1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

2. Ftu-Le Thi Thanh Ngan-Ktqt-Tom Tat La_Tieng Viet.pdf

27 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Tác Động Của Xuất Khẩu Tới Tăng Trưởng Của Các Doanh Nghiệp Sản Xuất Nhỏ Và Vừa Tại Việt Nam
Tác giả Lê Thị Thanh Ngân
Người hướng dẫn PGS, TS Nguyễn Thị Thu Hà, TS Nguyễn Thị Hoàng Anh
Trường học Trường Đại học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 485,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA XUẤT KHẨU TỚI TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM Ngành Kinh tế quốc tế[.]

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 2

Chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS, TS Nguy ễn Thị Thu Hà

2 TS Nguy ễn Thị Hoàng Anh

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp trường họp tại Trường Đại học Ngoại Thương

Vào hồi giờ ngày tháng năm

Có thể tham khảo luận án tại Thư viện Quốc gia và thư viện trường

Đại học Ngoại thương

Trang 3

M Ở ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Luận án

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia trên toàn thế giới, kể cả các quốc gia có trình độ phát triển cao Sự phát triển của DNNVV được xem là cách thức để đẩy nhanh việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế xã hội của các quốc gia (Cook và Nixson, 2000) Tuy vậy, với sự hạn chế về quy mô, nguồn nhân lực, nguồn vốn, công nghệ… loại hình doanh nghiệp (DN) này phải đối mặt với nhiều thách thức để tồn tại và phát triển Tăng trưởng luôn là mục tiêu hàng đầu của các DNNVV nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững bởi nếu không tăng trưởng, khả năng tồn tại của DNNVV bị giảm đi đáng kể (Freeman, và cộng sự, 1983) Chủ đề nghiên cứu về tăng trưởng của DNNVV được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm Trong quá trình kinh doanh, nhiều DNNVV đã tìm đến xuất khẩu và coi đây là một trong những giải pháp giúp họ giải quyết bài toán tăng trưởng Các nghiên cứu về tác động của xuất khẩu tới tăng trưởng của DNNVV đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên toàn thế giới Tuy nhiên, các nghiên cứu này lại không đạt sự đồng thuận, thậm chí nhiều nghiên cứu có kết quả trái ngược ngay trong cùng một quốc gia Vẫn còn nhiều tranh luận về những tác động của XK tới tăng trưởng DN Một số nghiên cứu đã xác nhận tác động tích cực của XK tới tăng trưởng như nghiên cứu của Kraay (2002), Blalock và Gertler (2004), Lu và Beamish (2006) Trong khi đó, nhiều nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng về tác động của XK tới tăng trưởng DN (Liu và cộng sự, 1999; Aw và cộng sự, 2000; Hahn, 2005; Di Cintio và cộng sự, 2017) hoặc cho rằng lợi ích

XK đem lại cho được phụ thuộc vào nhiều yếu tố như ngành, loại hình

DN (Park, 2011) và mức độ quốc tế hóa của DN (Kafouros và cộng

sự, 2008)

Tại Việt Nam,, nghiên cứu về tác động của XK tới tăng trưởng của các DNNVV cũng thu hút sự quan tâm của một số nhà nghiên cứu như các nghiên cứu của Vũ Hương và cộng sự (2014), Phạm Đình Long và Nguyễn Chí Tâm (2018), Nguyễn Thu Hằng và cộng sự (2018), Phạm Thị Huyền Trang và Vũ Hoàng Nam (2020)… Mặc dù đạt được một số kết quả nhất định, nhưng các nghiên cứu này hầu hết đều có nghiên cứu trên số lượng ít các DN XK hoặc chỉ sử dụng XK

Trang 4

như một biến kiểm soát hoặc chỉ khai thác XK dưới góc độ DN có XK hay không mà chưa chú ý đến các trạng thái XK khác nhau của DN Ngoài ra, các nghiên cứu này chỉ đo lường tăng trưởng DN trên các khía cạnh riêng lẻ như doanh thu, lợi nhuận… chứ không kết hợp nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Mặt khác, các nghiên cứu dành riêng cho các DN sản xuất (DN ngành chế biến, chế tạo) có số lượng rất hạn chế mặc dù tại Việt Nam, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đóng vai trò đặc biệt quan trọng, là động lực dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế (Tổng cục thống kê, 2021) Xuất phát từ tính thiếu nhất quán trong kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và ở Việt Nam

và tính thực tiễn của đề tài, nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm

về ảnh hưởng của XK tới tăng trưởng doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa (DNSXNVV) theo các khía cạnh đa dạng, tác giả đã chọn đề tài

