BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA XUẤT KHẨU TỚI TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM Ngành Kinh tế quốc tế LÊ THỊ[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Ngành: Kinh t ế quốc tế
Hà N ội – 2023
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Ngành: Kinh t ế quốc tế
Mã s ố: 9310106
Nghiên c ứu sinh: Lê Thị Thanh Ngân
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS, TS Nguy ễn Thị Thu Hà
2 TS Nguy ễn Thị Hoàng Anh
Hà N ội – 2023
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong Luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào khác
Tác giả Luận án
Lê Thị Thanh Ngân
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn PGS, TS Nguyễn Thị Thu Hà và TS Nguyễn Thị Hoàng Anh đã luôn tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận án này
Bên cạnh đó, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Ngoại thương, Ban Giám đốc Cơ sở II Đại học Ngoại thương tại thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Sau đại học, Ban Chủ nhiệm Bộ môn Kinh doanh và Thương mại quốc
tế, Ban chủ nhiệm Bộ môn Quản trị kinh doanh & Tài chính - Kế toán cùng các thầy
cô, đồng nghiệp, bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giúp đỡ để tác giả có thể hoàn thành chương trình học tiến sĩ tại trường
Tác giả xin chân thành cảm ơn Tổng cục Thống kê đã cung cấp dữ liệu nghiên cứu cần thiết và các chuyên gia đã hỗ trợ tác giả nhiệt tình trong việc đưa ra những góp ý, nhận xét rất hữu ích và quý báu để hoàn thiện Luận án của mình
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình đã luôn động viên, khích lệ và là nguồn động lực giúp tác giả hoàn thành luận
án
Tác giả Luận án
Lê Thị Thanh Ngân
Trang 7MỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN i
L ỜI CẢM ƠN ii
M ỤC LỤC iii
DANH M ỤC THUẬT NGỮ VÀ VIẾT TẮT viii
DANH M ỤC BẢNG x
DANH M ỤC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ, HÌNH xii
M Ở ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 9
1.1 T ổng quan các nghiên cứu liên quan đến tăng trưởng doanh nghiệp sản xuất nhỏ và v ừa 9
1.2 T ổng quan các nghiên cứu liên quan đến tác động của xuất khẩu tới tăng trưởng c ủa doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa 14
1.2.1 Các nghiên cứu về tác động của hoạt động xuất khẩu tới tăng trưởng doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa 14
1.2.2 Các nghiên cứu về tác động của trạng thái xuất khẩu đến tăng trưởng doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa 26
1.3 Kho ảng trống cho nghiên cứu 28
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƯỞNG DOANH NGHIỆP VÀ TÁC ĐỘNG CỦA XUẤT KHẨU TỚI TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XU ẤT NHỎ VÀ VỪA 31
2.1 T ổng quan về Doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa 31
2.1.1 T ổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa 31
2.1.2 T ổng quan về doanh nghiệp sản xuất 37
2.1.3 Đặc điểm của doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa………39
2.2 Cơ sở lý luận về tăng trưởng doanh nghiệp 41
2.2.1 Khái niệm tăng trưởng và tăng trưởng doanh nghiệp 41
Trang 82.2.2 Đo lường tăng trưởng doanh nghiệp 44
2.3 Cơ sở lý luận về xuất khẩu 49
2.3.1 Khái ni ệm xuất khẩu 49
2.3.2 Các hình thức xuất khẩu 50
2.3.3 Các lợi ích và bất lợi của hoạt động xuất khẩu đối với doanh nghiệp 52
2.4 Cơ sở lý thuyết về tác động của xuất khẩu tới tăng trưởng của doanh nghiệp 57
2.4.1 Các lý thuyết nền 57
2.4.2 Tác động của xuất khẩu tới tăng trưởng doanh nghiệp 60
2.5 Mô hình nghiên c ứu 64
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 65
3.1 Thi ết kế nghiên cứu 65
3.2 Các gi ả thuyết nghiên cứu 67
3.2.1 Gi ả thuyết nghiên cứu liên quan tới tác động của hoạt động xuất khẩu tới tăng trưởng của các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa 67
3.2.2 Gi ả thuyết nghiên cứu liên quan tới ảnh hưởng của trạng thái xuất khẩu tới hoạt động của doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa 68
3.3 Mô hình h ồi quy và đo lường biến trong mô hình 68
3.3.1 Mô hình h ồi quy 69
3.3.2 Đo lường biến trong mô hình 73
3.4 Thu th ập và xử lý dữ liệu 79
3.4.1 Thu th ập dữ liệu 79
3.4.2 X ử lý dữ liệu 80
3.5 Phương pháp hồi quy 82
3.5.1 Phương pháp ước lượng mô hình dữ liệu bảng tĩnh 82 3.5.1 Phương pháp ước lượng mô hình dữ liệu bảng động 82 3
Trang 9CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA XUẤT KHẨU TỚI TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT NHỎ VÀ VỪA TẠI
VI ỆT NAM 87
4.1 Th ực trạng tham gia xuất khẩu của các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại Việt Nam 87
4.2 Th ực trạng tăng trưởng của các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại Việt Nam
92
4.2.1 Tổng quan tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại Việt Nam 92
4.2.2 Th ực trạng tăng trưởng của các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa theo ngành 93 4.2.3 Th ực trạng tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa theo vùng kinh t ế 96
4.2.4 Th ực trạng tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa theo loại hình doanh nghi ệp 98
4.2.5 Đánh giá về tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại Việt Nam 100
4.3 Th ống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu 101
4.4 K ết quả phân tích tương quan và hồi quy 103
4.4.1 Ma tr ận tương quan 103
4.4.2 K ết quả hồi quy mô hình đo lường tác động của xuất khẩu tới tăng trưởng doanh nghi ệp sản xuất nhỏ và vừa 107
4.4.3 K ết quả hồi quy mô hình đo lường tác động của trạng thái xuất khẩu tới tăng trưởng doanh nghi ệp sản xuất nhỏ và vừa 113
4.5 T ổng hợp kết quả nghiên cứu tác động xuất khẩu tới tăng trưởng của các doanh nghiệp s ản xuất nhỏ và vừa tại Việt Nam 120
4.5.1 Tác động của hoạt động xuất khẩu tới tăng trưởng của các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa 121
4.5.2 Tác động của trạng thái xuất khẩu tới tăng trưởng doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại Việt Nam 122
Trang 104.5.3 Tác động của các biến kiểm soát tới tăng trưởng doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa
123
CHƯƠNG 5 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ 128
5.1 B ối cảnh quốc tế và trong nước 128
5.1.1 Bối cảnh quốc tế 128
5.1.2 Bối cảnh trong nước 130
5.2 Định hướng đẩy mạnh xuất khẩu đối với doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa trong quá trình phát tri ển và hội nhập kinh tế quốc tế 132
5.3 Các khuy ến nghị đối với doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu để thúc đẩy tăng trưởng doanh nghiệp 133
5.3.1 Các khuy ến nghị liên quan đến việc chuẩn bị nguồn lực sẵn sàng cho việc xuất kh ẩu 134
5.3.2 Các khuy ến nghị liên quan đến việc duy trì ổn định hoạt động xuất khẩu 136
5.4 M ột số khuyến nghị với cơ quan quản lý Nhà nước liên quan tới đẩy mạnh xuất kh ẩu nhằm thúc đẩy tăng trưởng doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa 140
5.4.1 H ỗ trợ doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá tr ị 141
5.4.1 H ỗ trợ doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa xúc tiến xuất khẩu, mở rộng thị trường 141
5.4.2 H ỗ trợ doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tăng cường xuất khẩu trực tuyến trên n ền tảng thương mại điện tử 142
5.4.4 H ỗ trợ nâng cao kiến thức về thương mại quốc tế cho doanh nghiệp sản xuất nhỏ và v ừa 143
5.4.5 H ỗ trợ doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tiếp cận tài chính phục vụ xuất khẩu
144
DANH M ỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 149
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 150
PH Ụ LỤC 1: XÂY DỰNG MÔ HÌNH KIỂM ĐỊNH QUY LUẬT GIBRAT 166
Trang 11PH Ụ LỤC 2: KẾT QUẢ HỒI QUY MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG TĂNG TRƯỞNG
THU 167
PH Ụ LỤC 3: KẾT QUẢ HỒI QUY MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG TĂNG TRƯỞNG
171
PH Ụ LỤC 4: KẾT QUẢ HỒI QUY MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG TĂNG TRƯỞNG
S ẢN 175
Trang 12DANH MỤC THUẬT NGỮ VÀ VIẾT TẮT
Ch ữ viết tắt Tên đầy đủ bằng tiếng Anh Tên đầy đủ bằng tiếng Việt
Components, Leather Goods Manufacturers' Association
Hiệp hội Da giày Bồ Đào Nha
Moments
Phương pháp mô men mở rộng
Corporation
Tập đoàn tài chính quốc tế
Organization
Tổ chức Lao động Quốc tế
Corporation
Tập đoàn tài chính quốc tế
Co-operation and Development
Trang 13Ch ữ viết tắt Tên đầy đủ bằng tiếng Anh Tên đầy đủ bằng tiếng Việt
Commerce and Industry
Phòng Thương Mại và Công Nghiệp
Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
Trang 14Bảng 2.4 Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định số
Bảng 2.5 Phân loại DNNVV theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP theo tiêu
Bảng 2.7 Tóm tắt một số bài nghiên cứu sử dụng các chỉ số đo lường tăng
Bảng 3.2 Thống kê số lượng quan sát theo ngành, từ năm 2016 - 2019 81 Bảng 4.1 Tỷ lệ doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tham gia xuất khẩu tại
Bảng 4.2 Tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa… 92 Bảng 4.3 Tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa theo tiểu
Bảng 4.4 Tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa theo theo
Bảng 4.6 Ma trận tương quan Mô hình đo lường tác động của hoạt động
xuất khẩu tới tăng trưởng doanh nghiệp 105 Bảng 4.7 Ma trận tương quan Mô hình đo lường tác động của trạng thái
Trang 15Bảng 4.8 Hệ số phóng đại phương sai VIF của biến độc lập mô hình đo
lường tác động của xuất khẩu tới tăng trưởng doanh nghiệp……… 107 Bảng 4.9 Kết quả kiểm định Breusch – Pagan đo lường tác động của xuất
Bảng 4.10 Kết quả hồi quy mô hình đo lường tác động của hoạt động xuất
Bảng 4.11 Hệ số phóng đại phương sai VIF của biến độc lập mô hình đo
