1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài : Công nghệ sản xuất vàng 14k, 18k (vàng trắng, vàng đỏ) phục vụ ngành công nghiệp trang sức việt nam

51 1,5K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề tài : Công nghệ sản xuất vàng 14k, 18k (vàng trắng, vàng đỏ) phục vụ ngành công nghiệp trang sức Việt Nam
Tác giả TS. Phạm Văn Long, KS. Phạm Thị Hải Yến, KS. Phạm Đức Anh
Trường học Trung tâm Nghiên cứu – Kiểm định Đá Quý và Vàng
Chuyên ngành Công nghệ sản xuất vàng trang sức
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo tính toán của các chuyên gia Hội đồng vàng thế giới, Hội Mỹ nghệ Kim hoàn và đá quý Việt Nam thì lượng vàng được đưa vào sản xuất hàng trang sức các loại trong khoảng từ 20-25 tấn/n

Trang 1

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU - KIỂM ĐỊNH

ĐÁ QUÝ VÀ VÀNG

-

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT VÀNG 14K, 18K (VÀNG TRẮNG, VÀNG ĐỎ) PHỤC VỤ NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRANG SỨC VIỆT NAM

8254

Hà Nội, tháng 11 năm 2010

Trang 2

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU – KIỂM ĐỊNH

ĐÁ QUÝ VÀVÀNG

BÁO CÁO ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT VÀNG 14K, 18K ( VÀNG TRẮNG, VÀNG ĐỎ) PHỤC VỤ NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRANG SỨC VIỆT NAM

ĐƠN VỊ CHỦ TRÌ THỰC HIỆN NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN

Trung tâm Nghiên cứu – Kiểm định 1 TS Phạm Văn Long Chủ nhiệm

Đá quý và Vàng 2 KS Phạm Thị Hải Yến

3 KS Phạm Đức Anh

TS Phạm Văn Long

Hà Nội, 2010

Trang 3

1.2.2 Hệ thống kara (K) đối với vàng trang sức 10 1.2.3 Các hợp kim vàng dùng trong trang sức 12

1.2.4 Ảnh hưởng của các tạp chất đến tính chất của các hợp kim

Chương 2 NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT VÀNG 14K VÀ 18K

2.1 Tính chất các hợp kim vàng kara dùng trong trang sức 15

2.1.2 Tính chất của các hợp kim vàng kara 16

2.2 Tính chất các hợp kim vàng trang sức 14K, 18K 19 2.2.1 Tính chất các hợp kim vàng trang sức màu vàng (màu đỏ)

Trang 4

2.3.2 Phương pháp nấu hợp kim vàng trang sức bằng lò cảm ứng 32

2.4 Một số lỗi thường gặp và biện pháp khắc phục 41 2.4.1 Hợp kim có độ xốp lớp ảnh hưởng đến độ bóng của sản

Trang 5

MỞ ĐẦU

Với sự phát triển ngày càng nhanh của nền kinh tế, thu nhập đầu người ngày càng cao thì nhu cầu sử dụng trang sức của người dân Việt Nam ngày càng tăng lên Tính trung bình mỗi năm Việt Nam nhập khẩu khoảng 50-70 tấn vàng, cùng với lượng vàng khai thác được trong nước và lượng vàng dự trữ trong dân thì lượng vàng tham gia giao dịch, chuyển đổi trên thị trường lên đến hơn 100 tấn mỗi năm Theo tính toán của các chuyên gia Hội đồng vàng thế giới, Hội Mỹ nghệ Kim hoàn và đá quý Việt Nam thì lượng vàng được đưa vào sản xuất hàng trang sức các loại trong khoảng từ 20-25 tấn/năm

Ở nhiều quốc gia trên thế giới có ngành công nghiệp trang sức phát triển, việc sản xuất hàng trang sức phải tuân theo những quy trình nhất định để đảm bảo chất lượng của sản phẩm làm ra Tại Italia ngoài nhu cầu sản xuất hàng trang sức trong nước thì vàng Italia (18K) được ưa chuộng khắp thế giới về độ bền, độ bóng, độ bền màu cao, giá bán của các loại vàng này thường cao xấp xỉ với vàng 9999

Tại Việt Nam, các doanh nghiệp, các Công ty tư nhân hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực hàng trang sức thường tự tổ chức các xưởng chế tác hàng trang sức với quy mô nhỏ và theo công nghệ cổ điển (thủ công) Kết quả là các sản phẩm làm ra thường có chất lượng thấp (tuổi vàng không ổn định và không đồng đều trên một sản phẩm, độ bóng kém, độ xốp lớn và thường bị mất màu theo thời gian,…) Bên cạnh đó, một số tư nhân, Công ty còn cố tình hạ thấp tuổi vàng, từ đó làm tổn hại đến lợi ích của khách hàng sử dụng

Xuất phát từ những nhu cầu thực tế nêu trên, Trung tâm Nghiên cứu Kiểm định Đá quý và Vàng đã đề xuất Đề tài nghiên cứu khoa học ”Nghiên cứu sản xuất vàng 14K, 18K (vàng trắng, vàng đỏ) phục vụ ngành công nghiệp trang sức Việt Nam“ và được Bộ Công Thương đồng ý cho thực hiện trong năm 2010 tại Quyết định số 6228/QĐ-BCT, ngày 10 tháng 12 năm 2009 Với mục đích xây dựng được một quy trình có tính thống nhất, làm

cơ sở áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng trang sức và tiến tới xây dựng được một bộ TCVN cho lĩnh vực này trong tương lai

Trong quá trình thực hiện đề tài, các tác giả luôn nhận được sự hỗ trợ của Lãnh đạo Công ty CP Đá quý và Vàng Hà Nội, lãnh đạo Vụ Khoa học Công nghệ (Bộ Công Thương), sự hợp tác có hiệu quả của các đơn vị liên quan gồm Trường Đại học Bách khoa

Hà Nội, Viện Vật lý (Viện Khoa học và Công nghệ Quốc gia), Trường Đại học Khoa học

Tự nhiên, Công ty CP Mỹ nghệ vàng bạc đá quý Hà Nội, Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI, và nhiều tập thể, cá nhân các nhà khoa học trong ngành Nhân dịp này các tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành của mình

Trang 6

Vàng tinh khiết mềm, độ cứng đạt 2,5, chịu mài mòn kém Để làm trang sức, thường vàng phải được kết hợp với Ag hay Cu

