Từ hơn một thế kỷ nay, Đào Tấn đã được coi là “Hậu tổ” của nghệ thuật tuồng với những đóng góp lớn lao và toàn diện cho bộ môn nghệ thuật sân khấu được coi là “quốc bảo” của nghệ thuật d
Trang 1LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HOÁ DÂN TỘC
GS TRẦN NGHĨA NNC VĂN SỬ
7443
10/7/2009
HÀ NỘI - 2008
Trang 2Mục lục
Trang
Phần mở đầu 5
Chương MộT Thân thế, sự nghiệp và thời đại Đào Tấn I Tác phẩm của Đào Tấn
1 Tác phẩm tuồng 14
2 Các tác phẩm nghệ thuật khác 15
II Vài nét về thân thế Đào Tấn 1 Bối cảnh lịch sử thời đại Đào Tấn 17
2 Tuổi trẻ Đào Tấn 19
3 Cuộc đời làm quan và sáng tạo nghệ thuật 21
4 Những năm cuối đời 27
III Đào Tấn với đất nước và thời đại 1 Đào Tấn với thuyết quyền biến 29
2 Tâm tư Đào Tấn với quê hương đất nước 33
3 Vai trò quan lại đương thời qua tầm mắt Đào Tấn 35
4 Ước mơ cuối cùng của Đào Tấn 38
5 Đào Tấn và người anh hùng cứư nước 40
Chương HAI các giá trị nghệ thuật của Đào tấn I Đặc điểm sáng tạo và giá trị nghệ thuật tuồng Đào Tấn 1 Từ truyền thống đến cách tân nghệ thuật 44
2 Đặc điểm nghệ thuật tuồng Đào Tấn 45
Trang 32.2 Đặc điểm nhân vật 53
2.3 Đặc điểm ngôn ngữ 57
2.4 Phương pháp sáng tạo 66
2.5 Phong cách tuồng Đào Tấn 71
II.Kịch bản văn học tuồng Đào Tấn 1 Kịch bản tuồng – di sản nghệ thuật lớn nhất của Đào Tấn 80
2 Niên biểu sáng tác và giai đoạn đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác tuồng của Đào Tấn 82
3 Điểm qua các vở tuồng tiêu biểu của Đào Tấn
3.1 Tân Dã đồn 94
3.2 Cổ thành 96
3.3 Trầm hương các 99
3.4 Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan 103
3,5 Diễn võ đình 106
3 6 Hộ sanh đàn 109
4 Những giá trị nổi bật của kịch bản tuồng Đào Tấn 4.1 Khúc tráng ca của người anh hùng thời nước mất nhà tan 116
4.2 Những cách tân biên kịch lớn 125
III.Thơ, từ, câu đối Đào Tấn 1 Nguồn tư liệu và giám định tư liệu 132
2 “Thi dư” hay mối liên hệ giưa từ và thơ 142
3 Nhân sinh quan Đào Tấn qua thơ và từ 3.1 Thái độ với phong trào Cần vương 143
3.2 Thái độ với phong trào Đông Du 146
3.3 Lễ hành tàng hay cách sống minh triết 149
4 Nghệ thuật thơ và từ Đào Tấn
4.1 Chỗ hữu hạn của ngôn từ hay khoảng trắng cần thiết 150
4.2 Thủ tượng và đàm huyền 152
4.3 Thể tính của từ hay ý tại ngôn ngoại 157
Trang 4IV Những quan điểm lý luận nghệ thuật của Đào Tấn
1 Thế giới quan và phương pháp sáng tác 164
2 Hiện thực xã hội và cá tính sáng tạo 168
3 Cấu trúc tuồng và kỹ xảo vở diễn 172
4 Thế giới nhân vật đa dạng, đa chiều 181
5 Vai trò của kép hát tuồng 184
Chương BA Bảo tồn và phát huy các giá trị nghệ thuật của Đào Tấn I Vị trí của Đào Tấn trong sự nghiệp văn hoá nghệ thuật dân tộc 198
II Bảo tồn và phát huy các giá trị nghệ thuật của Đào Tấn 1 Tại các nhà hát, các đơn vị nghệ thuật tuồng 201
chuyên nghiệp và nghiệp dư 2 Trên sân khấu học đường 205
3 Trong sáng tác và đạo diễn tuồng đương đại 208
4 Các giải thưởng văn học nghệ thuật 210
mang tên Đào Tấn
phần kết
I Tổng quan 212
II Đề xuất, kiến nghị 214
tài liệu tham khảo 218
Trang 5PH ẦN MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài:
Đào Tấn (1845-1907) là một tài năng lớn, toàn diện, “một nhân tài nghệ thuật đặc biệt” (chữ dùng của nhà thơ Xuân Diệu) trong lịch sử văn học nghệ thuật Việt Nam
Từ hơn một thế kỷ nay, Đào Tấn đã được coi là “Hậu tổ” của nghệ thuật tuồng với những đóng góp lớn lao và toàn diện cho bộ môn nghệ thuật sân khấu được coi là “quốc bảo” của nghệ thuật dân tộc từ sáng tác
và nhuận sắc kịch bản, dàn dựng vở diễn, sáng tạo âm nhạc và các kỹ thuật diễn xuất, đưa nghệ thuật tuồng lên tới những đỉnh cao chói chói lọi Đào Tấn còn là một nhà thơ lớn, một nhà từ khúc vô song, một nhà lý luận nghệ thuật kiệt xuất
Đào Tấn đã để lại cho dân tộc một di sản văn hoá phong phú, đồ sộ có giá trị cao, có sức sống lâu bền với hơn 40 kịch bản, vở diễn tuồng, hơn
1000 bài thơ và từ, một tập văn xuôi và một tập lý luận nghệ thuật
Sự nghiệp của Đào Tấn được chú ý nghiên cứu từ khi dưới đường lối văn hoá văn nghệ đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nghệ thuật tuồng được phục hồi và phát huy tác dụng trong sự nghiệp bảo
vệ và xây dựng tổ quốc xã hội chủ nghĩa Các vở tuồng bất hủ của ông sống lại trên sàn diễn các đoàn nghệ thuật tuồng, một số bài viết về thân thế và sự nghiệp nghệ thuật Đào Tấn bắt đầu được công bố từ những năm
1960 ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa Đặc biệt, từ khi đất nước thống nhất,việc sưu tầm giới thiệu các di sản nghệ thuật và nghiên cứu thân thế, sự nghiệp của Đào Tấn đã được triển khai toàn diện và khá liên tục Một số hội thảo khoa học về Đào Tấn khá quy mô đã được tổ chức, một số công trình nghệ thuật và nghiên cứu về Đào Tấn đã được công bố
Tuy vậy, cho đến nay, các công trình nghiên cứu đã có về Đào Tấn chủ yếu là các kỷ yếu tập hợp các tham luận từng trình bày trong các hội
Trang 6thảo khoa học về ụng Trong cỏc cụng trỡnh này, thõn thế và sự nghiệp nghệ thuật của Đào Tấn được nhỡn nhận dưới nhiều gúc độ phong phỳ, sõu sắc nhưng lại khỏ tản mạn, nhiều ý kiến trỏi ngược nhau chưa được tổng kết, lý giải đỏnh giỏ một cỏch đỳng đắn khoa học
Đó đến lỳc cần cú những cụng trỡnh cú tớnh chất tổng hợp, tổng kết, hệ thống hoỏ về thõn thế và sự nghiệp nghệ thuật của Đào Tấn để đỏp ứng nhu cầu tỡm hiểu vị danh nhõn văn hoỏ kiệt xuất này của của cụng chỳng rộng rói trong nước và bạn bố thế giới
Đề tài khoa học “Nghiờn cứu tổng hợp những giỏ trị nghệ thuật của
Đào Tấn” nhằm đỏp ứng yờu cầu cấp thiết trờn
II Lịch sử nghiờn cứu đề tài:
Trước cỏch mạng thỏng Tỏm, năm 1943, trong cuốn “Sự tớch hỏt bội”,
tỏc giả Đoàn Nồng cú nhắc đến Đào Tấn là nhà viết tuồng xuất sắc, mà
khụng bỡnh luận gỡ Vào cuối những năm 1950 trong sỏch “Lịch sử văn
học Việt Nam”, cỏc tỏc giả Huỳnh Lý, Hoàng Ngọc Phỏch cũng đó giới
thiệu Đào Tấn là tỏc giả tuồng hàng đầu ở thế kỷ XIX, nhưng việc đỏnh giỏ tư tưởng, nghệ thuật của Đào Tấn cũn quỏ sơ lược, lại cú những nhận định thiếu thoả đỏng, thậm chớ sai lệch
Cho đến năm 1963, trờn miền Bắc, Mịch Quang với tiểu luận “Đào
Tấn – nhà soạn tuồng kiệt xuất” đăng trờn tạp chớ Nghiờn cứu văn học lần
đầu tiờn giới thiệu tương đối đầy đủ về con người và sự nghiệp nghệ thuật của Đào Tấn, khởi đầu việc nghiờn cứu giới thiệu danh nhõn văn húa này
Sau đú, Phạm Phỳ Tiết trong cụng trỡnh “Hội thoại về nghệ thuật tuồng”
đỏnh giỏ cao tài năng và sự nghiệp sỏng tỏc của Đào Tấn Năm 1973,
Hoàng Chõu Ký trong Sơ khảo lịch sử tuồng cũng cú một số trang viết về
Đào Tấn
Do hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, nguồn tư liệu rất ít ỏi nên việc nghiên cứu Đào Tấn trên miền Bắc chỉ dừng ở đó ở miền Nam nhiều công trình nghiên cứu văn hoá đã có những trang viết về Đào Tấn, như
Trang 7“Danh nhân Bình Định” của Bùi Văn Lăng, “Nước non Bình Định” của Quách Tấn, “Văn đàn bảo giám” của Trần Trung Viên, “Nhân vật Bình
Định” của Đặng Quý Địch…
Mãi đến sau ngày miền Nam thống nhất, Bộ Văn hóa và tỉnh Nghĩa Bình mới có điều kiện nghiên cứu sâu về Đào Tấn, nhất là sau Liên hoan Tuồng Toàn quốc (tháng 7/ 1976), di sản nghệ thuật Đào Tấn ngày càng tỏa sáng rực rỡ, thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của các văn nghệ sĩ, các nhà nghiên cứu cả nước Cũng tại Liên hoan Tuồng Toàn quốc đầu tiên này, các nghệ sĩ ba miền đất nước đều đến thăm nhà Từ đường Đào Tấn, viếng
mộ Đào Tấn trên núi Hoàng Mai, tưởng niệm vị Hậu tổ của mình Tiếp theo là Hội thảo khoa học về Đào Tấn lần thứ I, được tổ chức vào giữa năm
1977 ở TP Quy Nhơn Tại hội thảo (3 ngày đêm) nhiều vấn đề về con người và sự nghiệp của Đào Tấn được nêu ra bàn cãi rất sôi nổi, không ít vấn đề về nghệ thuật và tư tưởng của Đào Tấn còn bị nhận định sai lệch, bởi tư duy bảo thủ và xã hội hoá dung tục của một số nhà nghiên cứu
Có thể nói Hội thảo Đào Tấn lần thứ nhất mới chỉ là một cuộc vỡ hoang cho sự nghiệp nghiên cứu về Đào Tấn Các nhà nghiên cứu và nhà thơ đã bàn sâu hơn về văn học kịch (kịch bản tuồng và thơ, từ của Đào Tấn) nhưng còn nhiều vấn đề về thế giới quan và phương pháp sáng tác thi pháp, phong cách nghệ thuật Đào Tấn chưa được bàn sâu Vấn đề tư tưởng yêu nước của Đào Tấn, cũng chưa được làm sáng tỏ…Tuy vậy, tại Hội thảo này hầu hết những nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật cả nước, kể cả những người lãnh đạo cao nhất của ngành văn hoá nghệ thuật lúc bấy giờ như Hà Huy Giáp, Hà Xuân Trường đều đánh giá rất cao tài năng và cống hiến của Đào Tấn cho nền văn hoá dân tộc Nhân dịp Hội thảo, nhiều bài thơ hay của Đào Tấn được dịch, một vài vở tuồng của Đào Tấn được phục