lường tác động của trạng thái xuất khẩu tới tăng trưởng doanh nghiệp…… 114 Bảng 4.12 Kết quả kiểm định Breusch – Pagan mô hình đo lường tác động
của trạng thái xuất khẩu tới tăng trưởng doanh nghiệp……… 115 Bảng 4.13 Kết quả hồi quy mô hình đo lường tác động của trạng thái xuất
Trang 16DANH MỤC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ, HÌNH
Đồ thị 2.1 Đóng góp của khu vực Doanh nghiệp nhỏ và vừa vào GDP…… 36 Hình 2.1 Mô hình đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp 42
Đồ thị 4.1 Tỷ lệ doanh doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực sản xuất
Đồ thị 4.2 Tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa theo vùng
Đồ thị 5.1 Đánh giá tăng trưởng toàn cầu năm 2021 và 2022 của các tổ
Trang 17MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Luận án
Các DNNVV đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia trên toàn thế giới, kể cả các quốc gia có trình độ phát triển cao Việc phát triển các DNNVV cho phép khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm chênh lệch giàu nghèo, hỗ trợ
sự phát triển của các DN lớn, duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống Do vậy, sự phát triển của DNNVV được xem là cách thức để đẩy nhanh việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế xã hội (Cook và Nixson, 2000) Theo báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), DNNVV chiếm tới 70% việc làm trên toàn thế giới Không chỉ tạo ra việc làm, DNNVV còn là động cơ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Ở hầu hết các nước OECD, các DNNVV đóng góp hơn 50% GDP và thậm chí tại một số quốc gia, con số này lên tới 70% Trong khi đó, DNNVV tại các nước có thu nhập trên trung bình cũng đóng góp khoảng 45% GDP cả nước (ILO, 2019)
Tuy vậy, với sự hạn chế về quy mô, nguồn nhân lực, nguồn vốn, công nghệ… loại hình DN này phải đối mặt với nhiều thách thức để tồn tại và phát triển Tăng trưởng luôn là mục tiêu hàng đầu của các DNNVV nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững bởi nếu không tăng trưởng, khả năng tồn tại của DNNVV bị giảm đi đáng kể (Freeman và cộng sự, 1983) Trong quá trình kinh doanh, nhiều DNNVV đã tìm đến XK và coi đây là một trong những giải pháp giúp họ giải quyết bài toán tăng trưởng XK là phương thức thâm nhập thị trường nước ngoài phổ biến nhất mà các DNNVV đang sử dụng hiện nay Đây là phương thức thâm nhập thị trường nước ngoài có mức độ đầu tư ít, rủi ro thấp, tính linh hoạt cao Ngoài ra, XK còn giúp DN đạt được lợi thế kinh tế theo quy mô bởi bằng cách XK, DN có thể tăng số lượng hàng bán ra, phân bổ chi phí cố định trên một lượng lớn sản phẩm, làm giảm giá thành sản phẩm (Besanko và cộng sự, 2009; Love và Ganotakis, 2013) Bên cạnh đó, XK còn
là nguồn gốc giúp tăng suất của DN thông qua hiệu ứng học tập DN XK có thể học hỏi được nhiều kinh nghiệm từ đối tác của mình, từ đó tiến hành các cải tiến đối với sản phẩm và cải thiện năng lực sản xuất Mặc dù vậy, hoạt động XK của DNNVV cũng gặp một số rào cản nhất định Các chi phí đầu tư ban đầu bao gồm nghiên cứu
Trang 18thị trường, tìm kiếm đối tác, chi phí logistics, vận chuyển cao có thể làm cho việc
XK trở nên không kinh tế DN cũng có thể phải đối mặt với nhiều rủi ro do phải gánh chịu các rào cản thương mại mà phía nước đối tác tạo dựng nên hay sự phụ thuộc vào các đại lý tại nước ngoài
Trong thương mại quốc tế, các DNNVV ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng khi chiếm tới 25–35% kim ngạch hàng hóa XK của thế giới (Francioni và
cộng sự, 2016) Với sự phổ biến của hoạt động XK, các nghiên cứu về tác động của
XK tới tăng trưởng của DNNVV đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên toàn thế giới Nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của XK tới tới tăng trưởng DN, các nhà khoa học đã nghiên cứu mối quan hệ này trong bối cảnh
ở nhiều quốc gia khác nhau Trong đó, có thể kể đến các nghiên cứu tại tại Anh của
Robson và Bennett (2000), tại Ý của Castellani (2002) và Di Cintio và cộng sự (2017),
tại Đức của Wagner (2002), tại Canada của Baldwin và Gu (2003), tại Tây Ban Nha của Golovko và Valentini (2011) và của Farinas và Martín-Marcos (2007), tại Đài Loan của Liu và cộng sự (1999), tại Nhật của Lu và Beamish (2006), tại Trung quốc của Kraay (2002) hay Yang và Tsou (2020), tại châu Phi của Esaku (2021) Mặc dù vậy, các nghiên cứu này lại không đạt sự đồng thuận, thậm chí nhiều nghiên cứu có kết quả trái ngược ngay trong cùng một quốc gia Vẫn còn nhiều tranh luận về những tác động của XK tới tăng trưởng DN (Wagner, 2012) Một số nghiên cứu đã xác nhận tác động tích cực của XK tới tăng trưởng như nghiên cứu của Kraay (2002), Blalock
và Gertler (2004), Lu và Beamish (2006) Các nghiên cứu này cho rằng XK giúp DN đạt được lợi thế kinh tế theo quy mô Bằng cách XK, DN có thể tăng số lượng hàng bán ra, phân bổ chi phí cố định trên một lượng lớn sản phẩm, làm giảm giá thành sản phẩm Ngoài ra, DN XK có cơ hội học hỏi từ hoạt động XK và từ đó tạo ra các đổi mới, cải tiến trong DN, thúc đẩy DN tăng trưởng Trong khi đó, nhiều nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng về tác động của XK tới tăng trưởng DN (Liu và cộng sự, 1999; Aw và cộng sự, 2000; Hahn, 2005) hoặc cho rằng lợi ích XK đem lại cho DN phụ thuộc vào nhiều yếu tố như ngành (Ngo và Tran, 2020), loại hình DN (Park, 2011) hay mức độ quốc tế hóa của DN (Kafouros và cộng sự, 2008) Nghiên cứu của Di Cintio và cộng sự (2017) đối với các DNSXNVV tại Ý cũng đi đến kết luận rằng việc
XK không thúc đẩy tăng trưởng DN Các DN XK ra nước ngoài phải đối mặt với các
Trang 19áp lực cạnh tranh gay gắt, bởi vậy, không có gì đảm bảo rằng họ sẽ thành công và mở rộng được quy mô DN Aw và cộng sự (2000) cho rằng các DN Hàn Quốc vốn đã đạt đến trình độ phát triển khá cao vào giai đoạn nghiên cứu nên tác động học hỏi từ hoạt động XK không còn lớn
Tại Việt Nam, các DNNVV chiếm 97% số lượng DN, đóng góp khoảng 40% GDP, tạo ra 33% giá trị sản lượng công nghiệp, chiếm tỷ trọng 30% trong kim ngạch
XK (Tổng cục Thống kê, 2021) Tỷ trọng thu hút lao động của DNNVV tại Việt Nam
là 48,2% (OECD, 2021) DNNVV tạo ra trung bình khoảng 280.000 việc làm mới hàng năm trong thập kỷ qua Tuy nhiên, theo báo cáo của Ngân hàng Phát triển Châu
Á (ADB), số lượng các DNNVV tại Việt Nam tham gia vào thương mại quốc tế nói chung và XK nói riêng còn rất hạn chế (ADB, 2020) Xuất phát từ thực tiễn đó, nghiên cứu về tác động của XK tới tăng trưởng của các DNNVV cũng thu hút sự quan tâm của một số nhà nghiên cứu như các nghiên cứu của Vũ Hương và cộng sự (2014), Phạm Đình Long và Nguyễn Chí Tâm (2018), Nguyễn Thu Hằng và cộng sự (2018), Phạm Thị Huyền Trang và Vũ Hoàng Nam (2020)… Mặc dù đạt được một số kết quả nhất định các nghiên cứu này chủ yếu sử dụng bộ dữ liệu DNNVV với số lượng ít các
DN XK, hoặc chỉ sử dụng XK như một biến kiểm soát, hoặc chỉ khai thác XK dưới góc độ DN có XK hay không mà chưa chú ý đến các trạng thái XK khác nhau của
DN Thêm vào đó, các nghiên cứu này chỉ đo lường tăng trưởng DN trên các khía cạnh riêng lẻ như doanh thu, lợi nhuận… chứ không kết hợp nghiên cứu ở nhiều góc
độ khác nhau
Công nghiệp hóa là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đây là một nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của nước ta, trong đó xây dựng và phát triển ngành công nghiệp chế biến - chế tạo luôn được ưu tiên hàng đầu Theo báo cáo của Tổng cục thống kê (2021), ngành công nghiệp chế biến - chế tạo đóng vai trò đặc biệt quan trọng, là động lực dẫn dắt nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Việc Việt Nam có thực sự trở thành một quốc gia công nghiệp hóa hay không phụ thuộc rất nhiều vào sự lớn mạnh của các DN của ngành công nghiệp chế biến - chế tạo (doanh nghiệp sản xuất) Mặc dù vậy, theo đánh giá của Tổng cục thống kê (2021), mặc dù đạt được những thành tựu nhất định, ngành công nghiệp chế biến - chế tạo vẫn còn phụ thuộc nhiều vào nước ngoài chưa chiếm
Trang 20lĩnh được những vị trí vững chắc trong chuỗi gia công toàn cầu và còn thiếu nền tảng
để phát triển một cách độc lập Để duy trì sự tăng trưởng ổn định, bền vững của các
DN ngành công nghiệp chế biến - chế tạo, việc nghiên cứu các nhân tố tác tác động tới tăng trưởng của khối DN này, trong đó có nhân tố XK, là cần thiết
Trong bối cảnh đó, nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của
XK tới tăng trưởng DNSXNVV theo các khía cạnh đa dạng, tác giả đã chọn đề tài
“Nghiên cứu tác động của xuất khẩu tới tăng trưởng của các doanh nghiệp sản
xu ất nhỏ và vừa tại Việt Nam” làm chủ đề nghiên cứu của Luận án
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung của Luận án là nghiên cứu tác động của XK tới tăng trưởng của các DNSXNVV, từ đó đề xuất các giải pháp đẩy mạnh hoạt động XK nhằm nâng cao
tốc độ tăng trưởng của các DNSXNVV tại Việt Nam trong thời gian tới
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện được những mục tiêu nghiên cứu trên, các nhiệm vụ cụ thể của
Luận án bao gồm:
Thứ nhất, Luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về XK, tăng trưởng DN, và tác
động của XK tới tăng trưởng DNSXNVV
Thứ hai, Luận án phân tích, đánh giá thực trạng tốc độ tăng trưởng của các
DNSXNVV tại Việt Nam
Thứ ba, trên cơ sở thu thập dữ liệu, xây dựng mô hình nghiên cứu, Luận án thực
hiện tìm hiểu và phân tích những tác động của XK lên tăng trưởng của các
DNSXNVV thông qua các khía cạnh: việc tham gia XK và trạng thái XK
Thứ tư, dựa trên kết quả phân tích, Luận án đề xuất một số giải pháp và khuyến
nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động XK, từ đó nâng cao tốc độ tăng trưởng của các DNSXNVV tại Việt Nam
Câu hỏi nghiên cứu:
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đặt ra, nghiên cứu xác định các câu hỏi chính bao gồm:
(1) Tăng trưởng của DNSXNVV đo lường bằng cách nào?
