chương trình khung đào tạo vovinam cho huấn lluye6n5 viên và những ai muốn tự học theo trình tự môn vovinam
Trang 1Chương Trình Đào Tạo
Chương trình học Vovinam Việt Võ Đạo được chia ra làm 3 phần: Sơ đẳng, trung đẳng và cao đẳng.Người học Vovinam bắt đầu từ những đòn thế căn bản đến nâng cao theo các trình độ sau:
Trang 2-Áp dụng các thế Chiến lược tập giao đấu
- Hai tay nắm một tay trước
- Hai tay nắm hai tay trước
- Hai tay nắm 2 tay sau
- Khoá sau vòng gáy lối 1
Song Luyện 2, hoặc
Liên Hoàn Đối Luyện 1
5 Lam đai đệ tam cấp:
- Màu đai: xanh đậm 3 vạch vàng
Song Luyện Vật 1, hoặc
Liên Hoàn Đối Luyện 2
Nhu Khí Công Quyền 1
II Trung đẳng:
Trang 36 Hoàng đai:
- Màu đai: Vàng không vạch
- Thời gian tập: 2 năm
- Khóa nghẹt cổ trước và sau
- Khoa sau vòng gáy lối 2
- Bóp cổ sau lối 2
- Các thế Nắm tay lối 2
- Bóp cổ trước lối 3
- Bài quyền:
Viên Phương Quyền
Tinh Hoa Lưỡng Nghi Kiếm Pháp
Trang 49 Hoàng đai đệ tam cấp:
- Màu đai: Vàng 3 vạch đỏ
- Thời gian tập: 4 năm
- Kỹ thuật:
12 thế Côn căn bản và Phân thế
9 thế tay không đoạt Súng trường
4 thế tay không đoạt Súng ngắn
Liên Hoàn Đối Luyện 3
Mười Điều Tâm Niệm
1 Vote
Người học võ Vovinam Việt Võ Đạo có mười điều tâm niệm để rèn luyện kỷ luật, võ thuật, võ đạo, nhân cách, đối nhân xử thế, ý chí kiên cường tình đoàn kết…
1 Việt Võ Đạo Sinh
Nguyện đạt tới cao độ của nghệ thuật để phục vụ dân tộc và nhân loại
2 Việt Võ Đạo Sinh
Nguyện trung kiên phát huy môn phái, xây dựng thế hệ thanh niên dấn thân hiến ích
3 Việt Võ Đạo Sinh
Đồng tâm nhất trí, tôn kính người trên, thương mền đồng đạo
4 Việt Võ Đạo Sinh
Tuyệt đối tôn trọng kỷ luật, nêu cao danh dự võ sĩ
5 Việt Võ Đạo Sinh
Tôn trọng các võ phái khác, chỉ dùng võ để tự vệ và bênh vực lẽ phải
6 Việt Võ Đạo Sinh
Chuyên cần học tập, rèn luyện tinh thần, trau dồi đạo hạnh
7 Việt Võ Đạo Sinh
Sống trong sạch, trung thực, giản dị và cao thượng
8 Việt Võ Đạo Sinh
Kiện toàn một ý chí đanh thép, nỗ lực tự thân cầu tiến
9 Việt Võ Đạo Sinh
Sáng suốt nhận định, bền gan tranh đấu, tháo vát hành động
10 Việt Võ Đạo Sinh
Tự tin, tự thắng, khiêm cung, độ lượng, luôn luôn kiểm điểm để tiến bộ
Nghiêm Lễ
Nghiêm Lễ là gì?
Nghiêm Lễ – Lễ là lối chào của Vovinam Việt Võ Đạo qua 2 động tác Nghiêm-Lễ và Lễ.
Trang 5Nghiêm Lễ là động tác bàn tay phải khép chặt đặt lên trái tim, hai chân khép hình chữ V, lưng thẳng
và mắt nhìn về phía người đối diện
Lễ là động tác cúi người về trước cho tới khi mũi bàn tay trái chạm gối trái, mắt ngước nhìn vào người được chào Dừng khoảng 2 giây rồi trở về tư thế Nghiêm – Lễ
Ý nghĩa của việc đặt bàn tay phải lên ngực trái tim có ý nghĩa bàn tay thép đặt lên trái tim từ ái, đức dũng đi đôi với lòng nhân, võ thuật gắn liền với võ đạo Việt Võ Đạo Sinh chỉ được dùng võ để rèn luyện sức khỏe, tự vệ, cảnh cáo và cảm hóa người chứ không được dùng để trừng phạt, trả thù người
Thực hiện nghi thức Nghiêm Lễ với ai? Khi nào?
Người môn sinh Vovinam Việt Võ Đạo thực hiện nghi thức Nghiêm Lễ với Võ sư hoặc Huấn luyện viên
Khi đến võ đường phải thực hiện nghi thức Nghiêm Lễ trước và sau khi tập luyện với Di ảnh cố Võ
sư sáng tổ Nguyễn Lộc, cố Võ sư chưởng môn Lê Sáng và với Võ sư, Huấn luyện viên phụ trách.Khi tập luyện, thi triển một bài quyền, song luyện, đa luyện… người môn sinh Vovinam phải thực hiện nghi thức Nghiêm Lễ trước và sau khi tập với Di ảnh cố Võ sư sáng tổ Nguyễn Lộc, cố Võ sư chưởng môn Lê Sáng và với bạn đồng môn cùng tập luyện với mình
Mục Đích Học Võ
Thư Chưởng Môn Vovinam Việt Võ Đạo – Lê Sáng
Các môn đệ thân mến !
Làm việc gì cũng cần có mục đích Mục đích phải mang lại lợi ích cho con người thì việc làm mới
có ý nghĩa, mới được mọi người công nhận, và người thực hiện sẽ cảm thấy hứng khởi mà đặt hết tâm trí vào công việc
Học võ cũng vậy, nếu không có mục đích, chẳng khác gì người đi đường không biết mình đi đâu,
người lính ra trận mà không biết mình ra trận để làm gì? Tuy vậy, có những mục đích cao xa đáng nâng lên thành lý tưởng, và có những mục đích tầm thường thiển cận, chỉ có giá trị và được đặt ra trong một giai đoạn nào đó mà thôi
Người bắn cung, dù có lắp tên căng dây, nhưng nhắm mắt buông dây bừa đi thì đó là không có mục đích, sự bắn cung chẳng có ý nghĩa gì Nếu chỉ nhằm những đích gần và thấp, rồi dí sát vào tận nơi
mà bắn, hẳn dễ trúng lắm Song sự bắn trúng đó chẳng mang lại cảm giác thích thú gì, vì đích đó tầm thường, thấp kém quá, có gì đáng hãnh diện ?
Cho nên khi mới học bắn có thể nhắm những đích gần và thấp, sau đó phải đặt lên một tầm mức cao
xa hơn, việc bắn mới có ý nghĩa Nhưng điểm quan trọng là ở chỗ suy nghĩ để tìm phương cách: Làm thế nào đạt tới, làm sao cho trúng đích? Chính những tính toán và sự sửa soạn để vươn tới thành
quả đó là một cơ hội cho ta tự kiện toàn chính mình, gặt hái được nhiều kinh nghiệm để trở nên trưởng thành hơn
Học võ cũng vậy, có mục đích mới có hứng thú để tạo đà tiến bộ Cũng như học bắn cung, lúc đầu có
thể nhắm những đích gần và thấp, như học võ để tự vệ, học võ vì ham thích võ thuật, muốn trở
thànhnhân vật giỏi võ Ðó chỉ là ý nghĩ đầu tiên của những người mới bước chân vào ngưỡng cửa Vovinam Việt Võ Đạo Sau đó, người võ sinh sẽ thấy rằng: võ thuật và võ đạo là những chất liệu vô cùng quan thiết để xây dựng con người có ý chí, nghị lực, khoan hòa, đức độ, biết sống vì mọi người thì sẽ được mọi người yêu thương, tin tưởng Ðược vậy, chắc chắn sẽ dễ dàng thành công trong đời sống Ðó là học võ với tinh thần võ đạo, cao xa mà thiết thực, mọi môn sinh nếu cố gắng, kiên nhẫn theo đuổi, rèn luyện và tu dưỡng, đều đạt tới đích cả
Với nhận thức trên, môn sinh Vovinam Việt Võ Đạo học võ để thân thể khoẻ mạnh, trí tuệ minh mẫn,tâm hồn cao thượng, để có ý chí hơn, có nghị lực hơn, để tin tưởng cái giá trị thực sự nơi con người của mình, tin tưởng khả năng đóng góp của mình sẽ đắc lực hơn vào việc mưu cầu hạnh phúc chung cho gia đình, cho xã hội
Chưởng môn Lê Sáng.
Ý Nghĩa Của Sợi Đai Đen
Hệ thống đẳng cấp Vovinam Việt Võ Đạo hiện nay không còn sử dụng đai đen Tuy nhiên, võ sinh Vovinam Việt Võ Đạo cần biết ý nghĩa sợi đai mà mình mang trên người thông qua nhiều cách khác nhau như: quá trình tập luyện, mồ hôi xương máu đổ trên đó, hay ý nghĩa phẩm chất, nhân cách của người mang sợi đai màu đen trên người Ý nghĩa của nó thật sự thâm thúy và hầu như ai đã từng đọc, tìm hiểu về ý nghĩa sợi đai đen đều rất tâm đắc Ở đây, chúng tôi gửi đến các võ sinh Vovinam Việt
Trang 6Võ Đạo bài viết của một vị võ sư người Nhật nói về sợi đai đen Võ sinh cần biết, văn hóa võ thuật của Việt Nam và Nhật Bản có những sự tương đồng và khác biệt rất rõ rệt Chính vì thế, hãy đọc và cảm nhận, đừng để bị hòa tan hay choáng ngợp.
” Thông qua chuyên mục này tôi đã nhận được thư hỏi thăm trên khắp cả nước Và một trong những
câu hỏi tôi thường thấy nhất là “Tập bao lâu để lên được đai đen?” Tôi không biết câu hỏi này ở
các võ đường khác được trả lời ra sao, nhưng những học trò của tôi hiểu rằng nếu hỏi câu hỏi như vậy
ở võ đường của tôi thì sẽ khiến sự tiến bộ của họ chậm lại hàng năm trời Đó thật sự là một thảm hoạ.Hầu hết mọi người đều rất vui nếu tôi nói chỉ mất một vài năm để lên đến đai đen, nhưng thực tế, rất đáng tiếc, là không phải vậy Và mặc dù điều tôi nói ra làm hầu hết mọi người không vui, tôi cho rằng cần làm rõ khái niệm “đai đen” ra càng rõ càng tốt Tôi thường khuyến cáo học trò của tôi khôngnên hỏi những câu tương tự như vậy vì câu trả lời chẳng phải là những điều họ muốn nghe
Làm thế nào để đạt được đai đen? Bạn tìm một võ sư có trình độ và một võ đường tốt, bắt đầu tập luyện chăm chỉ Một ngày nào đó, ai biết là khi nào, bạn sẽ đạt được đai đen Điều này không dễ nhưng là xứng đáng với những công sức bạn bỏ ra Bạn có thể mất một năm hoặc cũng có thể mất mười năm Bạn có thể chẳng bao giờ đạt được đai đen Chỉ cho đến khi bạn nhận ra rằng chiếc đai đen không quan trọng bằng sự tập luyện thì có lẽ là bạn đã đạt được đến trình độ đai đen rồi Khi nào bạn nhận ra rằng bất kể bao lâu hay bất kể là bạn luyện tập vất vả đến đâu, có cả một đời mà bạn luônphải học hỏi và rèn luyện cho đến khi vĩnh biệt cõi đời, có lẽ là bạn đã gần đạt được chiếc đai đen rồi đó
Dù bạn có đạt đến trình độ nào, nếu bạn nghĩ rằng bạn “xứng đáng” đeo chiếc đai đen, hoặc nghĩ rằngbạn đủ giỏi để là một võ sĩ đai đen thì bạn đang đi chệch hướng và thực tế là còn rất lâu mới đạt đượcđai đen Tập luyện chăm chỉ, khiêm tốn, không thể hiện trước mặt sư phụ hoặc bạn tập, không phàn nàn về những công việc của mình và cố gắng hết sức đối với mọi việc trong cuộc sống Đó là ý nghĩa của một võ sĩ đai đen Quá tự tin, thích thể hiện khả năng, thích ganh đua, khinh thường mọi người, thể hiện sự thiếu tôn trọng, thích chọn và làm việc mình thích hoặc không thích (tin rằng công việc đólàm giảm/mất giá trị của bạn) thì đó là biểu hiện của người sẽ không bao giờ đạt được đai đen Cái
mà họ đeo ngang eo chỉ đơn giản là một món hàng vài đô trong các cửa hàng võ phục mà thôi Một chiếc đai đen thực thụ, đeo bởi một võ sĩ đai đen thực thụ là chiếc đai trắng của mọi võ sinh mới tập
đã ngả màu bởi máu và mồ hôi
Cách thức luyện tập
Đệ nhất huyền đai ở Nhật Bản gọi là Shodan Chữ đó có nghĩa là “nhất đẳng” Sho (đầu tiên) là một hình ảnh thú vị Nó bao gồm hai bộ “cân” và “đao” (miếng vải, lưỡi dao) Để làm được một miếng vải người ta phải cắt một miếng vải ra Cái cách đó quyết định mẫu mã và hình dáng cuối cùng của sản phẩm Nếu cách chia tỉ lệ không hợp lý hoặc có lỗi, bộ quần áo sẽ trông xấu và không vừa người Cũng tương tự như vậy, những bước ban đầu luyện tập để đạt được đai đen có ý nghĩa rất quan trọng;điều đó quyết định bạn sẽ trở thành một võ sĩ huyền đai như thế nào
Trong rất nhiều năm dạy dỗ của tôi nhận thấy rằng những học trò chỉ quan tâm đến việc đạt được đai đen thường dễ nản chí ngay khi họ nhận ra việc đó khó hơn là họ nghĩ Những người đến chỉ với tinh thần luyện tập, không quan tâm đến cấp độ hay việc thăng cấp, thường luyện tập rất tốt Họ không bị những chiếc bóng của kỳ vọng hay những mục tiêu thiếu thực tế đè bẹp
Có một câu chuyện nổi tiếng về Yagyu Matajuro, con trai gia đình kiếm thuật Yagyu nổi tiếng ở thế
kỷ 17 của xã hội phong kiến Nhật Anh ta bị hất ra khỏi gia đình do kém tài năng và phẩm chất và đã tìm đến để học thày Tsukahara Bokuden với hi vong đạt trình độ thượng thừa về kiếm và lấy lại được
vị trí trong gia đình Trong buổi nói chuyện ra mắt, Matajuro đã hỏi Tsukahara Bokuden “Sẽ mất bao lâu để giỏi được kiếm?” Bokuden trả lời “Sẽ mất khoảng năm năm nếu như anh tập luyện chăm chỉ.”
“Nếu tôi tập luyện chăm chỉ gấp đôi, thì sẽ mất khoảng bao lâu?” Matajuro hỏi “Trong trường hợp đócậu sẽ mất mười năm” Bokuden trả lời
Trang 7Liệu bạn có thể đơn giản chỉ nghĩ “Tôi sẽ quên hoàn toàn về đẳng cấp”? Hoặc liệu bạn có thể tự
nhủ với chính bản thân bạn là bạn sẽ không bao giờ đạt được điều đó? Liệu bạn có luôn bị ám ảnh bởi cái đai đen của mình, để cho ý tưởng đó dai dẳng mãi ở trong trí óc mình không? Nói cách khác liệu bạn có thể tập trung vào việc luyện tập mà không quan tâm đến những điều khác được không? Liệu bạn có thể cuối cùng nhận ra được rằng đai đen chẳng qua chỉ là cái gì đó để “giữ quần của bạn
mà thôi”?
Bạn cũng nên nhận ra rằng dù cho bạn thuần thục tất cả những yêu cầu, biết tất cả các kỹ thuật, tất cả các dạng được yêu cầu trong một khoảng thời gian luyện tập thích hợp, bạn vẫn chưa thể đạt được đaiđen Để đạt được đai đen không phải là một con số định lượng để có thể đo đạc cân đo giống như mua đậu ngoài chợ đâu Đai đen là một điều gì đó có ý nghĩa đối với bạn như là một con người Bạn
sẽ cư xử như nào trong và ngoài sân tập, thái độ của bạn đối với thầy dạy của mình và những đồng môn, mục đích sống của bạn, cách mà bạn giải quyết các trở ngại trong cuộc sống, cách bạn kiên trì trong luyện tập là những điều kiện quan trọng cho chiếc đai đen của bạn Cùng lúc đó, bạn trở thành tấm gương cho những học viên khác và cuối cùng đạt được vị trí là một người thày hoặc một người trợ giảng Ở sân tập, trách nhiệm của bạn lớn hơn rất nhiều so với những học viên thông thường khác.Trách nhiệm của bạn lớn lao rất nhiều với tư cách là một võ sinh đai đen
Đạt được mục tiêu trong luyện tập
Làm thế nào để chúng ta tập trung vào việc luyện tập? Tập luyện một cách thành công, đến một mức
độ nhất định là khi chúng ta nhìn xem chúng ta đã làm được những gì từ một quan điểm hợp lý và thực tiễn Thường thì là chúng ta không nhìn tới những mục tiêu thực tế mà toàn nghĩ đến những giấc
mơ và các ảo tưởng mà thôi Liệu bạn có muốn xuất xắc trong võ nghệ như là một cách để cải tạo bảnthân và cuộc sống của mình hay vì bạn bị ảnh hưởng bởi những bộ phim cảnh sát với kẻ cướp Liệu rằng việc luyện tập của bạn có động lực bởi một mong muốn mạnh mẽ để khai sáng bản thân hay chỉ
vì đơn thuần bạn muốn bắt chước một ngôi sao võ thuật nào đó? Mặc dù những người luyện võ lâu rồi có thể cười, những có rất nhiều người khi tập võ chỉ vì họ muốn được giống như Chuck Norris hoặc Steven Seagal Đó là những người thành tựu bằng chính bản thân của mình Bạn là chính bạn Tất cả chúng ta đều có những người hùng của mình, những hình mẫu riêng và những giấc mơ nhưng chúng ta phải tách những tưởng tượng của mình ra khỏi thực tế để cho việc luyện tập của mình có ý nghĩa và thành công
Đạt được chiếc đai đen
Hãy nghĩ về việc mất chiếc đai đen đừng nghĩ về việc đạt được nó Sawaki Kodo, một bậc thày về Thiền, thường nói “Giành được gì đó thường là một sự chịu đựng, mất mát và là một sự khai sáng.” Nếu ai đó hỏi về sự khác nhau giữa những võ sĩ trước kia và bây giờ thì tôi có thể nói ngắn gọn như này Võ sĩ ngày trước nhìn việc luyện tập như là “sự mất mát” Họ giành tất cả cho võ thuật và sự luyện tập Họ từ bỏ gia đình, nghề nghiệp, sự an toàn, danh tiếng, tiền bạc và mọi thứ để thành tựu bản thân mình Ngày nay, chúng ta chỉ nghĩ về việc được gì “Tôi muốn cái này, tôi muốn cái kia” Chúng ta muốn luyện tập võ thuật nhưng chúng ta cũng cần tiền, xe hơi đẹp, danh tiếng, điện thoại cầm tay và rất nhiều những thứ khác mà người khác có
Trang 8Đức Phật Thích Ca đã rời bỏ vương quốc, lâu đài, vợ xinh và tất cả mọi thứ để tìm kiếm sự khai sáng cuối cùng Người đệ tử đầu tiên của Bồ Đề Đạt Ma, người được coi là người sáng lập Kung Fu Thiếu Lâm, đã cắt tay trái của mình để được học sư phụ của mình Giờ đây chúng ta không phải làm những cách khắc nghiệt như vậy, nhưng chúng ta không được quên đi tinh thần và ý chí của những người thày lớn trong quá khứ Chúng ta phải nhận ra rằng chúng ta phải hi sinh cuộc sống của chính chúng
ta để theo đuổi việc luyện tập
Khi người võ sinh nhìn việc luyện tập của mình từ quan điểm là mất mát hơn là đạt được gì đó thì anh ta đã gần đạt tới tinh thần của tự chủ và thật sự xứng đáng với chiếc đai đen Chỉ khi mà bạn từ
bỏ tất cả những ý nghĩ về đẳng cấp, đai, danh hiệu, danh tiếng, tiền bạc và sự làm chủ thì bạn sẽ đạt được điều mà thật sự quan trọng đối với việc luyện tập của bạn Hãy khiêm tốn, hãy nhẹ nhàng Hãy quan tâm đến những người khác và đặt những người đó lên trên trước bạn Luyện võ chính là rèn luyện bản thân mình – rèn luyện cái tôi của mình Điều đó không có gì liên quan đến đẳng cấp hết.Một bậc thầy lớn về Thiền đã từng nói “Học về bản ngã để quên đi bản ngã Khi quên được bản ngã thì bạn sẽ hiểu được mọi điều”
(Thầy Kensho Furuya)
3 Mục đích và 5 Tôn chỉ Vovinam Việt Võ Đạo
3 Mục đích hoạt động của môn phái Vovinam Việt Võ Đạo:
Môn phái Vovinam Việt Võ Đạo hoạt động nhằm 3 mục đích:
* Bảo tồn, chấn hưng và phát triển môn phái Vovinam Việt Võ Đạo do cố võ sư Nguyễn Lộc sáng tạo năm 1938 Vovinam Việt Võ Đạo nêu cao tinh thần truyền thống bất khuất của dân tộc, khai thác trọn vẹn hai phần CƯƠNG và NHU của con người, và phối hợp mọi tinh hoa võ thuật đã có trên thế giới
* Sưu tầm, nghiên cứu và phát sinh các thế võ để tu bổ, xây dựng cho nền võ thuật Vovinam mỗi ngày một phong phú và tiến bộ
* Huấn luyện môn sinh trên ba phương diện Võ lực – Võ thuật và Tinh Thần Võ đạo
Về Võ Ðạo: Môn phái luyện tập cho môn sinh có một thân hình dắn dỏi, vũng vàng; một sức lực mạnh mẽ dẻo dai để có thể bền bỉ chịu đựng trước mọi khó khăn, cực nhọc, đẩy lui các bệnh tật, giữ cho thân thể luôn luôn tráng kiện và lành mạnh
Về Võ Thuật: Môn phái sẽ huấn luyện cho môn sinh một kỹ thuật tinh vi để tự vệ hữu hiệu và sẵn sàng bênh vực lẽ phải
Về Tinh Thần Võ Ðạo: Môn phái sẽ rèn luyện cho môn sinh một tâm hồn cao thượng, một ý chí bất khuất, một tính tình hào hiệp, biết khép mình trong kỷ luật tự giác, biết sống hợp quần trong tình đồng đạo, biết hy sinh trong nếp sống vị tha và trở nên những công dân gương mẫu, phục vụ cho bản thân, gia đình, tổ quốc và nhân loại
5 Tôn chỉ hoạt động của môn phái Vovinam Việt Võ Đạo:
Ðể thực hiện 3 mục đích nêu trên, Môn Phái Vovinam Việt Võ Đạo hoạt động theo 5 tôn chỉ dưới đây:
* Mọi hoạt động của môn phái Vovinam Việt Võ Đạo đều dựa trên một nền tảng vững chắc:
Lấy Con người làm cứu cánh, lấy Ðạo hạnh làm phương châm, lấy Kỹ thuật và Ý chí quật
cường làm phương tiện.