Hàm lượng vàng trong vỏ Trái đất = 4,7.10-7%, trong nước biển = 5.10-7%

Vàng có hoạt tính hoá học kém, có tính ỳ, tính trơ cao Vàng không bị oxy hoá trong không khí Để lâu trong không khí thì trên bề mặt của vàng chỉ có một lớp rất mỏng oxy hấp thụ, không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng của vàng Vàng không hoà tan trong môi trường kiềm, axit (vô cơ và hữu cơ) Tuy vậy, vàng có thể hoà tan trong hỗn hợp axit clohydric và axit nitric, axit sulfuric và axit nitric Vàng cũng hoà tan trong dung dịch xyanua (K, Ca) khi có oxy hay các chất oxy hoá Người ta thường trích ly chế tác vàng từ quặng theo phương pháp xyanua

1.1.2 Hợp kim vàng

Hợp kim vàng-bạc

Vàng và bạc là hai kim loại có cùng cấu trúc tinh thể, có nhiều tính chất lí-hoá giống nhau, do đó dễ hoà hợp với nhau thành hợp kim vàng-bạc Màu sắc của hợp kim vàng-bạc phụ thuộc vào tỷ lệ bạc, càng nhiều bạc thì màu của hợp kim càng nhạt, từ vàng nhạt đến trắng Đặc điểm của hợp kim vàng-bạc là độ bền cao nhưng vẫn dễ gia công chế biến làm

đồ trang sức

Trang 7

Hợp kim vàng-thuỷ ngân

Hợp kim vàng-thuỷ ngân được dùng để luyện vàng bằng phương pháp hỗn hống thuỷ ngân với ba hợp chất AuHg2, Au2Hg, Au3Hg

Ngoài ra vàng còn có thể chế tạo được với với các kim loại khác như kẽm, antimon, telua.v.v…, được sử dụng trong ngành luyện kim

Trong ngành trang sức ngoài vàng tinh khiết (99,99%), người ta còn dùng hợp kim vàng với bạc, đồng, bạch kim làm cho vàng trang sức có nhiều màu sắc khác nhau và độ cứng cao, phù hợp với thị hiếu của khách hàng

Vàng đỏ là vàng có pha thêm đồng, vàng hồng là có pha thêm đồng và bạc, vàng xanh lục là vàng có chứa 25% bạc Vàng trắng là vàng có chứa các kim loại bạc, nickel, đồng, paladin

Tiền vàng

Những đồng tiền vàng đầu tiên đã xuất hiện khoảng trên 2.500 năm trước đây Lybia

là nước đầu tiên đúc tiền vàng Đây là 1 quốc gia ở phía tây Tiểu Á Tiền vàng có khắc hình con cáo đang chạy - biểu tượng vị thần Basarea của xứ Lydia Sau đó nước Ba Tư, rồi Pháp cũng đúc tiền vàng Nước Nga ngay từ đầu thế kỷ 17 đã đúc tiền vàng mệnh giá

5 và 10 copech, sau đó Nữ hoàng E.Petrona cho đúc tiền vàng 10 rup

Vàng trong ngành điện tử

Trang 8

Ngành điện tử rất cần kim loại vàng Nếu như trong những năm 70 của thế kỷ XX hàng năm cần 90 tấn vàng trong các ngành điện tử kỹ thuật, thì những năm 90 nhu cầu hàng năm tăng lên 200 tấn vàng Trong ngành hàng không, đặc biệt là trong công cuộc chinh phục vũ trụ, vàng được sử dụng trong sản xuất vệ tinh nhân tạo Con tàu vũ trụ của

Mỹ Columbia đã ngốn gần 41 kg vàng Càng ngày các phòng thí nghiệm, các ngành kỹ thuật càng cần dùng nhiều vàng

Huân huy chương vàng

Trong thi đua khen thưởng, trong các cuộc thi tài chiếm lĩnh các kỷ lục quốc gia và quốc tế về thể dục thể thao.v.v… người ta cũng sử dụng vàng để đúc các huân huy chương

Vàng trong y học

Từ thượng cổ người ta đã dùng vàng làm răng giả Tại Ai Cập người ta tìm thấy một xác ướp trong miệng có 3 chiếc răng được gia cố bằng sợi dây vàng Tuổi của chúng được xác định là hơn 4.500 năm Nghề làm răng vàng đã tồn tại và từng phát triển ở các thế kỷ trước Năm 1997 bình quân đầu người trên thế giới dùng 0,013 g vàng trong ngành Y, chủ yếu là Nha khoa Nhưng tỷ lệ này ngày càng giảm vì người ta đã tìm được vật liệu khác thay thế vàng trong Nha khoa

Thần tượng vàng

Ngay từ thời xa xưa khi tìm ra vàng, người ta đã tôn sùng vàng Xác ướp của vị Faraon trẻ tuổi ở Ai Cập – Ngài Tutamkhamen đã được yên nghỉ trong chiếc quan tài bằng vàng nặng 110 kg Ở Xứ Assyria, Nữ hoàng Semiramit đã cho đúc những bức tượng vàng nguyên chất Bức tượng nữ thần Rea nặng tới 250 tấn vàng

Hiện tại xứ sở Myanmar, một quốc gia nhiều vàng bạc châu báu đã có rất nhiều chùa chiền được đắp bằng vàng trong đó chùa vàng ở Rangun là nổi tiếng nhất Bangkok, thủ

đô của Thái Lan, có bức tượng Phật bằng vàng nguyên chất nặng đến 5,5 tấn

Vàng là của cải dự trữ

Hiện tại hầu hết các ngân hàng trung ương khắp thế giới đều có dự trữ vàng, đặc biệt

là ở Mỹ, Đức, Thuỵ Sĩ, Pháp, Italia, Nhật, Anh, Ấn Độ, Trung Quốc, Nga v.v…

Mỹ là nước có số vàng dự trữ trong kho rất lớn, tới hàng nghìn tấn Ngoài ra Mỹ còn nhận lưu giữ vàng cho nhiều quốc gia khác để bảo đảm cho đồng tiền lưu hành có giá trị

1.2 CÁC HỢP KIM VÀNG DÙNG TRONG TRANG SỨC

Vàng tinh khiết (24 kara) có mầu vàng sẫm (mầu vàng sắc da cam), mềm và dễ dát mỏng Các hợp kim của vàng có hàm lượng vàng dao động từ 8 đến 22 kara (33,3 –

Trang 9

nhạt, vàng, vàng sẫm, hồng và đỏ Ngoài ra còn có vàng trắng hoặc vàng có màu lạ như

“vàng mầu tía” Tất cả các loại vàng trên đều có các tính chất cơ lý khác nhau như độ bền,

độ cứng và khả năng kéo dát, một số hợp kim vàng còn có thể tôi nhiệt (xử lý nhiệt) để tăng tối đa sức bền và độ cứng

Vậy mầu của vàng thay đổi như thế nào và vì sao các hợp kim khác nhau của vàng (hợp kim là hỗn hợp của 2 hoặc 3 kim loại tinh khiết) lại có các tính chất cơ lý và các tính chất khác không giống nhau?