Trang 21(2) Thực trạng tăng trưởng của các DNSXNVV tại Việt Nam trong thời gian qua như thế nào?
(3) Xuất khẩu, với hai nhân tố có tham gia XK hay không và trạng thái XK có tác động như thế nào tới tăng trưởng của các DNSXNVV tại Việt Nam?
(4) Các khuyến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động XK góp phần thúc đẩy tăng trưởng của các DNSXNVV là gì?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án:
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là tác động của XK tới tăng trưởng của DNSXNVV
Phạm vi nghiên cứu của Luận án:
Phạm vi nội dung: Trong nghiên cứu này, Luận án tiếp cận vấn đề tăng trưởng
DN dựa trên khía cạnh tốc độ tăng trưởng của DN Để đo lường tốc độ tăng trưởng của DN, luận án sử dụng kết hợp cả ba thước đo tốc độ tăng trưởng của DN là tốc độ tăng trưởng doanh thu, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản và tốc độ tăng trưởng lao động Đây là ba thước đo được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về tăng trưởng DN trên thế giới và tại Việt Nam Nhằm phân tích ảnh hưởng của XK tới tăng trưởng DN, Luận án khai thác các vấn đề về XK trên khía cạnh DN có tham gia XK hay không
và trạng thái XK của DN Trong đó, trạng thái XK bao gồm: bắt đầu XK, XK ổn định
và ngừng XK
Phạm vi không gian
Phạm vi không gian của Luận án là các DNSXNVV tại Việt Nam vì những đặc thù trong hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư khác với các DN thông thường Đây là các DNNVV hoạt động trong ngành công nghiêp chế biến, chế tạo – một ngành đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành công của Việt Nam trong quá trình trở thành một nước công nghiệp phát triển hiện đại
Phạm vi thời gian
Phạm vi thời gian của Luận án là giai đoạn 2014-2019 Luận án không sử dụng giai đoạn sau 2019 là giai đoạn thị trường có nhiều bất ổn do ảnh hưởng bởi đại dịch Covid 19, dữ liệu biến động lớn và thiếu hụt một số chỉ tiêu quan trọng
Trang 224 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu:
Nguồn dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu Luận án chủ yếu là nguồn dữ liệu thứ cấp, được sử dụng để:
(i)Tổng quan các công trình nghiên cứu và hệ thống hóa lý luận về các vấn đề liên quan của luận án Tác giả sử dụng dữ liệu từ các nguồn sách, báo, tạp chí, luận
án và hội thảo chuyên ngành trong nước, được tác giả thu thập từ thư viện Quốc gia
Hà Nội, thư viện điện tử các trường đại học lớn trong nước như: Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh, Đại học Ngoại Thương Nguồn dữ liệu thứ cấp về các công trình nghiên cứu ở nước ngoài được tác giả tiếp cận với ngôn ngữ tiếng Anh dựa trên nguồn sách của nước ngoài, các bài viết có liên quan đến đề tài nghiên cứu thông qua các tạp chí như Science Direct, Proquest, Emerald…và các trang Internet có uy tín cao
(ii) Phân tích thực trạng tăng trưởng của các DNSXNVV tại Việt Nam và đánh giá tác động của XK đến tăng trưởng của DNSXNVV tại Việt Nam Số liệu thứ cấp được tác giả thu thập từ các kết quả điều tra DN hàng năm của Tổng cục Thống kê, trong đó mẫu nghiên cứu là DN hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến - chế tạo (DNSX) từ năm 2014-2019 Các dữ liệu được kiểm tra tính lặp và loại bỏ các quan sát bị trùng và các quan sát có giá trị bất thường (outliers) Dữ liệu được thao tác và
xử lý trên phần mềm Stata 16.0 Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng các số liệu thứ cấp thu thập được từ các báo cáo của Bộ Công Thương, VCCI, UNIDO, ILO…Đây là nguồn tài liệu rất phong phú và có giá trị đối với tác giả trong quá trình nghiên cứu của mình
Phương pháp xử lý dữ liệu:
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, Luận án sử dụng phương pháp định lượng
Để đánh giá tác động của XK tới tăng trưởng DNSXNVV, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu gộp (Pooled Ordinary Least Square - OLS) và phương pháp ước lượng GMM hệ thống hai bước Các mô hình đều kiểm soát hiệu ứng cố định ngành và năm, kết hợp với ước lượng sai số chuẩn mạnh (robust standard errors) trong trường hợp mô hình nghiên cứu xuất hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi Ngoài ra, nhằm mô tả thực trạng tốc độ tăng trưởng của DN, tác giả sử dụng
Trang 23phương pháp thống kê mô tả trên các khía cạnh là tốc độ tăng trưởng doanh thu, tốc
độ tăng trưởng lao động và tốc độ tăng trưởng tổng tài sản
5 Những đóng góp mới của Luận án
Những đóng góp về mặt lý luận
Thứ nhất, Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về XK, tăng trưởng
DN và ảnh hưởng của XK tới tăng trưởng DN từ các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam Luận án đã tổng hợp các phương pháp đo lường tăng trưởng của DN Theo đó các nghiên cứu về tăng trưởng DN được thực hiện theo hai hướng chính Một là, nghiên cứu về sự phụ thuộc của tốc độ tăng trưởng vào quy mô DN và số năm hoạt động của DN Hai là, nghiên cứu về sự phụ thuộc của tốc độ tăng trưởng vào các đặc thù của chính DN và của chủ DN Từ đó, Luận án lựa chọn hướng nghiên cứu về tăng trưởng DNSXNVV theo hướng thứ hai và tập trung chủ yếu vào đặc thù về hoạt động
XK của DN với dữ liệu rất lớn được thu thập từ Điều tra DN hàng năm của Tổng cục thống kê để đảm bảo tính khách quan và tin cậy của kết quả nghiên cứu
Thứ hai, nhằm đo lường tăng trưởng DNSXNVV, Luận án sử dụng tổng hợp cả
ba thước đo là tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng lao động và tăng trưởng tổng tài sản Cụ thể, tăng trưởng DN được xác định bằng tốc độ tăng trưởng giữa hai năm liên tiếp Việc sử dụng cả ba thước đo tăng trưởng DN sẽ giúp việc nghiên cứu về tăng trưởng DN trở nên sâu sắc hơn, do doanh thu, lao động và tổng tài sản đều là các chỉ tiêu rất quan trọng trong kết quả hoạt động của DN Kết quả nghiên cứu, vì vậy, cũng trở nên đáng tin cậy hơn
Thứ ba, Luận án khai thác về XK trên các khía cạnh là DN có tham gia XK hay
không và trạng thái XK của DN trong khi các công trình nghiên cứu trước đó tại Việt Nam chỉ coi XK như một biến kiểm soát bên cạnh các yếu tố ảnh hưởng tới tăng trưởng của DN Luận án tập trung phân tích tác động cụ thể của các lựa chọn khác nhau liên quan đến quá trình chuyển đổi vào và ra của quá trình XK bao gồm bắt đầu khẩu XK, duy trì ổn định hoạt động XK và ngừng XK đối với tốc độ tăng trưởng của
DN Ngoài ra, Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu tại các DNSXNVV bởi đặc trưng riêng của khối DN này và tầm quan trọng của chúng đối với nền kinh tế của bất cứ quốc gia nào
Trang 24Những đóng góp về mặt thực tiễn:
Thứ nhất, Luận án đã mô tả thực trạng tăng trưởng và XK của các DNSXNVV
tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu đặt ra một số vấn đề đáng quan tâm về tốc độ tăng trưởng của các DN này, đồng thời nhận được thức tầm quan trọng của việc thúc đẩy
tăng trưởng DN, và XK được xem là một giải pháp cho vấn đề nói trên
Thứ hai, Luận án cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của XK tới
tăng trưởng của DNSXNVV tại Việt Nam trên hai khía cạnh là DN có XK hay không
và trạng thái XK của DN Kết quả nghiên cứu của Luận án cho thấy XK tác động tích cực tới tăng trưởng DN Cụ thể, việc bắt đầu XK và duy trì ổn định ổn định hoạt động
XK có tác động tích cực tới tăng trưởng DN Ngừng XK làm giảm tốc độ tăng trưởng của DN Mặt khác, việc DN duy trì ổn định hoạt động XK có tác động tích cực tới tăng trưởng DN lớn hơn so với việc chỉ bắt đầu XK Kết quả nghiên cứu là cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh và duy trì ổn định hoạt động XK, qua đó thúc đẩy tăng trưởng DN
6 Kết cấu của Luận án
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận án bao gồm năm chương:
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận về tăng trưởng doanh nghiệp và tác động của xuất khẩu tới tăng trưởng của các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu về tác động của xuất khẩu tới tăng trưởng của các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại Việt Nam
