Mục Lục 3LỜI MỞ ĐẦU 4CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ NGUỒN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) 4I, Tổng quan về ODA 41 1, Khái niệm ODA 41 2, Đặc điểm của ODA 41 2 1,Các đặc điểm của ODA 51 2 2, Mục đích sử dụng[.]
Trang 1
Mục Lục LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ NGUỒN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) 4
I, Tổng quan về ODA 4
1.1, Khái niệm ODA 4
1.2, Đặc điểm của ODA 4
1.2.1,Các đặc điểm của ODA 4
1 2.2, Mục đích sử dụng ODA 5
1.3, Các nhân tố ảnh hưởng tới ODA 6
1.4, Phân loại ODA 6
1.4.1, Phân loại theo nước nhận 6
1.4.2, Phân loại theo nguồn cung cấp 7
1.4.3, Phân loại ODA theo tính chất nguồn vốn 7
1.5, Các hình thức ODA 7
2, Vai trò của viện trợ trong phát triển kinh tế xã hội 8
2.1, Giúp nước đang phát triển tăng trưởng nhanh hơn, giảm tình trạng nghèo đói và đạt được các chỉ tiêu xã hội 8
2.2, Thúc đẩy đầu tư 9
2.3, Giúp các nước đang phát triển cải thiện thể chế và chính sách kinh tế 9
CHƯƠNG II TIẾP NHẬN VÀ SỬ DỤNG ODA TẠI VIỆT NAM 11
1, Cơ chế chính sách và khuôn khổ thể chế 11
1.1, Cơ chế chính sách 11
1.2, Khuôn khổ thể chế 13
1.2.1, Giai đoạn trước năm 1993 13
1.2.2, Giai đoạn sau năm 1993 13
1.2.3, Giai đoạn từ 2005 đến nay 14
2,Tiếp nhận và sử dụng ODA trong thời gian qua 15
2.1, Thời kỳ trước năm 1993 15
2.2,Thời kỳ sau năm 1993-2005 16
Trang 22.3, Thời kỳ 2005 đến nay 16
3 Đánh giá kết quả và hiệu quả công tác thu hút, quản lý và sử dụng ODA 17
3.1, Kết quả thu hút nguồn vốn 17
3.2 , Hiệu quả sử dụng vốn ODA 17
3.2.1 , Những đổi mới tích cực trong công tác quản lý nhà nước về vốn ODA17 3.2.2, Những hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý nhà nước về vốn ODA 18
4 Một số khó khăn và hạn chế trong quá trình thu hút, quản lý và sử dụng ODA .20 5 Giải pháp tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả vốn ODA 21
5.1, Cần năng động trong nhận thức về ODA 21
5.2, Tiếp tục hoàn thiện hơn nữa chiến lược thu hút vốn và quản lý sử dụng ODA 21
5.3, Ưu tiên nguồn vốn hỗ trợ cho các khu vực nghèo đói 22
5.4, Hoàn thiện môi trường pháp lý đối với quản lý ODA và quà trình phân công , phân cấp ra quyết định trong qui trình dự án 22
5.5, Hoàn thiện hơn nữa công tác kế hoạch hoá 24
5.6, Nâng cao công tác thông tin và theo dõi dự án ODA 24
5.7, Tăng cường công tác kiểm tra , kiểm soát các dự án ODA 25
5.8, Tăng cường công tác đào tạo và điều phối bố trí cán bộ trong quản lý và sử dụng ODA 25
KẾT LUẬN 27
Tài Liệu Tham Khảo 28
Trang 3
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới, vốn đầu tư cho phát triển làmột trong những yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của mỗi quốc gia.Đối với Việt Nam, mục tiêu đặt ra là thực hiện thành công quá trình CNH- HĐH đấtnước, phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp Do
đó việc thu hút vốn đầu tư trở thành chiến lược quan trọng của đất nước
Nguồn vốn ODA được chính phủ Việt Nam đánh giá là một trong nhữngnguồn vốn quan trọng của Ngân sách Nhà nước được sử dụng cho các mục đích pháttriển kinh tế xã hội Nguồn vốn này đã phần nào đáp ứng nhu cầu bức thiết về vốntrong công cuộc Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nuớc, góp phần thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế và giảm đói nghèo Tuy nhiên ODA không chỉ là một khoản cho vay,
mà đi kèm với nó là các điều kiện ràng buộc về chính trị, kinh tế Sẽ là gánh nặng nợnần cho các thế hệ sau hoặc phải chịu sự chi phối của nước ngoài nếu chúng ta khôngbiết cách quản lý và sử dụng ODA Bởi vậy quản lý và sử dụng ODA sao cho có hiệuquả, phù hợp với mục tiêu và định hướng phát triển đất nước là một yêu cầu tất yếu
Là một sinh viên chuyên ngành Quản lý kinh tế- Đại học kinh tế Quốc dân
Hà Nội, em thấy việc nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác
quản lý và sử dụng nguồn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" rất thiết thực vì nó có thể phục vụ cho chuyên môn của em sau này.