* Môn phái Vovinam Việt Võ Đạo là một đại gia đình, trong đó môn đồ thương yêu kính trọng lẫn nhau Sự kính trọng và lòng thương yêu ấy sẽ đan kết thành kỷ luật của môn phái, một giềng mối vửng chắc giúp các môn đồ đoàn kết chặt chẽ để nêu cao danh dự môn phái, phục vụ dân tộc và nhân loại
* Môn phái Vovinam Việt Võ Đạo tích cực góp phần vào công cuộc giáo dục thanh thiếu niên
* Hoạt động của môn phái không có tính cách chính trị và tôn giáo
* Môn phái Vovinam Việt Võ Đạo luôn luôn tôn trọng các võ phái khác
Dạy võ & Học võ xưa và nay
Từ thuở ban sơ, khi đời sống con người còn rất hoang dã thì người ta đã biết sử dụng đến võ thuật đểđấu tranh sinh tồn trước các loài thú dữ và cả với những đồng loại của mình
Theo định nghĩa khái quát thì võ là hành động dùng một hay nhiều bộ vị trên cơ thể của mình đấu chọi với đối phương Sau, dần dần con người biết dùng tới các vật cứng, sắc, nhọn gọi là vũ khí để hỗtrợ thêm khi cần thiết phải đối phó với số đông, hay trong các cuộc hỗn chiến Thuật là phương pháp,
Trang 9là cách thức hợp lý làm tăng thêm tính hiệu quả khi sử dụng các bộ vị hay các loại công cụ ấy trong chiến đấu Sau nâng dần lên khéo léo hơn gọi là kỹ thuật, đẹp mắt hơn gọi là nghệ thuật.
Từ cái võ đến cái thuật là cả một quá trình nghiên cứu, truyền đạt, lưu giữ và cải tiến cho càng ngày càng hoàn chỉnh, hiệu quả, phong phú hơn
Cái gạch nối đó nhờ vào công sức của một số người không nhiều, có khả năng thiên phú, lòng đam
mê và chịu khó khổ luyện
Rồi xã hội con người cũng dần phát triển, từ cuộc sống hoang dã đơn lẻ, mang tính cá thể đến hình thành các bộ tộc, bộ lạc…mang tính tập thể, thì việc đấu tranh giành sự sống ngày càng quyết liệt hơn, các cuộc hỗn chiến ngày càng xảy ra nhiều hơn giữa các bộ tộc, bộ lạc với nhau, và con người bắt đầu thấy võ thuật đóng một vai trò rất quan trọng vì sự sống còn của một con người sự tồn vong của một đất nước, một dân tộc Người ta bắt đầu luyện tập võ nghệ để tự vệ, để bảo vệ thành quả lao động và nhất là bảo vệ một dân tộc Từ đó hình thành một vị trí rất được trân trọng trong xã hội cho cái gạch nối ấy , đó là thầy dạy võ
Đối với nhiều dân tộc trên thế giới thì võ thuật là chất liệu quan trọng kiến tạo nên lịch sử, các anh hùng một thời đánh đông dẹp bắc hầu hết đều là các bậc võ tướng Võ thuật quan trọng là thế Cho nên vị trí của những người dạy võ thời xưa cũng rất được trọng vọng Tuy nhiên việc truyền đạt võ thuật cũng không kém phần phức tạp Vì vậy những võ sư đều đặt ra các quy định rất nghiêm khắc nhằm chế ngự, ràng buộc những học trò của mình, hoặc lấy đó để định hướng cho các môn đệ, bởi võthuật là con dao 2 lưỡi !
Người học võ hầu hết phải trải qua phần xem xét về khả năng tư duy, đạo đức và cả năng khiếu, đồngthời trải qua một thời gian thử thách nhất định
Sau khi thành tài, người võ sỹ có thể sử dụng sở học của mình trong nhiều lĩnh vực cần đến võ thuật, trong đó có cả vai trò của một hiệp sỹ hiện diện tận hang cùng ngõ hẻm để “thế Thiên hành đạo, trừ gian diệt ác” Bởi thời xưa không như bây giờ, luật pháp chưa thể hiện diện khắp mọi lúc, mọi nơi được
Các trận đấu võ ngày xưa dù dưới hình thức nào, các võ sỹ đều lừa thế vào đòn hết sức kỹ thuật theo một đấu pháp rất linh hoạt uyển chuyển, ra vào, tránh né, tấn công, phòng thủ đều theo một nguyên tắc mang tính nghệ thuật cao Một trận đấu có khi kéo dài cả vài giờ đồng hồ thậm chí cả ngày trời!
Do vậy người võ sỹ phải biết cách phân bố sức lực và không bao giờ vào đòn tới tấp mà thiếu hiệu quả
Thầy dạy võ ngày xưa không chỉ tinh thông võ thuật mà còn am tường y thuật, lý số, có thể xử lý các tình huống gây tổn thương, bệnh tật bằng các phương pháp ngoại khoa cổ truyền nhưng không kém phần hiệu quả
Thế nên võ thuật đã một thời đươc xem như một phần quan trọng trong đời sống xã hội Chính vì vậycông sức và vai trò của người thầy dạy võ được tôn vinh và đánh giá rất cao theo nhiều nghĩa, bao gồm vật chất lẫn tinh thần
Người trong xã hội trước đây đã có câu nói “giàu học võ, khó học văn” để nói lên sự quan trọng đó Bởi vì các nho sinh nghèo dưới thời phong kiến đều có thể tự học ở bất kỳ đâu, nhưng học võ thì không! Không có trường dạy võ mà chỉ có thể mời thầy dạy võ về nhà, nếu như gia đình đó nhiều tiền bạc Học trò học võ phải cơm bưng, rượu rót cho thầy hoặc đến ở hẳn nhà thầy, để ngoài giờ học thì giúp việc cho gia đình thầy, nhưng có khi cả năm trời cũng chỉ dược thầy dạy cho một đòn !Ngày nay theo xu hướng phát triển của thời đại Luật pháp được hình thành và can thiệp hầu hết các tình huống ở khắp mọi nơi, đó là nguyên do lớn nhất làm giảm dần các cuộc đọ sức nhằm giải quyết những mâu thuẫn lẫn nhau giữa cá nhân với cá nhân hay một tập thể với một tập thể Bên cạnh đó cácloại vũ khí phục vụ chiến tranh ngày càng hiện đại, khiến người ta thấy rằng võ thuật không còn hữu hiệu là mấy trong các cuộc chiến đấu bảo vệ bờ cõi, bảo vệ giang sơn Tổ quốc nữa Võ thuật chuyển dần từ tính chiến đấu cao qua tính thể thao, phục vụ sức khoẻ con người Các tổ chức võ thuật dần dần được ra đời với nhiều hình thức: Câu lạc bộ, các hiệp hội, các trung tâm huấn luyện… Tất cả các hình thức này đều có chung một điểm, đó là dạy võ mang tính đại trà và phục vụ cho mục đích thể thao Từ tính chất đó, các đòn đánh hiểm hóc có thể gây chết người chỉ còn được truyền đạt mang tính lý thuyết chứ không được đem ra áp dụng trong các cuộc thi đấu nữa! Mặt khác, chương trình huấn luyện được tinh giảm dần cho phù hợp với mục đích, phù hợp với mọi lứa tuổi… Và quan trọng
Trang 10hơn nữa là tình trạng thương mại hoá trong một số tổ chức võ thuật đã góp phần làm mờ nhạt hình ảnh cao đẹp của tinh thần võ thuật và võ đạo.
Một số người dạy võ chân chính thì lui về phía sau mai danh ẩn tích, vì bởi họ không phù hợp với quan điểm mới mẽ này Với họ, võ thuật không đơn thuần là một môn thể thao tự chọn, võ thuật không chỉ rèn luyện cho thể chất con người mạnh mẽ, cường tráng, nhanh nhẹn, dẽo dai Mà võ thuật còn tạo cho con người lòng dũng cảm, sự can đảm, tính trung thực, luôn lấy đạo đức, luôn lấy lẽ phải làm phương châm trong cuộc sống
Một số người dạy võ khác thì rất thức thời, nhạy cảm với từng thời kỳ của xã hội và biết vận dụng khả năng võ thuật của mình để làm cho đời sống vật chất phong phú hơn Việc dùng môn quy để chế ngự hoặc ràng buộc môn đệ gần như không còn được mang ra áp dụng nữa, miễn sao người tham gia học võ càng đông càng tốt để thấy đó là sự phát triển mạnh của võ phái Võ thuật trở thành một phong trào thể thao có lợi cho cả đôi bên
Cũng chính từ hình thức phong trào đó mà người học võ cũng không lấy gì làm mặn mà với võ thuật!Quan hệ giữa người dạy võ và người học võ cũng không còn như xưa Nghĩa là giới hạn giữa thầy và trò, một ranh giới rất được trân trọng kia, tưởng chừng như không gì có thể phá vỡ được, đã bị tính phong trào, tính thương mại xoá mờ! Điều này thể hiện khá rõ qua các giải đấu Người ta không nghĩ đến việc cọ xát để trưởng thành nữa, mà chỉ còn nghĩ đến một cách rất tầm thường đó là danh vị Từ
đó không ít những cuộc cãi vả xảy ra, tình cảm mất đi thay vào đó là sự hiềm khích hận thù !
Các võ sỹ thời nay khi tham gia vào các trận đấu dù dưới hình thức nào đều mang được rất ít nghệ thuật vào trận, đòn ra đều không theo được những gì đã học, đôi khi còn có những động thái đi ngượcvới tinh thần thượng võ Đồng thời ngoại trừ một số trận đấu quyền Anh chuyên nghiệp, còn lại các trận đấu khác đều được giới hạn trong một thời gian rất ngắn Nhưng điều đáng nói là các võ sỹ vẫn không giữ được phong độ cho tới giây phút cuối cùng của trận đấu, bởi vì họ đã rất phí sức khi liên tục tung ra những đòn kém hiệu quả, khiến không ít người khi xem phải thốt lên “đấu như thế này thì đâu cần phải tốn thời gian học võ !”
Bên cạnh đó, các cuộc biểu diễn ngoạn mục thường diễn ra song hành với các cuộc đối kháng, đôi khi lại vô tình phô bày một lổ hổng quá lớn về kỹ thuật khiến người xem tỏ ra ngao ngán Bởi lẽ chỉ trước đó ít phút võ sỹ này trong một pha biểu diễn đã hết sức xuất sắc tả xung hữu đột một chống 3, chống 4 Các đòn đánh đều mang đậm chất nghệ thuật trong võ Thế nhưng sau đó cũng chính võ sỹ này trong một trận đối kháng lại không đưa được một đòn mang tính kỹ thuật nào vào trận, dù chỉ chọi với một người! Việc phô diễn tréo ngoe này hoá ra phản tác dụng!
Xã hội phát triển kéo theo sự trợ giúp đắc lực của khoa học, của y học hiện đại Do vậy mà hình ảnh cao đẹp của người thầy dạy võ tự tay chữa thương cho học trò cũng dần dần lùi sâu vào dĩ vãng! Cũng chẳng còn ai nghĩ đến chuyện học võ phải kèm theo học y thuật, lý số nữa rồi Tất cả đều mai một Tiếc thay !
Nguồn: vothuat.com
Thư Chưởng Môn 1 – Về Vovinam Việt Võ Đạo
“…VOVINAM mang sứ vụ truyền dạy cho người biết võ, rồi hướng dẫn họ phải làm gì lợi ích cho mình, cho người Tinh thần đó phải được thể hiện bằng nếp sống tình cảm, cách ăn nết ở, cách đối đãi tha nhân, sao cho mọi người đều hiểu và tin tưởng, yêu thương mình Phải truyền thông ấn tượng tốt vào cảm quan của đối tượng tinh thần võ đạo thật sự không biên giới quốc gia, giai cấp và tôn giáo…”
Các môn đệ thân mến,
VOVINAM là một môn phái Võ đạo do Cố Võ sư Sáng tổ Nguyễn Lộc sáng tạo vào năm 1938 tại HàNội – miền Bắc Việt Nam Vào năm 1954, chỉ trong một thời gian ngắn đã lan rộng ra khắp các tỉnh, quận, huyện Tới thập niên 1970 mới bắt đầu đặt kế hoạch phát triển quốc tế và hiện nay VOVINAM
đã có mặt tại nhiều nước trên thế giới
Ngay khi sáng tạo, Cố Võ sư Sáng tổ Nguyễn Lộc đã nghĩ tới toàn thể nhân loại, đặt tên cho môn võ của mình là VOVINAM để tất cả các dân tộc trên thế giới đều dễ đọc, dễ nhớ, VOVINAM lại là từ quốc tế hóa, bao gồm hai ý nghĩa: Võ thuật và Võ đạo Việt Nam
Do đó, VOVINAM là cội nguồn, còn Việt Võ Đạo là hoa kết trái của VOVINAM
Gọi là VOVINAM hay Việt Võ Đạo đều được cả vì cùng chung một nguồn gốc Cách gọi đúng nhất
là VOVINAM VIỆT VÕ ĐẠO
Trang 11Tâm nguyện của vị Sáng tổ môn phái VOVINAM là cố gắng hình thành một nền Võ đạo chung cho nhân loại khởi xướng từ Việt Nam Do đó:
A Về Nghệ Thuật:
VOVINAM VIỆT VÕ ĐẠO là kết tinh của tinh thần và kỹ thuật tự vệ, chiến đấu giữ nước, dựng nước và mở nước của dân tộc Việt Nam có từ thời lập quốc Sáng tổ Nguyễn Lộc là người đầu tiên cócông thâu thập kho tàng võ học phong phú của các dân tộc ẩn náu ở nhiều vùng với nhiều phương pháp huấn luyện độc đáo, đặc dị; san định và bổ túc phần phân thế thất truyền, rồi hệ thống hóa và hiện đại hóa thành môn VOVINAM VIỆT VÕ ĐẠO Bởi vậy, trong VOVINAM VIỆT VÕ ĐẠO có
đủ mọi hình thức chiến đấu, tự vệ và tấn công được hệ thống qua phương thức một phát triển thành
1 Các thế chiến lược tấn công từ 1 đến 10.
2 Ghép lại thành bài Thập Tự Quyền.
3 Phối hợp đánh đuổi để thực tập đối kháng.
Với phương thức một phát triển thành ba này được áp dụng xuyên suốt cho tất cả các đòn thế, bài bảngắn bó với nhau trên các đơn vị:
1 Đòn cơ bản phân thế (tay không hoặc các loại vũ khí)
2 Đòn chiến lược tấn công.