hồi Quyển kỷ yếu Hội thảo mang tên “Đào Tấn – Nhà soạn tuồng kiệt
xuất” đã được Ty Văn hoá Nghĩa Bình xuất bản và phát hành ngay sau
Hội thảo
Trang 8Năm 1981, Ty Văn hóa Nghĩa Bình cho xuất bản giới thiệu tập Hý
trường tuỳ bút coi như công trình lý luận về tuồng của Đào Tấn mới phát
hiện được Nhiều nhà nghiên cứu, văn nghệ sĩ đã viết bài hoan nghênh tập
“Hý trường tuỳ bút” Tuy vậy, đã có một số người nêu ra những nghi vấn
ông quan thanh liêm, cương trực, được người đương thời ca ngợi là một vị
quan “thanh, thận, cần”, và một kẻ sĩ “bất uy cường ngự” (như lời phê
tặng của vua Tự Đức) Đào Tấn còn có mối quan hệ mật thiết với các chí sĩ cách mạng trong phong trào Đông Du, như mối quan hệ với Phan Bội Châu, Cường Để, Việt Nam Quang Phục hội, với các văn thân yêu nước chống Pháp xứ Nghệ và nhiều nơi khác trong nước v.v
Cũng tại Hội thảo Đào Tấn lần II, vấn đề “Hý trường tuỳ bút” được đặt
ra khi có ý kiến của hai nhà nghiên cứu Huệ Chi và Hồ Ngọc cho rằng, cần
xét lại nội dung Hý trường tuỳ bút về mặt văn bản học, trong đó có nhiều
chỗ nguỵ tạo từ sách Trung Quốc? Vì thế mà một Hội nghị giám định về
Hý trường tuỳ bút gồm nhiều nhà nghiên cứu được tổ chức tại Viện Văn
học Việt Nam, do nhà thơ Hoàng Trung Thông, Viện trưởng chủ trì Tại hội nghị giám định này, các giáo sư, các nhà nghiên cứu tên tuổi đã bàn
luận, phân tích rất kỹ và đi tới kết luận: Nội dung cơ bản của tập Hý
trường tuỳ bút là của Đào Tấn, còn những chỗ nào chưa thật rõ, do người
ghi chép, trích dẫn chưa chính xác thì nên bóc tách ra, hoặc tiếp tục giám
Trang 9định làm rõ, không vì một số “hạt sạn” mà phủ định hoàn toàn tập sách
này Cũng trong thời kỳ này, tập “Thư mục tư liệu Đào Tấn” được Sở Văn
hoá Thông tin Nghĩa Bình công bố
Hội thảo về Đào Tấn lần thứ III do Viện Nghệ thuật Sân khấu, Bộ Văn hoá Thông tin phối hợp với sở Văn hoá Thông tin Nghĩa Bình tổ chức tại Quy Nhơn vào tháng 8 năm 1988 Hội thảo này tập trung vào các vấn đề
về tư tưởng và tài năng nghệ thuật của Đào Tấn Hội thảo đã đi đến thống nhất: Đào Tấn là một ông quan yêu nước thể hiện trong mối quan hệ của
ông với phong trào Cần vương qua những hành động trong cuộc đời làm quan và thể hiện qua tác phẩm văn, thơ, câu đối và rõ nhất là trong kịch bản tuồng của ông Cùng với những tư liệu mới được sưu tầm về Đào Tấn
như “Thư mục tư liệu về Đào Tấn”, “Đào Tấn thơ và từ”( NXB Văn học năm 1987), “Tuồng Đào Tấn” (Tập I và II- NXB Sân khấu – Sở VHTT
Nghĩa Bình 1988) và những khảo cứu thẩm định đánh giá đã góp phần làm sáng tỏ các vấn đề mới về tư tưởng và nghệ thuật của danh nhân họ Đào
Cũng vào thời điểm này quyển truyện “Búp Sen Xanh” của nhà văn Sơn
Tùng về thời tuổi trẻ của Hồ Chí Minh được công bố rộng rãi, trong đó có nhiều đoạn nói về mối quan hệ của Đào Tấn với Văn thân cần vương ở An – Tĩnh và với cụ Nguyễn Sinh Sắc cùng con trai cụ là Nguyễn Sinh Cung
(Bác Hồ ) Trong “Búp sen xanh”, hình tượng quan Thượng thư, tổng đốc
và nhà soạn tuồng Đào Tấn hiện ra như một nhân cách lớn, có ảnh hưởng sâu sắc tới thời thơ ấu và tuổi trẻ Hồ Chí Minh
Cuối năm 1988, Sở VHTT Nghĩa Bình lại tổ chức cuộc toạ đàm hẹp với các nhà nghiên cứu lão thành có nhiều hiẻu biết về Đào Tấn không có điều kiện tham dự các hội thảo khoa học đã được tổ chức với sự có mặt các ông
Lê Hồng Long, Quách Tấn, Quách Tạo cùng các nhà nghiên cứu Hồ Đắc Bích, Vũ Ngọc Liễn, Hồng Nhân… Tại cuộc toạ đàm, nhiều tư liệu mới, rất đáng quý về thân thế và hoạt động nghệ thuật của Đào Tấn được ghi chép lại
Trang 10Qua nhiều hội thảo, hội nghị, con người sự nghiệp và tư tưởng Đào Tấn ngày càng được sáng tỏ và Đào Tấn được thống nhất đánh giá là danh nhân văn hoá lớn của dân tộc Cùng với việc nghiên cứu về Đào Tấn,
những vở tuồng viết về Đào Tấn cũng ra đời như “Thanh gươm Hát bội”
của Mịch Quang, Hoàng Chương đạo diễn được Nhà hát Tuồng Khánh
Hoà diễn rất thành công Hoặc vở “Hồn Tuồng” sáng tác của Lê Duy Hạnh, Võ Sĩ Thừa đạo diễn, Nhà hát Tuồng Đào Tấn diễn, và vở “Giấc
mộng Hồ hoa” cũng của Mịch Quang do Nhà hát Tuồng Khánh Hoà diễn
Những công trình nghệ thuật biểu diễn ấy đã gây được ảnh hưởng lớn trong nhân dân về danh nhân Đào Tấn Đến tháng 12/ 1995, Bộ Văn hoá Thông tin, Viện Sân khấu Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh Bình Định và Hội đồng hương Bình Định tổ chức lễ kỷ niệm 150 năm ngày sinh của Đào Tấn tại Nhà hát Lớn Hà Nội với sự có mặt của nhiều vị lãnh đạo của Đảng
và Nhà nước Tại lễ kỷ niệm này, nhạc sĩ Trần Hoàn – Bộ trưởng Văn hoá
Thông tin long trọng đọc diễn văn và đánh giá: “Đào Tấn là danh nhân
văn hoá kiệt xuất của dân tộc” Nhà hát Tuồng Bình Định chính thức được
mang tên Đào Tấn và UBND Thành phố Hà Nội quyết định đặt tên Đào Tấn cho một con đường ở trung tâm thủ đô Khi còn giữ chức Bí thư Đảng
đoàn Bộ Văn hoá, đồng chí Hà Huy Giáp từng đề nghị nên thành lập Viện
Đào Tấn Cũng thời điểm này, Viện Sân khấu VN và Hội đồng hương Bình
Định đề xuất với UBND tỉnh Bình Định và Bộ Văn hoá Thông tin cho thành lập giải thưởng Đào Tấn Từ đó đến nay giải thưởng Đào Tấn đã trao cho nhiều văn nghệ sĩ, nhà khoa học trong và ngoài nước, góp phần nâng tầm danh nhân Đào Tấn
Năm 2000, Viện Sân khấu đã phối hợp với Sở VHTT Bình Định tổ
chức Hội thảo lần thứ 4 về Đào Tấn với chủ đề “Phong cách tuồng Đào
Tấn” nhưng do chuẩn bị chưa tốt nên vấn đề lớn (phong cách nghệ thuật
Đào Tấn) cũng chưa được giải quyết làm sáng tỏ được tại hội thảo này Năm 2007, nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất của Đào Tấn, Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hoá Dân tộc đã phối hợp với UBND
Trang 11tỉnh Bình Định tổ chức Hội thảo “Đào Tấn-Con người và sự nghiệp” Một
lần nữa, con người và sự nghiệp danh nhân Đào Tấn được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước được nghiên cứu sâu sắc thêm trên nhiều bình diện Tại hội thảo này, nhiều ý kiến cho rằng, Đào Tấn không chỉ là danh nhân văn hoá của dân tộc Việt Nam mà còn xứng đáng tôn vinh là danh nhân văn hoá thế giới Vì thế việc nghiên cứu về Đào Tấn còn phải tiếp tục làm rộng hơn, sâu hơn, có bài bản hơn GS-TS Nguyễn Thuyết Phong, Việt kiều Mỹ, người được tặng giải thưởng Đào Tấn năm 1997 cùng với một số thành viên khác trong giới khoa học, giáo dục, đã vận động thành lập trường Đại học mang tên Đào Tấn và đã được Chính Phủ đồng ý Trường đại học tương lai này sẽ có khoa nghiên cứu Đào Tấn
Hơn 30 năm qua, ngoài các hội thảo, hội nghị về Đào Tấn, nhiều vở
tuồng của cụ tiếp tục được phục hồi như Hộ Sanh đàn, Trầm Hương các,
Quan công hồi Cổ thành, Diễn võ đình, Khuê các anh hùng… Nhiều trích
đoạn tuồng hay của Đào Tấn đã được khai thác quay thành phim nhựa, phim video vừa để phục vụ cho công chúng rộng rãi, vừa phục vụ cho các nhà nghiên cứu và giảng dạy ở các trường nghệ thuật sân khấu trong cả nước Nhiều công trình nghiên cứu, giới thiệu về Đào Tấn cũng đã được xuất bản như:
1 Thư mục về Đào Tấn Ty Văn hóa Nghĩa Bình, xuất bản 1977
2 Đào Tấn-Nhà soạn tuồng kiệt xuất (kỷ yếu hội thảo) Ty Văn hoá
Nghĩa Bình - xuất bản 1977
3 Hý trường Tuỳ bút – Ty Văn hoá Nghĩa Bình – xuất bản 1981
4 Kịch bản tuồng Đào Tấn (2 tập – NXB Văn học và NXB Sân Khấu
1984
5 Thơ và Từ Đào Tấn – NXB Sân Khấu 2000
6 Tuyển tập tuồng Đào Tấn – NXB Sân Khấu 2002
7 Tang sự tích biên (tản văn của Đào Tấn) Nhà xuất bản Văn hoá Dân
tộc 2001
Trang 128 Mai viªn cè sù (chuyÖn vÒ §µo TÊn) do §Æng Quý §Þch sưu tÇm
dÞch, NXB V¨n ho¸ D©n téc Ên hµnh 2005
9 §µo TÊn 100 n¨m nh×n l¹i – NXB Héi Nhµ v¨n 2008
III Giới hạn phạm vi đề tài:
Đề tài có đề cập đến thân thế và tư tưởng của Đào Tấn làm cơ sở để tìm hiểu các giá trị sáng tạo nghệ thuật của ông nhưng không đi sâu vào vấn đề này mà tập trung chủ yếu làm rõ các giá trị nghệ thuật của Đào Tấn
và việc kế thừa phát huy các giá trị này
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các tác phẩm của Đào Tấn: kịch bản,
vở diễn tuồng, thơ và từ, lý luận nghệ thuật và các công trình nghiên cứu