Thông qua kiến thức đã tiếp thu trên lớp cùng với sự giúp đỡ của thầy giáo , cô giáo bộmôn và việc tham khảo một số tài liệu, em xin trình bày nội dung đề tài này như sau: Chương I, Tổng quan về nguồn hổ trợ phát triển chính thức ( ODA )
Chương II, Tiếp nhận và sử dụng ODA tại Việt Nam
Hoàn thành đề tài này, em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Ngọc Huyền
- giảng viên trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu Do trình độ có hạn của người viết nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót cần bổ sung, em rất mong nhận được sự xem xét, đóng góp ý kiếncủa thầy cô để đề tài nghiên cứu của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 31 tháng 01 năm 2010
Trang 4CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ NGUỒN HỖ TRỢ PHÁT
TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA)
I, Tổng quan về ODA.
1.1, Khái niệm ODA
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều quan điểm khác nhau về ODA nhưng nóichung những quan điểm ấy đều dẫn chung đến một bản chất Theo cách hiểu chungnhất thì ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với những điều kiện
ưu đãi của các cơ quan tài chính thuộc các tổ chức Quốc tế các nước, các tổ chức Phichính phủ nhằm hỗ trợ cho sự phát triển và thịnh vượng của các nước khác (không tínhđến các khoản viện trợ cho mục đích thuần tuý quân sự )
Các điều kiện ưu đãi có thể là : lãi suất thấp (dưới 3%/1 năm ), thời gian ân
hạn dài hoặc thời gian trả nợ dài (30-40 năm) Nghị định 87-CP của chính phủ ViệtNam quy định về nguồn vốn ODA là sự hợp tác phát triển giữa nước Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam với một hay nhiều Quốc gia, tổ chức Quốc tế Hình thức của sựhợp tác có thể là hỗ trợ cán cân thanh toán, hỗ trợ theo chương trình, hỗ trợ theo kỹ
thuật hoặc theo dự án.
1.2, Đặc điểm của ODA.
1.2.1,Các đặc điểm của ODA.
ODA là nguồn vốn mang tính chất ưu đãi bởi vì bao giờ cũng có phần chokhông là chủ yếu Còn phần cho vay chủ yếu là vay ưu đãi với lãi suất thấp hơn cáckhoản tín dụng rất nhiều (thường dưới 3%) và vay thương mại rất nhỏ Thời gian sửdụng vốn dài, thường là từ 20-50 năm và để được xếp vào ODA, một khoản cho vayphải có một thành tố tối thiểu là 25% viện trợ không hoàn lại
ODA luôn bị ràng buộc trực tiếp hoặc gián tiếp Đi kèm với ODA bao giờ
cũng có những ràng buộc nhất định về chính trị kinh tế hoặc khu vực địa lý Nướcnhận viện trợ còn phải đáp ứng các yêu cầu của bên cấp viện trợ như thay đổi chínhsách đối ngoại, chính sách kinh tế, thay đổi thể chế chính trị cho phù hợp với mụcđích của bên tài trợ
Trang 51 2.2, Mục đích sử dụng ODA.