1.2.1 Độ tinh khiết của vàng (tuổi vàng)

Vàng tinh khiết được sử dụng trong đầu tư nhiều hơn là trong trang sức do nó rất

dễ bị trầy xước Chính vì vậy nó thường được trộn lẫn, hay còn gọi là hợp kim hóa, với các kim loại khác Bằng cách này không chỉ độ cứng của vàng tăng lên mà mầu sắc của

nó cũng thay đổi; mầu trắng của vàng có thể tạo ra bằng cách cho nó hợp kim với bạc, nickel hoặc paladi, trong khi mầu đỏ chủ yếu là do đồng Để làm cho hợp kim cứng hơn

ta có thể thêm nickel hoặc một lượng nhỏ titan

Hợp kim được sử dụng nhiều nhất ở châu Âu trong trang sức là vàng 18 và 14K, mặc dù vàng 9K cũng được ưa chuộng ở Anh Riêng Bồ Đào Nha lại có một hợp kim vàng tuổi 19,2K Còn ở Mỹ thì vàng 14K là phổ biến nhất, tiếp đó mới là vàng 10K Ỏ Trung Đông, Ấn Độ và Đông Nam Á thì truyền thống sử dụng là vàng 22K (đôi khi thậm chí là 23K) Ỏ Trung Quốc, Hồng Kông và một số khu vực thuộc châu Á khác thì đồ trang sức vàng tinh khiết tuổi 990 (gần như là 24K) là phổ biến hơn cả

Ở nhiều nước luật pháp quy định là mỗi sản phẩm trang sức vàng đều phải được đóng nhãn tuổi vàng rõ ràng Việc này được quản lý qua hệ thống xác nhận tiêu chuẩn vàng bạc – một hệ thống bắt nguồn từ Phòng Vàng bạc có từ thế kỷ 14 ở Luân Đôn Ngày nay việc đóng nhãn tuổi vàng là yêu cầu bắt buộc trong các nước như Anh, Pháp, Hà Lan,

Ma Rốc, Ai Cập và Bahrain Nhưng ngay cả khi không bắt buộc đóng nhãn tuổi vàng thì nhà sản xuất cũng vẫn thường đóng trên sản phẩm của mình không chi ký hiệu nhận dạng riêng của mình mà còn cả “tuổi” hay độ tinh khiết của vàng

Theo ISO và Tiêu chuẩn của CIBJO, độ tinh khiết là hàm lượng của vàng được tính bằng số phần trong một nghìn đơn vị trọng lượng của hợp kim vàng

Tiêu chuẩn độ tinh khiết (hay tuổi vàng) là hàm lượng tối thiểu của vàng trong hợp kim vàng tính theo số phần trong một nghìn đơn vị trọng lượng của hợp kim vàng

Bảng 1.1 cung cấp số liệu về tuổi và hàm lượng vàng tương ứng theo đơn vị độ tinh khiết của vàng theo chuẩn quốc tế (đơn vị phần nghìn) và đơn vị phầm trăm Tuy vậy đây không phải bao giờ cũng chính xác như một giá trị toán học Chẳng hạn, nếu vàng

Trang 10

22K thì về mặt toán học sẽ = 22/24 x 100 = 91,666%, nhưng tiêu chuẩn quốc tế lại lấy là 91,60%

Bảng 1.1 Tiêu chuẩn quốc tế về tuổi vàng theo hàm lượng của vàng

Cara / Kara Độ tinh khiết

1.2.2 Hệ thống kara (K) đối với trang sức vàng

Trang sức vàng thường được mô tả bằng tuổi cara (kara) – là chỉ số hàm lượng vàng trong đó, ví dụ như vàng 18 cara hoặc 18K Hàm lượng của vàng còn có thể mô tả bằng thuật ngữ “độ tinh khiết” (fineness) – là hàm lượng của vàng tính theo đơn vị phần nghìn Ví dụ, vàng 750 là vàng 18K hoặc chứa 75,0% vàng

Vàng tinh khiết là vàng 24 cara (kara), như vậy 24 cara vàng về mặt lý thuyết là 100% vàng Bất kỳ một giá trị cara nào thấp hơn 24 đều là giá trị đo lượng vàng có trong hợp kim vàng trang sức Chẳng hạn, 18 K là 18/24 phần của 100% vàng = 75,0% vàng Theo đơn vị độ tinh khiết thì là vàng 750, tức là có 750 phần là vàng trong 1000 phần

Nhiều nước chỉ cho sử dụng một số tuổi vàng nhất định trong sản xuất trang sức để bán Chẳng hạn ở Anh quốc người ta có thể sản xuất và bán vàng trang sức 9, 14, 18 và 22K, nhưng không có vàng 12K vì vàng 12K không được thừa nhận là tiêu chuẩn theo

Trang 11

quy định của pháp luật Ở một vài nước trang sức có tuổi dưới 12K (50% vàng hoặc vàng 500) không được coi là vàng Ngoài yếu tố giá cả thì việc làm trang sức từ vàng thấp tuổi hơn 24K còn có lợi thế khác là có thể tạo ra vàng trang sức có nhiều mầu khác nhau, từ mầu lục, vàng nhạt, vàng, hồng đến đỏ, cũng như vàng trắng, tùy thuộc vào các kim loại được sử dụng làm hợp kim với vàng Vàng càng thấp tuổi thì mầu sắc tạo ra càng phong phú Thêm nữa, những tính chất như độ bền và độ cứng lại được cải thiện đáng kể so với vàng tinh khiết, nhờ đó mà khả năng chống mài mòn và chống xước cũng tăng, ít bị biến dạng hay hỏng hóc

Tuổi của vàng trang sức theo quy định của luật pháp cũng thay đổi từ nước này đến nước khác (bảng 1.2) Chẳng hạn như ở Anh các tuổi sau đây được phép sử dụng: 9 (375),