đã có về Đào Tấn
IV Các nguồn tư liệu:
- Các kịch bản và vở diễn tuồng truyền thống và hiện đại
- Các kịch bản và vở diễn tuồng Đào Tấn
- Các tư liệu về cuộc đời và hoạt động nghệ thuật của Đào Tấn
- Các công trình nghiên cứu về Đào Tấn
- Các tác phẩm nghệ thuật nói về Đào Tấn và có liên quan đến cuộc
đời và sáng tạo nghệ thuật của Đào Tấn
V Phương pháp nghiên cứu:
Chủ yếu là phương pháp phân tích, tổng hợp và hệ thống hoá, vận dụng cách tiếp cận văn hoá học và phương pháp so sánh liên ngành
VI Mục đích và đóng góp của công trình:
Mục đích chính là tổng hợp, giới thiệu một cách toàn diện, có hệ thống
cuộc đời, sự nghiệp và các giá trị nghệ thuật nổi bật mà danh nhân văn hoá Đào Tấn đóng góp vào kho tàng văn hoá nghệ thuật dân tộc cho công chúng rộng rãi từ các nhà nghiên cứu, những người hoạt động văn hoá nghệ thuật đến những người có nhu cầu tìm hiểu sân khấu và văn hoá nghệ thuật dân tộc
VII Bố cục của công trình:
Trang 13Ngoài phần mở đầu và kết luận, công trình có 3 chương chính sau:
Trang 14chương MộT
Thân thế, sự nghiệp và thời đại Đào Tấn
Từ lâu, tên tuổi Đào Tấn đã thành niềm tự hào của những người hoạt
động văn hoá nghệ thuật và sân khấu Việt Nam Cụ là nhà soạn tuồng và
ông thầy tuồng kiệt xuất, được coi là bậc hậu tổ tuồng Đào Tấn còn là nhà thơ, nhà từ khúc tài hoa, độc đáo và nhà lý luận nghệ thuật uyên thâm
I Tác phẩm của Đào Tấn:
- Tam bảo thái giám thủ bửu
- Vạn bửu trình tường (108 hồi tương truyền Đào Tấn viết 48 hồi cuối pho)
- Quần trân hiến thuỵ
Có người nói: vở tuồng “Hoa dung đạo” cũng là tác phẩm của cụ
Nhưng trong gia phả họ Đào không thấy ghi điều này, không biết có đúng vậy không?
Cũng có người nói: cụ còn viết pho tuồng “Tống sử diễn ca” gồm 7 vở, viết tại “Hoàng Mai các”, tức nơi làm việc của cụ lúc đi tu ở chùa ông Núi,
Trang 15trong đó có vở “Biện kinh thất thủ” được cụ đề tựa kỷ niệm Hoàng Diệu,
sau Hà thành thất thủ một năm Tiếc rằng, chúng tôi chưa có điều kiện đối chiếu xác minh
1.2 Tác phẩm chỉnh lý, cải biên:
Có thể nói phần lớn kho tàng tuồng xưa để lại đến thời Đào Tấn đều qua tay cụ nhuận sắc, sửa chữa, sử dụng Căn cứ gia phả họ Đào ghi chép thì Đào Tấn đã chỉnh lý, sửa chữa các vở, pho như sau:
- Sơn Hậu
- Khuê các anh hùng (cải biên và đổi tên vở “Tam nữ đồ vương”)
- Đào Phi Phụng
- Ngũ Hổ bình Liêu (chữa một lớp)
2 Các tác phẩm nghệ thuật khác
Bên cạnh sự nghiệp sáng tác và hoạt động nghệ thuật tuồng, Đào Tấn còn là nhà thơ tầm cỡ, với gần 1000 bài thơ, từ, tản văn và liễn đối trong các tập:
- Mộng Mai ngâm thảo
- Mộng Mai thi tồn
- Mộng Mai từ lục
- Mộng Mai văn sao
Riêng bộ phận văn chương có tính chất lý luận sân khấu chiếm một
phần quan trọng, trong đó có nổi bật là tập “Hý trường tuỳ bút”
Ngoài ra, cũng theo gia phả họ Đào thì cụ có sáng tác âm nhạc, được
vua giao soạn nhiều Nhạc chương khúc điệu
II Vài nét về thân thế Đào Tấn
1 Bối cảnh lịch sử thời đại Đào Tấn
Đào Tấn, tự Chỉ Thúc, hiệu Mộng Mai, thêm một tiểu hiệu là Mai Tăng Ông sinh ngày 17 tháng 2 năm ất Tỵ (tức Thiệu Trị thứ 5, năm 1845) và mất ngày rằm tháng 7 năm 1907, thức năm Thành Thái thứ 18
Trang 16Thời đại Đào tấn sống là một trong những giai đoạn đau thương và phức tạp nhất trong lịch sử dân tộc Sau hơn nửa thế kỷ hoà bình thống nhất, độc lập, thịnh vương dưới các triều vu Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, năm 1858, Phpá nổ súng tấn công Đà Nẵng và sau đó xâm chiếm Sài Gòn, bắt đầu cuộc xâm lược nước ta Năm 1862, vua Tự Đức ký hiệp ước nhường ba tỉnh miền đông Nam bộ cho Pháp Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miềnTây, tạo thành mọt Nam kỳ thược Pháp ngay trên
đất nước ta Từ 1873 đến 1886, Pháp, chiếm nốt những phần còn lại của
đất nước, tuyên bố bảo hộ Trung kỳ và Bắc kỳ, nơi họ tiếp tục duy trì triều
đình nhà Nguyễn Đến năm 1887, Pháp hoàn tất quá trình xâm lược Việt Nam và đặt ra bộ máy cai trị hoàn chỉnh từ trung ướng đến địa phương Như vậy, sau gần 10 thế kỷ bảo về được nền độc lập, tự chủ của đất nước trước sự nhòm ngó và tham vọng bành trướng của phong kiến phương Bắc láng giềng, đất nước ta đã rơi vào tay thực dân xâm lược đến từ phương Tây xa xôi Sau khi vua Tự Đức mất, triều đình nhà Nguyễn rơi vào cảnh hỗn loạn, trải qua một thời kỳ thường được gọi là “tứ nguyệt tam vương” (bốn tháng ba vua) với các vua Dục Đức (ba ngày), vua Hiệp Hoà (bốn tháng), vua Kiến Phúc (1 năm) Đến năm 1885, vua Hàm Nghi lên ngôi,
đã lam,f một cuộc binh biến chống Pháp ngay tại kinh thành nhưng thất bại, kéo ra lập kinh đô kháng chiến ở Tân Sở, Quảng Trị, ban hịch Cần Vương phát động công cuộc vũ trang chống Pháp trong cả nước Phong trào ứngnghĩa Cần Vương đã nổi lên mạnh mẽ với các cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám, Mai Xuân Thưởng…nhưng rồi tất cả đều bị dìm trong biển máu Đồng Khánh lên ngôi từ năm 1886 đến năm 1888 thì bị bệnh mất Thành Thái kế vị từ năm
1889 đến năm 1907 thì bị Pháp buột thoái vị vì phát hiện được kế hoạch bí mật phục quốc của ông
Có thể thấy thời đại Đào Tấn sống có những đặc điểm nổi bật sau:
- Đó là giai đoạn các nhà sử học thường gọi là điểm chuyển từ Nguyễn sơ sang Nguyễn mạt, triềuNguyễn từ hưng thịnh chuyển dần sang suy
Trang 17vong và đã thất bại trong việc bảo vệ độc lập tự do của đất nước Triều Nguyễn vẫn tồn tại cho đến năm 1945, nhưng thực tế đã trở thành một triều đại bù nhìn từ năm 1887
- Đây là giai đoạnThực dân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta và sau gần
30 năm đã hoàn thành việc xâm chiếm hoàn toàn nước ta
- Cùng với cuộc xâm lược Pháp và sự đầu hàng chính thức của triều Nguyễn là phong trào chống xâm lược Pháp phát triển rộng khắp song đều
đã thất bại Các nhà vua yêu nước Hàm nghi, Thành Thái bị bắt, bị buột thoái vị và đưa đi lưu đày tại châu Phi xa xôi
2 Tuổi trẻ Đào Tấn
Đào Tấn chánh quán thôn Vinh Thạnh, xã Phước Lộc, sinh quán thôn Tùng Giản, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định
Thân sinh ông là Đào Đức Ngạc, phụ thân là bà Hà Thị (gốc người Huê, ở thôn La Chữ), là nông dân nghèo, phải xa quê chính đi làm ăn ở Tùng Giản (Gò Bồi) và sinh Đào Tấn tại đây Đào Tấn là con thứ hai trong nhà có ba con trai Ông anh và người em của Đào Tấn không đỗ đạt gì
Ông Đào Đức Ngạc thời đó làm nghề thầy dò, thầy quẻ, vợ buôn vặt và làm nông Hai vợ chồng sống thanh bần trên một đám vườn con và mái nhà tranh nhỏ hẹp ở gần chợ Gò Bồi Tổ tiên Đào Tấn ở chính quán cũng hoàn toàn sống bằng nghề nông, không có ai đỗ đạt có chức tước gì nhưng
là một gia tộc nổi tiếng thanh bạch và có nề nếp Chuộng nghĩa, mến nhân,
được nhân dân trong vùng kính phục Sau này nhờ Đào Tấn làm quan to,
gia đình được phong tam đại nên ông Đào Đức Ngạc được cáo tặng “Gián
nghị đại phu”, bà Hà Thị được cáo phong “Chánh tam phẩm thục nhơn”
và cả hai đời trước cũng được truy tặng quan hàm chiếu theo điểm lễ của triều đình
Thủa nhỏ, Đào Tấn được mẹ cha cho đi học chữ nho với các thầy đồ quanh vùng Gò Bồi Ngay khi ấy, Đào Tấn đã bộc lộ tư chất thông minh và chí khí hơn người Đặc biệt, cậu bé Tấn rất yêu văn chương và mê hát bội,
Trang 18không bao giờ bỏ sót các đám hát diễn ra trong vùng và thường rủ bạn bè bắt chước sắm tuồng khi vui chơi cùng nhau
Đến năm 14 tuổi, Đào Tấn đã nổi tiếng là một thiếu niên học thông nghĩa sách, gia đình cho ông đến theo học thầy Nguyễn Diêu (thường gọi
là cụ tú tài Nhơn Ân) một nhà nho giỏ cả Hán văn và Pháp văn và là một
thầy tuồng tài ba, tác giả của các vở tuồng “Ngũ Hổ, “Liệu đố” (chữa bệnh ghen), “Võ Tam Tư chém cáo”, “Nhạc Phi phá bi… Do chịu ảnh hưởng của thầy học, năm 19 tuổi Đào Tấn viết vở tuồng đầu tay “Tân dã
đồn” (còn gọi là “ Từ Thứ quy Tào”)
Năm 18 tuổi, Đào Tấn đã cho thấy một khí phách khác thường khi làm thơ và vẽ tranh hài hước đem dán taih chợ Gò Bồi bài xích cường hào, nhất
là nhằm vào Hương thân thôn Tùng Giản Theo tường truyền khi ấy, vua
Tự Đức có ban bố thập điều và hương ước bắt dân học tập, Hương thân là chức lớn nhất của thôn chủ trì việc giảng dạy, Đào Tấn đã có thơ nhạo báng việc này như sau:
Thập điều là cái chi chi
Hàng đêm nói mãi ra gì mà nghe
Gò Bồi dân chúng đã kêu vang
Hết việc quan gia đến việc làng
Xâu thuế quanh năm lo muốn chết
Mà đêm nằm ngủ cũng không an!