Từ khi mới ra đời, viện trợ nước ngoài đã có hai mục tiêu tồn tại song songnhưng thực chất lại mâu thuẫn với nhau Mục tiêu thứ nhất là thúc đẩy tăng trưởng vàgiảm đói nghèo ở những nước đang phát triển Mục tiêu thứ hai là tăng cường lợi íchchiến lược và chính trị ngắn hạn của các nước tài trợ Tuy nhiên mục tiêu cuối cùngcủa viện trợ vẫn là thúc đẩy tăng trưởng và giảm đói nghèo ở những nước đang pháttriển Trong hội nghị của Liên Hợp Quốc, các nước thành viên đã khẳng định mục tiêu
cụ thể của việc sử dụng ODA là:
- Giảm một nửa tỷ lệ những người đang sống trong cảnh nghèo khổ cùng cựctới năm 2015
- Phổ cập giáo dục tiểu học trên tất cả các nước tới năm 2015
- Đạt được nhiều tiến bộ cho sự bình đẳng về giới và tăng quyền lực của ngườiphụ nữ bằng cách xoá bỏ sự phân biệt giới tính trong giáo dục tiểu học và trung họcvào năm 2015
-Thông qua hệ thống chăm sóc y tế ban đầu để đảm bảo sức khoẻ sinh sản chotất cả mọi người ở các độ tuổi thích hợp càng tốt và không thể muộn hơn năm 2015 -Thực thi các chiến lược quốc gia phát triển bền vững ở tất cả các nước, vàonăm 2000
-Thực hiện các chương trình đầu tư quốc gia, đặc biệt là các dự án cải tạo, nângcấp, hiện đại hoá kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội để làm nền tảng vững chắc cho ổn định
và tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy đầu tư tư nhân trong và ngoài nước
-Thực hiện các chương trình nghiên cứu tổng hợp nhằm hỗ trợ chính phủ sở tạihoạch định chính sách hay cung cấp thông tin cho đầu tư tư nhân bằng các hoạt độngđiều tra khảo sát, đánh giá tài nguyên, hiện trạng kinh tế, kỹ thuật, xã hội các ngành,các vùng lãnh thổ
-Thực hiện các kế hoạch cải cách giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo, cảithiện điều kiện, bảo đảm môi trường sinh thái, bảo đảm sức khoẻ người dân
-Hỗ trợ điều chỉnh cơ cấu, chuyển đổi hệ thống kinh tế, bù đắp thâm hụt cáncân thanh toán quốc tế để chính phủ nước sở tại có điều kiện và thời gian quản lý tốthơn trong giai đoạn cải cách hệ thống tài chính hay chuyển đổi hệ thống kinh tế
Tóm lại nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức được ưu tiên cho những dự án kinh tế xã hôị không sinh lời trực tiếp hoặc khả năng thu hồi vốn chậm, nhưng có ý
Trang 6nghĩa và ảnh hưởng quan trọng đến việc tạo lập một môi trường thuận lợi cho sự phát triển đất nước nói chung và cho sự khuyến khích đầu tư tư nhân trong và ngoài nước nói riêng.
1.3, Các nhân tố ảnh hưởng tới ODA.