3 Song luyện hoặc Liên hoàn đối luyện (không té)
4 Vật, khóa gỡ.
5 Giao đấu (đối kháng)
6 Đơn luyện (Đi quyền, Thập bát ban…)
Đây là một sáng tạo rất tân kỳ, độc đáo do Sáng tổ Nguyễn Lộc làm khuôn mẫu cho các đệ tử nối tiếpnhau hoàn chỉnh Sáng Tổ cũng truyền dạy:
“VOVINAM phải luôn tiến theo trào lưu của võ học thời đại, phải lấy các môn võ đã có và hiện có trên thế giới làm đối tượng nghiên cứu, để rồi, hoặc là thái dụng tinh hoa của họ, ngõ hầu kiện toàn tinh tiến cho mình; hoặc tìm cách hóa giải khắc chệ lại những tinh hoa đó Điều cần phân biệt ở đây: thái dụng không có nghĩa là toa rập, mô phỏng Thái dụng là thâu thái những tinh hoa rồi biến chế, hòa điệu theo một tinh thần riêng, hợp với thể chất từng loại người, rồi đem áp dụng Cũng ví như ta thái dụng tinh hoa của màu xanh, màu đỏ để biến cải thành màu tím, chứ không còn là màu xanh màu đỏ nữa.“
B Về Tinh Thần:
VOVINAM VIỆT VÕ ĐẠO mang truyền thống dùng võ để bảo vệ đất nước, chống xâm lăng, dùng
võ của những người yếu muốn vươn lên tự giải quyết lấy những khó khăn trở ngại, không chịu nép mình dưới cường lực bạo tàn để được sống xứng đáng, và làm cho mọi người đều được sống xứng đáng
Khác với mọi môn phái Võ đạo chịu ảnh hưởng của tôn giáo hay chính trị, để đôi khi trở thành công
cụ hay phương tiện hành giáo hay hành chính, VOVINAM VIỆT VÕ ĐẠO luôn giữ vững truyền thống tổng hợp võ học và lý thuyết võ đạo qua những gương phấn đấu của các danh nhân thế giới, dung hợp mọi triết thuyết, mọi tôn giáo, thích ứng đời sống tư tưởng vào đời sống hành động trong truyền thống giữ, dựng và mở nước của các thời đại lịch sử loài người
VOVINAM mang sứ vụ truyền dạy cho người biết võ, rồi hướng dẫn họ phải làm gì lợi ích cho mình,cho người Tinh thần đó phải được thể hiện bằng nếp sống tình cảm, cách ăn nết ở, cách đối đãi tha nhân, sao cho mọi người đều hiểu và tin tưởng, yêu thương mình Phải truyền thông ấn tượng tốt vào cảm quan của đối tượng tinh thần võ đạo thật sự không biên giới quốc gia, giai cấp và tôn giáo
Đó mới đích thực là tinh thần:
VOVINAM VIỆT VÕ ĐẠO
Thư Chưởng Môn 2 – Ý nghĩa Lối Nghiêm Lễ
“… Đức dũng đi đôi với Lòng nhân, Võ thuật đi kèm với Võ đạo Người Việt Võ Đạo Sinh chỉ được dụng võ khi đã đặt vào đó một tình thương…”
Trang 12Các môn đệ thân mến,
Hôm nay, chúng ta đề cập tới ý nghĩa lối nghiêm lễ của Vovinam Việt Võ Đạo “Bàn tay thép đặt lên trái tim từ ái” được dùng để mở đầu cho mọi sinh hoạt giao tiếp trong các dịp gặp mặt, trước các
buổi lễ, trước và sau khi biểu diễn hay giao đấu…
Bàn tay biểu tượng cho sức mạnh là bàn tay thép Trái tim biểu trưng cho tình thương là trái tim từ ái.Bàn tay thép, do công phu luyện tập mà thành, trái tim từ ái do thấm nhuần tinh thần võ đạo mà có
Khi đặt tay lên tim nghiêm lễ, người môn sinh Vovinam Việt Võ Đạo luôn phải nhớ rằng: chỉ được dùng võ khi đã đặt vào đó một tình thương, tức là bàn tay thép phải đi đôi với trái tim từ ái; đức dũng
phải đi đôi với lòng nhân; võ thuật phải song hành với võ đạo Người môn sinh Vovinam Việt Võ Đạo chỉ dùng võ để cảnh cáo, cảm hóa, khuyến dụ người chứ không dùng võ để trừng phạt, trả thù người, chớ không với tính cách thuần võ thuật, tàn bạo, áp bức người phải tuân hành ý mình
Ngoài ra, khi đặt tay lên tim còn phải nghĩ rằng: chúng ta cùng chung sống trong cộng đồng nhân loại, cùng có trái tim và dòng máu đỏ như nhau; cần yêu thương, che chở, giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau;cần luôn khích lệ nhau làm việc lợi ích cho Gia đình, Tổ quốc và Nhân loại
Bàn tay thép cũng là biểu tượng cho đức dũng, và trái tim từ ái còn là biểu tượng của lòng nhân Đức
dũng phải có lòng nhân đi kèm Dũng và Nhân cần phải có Trí phối kiểm, điều hòa mới sáng suốt để biểu lộ đúng chỗ, đúng lúc Người học võ muốn có đầy đủ những đức tính trên phải rèn luyện, học tập và hàm dưỡng về cả Tâm – Trí – Thể, về cả Võ thuật lẫn Võ đạo mới không xuẩn động trong hành xử Để rồi hoặc là tàn bạo, độc ác hoặc là nhu nhược, yếu hèn; đó là những thói tật cản trợ sự thành công và mất đi lòng người tâm phục
Giáo án huấn luyện môn Vovinam
Thời gian gần đây, một số HLV đã gửi thư hỏi thăm về giáo án và cách soạn giáo án phục vụ cho công tác huấn luyện môn Vovinam
Trong khi chưa có một văn bản hướng dẫn giáo án chính thức từ phía Liên đoàn Vovinam Việt Nam cũng như của Hội đồng Chưởng quản Môn phái Tôi xin cung cấp mẫu giáo án đã được áp dụng và trải nghiệm trong nhiều năm làm công tác huấn luyện của tôi, để quý đồng môn tham khảo:
Suốt giáo trình 6 tháng gồm 72 tiết học (chương trình phổ cập) ta cố gắng sắp xếp sao cho kết thúc chương trình vào buổi học thứ 60, vì chừa 12 tiết để ôn luyện, gọt dũa hầu chuẩn bị cho võ sinh thi thăng cấp
Như vậy ta hình thành được những đề mục chính cho từng buổi tập, và đó cũng là đề tài cho mỗi giáo
án Căn cứ trên đề tài đó, HLV phụ trách soạn ra một giáo án thích hợp để các nội dung được bố trí hợp lý, liên kết với nhau suốt tiết học, tránh tình trạng giờ chết, gây tâm lý nhàm chán hoặc khối lượng vận động quá nhiều, gây mệt mõi vô ích vì sự thiếu chuẩn bị của người phụ trách
Một giáo án thường được soạn trên dàn bài chung:
Luyện cơ bắp, gân cốt, sức bền…
Đây là giáo án của giai đoạn tạo nền, ta có thể áp dụng đến cuối chương trình Lam đai tam cấp Sang huyền đai sẽ dùng một giáo án theo mẫu khác Mục đích chuyển hướng huấn luyện từ chiều rộng sang chiều sâu phục vụ cho yêu cầu ngày càng cao của bước tiến triển nghệ thuật, chuẩn bị cho ngườitập trở thành người dạy
Trang 13- Làm mềm gân, trơn khớp tránh được những trường hợp bong gân, sai khớp hoặc ảnh hưởng xấu đến khớp xương vì hoạt dịch chưa tiết đều.
- Chuẩn bị tâm lý đầy đủ, thần kinh ổn dịnh, loại bỏ tạp niệm, tập trung cao độ vào buổi tập
b) Biện pháp thực hiện :
Tập trung tư tưởng vào vùng đang vận động, điều khiển hơi thở phối hợp với động tác, thực hiện tuần
tự từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong
2 - Khởi động chuyên môn:
Nằm trong dạng những bài tập chỉ định đơn giản, có gia tăng cường lực và tốc độ (khoảng 50% sức) với sự vận động toàn diện, mang mục đích tạo thói quen về chuyên môn hầu phục vụ cho phản xạ trong phần tập chính
II – TRỌNG ĐỘNG:
Qua khởi động, người tập hầu như đã chuẩn bị đầy đủ về thể chất cũng như tinh thần cho buổitập Trong phần trọng động cần khai thác tối đa 3 tố chất cơ bản: Nhanh Mạnh Bền sức Từng cú đấm, cái đá ngoài yếu tố kỹ thuật chuẩn mực phải được thực hiện với trương lực cao nhất, chống mọi hiện tượng tập lấy có hoặc chỉ cử động cho thấy điệu bộ mà không có sự tập trung gắng sức Khuyến khích người tập phát lực từ 80% sức đến tối đa
III – THƯ GIÃN HỒI SỨC:
Có hai cách: bán phần và toàn phần
1) Bán phần: Đứng dang chân, dang tay hít sâu, gập người thở ra, buông lỏng cơ bắp
Lối thư giãn này được thực hiện nhiều lần trong thời gian trọng động Cứ sau một tiết mục luyện tập, hoặc thấy người tập thấm mệt, ta cho thư giãn tại chỗ khoảng 10 đến 15 giây
2) Toàn phần: Ngồi duỗi chân, đầu tiên dùng tay dần đều từ đùi đến bắp chân khoảng 10 giây Sau
đó thẳng lưng hít sâu, hai tay đặt vào phía đùi trên Từ từ thở ra và ấn nhẹ từng nhịp từ đùi xuống đếncẳng chân và cứ thế lập lại Thời gian thực hiện khoảng 50 giây Lối thư giãn này chỉ nên làm một lần khi hết giờ trọng động
V – TẬP BỔ TRỢ:
Các bài tập bổ trợ rất quan trọng trong giai đoạn tạo nền, giúp người tập kiện toàn các nhóm
cơ bắp chủ yếu để thực hiện dễ dàng các kỹ thuật phức tạp Tạm thời nêu ra một số bài chính như sau:
1- Phục vụ té ngã:
- Bài tập con tôm
- Bài tập lăn ngựa gỗ
2- Phục vụ đá cao:
- Bài tập dẽo chân
3- Luyện mép tay và luyện thân thép
- Băm nền xoa nóng
4- Phát triển nội lực:
- bài tập vận chuyển cơ bắp
Đến giai đoạn 2 và 3 thì bớt đi bài tập con tôm và lăn ngựa gỗ, thay vào đó là luyện nhảy công lực và hít đất còn các bài tập khác thì giữ nguyên
Trang 14I – Khởi động (15 phút)
- Khởi động chung 15 lối
- Khởi động chuyên môn: Đấm đá cơ bản
II – Trọng động (45 phút)
- Ôn đòn : Đánh đơn – Đánh đôi
III – Thư giãn hồi sức và học Kỹ thuật mới – Thực tập (20 phút)
IV – Tập bổ trợ (10 phút)
Tan hàng
***
Từ mẫu giáo án trên, ta thấy gồm 4 phần, trong đó phần 2 và phần 3 là chính yếu, đi thẳng vào
chương trình Đây là phần cần sự linh động trong lúc soạn giáo án Có thể chia làm 3 nhóm trọng động:
1 – Trọng động với quyền và đòn chiến lược
2 – Trọng động với đòn cơ bản và song luyện
3 – Trọng động với té ngã, Đòn chân Khóa gỡ
Vì chương trình có nhiều nội dung, ta không thể chuyên sâu tất cả trong một buổi tập Vì vậy nếu như
ta ôn tập thuộc nhóm nào thì nên dạy đòn kế tiếp của nhóm đó Như vậy kết quả tiếp thu và ghi nhớ của học viên sẽ cao hơn
Còn phần 1 và phần 2 sắp xếp cố định trong thời gian khá lâu, vì đây là những công phu luyện tập dàihạn Tuy là phụ nhưng hỗ trợ rất lớn cho những phần chính
“Một vận động viên giỏi thì giỏi lắm anh ta lấy được 4 huy chương vàng trong một giải, và 40 huy chương vàng trong một đời vận động viên của anh ta , nhưng một HLV giỏi có thể tạo ra vô số huy chương vàng trong một giải và nhiều thế hệ vàng trong cuộc đời huấn luyện của anh ta.”
MƯỜI HAI LỐI KHỞI ÐỘNG CHUNG
Trong tất cả các môn võ, không thể thiếu phần khởi động cho cơ thể
Khởi động là giúp cho cơ thể sẵn sàng cho những động tác đòi hỏi sức lực của cơ bắp hay sự mềm mại của thân thể Không tập những thế khởi động kỹ, người mới tập rất dễ có những chấn thương nguy hiểm (có thể dẫn đến tàn phế -suốt đời không tập võ được) Những người đã đạt tới trình độ võ thuật cao thì cơ thể lúc nào cũng sẵn sàng cho mọi động tác, có thể ứng chiến
và đối phó với mọi tình huống
Nhiều người coi thường những thế khởi động đơn giản mà chỉ thích những thế võ đẹp Nhưng nên nhớ rằng, tập võ mà không có căn bản thì thà đừng tập, nếu không sẽ có hại cho cơ thể về sau này
Những người thường cũng có thể luyện tập những thế này mỗi ngày hai lần vào buổi sáng và buổi tối thì cơ thể sẽ tráng kiện, dẻo dai, giúp cơ thể đề phòng bệnh tật rất hữu hiệu
Khi tập nên tập nhẹ nhàng trước, sau đó thì mạnh dần lên, đừng đột ngột dùng lực mạnh mà tổn hại cho gân bắp và các khớp xương
MƯỜI HAI LỐI KHỞI ÐỘNG CHUNG
1 Cổ:
- TTCB: Ðứng dang chân ngang, khoảng cách bằng vai, gối thẳng, 2 tay chống lên hông
- Ðộng tác khi hít vào: Xoay đầu liên tục theo vòng từ trái sang phải cho đến khi hơi thở thật căng Thở ra đồng thời với động tác xoay đầu ngược lại (xong một chu kỳ - thực hiện khoảng 10 chu kỳ như vậy)
2 Tay ngực:
- TTCB: Ðứng dang chân ngang, khoảng cách bằng vai, gối thẳng
- Ðộng tác khi hít vào: Ưỡn căng ngực, dang 2 tay hết ra phía sau Thở ra đồng thời với động tác 2 tay khép chéo trước ngực, cánh tay thẳng (xong một chu kỳ kỳ - thực hiện khoảng 20 chu kỳ như
Trang 153 Phất tay:
- TTCB: Ðứng dang chân ngang, khoảng cách bằng vai, gối thẳng
- Ðộng tác khi hít vào: Hai tay mềm, song song qua mặt đưa cao khỏi đầu, hơi kiễng gót chân lên Thở ra đồng thời với động tác phất tay xuống trong khi gót chạm đất (xong một chu kỳ kỳ - thực hiện khoảng 20 chu kỳ như vậy)
4 Khuỷu tay:
- TTCB: Ðứng dang chân ngang, khoảng cách bằng vai, gối thẳng
- Ðộng tác khi hít vào: Nắm tay lại, đặt úp, chạm vào nhau trước ngực; bật mạnh ra ngoài nắm tay ngửa Thở ra đồng thời với động tác kéo úp vào trong sao cho nắm tay di chuyển trên vòng tròn mà cùi chỏ là tâm (khi thực hiện nắm tay phải vẽ được trọn vẹn một vòng tròn, động tác mới có tác dụngtốt - xong một chu kỳ kỳ - thực hiện khoảng 20 chu kỳ như vậy)
5 Vai:
- TTCB: Ðứng dang chân ngang, khoảng cách bằng vai, gối thẳng
- Ðộng tác khi hít vào: 2 tay quay theo chiều từ trước ra sau, cánh tay thẳng (vẽ thành 2 vòng tròn có điểm giao nhau phía trước mặt - hai lòng bàn tay giao nhau ở ngang vai) Thở ra đồng thời với động tác quay ngược lại (quay nhiều vòng trong 1 hơi thở) Thực hiện khoảng 10 chu kỳ
6 Khớp xương đòn:
- TTCB: Ðứng dang chân ngang, khoảng cách bằng vai, gối thẳng
- Ðộng tác khi hít vào: Cùng lúc cho 2 đầu vai vẽ 2 vòng tròn từ trước ra sau
- Thở ra với động tác quay ngược lại (trong lúc xoay giữ cho thân mình đứng yên) Thực hiện khoảng
10 chu kỳ
7 Động tác tay ngực (xoay cột sống):
- TTCB: Ðứng dang chân ngang, khoảng cách bằng vai, gối thẳng
- Ðộng tác khi hít vào: 2 tay song song đưa về trước ngang tầm vai, bàn tay xoè, lật úp Thở ra với động tác: xoay mạnh ra sau về phía trái mắt nhìn theo hướng cánh tay, tay trái duỗi, tay kia xếp ngang ngực
Trở lại tư thế ban đầu, hít vào và xoay qua phải thở ra (xong một chu kỳ - thực hiện khoảng 10 chu kỳ)
8 Lườn:
- TTCB: Dang rộng chân
- Ðộng tác khi hít vào: 2 tay sang ngang, cao bằng vai, song song với mawth đất, long bàn tay ngửa
- Thở ra đồng thời với động tác: Nghiêng người hết sang trái, tay trái đặt ngang thắt lưng, tay phải đưa cao che đầu, người nghiêng càng thấp càng tốt, hơi kiễng gót chân phải Trở lại thư thế hít vào sau đó nghiêng sang phải - thở ra (xong một chu kỳ - thực hiện khoảng 10 chu kỳ)
9 Hông:
- TTCB: Ðứng dang chân ngang, khoảng cách bằng vai, gối thẳng, 2 tay chống lên hông
- Ðộng tác khi hít vào: Quay hông từ trái sang phải (ưỡn người nghư cánh cung dựng đứng, hai đầu là
2 điểm tựa cố định, bụng quay tròn)
- Thở ra đồng thời với động tác quay ngược lại (xong một chu kỳ - thực hiện khoảng 10 chu kỳ) Chú ý: Chân đứng yên, đầu giữ thẳng
10 Gối:
- TTCB: 2 chân song song, rộng bằng vai, gối thẳng, khom lưng, 2 tay chống gối
- Ðộng tác khi hít vào: 2 gối quay thành 2 vòng tròn ngược chiều nhau, theo hướng từ trong ra ngoài, thực hiện chậm và nhiều vòng
Thở ra đồng thời với động tác: Quay theo chiều ngược lại tốc độ bằng lúc hít vào (thực hiện khoảng
10 chu kỳ)
11 Cổ chân:
- TTCB: 2 chân song song, rộng bằng vai, 2 tay chống hông
- động tác: Chạy nhẹ nhàng tại chỗ Hít 2 lần liên tiếp, thở ra 2 lần liên tiếp (hít hít, thở thở - thực hiện khoảng 20 chu kỳ)
12 Toàn thân:
- TTCB: Dang rộng chân, tay xoè duỗi thẳng trước mặt, 2 mép tay trong vừa chạm nhau
Trang 16- Hít vào từ từ : 2 tay duỗi thẳng đưa chậm qua đầu mắt nhìn theo hướng tay, đến tầm cao nhất 2 tay rời xa và di chuyển xuống thắt lưng, chống 2 bên thận
- Ngưng hít (nén khí): Ưỡn bụng ra trước đầu hạ thấp dần ra phía trước sau đến hết tầm
- Thở ra: Trở về tư thế đứng thẳng và từ từ gập người xuống, 2 tay di chuyển ra phía trước mặt chạm xuống đất, gối thẳng
- thực hiện 10 lần
Lưu ý: Khi trời ấm ta cho hít bằng mũi, thở ra bằng miệng, nhưng khi trời lạnh phải hít thở đều bằng mũi
Khởi động chuyên môn
Đăng ngày 26/11/2013 bởi Vovinam Thái Nguyên Lượt xem bài: 118
Bài tập Hợp Lực (Tam Bộ Liên Hoàn)
* Đại cương: Có 3 nguyên nhân phát lực.
* Nguyên tắc luyện tập hợp lực:
Trong bài tập này ta sử dụng hợp lực vào lối đấm thẳng, sự phối hợp các đơn lực bắt đầu từ chuyển động thẳng xuất phát ở đan điền (vùng bụng), dẫn truyền sang sự xoay lắc của hông, vai (chuyển động tròn), dồn sức mạnh ra bằng sự duỗi cơ của bắp tay Cả một chuỗi động tác dài ta phải thực hiệnnhanh trong 1 động tác với một thời gian ngắn nhất có khi chỉ bằng 1/ 4 giây Ðó là mục đích chính của bài tập Hợp Lực dưới đây
* Giới thiệu bài tập hợp lực:
- Ba lối tấn: Trung Bình Tấn, Ðinh tấn, Trảo Mã Tấn được thực hiện liên tục theo thứ tự nêu trên
sẽ tạo ra những góc xoay 90 độ và 180 độ cho phần thân (chuyển động tròn), đồng thời cũng tạo ra những khoảng chuyển động thẳng ngắn để tạo đà Đòn đấm thẳng là động tác thủ pháp duy nhất trongbài tập, bởi vì xét cho kỹ đây là đòn đấm có kỹ thuật phức tạp nhất và vận dụng sự co duỗi của cơ bắp rõ rệt nhất Di chuyển trên hình vuông có cạnh bằng bước trung bình tấn của người tập Trên mỗicạnh thực hiện 3 động tác (nhân 4 cạnh thành 12 động tác) và như thế cứ tập liên hoàn, tùy theo thời gian cho phép và sức của mỗi người Chính vì thế bài tập Hợp Lực còn gọi là bài Tam Bộ Liên hoàn
– Phần diễn tả:
HẬU
HỮU TẢ
TIỀN
Bộ pháp của bài tập Hợp Lực di chuyển trên hình vuông
1 Ðứng trung bình tấn trên cạnh TIỀN, hai tay thu vào sườn
2 Chuyển đinh tấn sang trái, đấm thẳng về hướng trái
3 Chuyển trảo mã tấn, chân trái đứng trụ xoay người 180 độ tức nhìn về hướng HỮU đấm thẳng trái hướng HỮU
4 Di chuyển chân phải đứng trung bình tấn trên cạnh TẢ đấm thẳng phải về hướng HỮU
5 Chuyển đinh tấn sang chân phải, đấm thẳng trái về hướng HẬU
6 Chuyển trảo mã tấn chân phải trụ, đấm thẳng phải về hướng TIỀN
7 Di chuyển chân trái đứng trung bình tấn trên cạnh HẬU, lưng day về cạnh TIỀN, đấm thẳng trái
về mặt HẬU theo chiều xoay của thân mình
8 Chuyển đinh tấn sang trái đấm thẳng phải về mặt HỮU
9 Chuyển Trảo mã tấn (chân trái trụ) xoay 180 độ đấm thẳng về mặt TẢ
10 Di chuyển chân phải đứng trung bình tấn trên cạnh HỮU, đấm thẳng phải về mặt TẢ
11 Chuyển đinh tấn sang phải xoay 90 độ đấm thẳng trái về mặt TIỀN
12 Chuyển trảo mã tấn (chân phải trụ) xoay 180 độ đấm thẳng phải về mặt HẬU
Trang 1713 Di chuyển chân trái đứng trung bình tấn trên cạnh TIỀN, lưng quay về hướng HẬU, đấm thẳng trái về hướng TIỀN.