14 (585), 18 (750), 22 (916) và 24 (990 và 999) Nhiều nước luật cho phép sử dụng nhiều tuổi vàng khác nhau, nhưng trên thực tế thì chỉ có một số ít là phổ biến Tuổi vàng phổ biến cũng thay đổi như trong bảng sau:

Bảng 1.2 Tuổi vàng trang sức điển hình

Viễn đông (Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan) 24 cara “Chuk Kam”

(tối thiểu 99,0%)

Ấn Độ và các nước trong Tiểu lục địa Ấn Độ 22 cara (91,6%)

Trang 12

1.2.3 Các hợp kim vàng dùng trong trang sức

- Hợp kim vàng - bạc (Au - Ag)

Đối với hệ hai nguyên tố Au – Ag chúng có những đặc điểm sau:

0/000 Ag: Đây là nói tới vàng tinh khiết Nhiệt độ 1.063oC tương ứng với nhiệt độ nóng chảy và đông đặc của vàng tinh khiết

900/000Au (100/000Ag): Tại hợp kim này, khi chuyển từ trạng thái lỏng sang trạng thái rắn tồn tại một khoảng nhiệt độ biến đổi pha Đông đặc ở nhiệt độ 1.058oC và kết thúc ở nhiệt độ 1.048oC Trong khoảng nhiệt độ 1.058 – 1048oC, kim loại tồn tại ở dạng sệt (tương đối giống như quá trình đông đặc nước thành băng trong tủ lạnh) Khoảng nhiệt độ như trên hầu hết các hợp kim đều có

500/000Au (500/000Ag): Lượng hai kim loại như nhau, khoảng nhiệt độ là 1020 –

1000oC ở đây là rộng nhất

0/000Au(1000/000Ag) Bạc tinh khiết, nhiệt độ nóng chảy và đông đặc 960oC

Mầu của hợp kim chuyển từ màu vàng sang trắng khí hàm lượng bạc tăng lên Hợp kim 600/000 – 700/000 Au có màu vàng ánh xanh đẹp Nhưng do các tính chất cơ học kém nên chúng ít được sử dụng trong thực tế, thường phải bổ sung thêm những thành phần hợp kim khác

Hợp kim dưới 523/000Au dễ bị phá huỷ dưới tác động của các loại a xit Hợp kim khi có hàm lượng vàng cao hơn ít bị axit nitric hoà tan Hợp kim với 750/000Au trở lên chỉ có thể hoà tan trong cường thuỷ Giới hạn bền cuối cùng của hợp kim Au – Ag trong các a xit là 377/000Au

- Hợp kim vàng - đồng (Au – Cu)

Hai kim loại kết hợp với nhau tạo thành một loạt dung dịch rắn Đường nóng chảy bắt đầu từ 1.063oC và kết thúc ở 1.083oC Ở thành phần 820/000Au nhiệt độ nóng chảy thấp nhất (889oC ) Ở nhiệt độ 400oC tạo thành các liên kết AuCu và AuCu3 và thay đổi cấu trúc tinh thể

Dưới tác động của các axit mạnh, hợp kim với hàm lượng vàng thấp hơn 650/000Au bị phá huỷ Tất cả các hợp kim Au - Cu hoà tan trong cường thuỷ Một nhược điểm của các hợp kim trên là độ bền trong không khí kém Hợp kim với hàm lượng thấp hơn 508/000 Au bị xám trong không khí do tạo thành các hợp chất sunfua

- Hợp kim vàng - bạc - đồng (Au - Ag - Cu)

Vàng, bạc, đồng có thể có pha với nhau bất kỳ nồng độ nào để tạo thành những hợp kim có mầu sắc khác nhau, với độ cứng, độ bền và độ dẻo khác nhau Đây là những nguyên tố chính mà khi phối hợp với nhau tạo thành những hợp kim cho các đồ trang sức

Trang 13

và mỹ nghệ Dưới đây, chúng ta nghiên cứu những tính chất của hai hợp kim đại diện phổ biến nhất trong thực tế sản xuất hàng trang sức ở Việt Nam:

1.2.4 Ảnh hưởng của các tạp chất đến tính chất của các hợp kim vàng

Kẽm (Zn): Khi đúc chỉ cần bổ xung khoảng vài phần % Zn là sẽ làm tăng khả năng

khử ô xy và tăng độ chảy lỏng cuả hợp kim Do thêm Zn mà hợp kim có ánh đỏ trở thành màu vàng Khi cho một phần nhỏ Zn, các hợp kim 333/000 sẽ có khả năng chống S2 và những liên kết sunfua, nhưng khi đó chúng sẽ tăng khả năng kết hợp với amoniac và làm cho mầu bị xám đi

Cadimi (Cd): Au trong trạng thái rắn có thể hoà tan đến 20% Cd, còn Ag thì đến

hơn 30%, vì thế độ hoà tan của Cd trong Cu không còn ý nghĩa Nhờ có Cd mà các hợp kim Au - Ag sẽ có màu xanh đẹp hơn Cd và Zn là những thành phần quan trọng nhất để chế các loại vảy hàn hợp kim kim loại quý

Thiếc (Sn): Các hợp kim 3 nguyên có thể hoà tan đến 4% Sn mà không ảnh hưởng

đến các tính chất của mình Trong các vẩy hàn do có Pb nên Sn kết hợp với nó, gây nên tính giòn cho các hợp kim Nếu hàm lượng Sn cao hơn 4% sẽ tạo thành những lớp ô xít

Sn mà khi đông đặc sẽ tập trung ở các bề mặt tiếp xúc, gây cho hợp kim tính giòn

Trang 14

Chì (Pb): Chỉ một vài chục phần của 1% Pb cũng đã đủ để tạo thành những liên

kết giòn dạng Au2Pb, nóng chảy ở nhiệt độ 418oC và phân bổ ở những bề mặt tiếp xúc

Nhôm (Al): Khi cho thêm hàm lượng Al không lớn thì độ dẻo của hợp kim sẽ tăng

lên Nhưng khi hàm lượng nhôm cao thì sẽ tạo thành những liên kết dạng AuAl, là hợp chất có màu tím và giòn, còn có tên gọi là “vàng tím”, khi nấu lại sẽ tạo thành Al2O3 và hợp kim sẽ không còn khả năng gia công