ODA gắn liền với chính trị và là một trong những phương tiện để thực hiện ý
đồ chính trị ODA cũng chịu ảnh hưởng bởi các quan hệ sẵn có của bên cấp viện trợcho nước nhận viện trợ bởi sự tương hợp về thể chế chính trị, bởi quan hệ địa dư gầngũi Bên cấp viện trợ và các nguồn vốn chính thức khác thường cấp viện trợ cho nhữngngười bạn về chính trị và đồng minh quân sự mà không cấp viện trợ cho những đốitượng mà họ cho là kẻ thù Đó chính là tính chất địa lý- chính trị được thể hiện rất rõtrong viện trợ
ODA gắn với điều kiện kinh tế Các nước viện trợ nói chung đều muốn đạtđược những ảnh hưởng về chính trị, đem lại lợi nhuận cho hàng hoá và dịch vụ tư vấntrong nước Họ gắn quỹ viện trợ với việc mua hàng hoá và dịch vụ của nước họ như làmột biện pháp nhằm tăng cường khả năng làm chủ thị trường xuất khẩu và giảm bớttác động của viện trợ đối với cán cân thanh toán Mặt khác, nước nhận viện trợ cònphải chịu rủi ro của đồng tiền viện trợ Nếu đồng tiền viện trợ tăng giá so với đồng tiềncủa các nước nhận được do xuất khẩu thì nước tiếp nhận sẽ phải trả thêm một khoản
nợ bổ sung do chênh lệch tỷ giá tại thời điểm vay và thời điểm trả nợ Theo tính toáncủa các chuyên gia thì cho dù không đi kèm theo điều kiện ràng buộc nào thì viện trợvẫn đem lại lợi ích thương mại cho quốc gia viện trợ
ODA còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố xã hội ODA là một phần GNP
của các nước tài trợ nên rất nhạy cảm với các dư luận xã hội ở các nước tài trợ Nhândân các nước cấp viện trợ coi trọng tầm quan trọng của cả số lượng và chất lượng củaviện trợ, họ sắn sàng ủng hộ viện trợ với điều kiện là viện trợ được sử dụng tốt Cònđối với các nước nhận viện trợ, nguy cơ phụ thuộc viện trợ nước ngoài, gánh nặng nợnần là một thực tế khó tránh khỏi Do vậy,các nước nhận viện trợ cần phải rất thậntrọng khi sử dụng ODA
1.4, Phân loại ODA.
1.4.1, Phân loại theo nước nhận.
Nếu phân loại theo nước nhận, ODA có hai loại:
-ODA thông thường: hỗ trợ cho những nước có thu nhập bình quân đầu người thấp.
Trang 7-ODA đặc biệt: hỗ trợ cho các nước đang phát triển với thời hạn cho vay ngắn,
lãi suất cao hơn
1.4.2, Phân loại theo nguồn cung cấp.
Nếu phân loại theo nguồn cung cấp, ODA có hai loại
- ODA song phương: là viện trợ phát triển chính thức của nước này dành cho
chính phủ nước kia
- ODA đa phương: là viện trợ phát triển chính thức của một tổ chức quốc tế
hay tổ chức khu vực hoặc của một chính phủ môt nước dành cho chính phủ một nướcnào đó, nhưng được thực hiện thông qua các tổ chức đa phương như UNDP,UNICEF
1.4.3, Phân loại ODA theo tính chất nguồn vốn.
Nếu phân loại theo tính chất nguồn vốn thì ODA có hai loại:
- Viện trợ không hoàn lại: được thực hiện thông qua các chương trình, dự ánODA dưới các dạng sau:
Hỗ trợ kỹ thuật: Thực hiện việc chuyển giao công nghệ hoặc truyền đạtnhững kinh nghiệm xử lý cho nước nhận tài trợ
Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật: ví dụ như là lương thực, vải, thuốc chữabệnh, có khi là vật tư cho không
- Viện trợ có hoàn lại bao gồm:
ODA cho vay ưu đãi: là các khoản ODA cho vay có yếu tố không hoàn lạiđạt ít nhất 25% trị giá khoản vay
ODA cho vay hỗn hợp: bao gồm kết hợp một phần ODA không hoàn lại vàmột phần tín dụng thương mại theo các điều kiện của tổ chức hợp tác kinh tế và pháttriển mạnh hơn cả về đời sống kinh tế xã hội
1.5, Các hình thức ODA.