- Kết thúc phải trở về vị trí ban đầu Đây là một bài tập đơn giản nhưng mang lợi ích nhiều mặt cho người mới học võ như:
- Tuy nhiên phải chú ý thực hiện một số điều sau:
+ Trong lúc di chuyển thay đối tấn pháp, ta phải duy trì một độ cao nhất định, không được dao độngnhấp nhô, vì các thế tấn trên có cùng 1 cao độ
+ Từ thế trung bình tấn chuyển sang đinh tấn, trọng tâm cơ thể (đan điền) di chuyển theo đường thẳng ngang một đoạn bằng 1/6 khoảng cách 2 chân Ðó chính là sự chuyển động tạo đà bắt đầu của cách đánh hợp lực (phối hợp cả 3 đơn lực đã nói ở phần B)
+ Khi xoay chuyển từ đinh tấn sang trảo mã tấn, cơ thể phải xoay với góc độ 180 độ Có thể phối hợp động tác xoay nhanh gắn liền nhịp nhàng với lối đấm thẳng (phối hợp 2 đơn lực)
+ Lúc đầu nên tập chậm (nhưng không được rời rạc, phải giữ các yếu tố hợp lực) Sau đó tăng dần tốc độ lên đến mức tối đa nhưng không được đánh ẩu
+ Lưu ý tới lực xoay của hông
+ Sau khi tập xong bài này nên đứng dang rộng chân (hít sâu) – từ từ ngồi qua một phía theo kiểu xà tấn, càng sát càng tốt, chân còn lại duỗi thẳng bàn chân gập ngang cả 2 lòng bàn chân đều phải tiếp đất – thở ra – lặp lại cũng như vậy ở phía còn lại Thực hiện khoảng 5 lần
* Bài tập dẻo chân: Gồm 3 tư thế
- Ngồi sát đất dang chân hết tầm, lưng thẳng, bàn chân thẳng đứng, gối thẳng
Ðộng tác khi hít vào: 2 tay song song qua mặt đưa cao, bàn tay xoè
Thở ra đồng thời với động tác đặt úp tay xuống đất, gập sát người đến khi mặt chạm vào lưng bàn tay (xong một chu kỳ) Thực hiện 10 chu kỳ
- Vẫn tư thế dang chân như (1):
Ðộng tác khi hít vào: 2 tay dang ngang, bàn tay xoè, ngón cái hướng về phía trên
Thở ra đồng thời với động tác xoay người sang phía trái, tay phải nắm lấy bàn chân trái, cố kéo cho trán chạm vào bàn chân trái, tay trái đặt sau lưng (lúc tập nên giữ thẳng 2 gối)
Trở lại động tác hít vào như trước
Thở ra đồng thời với động tác xoay qua chân phải (đổi phía) Xong 1 chu kỳ, thực hiện khoảng 10 chu kỳ
- Hai chân song song duỗi thẳng, lưng thẳng:
Ðộng tác khi hít vào: 2 tay song song qua mặt đưa cao
Thở ra với động tác: gập người, nắm lấy 2 bàn chân phải, cố kéo áp trán vào cẳng chân (xong một chu kỳ),thực hiện khoảng 10 chu kỳ
* Bài tập tăng lực:
- Đại cương:
Có nhiều phương pháp để phát triển thể lực, giúp cơ bắp rắn chắc, nội lực tăng tiến Bài tập Tăng lực sau đây là 1 phương pháp tương đối đơn giản dễ tập, không cần dụng cụ, có thể tập bất cứ lúc nào, chỗ nào cũng được vì không phải di chuyển, hiệu quả lại cao và phù hợp với trình độ thấp nhất trong hệ thống Bài này được tập trước khi nghỉ
Trang 18+ Ðộng tác hít vào (lỏng cơ) Từ từ xoè tay ra, ngâng ngang ngực, xoay lòng bàn tay hướng về trước.
+ Thở chậm với động tác song chưởng: Vận toàn lực vào đôi tay, tưởng tượng đang đẩy một vật nặng nề ở phía trước, tay vừa thẳng là vừa dứt nhịp thở
+ Ðộng tác hít vào: Đảo 1 vòng bàn tay từ tư thế hướng về trước sang tư thế lật ngửa
+ Thở chậm với động tác: Lên gân bàn tay, từ từ nắm lại, vận toàn lực tưởng tượng kéo 1 vật nặng nề
+ Hai nắm tay thu về đến 2 bên sườn là vừa dứt nhịp thở
+ Ðộng tác hít vào: Hai bàn tay mềm mại từ từ đưa lên ngang 2 bên vai (2 lòng bàn tay hướng ra 2 phía trái phải)
+ Thở chậm với động tác: Vận toàn lực kéo 2 tay vào sườn
+ Ðộng tác hít vào: Đảo lòng bàn tay, bàn vòng thành tư thế ngửa
+ Thở chậm với động tác: Vận toàn lực kéo 2 tay vào sườn
+ Ðộng tác hít vào: Bàn tay mềm mại xoè ra, 2 cánh tay tạo hình chử V ngược, lòng bàn tay hướng phía sau
+ Thở chậm với động tác: Vận toàn lực di chuyển 2 tay ra phía trước tầm cao ngang vai, đến khi hai lưng bàn tay chạm nhau
+ Ðộng tác hít vào: Bàn tay mềm mại đảo một vòng thành tư thế lật ngửa
+ Thở chậm với động tác: Vận sức toàn lực kéo về 2 bên sườn
+ Ðộng tác hít vào: Bàn tay phải mềm mại, từ từ đưa lên ngang vai, lòng bàn tay xoè hướng về sau.+ Thở chậm với động tác: Chỉ lên gân tay phải, di chuyển cho lưng bàn tay chạm gáy, từ từ xoay lòng bàn tay ngửa lên, co các ngón lại thành nằm đấm kéo xuống sườn theo đường cũ
+ Ðổi qua tay trái động tác như bên phải
+ Ðộng tác hít vào: Xoa lòng bàn tay cho nóng
+ Thở chậm với động tác: Lòng bàn tay xoa vùng gò má trong khi các ngón tay từ cánh mũi theo hốc mắt qua thái dương, vòng về cánh mũi (xoa 3 vòng) Sau đó lòng bàn tay bịt kín 2 lỗ tai và các ngón tay gõ đều đều lên xương chẩm (phía trên – sau đầu)
Theo võ cổ truyền Việt Nam: Tấn là giữ lại (không nên lầm với Tấn là tiến lên ) là sự ghìm giữ lại, chịu lại một sức nặng nào đó trên một phần của co thể
Theo tự điển Lê Ngọc Trụ: Tấn là cách luyện tập cho cứng chân tay trong môn võ học
Theo dân gian: Học võ là đứng Tấn, vô mùng phải tấn mùng (giắt, chận), đi ngủ phải tấn cửa (cài, chặn), nhiều đứa tấn một đứa vô góc để đánh (ép, dồn, vây)
Tuy chỉ là ba trong rất nhiều kiểu định nghĩa và hiểu về Tấn, nhưng chúng ta đều thấy bất ổn: Vậy Tấn đích thực là gì?
Tấn là phương pháp giữ vững TRỌNG TÂM và CÂN BẰNG cho co thể con người ở mọi vị thế, mọi trường hợp, hầu có thể thực hiện những động tác, những ý muốn của toàn thân , khi bất động hoặc di động đuợc linh hoạt, dễ dàng, chắc chắn và hữu hiệu Bởi lẽ hầu hết các kiểu Tấn thông thường đều dùng CHÂN làm trụ chính, các bộ phận thân thể khác giữ vai trò phối hợp và hỗ trợ nên nguời ta hay gọi Tấn là cách đứng (bộ Pháp), bộ ngựa (Mã bộ)
Trên thực tế hầu như tất cả các bộ phận phía ngoài cơ thể con người đều là trụ chính trong các thế tấnđặc biệt hữu dụng cho riêng từng bộ môn, ngành nghề, môn phái Ngọa tấn (tấn nằm), Nhập địa thủ tấn (trồng chuối), Đọa tấn, Lạc tấn (té, lộn, ngửa sát đất), Lăng Không tấn (nhảy đạp, kẹp cổ), Tọa tấn(ngồi bẹp) Ngoài ra chúng ta còn phải kể đến bộ Tấn siêu tuyệt của tri giác nhằm quân bình tinh thần, tạo nên sự bình tinh, sáng suốt, thánh thiện và an nhiên, tự tại cho con nguời: Tâm tấn
Trang 191.1 NGUỒN GỐC CHỮ TẤN VÀ TÊN CÁC THẾ TẤN
Sau khi định nghĩa và hiểu Tấn là gì, chúng ta đều đi đến kết luận: Tấn là danh từ Hán Việt nhưng đã đuợc Việt hóa và cho đến nay mọi người đã quen dùng, vì vậy Tấn là một danh từ Việt Nam thuần túy để dùng và hiểu nó Bởi lẽ, nếu xuất xứ từ chữ Hán, thì các cụ võ sư tiền nhân đã dùng một cách
dễ dãi, chưa chính xác chữ Tấn
Chữ “Tấn” thuộc bộ Thủy (nước) ghép với chữ “Phàm” (gồm, hèn hạ, cõi
trần) có nghĩa là: Rẩy Nước, trú binh đề phòng giặc Nếu chữ này dùng vào ngành võ để diễn tả: Tấn (tiếng Việt) thì rất guợng ép và khó hình dung
Trong khi đó chữ Hán có một chữ âm vận tựa như âm Tấn, nghĩa thì rất hợp với võ thuật về Tấn pháp(tiếng Việt) Đó là chữ “Trấn” Chữ “Trấn” thuộc bộ Kim (chỉ những vật bền chắc) ghép với chữ
“Chân” (thực: không giả dối) có nghĩa là giữ gìn, đè, ép Ví dụ: Trấn chỉ là cái chận giấy Trấn biên
là giữ gìn nơi biên ải
Theo đó, có lẽ các cụ ngày xưa đã ảnh huởng vào lối nói không rõ ràng của người Hoa nên đã phiên
âm theo kiểu riêng mà không cần tìm xuất xứ nơi chữ viết
Trải qua nhiều thời gian, do nơi việc: Trọng văn, khinh võ, coi võ biền là dốt chữ - các bậc tiền nhân thâm nho đã nhắm mắt làm ngơ, nên đã lưu truyền đến bây giờ cái nhầm lẫn kể trên Dù sao, chúng tavẫn lấy chữ Tấn quen dùng để gọi chữ Trấn này Mặt khác, chúng ta phải khẳng định rằng không phải chỉ riêng võ thuật là có Tấn
Hầu nhu tất cả mỗi loài động vật đều có một hay nhiều thế tấn, đơn giản hoặc phức tạp, sáng tạo hay bẩm sinh, đuợc sử dụng trong các sinh hoạt thuờng ngày Tuy vậy chúng ta phải công nhận chỉ riêng ngành võ là có hệ thống Tấn pháp đa dạng, phong phú và hữu hiệu cho từng bộ môn, ngành nghề, thoả mãn mọi nhu cầu sinh hoạt của con người Theo đó, chúng ta không nên quá chú trọng về tên gọi các thế Tấn cũng như các kiểu Tấn
Về Tên Gọi: mỗi phái võ trên toàn thế giới đều có rất nhiều cách đặt tên cho một số thế Tấn cố định Nhưng danh xưng dĩ nhiên hết sức hoa mỹ, đôi khi bí hiểm, lúc lại nôm na, cộc lốc và phần lớn là ép đặt
Về Các Kiểu Tấn: như trên đã nói, bất cứ trong công việc gì, sinh hoạt nào, con nguời đều phải ổn định trọng tâm, sự thăng bằng co thể bằng cách phối hợp các bộ phận trong cơ thể để tạo ra một hình thức vững chắc tối đa Đó là Tấn pháp
Vậy nếu chịu mất thì giờ nghiên cứu, chúng ta có thể liệt kê cả trăm cả ngàn kiểu tấn với các tên gọi thật kêu, thật lạ Ví dụ: Tấn xay lúa, tấn giã gạo, Nê hành tấn (tấn lội sình), Đăng sơn tấn (tấn leo núi), Tấn bán vé xe buýt, Kỵ Ngưu tấn (tấn cuỡi trâu), tấn cua v.v Trong nhu cầu ngành võ, chúng
ta chỉ cần biết những danh xung thường gọi về Tấn pháp của một số môn phái để khỏi bỡ ngỡ trong khi tìm hiểu hoặc dự khán các buổi trình diễn võ thuật
Môn phái Vovinam-Việt Võ Đạo có 5 bộ tấn chính và 5 bộ tấn đặc biệt Các phái võ trên thế giới cùng đều có hệ thống Tấn pháp tương tự nhưng cách đặt tên thì hoàn toàn khác nhau Vovinam gọi theo tên thông dụng nhất: Tấn
Võ Cổ Truyền Việt Nam, theo võ sư Lê Kim Hòa: bộ tấn đuợc hệ thống theo chiều đứng từ thấp đến cao và lấy tên các loài thú vật
Thiếu Lâm theo võ sư Đoàn Tâm Ảnh:
Cao: Lập tấn, Hạc tấn, Độc hành vu tấn
Trung: Trung bình tấn, Đinh tấn, Trảo mã tấn, Xà tự tấn, Âm dương tấn, Tẩu mã tấn
Thấp: Quy tấn, Hạ mã tấn, Tọa tấn, Ngọa tấn
Nam Phái Thiếu Lâm: Nội quyền
Cao: Lập tấn, Hạc tấn
Trung: Trung bình tấn, Đinh tấn, Trảo mã tấn, Bát cước tấn, Quỵ tấn
Thấp: Xà tấn, Tọa tấn, Ngọa tấn
Trang 20Một số phái võ khác:
- Hùng tấn, Hầu tấn, Báo tấn, Áp tấn, Hồ vi tấn, Long vi tấn, Xà vi tấn, Hành tấn, Kỵ mã tấn, Bôn tấn, Liên hoa tấn, Thái âm tấn, Bá hoa trung tấn, Tả cung bộ, Hữu cung bộ, Phi cước tấn, Bàng long cước tấn, Nhi tự kiềm duong mã, Dương cung tấn, Narani, Kima, Chongul, Hugul v.v
1.2 TẤN PHÁP VOVINAM
Tấn pháp VOVINAM VIỆT VÕ ÐẠO gồm 5 bộ căn bản Mỗi bộ chia ra 3 phương vị: Thượng - Trung -Hạ và các thế tấn phụ có xuất xứ từ 5 bộ chính Ngoài ra, còn 5 thế tấn đặc biệt, trong đó thế Lăng không tấn đã cùng với 21 đòn tấn công trên không bằng chân là hai đặc thù khá quen thuộc của môn phái VOVINAM Việt Võ Ðạo
Nguyên Tắc: "Ngũ trực" (Năm cái thẳng) được triệt để áp dụng khi luyện Tấn pháp, buộc toàn thể môn sinh thực hiện
(1) Ðấm thẳng (không ngước lên hoặc cúi xuống) thì TRUNG THỰC
(2) Mắt thẳng (không nhìn xuống, nhìn lên, liếc ngang) thì CHÍNH KHÍ
(3) Cổ thẳng (không nghiêng lệch) thì BẤT KHUẤT, BẤT SỈ
(4) Vai thẳng (không bên cao, bân thấp) thì CÔNG BẰNG, SÁNG SUỐT
(5) Lưng thẳng (không cong, không ưỡn) thì UY DŨNG - KHÔNG HÈN
1.2.1 NĂM BỘ TẤN CHÍNH
1 - BÌNH TẤN: có nghĩa là cân bằng không nặng không nhẹ Sức nặng cơ thể chia đều lên hai chân
2 - ÐINH TẤN: Có hai nghĩa:
a - Giống chữ Hán J (đinh) trước ngang sau thẳng (hơi chéo)
b - Theo nghĩa chữ Ðinh là cái đinh, cái dùi bằng sắt, trước dọc sau ngang
Môn phái sử dụng Ðinh tấn theo hình thức: trước ngang sau thẳng
3 - CHẢO MÃ TẤN: Có nghĩa là tấn móng ngựa
4 - ÐỘC CƯỚC TẤN: Có nghĩa là tấn một chân
5 - HỒI TẤN: còn gọi là QUỊ TẤN, có nghĩa tấn để trở về, đổi hướng
II.1.2.2 SÁU BỘ ÐẶC BIỆT
(1) LĂNG KHÔNG TẤN: Tấn lướt người lên không (dùng trong 21 đòn chân)
(2) NGỌA TẤN: Tấn nằm (xấp, ngửa, nghiêng - dùng trong các thế vật)
(3) TỌA TẤN: Tấn ngồi (xổm, bẹp - dùng trong các thế khóa nằm)
(4) ÐỌA TẤN: Tấn té (xấp, ngửa, nghiêng)
(5)THỦ TẤN: Tấn tay (trồng chuối, lộn bằng tay khi ngã)
(6) TÂM TẤN: Tấn tri giác (nội công, khí công để định lực định thần)
1.3 XÁC ÐỊNH VỊ TRÍ VÀ HƯỚNG TẤN:
(1) VỊ TRÍ TẤN: Luôn luôn lấy chân trụ để định vị trí tấn
a - ÐINH TẤN PHẢI: Có nghĩa là chân phải trụ phía trước
b - TRẢO MÃ PHẢI: Có nghĩa là chân phải trụ phía sau
c - QUỊ TẤN PHẢI: Có nghĩa là chân phải quỳ phía trước
d - ÐỘC CƯỚC PHẢI: Có nghĩa là chân phải trụ, chân trái co lên
(2) HƯỚNG TẤN: Các loại tấn khác định hướng PHẢI - TRÁI - THUẬN và NGHỊCH
a - HỒI TẤN PHẢI: Có nghĩa là chân TRÁI bước chéo về bên phải, trước và sát chân PHẢI
b - TẤN THUẬN: Có nghĩa là bước về phía TRƯỚC
c - TẤN NGHỊCH: Có nghĩa là lui về phía SAU
Kiến Thức Tổng Quát cho người Huấn luyện viên Vovinam-Việt Võ Đạo (Phần 1)
Phần 1: Mở Võ Đường
Câu hỏi 1: Võ Đường là gì?
Võ đường là nơi riêng biệt để tập và dạy võ
Câu hỏi 2: Tại sao cần thiết lập võ đường?
Vì với đà phát triển của Môn phái, các võ đường mới cần được thiết lập để đáp ứng nhu cầu phát triển Môn phái, để đại chúng hóa nền võ học Vovinam
Câu hỏi 3: Khi nghiên cứu thiết lập một võ đường, chúng ta cần phải để ý đến những phần nào?Chúng ta cần phải để ý đến ba phần:
- Bối cảnh sinh hoạt của địa phương nơi mở võ đường
- Nghiên cứu sinh hoạt dân chúng (kinh tế, xã hội, văn hóa ….)
Trang 21- Địa điểm thiết lập võ đường.
