LỜI MỞ ĐẦU Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên đề tốt nghiệp LỜI MỞ ĐẦU Khi xã hội ngày càng phát triển, không chỉ có các công ty, các doanh nghiệp cần vốn để sản xuất kinh doanh mở rộng thị trường[.]
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Khi xã hội ngày càng phát triển, không chỉ có các công ty, các doanh nghiệpcần vốn để sản xuất kinh doanh mở rộng thị trường mà các cá nhân cũng là những ngườicần vốn hơn bao giờ hết Cuộc sống ngày càng hiện đại, mức sống của người dân ngàycàng nâng cao Cuộc sống giờ đây không chỉ bó hẹp trong “ăn no, mặc ấm” mà đã chuyểndần sang “ăn ngon, mặc đẹp” Thêm vào đó là đời sống tinh thần đa dạng, phong phú Vìvậy, nhu cầu của người dân tăng lên rất nhiều Nhưng không phải lúc nào họ cũng đủ tiềmlực kinh tế để thõa mãn hết mọi nhu cầu của mình Nắm bắt được xu hướng tiêu dùng vàmong muốn thỏa mãn nhu cầu của người dân, các ngân hàng đã không ngừng phát triển,cung cấp phẩm này một mặt tạo thêm thu nhập cho ngân hàng, mặt khác giúp đỡ cho các
cá nhân có được nguồn vốn để cải thiện cuộc sống của mình Tín dụng tiêu dùng mới xuấthiện ở Việt Nam một thập niên qua và thực sự trở nên sôi động trong 3 năm nay
Trong thời gian thực tập tại phòng giao dịch Ngọc Lâm chi nhánh Thăng LongNgân hàng TMCP Á Châu, em nhận thấy cho vay tiêu dùng là một trong những hoạt độngchính Do đó,nghiên cứu giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng sẽ có ý nghĩalớn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Thông qua những vấn đề lý luận cơ bản
về cho vay tiêu dùng, định nghĩa, vai trò của cho vay tiêu dùng đối với các chủ thể trongnền kinh tế Qua đó cho ta thấy được tầm quan trọng của việc mở rộng hoạt động cho vaytiêu dùng ở ngân hàng thương mại
Bên cạnh đó việc xem xét một cách tổng quát và có hệ thống về cho vay tiêu dùngtại phòng giao dịch chi nhánh Thăng Long Ngân hàng TMCP Á Châu sẽ giúp ngân hàngtìm ra được những hạn chế và tồn tại trong việc mở rộng tín dụng tiêu dùng Trên cơ sở
đó đưa ra những biện pháp, kiến nghị nhằm mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng
Chính vì vậy, em mạnh dạn chọn đề tài chuyên đề: “Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại phòng giao dịch Ngọc Lâm chi nhánh Thăng Long ngân hàng TMCP Á Châu” làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình Mục đích của đề tài này
nhằm tìm hiểu hơn nữa về lý thuyết thuộc đề tài và bước đầu vận dụng vào cuộc sống.Chuyên đề có 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề chung về hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
Trang 2Chương 2 Thực trạng hiệu quả cho vay tiêu dùng tại phòng giao dịch Ngọc Lâm chi nhánh Thăng Long ngân hàng TMCP Á Châu
Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại phòng giao dịch Ngọc Lâm chi nhánh Thăng Long ngân hàng TMCP Á Châu
CHƯƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY HOẠT ĐỘNG TIÊU
DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về cho vay tiêu dùng
1.1.1 Khái niệm cho vay tiêu dùng
Cách đây khoảng 20 năm về trước "Cho vay tiêu dùng" còn là khái niệm "khá mới"đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam, nhưng chỉ một vài năm trởlại đây, hoạt động cho vay tiêu dùng đã trở thành mục tiêu của nhiều TCTD, nhất là cácTCTD ngoài nhà nước Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, đời sống củanhân dân đã được cải thiện đáng kể, nhu cầu chi tiêu phục vụ đời sống ngày càng cao, đó
là điều kiện thuận lợi cho cho vay tiêu dùng phát triển Với tốc độ phát triển kinh tế mạnh
mẽ như hiện nay mở ra thị trường cho vay tiêu dùng vô cùng rộng lớn và đầy tiềm năng Các nghiệp vụ cho vay của ngân hàng có thể được chia làm nhiều loại, nếu căn cứ vàomục đích sử dụng tiền vay thì cho vay có 2 loại là cho vay tiêu dùng và cho vay để sảnxuất kinh doanh:
Cho vay tiêu dùng là nghiệp vụ trong đó ngân hàng là người cho vay, người đi vay là các cá nhân, hộ gia đình trên nguyên tắc người đi vay cam kết hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định nhằm giúp người tiêu dùng sử dụng hàng hóa, dich vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho họ hưởng mức sống cao hơn.
Trang 3Bên cạnh đó, cho vay để sản xuất kinh doanh là các khoản tài trợ của ngân hàng chodoanh nghiệp, hộ gia đình, tổ chức trong nền kinh tế để sản xuất tạo ra sản phẩm cho xãhội.
Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng rất đa dạng, chủ yếu vay với mục đích muanhà, du học, mua xe hơi v.v…
1.1.2.Phân loại cho vay tiêu dùng
1.1.2.1 Căn cứ vào hình thức cho vay
Căn cứ vào hình thức cho vay thì cho vay tiêu dùng được chia làm 2 loại: cho vaytiêu dùng gián tiếpvà cho vay tiêu dùng trực tiếp
Cho vay tiêu dùng gián tiếp
Cho vay tiêu dùng gián tiếp là khoản cho vay tiêu dùng được thực hiện thông qua việcmua lại các khế ước hay chứng từ nợ phát sinh ( do những công ty bán lẻ chịu hàng hóa
và dịch vụ cho người tiêu dùng) và còn trong hạn thanh toán
Cho vay tiêu dùng gián tiếp được thực hiện theo sơ đồ sau:
(1) Ngân hàngvà công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua bán nợ Trong hợp đồng, ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng được bán chịu, số tiền bán chịu tối
đa và các loại tài sản bán chịu…
LẺ
NGƯỜI TIÊU DÙNG
(4 ) (5 )
(2 )
(3 ) (6 )
(1 )
Trang 4(2) Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng hóa Thông thường người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài sản.