ODA được thực hiện qua các hình thức sau:
- Hỗ trợ cán cân thanh toán: được thực hiện thông qua chuyển giao tiền tệ trựctiếp cho nước nhận ODA hoặc hỗ trợ nhập khẩu tức là chính phủ nước nhận ODA tiếpnhận một lượng hàng hoá có giá trị tương đương với các khoản cam kết, bán cho thịtrường nội địa và thu nội tệ
- Tín dụng thương mại: tương tự như viện trợ hàng hoá có kèm theo các điềukiện ràng buộc
Trang 8- Viện trợ chương trình (viện trợ phi dự án) Theo loại hình này nước nhậnviện trợ ký hiệp định cho một mục đích tổng quát mà không cần xác định chính xáckhoản viện trợ sẽ được sử dụng như thế nào.
- Viện trợ dự án: loại viện trợ này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn thực hiện ODA và nó có hai loại Đó là viện trợ cơ bản và viện trợ kỹ thuật Viện trợ cơ bản thì thường cấp cho những dự án xây dựng đường xá, cầu cống, kết cấu hạ tầng Viện trợ kỹ thuật cấp cho viện trợ tri thức, tăng cường cơ sở, lập kế hoạch cố vấn cho các chương trình, nghiên cứu trước khi đầu tư hoặc hỗ trợ các lớp đào tạo
2, Vai trò của viện trợ trong phát triển kinh tế xã hội.
2.1, Giúp nước đang phát triển tăng trưởng nhanh hơn, giảm tình trạng
nghèo đói và đạt được các chỉ tiêu xã hội
Trên thực tế, một số nước nhận nhiều viện trợ mà thu nhập giảm trong khi một
số nước nhận ít viện trợ mà thu nhập lại tăng Nhưng nếu chỉ xét đến sự phân biệt giữacác nước có cơ chế quản lý tốt và cơ chế quản lý tồi thì đối với các nước có cơ chếquản lý tồi, dù số tiền viện trợ là bao nhiêu thì tăng trưởng vẫn thấp, thậm chí còn âm.Đối với các nước có cơ chế quản lý tốt, khi viện trợ tăng lên 1% GDP thì tốc độ tăngtrưởng tăng lên 0,5% Ngoài ra, viện trợ còn góp phần làm giảm đói nghèo Theo cácchuyên gia về ODA, bình quân ở các nước đang phát triển, thu nhập đầu người tăng1% đã dẫn đến tỷ lệ đói nghèo giảm xuống 2% Nói cách khác, ở các nước có cơ chếquản lý tốt, khi viện trợ tăng lên 1% GDP thực tế thì sẽ giảm 1% tỷ lệ đói nghèo Và ởcác nước có cơ chế quản lý tốt, tăng 10 tỷ USD viện trợ một năm sẽ cứu được 25 triệungười thoát khỏi cảnh nghèo đói, nhưng dù có tăng 10 tỷ USD ở các nước có cơ chếquản lý tồi thì cũng chỉ cứu được 7 triệu người thoát khỏi cảnh kiếm ăn lần hồi màthôi
Viện trợ tác động đến tăng trưởng, từ đó đã tác động đến mục đích nâng cao
mức sống Tăng trưởng không loại bỏ đói nghèo nhưng rõ ràng tăng trưởng có tác
động lớn đến cải thiện các chỉ tiêu xã hội Nếu một nước có cơ chế quản lý tốt thì khiviện trợ tăng lên 1% GDP sẽ làm giảm tỷ lệ tử vong trẻ em 0,9% Ngược lại, nếu mộtnước có cơ chế quản lý tồi thì khi viện trợ tăng lên 1% GDP cũng không đem lại mộttác động nào đối với tỷ lệ chết trẻ sơ sinh Điều đó có nghĩa là các chỉ tiêu xã hội cóquan hệ chặt chẽ với thu nhập bình quân đầu người, hay nói cách khác nó có quan hệchặt chẽ với viện trợ
Trang 92.2, Thúc đẩy đầu tư.
