp thành chủ nghĩa duy vật Trong lịch sử tư tưởng triết học có ba hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật: Chủ nghĩa duy vật chất phác, ngây thơ cổ đại; Chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình thế kỷ XVII – XVIII; Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Ngược lại, những quan điểm triết học cho ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai, hợp thành chủ nghĩa duy tâm Chủ nghĩa duy tâm lại được thể hiện qua hai trào lưu chính: Chủ nghĩa duy tâm khách quan (Platon, Hêghen…) và chủ nghĩa duy tâm chủ quan (Beccli, Hium…)
+ Mặt thứ hai trả lời cho câu hỏi: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? (Ý thức có thể phản ánh được vật chất hay không, tư duy có thể phản ánh được tồn tại hay không?) Mặt này còn được gọi là mặt nhận thức
Các nhà triết học duy vật cho rằng, con người có khả năng nhận thức thế giới Song, do mặt thứ nhất quy định, nên sự nhận thức đó là sự phản ánh thế giới vật chất vào óc con người
Một số nhà triết học duy tâm cũng thừa nhận con người có khả năng nhận thức thế giới, nhưng sự nhận thức đó là sự tự nhận thức của tinh thần, tư duy
Một số nhà triết học duy tâm khác như Hium, Can-tơ lại phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của con người Đây là những người theo “Bất khả tri luận” (Thuyết không thể biết) Khuynh hướng này không thừa nhận vai trò của nhận thức khoa học trong đời sống
xã hội
Đối với các hệ thống triết học, vấn đề cơ bản của triết học không chủ được thể hiện trong các quan niệm có tính chất bản thể luận, mà còn được thể hiện trong các quan niệm chính trị – xã hội, đạo đức và tôn giáo, tất nhiên có thể là nhất quán hoặc là không nhất quán.Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm xuyên suốt lịch sử phát triển của tư tưởng triết học và thể hiện tính đảng trong triết học.Hai mặt vấn đề cơ bản của triết học này tác động qua lại lẫn nhau
Trang 33 Biện chứng và siêu hình
Phương pháp biện chứng là phương pháp:
– Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau.
– Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi
ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng
Như vậy phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt Nó thừa nhận trong những
trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “hoặc là… hoặc là…” còn có cả cái “vừa là… vừa là…” nữa; thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó; thừa nhận cái
khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau
Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại Nhờ vậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới
Phương pháp siêu hình là phương pháp:
– Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối
– Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại Nếu có sự biến đổi thì đấy chỉ là sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng
Phương pháp siêu hình làm cho con người “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh
của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”.
Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ muốn nhận thức một đối tượng nào trước hết con người cũng phải tách đối tượng ấy ra khỏi những mối liên hệ và nhận thứcnnó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định.phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm
4.Định nghĩa vật chất
“Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
“Vật chất” ở đây không thể hiểu theo nghĩa hẹp như là vật chất trong lĩnh vực vật lý, hóa học, sinh học (nhôm, đồng, H2O, máu, nhiệt lượng, từ trường…) hay ngành khoa học thông thường khác… Cũng không thể hiểu như vật chất trong cuộc sống hàng ngày (tiền bạc, cơm ăn áo mặc, ô
tô, xe máy…)
“Vật chất” trong định nghĩa của Lênin là một phạm trù triết học, tức là phạm trù rộng nhất, khái quát nhất, rộng đến cùng cực, không thể có gì khác rộng hơn.Đến nay, nhận thức luận (tức lý luận về nhận thức của con người) vẫn chưa hình dung được cái gì rộng hơn phạm trù vật chất Ta
Trang 4không thể “nhét” vật chất này trong một khoảng không gian nhất định, vì không có gì rộng hơn nó
5.Vận động
Vận động là một phạm trù của triết học Marx-Lenin dùng để chỉ về một phương thức tồn tại của vật chất (cùng với cặp phạm trù không gian và thời gian), đó là sự thay đổi của tất cả mọi sự vật hiện tượng, mọi quá trình diễn ra trong không gian, vũ trụ từ đơn giản đến phức tạp Theo quan điểm của triết học Mác - Lê nin thì vận động không chỉ là sự thay đổi vị trí trong không gian (hình thức vận động thấp, giản đơn của vật chất) mà theo nghĩa chung nhất, vận động là mọi
sự biến đổi Thông qua vận động, vật chất mới biểu hiện và bộc lộ bản chất của mình
- Có 5 sự vận động từ thấp đến cao:
1 Vận động cơ học: là sự duy chuyển của các vật thể trong không gian
VD: thác nước đang chảy,quạt đang quay,chim đang bay,
2 Vận độn vật lý: là sự vận động của các phân tử,các hạt cơ bản
VD: Vận động giữa các điện tích và điện tích,
3 Vận động hóa học: là quá trình hóa hợp,phân giải các chất
VD: sự kết hợp giữa hydro và oxy tạo ra nước
4 Vận động sinh học: là sự trao đổi chất với môi trường
VD: cây phát triển ra quả
5 Vận động xã hội: là sự biến đổi,thay thế các xã hội trong lịch sử
VD: từ chế độ CXNT - CHNL - PK - TBCN - XHCN
6. Ý thức
Ý thức theo định nghĩa của triết học Mác-Lenin là một phạm trù song song với phạm trù vật chất Theo đó, ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc con người và có sự cái biến và sáng tạo Ý thức có mối quan hệ hữu cơ với vật chất”
2 Nguồn gốc của ý thức
2.1 Nguồn gốc tự nhiên
Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý học thần kinh, các nhà duy vật
biện chứng cho rằng, nguồn gốc tự nhiên của ý thức có hai yếu tố không thể tách rời nhau là bộ
óc con người và thế giới bên ngoài tác động lên óc người.