(3) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng
(4) Công ty bán lẻ bán bộ chứng từ bán chịu hàng hóa cho ngân hàng
(5) Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ
(6) Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng
Ưu điểm của cho vay tiêu dùng gián tiếp là đồng thời có lợi cho cả ngân hàng, ngườitiêu dùng cũng như nhà bán lẻ Người tiêu dùng được phép mua các hàng hóa dịch vụtrước thanh toán sau Các công ty bán lẻ bán được nhiều hàng hóa dịch vụ hơn Còn cácngân hàng thì dễ tăng doanh số cho vay tiêu dùng, giảm được chi phí trong cho vay.Trong trường hợp ngân hàng quan hệ tốt với các công ty bán lẻ thì độ an toàn của cho vaytiêu dùng gián tiếp cũng cao hơn cho vay tiêu dùng trực tiếp Mặt khác ngân hàng khôngcần phải mở rộng các chi nhánh của ngân hàng nhiều mà vẫn có thể bán được các sảnphẩm của mình tới khách hàng thông qua các công ty bán lẻ
Tuy nhiên, hạn chế của cho vay tiêu dùng gián tiếp là ngân hàng không được tiếp xúctrực tiếp với khách hàng mua hàng nên gây khó khăn trong việc kiểm tra, giám sát cảtrước, trong và sau khi vay vốn Bên cạnh đó, kỹ thuật, quy trình nghiệp vụ cho vay tiêudùng gián tiếp có tính phức tạp cao do phải qua thêm một bên trung gian giữa ngân hàng
và khách hàng là các doanh nghiệp bán lẻ
Cho vay tiêu dùng trực tiếp
Cho vay tiêu dùng trực tiếp là khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng cấp vốntrực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay phải trực tiếp hoàn trả nợ cho ngânhàng
Sơ đồ cho vay tiêu dùng trực tiếp như sau:
Trang 5(1) Ngân hàng và người tiêu dùng ký kết hợp đồng vay vốn
(2) Người vay vốn trả trước một phần số tiền mua tài sản cho công ty bán lẻ
(3) Ngân hàng thanh toán số tiền còn thiếu cho công ty bán lẻ
(4) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng
(5) Người tiêu dùng thanh toán nợ vay cho ngân hàng
Ưu điểm của cho vay tiêu dùng trực tiếp so với cho vay tiêu dùng gián tiếp gồm: Ngân hàng được tiếp xúc trực tiếp khách hàng nên cán bộ tín dụng có thể thu nhậncác thông tin một cách chính xác hơn Các cán bộ tín dụng là những người được đào tạochuyên sâu và cũng có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực cho vay nên họ sẽ có nhữngquyết định chính xác hơn các công ty bán lẻ, vì vậy các khoản cho vay này thường có chấtlượng cao hơn so với cho vay thông qua doanh nghiệp bán lẻ Bên cạnh đó, khi có thểgiao dịch trực tiếp với khách hàng, ngân hàng sẽ xử lý tốt hơn các vấn đề phát sinh chonên hình thức này khá linh hoạt so với cho vay tiêu dùng gián tiếp Hơn nữa, ngân hàng
có thể nâng cao uy tín, hình ảnh của ngân hàng thông qua việc bán hàng trực tiếp
Nhưng cho vay tiêu dùng trực tiếp cũng có nhược điểm là chi phí trong cho vay lớn dongân hàng phải mất chi phí để thẩm định khách hàng có đủ điều kiện vay vốn hay không,chi phí này trong cho vay tiêu dùng gián tiếp không phải bỏ ra nhiều
1.1.2.2 Căn cứ vào phương thức hoàn trả
Căn cứ vào phương thức hoàn trả, cho vay tiêu dùng được chia làm 3 loại:
(1)
Trang 6 Cho vay tiêu dùng trả góp
Cho vay tiêu dùng trả góp là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay trả nợ( cả gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn chovay
Cho vay tiêu dùng trả góp chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động cho vay tiêu dùng củangân hàng Phương thức này thường áp dụng với các khoản vay có giá trị lớn hoặc/ và thunhập từng định kỳ của người đi vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay Trong hợp đồng cho vay tiêu dùng trả góp thì có một số điều khoản được ngân hàngthỏa thuận kỹ với khách hàng như:
o Loại tài sản được tài trợ: ngân hàng thường muốn tài trợ cho những tài sản có thờigian sử dụng lâu dài hoặc có giá trị lớn vì những tài sản đó đáp ứng nhu cầu củangười tiêu dùng trong một thời gian dài, điều này sẽ giúp khách hàng có thiện chí trả
có trách nhiệm hơn trong việc trả nợ cho ngân hàng
o Chi phí khoản vay: Là số tiền người đi vay trả cho ngân hàng trong việc sử dụngvốn Chi phí này bao gồm lãi vay và các chi phí khác có liên quan Khoản chi phínày phải đủ lớn để bù đắp các chi phí mà ngân hàng bỏ ra như chi phí huy động vốn,chi phí quản lý… đồng thời đảm bảo mang lại lợi nhuận cho ngân hàng
Các điều khoản thanh toán: quy định về các khoản liên quan khác đến việc thanh toángiữa khách hàng cho ngân hàng như thời hạn vay, số tiền thanh toán mỗi kỳ, kỳ hạn trả nợ
của khách hàng…
Cho vay tiêu dùng phi trả góp
Cho vay tiêu dùng phi trả góp là khoản vay ngắn hạn của cá nhân và hộ gia đình đểđáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời hoặc mua hàng hóa có giá trị không lớn và đượcthanh toán một lần khi khoản vay đáo hạn Phần lớn các khoản vay này được dùng để
Trang 7chi trả cho các chuyến du lịch, tiền viện phí, mua đồ dùng guia đình, sửa chữa ô tô,nhà ở.
Cho vay tiêu dùng tuần hoàn
Cho vay tiêu dùng tuần hoàn là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng chophép khách hàng vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tíndụng bằng cách sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành sec được phép thấu chi dựa trêntài khoản vãng lai Theo phương thức này, trong thời gian cho vay được thỏa thuậntrước, ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một hạn mức căn cứ vào nhu cầu chi tiêu vàthu nhập từng kỳ Khách hàng được ngân hàng cho phép được thực hiện vay và trả nợnhiều kỳ một cách tuần hoàn theo một hạn mức tín dụng Nếu chi vượt quá hạn mức,ngân hàng sẽ ngừng cung cấp dịch vụ và có các hình thức phạt tương ứng
1.1.2.3 Căn cứ vào mục đích vay
Căn cứ vào mục đích vay, cho vay tiêu dùng được chia làm 2 loại: cho vay tiêu dùng cưtrú và cho vay tiêu dùng không cư trú
Cho vay tiêu dùng cư trú
Cho vay tiêu dùng cư trú là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xâydựng hoặc cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình
Cho vay tiêu dùng không cư trú
Cho vay tiêu dùng không cư trú là các khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sốngnhư mua sắm phương tiện, đồ dùng, tài trợ học hành, du lịch, giải trí…
1.1.2.4 Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay
Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay, cho vay tiêu dùng chia làm 2 loại: cho vay có tàisản đảm bảo và cho vay không có tài sản đảm bảo
Cho vay có tài sản đảm bảo
Cho vay có tài sản đảm bảo là cho vay mà tài sản đảm bảo thường là bất động sản, độngsản( tàu, thuyền, ô tô…) hình thành từ vốn vay hoặc tài sản thuộc quyền sở hữu của kháchhàng trước khi vay vốn ngân hàng Tài sản đảm bảo làm tăng tính an toàn cho khoản vay
vì ngân hàng có thể tạo áp lực buộc khách hàng phải trả nợ, nếu trong trường hợp kháchhàng không thể trả được nợ thì ngân hàng có thể phát mại tài sản để giảm bớt tổn thất chongân hàng
Cho vay không có tài sản đảm bảo
Trang 8Cho vay không có tài sản đảm bảo là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc
có sự bảo lãnh của người thứ ba Việc cho vay ở đây chỉ dựa vào uy tín của bản thankhách hàng là chính
So với cho vay có TSĐB thì cho vay không có TSĐB không yêu cầu khách hàng phải cóTSĐB, do đó trường hợp khách hàng không có TSĐB hoặc TSĐB giá trị không lớn thìvẫn có thể vay được tiền của ngân hàng Tuy nhiên hình thức cho vay này có thể dẫn đếnkhách hàng không quyết tâm trả nợ cho ngân hàng và có thể gây thiệt hại cho ngân hàng