Trang 19Các cụ tiền bối vùng Gò Bồi đến những năm giữa thế kỷ 20 vẫn còn nhớ những bài thơ nôm của chàng trai trẻ Đào Tấn lập ngôn nhạo báng cửa quyền này
Vì khí chất yêu tự do, bất phục cường quyền, không chịu những ràng buột vô lý của Đào Tấn mà gia đình Đào Tấn không thể nào ở yên được với các chức sắc ở Gò Bồi nên cha mẹ ông phải bán hết vườn nhà ở đây để trở về quê hương Đaò Tấn được tiếp tục theo học thầy tú Nguyễn Diêu, giao du rộng, đặc biệt là thân thiết với các nghệ sĩ hát bội có tiếng như Quản ca Thường, Đội Hiệp, sau này trở thành tri kỷ trọn đời của ông
Năm 22 tuổi (1867 – Tự Đức 20), Đào Tấn đỗ cử nhân khoa Đinh Mão, nhưng không gióng mọi người, ông không xin bổ quan, mặc dù luật lệ trều
đình định rằng cử nhân từ 6 tháng đến 1 năm thì được viện lệ bổ quan
Ông chỉ theo đuổi văn chương và hát bội, tiếp tục lui tới với thầy Tú Diêu
và các bạn hát bội để học hỏi, trao đổi những tâm đắc Mãi đến năm Tự
Đức thứ 24 (1871), khi triều đình Huế lục xét lại danh sách cử nhân còn tại quán để trưng tập, ông mới được bổ Hàn lâm điển tịch, sung chức hiệu thư
3 Cuộc đời làm quan
Đào Tấn đến kinh đô Huế làm quan lúc 26 tuổi tuổi và bắt đầu hành trình hơn 30 năm làm quan trong triều Nguyễn Chỉ sau một năm về kinh trong Hiệu thơ nội các (Ban hiệu thơ nội các lúc bấy giờ thực chất là ban sáng tác tuồng gồm 8 tiến sĩ và gần vài chục cử nhân do Tự Đức đích thân chủ tọa), năm Tự Đức 25 (1872), Đào Tấn phụng sắc soạn thảo nhanh ba
vở tuồng “Đãng khấu”, “Bình Địch”, “Tam Bảo thái giám thủ Bửu”, mỗi
vở đều có 3 hồi, chỉ phổ biến ở triều đình, không quảng bá “Khấu” có ý nói tới các cuộc nổi dậy của nông dân phải “đảng” (quét) “Địch” là giặc ngoại xâm phải “bình” Và “Tam Bảo thái giám thủ Bửu” là tích truyện
nhà Minh nói tới việc vua sai Trịnh Hoa đi bang giao với các nước khác để hợp sức chống ngoại xâm
Chỉ ít lâu sau, trên thực tế, biến cố nước nhà dồn dập, các ý đồ của Tự
Đức về “đảng”, “bình”, “thủ” đều thất bại Giặc Pháp đã nuốt trọn Nam
Trang 20kỳ, tiếp tục uy hiếp miền Bắc và dòm ngó miền Trung Binh triều khắp nơi tung cờ trắng trước xâm lược Pháp Các cuộc nổi dậy chống ngoại xâm, chống triều đình chủ hòa ngày một lan rộng
Năm Tự Đức 27 (1874), Đào Tấn được thăng Biện tu, lãnh chức tri phủ Quảng Trạch (Quảng Bình) Lúc này tiếng tăm Đào Tấn đã rất nổi, được vua chú ý Năm 1876, thăng Thừa chỉ nội các, được triệu lại về kinh Năm
1878 (Tự Đức 31), ông được thăng Thị độc, phụng sắc viết các tuồng “Tứ
quốc lai vương”, “Quần trân hiến thuỵ” và viết tiếp pho tuồng “Vạn bửu trình tường” (pho tuồng này tương truyền gồm 108 hồi, do Diên Khánh
Vương đã viết được 2 phần, Đào Tấn viết tiếp 48 hồi phần cuối cho đủ
pho) Năm Tự Đức 34, phụng sắc soạn mấy bài “Nhạc chương khúc điệu”
Lúc bấy giờ, Tự Đức rất mê hát bội nên nội cung có tổ chức chuyên về dạy
và tập nghệ nhân diễn tuồng gọi là đội “võ can” hay “thanh binh” và có rạp hát “Duyệt thị đường” chuyên diễn tuồng cho triều đình xem Vua sắc cho 3 ông Đào Tấn, Ngô Quý Đồng (Quảng Bình), Võ Đình Phương (Bình
Định) cùng soạn thảo tuồng Tuy vậy, kỳ thực chỉ có Đào Tấn là người soạn tuồng chính
Năm Tự Đức 34, Đào Tấn được thăng Hồng lô tự khanh và năm sau (1882), được bổ nhiệm Phủ doãn Thừa Thiên lần thứ nhất Thời kỳ này,
Đào Tấn đạt nhiều thành tích được triều đình tặng ba chữ “thanh, thận,
cần” (trong sạch, thận trọng, chuyên cần) và được vua Tự Đức phê tặng
“bất úy cường ngự” (không sợ uy mạnh của vua) Không nhiều quan lại
trong triều có được vinh dự này Lúc đứng đầu 6 huyện tỉnh Thừa Thiên,
Đào Tấn có cứu trợ nạn đắm thuyền cho hơn 400 người Hải Nam, được họ
gửi tặng bức trướng đề 4 chữ “Công hoằng vĩnh viễn” và lập đền thờ sống
ở đảo Hải Nam Tại đền có đề câu đối:
Vạn thiên lý ngoại kiến sinh tử
Trên bốn trăm người còn sống sót
Trang 21Ngoài nghìn vạn dặm cất đền thờ sống)
Sau khi Tự Đức chết, kinh thành hỗn loạn, Đào Tấn bỏ quan về nhà, bị triều đình nghị hạ chức 4 bậc Từ năm 1883 đến năm 1886 (thời kỳ gọi là
“Tứ nguyệt tam vương” (bốn tháng ba vua), cụ ở quê nhà Mai Xuân
Thưởng, lãnh tụ phong trào Cần Vương của Bình Định mời cụ tham gia, cụ lấy cớ bận phụng dưỡng cha mẹ già và đi tu ở chùa Linh Phong (tục gọi là chùa Ông Núi, huyện Phù Cát) Thế nhưng khi Mai Xuân Thưởng thất bại,
hy sinh, Đào Tấn lại có câu đối chiếu:
Bình tặc chí nan thành, anh phong linh đỗng xuy cao thụ
Định biên công vị toại, hùng khí Côn giang phó bích lưu
Trong câu đối, cụ dụng ý tặng 4 chữ “Bình Định anh hùng” cho nguyên
soái Cần vương Mai Xuân Thưởng
Hoàn hương được hai năm thì năm Đinh Hợi (1887), Đồng Khánh lên ngôi, triệu Đào Tấn về lại kinh, thăng hàm Quan lộc tự khanh, tái lãnh chức Phủ Doãn Thừa Thiên Tương truyền trong thời kỳ này, cụ đã bất chấp sự can thiệp của Khâm sứ Huế, xử án chém tên Bồi Ba về tội bức hại dân lành (Bồi Ba vừa ở bồi, vừa làm mật thám của Khâm sứ, cậy thế Pháp lộng hành khét tiếng ở vùng chợ Đông Ba hồi ấy) Sau đó, Đào Tấn được
đổi sang Thị lang Bộ Hộ, sung Tham tá cơ mật viện, rồi Khâm phái đi công cán Gia Định Năm Đồng Khánh thứ 3 (1888), Đào Tấn thăng Tham tri Bộ Hộ là chức vị á khanh Năm Thành Thái thứ nhất (1889), Đào Tấn
được bổ nhiệm Tổng đốc An Tĩnh (Nghệ An – Hà Tĩnh) lần thứ nhất Cho tới lúc này, trong lịch trình làm quan của Đào Tấn có điều rất lạ:
từ năm Tự Đức 24 đến năm Tự Đức 34, suốt 10 năm ròng, chỉ ở chức thuộc viên, thuộc quan Tuy vậy chỉ từ năm Tự Đức 35 (1882) và đặc biệt
là từ năm Đồng Khánh thứ 2 (1887) khi được tái bổ quan đến năm Thành Thái thứ nhất (1889), chỉ trong vài năm, ông đã được thăng quan vượt bậc, nhận nhiều chức vụ quan trọng có thực quyền của triều đình Nhiều ý kiến cho rằng việc thăng quan này vì Đào Tấn là một mắt xích quan trọng của
Trang 22phái chủ chiến, yêu nước chống Pháp trong triều Nguyễn lúc bấy giờ đang chiếm được quyền do Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường chủ xướng
Thời kỳ này, Đào Tấn nhuận sắc tuồng “Tam nữ đồ vương”, lấy tên là
“Khuê các anh hùng”, các tuồng “Sơn hậu”, “Đào Phi Phụng” và viết
“Diễn Võ đình” Đào Tấn đã tập hợp các nghệ sĩ tuồng Bình Định ra Vinh
để vừa học nghề vừa trình diễn Ông lập tại đây rạp hát “Như Thị quan”
để diễn tuồng và “Học bộ đình” để dạy tuồng
Năm Thành Thái thứ 6 (1894), Đào Tấn được triệu về kinh lãnh Thượng thư Bộ Công lần thứ nhất Năm Thành Thái thứ 8 (1896) qua làm Thượng thư Bộ Binh và năm sau giữ chức Thượng thu Bộ Hình Năm Thành Thái thứ 11, Đào Tấn được thăng Hiệp biện Đại học sĩ, lãnh Nam Ngãi Tổng
đốc Tại đây, Đào Tấn đã có quan hệ mật thiết với các chí sĩ Ngũ Hành Sơn, biệt đãi các thanh niên yêu nước như ấm Hàm, Trần Quý Cáp, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng Một tài liệu của Cường Để ghi rằng:
“Cách đó vài tháng thì Việt Nam Quang Phục hội thành lập do ông Phan