“Nghiên cứu tác động của xuất khẩu tới tăng trưởng của các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại Việt Nam” làm chủ đề nghiên cứu

của Luận án

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung của Luận án là nghiên cứu tác động của XK tới tăng trưởng của các DNSXNVV, từ đó đề xuất các giải pháp đẩy mạnh hoạt động XK, nhằm nâng cao tốc độ tăng trưởng của các DNSXNVV

tại Việt Nam trong thời gian tới

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Thứ nhất, Luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về XK, tăng trưởng

DN, và tác động của XK tới tăng trưởng DNNVV

Thứ hai, Luận án phân tích, đánh giá thực trạng tốc độ tăng trưởng

của các DNSXNVV tại Việt Nam

Thứ ba, trên cơ sở thu thập dữ liệu, xây dựng mô hình nghiên cứu, Luận án thực hiện tìm hiểu và phân tích những tác động của XK lên

tăng trưởng của các DNSXNVV thông qua các khía cạnh: việc tham gia XK và trạng thái XK

Thứ tư, dựa trên kết quả phân tích, Luận án đề xuất một số khuyến

nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động XK, từ đó nâng cao tốc độ tăng trưởng của các DNSXNVV tại Việt Nam

Câu hỏi nghiên cứu:

(1) Tăng trưởng của DNSXNVV đo lường bằng các chỉ số nào?

Trang 5

(2) Thực trạng tăng trưởng của các DNSXNVV tại Việt Nam trong thời gian qua như thế nào?

(3) Xuất khẩu, với hai nhân tố có tham gia XK hay không và trạng thái XK có tác động như thế nào tới tăng trưởng của các DNSXNVV tại Việt Nam?

(4) Các khuyến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động XK góp phần thúc đẩy tăng trưởng của các DNSXNVV là gì?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận án:

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là tác động của XK tới tăng trưởng DNSXNVV

Phạm vi nghiên cứu của Luận án:

Phạm vi nội dung: Trong nghiên cứu này, Luận án tiếp cận vấn đề

tăng trưởng DN dựa trên khía cạnh tốc độ tăng trưởng của DN Để đo lường tốc độ tăng trưởng của DN, luận án sử dụng kết hợp cả ba thước

đo tốc độ tăng trưởng của DN là tốc độ tăng trưởng doanh thu, tốc độ tăng trưởng tài sản và tốc độ tăng trưởng lao động Nhằm phân tích ảnh hưởng của XK tới tăng trưởng DN, Luận án khai thác các vấn đề

về XK trên khía cạnh DN có tham gia XK hay không và trạng thái XK của DN Trong đó, trạng thái XK bao gồm: bắt đầu XK, XK ổn định

và ngừng XK

Phạm vi không gian: Phạm vi không gian của Luận án là các

DNSXNVV tại Việt Nam vì những đặc thù trong hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư khác với các DN thông thường

Phạm vi thời gian: Phạm vi thời gian của Luận án là giai đoạn

2014-2019 Luận án không sử dụng giai đoạn sau 2019 là giai đoạn thị trường có nhiều bất ổn do ảnh hưởng bởi đại dịch Covid 19, dữ liệu biến động lớn và thiếu hụt một số chỉ tiêu quan trọng

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập dữ liệu:

Nguồn dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu luận án chủ yếu là nguồn

dữ liệu thứ cấp, được sử dụng để:

(i) Tổng quan các công trình nghiên cứu và hệ thống hóa lý luận

về các vấn đề liên quan của luận án Tác giả sử dụng dữ liệu từ các nguồn sách, báo, tạp chí, luận án và hội thảo chuyên ngành trong nước,

và nước ngoài

Trang 6

(ii) Phân tích thực trạng tăng trưởng của các DNSXNVV tại Việt Nam và đánh giá tác động của XK đến tăng trưởng của DNSXNVV tại Việt Nam Số liệu thứ cấp được tác giả thu thập từ các kết quả Điều tra DN hàng năm của Tổng cục Thống kê, trong đó mẫu nghiên cứu là