1.1.3 Vai trò của cho vay tiêu dùng
1.1.3.1 Đối với nền kinh tế
Cho vay tiêu dùng làm tăng tổng cầu( AD) của nền kinh tế, bên cạnh đó còn nângcao mức sống của dân cư Đối với một nền sản xuất hàng hóa thì sự phát triển cho vaytiêu dùng đồng nghĩa với việc tăng mức cầu hay sức mua của dân cư, tạo thêm sự sôiđộng cho thị trường tiêu thụ hàng hóa Vì thế, cho vay tiêu dùng được xem là đòn bẩy đểkích cầu, tạo thêm thị trường đầu ra cho khu vực sản xuất, từ đó góp phần gải quyết công
ăn việc làm, giảm thất nghiệp cho xac hội Hơn nữa, đặc thù của cho vay tiêu dùng là thủtục tương đối đơn giản, nhanh gọn nên góp phần quan trọng đẩy lùi nạn cho vay nặng lãi,
từ đó giải quyết tốt các mối quan hệ khác trong xã hội
1.1.3.2 Đối với người tiêu dùng
Khi hình thức cho vay tiêu dùng chưa được biết đến, khi người dân muốn mua hànghóa thỏa mãn nhu cầu cuộc sống thì phải tiết kiệm đủ tiền mới mua được Khi hình thứccho vay tiêu dùng xuất hiện và ngày càng trở nên phổ biến, thì người tiêu dùng đượchưởng những tiện ích mà cho vay tiêu dùng đem lại Đó là khả năng tài chính không chophép nhưng người tiêu dùng vẫn được sử dụng các sản phẩm dịch vuh trước khi họ trả đủ
số tiền cần phải trả Nhờ đó, người tiêu dùng vẫn nâng cao được mức sống của mình trongkhi thu nhập vẫn chưa cho phép
1.1.3.3 Đối với các ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, các ngân hàng cạnh tranh gay gắt với nhau để giànhgiật thị phần Vì vậy, nếu chỉ chú trọng vào mỗi khách hàng doanh nghiệp thì khả năngcạnh tranh của ngân hàng sẽ rất hạn chế Thị trường khách hàng cá nhân tuy nhu cầu vaynhỏ nhưng xét theo lượng khách hàng tiềm năng và sự đa dạng của nhu cầu tiêu dùng thìlại vô cùng lớn Cho vay tiêu dùng cũng là một công cụ Marketing rất hiệu quả, nhiều
Trang 9người sẽ biết tới ngân hàng hơn Ngân hàng sẽ huy động được nhiều nguồn tiền gửi củadân cư bởi dân cư sẽ gửi tiền nhiều vào ngân hàng khi họ thấy rằng mình có triển vọngvay lại tiền từ chính ngân hàng đó Thế nên hình thức cho vay tiêu dùng giúp ngân hàng
mở rộng danh mục khách hàng, nâng cao hình ảnh của ngân hàng, từ đó tăng khả nănghuy động cũng như cho vay của ngân hàng Nhờ đó, làm tăng khả năng thu nhập chongân hàng, đồng thời phân tán rủi ro trong quá trình hoạt động Cho vay tiêu dung giúptăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng với các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác,thu hút được đối tượng khách hàng mới, từ đó mở rộng quan hệ với khách hàng Bằngcách nâng cao và mở rộng mạng lưới, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụcho vay tiêu dùng, số lượng khách hàng đến với ngân hàng sẽ ngày càng nhiều hơn vàhình ảnh của ngân hàng sẽ đẹp hơn trong mắt khách hàng
1.2 Các đặc điểm của cho vay tiêu dùng
1.2.1 Quy mô món vay nhỏ nhưng số lượng món vay lớn
Đối tượng của các khoản cho vay tiêu dùng là các cá nhân và hộ gia đình Nhu cầuvay của cá nhân và hộ gia đình chủ yếu phụ thuộc vào thu nhập của họ.Thông thườngnhững khoản cho vay tiêu dùng có quy mô nhỏ, đối với cho vay bất động sản quy mô cóthể lớn hơn nhưng vẫn không thể bằng cho vay kinh doanh hay các khoản cho vay khác
Đó là do giá trị của các hàng hóa tiêu dùng thường không quá lớn, hay khách hàng chỉvay để bổ sung thêm vào số tiền mà họ đang tích lũy nhưng còn thiếu, hoặc do những yêucầu về hạn chế rủi ro mà ngân hàng thường không cho vay với số tiền lớn đối với kháchhàng có mục đích tiêu dùng, nhất là đối với trường hợp vay không có tài sản đảm bảo.Tuy nhiên tổng số lượng các khoản cho vay tiêu dùng lại lớn bởi vì nhu cầu vay tiêu dùngngày càng tăng một cách thường xuyên, liên tục
Ngày nay, khi mà thu nhập của người dân ngày một nâng cao, trình độ dân trí càngtăng thì nhu cầu vay tiêu dùng của người dân càng tăng mạnh phục vụ nhu cầu sinh hoạt
và cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống, mức hưởng thụ
Đối với các ngân hàng thương mại thì quy trình xét duyệt cho vay tiêu dùng ít phứctạp hơn so với cho vay các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, nguyên nhân chủ yếu là docác khoản cho vay tiêu dùng có quy mô nhỏ hơn nhiều so với cho vay sản xuất kinhdoanh Do đó tại các ngân hàng thương mại thì quyền cho vay đối với khách hàng chovay tiêu dùng chủ yếu do nhân viên tín dụng khách hàng quyết định có sự phê duyệt của
Trang 10trưởng, phó phòng Trong khi đó, thì đối với các khoản vay sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp, quy mô món vay lớn hơn thì chỉ có ban giám đốc mới được quyền phêduyệt cho khoản vay.
1.2.2 Lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn so với cho vay khác
Các khoản cho vay tiêu dùng thường là những khoản tín dụng mang lại nhiều rủi ronhất đối với các ngân hàng Nguyên nhân đầu tiên là do lãi suất áp dụng cho vay tiêudùng là lãi suất cứng nhắc trong khi đó những khoản cho vay kinh doanh hiện nay thường
áp dụng lãi suất thả nổi theo thị trường Chính vì vậy một khi có sự tăng lên trong chi phíhuy động vốn của các ngân hàng thì các ngân hàng sẽ gặp rủi ro lãi suất trong cho vaytiêu dùng Ngoài ra nguồn trả nợ của các khoản cho vay tiêu dùng phụ thuộc chủ yếu vàothu nhập của người vay, nên nếu người vay gặp phải sự cố bất ngờ như là ốm đau, tai nạn,mất việc hoặc chết thì nhân viên ngân hàng sẽ rất khó thu hồi nợ Mặt khác, các cá nhânlại dễ dàng giữ kín các thông tin cần phải trình bày hơn so với các tổ chức kinh doanhkhác bởi vì các tổ chức này phải gửi kèm theo các đơn xin vay mọi giấy tờ chứng nhận tàichính đã được kiểm toán
Mặt khác, do quy mô của các món vay tiêu dùng nhỏ nhưng số lượng các khoản vaylại lớn, số lượng khách hàng đông nên ngân hàng phải mất nhiều thời gian và sử dụng mộtđội ngũ nhân viên khá đông cho công việc cho vay, từ khâu tiếp khách hàng, nhận hồ sơ,thẩm định khách hàng, giải ngân, theo dõi khách hàng cho đến việc thu hồi nợ Vì thế, chiphí của ngân hàng gồm cả chi phí về thời gian và nhân lực cho việc phục vụ cho vay tiêudùng là không nhỏ
Do chi phí để cho vay cao, và rủi ro của khoản cho vay lớn nên lãi suất áp dụngtrong cho vay tiêu dùng thường cao hơn lãi suất các khoản cho vay khác
1.2.3 Nhu cầu cho vay tiêu dùng của khách hàng phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế
Chu kỳ kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh
tế Khi nền kinh tế mở rộng thì thu nhập của người dân tăng lên, nhu cầu mua sắm cũngtăng Do sức cầu tăng nên các doanh nghiệp sẽ sản xuất và bán được nhiều sản phẩm dịch
vụ hơn Vì thế nên nhu cầu vay vốn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp cũng trở nên cần thiết hơn Ngược lại khi nền kinh tế thu hẹp thì mức cầutrong nền kinh tế giảm mạnh, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không tiêu thụ đượcsản phẩm hàng hóa,bị ứ đọng vốn nên tất yếu là không cần vay thêm của ngân hàng
Trang 11Không chỉ cho vay sản xuất kinh doanh phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế mà cho vay tiêudùng cũng phụ thuộc nhiều vào biến động của nền kinh tế Trong thời kỳ kinh tế mở rộngthì thu nhập của người dân được nâng cao, họ cảm thấy lạc quan về tương lai nên họmuốn nâng mức sống, mức hưởng thụ của mình lên Vì thế trong thời kỳ này các khoảncho vay tiêu dùng có xu hướng tăng lên Ngược lại trong thời kỳ nền kinh tế thu hẹp thìngười dân cảm thấy không tin tưởng vào một tương lai ổn định phát triển nên không dámmạo hiểm vay mượn từ ngân hàng.