Sắt (Fe): Do nhiệt độ nóng chảy của Fe cao và dễ bị ô xy hoá, những phần tử Fe

hoặc thép khi rơi vào hợp kim sẽ không tan và sẽ là những tạp chất có hại

Nickel (Ni): Ni dễ hoà tan trong Cu nhưng không tan trong Ag Chỉ cần 13,5% Ni

cũng đã đủ chuyển hợp kim sang màu trắng, người ta thường cho Ni vào trong hợp kim 585/000 để có những hợp kim vàng trắng rẻ tiền

Trang 15

đỏ Thêm mầu trắng vào mầu vàng sẽ làm cho mầu vàng nhạt hơn và dần trở thành mầu trắng Nguyên lý trộn mầu này cũng giải thích việc tạo ra các mầu khác nhau của vàng kara Thêm đồng vào vàng sẽ làm cho nó đỏ hơn, và thêm bạc, kẽm hoặc bất kỳ kim loại nào khác sẽ làm cho vàng nhạt hơn Như vậy ta có thể hiểu là vàng kara thấp tuổi (có nhiều thành phần kim loại hợp kim khác) sẽ có dải mầu sắc rộng hơn vàng cao tuổi

Chẳng hạn đối với vàng 22 kara (91,6% vàng) thì, ta chỉ có thể cho thêm tối đa là 8,4% các kim loại hợp kim khác, vì vậy chỉ có thể có mầu vàng đến mầu vàng sắc hồng Với vàng 18 kara (75,0% vàng) và thấp hơn thì ta có thể cho thêm đến 25% hoặc hơn các kim loại hợp kim, vì vậy mầu có thể dao động từ mầu lục, vàng cho đến mầu đỏ, tùy thuộc vào tỷ lệ Cu/(Ag+Zn) Như vậy là ứng với mỗi tuổi vàng nhất định ta vẫn có thể thay đổi mầu sắc của vàng kara bằng cách thay đổi tỷ lệ Cu/(Ag+Zn) như trong bảng bảng 2.1 dưới đây:

Bảng 2.1 Mầu sắc của vàng trang sức

Loại Vàng (% trọng lượng) Bạc (%tl) Đồng (%tl) Mầu sắc

Trang 16

2.1.2 Tính chất của các hợp kim vàng kara

Các chất tạo hợp kim sẽ ảnh hưởng đến các tính chất vật lý của vàng kara như trong bảng 2.2:

Bảng 2.2 Tính chất vật lý của những hợp kim vàng kara điển hình

Thành phần %

K

Tỷ trọng (g/cm 3 )

Trang 17

Ngoài các tính chất vật lý thay đổi, các chất phụ gia tạo hợp kim nói chung còn làm cho độ bền và độ cứng của hợp kim tăng lên, còn tính dễ kéo dát thì có giảm đi đôi chút Nguyên tử bạc có bán kính hơi lớn hơn vàng, vì vậy cho vàng pha với bạc sẽ làm tăng độ bền và độ cứng của hợp kim lên một mức độ nhất định Nguyên tử đồng thì lại nhỏ hơn vàng đáng kể, vì vậy nó ảnh hưởng đến độ bền nhiều hơn so với bạc do nó làm sai lệch ô mạng tinh thể của vàng nhiều hơn Như vậy là nếu ta giảm tuổi vàng từ 24K xuống 22K, rồi 21K và 18K thì hợp kim của vàng sẽ ngày một bền và cứng hơn (bảng 2.3

và 2.4) Từ 18K xuống đến 10, 9, 8 K thì lại không có sự thay đổi đáng kể nào

Bảng 2.3 Tính chất cơ lý của các hợp kim vàng điển hình

Thành phần (% tl) Kara

Độ cứng (HV)

Độ bền kéo căng (N/mm 2 )

Trang 18

Bảng 2.5 Tác dụng của tốc độ làm nguội lên vàng 18K sau khi tôi ở 650°C

Tiếp đó, một kiểu xử lý nhiệt đặc biệt (cho già hóa) ở nhiệt độ thấp (thường 3-4h ở

280 -300°C) có thể được sử dụng để làm tăng đáng kể độ cứng của các hợp kim đã được

Trang 19

tôi và nhúng nước này Kiểu xử lý này có tên gọi là “cứng hóa do được làm già” Trong vàng đỏ 18K độ cứng có thể được tăng lên đến 2 lần như trong bảng 2.6

Bảng 2.6 Hiệu ứng xử lý nhiệt đối với vàng 18K

Bảng 2.7 Nhiệt độ tôi điển hình của vàng trang sức

2.2 TÍNH CHẤT CÁC HỢP KIM VÀNG TRANG SỨC 14K, 18K

2.2.1 Tính chất các hợp kim vàng trang sức màu vàng (màu đỏ) 14K và 18K

Gọi mầu đỏ là cách gọi truyền thống, trên thực tế các hợp kim này đa phần là có mầu vàng với độ đậm nhạt khác nhau

Để tạo ra vàng đỏ (vàng) tuổi 14K và 18K ta có thể pha các kim loại nguyên chất theo tỷ lệ như trong bảng 2.8

Trang 20

Bảng 2.8 Các hợp kim vàng mầu vàng 14K và 18K được sử dụng trong trang sức

K Vàng

(phần nghìn)

Bạc (phần nghìn)

Đồng (phần nghìn)

Kẽm (phần nghìn)

Tỷ trọng,g/cm3

15,6 15,7

Đỏ (5N) Vàng (3N) Hồng (4N) Vàng nhạt (2N) Vàng nhạt (1N)

5N 4N 4N 3N

2N 2N 1N

* Mầu sắc theo phân loại của Tiêu chuẩn ISO 8654

Như có thể thấy từ bảng trên, tất cả các hợp kim vàng đều dựa trên hệ Au-Ag-Cu Với các tỷ lệ khác nhau của những kim loại này ta có thể tạo ra đến 5 loại vàng đỏ 14K và đến 9 loại vàng đỏ 18K Chúng đều có cùng tuổi, tuy vậy các tính chất vật lý (độ cứng, tỷ trọng,…) và đặc tính kỹ thuật (độ kéo dát, nhiệt độ nóng chảy,…) lại khác nhau

Hầu hết hợp kim 14K còn có thêm kẽm (Zn) Khoảng 50% hợp kim vàng 18K cũng có thêm một lượng kẽm nhỏ Những hợp kim vàng cao tuổi thường ít khi có thêm kẽm Ảnh hưởng của việc cho thêm kẽm lên các tính chất của hợp kim vàng sẽ được đề cập ở phần sau