a Bộ óc người
– Đây là một dạng vật chất sống đặc biệt, có tổ chức cao, trải qua quá trình tiến hóa lâu dài về
mặt sinh vật – xã hội. Ý thức là thuộc tính của riêng dạng vật chất này.
Tức là, chỉ con người mới có ý thức. Không một kết cấu vật chất nào khác, kể cả những con vật thông minh nhất có năng lực này
Ý thức phụ thuộc vào hoạt động của bộ óc người, nên khi óc bị tổn thương thì hoạt động ý thức không diễn ra bình thường hoặc rối loạn
– Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc không thôi mà không có thế giới bên ngoài tác động vào bộ óc, thì cũng không có ý thức Do vậy, nguồn gốc tự nhiên cần có yếu tố thứ hai là thế giới bên ngoài
b Sự tác động của thế giới bên ngoài lên bộ óc người
Trang 5– Trong tự nhiên, mọi đối tượng vật chất (con khỉ, con voi, cái bàn, mặt nước, cái gương…) đều
có thuộc tính chung, phổ biến là phản ánh. Đó là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật
chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng
Nói một cách dễ hiểu, phản ánh chính là sự chép lại, chụp lại, kể lại một cái gì đó Chép lại lời nói ra giấy là sự phản ánh Chụp một bức ảnh cũng là sự phản ánh
Để có quá trình phản ánh xảy ra, cần có vật tác động và vật nhận tác động
– Đương nhiên, bộ óc người cũng có thuộc tính phản ánh Nhưng phản ánh của bộ óc con người
có trình độ cao hơn, phức tạp hơn so với các dạng vật chất khác
Sau quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên, con người trở thành sản phẩm cao nhất, thì thuộc tính phản ánh của óc người cũng hoàn mỹ nhất so với mọi đối tượng khác trong tự nhiên
Do hoàn mỹ nhất như vậy, nên thuộc tính phản ánh của óc người được gọi riêng bằng phạm trù
“ý thức” Đó là sự phản ánh, sự tác động của thế giới bên ngoài vào bộ óc con người
2.2 Nguồn gốc xã hội
Để cho ý thức ra đời, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, không thể thiếu được, song chưa đủ Điều kiện quyết định, trực tiếp và quan trọng nhất cho sự ra đời của ý thức là những tiền đề, nguồn gốc xã hội Đó là lao động, tức là Ý thức xã hội và ngôn ngữ
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người thông qua lao động, ngôn ngữ
và các cơ quan xã hội Theo Ph Ăng-ghen, lao động và ngôn ngữ là hai sức kích thích biến đổi
bộ não động vật thành bộ não người, biến tâm lý động vật thành ý thức con người
a Lao động
– Trong tự nhiên, con vật tồn tại nhờ những vật phẩm có sẵn như trái cây, côn trùng hoặc loài vật yếu hơn nó… Nhưng đối với con người thì khác
Con người có khả năng và bắt buộc phải sản xuất ra những sản phẩm mới (bàn, ghế, quần áo, ti
vi, tủ lạnh…), khác với những sản phẩm có sẵn Tức là, con người phải lao động mới đáp ứng được nhu cầu cuộc sống của mình
Chính thông qua lao động, hay còn gọi là hoạt động Ý thức, nhằm cải tạo thế giới khách quan mà con người mới có thể phản ánh được, biết được nhiều bí mật về thế giới đó, mới có ý thức về thế giới này
– Nhưng ở đây, không phải bỗng nhiên mà thế giới khách quan tác động vào bộ óc con người để con người có ý thức Ý thức có được chủ yếu là do con người chủ động tác động vào thế giới khách quan để cải tạo, biến đổi nó nhằm tạo ra những sản phẩm mới
Nhờ chủ động tác động vào thế giới khách quan, con người bắt những đối tượng trong hiện thực (núi, rừng, sông, mỏ than, sắt, đồng…) phải bộc lộ những thuộc tính, kết cấu, quy luật của mình Những bộc lộ này tác động vào bộ óc người để hình thành ý thức của con người
b Ngôn ngữ
– Trong quá trình lao động, ở con người xuất hiện nhu cầu trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng với nhau, tức là nhu cầu nói chuyện được với nhau Chính nhu cầu này đòi hỏi sự ra đời của ngôn ngữ, trước hết là tiếng nói, sau đó là chữ viết