1.2.4 Nhu cầu vay kém nhạy cảm với lãi suất
Khác với các khoản cho vay khác, trong khoản cho vay tiêu dùng thì dường như chỉquan tâm đến khoản tiền mà họ phải trả ra hàng tháng hơn là lãi suất được ghi trong hợpđồng Mặc dù chắc chắn rằng chính lãi suất ghi trong hợp đồng là nhân tố quyết đinh đếnmức tiền mà họ phải trả, và lãi suất này cố định trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng.Điều này có thể được giải thích là do thu nhập và trình độ dân trí của người dân là nhân tốquyết định hàng đầu đến việc vay mượn của họ Nguồn trả nợ chính của các khoản chovay tiêu dùng chính là thu nhập hàng tháng của cả gia đình người vay, nên thu nhập đóphải đảm bảo đủ khả năng chi trả cho ngân hàng số tiền phải trả hàng tháng ghi trong hợpđồng Những người có thu nhập cao thường có xu hướng vay nhiều hơn so với thu nhậphàng năm của họ Và những gia đình có chủ gia đình hay người tạo thu nhập chính chogia đình cũng giống như vậy Đối với họ, việc vay mượn chỉ là một công cụ để nâng caomức sống hơn là một lựa chọn chỉ được dùng trong trường hợp bất khả kháng
Ngân hàng chỉ có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để xác định lãi suất thực
tế đối với cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng Song phần lớn lãi suất được xác định dựatrên lãi suất cơ bản cộng với lợi nhuận cận biên và phần bù đắp rủi ro Có thể đưa ra côngthức tính tổng quát như sau:
Lãi suất cho vay tiêu dùng = chi phí huy động vốn + chi phí hoạt động khác + rủi rotổn thất dự kiến + phần bù kỳ hạn với các khoản cho vay dài hạn + lợi nhuận cận biên
1.2.5 Lợi nhuận thu được từ hoạt động cho vay tiêu dùng cao
Do các khoản cho vay tiêu dùng được định giá cao và khách hàng thường phải trả mứclãi suất cao để có thể vay được từ ngân hàng, nên tỷ lệ lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng trênmột đồng vốn cho vay thường khá cao Mặt khác số lượng các món vay lớn nên lợi nhuậnthu được từ hoạt động cho vay tiêu dùng là rất đáng kể trong tổng lợi nhuận từ hoạt động
Trang 12cho vay Chính nguồn lợi nhuận lớn đó đã thúc đẩy các ngân hàng đẩy mạnh phát triểnhoạt động cho vay tiêu dùng.
1.3 Hiệu quả cho vay tiêu dùng
1.3.1 Quan điểm về hiệu quả cho vay tiêu dùng
“ Hiệu quả là kết quả như yêu cầu của việc mang lại” Hiệu quả chính là mối quan hệgiữa chi phí bỏ ra và kết quả đạt được Hiệu quả có thể xem xét, đánh giá trên nhiều góc
độ khác nhau: góc độ kinh tế, góc độ xã hội và cả góc độ kinh tế - xã hội
“ Hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại được hiểu là việc đáp ứngnhu cầu vốn vay của khách hàng phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đấtnước, phù hợp với chiến lược phát triển của ngân hàng thương mại và mang lại hiệu quảtrong sử dụng vốn của khách hàng”
Do vậy, hiệu quả cho vay là sự thống nhất lợi ích giữa khách hàng, ngân hàng vànền kinh tế quốc dân Về phía khách hàng: là việc sử dụng vốn vay đúng mục đích Vềphía ngân hàng: là việc thu nợ đúng hạn, giảm thiểu tối đa rủi ro tín dụng , đạt được cáctiêu chuẩn đặt ra và phù hợp với mục tiêu phát triển của ngân hàng Về phía xã hội: làhoạt động cho vay phải gắn liền với mục tiêu phát triển của kinh tế xã hội
Hiệu quả cho vay là điều kiện tiên quyết đối với sự tồn tại và phát triển của ngânhàng vì hoạt động cho vay là hoạt động mang lại chủ yếu lợi nhuận cho ngân hàng, nhưnglại tiềm ẩn nhiều rủi ro đe dọa hoạt động kinh doanh của ngân hàng Do vậy, việc nângcao hiệu quả cho vay trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng là điều kiện sống còn củamỗi ngân hàng
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng
1.3.2.1 Tỷ lệ tăng trưởng doanh số cho vay (DSCV) (%)
(DSCV năm nay - DSCV năm trước)
Tỷ lệ tăng trưởng DSCV (%) = - x 100% DSCV năm trước
- Chỉ tiêu này dùng để so sánh sự tăng trưởng tín dụng qua các năm để đánh khả năng chovay, tìm kiếm khách hàng và đánh tình hình thực hiện kế hoạch tín dụng của ngân hàng(tương tự như chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ, nhưng bao gồm toàn bộ dư nợ cho vay trongnăm đến thời điểm hiện tại và dư nợ cho vay trong năm đã thu hồi)
- Chỉ tiêu càng cao thì mức độ hoạt động của Ngân hàng càng ổn định và có hiệu quả,
Trang 13ngược lại Ngân hàng đang gặp khó khăn, nhất là trong việc tìm kiếm khách hàng và thểhiện việc thực hiện kế hoạch tín dụng chưa hiệu quả.