cùng nhóm Nguyễn Hàm tổ chức theo kế hoạch đã bàn cùng bỉ nhân Hội
đồng thành lập họp tại Nam Thành sơn trang tức là nhà Nguyễn Hàm ở Quảng Những người nhập hội đầu tiên là (…) Đào Tấn, (…) đều là những người trong quan trường có đầu óc trung quân ái quốc”
Cũng theo tài liệu này thì có lẽ đây là cuộc họp chuẩn bị cho phong trào
Đông du của một tổ chức chính trị tiền thân “Việt Nam Quang Phục hội”
Năm Thành Thái thứ 12, Đào Tấn lãnh Tổng đốc An Tĩnh lần thứ hai (1898 – 1902) và cụ đã phát triển mạnh mẽ nghệ thuật hát bội tại đây Cụ
viết và dựng các vở tuồng Quan Công quá quan (cũng gọi là Cổ Thành ),
Trầm hương các, Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan, Hộ sanh đàn, và
thường xuyên cho diễn tuồng tại rạp hát của ông lập trong dinh tổng đốc
Nghệ An lúc ấy, rạp Như thị quan (xem nó như thế đấy)
Trong rạp này có câu đối:
Thiên bất dự nhàn, thả hướng mang trung tầm tiểu hạ
Trang 23Sự đô như hí, hà tu giả xứ tiếu phi chân
(Trời chẳng cho nhàn, vào bận rộn này tìm chút rảnh
Việc đời như kịch, há trong xứ giả bảo không chân)
Câu đối thờ tổ nghề hát của “Học bộ đình”, cụ viết: “Tuỳ xứ khôi hài
Mạn Thiến tiên bản sắc, Phùng trường tác hý Hoan Hỷ phật tiền thân”
Từ ý nghĩa của câu đối chúng ta có thể hiểu đây là luận điểm sân khấu của nghệ sĩ họ Đào đúng hơn là nội dung thờ cúng Cũng trong thời kỳ ở Nghệ An, khi Phan Đình Phùng trận vong, Đào Tấn với danh nghĩa văn thân Nghệ Tĩnh viết câu đối điếu Phan Đình Phùng
- Thành bại anh hùng mạc luận Thử cô trung, thử đại nghĩa, thệ dữ chư
quân tử thuỷ chung Châu chi anh, Mặc chi linh, độc thư mỗi niệm cương thường trọng Khả hận giả! Thuỳ điên đại hạ, nhất mộc nam chi, Cung lãnh yên tiêu, thuỳ nhân bất tác thâm sơn oán! Huống đương nhật long phi vân ám, cộng tác nhận sự vô thường! Khả liên La Việt giang sơn, bách niên văn hiến phiên cung mã!
- Cổ kim thiên địa vô cùng Như lưu thuỷ, nhi cao phong, đồng thử đại trượng phu vũ trụ Lam cho phong, Hồng chi tuyết, xung hàn vô nại bách tùng điêu Vị hà tai! Hội quyết đồi ba, trung lu để trụ Tinh di vật hoán, hà nhân bất khởi cố viên tình! Cập thử thời nhạn tán phong xuy, kham thán thiên tâm mạc trợ; Độc thử Tùng Mai khí tiết, nhất tử tinh thần quán đẩu ngưu!
(Theo tài liệu của cụ Lê Thước)
(Tạm dịch:
- Anh hùng thành bại chớ bàn, lòng trung ấy, nghĩa lớn kia, thề chung thủy trọn tình cùng chiến hữu Anh linh Son Mực đạo sách đèn nên phải trọng cương thường Khá hận bấy! Ngôi nhà nghiêng đổ, một cây biết chống làm sao! Cung lạnh khói tan, tiếng oán dậy rừng ai chẳng xót! Huống đương lúc rồng bay mây tối, lại thêm tráo trở việc người! Thương thay La Việt giang sơn, văn hiến trăm năm trơ chiến địa!
Trang 24- Trời đất cổ kim còn mãi, núi ngất cao, sông chảy xiết, vũ trụ nầy là của đấng trượng phu Gió tuyết Lam Hồng, ngạo giá rét cũng hao mòn tùng bách Biết sao đây! Sóng cả dâng trào, cột đá giữa dòng khó vững Sao dời vật đổi, chạnh tình vườn cũ nghĩ càng đau! Lại gặp cơn gió thốc nhạn lìa, trách bấy lòng trời chẳng giúp! Rõ thật Tùng Mai khí tiết, tinh thần một thác sáng trăng sao!)
Tương truyền thời làm Tổng đốc An Tĩnh, Đào Tấn rất được giới sĩ phu
xứ Nghệ cảm phục Sự thông cảm bắt đầu từ câu đối đề trước cửa Tiền, thành Vinh Từ khi thành Nghệ An được thực dân Pháp cho xây dựng theo kiểu “vô - băng” xong, đôi khung câu đối ở đây để trống Các thời tổng
đốc trước không ai dám đề, vì e ngại Nghệ An là đất học vấn, đề câu đối kém thì không khỏi bị dư luận chê cười
Nhận chức lần thứ nhất đựơc ít lâu, Đào Tấn cho đề ngay câu đối vào cổng thành cửa Tiền:
Hồng sơn Lam giang như tại tả hữu
Hoàng đồng bạch tẩu di nhiên vãng lai
Tại sao câu đối ấy lại làm cho sĩ phu Nghệ An thông cảm và kính phục
Đào Tấn? Khi cung cấp cho chúng tôi câu đối này, cụ Nguyễn Đình Ngân, Chủ tịch Mặt trận Liên Việt tỉnh Thanh Hoá (trước kia từng là tham tri Quốc sử quán triều Nguyễn, biết Đào Tấn) có giảng cho chúng tôi rằng:
“Câu đối với nghĩa đen có vẻ không có gì sâu sắc ấy chứa đựng cái ẩn ý:
Dù chúng bay có xây thành quách kiểu gì đi nữa, thì truyền thống núi Hồng sông Lam của xứ này không bao giờ mất và người qua lại ở đây vẫn không ai ngoài những người dân thường”
Đất Nghệ An không chỉ là đất hay chữ mà còn là đất yêu nước bất khuất Cho nên sĩ phu Nghệ An không chỉ phục tài Đào Tấn mà còn cảm phục cả tấm lòng yêu nước khí khái của ông Cụ Đặng Thai Mai cho chúng tôi biêt thêm: câu đối còn có dụng ý khác ở 4 chữ Hoàng đồng bạch tẩu, có thể hiểu là: lũ trẻ nít da vàng (bọn Việt gian) và lũ già da trắng (bọn Tây), sao chúng có thể ung dung qua lại nơi núi Hồng sông
Trang 25Lam, ẩn ý ấy do cụ Đặng Nguyên Cẩn, nguyên là bạn thân với Đào Tấn, phát hiện trong một buổi trò chuyện riêng Và Đào Tấn thường đi lại cơ sở
“Triều dương thương quán” do cụ Đặng Nguyên Cẩn tổ chức ở Nghệ An
Trong thời kỳ làm Tổng đốc An Tĩnh, Đào Tấn đã ngấm ngầm giúp nhà chí sĩ Phan Bội Châu hoạt động Cụ Đặng Thai Mai cũng cho biết, chính
Đào Tấn đã thông mưu với giám khảo trường thi là Khiếu Năng Tĩnh quyết lấy Phan Bội Châu đỗ giải nguyên trong khoa thi năm Canh Tý (1900) tại Nghệ An Và Phan Bội Châu đã thừa nhận việc Đào Tấn ngầm
giúp mình hoạt động cách mạng, có ghi trong “Phan Bội Châu niên
biểu”:
“Mùa hạ năm Tân Sửu (1901) tôi cùng vài người bạn như Phan Bá
Ngọc, con ông Phan Đình Phùng ở La Sơn, ông bạn Vương Thúc Quý và bọn dư đảng ở Nghi Xuân như Trần Hải, thảo luận, định đến ngày kỷ niệm Cộng hoà Pháp sẽ dùng giáo mác để cướp vũ khí của giặc rồi đánh úp tỉnh thành Nghệ An Ngày hôm ấy (14-7-1901) đã họp ở trong thành, nhưng cánh nội ứng sai hẹn, thành ra việc phải đình chỉ Vì thế cơ mưu bị tiết lộ nên Nguyễn Điềm là mật thám của Pháp dò biết, mật báo với công sứ, may lúc bấy giờ tổng đốc Nghệ An là Đào Tấn cho công việc của tôi làm
là phải nên hết sức che chở, vì thế tôi không bị bắt Từ đấy tôi chuyên chú
về việc ngầm tìm nội ứng Mùa thu năm Nhâm Dần (1902) tôi uỷ Tán Quýnh và một số học trò của tôi đến Phồn Xương, huyện Yến Thế, Bắc Kỳ
để yết kiến tướng quân Hoàng Hoa Thám, nhưng Hoàng tướng quân thấy
đều là người lạ không tin, thành ra đi không lại trở về không
Tháng 11 tôi muốn thân hành yết kiến ông Lúc ấy chính phủ Pháp mở hội khánh thành cầu sắt Nhị Hà (cầu Long Biên), tôi mới xin tổng đốc
Đào Tấn cấp cho một giấy thông hành để đi xem hội Nhân dịp này tôi đi khắp bắc Kỳ để tìm xem những đảng nhân khởi nghĩa trước có còn sót lại người nào không…”
Trang 26Về việc Đào Tấn ngầm giúp Phan Bội Châu chúng tôi còn nghe một giai thoại khác, do ông Quách Tạo kể:
“ở Nghệ An, có một văn thân (không biết có phải là Nguyễn Điềm hay
không) cùng đỗ khoa với Phan Bội Châu Nhưng hắn vừa bất tài, vừa kiêu ngạo, ai cũng ghét
Nhân một hôm ngồi nói chuyện chơi với nhau, có người thắc mắc không hiểu sao tên ấy lại đỗ được Phan Bội Châu nói đùa : “Hắn nhặt được bản nháp của tôi chứ gì đâu!” Lời ấy lại đến tai tên kia Một hôm hắn bày tiệc, mời các văn thân đến, có cả Phan Bội Châu Giữa tiệc hắn nói:
“Nghe Phan huynh nói rằng tôi nhờ nhặt được bản nháp của huynh mà
đỗ, vậy nhân hôm nay có đủ quan khách, nhờ Phan huynh cho xem lại bản nháp ấy một tý” Phan Bội Châu điềm nhiên trả lời: “Bản nháp ấy đâu còn đến bây giờ mà đưa ra! Nhưng muốn biết anh có đáng đỗ hay không thì cũng dễ thôi Nhờ các quan khách cho ra một đề , tôi với anh làm ngay
ở đây thì biết” Tên ấy đành câm họng, tưởng gỡ được nhục lại bị nhục thêm từ đó hắn thâm thù, cố dò la hành vi của Phan Bội Châu
Một hôm, tổng đốc An Tịnh Đào Tấn ăn cơm chiều xong, đang nằm trên giường đọc sách Bỗng đâu tên kia chạy xồng xộc vào, quỳ ngay dưới chân giường thưa lắp bắp: “Bẩm, bẩm cụ lớn…”Đào Tấn ngồi dậy bảo:
“Khoan đã” Tổng đốc dắt hắn ra phòng khách mời ngồi, rồi nói: “Anh với tôi cùng là văn thân với nhau cả Có điều gì cần thì anh cứ bảo lính mời tôi ra phòng khách nói chuyện, chứ việc gì mà quỳ dưới chân giường tôi, làm mất thể giá văn thân vậy? Bây giờ đàng hoàng tại phòng khách, anh nói đi”
Hắn liền mật báo với Đào Tấn rằng: Phan Bội Châu chuẩn bị làm phản Cụ hỏi: “Anh có chắc không”?.Hắn quả quyết rằng hiện tại nhà Phan Bội Châu đang có tài liệu đầy đủ về việc sửa soạn Đông du (sang Nhật) Cụ đưa giấy bút cho hắn ngồi viết cam đoan Giữa lúc ấy, cụ vào thư phòng, gọi lính hoả bài lên bảo: “Chạy hoả bài về huyện bảo huyện
Trang 27sức ngay cho xã… sửa sang nghi lễ để sáng ngày mai đón cụ tỉnh về bắt giặc Lính hoả bài đi ngay Rồi cụ ra phòng khách, tên kia đưa trình tờ cam đoan hắn vừa viết xong Cụ xem qua, chỉ cho hắn mấy chỗ hắn chưa
đạt yêu cầu và bảo viết lại
Sáng hôm sau, với nghi vệ đẩy đủ, tổng đốc Đào Tấn về huyện rồi về xã,
đến tận nhà Phan Bội Châu lục soát Tất nhiên là chẳng thấy gì”
Theo tài liệu của nhà văn Sơn Tùng trong hai quyển “Búp sen xanh”
và “Bông sen vàng” và của nhà nghiên cứu Huế Nguyễn Đắc Xuân, Đào
Tấn có mối quan hệ gắn bó mật thiết với vua Thành Thái và là một nhân vật quan trọng đóng góp tích cực và kế hoạch bí mật phục quốc của vị vua trẻ tuổi này
Sau khi làm Tổng đốc An Tĩnh lần thứ hai, Đào Tấn lại được triệu về triều lãnh Thượng thư Bộ công (1902) để giúp nhà vua Thành Thái đối phó với Bảo hộ Pháp ở Trung kỳ Năm này, Đào Tấn được vua Thành Thái phong tước Vinh quang từ và vị vua trẻ yêu nước đã tự tay viết một bài chế
để nêu gương ông Trong bài chế có những câu đánh giá rất cao tài năng
và đưc độ của Đào Tấn như: “Văn chương chúa mến, tài bút nghiên giỏi
việc trung thư/ Đức độ dân thương, tài cai trị trội hơn Tam phụ” Kế
hoạch chống Pháp của Thành Thái bị bại lộ Đào Tấn bị lũ tay sai Pháp như Nguyễn Thân, Trương Như Cương vu vạ và bị buộc về hưu năm 1904
và hai năm sau Thành Thái cũng bị buộc thoái vị Cũng theo nhà văn Sơn Tùng, Đào Tấn có quan hệ rất thân thiết với Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc,
đã nhiều lần giúp đỡ gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh những khi khó khăn hoạn nạn Mối quan hệ ấy, cũng như nhân cách cao đẹp của Đào Tấn có
ảnh hưởng sâu đậm tới cậu bé Nguyễn Sinh Cung và chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành, góp phần hình thành tinh thần yêu nước và quyết tâm cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời niên thiếu và thanh niên
4 Những năm cuối đời
Về hưu, trở về quê hương, Đào Tấn lại tập trung thời gian và tâm sức
vào hoạt động hát bội mà cụ yêu thích Cụ lại lập “Học bộ đình” ngay tại
Trang 28làng Vinh Thạnh quê hương, tập hợp các nghệ sĩ tuồng tài danh về đây để dạy tuồng và diễn tuồng Đây là thời kỳ quê hương cụ trở thành một trung tâm hát bội hoạt động rất sôi nổi Các vở tuồng hay nhất của Đào TTán
được biểu diễn thường xuyên tại đây Nhiều cuộc đàm đạo về nghệ thuật Hát Bội giữa Đào Tấn và các văn nhân nổi tiếng của Bình Định đã được tổ chức nhằm tổng kết những cái hay đẹp của nghệ thuật này Rằm tháng 7 năm Thành Thái 19 (1907) Đào Tấn mất, thọ 63 tuổi Ngôi mộ cụ đặt trên núi Hoàng Mai, gần nhà Ngày còn sống, đi chọn đất mộ trên đỉnh núi quê hương, nhà thơ họ Đào đã có bài thơ:
Nhàn hướng Mai sơn bốc thọ viên
Thạch đầu cao cứ tiếu vô ngôn
Mai sơn tha thật tàng mai cốt
Ưng hữu mai hoa tác mộng hồn
Tạm dịch:
Lên đỉnh núi Mai tìm đất thọ
Đứng trên mỏm đá lặng im cười
Núi Mai rồi gửi xương mai đấy
Ước mộng hồn ta hoá đoá mai
III Đào Tấn với đất nước và thời đại
Năm 19 tuổi, Đào Tấn viết vở tuồng đầu tay Tân dã đồn, sau đó là các
vở viết trong khuôn khổ Ban Hiệu thơ của triều Đình Huế Và cuối cùng là các vở viết trong những năm làm Tổng đốc An Tịnh lần thứ nhất và lần thứ
hai Qua thơ và từ của cụ, đặc biệt là qua các vở tuồng, từ vở Tân dã đồn
đến Hộ sinh đàn, chúng ta thấy diện mạo tư tưởng của Đào Tấn Trong quan niệm về trung hiếu, chúng ta thấy ở Tân dã đồn, cụ xem hiếu nặng hơn trung Đến Sơn hậu, đặt trung trên hiếu Trong Khuê các anh hùng, nặng về trung quân Sang Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan, cụ kêu lên: Trung quân chi chí cánh nan thành!
Trang 29Đáng chú ý hơn, trong các vở Diễn võ đình, Trầm hương các, Cổ thành,
Hộ sinh đàn, vấn đề trung quân bị chìm xuống, tư tưởng tác giả chuyển
mạnh sang “cố hương”, “cố quốc”, “non sông”:
Hương quan hà xứ thị? ( Diễn võ đình)
Cố quốc hồi đầu lao mộng mị (Hộ sinh đàn)
Ngóng phương trời gởi gánh non sông (Hộ sinh đàn)
Nhất là đến Hộ sinh đàn, cụ nêu lên một nhận thức mới:
Thế cục nan bình duy hữu hận
Tha hương tương khế khởi vô tình…
Như thế, nhận thức tư tưởng của nghệ sĩ họ Đào rõ ràng có một sự chuyển biến theo chiều hướng tiến bộ trong sự gắn bó với đất nước và thời
đại Sau đây là mấy điểm nổi bật của sự chuyển biến ấy:
1 Đào Tấn và thuyết quyền biến:
Nếu không bị chê vì thiếu tình yêu, thiếu những pha “éo le”, “cụp lạc”, thì chúng ta có thể dễ đồng ý với những người mê tuồng Đào Tấn ngày
xưa, xếp vở “Cổ thành” vào hạng hay nhất của ông, mà hay nhất trong vở
này lại là lớp “Trương Phi uống rượu” Nghiên cứu kỹ kịch bản, chúng ta thấy rằng, đây là lớp tác giả viết sướng tay nhất Lớp tuồng mở đầu từ chỗ Trương Phi ngồi trong thành, uống rượu một mình, giữa cái cảnh đêm khuya vắng lặng:
Trương Phi: (xướng)
Đại ca, nhị ca! à!
Quạnh quẽ niềm riêng dạ khó khuây
Chày sương rời rạc trống canh chầy
Ngựa Hồ hí gió nghe dồn dập
Giọt lệ anh hùng gạt lại đầy
Rồi Trương Phi nghĩ về Quan Vũ, nghĩ đến lưu Bị:
Phi nghĩ Phi giận cho nhị ca phi
Đầu! Đầu! Đầu! Đầu! Là đầu sao!
Trang 30Phi lại nghĩ Phi thương cho đại ca Phi
Khổ! Khổ! Khổ!Khổ lắm ca ca à!
Lại nghĩ đến thân phận mình:
Chiếc nhạn ngang trời mây bít lối
Đèn côi đối rọi bóng trăng chênh
Nhất là đặt một câu hỏi rất hóc búa về hành động của Quan Vũ:
à, như nhị ca Phi đầu hàng Tào Tháo, ờ, hay là người quyền chăng?
ừ, quyền phải! Biến phải!