Chương 5: Đề xuất giải pháp và kiến nghị
Trang 25CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan tới tăng trưởng doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa
Tăng trưởng DN là một yếu tố quan trọng của một nền kinh tế thịnh vượng Tăng trưởng cũng là yếu tố sống còn đối với các DNNVV nói chung và DNSXNVV nói riêng bởi nếu không tăng trưởng, các DNSXNVV phải đối mặt với khả năng tồn tại thấp hơn đáng kể (Freeman và cộng sự, 1983) Chính vì vậy, tăng trưởng của các DNNVV luôn là một chủ đề nghiên cứu được nhiều học giả trên toàn thế giới quan tâm Nhìn chung, các nghiên cứu này tập trung tìm ra các nhân tố ảnh hưởng tới tốc
độ tăng trưởng của DNNVV nói chung, bao gồm cả DNSXNVV Trong đó, các nghiên cứu chủ yếu đi theo hai nhánh chính Nhánh thứ nhất nghiên cứu sự phụ thuộc của tốc độ tăng trưởng vào quy mô DN và số năm hoạt động của DN Nhánh nghiên cứu thứ hai cho rằng tốc độ tăng trưởng của DN không chỉ phụ thuộc vào quy mô và
số năm hoạt động mà còn phụ thuộc vào đặc thù của DN và của chủ DN
Đối với các nghiên cứu về sự phụ thuộc của tăng trưởng của DNSXNVV vào quy mô DN và s ố năm hoạt động của DN:
Các nghiên cứu kiểm định mối liên hệ giữa quy mô và số năm hoạt động của
DN với tăng trưởng DN thường bắt nguồn từ quy luật Gibrat Gibrat (1931) đưa ra một quy luật nổi tiếng rằng tốc độ tăng trưởng của DN độc lập với quy mô của nó Thuyết Gibrat được nghiên cứu với cỡ mẫu là tất cả các DN trong nền kinh tế Từ khi
lý thuyết này ra đời, nhiều nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành nhằm kiểm định tính đúng đắn của thuyết Gibrat đối với các DNNVV, bao gồm cả các DNSX Hàng loạt các nghiên cứu đã được tiến hành với nhiều phương pháp và mẫu khác nhau tại các quốc gia như Thụy Điển (Davidsson và cộng sự, 2002), Ý (Becchetti và Trovato, 2002; Morone và Testa, 2008), Nhật Bản (Wijewardena và Cooray, 1995; Goddard
và cộng sự, 2002), Áo (Weiss, 1998), Úc (Wijewardena và Tibbits, 1999), Anh (Dunne và Hughes, 1994; Storey, 2016), Mỹ (Friar và Meyer, 2003; Evans, 1987), Việt Nam (Nguyễn Thu Hằng và cộng sự, 2018; Bùi Thị Thu Loan, 2018)… Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu không đạt được sự đồng thuận
Trang 26Về quy mô DN, các nghiên cứu ủng hộ thuyết Gibrat hầu hết là các nghiên cứu
về các DN lớn và đã hoạt động lâu năm Trong khi đó, nhiều nghiên cứu khác lại cung cấp bằng chứng đối lập khi cho rằng quy mô DN có tác động tới tăng trưởng DN, đặc biệt trong lĩnh vực SX (Fiala và Hedija, 2019) Các nghiên cứu của Hart và Prais (1956), Acs và Audretsch (1990), Baldwin và cộng sự (2000) hay Bùi Thị Thu Loan (2018) tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô DN và tốc độ tăng trưởng khi cho rằng DN có quy mô nhỏ không thể đa dạng hóa trong nhiều lĩnh vực hay hoạt động trong những ngành quan trọng Họ phần lớn chỉ có thể chuyên sâu trong một lĩnh vực hẹp với biên lợi nhuận thấp, do đó, khi có rủi ro xảy ra, sức chống
đỡ của các DN nhỏ sẽ thấp hơn DN lớn Đặc biệt, những DN cung cấp các sản phẩm công nghệ cao hay giá trị lớn, số lượng các giao dịch thường bị giới hạn bởi thiếu uy tín và danh tiếng trên thị trường cũng như thiếu các chiến lược bài bản về quản trị, marketing do hạn chế về nguồn nhân lực Ngược lại, khá nhiều nghiên cứu lại cung cấp bằng chứng phản đối thuyết Gibrat và cho rằng DN quy mô nhỏ tăng trưởng nhanh hơn DN quy mô lớn (Dunne và Hughes, 1994; Becchetti và Trovato, 2002; Nguyễn Thu Hằng và cộng sự, 2018; Evans, 1987) Các nghiên cứu này cho rằng DNNVV có khả năng quản trị nguồn nhân lực tốt hơn khi luôn có xu hướng tinh gọn bộ máy bằng cách giữ lại các nhân viên có chất lượng và đào thải các vị trí việc làm thừa nhằm tiết kiệm chi phí và tăng hiệu quả công việc Cơ cấu tổ chức tại các DNNVV khá gọn, thuận tiện cho việc quản lý và ra quyết định dẫn đến cơ hội tăng trưởng cao
V ề số năm hoạt động của DN, một số nghiên cứu đã lý giải việc phủ định thuyết
Gibrat bằng cách đưa thêm nhân tố tuổi DN và cho rằng quy mô và tuổi DN là hai nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng của DN (Jovanovic, 1982) Các nghiên cứu của Geroski và Gugler (2004), Nguyễn Thu Hằng và cộng sự (2018), Evans (1987) đưa ra quan điểm tương đồng khi cho rằng DN trẻ sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn so với DN lâu năm trong việc thích ứng với các thay đổi trên thị trường Các
DN trẻ có thể tham gia thị trường ở quy môn tối ưu, họ rất tích cực học hỏi kiến thức mới từ bên ngoài và trở nên vượt trội hơn các DN đã hoạt động lâu năm
Tuy nhiên, xuất phát từ tầm quan trọng của tăng trưởng DN đối với bản thân
DN và với nền kinh tế nói chung, rất nhiều các nghiên cứu vẫn tiếp tục bổ sung thêm các nhân tố mới nhằm lý giải cho tốc độ tăng trưởng khác nhau giữa các DN
Trang 27Đối với các nghiên cứu về sự phụ thuộc của tốc độ tăng trưởng vào các đặc thù c ủa chính DN và chủ DN
Với hướng nghiên cứu thứ hai, các bằng chứng thực nghiệm sau đó tiếp tục khẳng định tốc độ tăng trưởng của DNSXNVV không chỉ phụ thuộc vào các nhân tố truyền thống như quy mô và số năm hoạt động mà còn phụ thuộc vào các đặc điểm riêng của DN và của chủ DN Các đặc điểm riêng của DNNVV bao gồm khả năng tiếp cận vốn, hình thức sở hữu, nguồn nhân lực, chiến lược kinh doanh Đặc điểm của chủ DN bao gồm học vấn, giới tính, độ tuổi…
Về đặc điểm riêng của DNSXNVV, Heshmati (2001) nghiên cứu sử dụng bộ dữ
liệu gồm các DN có quy mô lao động từ 1 - 100 nhân viên tại Thụy Điển trong giai đoạn 1993-1998 và phát hiện ra rằng bên cạnh quy mô và số năm hoạt động, tăng trưởng lao động của DN phụ còn thuộc vào năng suất lao động, mức độ thâm dụng vốn và số lượng nhân viên có bằng đại học Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản bị ảnh hưởng bởi mức độ vay nợ và năng suất lao động của DN Trong khi đó, tăng trưởng doanh thu phụ thuộc vào một số đặc điểm riêng của DN như mức độ vay nợ, khả năng sinh lời, trình độ học vấn của nhân viên
Bên cạnh đó, nghiên cứu của Becchetti và Trovato (2002) tìm ra ảnh hưởng của khả năng tiếp cận vốn đến tốc độ tăng trưởng của DNSXNVV tại Ý bên cạnh các nhân tố truyền thống là độ tuổi và quy mô DN Các tác giả cho rằng DNSXNVV thường khó tiếp cận với nguồn vốn vay chính thức từ bên ngoài Trở ngại tài chính trên thị trường vốn ảnh hưởng tới các quyết định đầu tư, do vậy sẽ tác động tới tốc độ tăng trưởng của DNSXNVV
Mateev và Anastasov (2010) nghiên cứu 560 DNNVV từ 6 nền kinh tế chuyển đổi tại các nước miền Đông và Trung Âu và tìm ra rằng quy mô tài sản của DN có tác động tích cực đến tốc độ tăng trưởng của các DNNVV Ngoài ra, các đặc điểm riêng của DN như tỷ lệ vốn vay, năng suất lao động là các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của DN Trong đó, năng suất lao động cao sẽ thúc đẩy tăng trưởng DN do có sự tái phân bổ nguồn lực từ nơi ít hiệu quả sang nơi hiệu quả hơn; nguyên liệu và lao động có xu hướng di chuyển từ nơi có năng suất thấp sang nơi có năng suất cao Ngoài ra, khi xem xét các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài, Mateev
và Anastasov (2012) tìm ra rằng thuế suất thuế thu nhập DN làm giảm tốc độ tăng
Trang 28trưởng DN Thuế thu nhập cao sẽ ảnh hưởng đến tiềm năng tăng trưởng của DN vì thuế thu nhập sẽ làm giảm thu nhập sau thuế của DN và do vậy DN sẽ giảm đầu tư cho tăng trưởng
Liên quan đến chiến lược kinh doanh, việc DNSXNVV tham gia vào thương mại quốc tế được cho là có tác động quan trọng tới tăng trưởng DN Một mặt, nhiều nghiên cứu khẳng định việc DN XK sẽ giúp DN nâng cao khả năng cạnh tranh, tích lũy được nhiều kiến thức và kinh nghiệm từ đối tác nước ngoài (Coad và Tamvada, 2012; Tse và cộng sự, 2017) Trong khi đó, một số nghiên cứu lại chỉ ra rằng, XK làm phát sinh nhiều chi phí, rủi ro cao hơn so với chỉ kinh doanh trên thị trường nội địa,