1.3.2.2 Doanh số thu nợ :
Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản nợ mà NH đã thu về được khi đáohạn vào một thời điểm nhất định, không phân biệt thời điểm cho vay
Tổng lãi phải thu trong năm
- Chỉ tiêu này dùng để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tài chính của ngân hàng,đánh giá khả năng đôn đốc, thu hồi lãi và tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu củangân hàng từ việc cho vay
- Chỉ tiêu càng cao thì tình hình thực hiện kế hoạch tài chính cũng như tình hình tài chínhcủa Ngân hàng càng tốt, ngược lại Ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc thu lãi, ảnhhưởng nghiêm trọng đến doanh thu của ngân hàng, chỉ tiêu này cũng thể hiện tình hìnhbất ổn trong cho vay của ngân hàng, có thể nợ xấu (tín dụng đen) trong ngân hàng tăngcao nên ảnh hưởng đến khả năng thu hồi lãi của ngân hàng, và có thể ảnh hưởng đến khảnăng thu hồi nợ trong tương lai (Thông thường tỷ lệ này phải trên 95% mới là tốt)
1.3.2.4 Hệ số thu nợ ( % )
Trang 14Doanh số thu nợ
Hệ số thu nợ ( % ) = - x 100%
Doanh số cho vay
- Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả tín dụng trong việc thu nợ của Ngân hàng
- Nó phản ánh trong 1 thời kỳ nào đó, với doanh số cho vay nhất định thì ngân hàng sẽthu về được bao nhiêu đồng vốn
Để làm được điều đó thì ngân hàng cần phải thẩm định kỹ các điều kiện trước khi quyếtđịnh cho vay, khi đã cho vay phải giám sát và theo dõi khách hàng vay trong suốt thờigian sử dụng vốn vay nhằm đốc thúc khách hàng thanh toán đầy đủ, đúng hạn Ngoài rađối với những trường hợp nợ xấu khó đòi thì cần phải kịp thời kiểm điểm, rút kinhnghiệm
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả cho vay tiêu dùng
1.3.3.1 Các nhân tố thuộc về ngân hàng
Khi ngân hàng có kế hoạch phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng, thì ngân hàng
đó cần phải có những xem xét các điều kiện bên trong lẫn bên ngoài ngân hàng có ảnhhưởng trực tiếp lẫn gián tiếp đến việc triển khai kế hoạch đó Các điều kiện đó bao gồmcác nhân tố khách quan, chủ quan
Chính sách cho vay của ngân hàng
Chính sách cho vay của một ngân hàng có ảnh hưởng quyết định đến sự tồn tại vàphát triển cho vay tiêu dùng của ngân hàng đó Nếu cho vay tiêu dùng không nằm trongchính sách cho vay của ngân hàng hoặc chủ trương của ngân hàng không đẩy mạnh phát
Trang 15triển cho vay tiêu dùng thì các khách hàng khó có thể vay được những khoản tiền đáp ứngnhu cầu chi tiêu của mình Chỉ trừ những trường hợp ngân hàng thấy chắc chắn sẽ thu hồiđược nợ từ những khách hàng có uy tín Nghĩa là ở đây, chính sách cho vay này khôngkhuyến khích người dân vay vốn đáp ứng nhu cầu sinh hoạt nên họ sẽ gặp khó khăn trongquá trình vay vốn.
Ngược lại, khi ngân hàng xác định cho vay tiêu dùng là một hướng để phát triển kinhdoanh thì ngân hàng sẽ đề ra chính sách để đẩy mạnh hoạt động này Khi đó ngân hàng
sẽ có các hướng dẫn cụ thể đối với các cán bộ tín dụng của ngân hàng trong việc ra quyêtđịnh cho vay như hướng dẫn các thủ tục, các bước triển khai, các trách nhiệm đi kèm.Những trường hợp ngoại lệ đối với chính sách cho vay của ngân hàng cần phải được dẫngiả đầy đủ và lý do phải được giả thích rõ ràng
Khả năng về vốn của ngân hàng
Cho vay tiêu dùng nằm trong danh mục cho vay của ngân hàng và thường chiếm một tỷtrọng nhỏ trong tổng dư nợ Tuy nhiên, để phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng ngânhàng phải đảm bảo dành một lượng vốn đủ lớn để cung cấp cho các khoản cho vay tiêudùng khi số lượng và quy mô các khoản cho vay tiêu dùng tăng lên Mặt khác, ngân hàng
là loại hình kinh doanh mà tâm lý của khách hàng có ảnh hưởng rất lớn đến việc ra quyếtđịnh của họ Khách hàng sẽ an tâm hơn khi giao dịch với một ngân hàng có tiềm lực, có
uy tín, có vị thế lớn trên thị trường Do đó, với một ngân hàng có quy mô vốn lớn thì đó làmột lợi thế của ngân hàng trong cuộc cạnh tranh giành thị phần với các ngân hàng cùngthị trường
Trình độ nghiệp vụ của đội ngũ nhân viên ngân hàng
Do sản phẩm của các ngân hàng là những sản phẩm mang tính chất dịch vụ vì thếtrong lĩnh vực ngân hàng nhân tố con người đóng một vai trò hết sức quan trọng Trongquá trình cho vay thì việc tiếp xúc giữa khách hàng với nhân viên ngân hàng diễn ra rấtthường xuyên và liên tục, do đó vai trò của nhân viên tín dụng là hết sức quan trọng trongviệc tạo ấn tượng và quan hệ tốt với khách hàng Đây là cơ sở để ngân hàng phát triển và
mở rộng thị trường cho vay tiêu dùng của ngân hàng đặc biệt là trong điều kiện cạnh tranhhiện nay thì khách hàng sẽ chọn những ngân hàng nào có chất lượng phục vụ của nhânviên tốt hơn vì sự khác biệt giữa dịch vụ của các ngân hàng là không lớn Thế nên để cóthể phát triển cho vay tiêu dùng thì ngân hàng phải chú trọng đến việc xây dựng và phát
Trang 16triển nguồn nhân lực cả về trình độ, nhân cách, đạo đức, nghề nghiệp Một đội ngũ nhânviên yêu nghề, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm cao sẽ góp phần nângcao vị thế của ngân hàng và thúc đẩy hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng ngàycàng phát triển.
Công nghệ thông tin
Hiện nay, việc ứng dụng triển khai và phát triển các thành tựu của công nghệ thông tintrong lĩnh vực ngân hàng cũng đang diễn ra nhanh chóng và rộng khắp Các ngân hàngđang áp dụng nhiều công nghệ hiện đại trong việc quản lý và phát triển các sản phẩm mớicủa ngân hàng Ngày nay, nhân tố công nghệ là một trong các yếu tố quyết định đến sựthành bại của một ngân hàng trong cuộc chiến tranh giành giật thị trường với các ngânhàng khác Khi ngân hàng có một hệ thống công nghệ hiện đại thì các giao dịch với kháchhàng sẽ được thực hiện một cách nhanh chóng, thuận tiện hơn, ngân hàng sẽ tiết kiệmđược một phần chi phí nhân công, số lượng các sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp
sẽ được đa dạng và có nhiều tiện ích hơn Từ đó, khả năng tìm hiểu cũng như phục vụkhách hàng sẽ tốt hơn, ngân hàng sẽ tạo dựng được niềm tin và nâng cao uy tín đối vớikhách hàng, góp phần thu hút khách hàng đến với ngân hàng, tạo cơ sở vững chắc để pháttriển hoạt động cho vay tiêu dùng trong ngân hàng
1.3.3.2 Các nhân tố không thuộc về ngân hàng