DN hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (DN sản xuất) từ năm 2014-2019

Phương pháp xử lý dữ liệu:

Luận án sử dụng phương pháp định lượng Để đánh giá ảnh hưởng của XK tới tăng trưởng DN, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu gộp (Pooled Ordinary Least Square - OLS) và phương pháp ước lượng GMM hai bước

5 Những đóng góp mới của Luận án

Những đóng góp về mặt lý luận

Thứ nhất, Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về XK, tăng trưởng DN và ảnh hưởng của XK tới tăng trưởng DN từ các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam

Thứ hai, nhằm đo lường tăng trưởng DN, Luận án sử dụng tổng hợp cả ba thước đo là tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng lao động và tăng trưởng tổng tài sản Việc sử dụng cả ba thước đo tăng trưởng DN

sẽ giúp việc nghiên cứu về tăng trưởng DN trở nên sâu sắc hơn, kết quả nghiên cứu vì vậy cũng trở nên đáng tin cậy hơn

Thứ ba, Luận án khai thác về XK trên các khía cạnh là DN có tham gia XK hay không và trạng thái XK của DN trong khi các công trình nghiên cứu trước đó chỉ coi XK như một biến kiểm soát bên cạnh các yếu tố ảnh hưởng tới tăng trưởng của DN Ngoài ra, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu với các DNSXNVV bởi đặc trưng riêng của khối

DN này và tầm quan trọng của chúng đối với nền kinh tế của bất cứ quốc gia nào

Những đóng góp về mặt thực tiễn:

Thứ nhất, Luận án đã mô tả về thực trạng tăng trưởng và XK của

các DNSXNVV tại Việt Nam

Thứ hai, Luận án cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng

của XK tới tăng trưởng của DNSXNVV tại Việt Nam trên hai khía cạnh là DN có XK hay không và trạng thái XK của DN… Kết quả nghiên cứu là cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh và duy trì

ổn định hoạt động XK, qua đó thúc đẩy tăng trưởng DN

Trang 7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH

NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan tới tăng trưởng doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa

Tăng trưởng của các DNNVV luôn là một chủ đề nghiên cứu được nhiều học giả trên toàn thế giới quan tâm Các nghiên cứu này tập trung tìm ra các nhân tố ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng của DNNVV Trong đó, các nghiên cứu chủ yếu đi theo hai nhánh chính Nhánh thứ nhất nghiên cứu sự phụ thuộc của tốc độ tăng trưởng vào quy mô DN

và số năm hoạt động của DN Nhánh nghiên cứu thứ hai cho rằng tốc

độ tăng trưởng của DN không chỉ phụ thuộc vào quy mô và số năm hoạt động mà còn phụ thuộc vào đặc thù của DN và của chủ DN Đối với nhánh nghiên cứu thứ nhất, các nghiên cứu chủ yếu kiểm định sự đúng đắn của thuyết Gibrat đối với các DNNVV tại các quốc gia khác nhau Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu không đạt được sự đồng thuận

Về quy mô DN, các nghiên cứu ủng hộ thuyết Gibrat cho rằng tăng trưởng DN độc lập với quy mô của nó hầu hết là các nghiên cứu về các

DN lớn và đã hoạt động lâu năm Trong khi đó, nhiều nghiên cứu khác lại cung cấp bằng chứng cho rằng quy mô DN có tác động tới tăng trưởng DN, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất (Fiala và Hedija, 2019)

Về số năm hoạt động của DN, một số nghiên cứu ủng hộ quan điểm cho rằng DN trẻ sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn so với DN lâu năm trong việc thích ứng với các thay đổi trên thị trường (Geroski và Gugler 2004; Nguyễn Thu Hằng và cộng sự, 2018; Evans,1987) Đối với nhánh nghiên cứu thứ hai, các bằng chứng thực nghiệm sau đó tiếp tục

khẳng định tốc độ tăng trưởng của DN không chỉ phụ thuộc vào các nhân tố truyền thống như quy mô và số năm hoạt động mà còn phụ thuộc vào các đặc điểm riêng của DN và của chủ DN Các đặc điểm riêng của DN bao gồm khả năng tiếp cận vốn, hình thức sở hữu, nguồn nhân lực, chiến lược kinh doanh Đặc điểm của chủ DN bao gồm học vấn, giới tính, độ tuổi…