Câu hỏi 4: Trong phần nghiên cứu bối cảnh sinh hoạt địa phương, ta để ý đến mấy phần?
Ta có ba phần cần điều nghiên:
- Chính quyền địa phương
- Đoàn thể áp lực
- Các võ phái bạn
Câu hỏi 5: Đối với chính quyền địa phương, tại sao ta cần lưu ý?
Chính quyền là các cơ quan địa phương quan trọng nhất Chúng ta cần điều nghiên kỹ thái độ của chính quyền địa phương đối với chúng ta (thích, không thích, không có ý kiến) Điều nghiên
kỹ chúng ta sẽ dễ dàng trong việc xin phép mở võ đường, cũng như mọi yểm trợ sau này
Câu hỏi 6: Tại sao chúng ta cần lưu ý đến các đoàn thể áp lực?
Chúng ta cần lưu ý đến các đoàn thể áp lực và đây là thành phần tôn giáo và các hội đoàn thanh niên địa phương Chúng ta cần tìm hiểu để dễ bề thích hợp
Câu hỏi 7: Tại sao chúng ta cần lưu ý đến các võ phái bạn?
Đối với các võ phái bạn, ta cần điều nghiên kỹ để gây tình võ hữu, tránh được những đụng chạm vô ích
Câu hỏi 8: Trong phần điều nghiên sinh hoạt dân chúng, ta có bao nhiêu điều cần biết?
Trong phần này sự nghiên cứu sẽ đem đến ba phần cần biết:
- Dân chúng có đông không (vì nếu võ đường thiết lập ở một nơi quá ít dân thì số môn sinh
sẽ không được nhiều)
- Tinh thần dân chúng ở đó có ham chuộng võ thuật không?
- Đời sống có sung túc đầy đủ không?
Câu hỏi 9: Một địa điểm như thế nào được xem là thích hợp?
Một địa điểm thích hợp nhất để thành lập một võ đường phải thỏa đáp được 5 ưu tiên theo thứ tự sau:
Câu hỏi 10: Tại sao vấn đề an ninh được quan tâm hàng đầu?
Vấn đề an ninh được quan tâm hàng đầu vì nếu một võ đường xây cất ở một nơi mà tình hình an ninh, trật tự xã hội kém, chắc chắn ít người dám mạo hiểm đi tập võ
Câu hỏi 11: Võ đường không nên thiết lập ở đâu nữa?
Võ đường cũng không nên thiết lập trong những ngõ hẻm chật chội, dễ xảy ra hỏa hoạn
Câu hỏi 12: Tại sao trục giao thông được xem là ưu tiên thứ nhì?
Vì thuận tiện cho việc di chuyển Võ đường trong ngõ hẻm chật chội sẽ khó tìm và nếu ở trên một trục giao thông hay kẹt xe, võ sinh sẽ thường đi trễ, dễ bị đụng xe và ngay cả việc di chuyển của HLV cũng bất tiện
Câu hỏi 13: Tại sao võ đường cần thành lập ở nơi cao ráo, thoáng khí?
Chúng ta cần một địa điểm cao ráo thoáng khí vì nếu ẩm thấp sẽ có nhiều chuột bọ, vi trùng Võ đường cũng không nên gần những nơi đổ rác, hay các chợ có các gian hàng thịt, cá có mùi hôi rất hại cho phổi
Câu hỏi 14: Tại sao điện nước được xem là ưu tiên thứ tư?
Vì cần có ánh sáng cho lớp tối Nước để rửa mặt sau khi tập hoặc uống giải khát
Câu hỏi 15: Tại sao ta cần điều kiện yên tĩnh?
Ta cần nơi yên tĩnh vì có lợi cho việc giảng dạy cho cả HLV và võ sinh
Phần 2: Quản Trị Võ Đường
Câu hỏi 16: Quản trị là gì?
Quản: Trong coi, xem xét mọi việc
Trị: Sắp xếp công việc theo một diễn trình hợp lý, theo một thứ tự có tính toán trước Quản trị là một nghệ thuật trong coi, sắp xếp theo một tiến chính hợp lý, một thứ tự có tính toán để xem xét, thi hành các công việc cho trôi chảy
Trang 22Do đó, trong các tổ chức lớn như việc thiết lập một võ đướng cần phải có phương pháp quản trị khéo léo để điều hành các công việc trong võ đường, hầu tránh được những rắc rối do yếu tố cẩu thả mang đến.
Câu hỏi 17: Muốn quản trị được, chúng ta cần những điều kiện nào?
Muốn quản trị được, chúng ta cần phải biết qua mộït số nguyên tắc về quản trị: Có 4 nguyên tắc đượcxem là chính yếu:
Nhiệm: Trách nhiệm (việc được giao phó)
Phân chia công việc chánh ra nhiều công việc phụ rồi tùy công việc để qui định nhiệm vụ cho cá nhân phụ trách
Câu hỏi 19: Thế nào là hệ thống kiểm soát?
Vấn đề kiểm soát rất cần yếu cho mọi hoạt động chung Chúng ta cần phải xem những người được phân nhiệm có thực hiện đúng công tác giao phó không Và do đó, hệ thống kiểm soát cần phải đặt
ra Đối với hệ thống nhỏ, sự kiểm soát dĩ nhiên dễ dàng, người trên chỉ cần xem xét nhân
sự giữ vụ điều hành Đối với hệ thống lớn hơn như Cục Huấn Luyện hay Tổng Cục Huấn Luyện,
hệ thống kiểm soát này gần giống như hệ thống tranh tra của chính phủ, kiểm soát trực tiếp cũng như gián tiếp theo cả hàng ngang lẫn hàng dọc
Câu hỏi 20: Thế nào là ủy quyền?
Ủy quyền là trao cho người khác một quyền mà mình có với những điều kiện giới hạn
Câu hỏi 21: Thế nào là thống nhất chỉ huy?
Thống nhất chỉ huy là sự đồng nhất về hành động theo một lệnh từ trên đưa xuống
Câu hỏi 22: Nếu đã có võ đường vấn đề nào cần phải kiện toàn trước tiên?
Nếu đã có võ đường, vần đề nhân sự cần phải kiện toàn trước tiên, vì chúng ta phải có người để làm việc trong võ đường đó
Câu hỏi 23: Vấn đề gì chúng ta cần lưu lý tiếp theo đó?
Sau vấn đề nhân sự, vấn đề cần lưu ý tiếp theo là vấn đề tài chánh Chúng ta cần phải có tài chánh
để nuôi cán bộ, và những việc liên quan Vả lại, vì yếu tố thời gian, có thể chúng ta gặp nhiều thiếu xót, tài chánh vay mượn ở đâu đó, vật dụng (bàn ghế) có thiếu sót phải bổ túc ngay
Câu hỏi 24: Cùng với những việc bổ túc những thiếu sót trên, chúng ta, cần phải thực hiện tại võ
đường điều gì trước tiên?
Song song với việc bổ túc những thiếu sót trên, một hệ thống quản trị đối nội và đối ngoại cần phải thành lập và hoạt động ngay
Câu hỏi 25: Thế nào là một hệ thống đối nội và đối ngoại?
Đây là một hệ thống đơn giản gồm một chủ tịch và hai phó:
- Một là về nội vụ
– Một lo về ngoại vụ
Câu hỏi 26: Khối ngoại vụ có những hoạt động gì?
Khối ngoại vụ tương đối vất vả trong những ngày đầu Khối phải liên lạc với các
thành phần sau:
- Chánh quyền địa phương
- Thân hào nhân sĩ
- Đoàn thể tôn giáo
- Quần chúng
Câu hỏi 27: Khối ngoại vụ liên lạc với chính quyền địa phương để làm gì?
Khối ngoại vụ liên lạc với chính quyền địa phương để lo các thủ tục hành chánh của võ đường mình (xin giấy phép dựng bảng hiệu, quảng cáo), nếu không có sự đồng ý của chính quyền địa phương chúng ta khó lòng làm việc Ngoài ra, nếu chúng ta khéo léo họ sẽ là những ngưồi đắc lực nhất giúp chúng ta phát triển môn phái
Trang 23Câu hỏi 28: Ngoài những thủ tục hành chánh, liên lạc với chính quyền địa phương
còn những ích lợi gì?
Chính quyền địa phương là nơi giàu phương tiện để giúp đỡ nhất, thường thì khi đến một tỉnh, nhân vật chính quyền thường xuyên tiếp xúc với chúng ta là ông Trưởng Ty Thanh Niên Nếu chúng ta khéo léo, ông sẽ giúp đỡ chúng ta nhiều khi thấy rằng chúng ta đã giúp đỡ ông nhiều trong lãnh vực thanh niên
Câu hỏi 29: Tại sao ta phải iếp xúc với Thân Hào Nhân Sĩ?
Chúng ta phải tiếp xúc với thân hào nhân sĩ vì đây là thành phần trí thức của vùng Chúng ta liên lạc với họ để dễ dàng tìm hiểu khối quần chúng đa dạng nơi đó Họ sẽ giúp đỡ chúng ta đắc lực khi
họ hiểu rằng chúng ta sẽ giúp họ trong việc hướng dẫn con em họ đi theo con đường tốt
Câu hỏi 30: Tại sao chúng ta cần phải liên lạc với các đoàn thể, các tôn giáo?
Các đoàn thể tư, các đoàn thể tôn giáo sẽ là mối nguy hại nếu chúng ta vụng về Với các đòan thể tôn giáo, chúng ta tôn trọng tự do tín ngưỡng và cần lưu ý tới các nghi thức tôn giáo của họ
Với các đoàn thể tư, chúng ta căn cứ trên 5 tôn chỉ và 3 mục đích mà hành động (đọc kỹ hơn trong bài Việt Võ Đạo và các nhóm xã hội khác)
Câu hỏi 31: Quần chúng, đóng vai trò nào trong công việc của chúng ta?
Đi tìm một môi trường để phát triển, dù môi trường đó ở đâu, cũng gồm những con người, là số đông
đa dạng, là quần chúng Do đó, quần chúng đóng vai trò hết sức quan trọng và thiết yếu trong mọi việc Tất cả các cư xử ngoại giao ở trên đều nhằm mục đích Việt Võ Đạo hóa thành phần hạ tầng nầy.Đây là thành phần đông đảo và khó hiểu nhất Khối ngoại vụ phải sử dụng tất cả khả năng tuyên truyền vận động của mình để lôi cuốn được số người nầy
Câu hỏi 32: Ngoài những liên lạc kể trên khối ngoại vụ còn phải liên lạc với ai?
Ngoài những liên lạc kể trên, vì võ đường là một thành phần nhỏ của môn phái, trực thuộc tổng cục huấn luyện nên khối ngoại vụ còn phải liên lạc với các cơ cấu khác của môn phái như Tổng Đoàn Thanh niên, Các võ đường bạn…
Câu hỏi 33: Trong khi khối ngoại vụ có những công việc như trên thì khối nội vụ có những công
việc gì?
Khối nội vụ sẽ là khối vất vả sau đó Khối nầy gồm cả việc hành chánh (đơn xin nhập học…) và huấnluyện Trong khi khối ngoại vụ có bổn phận mời người đến thì khối nội vụ có bổn phận giữ người ta lại, đồng thời biến họ thành những mầm tuyên truyền nhỏ để đi sâu vào quần chúng hơn
Câu hỏi 34: Những người tìm đến học võ với chúng ta, trên bình diện lý thuyết tổng quát, có những
ràng buộc nào với chúng ta?
Trên bình diện lý thuyết tổng quát, những người tìm đến học võ với chúng ta được ràng buộc với 3 lýdo
-Tư tưởng
-Lợi ích
-Ép buộc
Câu hỏi 35: Nếu họ tìm đến ta vì lý tưởng việt Võ Đạo thì ta đối xử như thế nào?
Nếu họ tìm đến ta vì lý tưởng, ta phải cho họ thấy ta sẽ cùng với họ giúp nhau đạt đến lý tưởng Như thế, sự ràng buộc của những người cùng trong một tập thể mới bền bỉ lâu dài
Câu hỏi 36: Nếu họ tìm đến ta vì một lợi nào đó, thì ta đối xử như thế nào?
Thường thì những ngưòi tìm đến Việt Võ Đạo đều mong học được một ít võ thuật Do đó, nếu không
có sự ràng buộc bởi một lý tưởng, họ sẽrời xa Việt Võ Đạo một khi thấy không cần thiết học thêm võ thuật nữa
Câu hỏi 37: Nếu có những người bị ép buộc học Việt Võ Đạo thì ta đối xử ra sao?
Nếu có những người bị ép buộc học Việt Võ Đạo, ta cũng sẽ cho họ thấy lý tưởng cao quý của chúng
ta, để khi không còn ép buộc nữa, họvẫn ở lại với môn phái ta
Câu hỏi 38: Khi thực sự bắt tay vào việc quản trị một võ đường chúng ta sẽ có những hậu
quả như thế nào?
Khi thực sự giải quyết những vấn đề mà chúng ta gặp phải, chúng ta sẽ nhận được những điều mà lý thuyết không bao giờ mang lại được Đó là kết quả công việc của chúng ta, hậu quả này sẽ được trìnhbày 2 phần:
-Đối với bản thân
Trang 24-Đối với tha nhân
Câu hỏi 39: Thế nào là hậu quả đối với bản thân?
Vì chính tự chúng ta học tập lạy những nguyên tắc quản trị trên phương diện thực hành, nhờ đó chúng ta sẽ trở thành một quản trị viên giỏi, trong khi làm việc như vậy,chúng ta sẽ tự chọn giải pháp cho chính chúng ta Những giải pháp này sẽ giúp cho ta thích ứng được với hoàn cảnh hơn Hoặc chúng ta sẽ đưa ra giải pháp riêng của ta (đúc kết của nhiều năm kinh nghiệm)
Câu hỏi 40: Thế nào là hậu quả đối với tha nhân?
Đó là phần giúp cho người khác Nhờ kinh nghiệm bản thân, ta sẽ giúp cho người khác đỡ vấp ngã hơn ta, hoặc hoàn toàn tránh khỏi mọi sai lầm Ta sẽ giúp được người khác kỹ thuật cũng
như nghệ thuật quản trị và trong khi giúp cho người khác, chúng ta còn học hỏi từ họ, từ công việc nhiều điều mới lạ
Phần 3: Tác Phong của Huấn Luyện Viên
Câu hỏi 41: Tác phong của huấn luyện viên đối với võ sinh ra sao?
Huấn luyện viên phải biết hòa mình với võ sinh trong lớp, không phải lúc nào cũng quá nghiêm, cần phải linh động trong lúc khen, chê sựluyện tập của võ sinh, biết săn sóc võ sinh và gây thiện cảm với
võ sinh Ngoài ra là một người phổ biến võ thuật và phát huy võ đạo, huấn luyện viên phải tự mình giữ vững tác phong của một huấn luyện viên: Trang phục chỉnh tề, tóc tai đàng hoàng, không uống rượu, không hút thuốc trong võ đường, phải lịch thiệp, nhã nhặn và xử sự đứng đắn với mọi người
Câu hỏi 42: Đối với nữ võ sinh, huấn luyện viên cần giữ tác phong như thế nào?
Riêng đối với nữ võ sinh Huấn luyện viên cần phải giữ tác phong hơn nữa Huấn luyện viên cần phải nghĩ đến thanh danh môn phái, của chính bản thân mình và nhất là nữ võ sinh (cha mẹ của nữ võ sinhcho con học võ mặc nhiên giao trọn thanh danh của nữ võ sinh cho người dạy) Huấn luyện viên tuyệtđối tránh vấn đề nam nữ giữa huấn luyện viên và nữ võ sinh
Câu hỏi 43: Muốn thực hiện một lớp võ, huấn luyện viên phải làm những gì? hãy giải thích đại
cương
Tổ chức một lớp võ gồm nhiều thành phần, huấn luyện viên ngay từ đầu phải:
- Sắp xếp võ sinh: Xem võ sinh thuộc những thành phần nào để xưng hô đúng cách, đối xử hợp tình Huấn luyện viên có thể sắp xếp vị trí cho võ sinh tùy theo trình độ học vấn, tuổi tác, vóc dáng, nam nữ…
- Tìm hiểu khả năng của võ sinh: Huấn luyện viên phải biết khả năng luyện tập, sức chịu đựng của võsinh để huấn luyện đúng mức
- Tìm hiểu phần tử phá hoại trong lớp: quan sát những kẻ nào có ý phá hoại gây rối, chọc phá, muốn thử võ… để có biện pháp ngăn chận hữu hiệu hầu giữ lớp học có kỹ luật
Câu hỏi 44: Ích lợi của sự biểu diễn võ thuật ra sao? khi nào chúng ta không chấp nhận cuộc biểu
diễn?
Cuộc biểu diễn Vovinam là một cơ hội tốt để giới thiệu Vovinam cho quần chúng hiểu và có mỹ cảm đối với Việt Võ Đạo hay có thể gia nhập Vovinam Việt Võ Đạo
Việt Võ Đạo sinh từ chối những cuộc biểu diễn trong những truờng hợp:
- Có tính kỳ thị võ phái, gây chia rẽ
- Có sự lủng củng nội bộ của đoàn thể, tôn giáo mời biểu diễn
- Không gây được sự phát huy Việt Võ Đạo
- Khung cảnh, môi trường, khán giả không thích hợp với cuộc biểu diễn Việt Võ Đạo (biểu diễn cho thực khách xem hay biểu diễn để mọi người giải trí, chè chén)
Câu hỏi 45: Nếu ban tổ chức có nhã ý điều khiển cuộc biểu diễn Vovinam Việt Võ Đạo sinh phải có
thái độ như thế nào? Muốn cuộc biểu diễn thành công Việt Võ Đạo sinh phải ghi nhớ những gì?Rất sẵn lòng để ban tổ chức giới thiệu về Vovinam (nhưng phải giúp tài liệu cho ban tổ chức) Riêng
về phần điều khiển biểu diễn võ thuật, người trong đoàn biểu diễn sẽ đảm trách phần kỹ thuật này.Người biểu diễn chú tâm vào tinh thần và cách thể hiện đồng thời người điều khiển chương trình phảibiết ứng biến lanh lẹ và hiểu tâm lý người xem
Câu hỏi 46: Thế nào là dân ca lời mới? Thế nào là đạo ca?
Dân ca lời mới là những khúc ca mang âm hưởng độc đáo của dân tộc trong một nước hay trong một vùng được sửa đổi lời ca cho thích hợp với tâm hồn của Việt Võ Đạo sinh hiện tại
Trang 25Đạo ca là những bản nhạc, những bài hát mang âm hưởng thanh cao, hùng mạnh, nội dung biểu tượng được tinh thần Việt Võ Đạo.
Câu hỏi 47: Nội dung những bài ca môn phái ra sao? Cần gạt bỏ loại nào?
Bài ca của môn phái phải có tính chất: Hào hùng, sống động, hướng thượng đượm tình thân yêu dân tộc, giống nòi, tạo sự phấn đấu mảnh liệt thúc đẩy hăng hái alm việc trong tình thần tập thể Vì vậy, những bài ca môn phải thiên về những bài đạo ca, dân ca lời mới, hùng ca hay những bài ca tình cảm thanh cao cùng những bài ca vui tươi, cởi mở, ý nhị
Trái lại, cần gạt bỏ những bài ca ủy my, yếu hèn, hạ cấp hay những bài ca thác loạn, kích động,
lố lăng trong các buổi sinh hoạt
Câu hỏi 48: Tại sao Việt Võ Đạo sinh không được trình diễn những bài ca ủy mỵ, yếu hèn hay kích động, lố lăng trong những buổi sinh hoạt môn phái?
Do những nguyên nhân sau:
- Không thích hợp với tinh thần Việt Võ Đạo sinh
- Việt Võ Đạo sinh không phải là những ca sĩ chuyên môn để trình diễn những bài ca đó
- Việt Võ Đạo sinh ca hát dễ nung cao chí khí và sự nỗ lực làm việc chớ không để tiêm nhiễm sự yếuhèn, suy nhược, chán nản
Câu hỏi 49: Tại sao Việt Võ Đạo sinh phải hát những bài đạo ca trong buổi sinh hoạt môn phái?