do vậy, làm DN tăng trưởng chậm lại (Bernard và Jensen, 1995; Clerides và cộng sự, 1998; Sharma và Mishra, 2011)
Về đặc điểm của chủ DN, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng đặc điểm của chủ DN
tác động đến tốc độ tăng trưởng của DN Khác với các công ty lớn nơi mà nhà quản trị được thuê để điều hành DN, tại các DNNVV, chủ sở hữu DN cũng đồng thời điều hành DN Bên cạnh đó, tại các DN lớn quá trình ra quyết định phải trải qua nhiều bước, qua nhiều bộ phận xét duyệt Tuy nhiên, tại DNNVV, chủ DN đồng thời là nhà quản trị có thể trực tiếp ra quyết định Vì thế, đặc điểm của chủ DN như giới tính, học vấn, tuổi tác được cho là có ảnh hưởng đến các quyết định cũng như tốc độ tăng trưởng của các DNNVV
Nghiên cứu của Coad và Tamvada (2012) đo lường tốc độ tăng trưởng của 1,5 triệu DNNVV tại Ấn Độ trong giai đoạn 2002-2003 đã đưa ra kết luận rằng DN được điều hành bởi phụ nữ có tốc độ tăng trưởng chậm hơn DN được điều hành bởi nam giới do nữ giới được cho là thận trọng và ngại rủi ro hơn nam giới Ngoài ra, nghiên cứu của Rafiki (2019) tại Ả Rập Saudi đã tiến hành điều tra 119 chủ DNNVV và báo cáo có mối quan hệ tích cực giữa trình độ học vấn của chủ DN, các khóa đào tạo mà chủ DN tham gia, mạng lưới các mối quan hệ xã hội của chủ DN tới tốc độ tăng trưởng DN Chủ DN có học vấn cao có xu hướng tiếp thu kiến thức, công nghệ mới
và có chiến lược quản trị nguồn nhân lực hiệu quả hơn, do đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng DN
Kế thừa các nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới, tại Việt Nam, một
số nhà khoa học cũng đã tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng của các
Trang 29DNSXNVV Nghiên cứu của Nhâm Phong Tuân và Takahashi (2009) sử dụng bộ dữ liệu gồm 337 DNNVV trong lĩnh vực SX từ cuộc khảo sát của Ngân hàng thế giới được tiến hành tại Việt Nam năm 2015 Tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu gồm 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng tới tăng trưởng DN đó là: đặc điểm của chủ DN (nền tảng học vấn, kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh), đặc điểm của DN (hình thức sở hữu, số năm hoạt động, quy mô DN) và chiến lược của DN (phát triển sản phẩm mới) Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sở hữu ngoài nhà nước và chiến lược phát triển sản phẩm mới có tác động tích cực đến tăng trưởng DN Trong khi đó, quy mô, số năm hoạt động có tác động ngược chiều đến tăng trưởng DN Tuy nhiên, Nhâm Phong Tuân và Takahashi (2009) chỉ sử dụng mẫu dữ liệu của một năm nên không thể phân tích được tính động - một đặc thù căn bản của tăng trưởng DN
Nguyễn Thị Nguyệt (2012), khi xem xét bộ dữ liệu 1.613 DN tại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2007, đã bác bỏ lý thuyết Gibrat khi tìm thấy quy mô DN có mối quan
hệ ngược chiều với tốc độ tăng trưởng Ngoài ra, Nguyễn Thị Nguyệt (2012) còn chỉ
ra rằng năng suất lao động, chỉ tiêu về tổng tài sản, tỷ lệ nợ vay ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ tăng trưởng của DN Tuy nhiên, nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt (2012) chỉ đo lường tăng trưởng DN theo tốc độ tăng trưởng lao động Đứng từ góc độ quản
lý nhà nước, thước đo này có thể hợp lý nhưng trên thực tế, tăng trưởng việc làm không phải là mục tiêu duy nhất của DN
Nghiên cứu của Hà Văn Dung (2016) sử dụng bộ dữ liệu từ cuộc điều tra DN hàng năm của Tổng cục Thống kê với số mẫu nghiên cứu là 37.788 DN trong giai đoạn 2006-2009 Khác với các nghiên cứu trước, tác giả chỉ tập trung làm rõ tác động của các yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài, cụ thể là các yếu tố thể chế, đến tăng trưởng DN
Nguyễn Thu Hằng và cộng sự (2018) đã nghiên cứu các nhân tố tác động đến tốc độ tăng trưởng của DNSXNVV tại Việt Nam Các tác giả sử dụng mẫu dữ liệu gồm 8.131 DNNVV trong lĩnh vực SX tại 10 tỉnh, thành tại Việt Nam Bằng cách sử dụng kỹ thuật ước lượng GMM hệ thống, nghiên cứu đã bác bỏ lý thuyết Gibrat và cho rằng quy mô DN có quan hệ ngược chiều với tốc độ tăng trưởng của DN Đòn bẩy tài chính, chất lượng lao động, hoạt động đào tạo và hoạt động XK có tác động
Trang 30tích cực đến tốc độ tăng trưởng Về đặc điểm của chủ DN, giới tính, học vấn và tuổi của chủ DN cũng ảnh hưởng tới tăng trưởng DN DN được được lãnh đạo bởi nam giới tăng trưởng chậm hơn DN được điều hành bởi nữ giới Chủ DN càng lớn tuổi thì tốc độ tăng trưởng càng giảm do các chủ DN lớn tuổi thường có xu hướng an toàn nên sẽ né tránh các phương án kinh doanh mang tính đột phá nhưng có tỷ lệ rủi ro cao Học vấn của chủ DN góp phần thúc đẩy tăng trưởng DN
1.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến tác động của xuất khẩu tới tăng trưởng của doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa
Mối quan hệ giữa XK và tăng trưởng kinh tế vĩ mô là một chủ đề đã được rất nhiều học giả trên thế giới nghiên cứu từ giữa thế kỷ 20 (Baldwin và cộng sự, 2000) Cùng với tốc độ phát triển nhanh chóng của thương mại quốc tế, XK ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và tăng trưởng của nhiều DN Do đó, hiểu rõ về vai trò của XK đối với DN đã trở thành một chủ đề mang tính cấp thiết, thu hút sự quan tâm của không chỉ riêng các nhà nghiên cứu mà còn của các nhà quản lý và hoạch định chính sách Xu hướng nghiên cứu các tác động của XK tới tăng trưởng DN mới bắt đầu nở rộ từ sau những năm 1990, cụ thể là sau loạt bài nghiên cứu của Bernard
và Jensen xuất bản lần đầu tiên vào năm 1995 và các nghiên cứu tiếp theo của hai tác giả vào năm 1999, 2004 Theo sau loạt bài nghiên cứu này, hàng loạt các nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau trên toàn thế giới đã được tiến hành (McDougall và Oviatt, 1996; Bernard và Wagner, 1997; Robson và Bennett, 2000; Becchetti và Trovato, 2002; Yasuda, 2005; Lu và Beamish, 2006; Golovko và Valentini, 2011; Lafuente và cộng sự, 2018; Yang và Tsou, 2020) Thay vì sử dụng dữ liệu cấp quốc gia, cấp ngành
để nghiên cứu vai trò của XK đối với tăng trưởng kinh tế dưới góc độ vĩ mô, các nhà nghiên cứu đã sử dụng các bộ dữ liệu cấp DN để xem xét mối quan hệ giữa XK và
tăng trưởng của DN ở góc độ vi mô
1.2.1 Các nghiên cứu về tác động của hoạt động xuất khẩu tới tăng trưởng doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa
Các nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa XK và tăng trưởng DN chủ yếu đi
theo hai hướng chính Thứ nhất là hướng nghiên cứu về tác động của tăng trưởng DN
tới XK Hướng nghiên cứu này nhằm kiểm định cơ chế tự lựa chọn (self-selection) Giả thuyết về cơ chế tự lựa chọn cho rằng các DN trong một ngành có tốc độ tăng
Trang 31trưởng khác nhau vì những lý do không liên quan đến thị trường thế giới Chỉ những
DN có kết quả hoạt động kinh doanh tốt, năng suất cao hơn mới có thể tự lựa chọn trở thành nhà XK Nguyên nhân là do việc thâm nhập thị trường nước ngoài làm phát sinh thêm một số chi phí như chi phí logistics, chi phí phân phối hoặc tiếp thị, tiền lương cho nhân sự có kỹ năng quản lý mạng lưới nước ngoài, hoặc chi phí thay đổi sản phẩm nội địa để phù hợp với thị trường nước ngoài Những chi phí này tạo ra một rào cản gia nhập mà các DN kém hơn không thể vượt qua Hơn nữa, việc DN mong muốn XK trong tương lai sẽ thúc đẩy các DN phải cải thiện hoạt động hiện tại
để có thể cạnh tranh trên thị trường nước ngoài Chính vì vậy, sự khác biệt giữa các
DN XK và không XK một phần có thể được giải thích là do: các DN tốt hơn quyết
định trở thành nhà XK Thứ hai là hướng nghiên cứu về tác động của XK tới tăng
trưởng của DN Hướng nghiên cứu này nhằm đánh giá các tác động của XK tới kết quả hoạt động kinh doanh của DN nói chung và tăng trưởng DN nói riêng