1.2 T ổng quan các nghiên cứu liên quan tới tác động của xuất

kh ẩu tới tăng trưởng của doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa

Các nghiên c ứu về tác động của hoạt động xuất khẩu tới tăng trưởng doanh nghiệp nhỏ và vừa: Kết quả nghiên cứu về tác động của

Trang 8

XK tới tăng trưởng của DNNVV khá phân tán, thậm chí nhiều nghiên cứu tại cùng một quốc gia nhưng lại có kết quả trái ngược Vẫn còn nhiều tranh luận về những lợi ích mà XK mang lại các DN XK (Wagner, 2012) Các nghiên cứu ủng hộ quan điểm XK thúc đẩy tăng trưởng DN cho rằng XK giúp DN đạt được lợi thế kinh tế theo quy mô Bằng cách XK, DN có thể tăng số lượng hàng bán ra, phân bổ chi phí

cố định trên một lượng lớn sản phẩm, làm giảm giá thành sản phẩm Ngoài ra, DN XK có cơ hội học hỏi từ hoạt động XK và từ đó tạo ra các đổi mới, cải tiến trong DN, thúc đẩy DN tăng trưởng (Robson và Bennett, 2000; Castellani,2002; Baldwin và Gu, 2003; Wagner, 2002;

Lu và Beamish, 2006; Golovko và Valentini, 2011; Yang và Tsou (2020); Esaku, 2021) Trong khi đó, các nghiên cứu cho rằng XK không tác động tới tăng trưởng DN thường có xu hướng phủ định cơ chế học hỏi từ XK và ủng hộ cơ chế tự lựa chọn Một DN muốn tham gia vào thị trường XK cần phải có sự chuẩn bị về vốn và quy mô của

DN để cạnh tranh với những đối thủ từ quốc gia nhập khẩu và các hàng hóa khác cùng loại trên thị trường Lợi thế về quy mô sẽ giúp DN giảm giá thành sản phẩm XK, theo thời gian thì DN sẽ có chỗ đứng trong thị trường Một DN phải trở thành một DN hoạt động tốt hơn những DN trong cùng ngành để có thể tham gia và thị trường XK Do vậy, các nghiên cứu này cho rằng sự khác biệt về tăng trưởng DN XK và không

XK chính là do các DN XK đã có sự chuẩn bị từ trước (Bernard và Jensen,1995; Liu và cộng sự, 1999; Delgado và cộng sự,2002; Hahn, 2005; Di Cintio và cộng sự, 2017; Paul và cộng sự, 2017)

Các nghiên c ứu về tác động của trạng thái xuất khẩu đến tăng trưởng doanh nghiệp nhỏ và vừa: Quá trình XK dẫn đến những thay

đổi quan trọng trong hành vi và hiệu quả hoạt động của DN, và những thay đổi này có thể rõ ràng hơn ở các DNNVV (Acs và cộng sự, 1997; Peiris và cộng sự 2012) Gia nhập và rời bỏ thị trường quốc tế là những thời điểm của những thay đổi đáng kể đối với bất kỳ DN nào (Bernard and Jensen, 1999; Greenaway và Kneller, 2007) Số lượng các nghiên cứu phân tích tác động cụ thể của các các trạng thái khác nhau trong quá trình XK tới tốc độ tăng trưởng của DN còn khá hạn chế và các kết quả cũng không đạt được sự đồng thuận trong kết quả (Lafuente và cộng sự, 2018) Một số nghiên cứu tìm ra bằng chứng cho thấy DN chuyển từ trạng thái không XK sang XK thì hiệu quả hoạt động kinh