Luôn luôn trong những buổi sinh hoạt môn phái, Việt Võ Đạo sinh hát những bài đạo cao vì:
- Đạo ca đã được chọn lựa nên có tính chất Việt Võ Đạo
- Việt Võ Đạo sinh hát để mọi người hiểu được tình cảm, tinh thần của người môn sinh Việt Võ Đạo
- Thính giả thường ít được thưởng thức văn nghệ Việt Võ Đạo nên họ sẽ thích thú được nghe những bài ca Việt Võ Đạo hơn là những bài ca của các tập thể khác
Câu hỏi 50: Muốn cuộc biểu diễn thành công, Việt Võ Đạo sinh phải ghi nhớ những gì?
Người biểu diễn phải chú tâm vào tinh thần và cách thể hiện, đồng thời người điều khiển chương trình phải ứng biến mau lẹ, và hiểu rõ tâm lý người xem
Câu hỏi 51: Thống nhất chỉ huy là gì? Hãy giải thích đại cương
- Thống nhất: tạo thành một mối duy nhất
- Chỉ huy: Ra hiệu lệnh để sai bảo thuộc cấp
- Thống nhất chỉ huy: Ra lệnh cho thuộc cấp thi hành theo một đường lối duy nhất, một hệ thống chỉ huy đã định
Làm thế nào để thống nhất chỉ huy? – Muốn thống nhất chỉ huy người chỉ huy phải lưu ý đến những điểm sau:
Cơ quan ra lệnh phải thống nhất (đừng ra lệnh khi này, khi khác)
- Giải thích lệnh và giới hạn lệnh
- Kiểm soát sự thi hành lệnh
- Phải có một hệ thống chỉ huy hữu hiệu
- Cách thi hành phải thống nhất
Câu hỏi 52: Thế nào là ủy quyền? Sự cần thiết của ủy quyền?
Ủy quyền là giao một số quyền hành cho một người hay một cơ quan để họ giải quyết nhưng vấn
đề trong khuôn khổ nhiệm vụ của họ
Thí dụ: Ủy quyền cho huấn luyện viên A quyền huấn luyện, quyền thưởng phạt một lớp võ để người này thi hành trọn vẹn nhiệm vụ huấn luyện của họ (nếu không người này chỉ là phụ tá)
Sựủy quyền rất cần thiết vì những lý do sau đây:
Làm thăng tiến thuộc viên (cho họ quyền hạn để họ thực hiện những gì đã biết, hay giải quyết những việc khó khăn trong khi thi hành nhiệm vụ)
Trang 26Người chỉ huy không thể tự mình làm hết mọi việc,vì vậy phải giao lại cho cộng sự viên có khả năng đó.
Câu hỏi 53: Sựủy quyền đòi hỏi những điều kiện nào?
Quyền hạn tương xứng với nhiệm vụ: Để cho thuộc viên có đủ tinh thần vật chất để tăng hiệu năng làm việc
Phải chọn đúng người đểủy quyền: Chọn người có khả năng và thích hợp với việc được giao phó cần thực hiện
Giải thích và giới hạn quyền: Cho người được ủy quyền biết quyền hạn của mình gồm những quyền nào, được hành sử những quyền hạn đó đến mức hạn định nào!
Kiểm soát quyền: Để cho họ được tự do giải quyết nhiệm vụ của họ, nhưng phải kiểm soát luôn luôn hầu tránh sự sử dụng quyền không đúng mức hoặc lạm quyền Nên nhớ người ủy quyền hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả công việc đã giao phó cho người thụủy
Câu hỏi 54: Sự cần thiết của thưởng phạt ra sao? Nguyên tắc của thưởng phạt như thế nào?
Đoàn thể nào cũng có kỷ luật để trật tự hóa hoạt động của mình Có công thì thưởng, có tội thì phạt,
sự thưởng phạt nhằm ý hướng khích lệvà răn trị đoàn viên trong việc góp công xây dựng đoàn thể và duy trì kỷ luật đoàn thể
Nguyên tắc của thưởng phạt bao gồm chữ: Phạt nghiêm, thưởng xứng với điều kiện sau:
Phải căn cứ vào bằng cớ xác tín của người được thưởng hay bị phạt
Ấn định trừng phạt đồng đều
Câu hỏi 55: Sự thưởng phạt có hiệu quả ra sao? Giải thích đại cương sự lợi hại của thưởng phạt:
Sự thưởng phạt mang lại cho thuộc viên những tâm lý sau:
- Thưởng: Ước ao, mong muốn cố gắng hoạt động hăng say
- Phạt: Sợ, cố tránh, làm việc phải nghĩ đến kỷ luật
Thưởng phạt có những lợi hại như sau:
- Lợi: Thưởng hợp tình, hợp lý, thuộc viên hăng say làm việc hơn, có sự thông cảm hợp tác giữa cấp chỉ huy và thuộc viên
- Hại: Gây bất mãn, hiềm khích và có thể tan vỡ hoạt động của đoàn thể nếu:
Phạt không nghiêm, thưởng không xứng
Thưởng phạt bất công, thiên vị
Câu hỏi 56: Quan niệm thưởng phạt của Việt Võ Đạo sinh ra sao?
Muốn thưởng phạt nghiêm xứng, Việt Võ Đạo sinh phải hằng quan tâm đến thuộc viên của mình, khi phạt phải nhìn rõ hành động của thuộc viên để nhắc nhở hay cảnh cáo tùy theo lỗi nặng nhẹ Người chỉ huy phải lưu ý đến từng sơ xuất lỗi lầm nhỏ của thuộc viên để cho thuộc viên kiện toàn con ngườicủa mình (vì lỗi nặng là lỗi nhỏ tạo thành nếu không sửa từ đầu)
Gặp trường hợp nhắc nhở nhiều lần những thuộc viên không sửa lỗi, người chỉ huy có thể áp dụng hình phạt nặng theo qui lệ của môn phái Hình phạt chỉ được ân giảm khi thuộc viên thực tâm sửa lỗi bằng sự làm việc, bằng kết quả hoạt động của mình đối với đoàn thể Người chỉhuy có khi cần phải
để đoái công chuộc tội nếu kẻ phạm lỗi có nhiều công lao với đoàn thể
Đối với kẻ có công lao, tinh thần và nhiều cố gắng, người chỉ huy phải biết tưởng thưởng họ Muốn thưởng, Việt Võ Đạo sinh phải xem người được thưởng muốn gì? Vì vậy phải luôn luôn quan tâm đến hoàn cảnh, gia đình, hoài bảo, lý tưởng, chí hướng và sở thích của thuộc viên
Tóm lại, sự thưởng phạt của Việt Võ Đạo sinh nhằm ý hướng kiện tòan con người luôn luôn phải quan tâm đến thuộc viên, đồng thời sựthưởng phạt phải tùy theo hoàn cảnh và phương tiện sẵn có cùng những hình thức theo qui luật của môn phái Việt Võ Đạo sinh phải dùng lý trí để phân định mức tưởng thưởng, phạt đối với thuộc viên, những sự thưởng phạt bao giờ cũng dùng tình cảm chân thật để đối xử với người
Phần 4: Tương quan giữa Việt Võ Đạo và xã Hội
Trang 27Câu hỏi 57 Xã hội là gì?
Xã hội là một số tổ hợp nhiều người trong một hoàn cảnh không gian và thời gian được qui định hay mặc nhiên qui định Một tập hợp người sống chung dưới một số qui ước đã được chấp nhận để bảo tồn mọi cá nhân về sinh mạng và tài sản Như luật lệ lưu thông ấn định về cách thức di chuyển xe trong thành phố, luật lệ này bắt buộc cá nhân thi thành đúng cách để tránh tai nạn
Câu hỏi 58: Tương quan giữa Việt Võ Đạo và Xã hội ra sao?
Việt Võ Đạo là một phần tử trong xã hội, của dân tộc Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử nên giữa Việt Võ Đạo và xã hội có những mối tương quan mật thiết Nếu không có xã hội làm môi trường hoạtđộng thì cũng không có Việt Võ Đạo, vì Việt Võ Đạo từ xã hội mà ra, do xã hội mà có
Ngược lại, xã hội không thể làm ngơ, không thể chi dụng những công dân do Việt Võ Đạo đào tạo,
mà phải giúp đỡ Việt Võ Đạo đạt đến lý tưởng phục vụ cho xã hội Việt Nam và rộng lớn hơn cho nhân loại
Việt Võ Đạo mang đến cho xã hội những bàn tay kiên dũng nhưng từ ái để thắng phục mọi trở ngại đưa xã hội đến tốt đẹp hơn Do đó, xã hội có bổn phận giúp đỡ phương tiện và nâng đỡ Việt Võ Đạo
có nhiều cơ hội, môi turờng tốt để hoạt động
Câu hỏi 59: Tương quan giữa xã hội và các nhóm xã hội khác như thế nào?
Mỗi nhóm xã hội có những tiêu hướng hoạt động riêng tương đồng hay bất đồng với tiêu hướng hoạt động của các nhóm xã hội khác Nhưđoàn thể chính trị, tôn giáo, hiệp hội, thương mãi, hội đoàn thanh niên hay các đoàn thể áp lực v.v Đồng thời sự điều hành trong xã hội tạo ra mối tương quan giữa các nhóm xã hội này, tạo thành các mối liên lạc trong sự sinh hoạt của xã hội Vì các tiêu hướng khác nhau, nên các nhóm xã hội thường có những liên kết hay va chạm Do đó, Việt Võ Đạo cần phải
có một thái độ thích hợp trong tương quan với các nhóm xã hội khác Thái độ đó được ấn định rõ rệt trong 3 mục đích và 5 tôn chỉ của Việt Võ Đạo
Câu hỏi 60: đối với các võ phái khác ta phải có thái độ ra sao?
Đối với các võ phái khác ta phải tôn trọng, và chỉ dùng võ để tự vệ và bênh vực lẽ phải Thái độ tôn trọng của ta nói lên sự khiêm cung độlượng của người võ sĩ chớ không phải là thái độ sợ sệt hay nhút nhát, khi chúng ta lễ độ, tôn trọng, giao hòa với các võ phái khác là để cùng phát triển, phục vụ cho nền võ đạo của dân tộc và nhân lọai
Câu hỏi 61: Việt Võ Đạo cần có những thái độ nào đối với các nhóm xã hội?
Trong mọi hoạt động của sinh hoạt cộng đồng xã hội, vì có những giao tiếp nên có những trường hợpphải liên kết hay va chạm Do đó, Việt Võ Đạo chúng ta mặc dầu đặt căn bản trên đạo, tức võ đạo, phải vượt thoát ra ngoài sự hơn thua thành bại tranh chấp Nhưng đôi khi chúng ta cũng cần một thái
độ thích ứng tương xứng Nhưng khi chúng ta đã đạt được đạo rồi, chúng ta không cần đến thái độấy nữa, ba thái độthích ứng ta cần có là: HỢP, HÒA và CHỐNG
Câu hỏi 62: Thế nào là hợp?
Hợp: Nghĩa là kết hợp, hợp tác, là hành động của nhiều người cùng chung góp với nhau về vật chất hoặc tinh thần để thực hiện một mục đích Việt Võ Đạo Thái độ hợp của chúng ta là sẵn sàng hợp tác với các nhóm xã hội như các đoàn thể, hội đoàn khác để thể hiện một công tác, một công việc nếu giữa ta và nhóm xã hội có chung mục đích và chí hướng Sự hợp tác này biểu lộ trong việc ích lợi chung cho mọi người, chứ không nhắm đề cao một nhóm xã hội nào khác, nhất là không đi ngược lại mục đích và tôn chỉ Việt Võ Đạo
Câu hỏi 63: Hòa là gì?
Hòa là một hành động, một thái độ không HỢP nhưng cũng không CHỐNG, không muốn có sự liên
hệ về mọi phương diện giữa các nhóm người với nhau, nhưng vẫn tôn trọng lẫn nhau Hòa đối với chúng ta là giữ một thái độ im lặng bất hợp tác việc ai nấy làm, đường ai nấy đi không đụng chạm phá rối nhau Các nhóm xã hội khác tự do hoạt động miễn là không đụng chạm tới Việt Võ Đạo trên mọi phương diện vềdanh dự, quyền lợi, chí hướng Việt Võ Đạo, không ngăn trở chúng ta phát triển môn phái Mọi cá nhân được tự do lựa chọn không bị ngăn trởbất kỳ một nhóm xã hội nào khác, tùy theo ý chí của mình để gia nhập đoàn thể xã hội Việt Võ Đạo
Câu hỏi 64: Thế nào là chống?
Chống là hành động, thái độ đối kháng với những thái độ hay hành động có tính cách triệt hạ, gây áp lực, phá rối Chống, đối với Việt Võ Đạo sinh nghĩa là sẵn sàng có một thái độ thích hợp để đối phó
Trang 28với các nhóm xã hội , khi họ có những hành động va chạm đến danh dự, quyền lợi, lý tưởng của chúng ta Khi đó hành động sẵn sàng chống lại bất cứ ngoại lực nào ngăn chận bước tiến của Việt VõĐạo trên đường phát triển để phục vụ cho dân tộc và nhân lọai là hành động tự vệ và hành động
tự vệ này được xem như là một phương thức được sử dụng để bảo tồn môn phái
Câu hỏi 65: Cả 3 giai đoạn hợp, hòa và chống luôn luôn xãy ra hay có tính cách giai đoạn?
Ba giai đoạn: Hòa, Hợp, Chống chỉ có tính cách giai đoạn Chúng ta áp dụng ba thái độ trên một cáchlinh động và uyển chuyển trong từng giai đoạn của vấn đề Có thể trong giai đoạn trước chung HỢP với nhóm xã hội này vì cùng chung mục đích và chí hướng, nhưng giai đoạn sau phải CHỐNG vì mục đích và tôn chỉ của họ đã biến đổi hoặc giai đoạn này chúng ta HÒA nhưng giai đoạn sau HỢP
vì mục đích, chí hướng của chúng ta đã chinh phục được họ
Câu hỏi 66: Chúng ta hành sử 3 thái độ trên theo tiêu chuẩn nào?
Chúng ta hành sử 3 thái độ trên theo đúng mục đích và tôn chỉ của Việt Võ Đạo Vì mục đích và tôn chỉ Việt Võ Đạo được coi là nền tảng căn bản của lý tưởng Việt Võ Đạo
Câu hỏi 67: Cả 3 thái độ hợp, hòa, và chống nêu trên để đối với đoàn thể xã hội, còn đối với cá nhân
trong cuộc sống thì sao?
Đối với cá nhân trong cuộc sống thì 3 thái độ trên vẫn được áp dụng, tuy nhiên tùy theo mức độ thầmnhuần tinh thần võ đạo của người môn sinh Việt Võ Đạo, để nói lên đức sống của mình mà có lúc áp dụng 3 thái độ trên có lúc không, và ở mức độ cao thì không cần đến chúng nữa
Câu hỏi 68: Khi hội nhập vào xã hội, để tồn tại, cá nhân có những quan hệ gì?
Khi hội nhập vào xã hội, để tồn tại, cá nhân có những quan hệ:
- Quan hệ giữa cá nhân với cá nhân
- Quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng
- Quan hệ giữa cá nhân với đoàn thể
- Quan hệ giữa cá nnhân với tập thể
Câu hỏi 69: Quan hệ giữa cá nhân với cá nhân có mấy phần vụ?
Câu hỏi 70: Phần vụ sinh hoạt tinh thần trong quan hệ cá nhân ra sao?
Sinh hoạt tinh thần bao gồm những ràng buộc ảnh hưởng về lý trí tình cảm, ý thức, tiềm thức, cá tính,thiên khiếu, cảm giác của cá nhân, tạo thành rồi mở rộng thành quan niệm sống
Câu hỏi 71: Phần vụ sinh hoạt vật chất trong quan hệ cá nhân ra sao?
Phần vụ sinh hoạt vật chất trong quan hệ cá nhân gồm có:
- Y phục, ẩm thực: Đầy đủ
- Ngủ: Yên
- Sức khỏe: đồi dào
- Nhà cửa: sạch sẽ, khang trang, tiện nghi
- Có tương lai
Câu hỏi 72: Phần vụ nguyện vọng trong quan hệ cá nhân ra sao?
Phần vụ nguyện vọng là xu hướng cầu tiến của con người, luôn luôn nuôi sống con người, bồi dưỡng đức tin của con người, thúc đẩy con người luôn cầu tiến và thăng tiến
Câu hỏi 73: Quan hệ tập thể có mấy phần vụ?
Trang 29Câu hỏi 74: Phần vụ tổ chức và điều hành của quan hệ tập thể ra sao?
Phần vụ tổ chức và điều hành vừa quan hệ tập thể gồm có thành tố:
Về cơ cấu: Kiện toàn bằng hệ thống hóa và qui chế hóa
Về làm việc: Có phương pháp và khoa học
Về chương trình làm việc: Phải thực tiển, thích hợp
Về kỷ luật: Phải nghiêm minh từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên
Câu hỏi 75: Phần vụ khả năng của quan hệ tập thể ra sao?
Phần vụ khả năng của quan hệ tập thể gồm có 3 thành tố:
- Về nhân tố: Cán bộ đa năng, đa hiệu, quần chúng đông, có ý thức, hiệu năng và kỷ luật
- Về tài lực: đủ để bảo đảm công tác, nếu có thể: Dồi dào
- Về thể lực: Có uy tín, nhiều ảnh hưởng với các tập thể bạn, với cộng đồng
Câu hỏi 76: Phần vụ lãnh đạo của quan hệ tập thể ra sao?
Phần vụ lãnh đạo của tập thể có 10 yếu tố:
- Linh mẫn
- Đồng nhất ý chí
- Hòa hợp, đoàn kết
- Chí công vô tư, liêm khiết, trọng nghĩa công hơn tình riêng
- Đủ ân, Uy, tình, nghĩa khi làm việc
- Sức chịu đựng cao
- Đa năng, đa hiệu
- Thưởng phạt nghiêm minh
- Bản lãnh vững (không thể bị huyền hoặc, mua chuộc)
- Trung kiên (không phản bội tập thể dưới bất cứ hình thức nào)
Câu hỏi 77: Phần hành động của quan hệ tập thể ra sao?
Phần vụ hành động của quan hệ tập thể có 4 yếu tố:
Đồng nhất ý chí trong hành động
Kế hoạch hóa và phương pháp hóa mọi công tác, dịch vụ
Tháo vát, mẫn tiệp, kịp thời, đa dụng, đa năng, đa hiệu để thích ứng với mọi hoàn cảnh, trong mọi trường hợp
Có phối kiểm tính cao, để rút kinh nghiệm, khắc phục khuyết điểm và bồi bổ nhược điểm nhanh chóng
Câu hỏi 78: Phần vụ nguyện vọng của quan hệ tập thể ra sao?
Phần vụ nguyện vọng của quan hệ tập thể là tiêu hướng của mọi quan hệ tập thể với các thành tố:
Lý tưởng: Phát huy tinh thần Việt và khả năng Việt bằng hệ thống Cách Mạng
Tâm Thân cho người Việt, thành tinh thần võ đạo Việt Nam (Việt Võ Đạo)
Tiêu hướng: Quảng bá và phát huy Việt Võ Đạo dưới mọi hình thức
Ý hướng: Yêu nước, biểu dương, thể hiện và bảo vệ công bằng xã hội, tình nhân ái nhưng không trựctiếp tham gia sinh hoạt chính trị, và đồng thời cũng không ngăn cấm các môn sinh hoạt động chính trị với tư cách công dân
Câu hỏi 79: Có mấy loại tương quan giữa cá nhân và tập thể?
Có 2 lọai tương quan giữa cá nhân và tập thể:
- Tương quan thuận
- Tương quan nghịch
Câu hỏi 80: Có mấy tương quan thuận giữa cá nhân và tập thể?