Trong khi hầu hết các nhà khoa học đều đạt được sự đồng thuận ở hướng nghiên cứu thứ nhất khi cho rằng các DN tốt sẽ tự lựa chọn XK thì ở hướng nghiên cứu thứ hai, các kết quả nghiên cứu lại khá phân tán, thậm chí nhiều nghiên cứu tại cùng một quốc gia nhưng lại có kết quả trái ngược Vẫn còn tồn tại nhiều tranh luận
về những lợi ích mà XK mang lại các DN XK (Wagner, 2012) Nhiều nghiên cứu ủng hộ quan điểm rằng XK không có tác động tới tăng trưởng DN hoặc chỉ tác động tích cực nếu có các tác nhân khác đi kèm Bên cạnh đó, cũng có một số nghiên cứu cho rằng XK thật sự thúc đẩy tăng trưởng DN Trong phần lược khảo các nghiên cứu tiền nhiệm dưới đây, tác giả sẽ khái quát nền tảng lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của XK tới tăng trưởng DN, trong đó có DNSXNVV Cũng cần lưu ý rằng, phần lớn các nghiên cứu trong lĩnh lực này chủ yếu chỉ ra ảnh hưởng của
XK đến việc cải thiện năng suất bởi năng suất được cải thiện góp phần tăng hiệu quả
hoạt động của DN và thúc đẩy DN tăng trưởng
Các nghiên cứu cho rằng XK tác động tới tăng trưởng DN
Các học thuyết về tăng trưởng và thương mại quốc tế đều cho rằng thương mại quốc tế nói chung, XK nói riêng, là nhân tố tác động tích cực tới tăng trưởng DN Lý thuyết về cơ chế “học hỏi thông qua XK” cho rằng XK đem lại khả năng tiếp xúc với thị trường quốc tế và phát triển kiến thức mới về công nghệ, sản phẩm, thị trường…,
Trang 32từ đó giúp DN XK nâng cao năng suất lao động Trong khi đó, lý thuyết thương mại
cổ điển của Ricardo về lợi thế so sánh hay lý thuyết thương mại hiện đại của Melitz (2003) đều cho rằng thương mại quốc tế dẫn đến tái phân bổ các yếu tố SX giữa các ngành trong nước theo hướng từ các DN có năng suất thấp đến các công ty định hướng
XK có năng suất cao hơn Như vậy, dù sử dụng các lý thuyết thương mại cổ điển hay các lý thuyết thương mại hiện đại, các nhà kinh tế học đều thừa nhận lợi ích tăng trưởng dài hạn từ XK khi các nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn Các nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề này tại nhiều quốc gia đã ủng hộ các lý thuyết thương mại và
đưa ra các luận giải khác nhau
Tại các nước phát triển, số lượng các nghiên cứu tập trung vào chủ đề này khá
phong phú Nghiên cứu Castellani (2002) tiến hành nghiên cứu trên mẫu gồm 38.771 DNSX của Ý từ 1989-1984 Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô của hoạt động XK,
đo lường bằng doanh thu từ XK trên tổng doanh thu, tác động cùng chiều với tăng trưởng DN DN có tỷ lệ doanh thu XK trên tổng doanh thu càng cao thì tăng trưởng càng nhanh Castellani (2002) cho rằng việc bán hàng ở thị trường nước ngoài thường đòi hỏi DN phải có một vài thay đổi về sản phẩm quy trình SX, thậm chí cả các thay đổi trong chiến lược phân phối, marketing…Các DN càng XK nhiều thì càng học hỏi được nhiều từ các kinh nghiệm làm việc với nhiều đối tác, nhiều thị trường khác nhau Sau khi bán hàng thành công trên thị trường nước ngoài, những kinh nghiệm thu nhận được từ hoạt động XK có thể được DN sử dụng trong nhiều bối cảnh khác nhau, tại thị trường nội địa và các thị trường nước ngoài khác mà DN có ý định tiếp cận Ngoài
ra, tác giả suy đoán rằng cường độ XK cao hơn có thể báo hiệu mức độ cam kết cao hơn đối với các hoạt động tại thị trường nước ngoài Đặc biệt, các công ty XK một tỷ trọng lớn hơn trong kim ngạch của họ sẽ theo đuổi các chiến lược quốc tế hóa chủ động hơn Cường độ XK thấp hơn có thể báo hiệu rằng một công ty chỉ thỉnh thoảng
XK, tức là chỉ tận dụng cơ hội của nhu cầu nước ngoài để mở rộng SX mà không có một chiến lược quốc tế hóa có chủ đích, từ đó không đem lại lợi ích tăng trưởng cho
DN Số liệu từ nghiên cứu của Castellani (2002) cũng cho thấy, tại Ý, số lượng công
ty chỉ giao dịch với một vài quốc gia chiếm đa số, số ít còn lại là các công ty có thị trường XK rộng lớn và chính các công ty này đóng góp phần lớn vào kim ngạch XK của Ý Nghiên cứu cũng đi tới kết luận rằng DN XK tới nhiều quốc gia hơn thì có các
Trang 33chỉ số tăng trưởng DN tốt hơn Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tác giả tính toán tăng trưởng DN theo giai đoạn 1989-1991 và 1992-1994, do vậy, các thay đổi trong tăng trưởng DN theo từng năm có thể bị bỏ qua Một nghiên cứu khác của Becchetti và Trovato (2002) đối với 5.000 DNNVV trong ngành SX tại Ý từ năm 1989-1997 cũng
đi đến kết quả tương tự như nghiên cứu của Castellani (2002)
Bài nghiên cứu của Robson và Bennett (2000) đề cập tới tác động của XK tới tăng trưởng DN tại Anh thông qua thang đo tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng lao động Nghiên cứu đã tiến hành điều tra 2.474 DNNVV vào năm 1997 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, DN XK có tốc độ tăng trưởng cao hơn DN không XK ở mức 10% đối với tăng trưởng lao động và 25,7% đối với tăng trưởng doanh thu Mặc dù đạt được các kết quả nhất định, tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dựa trên điều tra DN trong một năm nên nên không thể phân tích được tính động - một đặc thù căn bản của tăng
trưởng DN
Nghiên cứu của Baldwin và Gu (2003) được tiến hành trên bộ dữ liệu về các DNSX tại Canada từ năm 1974 – 1996 tập trung vào hai chỉ số là năng suất lao động (giá trị gia tăng trên mỗi lao động) và năng suất nhân tố tổng hợp -TFP Các tác giả
đi đến kết luận rằng việc tham gia XK sẽ cải thiện năng suất của DN, từ đó thúc đẩy tăng trưởng DN Các DN thuộc sở hữu trong nước nhận được tác động mạnh hơn nhiều so với các DN do nước ngoài kiểm soát do hàm lượng các kiến thức mà DN trong nước tích lũy được từ hoạt động XK cao hơn các DN có vốn đầu tư nước ngoài Đây là bằng chứng cho thấy định hướng quốc tế hóa hơn là đặc điểm về quyền sở hữu của mỗi DN mới là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới tăng trưởng DN Nghiên cứu cũng đi đến kết luận XK quan trọng đối với các DN trẻ hơn là các DN lâu năm tại Canada bởi các DN trẻ có ít kinh nghiệm trên thị trường nước ngoài so với các DN
đã hoạt động lâu năm
Tại Đức, Wagner (2002) đã xem xét ảnh hưởng của XK tới tăng trưởng của DNSX từ năm 1979-1989 Đây được coi là nghiên cứu tiên phong sử dụng phương pháp điểm xu hướng (Propensity Score Matching - PSM) để tìm kiếm các tác động nhân quả của XK đến tăng trưởng DN Bằng phương pháp điểm xu hướng, Wagner (2002) đã sử dụng các kỹ thuật thống kê để xây dựng một nhóm các DN XK (nhóm
xử lý) và một nhóm các DN không XK (nhóm kiểm soát) Sau đó, từng DN trong
Trang 34nhóm XK được khớp với một DN trong nhóm không XK trên cơ sở chúng có các đặc điểm tương tự nhau trước khi XK Sự khác biệt về tăng trưởng giữa hai nhóm (nhóm
XK và nhóm không không XK) sau thời điểm XK sẽ giúp đánh giá khách quan tác động thực của hoạt động XK Kết quả nghiên cứu khẳng định tác động tích cực tích cực có ý nghĩa thống kê tới tăng trưởng lao động và tiền lương của DN Tiếp nối nghiên cứu này, kết quả kiểm định ảnh hưởng của XK tới tăng trưởng DN của Wagner (2007) tiếp tục ủng hộ quan điểm XK thúc đẩy tăng trưởng DN Ngoài ra, Wagner (2007) cho rằng tại Đức, các nhà XK vào bên trong khu vực đồng euro có năng suất cao hơn DN chỉ bán hàng ở Đức, nhưng cũng kém năng suất hơn các DN bán hàng ra bên ngoài khu vực đồng euro Nhìn chung, DN XK tới nhiều quốc gia hơn thì có các chỉ số tăng trưởng DN tốt hơn
Golovko và Valentini (2011) đánh giá ảnh hưởng của XK tới tăng trưởng của các DNSXNVV tại Tây Ban Nha Nghiên cứu đi đến kết luận rằng DN XK tăng trưởng nhanh hơn DN không XK 3% Đặc biệt, nếu DN có hoạt động XK đi liền với đổi mới sáng tạo thì tăng trưởng của DN này cao hơn DN không XK 5% Golovko và Valentini (2011) lập luận khi DN thâm nhập thị trường nước ngoài, họ có cơ hội học hỏi từ hoạt động XK và từ đó tạo ra động lực cho các đổi mới, cải tiến trong DN Họ