Trang 9

doanh sẽ tăng cao, trong khi chuyển từ là nhà XK sang chỉ bán hàng tại thị trường nội địa dẫn đến kết quả hoạt động kém Tuy nhiên nhiều nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt về tăng trưởng giữa DN mới bắt đầu xuất khẩu và DN đã xuất khẩu ổn định (Lafuente và cộng sự (2018) hoặc cho rằng mức độ ảnh hưởng của trạng thái XK tới tăng trưởng DN là khác nhau giữa các ngành (Ngô Quang Thanh và Nguyễn Thị Cành, 2020)

1.3 Kho ảng trống cho nghiên cứu

Th ứ nhất, về việc đo lường tăng trưởng DN: các nghiên cứu về

tăng trưởng DN chủ yếu sử dụng các thước đo tăng trưởng một cách đơn lẻ Do vậy, việc luận án sử dụng kết hợp cả ba thước đo tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng lao động và tăng trưởng tổng tài sản khẳng định tính vững của kết quả nghiên cứu

Thứ hai, về việc đo lường biến XK: Tổng quan nghiên cứu cho thấy

tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chỉ nghiên cứu tác động của việc XK hay không XK tới tăng trưởng DN Trong Luận án này, tác giả nghiên cứu và đưa vào mô hình cả hai khía cạnh của XK là: DN có

XK hay không XK và trạng thái XK của DN (bao gồm bắt đầu XK,

XK ổn định và ngừng XK)

Thứ ba, về phương pháp nghiên cứu: tổng quan nghiên cứu cho

thấy các nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu sử dụng phương pháp hồi quy truyền thống, vì vậy, vấn đề nội sinh do có sử dụng biến trễ trong các

mô hình chưa được xử lý một cách thận trọng Để khắc phục hiện tượng này, luận án sử dụng phương Phương pháp mô men mở rộng (System Generalized Method of Moments SGMM) hệ thống hai bước nhằm giải quyết vấn đề khuyết tật của mô hình Do vậy, kết quả nghiên

cứu được kỳ vọng sẽ đáng tin cậy hơn

Thứ tư, về phạm vi nghiên cứu Số lượng các nghiên cứu dành

riêng cho DNNVV còn rất hạn chế Hơn thế nữa, công nghiệp hóa là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được xác định là động lực dẫn dắt nền kinh tế tăng trưởng Do vậy, việc luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu tại các DNSXNVV có ý nghĩa thực tiễn rất lớn

Thứ năm, về dữ liệu sử dụng: Các nghiên cứu về DNNVV tại Việt

Nam chủ yếu sử dụng bộ dữ liệu cho các DNNVV được khảo sát bởi Viện nghiên cứu Kinh tế phát triển thế giới trong giai đoạn 2004-2015

Do vậy, việc luận án sử dụng bộ dữ liệu lớn với dữ liệu cập nhật cho

Trang 10

giai đoạn 2014-2019 từ kết quả của Điều tra DN hàng năm của Tổng cục Thống kê được kỳ vọng tìm ra được giải pháp phù hợp hơn cho giai đoạn hiện tại

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƯỞNG DOANH NGHI ỆP VÀ TÁC ĐỘNG CỦA XUẤT KHẨU TỚI TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

S ẢN XUẤT NHỎ VÀ VỪA 2.1 Tổng quan về Doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa

2.1.1 Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa

Khái niệm về DNNVV: Hiện nay, có sự khác biệt đáng kể trong

định nghĩa về DNNVV trên thế giới do sự khác biệt về tình hình phát triển kinh tế và các đặc điểm văn hóa-xã hội tại các quốc gia Trong Luận án này, đối với các năm nghiên cứu từ 2014-2017, tác giả sử dụng tiêu chí xác định DNNVV theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 Theo đó, DNNVV trong lĩnh vực công nghiệp là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa; có quy mô tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng hoặc số lao động bình quân năm không quá 300 người (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) Với dữ liệu từ năm

2018 trở về sau, tác giả sử dụng tiêu chí xác định DNNVV trong Luật

hỗ trợ DNNVV 2018 và Nghị định số 39/2018/NĐ-CP Theo đó, DNNVV bao gồm DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân của năm trước liền kề không quá

200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: a) Tổng nguồn vốn của năm trước liền kề không quá 100 tỷ đồng; b) Doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng

2.1.2 Tổng quan về doanh nghiệp sản xuất

Trong Hệ thống phân ngành quốc tế ISIC 4.0, Liên Hợp Quốc định nghĩa về DN sản xuất như sau: “DN sản xuất là những DN thực hiện các tác động vật lý hoặc hóa học đối với các nguyên vật liệu, các chất, bán thành phẩm để biến đổi chúng thành các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường” (Liên Hợp Quốc, 2008)

2.1.3 Đặc điểm của doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa

Về nguồn vốn, DNSXNVV là các doanh nghiệp có xu hướng

Trang 11

thâm dụng vốn Quá trình sản xuất đòi hỏi phải đầu tư nhà xưởng, nhiều máy móc, thiết bị và hệ thống sản xuất công nghệ phức tạp, do vậy, các doanh nghiệp sản xuất có mức đầu vào tư tài sản cao Về nguồn nhân lực, trình độ lao động tại các DNSXNVV thấp so với mức chung của nền kinh tế và so với các ngành kinh tế khác Về cơ cấu sở hữu và quản lý, hầu hết các DNSXNVV được thành lập và sở hữu bởi những người khởi nghiệp Chủ sở hữu cũng là người khởi xướng chiến lược của DN và là người điều hành DN.Về khách hàng và thị trường, các DNSXNVV thường phụ thuộc vào một số lượng nhỏ khách hàng Các doanh nghiệp này chủ yếu tập trung vào thị trường địa phương hoặc khu vực với một vài thị trường quốc tế

2.2 Cơ sở lý luận về tăng trưởng doanh nghiệp

2.2.1 Khái niệm tăng trưởng và tăng trưởng doanh nghiệp

Theo Từ điển Oxford English, “Tăng trưởng là quá trình mà con người, động vật hoặc thực vật phát triển về thể chất, tinh thần hoặc cảm xúc Tăng trưởng còn là sự gia tăng về kích thước, số lượng hoặc mức độ của một đối tượng”

Về khái niệm tăng trưởng DN, có hai trường phái khác nhau cho rằng (1) tăng trưởng là sự gia tăng về quy mô DN (2) tăng trưởng là một quá trình thay đổi trong nội bộ của DN Trọng phạm vi luận án này, nhằm mục đích đo lường tăng trưởng DN, tác giả sử dụng khái

niệm tăng trưởng DN với hàm ý là sự gia tăng về quy mô DN trong một khoảng thời gian nhất định

2.2.2 Đo lường tăng trưởng doanh nghiệp

2.2.2.1 Lựa chọn chỉ số tăng trưởng

Thứ nhất, chỉ số tăng trưởng doanh thu là chỉ số được các DN quan

tâm hàng đầu bởi kết quả hoạt động về mặt tài chính là thước đo quan trọng đối với mọi DN (Barkham và cộng sự, 2012; Nguyễn Thu Hằng và cộng sự, 2018) Đây là một chỉ số được sử dụng rất phổ biến do số liệu về doanh thu tương đối dễ tiếp cận Hơn nữa, chỉ số này áp dụng cho (gần như) tất cả các loại hình DN (Dahlqvist và cộng sự, 2000)

Thứ hai, chỉ số tăng trưởng lao động: Đây là chỉ số mà các cơ quản

quản lý nhà nước đặc biệt quan tâm Hơn thế, số liệu về người lao động

là số liệu dễ thu thập, ít bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan như

tỷ giá, lạm phát

Thứ ba, chỉ số tăng trưởng tổng tài sản: các học giả đều đồng thuận

khi cho rằng chỉ số này chỉ thích hợp khi đo lường tăng trưởng của các

DN có xu hướng thâm dụng vốn Do vậy, chỉ số tăng trưởng tổng tài sản

Trang 12

chỉ nên được sử dụng cho các DN sản xuất chứ không phù hợp cho các

DN dịch vụ, tài chính (Kimberly, 1976; Delmar, 2006)

Thứ tư, chỉ số tăng trưởng lợi nhuận: Wagner (2012) cho rằng xem

xét tăng trưởng DN trên khía cạnh lợi nhuận là rất quan trọng, tuy nhiên, số liệu về lợi nhuận DN không phải là số liệu dễ tiếp cận hoặc được khai báo một cách trung thực, do vậy, chỉ một số ít các nghiên cứu có thể sử dụng chỉ số này làm thước đo tăng trưởng DN (Vũ Hương

và cộng sự, 2014)