Các quy định bắt buộc của ngân hàng Trung ương
Hoạt động của ngân hàng luôn đặt dưới sự kiểm tra giám sát của Ngân hàng Nhà nước
và chịu sự chi phối bởi các quy định cũng như các chính sách mà ngân hàng Nhà nướcban hành cho toàn bộ hệ thống ngân hàng Hiện nay tại các nước có nền kinh tế phát triểnhầu hết đã ban hành Luật tín dụng tiêu dùng có quy định cụ thể các vấn đề liên quan đếnhoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM như các quy định về TSĐB, hạn mức cho vay,các quy định về trích lập dự phòng nợ quá hạn…Để có thể phát triển được cho vay tiêudùng thì không chỉ cần có một cơ chế chính sách hoạt động thông thoáng, hợp lý đối vớicác ngân hàng mà các thủ tục trong cho vay tiêu dùng cũng được thực hiện theo hướngngày càng đơn giản hóa Có như vậy mới khuyến khích được các ngân hàng đẩy mạnhhoạt động cho vay tiêu dùng Tuy nhiên các chính sách cũng cần phải có sự chặt chẽ đểđảm bảo sự hoạt động an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng
Thị trường cho vay tiêu dùng
Trang 17Việc phát triển cho vay tiêu dùng phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu cũng như trình độ dântrí người dân Trong cơ chế thị trường thì nguyên tắc hàng đầu là có cầu thì mới có cung,
do đó chỉ khi cầu tăng thì cung mới có cơ hội phát triển được Thế nên một ngân hàng khi
có một kế hoạch phát triển cho vay tiêu dùng tại một thị trường nào đó thì phải có sựnghiên cứu chu đáo nhu cầu của thị trường để ngân hàng có chiến lược xâm nhập và khaithác thị trường một cách hợp lý Ngoài ra trình độ dân trí của người dân cũng có ảnhhưởng đến việc phát triển cho vay tiêu dùng Bởi vì cho vay tiêu dùng là một nghiệp vụ rađời khá muộn so với các nghiệp vụ ngân hàng truyền thống như là nhận tiền gửi, cho vay,hay chuyển tiền… Do đó, nếu trình độ dân trí cao thì việc tiếp nhận những cái mới sẽ dễdàng hơn Mặt khác, người dân có trình độ dân trí cao sẽ có nhu cầu hưởng thụ nhiều tiệnnghi cuộc sống hơn, đây là một trong những điều kiện tốt để phát triển cho vay tiêu dùng
Các đối thủ cạnh tranh cùng thị trường
Hiện nay với sự thành lập của nhiều ngân hàng mới cũng như sự tham gia của các tậpđoàn tài chính lớn từ nước ngoài thì sự cạnh tranh giữa các ngân hàng đang diễn ra ngàycàng gay gắt Do đó để có thể thành công thì ngân hàng cũng cần phải nghiên cứu các đốithủ cạnh tranh trực tiếp với mình trong cùng phân đoạn thị trường mục tiêu của ngân hàng
để có những vượt trội cần thiết so với đối thủ cạnh tranh Từ đó mới có thể thu hút thêmkhách hàng về với ngân hàng, tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển của hoạt động chovay tiêu dùng
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI PHÒNG GIAO DỊCH NGỌC LÂM CHI NHÁNH THĂNG LONG NGÂN HÀNG TMCP Á
CHÂU
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Phòng giao dịch Ngọc Lâm chi nhánh Thăng Long
2.1.1 Tổng quan về ngân hàng TMCP Á Châu
Trong xu thế toàn cầu hoá hội nhập kinh tế, cả nước nói chung và ngành ngân hàngnói riêng, và không chỉ có ngân hàng quốc doanh là không ngừng nâng cao chất lượnghoạt động cũng như hiện đại hoá công nghệ để đáp ứng tốt nhu cầu ngày càng cao của
Trang 18khách hàng mà hệ thống các ngân hàng thương mại cổ phần cũng ngày càng không ngừnglớn mạnh, đóng góp một phần không nhỏ vào việc nâng cao tiện ích để thoả mãn nhu cầucủa khách hàng Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) là một trong những ngânhàng TMCP lớn và đang phát triển mạnh mẽ của Việt Nam.
Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) được thành lập theo Giấy phép số0032/NH-GP do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 24/04/1993 và Giấy phép số533/GP-UB do Ủy ban Nhân dân Tp Hồ Chí Minh cấp ngày 13/05/1993 Ngày04/06/1993, ACB chính thức đi vào hoạt động
Các giai đoạn phát triển:
- Giai đoạn 1993 – 1995: Đây là giai đoạn hình thành ACB Những người sáng lậpACB có năng lực tài chính, học thức và kinh nghiệm thương trường, cùng chia sẻ mộtnguyên tắc kinh doanh là “quản lý sự nghiệp của doanh nghiệp an toàn và hiệu quả”.Giai đoạn này xuất phát từ vị thế cạnh tranh ACB hướng về các khách hàng cá nhân vàdoanh nghiệp nhỏ và vừa trong khu vực tư nhân,với quan điểm thận trọng trong việc cấptín dụng, và cung ứng sản phẩm dịch vụ mới mà thị trường chưa có
- Giai đoạn 1996 – 2000: ACB là ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của ViệtNam phát hành thẻ tín dụng quốc tế MasterCard và Visa với sự tài trợ của IFC (một công
ty con của Wold Bank) Tháng 6/2000, khi thị trường chứng khoán Việt Nam hình thành,Acb thành lập công ty TNHH Chứng khoán ACB (ACBS), bắt đầu chiến lược đa dạnghóa hoạt động
- Giai đoạn 2001 – 2005: Năm 2003, Acb xây dựng hệ thống quản lý chất lượngchuẩn ISO 9001:2000 trong các lĩnh vực huy động vốn, cho vay ngắn hạn và trung dàihạn, thanh toán quốc tế và cung ứng nguồn lực tại hội sở Năm 2004, công ty Quản lý nợ
và Khai thác tài sản Ngân hàng Á Châu (ACBA) được thành lập Năm 2005, ACB vàngân hàng Standard Charterd (SCB) ký kết thỏa thuận hỗ trợ kỹ thuật toàn diện, và SCBtrở thành cổ đông chiến lược của ACB
- Giai đoạn 2006 – 2010: ACB niêm yết tại trung tâm Giao dịch Chứng khoán HàNội vào tháng 10/2006 Trong năm 2007, Acb tiếp tục chiến lược đa dạng hóa hoạt động,thành lập công ty cho thuê tài chính ACB (ACBL), cũng như tăng cường hợp tác với công
ty Open Solutions (OSI), Microsof, Ngân hàng Standard Chartered
Trang 19- Năm 2011: Định hướng chiến lược phát triển của ACB giai đoạn 2011 – 2015
và tầm nhìn 2020” được ban hành vào đầu năm Trong đó nhấn mạnh đến chương trìnhchuyển đổi hệ thống quản trị điều hành phù hợp với các quy định pháp luật Việt Nam vàhướng đến các thông lệ quốc tế tốt nhất Trong năm, ACB đưa vào hoạt động thêm 45 chinhánh và phòng giao dich
- Năm 2012: sự cố tháng 8/2012 đã tác động đáng kể đến nhiều mặt hoạt độngcủa ACB, đặc biệt là huy động vốn và kinh doanh vàng Tuy nhiên ACB đã ứng phó tốt
sự cố, và nhanh chóng khôi phục toàn bộ số dư huy động tiết kiệm VND chỉ trong 2 thángsau đó ACB đã lành mạnh hóa cơ cấu bảng tổng kết tài sản thông qua việc xử lý các tồnđọng liên quan đến hoạt động kinh doanh vàng theo chủ trương của Ngân hàng Nhà nước