Anh hùng cũng có khi quyền biến
Nhưng mà Phi lại nghe Tào Tháo nó hậu đãi nhị ca Phi: tam nhật tiểu yến, thất nhật đại yến, thượng mã đề ngân, hạ mã đề kim Yến, ẩm, kim, ngân, yến, ẩm, kim, ngân, ải ải:
Giận bấy quên đành nghĩa đệ huynh
Khi ra gặp Trương Phi, Quan Vũ mừng hỏi thì Trương Phi mắng ngay rằng:
Giận Quan hầu chẳng phải giống người
ấy vậy mà Quan Vũ chẳng những không giận mà còn tự thú nhận:
Ngày ấy hàng Tào, không kịp nghĩ quả là ngu vậy
Hôm nay bỏ Nguỵ, mừng gặp nhau xin hãy thứ tha
Hai vợ chồng Lưu Bị góp lời thanh minh cho Quan Vũ, Trương Phi vẫn không nghe Chỉ đến khi Quan Vũ chém đầu tướng Tào (Thái Dương) trước thành thì Trương Phi mới chịu tin và xin lỗi
Qua đó, chúng ta thấy Đào Tấn có dụng tâm nhấn mạnh mối mâu thuẫn trong tâm trạng Trương Phi, cũng như giữa Trương và Quan, chỉ xung quanh việc Quan Vũ tạm đầu hàng Tào Tháo, mà lời tuồng nói là quyền biến Và tác giả cũng đã để cho Trương Phi mắng Quan Vũ khá nặng bằng những tiếng “phi nhân”, Quan Vũ tự nhận mình là “ngu” chỉ vì quyền biến
Trang 31Theo chúng tôi, đáng chú ý nhất trong tư tưởng của Đào Tấn với thời cuộc là dụng tâm chống thuyết “quyền biến giả, đầu hàng thật” của bọn quan lại phản quốc đương thời, mà đại biểu của họ là Tôn Thọ Tường ở trong Nam, Nguyễn Thân ở miền Trung, Hoàng Cao Khải ở ngoài Bắc Lời đồn đại của giới am hiểu tuồng ở Tuy Phước, Bình Định về việc Đào
Tấn viết vở Cổ Thành là để “chửi kín Hoàng Cao Khải” đã giúp chúng tôi
tìm ra dụng tâm của cụ trong vở tuồng vào loại kiệt tác ấy Đào Tấn thừa nhận thuyết quyền biến vì cụ là bậc đại nho Nhưng cụ chủ trương: Nếu thực sự là ngộ biến tùng quyền, thì không được hưởng sự đãi ngộ của giặc, không lập công cho giặc Cụ đã mượn lời của Trương Phi để nói rõ điều
ấy Thông qua lời buộc tội gay gắt của Trương Phi về hành động tạm đầu hàng của Quan Công, thông qua cả lời của Quan Công thừa nhận việc làm của mình là sai lầm, Đào Tấn lên án hành động đầu hàng giặc Pháp của Tôn Thọ Tường, Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải
Lên án hành động “phản bội thật, quyền biến giả” ấy của bọn Việt gian
đương thời thì quả nhiên là xác đáng, và lý lẽ được nêu lên qua lời của Trương Phi cũng hết sức chặt chẽ, đanh thép Nhưng người lên án ấy không phải là nhân dân, cũng không phải là những chí sĩ, lãnh tụ Cần Vương đương thời, mà lại là Đào Tấn, một người đã làm quan dưới các triều từ Tự Đức đến Thành Thái Điều ấy làm cho chúng ta có thể đặt câu hỏi: Nếu Đào Tấn cho Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân là quyền biến giả hiệu thì phải chăng chính cụ là quyền biến đúng? Vì chính cụ cũng đang thờ một triều vua với Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải, và dù muốn hay không, cũng đã phải làm quan với Pháp kia mà Nếu quả thật Đào Tấn cho mình là quyền biến đúng đi nữa thì, đứng về phía phong trào chống Pháp lúc bấy giờ mà xét, việc ông làm quan với Triều Nguyễn, một triều đình đã cam tâm đầu hàng thực dân Pháp, cũng vẫn là một hành động sai lầm Chỉ
có đi hẳn với các chí sĩ Cần Vương, đứng hẳn về phía nhân dân khởi nghĩa như Trương Định, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, thì mới thật là chính
đáng Tuy nhiên, Đào Tấn có thái độ rõ ràng ủng hộ hoạt động cách mạng
Trang 32của Phan Bội Châu, có tấm lòng ưu ái đối với cụ Phan Đình Phùng, Trương
Định, và qua những lời gửi gắm của cụ trong tác phẩm, chúng ta không thể
đơn giản xếp chung cụ với loại quan lại phản động đương thời, trái lại phải suy nghĩ về ông quan Đào Tấn thận trọng hơn
Ôn kỹ lại lịch sử thời ấy, chúng tôi chợt nhận ra rằng: trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp, giới nhà nho lúc ấy đã chia thành hai bộ phận đối kháng: bộ phận phản bội đầu hàng, và bộ phận yêu nước Trong bộ phận yêu nước lại chia ra hai phái nhỏ, khác nhau: phái nhà nho quan lại yêu nước thì chống Pháp một cách u uất trong khuôn khổ hợp pháp của một triều đình bất lực; phái nhà nho yêu nước nhưng không làm quan (hoặc là làm quan nhỏ) thì chống Pháp tích cực hơn, hoạt động bất hợp pháp, có khi
đi hẳn với nhân dân Đào Tấn thuộc về hàng ngũ quan lại yêu nước Trước tình hình thực dân Pháp xâm chiếm nước ta theo kiểu “tằm ăn dâu”,
do hạn chế bởi tư tưởng trung quân, cụ chưa thấy ngay lập tức tội lỗi của vua, ám chỉ đổ tội cho bọn quan lại hèn nhát khuyên vua làm bậy và cụ chỉ trách vua trao cho bọn ấy quyền bính quá cao (vua trao thượng phương kiếm cho Bàng Hồng )
Trong tuồng “Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan”, Đào Tấn đã để cho
Hoàng Phi Hổ vừa cương quyết bỏ vua Trụ ra đi vừa hát:
Cực lòng chịu oán chịu ân
Đành cam một nỗi vi thần bất trung
Đấy không chỉ là băn khoăn riêng của Đào Tấn, mà còn là băn khoăn của một số quan lại yêu nước đương thời Và ông đã viết câu “thán” của Hoàng Phi Hổ khi Phi Hổ nghe tin vợ mình bị vua Trụ cưỡng dâm, phải nhảy xuống lầu tự tử:
Trung quân chi chí cánh nan thành
Đó cũng chính là niềm day dứt của nhà thơ quanh hai chữ trung quân thực sự đã lỗi thời từ mấy thế kỷ trước, nhưng vì hạn chế của tư tưởng nho giáo, nên mãi đến lúc ấy nó vẫn còn chưa bị đánh “gục hẳn” Cho nên, khi phê phán thuyết quyền biến giả hiệu của bọn quan lại nhà nho nhanh nhẩu
Trang 33chạy đi làm tay sai đắc lực cho thực dân Pháp như bọn Hoàng Cao Khải và Nguyễn Thân, Đào Tấn đã đứng ở phía những quan lại có tư tưởng chống
giặc nhưng lại thờ vua Mấy câu thơ trong bài thơ “Xin từ quan về phụng
dưỡng mẹ già”:
Mẹ già tám kỷ mong hôm sớm
Chúa trẻ nhiều năm gội móc mưa
Ngoảnh lại vườn đông muôn dặm cách…
có thể chứng minh cho tư tưởng thờ vua rất hạn chế ấy của ông
2 Tâm tư Đào Tấn với quê hương đất nước:
Triệu Khánh Sanh trong “Diễn Võ đình” Sau khi đánh bại Bàng Hồng, tên
gian thần được vua trao cho “thượng phương kiếm”, Triệu Khánh Sanh một mình một ngựa, đứng nhìn non sông đất nước, hát:
Chinh chiến kỷ nhân hồi,
Túy ngoạ sa trường quân mạc tiếu
Hướng quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
(Chinh chiến mấy ai về,
Chớ cười kẻ ngã trên chiến trận
Quê hương đâu đó tá,
Trên sông khói sóng giục cơn sầu)
Chút thân liều gởi cung dâu
Đố con lương mã biết đầu là nhà?
Đây là tâm tư của Triệu Khánh Sanh, đồng thời cũng chính là tâm sự
của Đào Tấn Đứng trước non sông đất nước của chính mình mà buông lời
Trang 34hỏi “Quê hương đâu đó tá?” thì còn gì bi thương bằng Câu hỏi đó còn
được nhắc đi nhắc lại trong một số vở tuồng khác như Cổ thành, Hộ sinh
đàn
Đọc tuồng Trưng Nữ Vương của Phan Bội Châu, ta cũng nghe thấy cái
tâm tình ưu quốc ấy:
Gió thảm mây sầu, Giao Chỉ sơn hà đâu đó tá?