Có 6 tương quan thuận giữa cá nhân và tập thể:
Trang 30- Cùng có ý hướng tiến bộ, cầu tiến và thăng tiến
- Cùng tập trung nỗ lực về những vần đề nhân bản
- Bản chất của tập thể là tổ hợp các cá nhân nên dể có sự thông cảm và phối hợp tinh thần
Tập thể dung hợp cá nhân, cá nhân dựa vào tập thể để tồn tại và phát triển
Nếu hội nhập lâu, cá nhân sẽ đồng hóa nếp sống và tập quán, trở thành phần tử của tập thể
Ý thức tập thể của cá nhân nếu tới cao độ, sẽ thành ý thực tập thể là một
Câu hỏi 81: Có mấy tương quan nghịch giữa cá nhân và tập thể?
Có 7 tương quan nghịch giữa cá nhân và tập thể:
- Ranh giới phân lập mơ hồ có thể đưa tới bất mãn, nghi kỵ và bất tín nhiệm
- Cá nhân đòi hỏi tự do và quyền hạn, tập thể đòi hỏi trách nhiệm và kỷ luật
- Cá nhân đa cảm, xúc cảm và dễ thiên lệch, trong lúc tập thể duy lý, vô tư và nghiêm khắc
- Cá nhân phải tiết giảm cá tính, tập thể đòi hỏi tập thể tính
- Cá nhân dễ mua chuộc, tập thể chỉ thỏa hiệp, khó bị mua chuộc
- Tập thể có thể hy sinh cá nhân, cá nhân không thể hy sinh tập thể
- Cá nhân có thể Đi Chung Đánh Riêng, tập thể bắt buộc phải Đi Chung Đánh Chung
Câu hỏi 82: Tóm lại thực chất của tương quan giữa cá nhân và tập thể ra sao?
Tóm lại tương quan giữa cá nhân và tập thể chính là sự ràng buộc và sự đòi hỏi cá nhân hội nhập đời
tư vào đời công, cùng tập hợp và tập trung khả năng vào những nguyện vọng chung để cùng tiến triển
Phần 5: Nghệ thuật nói chuyện
Câu hỏi 83: Muốn nói chuyện trước công chúng, ta phải có ý niệm đầu tiên về vấn đề này ra sao?
Phải luyện NÓI, phải hiểu nghệ thuật NÓI, vì ngôn ngữ là một phương tiện để phát biểu tư tưởng, ý kiến để người khác nghe mà hiểu, thông cảm, tán thành, hoặc ngược lại
Câu hỏi 84: Muốn nói chuyện trước công chúng phải chuẩn bị và làm ra sao?
Muốn nói chuyện trước công chúng, chúng ta phải chuẩn bị và thực hiện thành 3 phần vụ:
1 Trước khi nói:
- Phải chuẩn bị đề tài thích hợp
- Phải hiểu để nắm vững tâm lý đối tượng quần chúng
- Tìm ý, kiếm ý và sắp ý
- Làm một dàn bài chi tiết
- Tập nói nhiều lần cho quen, cần nhấn mạnh những điểm quan trọng
2 Trong khi nói:
Nói đúng lúc
Tác phong, cử chỉ, điệu bộ thích hợp (cả sắc mặt, đôi mắt)
Chú trọng tới cảm quan thính giả để nhấn mạnh về các điểm tình cảm tâm lý và ý thức
Biết ngưng đúng chỗ và đúng lúc để giữ hơi trong lúc thính giả cần có thời giờ để suy nghĩ, ý hội
3 Sau lúc nói:
Lời chào, điệu bộ chào thích hợp
Rời khỏi diễn đàn chững chạc, từ tốn
Câu hỏi 85: Muốn tập nói cho có hiệu quả, chúng ta phải làm gì?
- Phải chuyện luyện các đức tính về nói và kỹ thuật nói
- Tánh tự chủ (bình tỉnh, tự tin, nhiệt thành)
- Tánh kiên nhẩn (để nghe chất vấn, đẻ thuyết phục)
- Luyện giọng (lúc thường, lúc trầm, lúc hùng, lúc thiết tha, lúc bi phẩn, lúc tạm ngưng)
- Luyện thái độ, cử chỉ (cách nhìn, miệng nói, lúc cúi đầu, bộ điệu bàn tay, khi ngước mắt)
Câu hỏi 86: Muốn gặt hái được kết quả tốt đẹp trong khi nói, phải làm sao?
Phải áp dụng phối hợp đúng mức các phần vụ:
Trang 31- Hòa mình vào không khí NÓI với công chúng
- Hòa lời vào văn mạch, đề tài
- Áp dụng phối hợp nói đúng đề tài và kỹ thuật Nói
Câu hỏi 87: Trong một buổi hội thảo làm sao chinh phục được cảm tình của hội thảo viên?
Muốn chinh phục được cảm tình của hội thảo viên, chúng ta phải làm cho họ chú ý và cử chỉ của người nói Cách vô đầu thông thường là bằng một câu chuyện, hoặc đặt câu hỏi chọc tánh tò mò của người nghe Muốn thuyết phục người khác, tức là nói cho họ nghe, hiểu, biết và làm theo ta thì trong bài thuyết trình, ta cần phải chia rõ dàn bài để cho các hội thảo viên nắm vững vấn đề ta muốn nói Điều quan trọng là, ta hãy tùy theo trình độ kiến thức của hội thảo viên để dùng từ ngữ thích hợp
Câu hỏi 88: Trong trường hợp chúng ta lên thuyết trình, hội thảo viên đặt câu hỏi mà ta không nắm
vững (bí quá) thì phải làm sao?
Trong trường hợp này chúng ta phải thật bình tĩnh đối phó bằng cách trì hoãn, kéo dài thời giờ để ta suy nghĩ hoặc đánh tan thắc mắc của họở vài cách sau đây:
- Anh (chị) nói nhỏ quá, tôi chưa kịp nghe, xin anh (chi) nhắc lại cậu hỏi vừa rồi
- Câu hỏi của anh (chị) hay lắm nhưng tiếc quá nó ngoài vấn đề chúng ta bàn luận hôm nay, xin trở lại một dịp khác
Đặt câu hỏi ngược lại cho mọi người có thì giờ suy nghĩ và trả lời Cần giữ tuyệt đối trầm tỉnh, tìm cách dồn người hỏi tới chỗ bối rối, để lộ sơhở yếu điểm của họ
Nhờ đó, ta có thể dựa vào kẻ hở, điểm yếu để đánh mạnh vài câu, chinh phục họ
Câu hỏi 89: Trong buổi học tập, thuyết trình viên làm thế nào để biết học viên có theo kịp bài giảng
của mình hay không?
Ngay trong lúc diễn thuyết bạn nên theo dõi tất cả mọi người Nhất là nhìn vào cặp mắt của họ Thỉnhthoảng chỉ một em nhỏở xa chỗ ta đứng hỏi em có nghe rõ giọng tôi nói hay không? Đến đây anh (chị) có điều gì thắc mắc hay những điểm gì không hiểu cần hỏi lại hay không?
Tóm lại, tùy lúc thuyết trình ta nên linh động để thích ứng làm thính giả đối tượng muốn nghe
Câu hỏi 90: Thái độ và tinh thần được thể hiện ra sao trong giờ hội thảo?
Để mọi người hòa hợp với nhau trên bước tiến thực thi lý tưởng cao cả chung của môn phái Chúng
Tóm lại, ta nên nghiêm chỉnh mà cởi mở, vui vẻ, khiêm tốn mà độ lượng nhã nhặn
Tinh thần:
- Thành thực
- Bao dung
Phần tinh thần rất là quan hệ, vì muốn cho người khác cũng có ý nghĩ như ta, trước hết ta phải có thái
độ thành thực, để hội thảo viên tin tưởng ta Với tình cảm của ta chân thực, chúng ta sẽ hăng hái diễn đạt làm cho vấn đề ta nói Có Hồn và ta tin chắc người nghe sẽ ý hội được những điều ta nói
Phải biết bao dung, dù ta tin chắc rằng ý niệm của ta đúng, bằng cách luôn luôn phân tích, nhận định
ý kiến của người khác nữa, rồi từ từhướng dẫn họ vào quan niệm của ta
Câu hỏi 91: Đàm đạo là gì?
Trang 32Đàm đạo là cuộc nói chuyện ít người, trong một khung cảnh nhỏ hẹp, ấm cúng, trong không khí thanh nhã, ôn hòa, thân hữu.
Câu hỏi 92: Tranh luận là gì?
Tranh luận là sự đua tranh giành phần thắng bằng cách bàn cãi, thảo luận với mục đích tìm ra lẽ phải
Câu hỏi 93: Thuyết phục là gì?
Thuyết phục là cảm phục đối tượng bằng cách nói về một hay nhiều vần đề, với dụng ý hướng dẫn cảm quan của người nghe
Câu hỏi 94: Đàm đạo, tranh luận và thuyết phục có những đồng điểm và dị điểm gì?
Có đồng điểm và dị điểm:
Cùng mục đích: Tranh thủ cảm tình của đối tượng
Đàm đạo ôn hòa, cởi mờ, tranh luận, thuyết phục nhiều tính chất kỹ thuật và thủ đoạn
Đàm đạo có đối tượng thuần chất và chọn lọc, tranh luận và thuyết phục có đối tượng phức tạp
Có thể phối hợp trong những trường hợp đặc biệt: Tranh luận, thuyết phục xong chuyển sang đàm đạo
Câu hỏi 95: Đàm đạo có mục đích ra sao?
Mục đích của đàm đạo là tạo cảm thông, gây hòa khí và tình thân thiện giữa người trong cuộc
Câu hỏi 96: Công tác đàm đạo có mấy nguyên tắc căn bản?
Công tác đàm đạo có 4 nguyên tắc căn bản:
- Nghe nhiều nói ít
- Nhận, tán dương ưu điểm của người
- Tế nhị trong việc diễn ý
- Gợi ý và gợi hứng cho người đối thoại
Câu hỏi 97: Có mấy đặc điểm nghe nhiều nói ít?
Có 3 đặc điểm nghe nhiều nói ít:
- Không ai phản đối, vì không ai rõ ý mình
- Dễ tiến thoái khi hành động
- Hiểu được người khác
- Có thể chia sẻ với đối phương một số hiểu biết và nhận định
- Có thể chia sẻ với đối tượng một sốưu tư và trách nhiệm
Câu hỏi 98: Thế nào là nhận và tán dương ưu điểm của người?
Nhận và tán dương ưu điểm của người là: nhớưu điểm, bỏ khuyết điểm, nhược điểm để làm gia tăng liên tình thân hữu và thông cảm
Câu hỏi 99: Tai sao phải tế nhị trong việc diễn ý?
Phải tế nhị trong việc diễn ý để tránh những va chạm đáng tiếc dù là vô tình
Câu hỏi 100: Tai sao phải gợi ý và gợi hứng cho người đối thọai?
Phải gợi ý và gợi hứng cho người đối thoại để họ nhớ ra và có thể cảm hứng nói chuyện, để tránh tìnhtrạng độc thoại
Câu hỏi 101: Giai đoạn chuẩn bị và thực hiện đàm đạo có những đặc điểm gì?
Giai đoạn chuẩn bị và thực hiện đàm đạo có 7 đặc điểm:
- Tìm hiểu cá tính người đàm đạo
- Lượng giá tài trí và tinh thần người đàm đạo
- Lượng giá những điểm bất đồng có thể xãy ra
- Lượng giá những điểm tương đồng thuận lợi
Trang 33- Biết rõ mục đích cuộc đàm đạo
- Tiên liệu và nắm vững đề tài
- Chuẩn bị tư thế
Câu hỏi 102: Có mấy trường hợp tranh luận chính?
Có 3 trường hợp tranh luận chính:
- Song luận
- Tam luận
- Quần luận
Câu hỏi 103: Trường hợp song luận có mấy nguyên tắc?
Trường hợp song luận có 5 nguyên tắc:
- Nhìn thẳng vào mắt đối phương
- Gợi ý cho đối phương nói nhiều
- Nắm quyền chủ động
- Đừng để đối phương kết luận
- Không tranh thắng hoàn toàn, để lại vài điểm thứ yếu cho đối phương rút lui bảo toàn thể diện
Câu hỏi 104: Trường hợp tam luận ra sao?
Là trường hợp tranh luận có người thứ ba bàng thính
Câu hỏi 105: Có mấy nguyên tắc bổ túc vào trường hợp song luận, dành cho trường hợp tam luận?
Có 3 nguyên tắc:
- Tranh thủ cảm tình người thứ ba
- Trọng tài hoa họ
- Gợi ý và lôi cuốn sự tán đồng quan điểm của người thứ ba
Câu hỏi 106: Có mấy phương cách áp dụng trong trường hợp Qua Địch Chung?
Có 3 phương cách áp dụng trong trường hợp Qua Địch Chung:
- Đánh tỉa từng đối thủ, từ đối thủ kém lý luận nhứt
- Khai thác mâu thuẫn lý luận nội bộ của đối phương
- Hỏi dồn dập tất cả đối thủ một loạt, để họ không còn thì giờ suy nghỉ
Câu hỏi 107: Trong trường hợp Chung Địch Qua phải tranh luận ra sao?
Trong trường hợp Chung Địch Qua mọi người phải tấn công đối phương (lần lượt hay đồng loạt)
về một mặt hay một vấn đề trước khi kết luận từng điểm, để làm sụp đổ toàn bộ hệ thống lý luận của đối phương
Câu hỏi 108: Trong trường hợp đa phương, phải tranh luận ra sao?
Trong trường hợp đa phương phải liên kết với các nhóm trung lập hoặc nếu đơn phương, phải trù liệukhai thác những yếu điểm nhất của các nhóm yếu phải có chương trình phân công tranh luận hợp lý
để có tinh thần tập thể và phá vỡ tinh thần tập thể của đối phương
Câu hỏi 109: Thuyết phục có mấy định tác riêng biệt?
Thuyết phục có 4 định tác riêng biệt:
- Phải nắm vững vấn đề để đàm đạo và tranh luận
- Vận dụng ý thức phản luận cao
- Hùng biện từ lời nói, cách nói đến cử chỉ, điệu bộ, đề tài
- Kỹ thuật vận động
Câu hỏi 110: Chân giá trị của đàm đạo, tranh luận ra thuyết phục ra sao?
Chân giá trị của đàm đạo là cho chúng ta nghe thuật sống tươi mát, hòa mình với mọi người
Chân giá trị của tranh luận là phương tiện giải quyết những mâu thuẫn, chia rẽ, thủ đoạn bằng lý luận làm phương tiện giải quyết
Chân giá trị của thuyết phục là vận động mọi thủ đoạn và kỹ thuật vào đàm đạo và tranh luận để làm cảm phục, khuất phục đối tượng
Trang 34Câu hỏi 111: Trường hợp nào chúng ta đem vấn đề ra trình bày?
Thông thường trong những trường hợp sau đây, khi chúng ta cần:
Thông báo (tin cho biết không cần người phải thấu triệt hay tùng phục)
Thông đạt (tin cho người biết có mục đích giải tỏa những thắc mắc hoặc đòi hỏi nơi người nghe, đọc…)
Chỉ thị (ra lệnh cho người cấp dưới làm một chuyện hay một công tác nào đó)
Phổ biến, xây dựng hoặc phê bình một quan niệm một triết thuyết, một chủ trương hay một hành động nào đó…
Báo cáo và đề đạt lên cấp trên
Câu hỏi 112: Tại sao chúng ta phải biết cách trình bày một vấn đề mà chúng ta mong ước được gặt
hái kết quả tốt đẹp?
Chúng ta phải biết cách trình bày một vấn đề để được kết quả tốt là do những mục đích giản dị sau đây:
- Đem cái mà mình có (biết) làm cho người biết (có) như mình
- Đem cái mà ta hiểu làm cho người hiểu như ta
- Đem điều mà ta suy nghĩ cho người khác cùng suy nghĩ với ta
- Đem điều hay đẹp, hữu ích chung mà ta dự tính cho người rõ dự tính tốt đẹp của ta
- Đem điều ta ấp ủ (hằng mơước thực hiện) đến cho mọi người cùng ấp ủ một lý tưởng như ta
Câu hỏi 113: Đối tượng là gì? Cho vài thí dụ:
Đối tượng là hình tượng (hình ảnh, nhân vật hay sự việc) trước mặt mà từ đó, các mục tiêu được hướng tới để đạt một kết quả Ví dụ: đối tượng của nhà diễn thuyết là thính giả, đối tượng của nhà văn là đọc giả, đối tượng của báo cáo viên là cấp chỉ huy trực tiếp hay gián tiếp
Câu hỏi 114: Thông thường có mấy nguyên tắc để trình bày một vấn đề được áp dụng? Hãy kể ra?
Có 2 nguyên tắc thông thường được áp dụng khi trình bày một vấn đề:
Khởi từ cái mà người biết, rồi dẫn dụ đến cái mà người chưa biết
Khởi từ cái mà người chưa biết trở lại cái người biết rồi (đối với người hiếu kỳ vọng ngoại: Tính tò
- Chuẩn bị thời gian và không gian
Câu hỏi 116: Việc phân lọai các vấn đề trình bày được căn cứ trên nhiều lãnh vực khác nhau, trên
đề tài, mục đích và trên sự thể hiện Vậy theo bạn, bạn có thể kể tên các loại mà bạn biết?
- Báo cáo, phúc trình
- Đề đạt nguyện vọng
- Diễn văn, diễn thuyết
- Nghị luận…
Câu hỏi 117: Sau khi đã phân loại các vấn đề trình bày thành từng nhóm, anh chị hãy kể một vài
phương pháp áp dụng khi thực hiện?
Phương pháp 1: chúng ta trả lời đầu đủ các chi tiết sau: – Ai? – Cái gì? – Ở đâu? – Lúc nào?- Ra sao?Phương pháp 2: Chúng ta nêu lên những phương thức: – chuẩn bị thực hiện, – đúc kết tác dụng.Phướng pháp 3: Chúng ta phải tìm chứng minh: Nguyên nhân, diễn biến,hậu quả, biện pháp
Câu hỏi 118: Về bố cục chúng ta dựa trên những tiêu chuẩn nào?
Dựa trên các tiêu chuẩn sau đây: Chặt chẻ, rõ ràng, không chia quá nhiều đoạn
Trang 35Câu hỏi 119: Để cho bố cục được dễ dàng, chúng ta nên chọn hình thức nào cho toàn bài? gồm mấy
Câu hỏi 120: Một bài, một sự việc được trình bày bao giờ cũng phải được cân đối trong hình thức
Để nhớ điều đó ta phải luôn luôn để ý đến nguyên tắc nào?
Nguyên tắc cân đối tránh: Đầu Voi Đuôi Chuột, hoặc Mình Voi mà Đầu Chuột
Câu hỏi 121: Thân bài là chính yếu và quan trọng vì trong đó ta mổ xẻ đề tài, chủ đích … bằng mọi
lý lẽ để chứng minh, giải tỏa mọi khúc mắc, và bổ túc với nhau thế nào? Chuyển mạch ra sao?
Có nhiều cách nhưng thông thường chúng ta nên chia thân bài ra làm ba đoạn và mỗi đoạn có
thể gồm 2 hoặc 3 tiểu đoạn Sự bổ túc phải liền nhau đoạn hoặc tiểu đoạn trên với đoạn hoặc tiểu đoạn kế tiếp (đoạn đoạn, tiểu đoạn, tiểu đoạn)
Để ý được liên lạc chặt chẽ giữa các đoạn và các tiểu đoạn, phải được nói liền bằng những câu
- Phiêu lưu mạo hiểm
Sau khi tính việc kỹ lưỡng và tiếp đến là:
2 Lúc vào việc phải (thực hiện):
- Quyết tâm mau lẹ
- Kiên nhẫn, tháo vát
- Tinh thần, trách nhiệm, tình đồng đạo
Sau thời gian thực hiện dĩ nhiên chúng ta sẽ có những kết quả: Tốt xấu, hay dở, thành bại, kinh nghiệm, do đó ta bước sang giai đoạn:
3 Lúc xong việc phải:
Câu hỏi 122: Dẫn nhập rất ảnh hưởng đối với nội dung mà ta trình bày ở thân bài Bởi lẽ đó, lời dẫn
nhập cần phải hay, sáng sủa, sâu sắc, đặc biệt Mà muốn được như thế ta dựa trên mấy cách để dẫn nhập? Hãy kể ra
Có nhiều nhưng đại để có 4 cách sau đây:
- Trực tiếp
- Gián tiếp
- So sánh
Trang 36- Trích dẫn
Câu hỏi 123: Trong vần đề ta trình bày, cái chính yếu vẫn là nội dung, vì thế chúng ta phải làm gì, ra
sao, để có một nội dung phong phú giá trị?