Ngôn ngữ do nhu cầu lao động và nhờ lao động mà hình thành Nó là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức Không có hệ thống tín hiệu này, thì ý thức không thể tồn tại và thể hiện được
Theo C Mác, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, không
có ngôn ngữ, con người không thể có ý thức
– Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp, đồng thời là công cụ của tư duy Nhờ có ngôn ngữ, con người mới có thể khái quát hóa, trừu tượng hóa, tức là diễn đạt những khái niệm, phạm trù, để suy nghĩ, tách mình khỏi sự vật cảm tính
Trang 6Cũng nhờ ngôn ngữ, kinh nghiệm, hiểu biết của con người được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
3 Bản chất của ý thức
Trong lịch sử triết học, triết học duy tâm quan niệm ý thức là một thực thể độc lập, là thực tại duy nhất, từ đó cường điệu tính năng động của ý thức đến mức coi ý thức sinh ra vật chất chứ không phải là sự phản ánh của vật chất
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não con người thông qua Ý thức, nên bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan,
là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất
– Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Điều đó có nghĩa là nội dung của ý thức
là do thế giới khách quan quy định, nhưng ý thức là hình ảnh chủ quan, là hình ảnh tinh thần chứ không phải là hình ảnh vật lý, vật chất như chủ nghĩa duy vật tầm thường quan niệm
– Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, cùng có nghĩa là ý thức là sự phản ánh tự giác, sáng tạo thế giới
+ Phản ánh ý thức là sáng tạo, vì nó bao giờ cũng do nhu cầu Ý thức quy định Nhu cầu đó đòi hỏi chủ thể phản ánh phải hiệu được cái được phản ánh Trên cơ sở đó hình thành nên hình ảnh tinh thần và những hình ảnh đó ngày càng phản ánh đúng đắn hơn hiện thực khách quan, Song,
sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của phản ánh, dựa trên cơ sở phản ánh
+ Phản ánh ý thức là sáng tạo, vì phản ánh đó bao giờ cũng dự trên hoạt động Ý thức và là sản phẩn của các quan hệ xã hội Là sản phẩm của các quan hệ xã hội, bản chất của ý thức là có tính
xã hội
7.,Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Vật chất:
Vật chất là một phạm trù triết học: Khác với khái niệm vật chất trong khoa học cụ thể, vật chất trong Triết học được xem là một phạm trù triết học rộng lớn nhất, khái quát nhất, không thể gộp vật chất với bất kỳ thuộc tính nào của vật chất hoặc vật thể nào
Thuộc tính cơ bản của vật chất là thực tại khách quan (bao gồm tất cả những gì tồn tại bên ngoài, không lệ thuộc vào ý thức và cảm giác của con người), tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
Ý thức:
+Nguồn gốc tự nhiên: Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nguồn gốc tự nhiên của ý thức bao gồm 2 yếu tố không thể tách rời là bộ óc của con người và sự tác động của thế giới bên ngoài lên bộ óc của con người
+Nguồn gốc xã hội: Điều kiện quan trọng nhất và trực tiếp ảnh hưởng đến sự ra đời của ý thức bên cạnh nguồn gốc tự nhiên phải kể đến đó là những tiền đề, nguồn gốc xã hội: lao động và ngôn ngữ
Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Ngược lại với quan điểm của chủ nghĩa duy tâm cho rằng thì ý thức là yếu tố quyết định sự tồn tại của vật chất, chủ nghĩa duy vật lại quan điểm rằng vật chất quyết định toàn bộ đến sự tồn tại
và phát triển của ý thức Đồng thời ý thức không tác động trở lại vật chất Còn theo quan điểm
Trang 7tiến bộ nhất hiện nay (quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng) nhận định rằng: vật chất quyết định ý thức đồng thời ý thức cũng tác động trở lại đối với vật chất
Vai trò của vật chất đối với ý thức:
Vật chất đóng vai trò quyết định đến sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi của ý thức Về mặt bản chất,