Ngoài những nguyên tố hợp kim “truyền thống” trên thì, gần đây, người ta còn cho thêm một lượng nhỏ các nguyên tố khác nữa với mục đích, chẳng hạn để làm các hạt mịn hơn người ta cho thêm iridi (Ir); để loại trừ hiện tượng oxi hóa người ta cho thêm silic (Si)

và bo (B)

Tỷ trọng của hợp kim vàng mầu vàng 14 và 18K phụ thuộc nhiều vào tỷ lệ Ag/Cu (với hàm lượng vàng không thay đổi, hình 2.1 và 2.2) Lượng kẽm thêm vào sẽ ảnh hưởng đến tỷ trọng của hợp kim, đặc biệt là đối với hợp kim 14K với Zn thường hay được cho thêm

Trang 21

Hình 2.1 Tỷ trọng của hợp kim vàng

14K mầu vàng là hàm số của hàm lượng

bạc

Hình 2.2 Tỷ trọng của hợp kim vàng 18K mầu vàng là hàm số của hàm lượng

bạc

Tỷ trọng của hợp kim vàng 21K (875) nằm trong khoảng 16,7-16,8g/cm3; đối với hợp kim vàng 22K (917) giá trị tỷ trọng nằm trong khoảng 17,8-17,9 g/cm3 Sự dao động trong tỷ số Ag/Cu rất hạn chế và ít ảnh hưởng đến tỷ trọng

Khoảng cứng hóa của hợp kim vàng mầu vàng phụ thuộc vào thành phần của hợp kim hơn là phương thức kết hợp Về nguyên lý ta có thể đọc được điều đó từ giản đồ pha

2 cấu tử Tuy nhiên, với mục đích ứng dụng thực tiễn thì những giản đồ phản ánh khoảng nóng chảy của những hợp kim vàng 14 và 18K quan trọng nhất như là hàm số của hàm lượng Ag là có ý nghĩa hơn cả (hình 2.3 và 2.4)

Đối với hợp kim vàng 18K thì việc tăng hàm lượng bạc chủ yếu ảnh hưởng đến nhiệt độ hóa lỏng (cũng tăng lên) hơn là ảnh hưởng đến nhiệt độ cứng hóa Đối với hợp kim vàng 14K thì nhiệt độ hóa lỏng sẽ tăng ở một mức giới hạn nào đó cùng với việc tăng hàm lượng bạc, nhưng nhiệt độ cứng hóa thì lại giảm đáng kể Vì vậy, khoảng cứng hóa

tự nó đã tăng lên khi hàm lượng bạc cao hơn đối với cả hợp kim 14 và 18K Hậu quả của việc mở rộng dải cứng hóa này là mức độ phân tách vi mô tăng lên và cấu trúc dạng cành cây rõ rệt hơn

Tỷ trọng

(g/cm 3 )

Ag (‰)

Tỷ trọng (g/cm 3 )

Ag (‰)

Trang 22

Hình 2.3 Ảnh hưởng của hàm lượng bạc đến

khoảng hóa cứng của hợp kim vàng 14K

Hình 2.4 Khoảng hóa cứng của hợp kim vàng như là hàm số của hàm lượng bạc

Hành vi cứng hóa của hợp kim trong quá trình đúc không chỉ chịu tác động của khoảng nhiệt độ hóa cứng mà còn bởi lượng nhiệt mà dung thể (chất nóng chảy) đưa vào khuôn đúc Nhiệt lượng hóa cứng của vàng là thấp nhất và của đồng là cao nhất, còn bạc thì nằm giữa Vì thế, những hợp kim chứa nhiều bạc và đồng hơn sẽ tỏa nhiệt nhiều hơn khi hóa cứng liên quan với khối lượng

Việc giảm đột ngột thể tích do hóa cứng là nguyên nhân gây ra hiện tượng rỗ trong quá trình đúc vàng trang sức Bảng 2.9 là số liệu tính toán về độ rỗ xốp do hiện tượng co rút thể tích khi hóa cứng của một số kim loại tinh khiết và một hợp kim vàng điển hình Bảng 2.9 Độ co rút khi hóa cứng

Kim loại Độ co rút khi hóa cứng

Độ xốp rỗng tổng thể trong một quy trình đúc hoàn thành sẽ nhỏ hơn những giá trị trên vì sự co rút đã được bù trừ ở mức độ nào đó bới dung thể bổ sung thêm qua rãnh rót và hệ thống cửa Tuy vậy, tại một

số khu vực then chốt nào đó độ rỗng có thể tập trung và vượt quá giá trị trung bình

Sức căng giữa 2 bề mặt của chất nóng chảy (dung thể) và bột đúc là một yếu tố mang tính quyết định ảnh hưởng đến việc lấp kín khuôn hình, đến sự tái tạo những chi tiết tinh tế của bề mặt và đến độ thô ráp của bề mặt

Hợp kim vàng mầu vàng trên nền Au-Ag-Cu có sức căng giữa 2 bề mặt là tương đối cao nếu ta có thể tránh được sự hình thành các chất ôxit (tức là nếu việc đúc vàng diễn

ra trong môi trường không có oxy, nghĩa là đúc trong môi trường chân không hoặc môi

Ag (‰)

Ag (‰)

Trang 23

trường khử) Tuy vậy, việc hình thành oxit đồng lại làm giảm sức căng giữa 2 bề mặt xuống đáng kể

Giá trị sức căng tương đối thấp khi sử dụng khí argon chứng tỏ oxi có thể không được hút ra hoàn toàn trước khi rót kín buồng đúc bằng khí argon

Sức căng giữa bề mặt mà cao thì sẽ tạo ra cấu trúc bề mặt thô ráp khá đặc trưng, nhất là đối với các sản phẩm có thành tương đối dầy Nguyên nhân là do hiện tượng cứng hóa dạng cành cây và hiện tượng co rút Lúc này vi kiến trúc có dạng cành cây rất rõ rệt Trong quá trình hóa cứng thì trước hết sẽ hình thành bộ khung của cành cây Vào cuối quá trình hóa cứng thì sự co rút sẽ hút hết chất nóng chảy giữa các cành cây khỏi bề mặt

và để lại địa hình dạng cành cây Nếu sức căng giữa bề mặt là thấp thì thành của buồng đốt sẽ bị ướt và bề mặt nhẵn của nó sẽ được tái tạo nếu không có sự phân hủy của buồng đốt