- Năm 2013: tuy kết quả hoạt động không như kỳ vọng nhưng ACB vẫn có mức
độ tăng trưởng khả quan về huy động và cho vay VND Nợ xấu được kiểm soát ở mức 3
% sau những biện pháp mạnh về thu hồi nợ, xử lý rủi ro tín dụng và bán nợ cho Công tyQuản lý Tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) ACB cũng kéo giảm hệ sốchi phí/thu nhập xuống còn khoảng 66%, giảm 7% so với năm 2012 Về nhân sự, quy môđược tinh giản, và việc thay thế và bổ xung cấp quản lý được thực hiện thường xuyên.Mạng lưới kênh phân phối cũng được sắp xếp lại thao quy định mới của Ngân hàng Nhànước Tình hình hoạt động ba năm từ 2011 đến 2013 cũng được đánh giá lại và chiếnlược ACB cũng được điều chỉnh cho giai đoạn 2014 – 2018
2.1.2 Khái quát chung về Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu - phòng giao dịch Ngọc Lâm chi nhánh Thăng Long
2.1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Ngày 23/11/2009, Ngân hàng Á Châu (ACB) đã tổ chức khánh thành trụ sở mớiphòng giao dịch (PGD) Ngọc Lâm tại địa chỉ: số 398 Nguyễn Văn Cừ, phường Bồ Đề,quận Long Biên, Thành phố Hà Nội Đây là địa điểm rất thuận lợi để mở rộng hoạt động
và thu hút được nhiều khách hàng trên địa bàn khu vực Hà Nội đặc biệt là các xí nghiệplớn
PGD Ngọc Lâm là một đơn vị hoạt động kinh doanh có đầy đủ tư cách pháp nhân,
có con dấu riêng và có cùng chức năng, nhiệm vụ như các PGD khác của chi nhánh ThăngLong NHTMCP Á Châu
Trang 20Sau 5 năm hoạt động, PGD Ngọc Lâm đã đứng vững và phát triển, lớn mạnh và đilên bằng chính lỗ lực bản thân, với sự hướng dẫn của chi nhánh ngân hàng đã vượt quađược “Bước khởi đầu nan” đảm bảo bù đắp chi phí và kinh doanh có lãi Tỷ lệ tăngtrưởng hàng năm luôn đặt ở mức cao Đến nay PGD Ngọc Lâm luôn mở rộng cả về chất
và lượng, và luôn là một trong những PGD thuộc chi nhánh Thăng Long hoạt động cóhiệu quả nhất, hàng năm đóng góp hàng tỷ đồng vào ngân sách nhà nước
2.1.2.2 Chức năng và cơ cấu tổ chức của PGD Ngọc Lâm
Chức năng
Trực tiếp kinh doanh trên địa bàn theo phân cấp của Chi nhánh Thăng Long Tương tựcác chi nhánh, phòng giao dịch khác trong hệ thống, PGD Ngọc Lâm hoạt động với cácchức năng: Nhận tiền gửi bằng VND, ngoại tệ, vàng Cho vay phục vụ sản xuất, kinhdoanh và tiêu dùng Dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, chuyển tiền nhanh Western UNION.Thu đổi ngoại tệ Các dịch vụ thẻ quốc tế và thẻ nội địa (ACB Card) Các dịch vụ ngânhàng khác.…
PGD Ngọc Lâm được kết nối trực tuyến với Hội sở và tất cả các đơn vị trong hệ thốngNgân hàng Á Châu, khách hàng của PGD Ngọc Lâm có thể gửi tiền và rút tiền ở mọi nơitrong toàn hệ thống Ngân hàng Á Châu, được cung cấp các dịch vụ qua ngân hàng điện tử(home banking, phone banking, internet banking, mobile banking)
Nhiệm vụ
Ngân hàng TMCP Á CHÂU chi nhánh Thăng Long – PGD Ngọc Lâm có nhiệm vụtuân theo những đường lối mà Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nói chung và chính sáchcủa chi nhánh Thăng Long nói riêng
Phòng giao dịch có nhiệm vụ như sau:
Huy động vốn, quản lý và sử dụng nguồn vốn có hiệu quả
Khai thác và nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán của mọi tổ chức cá nhânthuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước bằng VNĐ và ngoại tệ
Được phép vay các tổ chức tài chính tín dụng trong và ngoài nước khi được chinhánh cho phép
Cho vay ngắn hạn bằng VNĐ và ngoại tệ đối với các tổ chức, cá nhân, hộ gia đìnhthuộc mọi thành phần kinh tế
Trang 21 Kinh doanh ngoại hối: huy động vốn bằng ngoại tệ, mua ngoại tệ, thanh toán quốc
tế và các dịch vụ về ngoại hối theo chính sách quản lý ngoại hối của Chính phủ, Ngânhàng Nhà nước và Ngân Hàng Á Châu
* Cơ cấu tổ chức
- Sơ đồ cơ cấu tổ chức
Bao gồm: 1 giám đốc, 2 phó giám đốc, bộ phận quan hệ khách hàng doanh nghiệp,
bộ phận quan hệ khách hàng cá nhân, bộ phận kế toán, phòng Giao dịch - ngân quỹ
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của PGD Ngọc Lâm chi nhánh Thăng Long Ngân hàng TMCP
Á Châu:
Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận:
Mỗi phòng là một bộ phận của PGD Ngoài chức năng, nhiệm vụ được quy địnhriêng, các phòng ban đều có quyền và nghĩa vụ giống nhau trong phạm vi như sau:
- Chịu trách nhiệm trước Ban Giám đốc về những lĩnh vực được đảm nhiệm, có quyềntham gia, đóng góp ý kiến về những vấn đề liên quan đến phạm vi công tác
- Bố trí sắp xếp lao động phù hợp với trình độ và yêu cầu công việc
- Chỉ đạo và kiểm tra nhân viên thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ được giao, chịu tráchnhiệm về những sai sót trong phạm vi công tác
Trang 22- Xây dựng các chương trình làm việc và đề ra biện pháp thực hiện các chương trìnhđó.
- Các phòng có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với nhau, đam rboar hoạt động kinhdoanh của ngân hàng có hiệu quả
* Giám đốc PGD
- Là người có thẩm quyền quyết định cao nhất tại PGD, điều hành mọi hoạt độngkinh doanh của PGD, quản lý tài sản và nhân sự theo quy định của ACB và Ngân hàngNhà nước, Giám đốc PGD cũng chịu trách nhiệm quản lý các bộ phận thuộc phòng giaodịch
- Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát hoạt động của Phòng Giao dịch, tổchức thực hiện việc tiếp thị và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ của ACB cho khách hàng,quản lý và phát triển nhân viên trong đơn vị
* Phó Giám đốc:
- Là người tham gia tham mưu, tư vấn cho Giám đốc PGD trong việc xây dựng,triển khai, quản lý, và hoàn thiện chương trình khuyến mại, lãi suất, chính sách chăm sóckhách hàng phù hợp, cạnh tranh với các ngân hàng khác trên địa bàn hoạt động Chỉ đạotriển khai hoạt động tìm kiếm, khai thác, phát triển nguồn khách hàng mới, nâng cao chấtlượng phục vụ khách hàng tại Phòng giao dịch
- Tham gia và chịu trách nhiệm xử lý, thu hồi các khoản nợ xấu, nợ xử lý rủi ro, cáckhoản tín dụng có tranh chấp mà không thể hoà giải có liên quan đến Phòng giao dịch
- Tổ chức đào tạo, hướng dẫn nhân viên trong nghiệp vụ và chịu trách nhiệmquản lý, đào tạo nhân viên và phát triển đội ngũ kế cận của từng bộ phận quản lý
Các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Ban lãnh đạo chi nhánh, PGD
* Bộ phận kế toán:
Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến quy trình thanh toán tiền mặt, thanh toán