Để có một nội dung phong phú giá trị khi trình bày vấn đề ta cần chú trọng tới:
- Loại bỏ tư tưởng đối nghịch
Câu hỏi 124: Để tăng thêm hiệu quả của việc trình bày, chúng ta nên làm gì ở những đoạn kết?
Đoạn kết bao giờ cũng là nơi cô đọng ý tưởng, tóm tắt, đúc kết mọi diễn biến, khởi nguồn từ dẫn nhập đến thân bài nên phải nhấn mạnh, từ ý đến lời: Mãnh liệt, dứt khoát, tin tưởng, niềm xúc
động, ước mơ…
Câu hỏi 125: Tại sao chúng ta phải chú trọng đến thời gian và không gian khi thi hành một vấn đề?
Tuy vấn đề có liên quan đến thời gian tính hay không, nếu có thì: sớm quá cũng bất lợi mà trễ quá cũng bất lợi Bởi thế, nói đến thời gian là nói tới việc trình bày của mình có đúng lúc hay không Có vấn đề phải cấp bách (nóng hổi) có vấn đề trì hoãn (để cho lắng dịu)…
Nói tới không gian là nói tới vị trí, khung cảnh mà ta phải tiên liệu trong lúc trình bày Nếu quên mất điều này ta sẽ lúng túng, nói một đường thành một ngã Vì ta đã trình bày vấn đề không đúng chỗ (không hợp với lời lẽ và diễn biến của đề tài)
Câu hỏi 126: Muốn trình bày một vấn đề, ta có mấy hình thức thể hiện? Hãy kể ra và nêu vài quan
Câu hỏi 127: Đề tài trình bày một vấn đề mà phương thức áp dụng và dẫn giải nêu trên phải chăng
đã là hoàn toàn và đầy đủ, bất di bất dịch? Không cần thêm bớt gì nữa khi thực hiện?
Qua những phương thức áp dụng và dẫn giải về đề tài Trình bày một vấn đề Chúng ta nghĩ rằng: Những điều mà ta tìm biết được ở trên ví như một cái khung, một cái sườn nhà và soạn thảo viên là một người thợ khéo Còn những sự tìm tòi, học hỏi thêm qua sách báo, tài liệu, kinh nghiệm thiết thực trong việc làm, khả năng thâu thập, đúc lọc và phát họa Đó ví như là những vật dụng cần thiết khác để chúng ta xây thêm một ngôi nhà khang trang, lý tưởng Nghĩa là chúng ta phải luôn luôn phân tích, tổng hợp, sáng tạo và thực hiện tiến bộ không ngừng Sao cho mọi lúc một thêm hoàn hảo
và linh hoạt hơn
Phần 6: Đọc Sách
Câu hỏi 128: Nên đọc những sách nào?
Hãy tìm một vài danh ngôn hướng về sự đọc sách
“Trên đời, sợ nhất là người chỉ đọc một cuốn sch”
“Để cho con vạn tài, thiên kim, không bằng để cho con một cuốn sách”
“Thư trung hữu nữ nhan như ngọc”
“Đàn ông chớ kể Phan Trần, đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều”
“Trai thì đọc sách ngâm thơ, dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa”
“Gái thời giữ việc trong nhà, khi vào canh củi khi ra thêu thùa”
Hoặc:
“Bình thời luyện kiếm, loạn thế đọc thư“
Trang 37Có nghĩa là: Thời bình luyện võ (để cho thời loạn giúp nước), thời loạn đọc sách (để cho đời sau khi bình trị)
Câu hỏi 129: Đọc sách tự nó có giá trị ra sao?
Đọc sách tự nó có một giá trị đặc biệt: đó là giá trị của phương tiện tìm hiểu, tiến thân Sự truyền
kế bằng bất động sản và bất động sản của người trước cho người sau vẫn không có giá trị lâu dài bằng giúp phương tiện tinh thần cho họ tự tìm cơ hội tiến thân bằng đọc sách
Câu hỏi 130: Tại sao người ta sợ Người chỉ đọc một cuốn sách?
Vì người này chỉ biết có một lẽ phải, chỉ làm theo lẽ phải là những điều dạy trong một cuốn sách, trong lúc biển học mênh mông, nền văn minh nhân loại thường phức tạp và đa diện, đòi hỏi người học phải đọc nhiều, hiểu rộng, cân nhắc kỹ lưỡng mới có thể áp dụng hữu hiệu trên đường đời
Câu hỏi 131: Bạn có quan niệm tổng quát ra sao về việc đọc sách?
Trước hết sách chính là túi khôn nhân loại, lưu truyền từ đời này qua đời khác, kế đó, sách là người thầy, người bạn, người tình chung thủy nhất với người đọc nó Cuối cùng, sách đem lại cho chúng ta những giá trị tinh thần đặc biệt và nhiều nguồn cảm hứng phong phú: Từ sự tăng cường hiểu biết, tới những phút cần tìm sự giải trí khuây khỏa, niềm an ủi kỳ diệu, sự khích lệ nghị lực… mà đôi khi, ta không thể tìm được ở tha nhân
Câu hỏi 132: Việc chọn sách để học có mấy phần vụ?
Việc chọn sách để học có 2 phần vụ:
- Phân loại sách
- Lượng giá sách
Câu hỏi 133: Tại sao phải phân loại sách và phân loại ra sao?
Vì không có tiêu chuẩn nào có thểấn định chung cho các nhà xuất bản nên mỗi nhà xuất bản có thểấn định riêng từng loại sách cho mình Mặc khác cũng theo nhu cầu kiến thức riêng của từng ngành, từng nghề trong xã hội mà có sự phân loại thích ứng riêng biệt
Vì vậy chúng ta có thể phân loại sách thành 6 loại:
- Gia đình và linh tinh
Câu hỏi 134: Hãy giải thích chân giá trị và phân lọai chi tiết về loại sách nghiên cứu:
Loại sách nghiên cứu là loại sách Ngán nhất, và chỉ thích hợp với tùy từng trình độ, nên giá
trị phổ biến của nó cũng rất hạn chế Tuy nhiên đây là loại sách cần thiết cho chúng ta về mọi phươngdiện: Kiến thức, kinh nghiệm, thực hành…
Nếu xếp loại chi tiết, chúng ta lại có 5 loại sách nghiên cứu:
- Giáo khoa và liên hệ
- Khảo luận và phê bình
- Tôn giáo
- Trí thức tổng quát
- Tài liệu
Câu hỏi 135: Hãy giải thích chân giá trị và phân lọai chi tiết về loại sách chuyên môn và thực dụng.
Loại sách này vì có giá trị chuyên môn và thực dụng, liên hệ trực tiếp ngay tới kiến thức chuyên môn
và những tác vụ áp dụng vào thực tiễn nên mặc dù khó khăn, vẫn có giá trị nhu cầu nghề nghiệp thiết
Trang 38thân của mọi người, giúp ích ngay vào đời sống thực tế.
Nếu xếp loại chi tiết chúng ta có 6 loại sách chuyên môn và thực dụng:
- Loại sách chuyên môn về lao động trí óc
- Loại sách chuyên môn về chân tay
- Loại sách kỹ thuật khoa học thực nghiệm
- Loại sách khoa học nhân bản (hay khoa học nhân văn)
- Loại sách sinh hoạt xã hội (giao tế nhân sự, quản trị, nói trước công chúng …)
- Loại sách gia đình (tâm sinh lý học, y học, bếp núc, các phương tiện gia dụng)
Câu hỏi 136: Hãy giải thích chân giá trị và phân loại chi tiết về loại sách võ học:
Loại sách này tối cần thiết cho võ sư và võ sinh, vừa mở mang kiến thức vừa thực dụng và thực tập
võ học Đại loại chúng ta có thể phân lọai chi tiết thành 5 loại sách võ học:
- Việt Võ Học (Vovinam Việt Võ Đạo cùng các môn võ dân tộc truyền thống)
- Nhật Võ Học (Bushido, Atewaza, Jujitsu, Judo, Karatedo, Aikido…)
- Võ học Trung Quốc (Thiếu Lâm, Võ Đang, Long Hổ Đường, Võ Sơn Đông, Khoa Châm Cứu huyệtđạo…)
- Võ học Ấn Độ và các nước liên hệ (Yoga, Mông cổ, Cao Miên, Lào, Tây Tạng…)
- Võ học Tây Phương (Boxe Francaise, Box Englaise, Wrestling…)
Câu hỏi 137: Hảy giải thích chân giá trị và phân loại chi tiết về loại sách văn nghệ:
Loại sách này biểu dương tình cảm và sinh hoạt nhân loại và nếu là tác phẩm lớn, có thể điển trưng cho cả tư tưởng của những đẳng cấp xã hội, quốc gia, nhân lọai Chúng ta có thể phân lọai chi tiết thành 5 loại sách:
- Cổ văn
- Kim văn
- Tự điển và ngữ học
- Tác phẩm thời danh
- Tác phẩm đặc biệt (các bộ môn, nghệ thuật, các tác phẩm đáng lưu ý)
Câu hỏi 138: Hãy giải thích chân giá trị và phần chi tiết về loại sách giải trí:
Loại sách này tuy không giúp chúng ta bồi bổ kiến thức nhưng giúp chúng ta rất nhiều về giải tỏa những mệt mỏi trong cuộc sống để tâm hồn được thảnh thơi và có an ninh khi trở lại làm việc bằng trí
óc Tuy nhiên loại sách này chia ra nhiều loại, thích hợp cho từng loại tuổi và thành phần trong gia đình Đại loại chúng ta có thểchia thành 6 loại:
- Loại sách giải trí chung cho mọi lớp tuổi
- Loại sách giải trí dành cho người già
- Loại sách giải trí dành cho phái nam
- Loại sách giải trí dành cho phái nữ
- Loại sách nhi đồng
- Loại sách chỉ dẫn về các bộ môn giải trí (thêu thùa, trò chơi thể thao, chỉ dẫn đánh cờ, du lịch…)
Câu hỏi 139: Hãy giải thích chân gía trị và phân loại chi tiết về loại sách gia đình và linh tinh:
Cuối cùng loại sách gia đình là loại sách thiết dụng cho mọi người trong gia đình, về cả sinh hoạt tinhthần và sinh hoạt vật chất Đại loại chúng ta có thể chia ra thành 5 loại sách:
- Tâm sinh lý học, y học (y học thường thức, thực hành)
- Gia chánh và nữ công (bếp núc, thêu đan, may cắt)
- Loại sách chỉ dẫn thiết dụng (về sửa chửa cá cphương tiện gia dụng như: Điện, T.V tủ lạnh, Radio, Máy may, Máy thêu…)
- Loại sách hướng nghiệp và tu nghiệp
- Linh tinh (tất cả các loại sách không thuộc loại trên như tử vi, tướng số, gia phả, nhật ký…)
Câu hỏi 140: Tai sao chúng ta phải lượng gía trước khi đọc?
Trang 39Phần vụ lượng giá sách tức là phần quyết định trong việc đọc sách Vì nếu sự lượng giá đúng, nhu cầu đọc sách của chúng ta sẽ được thỏa mãn, bằng ngược lại, sẽmất hì giờ, mua lấy sự bực mình, tiếc tiền, hoặc nếu thỏa mãn với những trí thức dối gạt, ngụy tạo lại càng nguy hiểm hơn nữa khi chúng ta
cứ đinh ninh là đúng, đem áp dụng vào trường đời Đồng thời, nếu sự lượng sách chỉ nhằm mục đích thỏa mãn những ý nguyện xấu, càng dễảnh hưởng vào tâm thức, ý thức người đọc, tác hại không nhỏ trong cuộc đời của họ Ví dụ: Hitler rất hâm mộ Niet Jche, một riết gia Đức nhiều tính nổi loạn
và loạn óc trong khoảng thập niên cuối cùng, với ý đồxây dựng lại một nước Đức hùng cường, với dòng Aryen chính thống Rồi, cuối cùng, Hitler lao cả cuộc đời của mình vào việc thực hiện ước
mơ của Niet Jche, cuồng tín tới mức thủ tiêu cả các người Đức tạp chủng không Aryen chính thống, nhất là người Đức dòng Do Thái, rồi cũng loạn óc, và đi vào quên lãng như Niet Jche Hoặc như tại Việt Nam, mẫu người Nhà Nho tiền bán thế kỷ 20 vẫn được coi là mô hình của sách vở Tổng Nho, thường có lối sống rập khuôn nhau, bị biếm diễu là gàn dở, giáo điều… không thích hợp với thực tại
xã hội
Câu hỏi 141: Làm thế nào để có thể lượng gía đúng mức trước khi đọc?
Chúng ta chỉ có thể có những tiêu chuẩn tương đối để lượng giá sách:
- Tên sách: (Ví dụ: Cần biết qua về tâm lý học, tìm đọc lại tâm lý học đại cương, tâm lý học nhập môn, tâm lý học khai yếu …)
- Tác giả: (tên tuổi, uy tín, nghề nghiệp…)
- Nhà xuất bản: (Vì sách của các nhà xuất bản có tiếng bao giờ cũng nhiều bảo đảm hơn của những nhà xuất bản ít tiếng tăm Ví dụ: Sách của các nhà xuất bản Larouse, Hachette, Payot, Paillard, Khai Trí, Nguyễn Hiến Lê, Xuân thu, Lá Bối…Bao giờ cũng có nhiều bảo đảm hơn)
- Nội dung giả định: (qua mục lục, hoặc nếu sách không có mục lục có thể lật thoáng qua hoặc phối kiểm bằng cách xem đoạn đầu và đoạn kết để phỏng định)
- Ý kiến phê bình giá trị: (dư luận, sự chỉ dẫn của các vị học giả huynh turởng, thân hữu, nhưng với
sự đề đạt tối thiểu về sự thiên lệch có thể có)
Câu hỏi 142: Làm thế nào có sách để đọc ngoài việc mua sách?
Muốn có sách để đọc, ngoài việc mua sách chúng ta có thể mượn sách và xin sách Vì những biện pháp này chính là cái nguồn sách của chúng ta
Câu hỏi 143: Cho biết cách thức mượn sách?
Ở Trong nước cũng nhưở hải ngọai khắp nơi trên thế giới đều có các thư viện cho mượn sách, Chúng
ta có thể mượn sách theo 2 cách:
- Mượn đọc tại chổ
- Mượn đem về nhà
Câu hỏi 144: Làm sao có thể mua sách giá trị với giá vừa phải?
Muốn mua sách hợp với túi tiền mà vẫn được những quyển sách có giá trị, chúng ta phải chọn lọc
kỹ và nên biết qua nơi có thể được giảm giá sau đây:
Các nhà xuất bản: Thường giảm từ 30 phần trăm đến 50 phần trăm nếu mua trực tiếp
Các nhà bán sách son (bán sách cũ)
Câu hỏi 145: Phương pháp đọc sách giúp chúng ta ra sao?
Phương pháp đọc sách giúp chúng ta thỏa mãn nhu cầu cần biết, vừa để tiết kiệm thì giờ, vừa để bảo trì tư duy của mình trước sự hỗn độn, mông lung Thông thường, phương pháp đọc sách của chúng ta
có 6 phương pháp căn bản:
Trang 40Đừng đọc tham chỉ đọc những gì mình cần đọc: Ví dụ: Một bộ sử, có thể triền miên nhiều triều đại, tachỉ cần đọc những đoạn về thời đại mà ta muốn tìm hiểu, chớkhông thể moi lục lại đọc suốt từ đầu đến cuối.
Hiểu từng đoạn, trước khi hiểu tổng quát: Nếu là sách bổi dưỡng trí tuệ, chúng ta chỉ đọc từng đoạn một, hiểu hết ý nghĩa, rồi mới chuyển sang đoạn khác Cuối cùng, gợi lại những điều đã lĩnh hội,
để tổng hợp lại thành ý nghĩa tổng quát
Thử tóm tắt: Thông thường, nội dung sách khó tóm tắt, chúng ta hãy thử tóm tắt với tiêu chuẩn càng ngắn bao nhiêu càng tốt Tất nhiên, mới đầu còn dài, sau sẽ ngắn dần và súc tích hơn: Lúc đó là lúc chúng ta đã hiểu và nắm vững được tình nghĩa của sách
Thử tìm ra cái hay nhất: Mọi cuốn sách đều có cái hay riêng Cái hay đó có thể là chuyện hay, bố cục hay, tâm lý nhân vật hay, một đoạn văn từ hay, một ý nghĩa hay…
Thử tìm ra cái dở nhất: Ngược lại, cuốn sách nào cũng có cái dỡ riêng Thử tìm ra cái dở đó, để luyệnthói quen phê bình
Cuối cùng, chuốt lọc những tinh hoa: Tinh hoa của sách có thể là ý nghĩa, văn từ, kỹ thuật diễn ý,
bố cục, cách lập luận, và nhất là: những điều có thể giúp ích chúng ta ngay trong đời sống thực tế
Câu hỏi 146: Hãy tổng kết ý kiến của bạn về việc đọc sách?
Đọc sách không những là một nghệ thuật cần thiết trong thời bình cũng như trong thời loạn, mà còn
là một nhu cầu cấp thiết của con người muốn tiến bộ Trong sinh hoạt Việt Võ Đạo, sách không những giúp chúng ta về kiến thức tổng quát, mà còn giúp chúng ta ngay cả những kiến thức chuyên môn để áp dụng ngay vào thực tếsinh hoạt Việt Võ Đạo
Tuổi nào, trình độ nào, hoàn cảnh nào, trường hợp nào cũng cần đọc sách Phương pháp đọc sách đếnvới chúng ta ngay từ chọn sách, làm sao có sách đọc Đọc sách chỉ là giai đoạn kết thúc của tương quan dịch vụ giữa người và sách, cũng như trận đánh chỉ là giai đoạn cuối cùng của một kế hoạch tác chiến được trù liệu từ trước Đọc sách chính là nhu cầu tiến bộ của tất cả chúng ta, trong đời công cũng như trong đời tư, với mọi ngành sinh hoạt xã hội
Phần 7: Tác Động Tinh Thần
Câu hỏi 147: Hãy kể một câu chuyện tác động tinh thần điển hình, rồi đưa ra khái niệm phân tích và
nhận định
(Có thể trả lời tự do theo sự hiểu biết cá nhân, hoặc):
Thời Lý năm 1076, quân Tống sang đánh nước ta, Lý Thường Kiệt án binh chống giữ, bị địch dùng
gỗ làm máy bắn đá khiến thủy quân của ta thiệt hại rất nhiều Lý Thường Kiệt phải làm bài thơ sai người lẻn vào đền Trương Hát thét lớn ra để tác đông tinh thần binh sĩ:
Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư
Tiệt nhiên định phận tại Thiên Thư
Như Hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhử đẳng hành khan thủ bại hư
Quả nhiên, binh sĩ nức lòng, quân Tống bị chận đứng, rồi sau rút lui
Nếu Bệ Hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã
Không dẹp xong giặc, ta quyết không về đến khúc sông này nữa
Cũng như hịch tướng sĩ văn của Đức Trần Hưng Đạo, đều có giá trị tác động tinh thần với giới lãnh đạo (vua, quan) và binh sĩ thuộc quyền
Như vậy, vần đề tác động tinh thần đả trở thành một thực hữu trong đời sống chúng ta Cha răn con,
vợ khuyên chồng, bạn bè khích lệ nhau, cấp trên làm gương tốt cho cấp dưới, đều là thực hiện công việc tác động tinh thần
Sinh hoạt môn phái chẳng những có những nhu cầu cá nhân, mà còn có những nhu cầu vượt ra khỏi phạm vi cá nhân, khi phải tập trung ý chí, nghị lực và những nỗ lực vào một mục tiêu thực hiện nào