Có thể làm giảm sức căng giữa bề mặt một cách đơn giản bằng cách đúc trong không khí Tuy vậy, chất lượng bề mặt sẽ không thể cải thiện được Ích lợi thu được từ sức căng bề mặt thấp lại bi bù trừ bởi ảnh hưởng tiêu cực của hiện tượng oxi hóa và sự đóng cặn Cách tiếp cận hiệu quả là thay đổi thành phần của hợp kim một cách hợp lý

Bảng 2.10 cho ta giá trị gần đúng về độ cứng của hợp kim vàng mầu vàng có độ tinh khiết khác nhau ở trạng thái vừa đúc xong

Bảng 2.10 Độ cứng điển hình của hợp kim Au-Ag-Cu khi vừa đúc xong

Ảnh hưởng rõ rệt của tỷ lệ Ag/Cu đến độ cứng của hợp kim vàng 18K thể hiện trên hình 2.5

Trang 24

Hình 2.5 Độ cứng của hợp kim vàng 18K mầu vàng là hàm số của giá trị hàm lượng bạc

Vàng hợp kim 18K ở đây có độ cứng có thể thay đổi từ cao (và giòn) đến khá thấp (mềm và dẻo) Nguyên nhân chủ yếu của sự tăng độ cứng cùng với hàm lượng Cu tăng là

do hiệu ứng độ cứng tăng do già hóa (trật tự hóa) như đã dề cập ở trên Những hợp kim giầu đồng có thể tạo thành trạng thái có trật tự rất nhanh, đồng thời độ cứng cũng sẽ tăng lên đáng kể cùng với độ dẻo giảm đi Những hợp kim mầu vàng giầu bạc thì trước hết sẽ trải qua quá trình tách thành các pha giầu đồng và giầu bạc, sau đó mới là hiện tượng cứng hóa do già đi Tuy vậy, lượng pha hóa cứng sẽ nhỏ hơn Quá trình cứng hóa ít rõ rệt hơn và vật liệu đúc vẫn ở trạng thái mềm và dẻo

Hiện tượng hóa giòn của hợp kim vàng giầu đồng mầu hồng và mầu đỏ thường gây

ra sự nứt vỡ, đặc biệt khi các sản phẩm sau đó bị biến dạng, chẳng hạn như để mở rộng ra hoặc khi đóng mác Hình 3.6 là một phần thân nhẫn vàng mầu đỏ bị vỡ Về mặt lý thuyết

ta có thể tránh được hiện tượng hóa giòn bằng cách nhúng vào nước lạnh khi sản phẩm vẫn còn ở nhiệt độ 600 – 700oC

Hình 2.6 Các vết nứt vỡ trên nhẫn vàng mầu đỏ

Trên thực tế khuôn đúc khó có thể nhúng đủ nhanh vào nước để tránh những vấn

đề thường hay gặp trong hợp kim vàng màu hồng và đỏ Cách tốt nhất để có được vật liệu dẻo trong trường hợp này là sau khi đúc thì cho tôi các sản phẩm ở nhiệt độ khoảng

600oC, rồi nhúng nhanh chúng vào nước nguội

Độ cứng

HV

Hàm lượng Ag (‰)

Trang 25

2.2.2 Tính chất các hợp kim vàng trang sức màu trắng 14K và 18K

Hợp kim vàng trắng có thành phần cực kỳ đa dạng Chúng chủ yếu gồm 3 nhóm: vàng trắng nickel, vàng trắng paladi và vàng trắng hỗn hợp (chứa cả nickel và paladi) Gần đây một loại vàng trắng khác, không chứa nickel, và để thay thế vàng trắng nickel, đã được chế tạo trên cơ sở sử dụng các kim loại như mangan và crom làm các chất “làm trắng” chính Trong mỗi nhóm vàng trắng trên lại có nhiều loại hợp kim khác nhau Nhìn chung, cần phải có hàm lượng nickel hoặc paladi đủ cao (khoảng trên 12%) để có được mầu trắng đẹp Tuy nhiên, nhiều hợp kim vàng trắng thương phẩm lại bớt đi nickel (để đỡ cứng) hoặc paladi (để rẻ hơn) và cho thêm đồng, vì vậy mầu trắng thường không đẹp và đòi hỏi phải mạ bằng rodi

Bảng 2.11 và 2.12 cho ta thành phần của một số loại vàng trắng 14K và 18K thông dụng