Trong phạm vi luận án tác giả sử dụng ba chỉ số đo lường tăng trưởng DN là: tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng lao động, tăng trưởng tổng tài sản Do các số liệu về lợi nhuận DN bị thiếu nghiêm trọng trong bộ dữ liệu, vì vậy tác giả không sử dụng được thước đo này để đo lường tăng trưởng của DN

án sử dụng cách đo lường tương đối và sử dụng cách lấy logarit của quy mô Tuy nhiên, để tăng sự chặt chẽ, trong các biến kiểm soát, tác giả sẽ vẫn kiểm soát yếu tố quy mô DN

2.3 Cơ sở lý luận về xuất khẩu

2.3.1 Khái niệm xuất khẩu

Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật (Luật thương mại Việt Nam,2005)

Trang 13

lý hầu hết các hoạt động của XK nên đây là cách tiếp cận ít tốn kém nhất và nhanh nhất để thâm nhập vào thị trường quốc tế đối với các công ty nhỏ

2.3.3 Các lợi ích và bất lợi của hoạt động xuất khẩu đối với doanh nghiệp

Các lợi ích của hoạt động XK: Thứ nhất, XK là phương thức thâm

nhập thị trường nước ngoài có mức độ đầu tư ít, rủi ro thấp Thứ hai, XK

có thể giúp DN đạt được hiệu quả kinh tế vùng (location economies), là

sự tiết kiệm phát sinh từ việc thực hiện các hoạt động tạo ra giá trị tại địa điểm tối ưu cho hoạt động đó tại bất kỳ nơi nào trên thế giới Thứ

ba, XK giúp DN đạt được tính kinh tế theo quy mô (economies of scale),

là lợi thế chi phí có được nhờ vào quy mô doanh nghiệp, quy mô sản xuất hay quy mô hoạt động lớn Thứ tư, XK là nguồn gốc giúp tăng năng suất của DN thông qua hiệu ứng học tập

Các bất lợi của hoạt động XK: Thứ nhất, XK từ cơ sở nội địa của

công ty có thể không phù hợp nếu chi phí sản xuất tại nội địa cao hơn chi phí sản xuất ở nước ngoài Thứ hai, chi phí logistics, vận chuyển cao có thể làm cho việc XK trở nên không kinh tế, đặc biệt đối với các hàng hóa có kích thước hoặc khối lượng lớn Thứ ba, hàng rào thuế

quan là một rào cản đối với hoạt động XK Thứ tư, sự phụ thuộc vào

các đại lý tại nước ngoài có thể đem lại nhiều rủi ro

2.3.4 Xuất khẩu đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

XK là một phương thức thâm nhập thị trường nước ngoài đặc biệt quan trọng, hơn 80% các DNNVV sử dụng phương thức này khi quyết định mở rộng thị trường ra nước ngoài do hình thức này đòi hỏi mức độ cam kết về nguồn lực và tài chính tương đối thấp, dễ dàng rút lui nên rủi ro ở mức thấp (Golovko và Valentini, 2011; Deresky và Christopher, 2015)

Tuy nhiên, DNNVV cũng gặp nhiều trở ngại khi XK Thứ nhất, một tỷ lệ lớn DNNVV chưa có đủ nguồn lực tài chính để thực hiện XK do khả năng tiếp cận vốn của DNNVV còn hạn chế Thứ hai, DNNVV thiếu hụt nguồn nhân lực có trình độ và kinh nghiệm cho quá trình XK (Mendy và Rahman, 2019) Thứ ba, trở ngại tiếp theo trong quá trình XK của DNNVV chính là khả năng tiếp cận thông tin Thứ

tư, khả năng liên kết DN và liên kết ngành của DNNVV còn hạn chế gây cản trở cho quá trình mở rộng kinh doanh ra thị trường nước ngoài

2.4 Cơ sở lý thuyết về tác động của xuất khẩu tới tăng trưởng của

Ngày đăng: 23/03/2023, 14:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w