có thể đạt được vị thế cao hơn trên thị trường thông qua các cải tiến ở cả thị trường nội địa và thị trường nước ngoài, từ đó thúc đẩy tăng trưởng doanh thu Thêm nữa, các DN XK thường có dòng tiền ổn định hơn bởi vòng đời sản phẩm không giống nhau ở tất cả các thị trường Dòng tiền ổn định cho phép DN có thể đầu tư vào công nghệ hay các hoạt động đổi mới thúc đẩy tăng trưởng DN Ngoài ra, việc DN XK cũng cho phép DN tiếp cận với nguồn vốn vay bên ngoài với chi phí thấp hơn bởi các hoạt động XK được coi là một biện pháp đảm bảo cho khả năng thanh khoản của DN Với những lợi ích này của hoạt động XK, nghiên cứu của Golovko và Valentini (2011)
đã khẳng định tác động tích cực của XK tới tăng trưởng DN
Trong khi đó, sử dụng mô hình đo lường tăng trưởng thông qua tăng trưởng doanh thu và tổng tài sản, nghiên cứu của Lu và Beamish (2006) đã kiểm định ảnh hưởng của XK tới tăng trưởng của các DNSXNVV tại Nhật Bản trong giai đoạn 1986–1996 Tăng trưởng doanh thu và tổng tài sản được đo lường bằng phần trăm thay đổi của doanh thu thuần và tổng tài sản giữa hai năm liên tiếp Trong khi đó, biến
Trang 35XK được đo lường bằng phần trăm doanh thu XK trên tổng doanh thu Nghiên cứu đưa ra kết luận rằng XK có tác động tích cực đến tăng trưởng DN ở cả hai thước đo lao động và tài sản Hai tác giả cho rằng đóng góp của XK vào tăng trưởng DN thông qua tăng doanh thu là rất rõ ràng Bằng cách bán hàng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các khách hàng ở khu vực địa lý mới, DN mở rộng số lượng khách hàng và có khả năng tăng được khối lượng hàng bán ra Đổi lại, sản lượng tiêu thụ cao hơn thúc đẩy DN
mở rộng năng lực SX để đáp ứng nhu cầu thị trường Như vậy, thông qua việc mở rộng thị trường và tạo dư địa cho mở rộng, XK ra thị trường nước ngoài được coi là cách thức phù hợp giúp DN tăng trưởng Hơn nữa, khối lượng bán hàng và quy mô
SX lớn hơn nhờ XK cho phép các DN đạt được quy mô kinh tế, tăng năng suất lao động và hiệu quả quản lý, từ đó dẫn đến tiết kiệm chi phí đáng kể và đóng góp trực tiếp vào hiệu quả hoạt động của DN Ngoài ra, sự hiện diện trên nhiều thị trường quốc
tế dẫn đến những lợi thế liên quan đến việc gia tăng sức mạnh thị trường và thu được lợi ích từ việc đa dạng hóa doanh thu, tạo điều kiện cho tăng trưởng DN
Tại các quốc gia đang phát triển, số lượng các nghiên cứu về tác động của XK tới tăng trưởng DN mặc dù không phong phú như tại các quốc gia phát triển, tuy nhiên, các nghiên cứu cũng đã đạt được một số thành tựu nhất định Cụ thể, tại các nước đang phát triển ở Châu Á, với sự tin tưởng rằng XK là chìa khóa thành công của nền kinh tế, nghiên cứu về tác động của XK tới tăng trưởng của DN cũng được tiến hành ở nhiều quốc gia Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng thành công của một số quốc gia Châu Á thường là nhờ chiến lược phát triển theo định hướng XK Ngân hàng Thế giới (1993) coi chiến lược phát triển dựa vào XK là tác nhân đứng sau sự phát triển thần kỳ của các quốc gia Đông Á Ngoài ra, Krueger (1995) cho rằng đặc điểm phân biệt nổi bật nhất giữa thành công của các nước Đông Á và sự đình trệ của các nước
Mỹ Latinh là sự cởi mở của chính sách thương mại quốc tế; với một bên là chiến lược
thương mại hướng ra bên ngoài và bên kia là chiến lược phát triển thay thế nhập khẩu
Nghiên cứu của Kraay (2002) tại Trung Quốc cũng xem xét tác động của XK đến tăng trưởng DN Biến XK được đo lường bằng tỷ lệ doanh thu XK trên tổng doanh thu Tác giả đi đến kết luận rằng việc XK của DN năm trước ảnh hưởng quan trọng tới kết quả hoạt động kinh doanh và tăng trưởng DN năm nay Tỷ lệ doanh thu
XK trên tổng doanh thu tăng thêm 10% sẽ dẫn tới 13% tăng trưởng năng suất lao động
Trang 36và 2,3% năng suất nhân tố tổng hợp TFP Kraay (2002) cho rằng trong giai đoạn nghiên cứu từ 1988 - 1992, Trung Quốc là một quốc gia đang phát triển với trình độ
kỹ thuật, công nghệ chưa cao so với các quốc gia phát triển Việc tiếp xúc với thị trường quốc tế buộc các nhà quản lý phải thực hiện các nỗ lực kinh doanh lớn hơn để trở nên cạnh tranh hơn Các nhà XK của các nước đang phát triển đạt được nhiều lợi ích từ các hoạt động thương mại với khách hàng ở các nước phát triển Ngay cả việc khách hàng tại các nước phát triển cung cấp các thông số kỹ thuật về sản phẩm họ đặt hàng cũng là một hình thức tư vấn SX cho nước đối tác Do vậy, Kraay (2002) ủng
hộ quan điểm cho rằng XK tác động tích cực tới tăng trưởng DN
Cũng tại Trung Quốc, Yang và Tsou (2020) kiểm định ảnh hưởng của XK tới tăng trưởng DN thông qua tăng trưởng lao động Biến XK được đo lường bằng biến giả (có XK hay không), tỷ lệ doanh thu XK trên tổng doanh thu và giá trị XK Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tất cả các biến XK đều có tác động tích cực tới tăng trưởng
DN Điều đó có nghĩa rằng việc tham gia XK hoặc tăng giá trị XK đều có thể thúc đẩy tăng trưởng DN Các DN XK có tốc độ tăng trưởng việc làm cao hơn 6,41% các
DN chỉ bán hàng nội địa Giá trị XK tăng 1% sẽ nâng tốc độ tăng trưởng việc làm thêm 0,8% Như vậy, cùng với toàn cầu hóa, thị trường toàn cầu rộng lớn cung cấp tiềm năng tăng trưởng cho DN miễn là DN có thể vượt qua các rào cản chi phí liên quan đến việc gia nhập thị trường XK và cạnh tranh thành công trên thị trường quốc
tế
Tại Indonesia, Blalock và Gertler (2004) dựa trên bộ dữ liệu về các DN thuộc
sở hữu trong nước từ năm 1990-1996 tìm thấy bằng chứng rằng XK nhiều hay ít cũng đều được hưởng lợi ích từ XK Hai tác giả cho rằng sự khác biệt về mức độ phát triển kinh tế giải thích cho việc XK ảnh hưởng tích cực tới tăng trưởng DN tại Indonesia Trong giai đoạn nghiên cứu, mức độ phát triển kinh tế của Indonesia tương đối thấp
so với các nền kinh tế công nghệ tiên tiến, do vậy, DN học hỏi được nhiều từ đối tác nước ngoài, từ đó cải thiện hiệu quả hoạt động, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng
Tại Ấn Độ, nghiên cứu của Coad và Tamvada (2012) đưa đến kết luận XK có tác động tích cực tới tăng trưởng của các DN đặc biệt là các DN trẻ Tác giả cho rằng
DN trẻ năng động và có tư duy kinh doanh mở tốt hơn các DN lâu năm Trong khi
Trang 37đó, các DN lâu năm thường bảo thủ và chậm thích ứng với các thay đổi về thị trường, chậm nên dễ bỏ qua các cơ hội kinh doanh mới
Tại các quốc gia kém phát triển, số lượng các nghiên cứu về tác động của XK
tới tăng trưởng khá ít ỏi do hoạt động XK của các quốc gia này còn khiêm tốn Tương
tự kết quả nghiên cứu của Blalock và Gertler (2004), nghiên cứu của Van Biesebroeck (2003) được thực hiện tại tại 9 nước cận Sahara ở Châu Phi là Burundi, Cameroon, Cote d’Ivoire, Ethiopia, Ghana, Kenya, Tanzania, Zambia và Zimbabwe Đây là khu vực có trình độ phát triển kinh tế thấp Van Biesebroeck (2003) cho rằng DN ở các nước nghèo có nhiều điều để học hỏi từ các đối tác thương mại của họ tại nước ngoài hơn là các DN ở các nước có thu nhập trung bình và các nước phát triển Nghiên cứu này gợi ý rằng các DN hoạt động trong môi trường kém phát triển có thể nhận được tác động tích cực tới tăng trưởng DN lớn hơn từ XK thông qua cơ chế học hỏi từ XK
Tương tự, sử dụng phương pháp điểm xu hướng được khởi xướng bởi Wagner (2002) nghiên cứu của Esaku (2021) xem xét mối quan hệ giữa XK và tăng trưởng
DN thông qua năng suất tại ba nước khu vực hạ Châu Phi Hạ Sahara là Ghana, Kenya
và Tanzania Đây là ba nước có thu nhập rất thấp so với các quốc gia còn lại của thế giới Tác giả kết luận rằng XK thúc đẩy tăng trưởng năng suất do tác động của hiệu ứng học hỏi Ngoài ra, nếu DN chỉ XK sang thị trường các nước Châu Phi tăng 1% thị phần XK thì sẽ thúc đẩy DN tăng trưởng thêm 15,8% do các thị trường có văn hóa tương đồng và chi phí cận biên thấp do khoảng cách vận chuyển ngắn Trong khi đó, các DN chỉ XK ra ngoài Châu Phi tăng 1% thị phần XK thì DN chỉ tăng trưởng thêm 3,2% do chi phí cận biên liên quan tới khoảng cách vận chuyển tăng Ngoài ra, việc