bù trừ, kế toán các khoản phải thu – chi trong ngày để xác định vốn huy động của PGD Kiểm tra, lập chứng từ thu, chi, báo cáo thuế của đơn vị, quản lý theo dõi số dư tạicác Ngân hàng khác Quản lý các loại vốn, tài sản của ngân hàng, tổng hợp lưu trữ hồ sơ,tài liệu về hạch toán kế toán, quyết toán cung cấp cho nội bộ ngân hàng và các cấp cóthẩm quyền theo quy đinh
* Bộ phận Giao dịch – Ngân quỹ:
Trang 23Thực hiện công tác giao dịch ngân quỹ của ngân hàng Kiểm tra thực thu, thựcchi theo chứng từ kế toán
- Cân đối thanh khoản, điều chỉnh vốn
- Kinh doanh vàng, bạc, đá quý, thu đổi ngoại tệ
- Chịu trách nhiệm bảo quản tiền, vàng, ấn chỉ quan trọng và toàn bộ hồ sơ thếchấp cầm cố của khách hàng vay
- Đào tạo, huấn luyện các giao dịch viên trong nghiệp vụ ngân quỹ và phục vụkhách hàng
- Đảm bảo quản lý và điều hành kho quỹ tuyệt đối an toàn, quản lý lưu trữ trongngày chứng từ có giá, hồ sơ bản chính, giấy tờ sở hữu của tài sản thế chấp…rồi chuyểnlên chi nhánh nhập kho sau khi hết giờ giao dịch mỗi ngày
Các giao dịch viên thực hiện nhận tiếp quỹ nghiệp vụ đầu ngày và kết quỹ cuốingày, thực hiện các giao dịch gửi rút tiền, chuyển tiền trên các tài khoản của khách hàng,thu đổi séc du lịch, séc nước ngoài phát hành, thu đổi ngoại tệ mặt, mua bán, chuyển đổingoại tệ chuyển khoản cho khách hàng Thực hiện giải ngân, thu nợ tiền vay vốn , lãi, tiềnmặt, vàng và chuyển khoản Thực hiện mở tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiếtkiệm, tiền gửi khác cho khách hàng Quản lý cung cấp thông tin giao dịch và thực hiệncông việc khác có liên quan đến tài khoản của khách hàng, quản lý, lưu trữ hồ sơ thôngtin khách hàng giao dịch tiền gửi, sử dụng dịch vụ thanh toán…
* Bộ phận quan hệ khách hàng doanh nghiệp
Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch công tác kinh doanh tín dụng của PGDtheo định kỳ hoặc theo sự chỉ đạo của Giám đốc PGD, trực tiếp cấp phát tín dụng cho cáckhách hàng là doanh nghiệp: cho vay, cầm cố, chiết khấu, bảo lãnh và các loại hình kinhdoanh dịch vụ ngân hàng khác
Tư vấn, cung cấp các sản phẩm dịch vụ ACB cho các doanh nghiệp…
* Bộ phận khách hàng cá nhân
Tổ chức và quản lý hoạt động bán hàng tại kênh phân phối, phát triển và khai tháccác khách hàng là cá nhân, cung cấp các sản phẩm sịch của ngân hàng cho khách hàng.Cho vay các tổ chức cá nhân dưới các hình thức cho vay ngắn, trung và dài hạn để phục
vụ sản xuất kinh doanh và tiêu dùng…
Trang 242.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của PGD Ngọc Lâm chi nhánh Thăng Long Ngân hàng TMCP Á Châu trong thời gian qua
2.1.3.1 Các hoạt động kinh doanh của PGD
Vay vốn của các ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng khác
* Nghiệp vụ cho vay
Cho vay các tổ chức cá nhân dưới các hình thức cho vay dưới hình thức ngắn, trung
và dài hạn để phục vụ sản xuất kinh doanh, tiêu dùng
Chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và cáchình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
* Cung cấp các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Cung ứng các phương tiện thanh toán, dịch vụ thanh toán trong và ngoài nước khiNgân hàng Nhà nước cho phép
Dịch vụ thu hộ và chi hộ, dịch vụ ngân quỹ, các dịch vụ thanh toán khác theo quyđịnh của chi nhánh và ngân hàng
2.1.3.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Phòng giao dịch Ngọc Lâm trong thời gian vừa qua
Trong những năm gần đây, bối cảnh nền kinh tế thế giới cũng như trong nước cónhiều biến động gây ra nhiều khó khăn thách thức cho toàn bộ hệ thống ngân hàng nóichung và cho ngân hàng TMCP Á Châu nói riêng Bám sát sự chỉ đạo của NHNN, Chínhphủ, ban lãnh đạo đã theo dõi sát sao diễn biến trên thị trường để kịp thời, quyết liệt chỉđạo toàn hệ thống ACB chủ động linh hoạt trong mọi mặt hoạt động kinh doanh và quảntrị hệ thống Nhờ vậy, Ngân hàng đã đạt được những thành tích đáng khích lệ trong hoạtđộng kinh doanh, điều này thể hiện ở sự tăng trưởng một loạt các chỉ tiêu như quy môtổng tài sản, vốn chủ sở hữu, vốn điều lệ, tổng nguồn vốn huy động, tổng dư nợ cho vay,lợi nhuận trước thuế Phòng giao dịch Ngọc Lâm tuy mới thành lập được 5 năm nhưngnhờ vào chiến lược quảng bá hinh ảnh cùng với phong cách phục vụ chăm sóc khách
Trang 25hàng tận tình chu đáo đã thu hút được sự quan tâm của người dân, doanh nghiệp trên địabàn Hà Nội và các địa phương lân cận, số lượng mở tài khoản tại PGD tăng lên đáng kể.
Bảng 2.1 Kết quả kinh doanh của phòng Giao dịch Ngọc Lâm trong 3 năm vừa qua:
Qua bảng trên ta thấy các chỉ tiêu thay đổi như sau:
Nguồn vốn năm 2012 tăng 4.998 triệu đồng so với năm 2011, tức 6,58%, năm 2013tăng 7.798 triệu đồng tức 9,63% so với năm 2012
Dư nợ năm 2012 tăng 75.788 triệu đồng so với năm 2011, tăng 25,82%, năm 2013tăng 111.745 triệu đồng tương ứng 30,26% so với năm 2012
Với định hướng của chi nhánh phát triển PGD đa năng, ngân hàng đã triển khai cácsản phẩm dịch vụ đa dạng đáp ứng nhu cầu của dân cư, các tổ chức kinh tế và tổ chức tíndụng bằng cả ngoại tệ và nội tệ, công tác phát triển khách hàng theo hướng công nghiệp
Trang 26húa, hiện đại húa, hỡnh thành khối doanh nghiệp và khối khỏch hàng cỏ nhõn để tận dụngmọi khả năng kinh doanh, khai thỏc lợi thế khỏch hàng trờn cơ sở hai bờn cựng cú lợi.
a Hoạt động huy động vốn
Nghiệp vụ huy động vốn của Ngõn hàng cú vai trũ hết sức quan trọng Vốn phảnỏnh quy mụ hoạt động và khả năng kinh doanh của doanh nghiệp đú Vỡ vậy, PGD NgọcLõm luụn chỳ trọng và coi cụng tỏc huy động vốn là một trong những cụng tỏc quan trọnghàng đầu nhằm phục vụ đầu tư phỏt triển Ngõn hàng đó đa dạng húa cỏc hỡnh thức huyđộng vốn, ỏp dụng chớnh sỏch linh hoạt, cạnh tranh, mặt khỏc đó ỏp dụng dịch vụ khỏchhàng trọn gúi, đồng thời nõng cao chất lượng ngõn hàng nhằm tạo ra cỏc giải phỏp huyđộng vốn hiệu quả
Ngân hàng phải luôn đảm bảo cho mình một nguồn vốn dồi dào
đáp ứng nhu cầu của khách hàng đến vay vốn và đáp ứng nhu cầu
vốn cho quá trình phát triển của đất nớc Bên cạnh đó, huy động vốn
phải dựa trên cơ sở xác định thị trờng đầu ra, lĩnh vực đầu t có
hiệu quả hay không, lãi suất ra sao
Bảng2.2 Nguồn vốn huy động theo kỳ hạn (triệu đồng)