ý thức chính là sản phẩm của bộ óc con người - một dạng vật chất có tổ chức cao Vì lẽ đó, ý thức chỉ có khi có con người Trong mối quan hệ giữa thế giới vật chất và con người thì con người là kết quả, là sản phẩm của giới tự nhiên (thế giới vật chất) qua quá trình phát triển lâu dài
Từ kết luận này giúp chứng tỏ nhận định: vật chất có trước, ý thức có sau
Nội dung của ý thức được quyết định bởi vật chất do bản chất của ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật chất Bên cạnh đó, sự vận động và phát triển của ý thức, hình thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật xã hội, quy luật sinh học và sự tác động của môi trường sống quyết định Các nhân tố này thuộc lĩnh vực vật chất này thuộc lĩnh vực vật chất Chính vì vậy, không chỉ quyết định nội dung mà vật chất còn có vai trò quyết định cả mọi sự biến đổi và hình thức biểu hiện của ý thức
Vai trò của ý thức đối với vật chất:
Ý thức có tính độc lập tương đối, chính vì vậy nó có khả năng tác động trở lại vật chất thông qua các hoạt động thực tiễn của con người Vì bản chất của ý thức xuất phát từ con người nên nói đến vai trò của ý thức là nói đến vai trò của con người Bản thân ý thức không thể thay đổi bất cứ điều gì trong hoạt động thực tiễn nếu như không có sự tiến hành các hoạt động vật chất của con người.
Ý thức không trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất Tuy nhiên, trên thực tế, mọi hoạt động của con người đều do sự chỉ đạo của ý thức Vì vậy vai trò của ý thức là trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan Từ cơ sở này, con người sẽ xác định mục tiêu, đề ra phương hướng, xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp, cách thức thực hiện, công cụ, phương tiện hỗ trợ… để thực hiện mục tiêu của mình
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất có thể diễn ra theo hai hướng: tích cực hoặc tiêu cực Nếu ý thức của con người có khả năng nhận thức đúng, có nghị lực, có tri thức khoa học thì hành động của con người sẽ phù hợp với các quy luật khách quan, con người có năng lực vượt qua những thách thức trong quá trình thực hiện mục đích của mình, thế giới được cải tạo Ngược lại, nếu ý thức của con người phản ánh không đúng bản chất, quy luật và hiện thực khách quan sẽ dẫn đến hướng hành động của con người đi ngược lại các quy luật khách quan điều này dẫn đến các ảnh hưởng tiêu cực đối với hoạt động thực tiễn và hiện thực khách quan
Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Dựa trên cơ sở quan điểm về bản chất năng động sáng tạo của ý thức, bản chất vật chất của thế giới và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, chung nhất đối với mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người đã được chủ nghĩa duy vật biện chứng xây dựng nên Nguyên tắc này là: trong mọi hoạt động thực tiễn đòi con người
Trang 8phải tôn trọng khách quan, đồng thời phát huy tính năng động chủ quan của ý thức.Tôn trọng khách quan là tôn trọng các quy luật tự nhiên và xã hội, tôn trọng tính khách quan của vật chất
Có nghĩa là khi xem xét sự vật, hiện tượng cần đảm bảo tính khách quan của sự vật, hiện tượng
đó, không xuyên tạc, bóp méo sự thật Đồng thời cần phải tôn trọng và vận dụng theo quy luật khách quan, lấy thực tế khách quan làm cơ sở cho mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn.Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy vai trò tích cực của ý thức, của nhân tố con người để nhận thức đúng quy luật khách quan Đồng thời phải biết vận dụng quy tắc khách quan trong việc xác định mục tiêu, kế hoạch và lựa chọn các phương pháp tổ chức hoạt động hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra một cách tốt nhất.Khắc phục các bệnh chủ quan duy ý chí, thái độ tiêu cực, bảo thủ, thụ động, ỷ lại…
8.2 nguyên lý; 3 quy luật; 6 cặp phạm trù