XK ra ngoài các nước Châu Phi cũng đồng nghĩa với việc các DN này XK chủ yếu tới các nước phát triển, nơi DN phải tiếp cận với các tiêu chuẩn ngặt nghèo và sự cạnh tranh khốc liệt Đây chính là các rào cản làm suy giảm tốc độ tăng trưởng của DN so với việc chỉ XK nội Châu Phi Cuối cùng, nếu DN vừa XK nội Châu Phi và XK tới các quốc gia phát triển ngoài Châu Phi tăng thị phần XK thêm 1% thì DN tăng trưởng thêm 35,4% Điều này khẳng định DN XK tới nhiều thị trường sẽ tăng trưởng cao hơn các DN chỉ nhắm vào một thị trường duy nhất
Tại Việt Nam, các nghiên cứu thực nghiệm về vai trò của XK với tăng trưởng
kinh tế vĩ mô của Việt Nam là chủ đề của rất nhiều nghiên cứu Tuy nhiên, các nghiên
Trang 38cứu về tác động của XK tới tăng trưởng của DN lại rất hạn chế, trong đó, các nghiên cứu riêng cho DNSXNVV lại càng hiếm hoi Nguyễn Thu Hằng và cộng sự (2018)
đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới tăng trưởng của DNSXNVV, trong đó có
XK Tuy nhiên, biến XK chỉ được sử dụng với vai trò biến kiểm soát Kết quả nghiên cứu xác nhận tác động tích cực của XK tới tăng trưởng DN DN XK có tốc độ tăng trưởng cao hơn các DN không XK ở mức 10%
Phạm Thị Huyền Trang và Vũ Hoàng Nam (2020) đã đo lường tác động của
XK tới kết quả hoạt động của DNSXNVV dựa trên dữ liệu dọc từ các cuộc điều tra hai năm một lần về các DNSXNVV Việt Nam tiến hành từ 2007-2013 Sử dụng phương pháp điểm xu hướng và phương pháp “Khác biệt trong khác biệt” (difference-in-differences - DID), các tác giả đã đi đến kết luận rằng XK đã có tác động tích cực tới tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận và năng suất của DN Tham gia XK giúp DN tăng 59% doanh thu, 55,8% lợi nhuận, 28,4% số lao động và 87,8% lương trung bình của người lao động Các tác động này mạnh hơn tại thời điểm DN mới tham gia XK
và sau đó giảm dần khi DN đã XK trên 4 năm
Các nghiên cứu cho rằng XK không tác động tới tăng trưởng DN
Các nghiên cứu cho rằng XK không tác động tới tăng trưởng DN thường có
xu hướng phủ định cơ chế học hỏi từ XK và ủng hộ cơ chế tự lựa chọn Một DN muốn
XK cần phải có sự chuẩn bị về vốn và quy mô của DN Khi bán hàng trên thị trường quốc tế, DN phải cạnh tranh với những đối thủ từ quốc gia nhập khẩu và các hàng hóa khác cùng loại trên thị trường Việc DN nổi trội hơn các DN cùng ngành và quy mô lớn hơn sẽ giúp cho DN có lợi thế về quy mô khi cạnh tranh với DN nước ngoài bởi trong thời gian đầu tham gia thị trường XK, DN phải tốn các khoản chi phí như chi phí thăm dò thị trường mới, chi phí quảng cáo; chi phí đầu tư mới cho sản phẩm Những chi phí trên sẽ làm tăng giá thành của sản phẩm, nếu DN bán giá cao hơn giá mặt bằng chung của thị trường XK thì hàng hóa sẽ không bán được và đồng nghĩa với việc lỗ Do đó, lợi thế về quy mô sẽ giúp DN bù đắp lại phần chi phí phải bỏ ra khi
SX hàng hóa bán cho thị trường quốc tế, giúp giá thành cạnh tranh hơn, theo thời gian thì DN sẽ có chỗ đứng trong thị trường Việc DN không có sự chuẩn bị về vốn và quy
mô sẽ là một điểm hạn chế lớn và sẽ làm cho DN không thể tiếp tục duy trì XK Như vậy, một DN phải trở thành một DN hoạt động tốt hơn những DN trong cùng ngành
Trang 39mới có thể tham gia vào thị trường XK Do vậy, các nghiên cứu này cho rằng sự khác biệt về tăng trưởng giữa DN XK và không XK chính là do các DN XK đã có sự chuẩn
bị từ trước
Nghiên cứu tiên phong mở đường cho hướng nghiên cứu về tác động của XK tới tăng trưởng DN chính là nghiên cứu của Bernard và Jensen (1995) Tiếp nối nghiên cứu năm 1995, nghiên cứu của Bernard và Jensen (1999) được coi là một nghiên cứu khá đầy đủ về mối quan hệ giữa XK và kết quả hoạt động của DN Nghiên cứu được thực hiện trên khoảng 50.000 – 60.000 DNSX với quy mô từ nhỏ đến lớn tại Mỹ từ năm 1984-1992 Hai tác giả xem xét một loạt các đặc điểm của DN trước và sau khi
XK như: năng suất, doanh thu từ hoạt động XK, lao động, tiền lương… Kết quả nghiên cứu đã xác nhận không có bằng chứng rõ ràng về tác động của XK tới tăng trưởng DN Vài năm trước khi thực sự XK, các nhà XK tương lai đã có nhiều đặc điểm tốt hơn đối tác không XK: năng suất cao hơn từ 12%-14%, thâm dụng vốn cao hơn từ 7%-22%, trả lương cao hơn Nhưng khi bắt đầu XK, các chỉ số hoạt động của
DN lại thay đổi theo các chiều hướng khác nhau Tăng trưởng việc làm tại các DN
XK cao hơn các DN không XK trong tất cả các giai đoạn Tuy nhiên, tăng trưởng về doanh thu và tiền lương chỉ cao hơn các DN không XK trong ngắn hạn Trong dài hạn, không có bằng chứng cho thấy XK có tác động tới doanh thu và tiền lương
Nghiên cứu trên nhóm DN quy mô nhỏ cũng có kết quả tương tự
Đáng chú ý, trong nghiên cứu của Castellani (2002) đối với các DNSX của Ý,
khi sử dụng biến XK là biến giả thể hiện DN XK hay không XK, tác giả lại không tìm được bằng chứng về tác động tích cực của XK tới tăng trưởng DN Kết quả này trái ngược hoàn toàn với kết quả khi sử dụng biến quy mô của hoạt động XK, đo lường bằng doanh thu từ XK trên tổng doanh thu Từ đó, Castellani (2002) khẳng định việc tăng trưởng DN bị ảnh hưởng bởi cường độ XK của các DN chứ không chỉ bởi sự hiện diện đơn thuần trên thị trường XK Bởi đơn thuần XK mà không có sự cam kết nguồn lực hay chiến lược quốc tế hóa bài bản sẽ không đem lại nhiều cơ hội
tăng trưởng cho DN
Tại Tây Ban Nha, nghiên cứu của Delgado và cộng sự (2002) xem xét sự khác biệt về năng suất nhân tố tổng hợp TFP giữa các DN XK và không XK tại các công
ty SX Tây Ban Nha từ 1991–1996 Kết quả chứng minh rõ ràng mức năng suất của
Trang 40các DN XK cao hơn so với các DN không XK Tuy nhiên, tác động của XK tới tăng trưởng năng suất còn khá yếu và chỉ giới hạn ở các nhà XK trẻ
Cũng tại Tây Ban Nha, Farinas và Martín-Marcos (2007) tiếp tục bộ dữ liệu của Delgado và cộng sự (2002) nhưng mở rộng cho giai đoạn 1990-1999 Bên cạnh năng suất, nghiên cứu này mở rộng thêm đối với một số chỉ số đo lường hoạt động khác của DN như: tiền lương, lao động, chi phí nghiên cứu và phát triển, mức độ đổi mới Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tất cả các chỉ số này tại DN XK đều cao hơn DN không XK Cũng giống như Delgado và cộng sự (2002), Farinas và Martin-Marcos (2007) ủng hộ giả thuyết tự lựa chọn XK và phủ định tác động của XK tới tăng trưởng
DN Không có khác biệt về mức độ và tốc độ tăng trưởng giữa các DN bắt đầu tham gia XK và các DN tiếp tục không XK Tăng trưởng của các DN ngừng XK không khác biệt so với các DN không XK
Nghiên cứu của Di Cintio và cộng sự (2017) về các DNSXNVV tại Ý cũng đi đến kết luận rằng, việc XK không thúc đẩy tăng trưởng lao động của DN Các DN
XK ra nước ngoài phải đối mặt với các áp lực cạnh tranh gay gắt, bởi vậy, không có
gì đảm bảo rằng họ sẽ thành công và mở rộng được quy mô DN Kết quả này tương
tự với nghiên cứu của Lafuente và cộng sự (2018) với các DNNVV tại Romania khi cũng cho thấy cường độ XK, đo lường bằng doanh thu XK trên tổng doanh thu, không
có tác động tới tăng trưởng lao động DN
Tại Đài Loan, nghiên cứu về tác động của XK tới tăng trưởng DN cũng diễn
ra từ rất sớm Theo mô hình nhà SX thiết bị gốc OEM (Original Equipment Manufacturer), các DN của Đài Loan thực hiện các công việc SX theo thiết kế, thông
số kỹ thuật được DN nước ngoài đặt trước và bán sản phẩm cho họ (Chu, 2000) Trong quá trình nhận đặt hàng từ nước ngoài, các DN XK đã bắt đầu tiếp thu kiến thức và chuyển giao công nghệ tiên tiến từ các khách hàng nước ngoài để từng bước nâng cao năng suất, từ đó tạo ra sự lan tỏa về công nghệ cho các lĩnh vực còn lại của nền kinh tế Những năm 1990, chính sách định hướng XK được coi là yếu tố then chốt đối với tăng trưởng kinh tế ở Đài Loan Nghiên của Liu và cộng sự (1999), tiến hành trên dữ liệu từ 875 công ty điện tử tại Đài Loan từ năm 1989-1993 Sau khi kiểm soát các ảnh hưởng từ các đặc điểm của DN, kết quả nghiên cứu khẳng định XK, cho
dù là một biến giả hay được thể hiện bằng tỷ lệ doanh thu XK trên tổng doanh thu,