Non hờn biển tủi Việt Thường dân tộc đá mờ tên
Có khác là trong tuồng Trưng Nữ Vương cái u uất trong tâm tư Thi Sách
đã bị đánh tan trong khí phách dựng cờ khởi nghĩa của Hai Bà Trưng Còn trong tuồng của Đào Tấn, cái u uất ấy hầu như triền miên, nan giải Điều
ấy cũng không thật khó hiểu Vì vở tuồng Trưng Nữ Vương đã được viết
với dụng tâm biến thành một bài hịch kêu gọi khởi nghĩa, với tư cách là một nhà cách mạng Trong tuồng Đào Tấn là lời gửi gắm tâm tình, là tấm lòng của một nhà thơ gắn liền với ông quan có tấm lòng ưu quốc, sống trong hoàn cảnh éo le Cái u uất vì không tìm ra lối thoát cho đất nước thoát khỏi cảnh tai ương vì quân cướp nước cộng với cái u uất đối với lũ nịnh thần, không thổ lộ được với ai, lại càng cho tâm tư của nhà thơ càng thêm uất hận hơn Chúng ta nghe nỗi niềm u uất ấy thấm thía biết bao trong câu xướng của Trương Phi:
Quạnh quẽ niềm riêng dạ khó khuây
Chày sương rời rạc trống canh chầy
Ngựa hồ hí gió nghe dồn dập
Giọt lệ anh hùng gạt lại đầy
Gần đây, đọc bài tựa “Biện kinh thất thủ” do tự tay Đào Tấn viết (tài
liệu do Đinh Văn Tuấn và Nguyễn Thế Triết sưu tầm) chúng ta càng thấy
rõ hơn cái hạn chế trong tâm tư của cụ Bài tựa viết:
“Khứ niên Hà thành thất thủ Hoàng Quang Viễn tuẫn quốc Ngô tâm thậm thống chi Cố tác thử truyện dĩ phát phẫn dã Truyện trung hữu Kim Ngột Truật chi xú dung dữ Tống Lục Đăng chi trung ngữ, khủng can thời
Trang 35Nghĩa là: Năm ngoái Hà thành mất Hoàng Quang Viễn chết vì nước Lòng ta rất đau xót Do đó viết truyện này để giải bày nỗi căm phẫn Trong chuyện có hình dung xấu xí của Kim Ngột Truật và lời lẽ trung nghĩa của
Tống Lục Đăng, sợ can hệ đến thời thế Biện kinh thất thủ có thể đọc mà
Đó là câu hát giả điên của Phương Cơ trong tuồng Tam nữ đồ vương, hồi
2, do Đào Tấn viết lại dưới nhan đề Khuê các anh hùng Giới thạo tuồng
đương thời đều biết dụng ý của vở: Lý Khắc Minh ẩn nhẫn giả vờ phục tùng Triệu Văn Hoán để tìm cách cứu nước Nhưng cuối cùng, công cuộc cứu nước không do Lý Khắc Minh, mà do ba cô gái: Phương Cơ, một cô gái nông dân, Xuân Hương, con gái Lý Khắc Minh và Bích Hà, cô hầu gái thân tín của Xuân Hương cùng đứng lên, anh dũng đảm nhận, mỗi người lo một việc, phối hợp với Triệu Tư Cung và Tạ Ngọc Lân đưa công cuộc cứu nước đến thắng lợi cuối cùng Bằng những chữ “tu mi nam tử”, ở đây, Đào Tấn không nói hạng “mày râu” chung chung nào, mà ám chỉ hẳn bọn quan lại bất lực của triều đình Tự Đức trước nạn đất nước bị nghiêng ngửa Ông trách mắng bọn ấy rằng:
Thịt đi thây chạy tời bời
Lộc vua ăn uống, cột trời để xiêu
Trang 36Hoán Lại đành phải lặng thinh cả giữa khi bọn chúng bêu đầu Quản Hợi giữa triều, Lý lại phải quỳ lạy Triệu Văn Hoán, xin hắn cho ông lập công lĩnh Chánh hậu về dinh tra xét Lời Lý Khắc Minh tâu với Triệu Văn Hoán phản ánh rõ rệt nỗi cay đắng trong lòng ông:
Thưa ngài! Ngài đến cái vận ngồi, thì xin ngài cứ ngồi
Còn tôi! Tôi đến cái vận quỳ, thì ngài cứ để cho tôi quỳ…
Khắc Minh đi tuần tra về khuya, nghe Phương Cơ giả điên đi ngang qua hát bài đầy phẫn kích:
Mây che bóng nguyệt
Bụi lấp đài gương
Lục nguyệt phi sương
Tam niên bất võ
Nghe tiếng ca cuồng nữ
Dường lời nói hữu tình
Xét tình riêng mình hổ mình
Ngẫm việc nước âu yếm thế…
Trang 37Thực ra, lời của Phương Cơ phẫn kích, và lời của Lý Khắc Minh băn khoăn, chẳng qua cũng chỉ là lời của nhà thơ nêu lên tự hỏi lòng mình.Và,
“khẩu khí” có thể cho phép chúng ta nghĩ rằng: hình tượng Lý Khắc Minh
là sự “hoá thân” của Đào Tấn Loại quan trung với nước nhưng yếu thế là loại vai mẫu của tuồng cổ Loại vai mẫu ấy đã đẻ ra hàng loạt điển hình
trong các vở tuồng truyền thống nổi tiếng: Lê Tử Trình trong Sơn hậu, Lý Khắc Minh trong Tam nữ đồ vương, Thiện Công trong Lý Phụng Đình, Hoàng Tử trong Đào Phi Phụng… trong số ấy, Lê Tử Trình và Lý Khắc
Minh là hai điển hình rõ nét hơn hết Lê Tử Trình cũng nung nấu lòng yêu nước trong cái thế yếu và cô độc:
(thán) Thương bấy nhiêu nhà Tề nền nghiệp cũ
Giận thay họ Tạ thói gian manh
Thương hại cho tôi, ra một mình, vô cũng một mình
Chung sức cùng ai
Cứu vớt muôn dân cơn nước lửa?
Riêng mình với bóng
Nặng nề nghìn nỗi gánh non sông!
Nhưng Lê Tử Trình chỉ là một nội giám Còn Lý Khắc Minh thì đường
đường một quan phụ chính, được vua di chúc uỷ quyền cho giúp chánh hậu phụ trách việc nước, mà phải đành chịu lép Lý Khắc Minh có quyền, nhưng thế và lực không có Không có thế và lực thì quyền cũng trở thành vô dụng Tình cảnh ấy lại càng cay đắng hơn Do đó, tâm tư của Đào Tấn lại càng u uất, nghẹn ngào hơn tâm tư của Lê Tử Trình Đào Tấn đã chọn
Lý Khắc Minh làm điểm tựa gửi gắm tâm tình mình Lý Khắc Minh đã phải cay đắng chịu quỳ lạy Triệu Văn Hoán, chịu tạm thời làm tay sai cho tên phản quốc hại dân sẽ được hắn tin dùng, trao cho quyền cai quản tù Chánh hậu, rồi ngấm ngầm tìm cách giải thoát cho Chánh hậu đang mang thai thái tử trong bụng Phải chăng Đào Tấn đã phải ẩn nhẫn làm quan, đã làm cả Tổng Đốc, Thượng thư, tận tụy phục vụ vị vua yêu nước trẻ Thành Thái cũng là để được quyền quản lý tình hình ở đây, rồi ngấm ngầm giúp
Trang 38các phong trào cứu nước hoạt động? Việc ông tìm mọi cách nâng đỡ, che chở cho Phan Bội Châu, có thể biện minh cho phỏng đoán đó chăng? và khi nghe Phương Cơ hát những câu:
Tu mi nam tử kìa ai?
Để cho khăn yếm nghiêng vai đỡ nghèo…
Khăn yếm đàn bà
Mày râu nam tử?
Chúng ta có cảm giác như Đào Tấn cũng lên tiếng chê trách cả chính bản thân mình!
4 Ước mơ cuối cùng của Đào Tấn:
Chúng ta nghĩ rằng, vở tuồng Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan rồi tiếp
vở Hộ sanh đàn nên được coi là những bước ngoặt quan trọng trong tư
tưởng của nhà thơ họ Đào đối với thời cuộc Tư tưởng thờ vua đã ràng
buộc tư tưởng cụ trong thời gian khá dài Đến tuồng Trầm hương các, tuy
có ngụ ý phê phán Đồng Khánh dâm dật, nhưng ngụ ý chính vẫn là “đốt
sạch lũ hồ ly” Vở Diễn Võ đình thì Triệu Khánh Sanh vì bức bách nên
phải đánh lui Bàng Hồng, ra đi, nhưng lại không biết đi về đâu! Do đó, thật đáng chú ý khi cụ tán thành hành động bỏ Trụ về Chu của Hoàng Phi
Hổ, mặc dù Hoàng Phi Hổ ra đi theo tiếng gọi của chính nghĩa nhưng còn
sợ mang tiếng “vi thần bất trung”! Đến Hộ sanh đàn thì Đào Tấn đã công
khai ca ngợi cái cảnh sống lục lâm ngoài vòng cương toả
Lan Anh: (xướng)
Cảnh nhàn trăng gió thảy vô biên
Một động hoa đào một cõi riêng
Chớ hỏi phúc này tu mấy kiếp…
Nhà soạn tuồng đã biến Tiết Cương từ một người chống Võ Hậu chỉ vì
mối thù nhà thành một “anh hùng mang nặng gánh non sông”, một anh
hùng chân không, áo ngắn Triều đình trong các vở trước của cụ tuy đã hỗn loạn, nhưng dù sao hàng quan lại trong triều vẫn còn những người có
Trang 39là công cụ thẳng tay đàn áp chính nghĩa Tiết Cương là biểu tượng của chính nghĩa, và những người cứu được Tiết Cương, cứu được chính nghĩa,
đều là những kẻ sống ngoài vòng pháp luật Điều đáng chú ý là vở tuồng
Đó là mối hận thù của non nước Nó được Tiết Cương nhắc đến:
Mang mang thương hải hận nan bình
Cố quốc hồi đầu lao mộng mị
(Biển xanh cuồn cuộn hận không nguôi
Nhọc mộng ngoảnh trông về nước cũ)
Ngóng phương trời gởi gánh non sông…
Và cũng chỉ có nó mới đoàn kết được những người từ nhiều nơi khác nhau thành một khối Có lẽ Đào Tấn cũng cho đó là đỉnh cao của toàn bộ tiến trình sáng tác của mình đối với thời cuộc Những ngày về hưu ở quê
nhà Đào Tấn cho dựng và diễn Hộ sinh đàn, một vở tuồng rất phổ cập
nhằm nói lên lý tưởng hợp quần của những người yêu nước
5 Đào Tấn và người anh hùng cứu nước
Lao xao sóng vỗ ngọn tùng
Gian nan là nợ anh hùng phải vay
(Hộ sinh đàn)
Hầu hết những người yêu tuồng ở Miền Trung đều thuộc câu thơ bất hủ
ấy trong tuồng Hộ sanh đàn, ý tưởng ấy lại được nhà thơ nhắc lại trong tuồng Cổ Thành:
Non tùng sóng vỗ lao xao
Trang 40Trần ai gởi dấu anh hào còn xa!
Có thể nói rằng, nhân vật trung tâm trong tác phẩm Đào Tấn là người anh hùng Chúng ta thử thống kê những nhân vật chính trong các vở tuồng như Triệu Khánh Sanh, Trương Phi, Hoàng Phi Hổ, Phương Cơ, Lan Anh, Tiết Cương, Đổng Kim Lân… tất cả những nhân vật ấy đều là những con người phi thường, những anh hùng của thời đại Nhà thơ có tấm lòng yêu mến đặc biệt đối với họ Hầu hết các vở tuồng của cụ đều viết trên cơ sở những khung cốt truyện và nhân vật tuồng cổ Nhưng, so với một số văn
bản cũ như Cổ thành, Sơn hậu, Tiết Cương tam phá Thiết Khâu phần…
thì những nhân vật của cụ đều đẹp hơn nhiều so với bản trước Cái đẹp ấy trước tiên là ở chỗ nhà soạn tuồng đã bổ sung vào ý thức của họ một tinh thần yêu nước thương dân, tinh thần ấy thúc đẩy tất cả hành động vượt lên ngịch cảnh để hoàn thành nghĩa cả của họ Mặt khác, cụ không nhìn anh hùng qua phong độ và hành động bên ngoài, mà đã biểu hiện họ với thế giới bên trong hết sức phong phú và đa dạng, bằng những lời thơ sâu sắc và thấm thía ở những nhân vật anh hùng ấy, sau khi qua bàn tay nghệ thuật Đào Tấn, hầu hết đều mang những nỗi băn khoăn ray rứt triền miên… băn khoăn ray dứt vì vận mệnh của nước nhà, vì trách nhiệm và hành động của công dân, chứ không hề băn khoăn day dứt cho riêng mình
Họ đều là những người tài hoa có tâm huyết, chứ không phải là những “nội
giám trói gà không chặt” như Lê Tử Trình Sở dĩ như thế, vì họ đều ở
trong những hoàn cảnh do tương quan lực lượng, buộc họ tạm thời nhẫn nhục chịu đựng Đó cũng là hoàn cảnh của chính bản thân tác giả Và có lẽ vì thế, mà tác giả tỏ lòng đồng cảm cao độ với những người vì giúp nước nhà phải chống lại cha (như Triệu Tư Cung), vì vẹn nghĩa mà phải phụ chồng (như Dương Tú Hà) và đã đành cho họ những lời thơ đẹp đẽ:
Xét thân hổ với cao dày
Phơi gan giúp chúa chau mày phụ cha
Tưởng oan gia càng sa nước mắt
Gan anh hùng trỗ mặt từ bi