Ngày đăng: 14/04/2014, 14:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Corti C.W. (2000). Back to basics: Investment casting – Part 1. Gold Technology, No 28, p. 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gold Technology
Tác giả: Corti C.W
Năm: 2000
4. Faccenda V. (1998). Investment casting: centrifugal or static vacuum assisted?. Gold Technology, No 23, p. 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gold Technology
Tác giả: Faccenda V
Năm: 1998
7. Grimwade M.F. (1990). Basic metallurgy for goldsmith – Melting, alloying and casting. Gold Technology, No 11, p.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gold Technology
Tác giả: Grimwade M.F
Năm: 1990
12. Normandeau G. et al. (1992). White golds: a review of commercial alloys characteristics and alloy design alternatives. Gold Bulletin, 25 (3), p. 94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Normandeau G. et al. (1992). White golds: a review of commercial alloys characteristics and alloy design alternatives. "Gold Bulletin
Tác giả: Normandeau G. et al
Năm: 1992
15. Ott D., Raub C.J. (1992). Gold casting alloys 14 and 18 K. Gold Technology, No 7, p.2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gold Technology
Tác giả: Ott D., Raub C.J
Năm: 1992
19. Poliero M. (2001). White gold alloys for investment casting. Gold Technology, No 31, p. 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gold Technology
Tác giả: Poliero M
Năm: 2001
20. Raub C.J. (1992). Casting: introduction and problem areas. Gold Technology, No 7, p. 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gold Technology
Tác giả: Raub C.J
Năm: 1992
22. Schaler A.M. (1994). Use of computer in gold jewellery casting. Gold Technology, No 14, p. 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gold Technology
Tác giả: Schaler A.M
Năm: 1994
24. Zito D. (2001). Coloured kara golds for investment casting. Gold Technology, No 31, p. 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gold Technology
Tác giả: Zito D
Năm: 2001
25. Walton C. (1993). Modern commercial workshop practice in gold jewelry investment casting. Gold Technology, No 11, p. 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gold Technology
Tác giả: Walton C
Năm: 1993
1. Corti C.W. (2000). Investment casting: choice of equipment. Paper at World Gold Council Technical Seminars. India Khác
3. Diamond L. (1989). Casting as a total system. Proc. SFS, p. 235 Khác
5. Faccenda V. (2001). Investment casting: an integrated process. Proc. SFS, p. 97 Khác
6. Faccenda D. (2003). Handbook on Investment Casting. World Gold Council, London Khác
8. Nielsen J.P. (1987). Advanced technology for the jewelry caster. Proc. SFS, p. 77 Khác
9. Maerz J. (1998). Casting gold to platinum. Proc. SFS, p. 321 Khác
10. McCloskey J.C. (1987). The application of commercial investment casting principle to jewelry casting. Proc. SFS, p. 203 Khác
11. Menon A. (1996). Casting gemstones in place. Proc. SFS, p. 69 Khác
13. Normandeau G. (1996). The effect of various additives on the performance of an 18 karat yellow gold investment casting alloy. Proc. SFS, p. 83 Khác
14. Ott D. (1987). Metallurgical and chemical considerations in jewelry casting. Proc. SFS, p. 223 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Mầu sắc của vàng trang sức - Đề tài : Công nghệ sản xuất vàng 14k, 18k (vàng trắng, vàng đỏ) phục vụ ngành công nghiệp trang sức việt nam
Bảng 2.1. Mầu sắc của vàng trang sức (Trang 15)
Bảng 2.2. Tính chất vật lý của những hợp kim vàng kara điển hình - Đề tài : Công nghệ sản xuất vàng 14k, 18k (vàng trắng, vàng đỏ) phục vụ ngành công nghiệp trang sức việt nam
Bảng 2.2. Tính chất vật lý của những hợp kim vàng kara điển hình (Trang 16)
Bảng 2.4. Tính chất cơ lý của vàng 18K - Đề tài : Công nghệ sản xuất vàng 14k, 18k (vàng trắng, vàng đỏ) phục vụ ngành công nghiệp trang sức việt nam
Bảng 2.4. Tính chất cơ lý của vàng 18K (Trang 18)
Bảng 2.5. Tác dụng của tốc độ làm nguội lên vàng 18K sau khi tôi ở 650°C - Đề tài : Công nghệ sản xuất vàng 14k, 18k (vàng trắng, vàng đỏ) phục vụ ngành công nghiệp trang sức việt nam
Bảng 2.5. Tác dụng của tốc độ làm nguội lên vàng 18K sau khi tôi ở 650°C (Trang 18)
Bảng 2.6. Hiệu ứng xử lý nhiệt đối với vàng 18K - Đề tài : Công nghệ sản xuất vàng 14k, 18k (vàng trắng, vàng đỏ) phục vụ ngành công nghiệp trang sức việt nam
Bảng 2.6. Hiệu ứng xử lý nhiệt đối với vàng 18K (Trang 19)
Hình 2.2. Tỷ trọng của hợp kim vàng  18K mầu vàng là hàm số của hàm lượng - Đề tài : Công nghệ sản xuất vàng 14k, 18k (vàng trắng, vàng đỏ) phục vụ ngành công nghiệp trang sức việt nam
Hình 2.2. Tỷ trọng của hợp kim vàng 18K mầu vàng là hàm số của hàm lượng (Trang 21)
Hình 2.6. Các vết nứt vỡ trên nhẫn vàng  mầu đỏ - Đề tài : Công nghệ sản xuất vàng 14k, 18k (vàng trắng, vàng đỏ) phục vụ ngành công nghiệp trang sức việt nam
Hình 2.6. Các vết nứt vỡ trên nhẫn vàng mầu đỏ (Trang 24)
Bảng 2.11 và 2.12 cho ta thành phần của một số loại vàng trắng 14K và 18K thông  dụng - Đề tài : Công nghệ sản xuất vàng 14k, 18k (vàng trắng, vàng đỏ) phục vụ ngành công nghiệp trang sức việt nam
Bảng 2.11 và 2.12 cho ta thành phần của một số loại vàng trắng 14K và 18K thông dụng (Trang 25)
Bảng 2.13. Các loại vàng trắng chứa nickel điển hình - Đề tài : Công nghệ sản xuất vàng 14k, 18k (vàng trắng, vàng đỏ) phục vụ ngành công nghiệp trang sức việt nam
Bảng 2.13. Các loại vàng trắng chứa nickel điển hình (Trang 26)
Hình 2.9. Làm vệ sinh khu vực đúc và chuẩn bị dụng cụ - Đề tài : Công nghệ sản xuất vàng 14k, 18k (vàng trắng, vàng đỏ) phục vụ ngành công nghiệp trang sức việt nam
Hình 2.9. Làm vệ sinh khu vực đúc và chuẩn bị dụng cụ (Trang 29)
Hình 2.8. Toàn bộ hệ thống đúc vàng bằng khí gas - Đề tài : Công nghệ sản xuất vàng 14k, 18k (vàng trắng, vàng đỏ) phục vụ ngành công nghiệp trang sức việt nam
Hình 2.8. Toàn bộ hệ thống đúc vàng bằng khí gas (Trang 29)
Hình 2.10. Nạp nguyên liệu vào chén nấu - Đề tài : Công nghệ sản xuất vàng 14k, 18k (vàng trắng, vàng đỏ) phục vụ ngành công nghiệp trang sức việt nam
Hình 2.10. Nạp nguyên liệu vào chén nấu (Trang 30)
Hình 2.11. Khuôn đúc  đang  được  đặt vào  miệng ống hút - Đề tài : Công nghệ sản xuất vàng 14k, 18k (vàng trắng, vàng đỏ) phục vụ ngành công nghiệp trang sức việt nam
Hình 2.11. Khuôn đúc đang được đặt vào miệng ống hút (Trang 30)
Hình 2.12. Nấu chảy vàng và hội vàng bằng khí gas - Đề tài : Công nghệ sản xuất vàng 14k, 18k (vàng trắng, vàng đỏ) phục vụ ngành công nghiệp trang sức việt nam
Hình 2.12. Nấu chảy vàng và hội vàng bằng khí gas (Trang 30)
Hình 2.15. Nấu chảy bằng dòng cảm ứng trong lò đốt cao tần - Đề tài : Công nghệ sản xuất vàng 14k, 18k (vàng trắng, vàng đỏ) phục vụ ngành công nghiệp trang sức việt nam
Hình 2.15. Nấu chảy bằng dòng cảm ứng trong lò đốt cao tần (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w