Các nước đang phát triển là những nước rất cần vốn cho đầu tư phát triển, vàviện trợ chính là một hình thức bổ sung cho nguồn vốn trong nước Vốn đầu tư có thểthu hút từ các nguồn ODA, FDI hoặc nguồn vốn tích lũy từ nội bộ nền kinh tế Trongđiều kiện nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp thì nguồn vốn nước ngoài có tầm quantrọng đặc biệt Nguồn vốn ODA thường được các nước đang phát triển đầu tư cải thiện
cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, xây dựng đường giao thông, phát triển năng lượng vìđây là những ngành cần phải đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm nên tư nhân không có khảnăng đầu tư
Viện trợ còn thúc đẩy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và phát triển nguồn nhân lực Nhờ có viện trợ mà nước nhận tài trợ với cơ chế quản lý tốt sẽ tạo ra được cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội vững chắc, giao thông thuận tiện, hệ thống pháp luật
ổn định, viện trợ là sự chuẩn bị cho vốn đầu tư trực tiếp được thu hút vào là điều kiện cho FDI được sử dụng một cách hiệu quả Mặt khác, viện trợ còn giúp những nước đang phát triển tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại, trình độ quản lý tiên tiến, kỹ năng chuyên môn cao Đây chính là lợi ích căn bản, lâu dài của quốc gia nhận tài trợ
Viện trợ thúc đẩy đầu tư tư nhân Ở những nước có cơ chế quản lý tốt thìviện trợ nước ngoài không thay thế cho đầu tư tư nhân mà đóng vai trò như là namchâm hút đầu tư tư nhân theo tỷ lệ sấp xỉ 2 USD trên 1USD viện trợ Đối với các nướcquản lý tốt thì viện trợ góp phần củng cố niềm tin cho khu vực tư nhân và hỗ trợ cácdịch vụ công cộng Viện trợ tăng với quy mô 1% GDP sẽ làm tăng đầu tư tư nhân trên1,9% GDP Ở các nước có cơ chế quản lý tồi, viện trợ nước ngoài có thể khuyến khíchkhu vực nhà nước tiến hành các khoản đầu tư thương mại đáng ra do khu vực tư nhânthực hiện
2.3, Giúp các nước đang phát triển cải thiện thể chế và chính sách kinh tế. Cải thiện thể chế và chính sách kinh tế ở những nước đang phát triển là chìakhoá để tạo bước nhảy vọt về lượng trong thúc đẩy tăng trưởng, tức là góp phần làmgiảm đói nghèo Mặt khác, viện trợ có thể nuôi dưỡng cải cách Khi các nước mongmuốn cải cách thì viện trợ nước ngoài có thể đóng góp những nỗ lực cần thiết như hỗtrợ thử ngiệm cải cách, trình diễn thí điểm, tạo đà và phổ biến các bài học kinhnghiệm Những nước mà ở đó chính phủ thực hiện những chính sách vững chắc phân
bổ hợp lý các khoản chi tiêu và cung cấp dịch vụ có hiệu quả cao thì hiệu quả chungcủa viện trợ là lớn Ngược lại, ở những nước mà chính phủ và nhà tài trợ không đồng
Trang 10nhất quan điểm trong việc chi tiêu, hiệu quả lại thấp thì các nhà tài trợ cho rằng cáchtốt nhất là giảm viện trợ và tăng cường hỗ trợ cho việc hoạch định chính sách và xâydựng thể chế cho đến khi các nhà tài trợ thấy rằng viện trợ của họ sẽ đóng góp cho sựphát triển Qua đây ta cũng nhận thấy rằng giá trị thực của các dự án là ở chỗ thể chế
và chính sách được củng cố, cải thiện việc cung cấp dịch vụ xã hội Việc tạo ra đượckiến thức với sự trợ giúp của viện trợ sẽ dẫn tới sự cải thiện trong một số ngành cụ thểtrong khi một phần tài chính của viện trợ sẽ mở rộng các dịch vụ công cộng nói chung
Cơ chế quản lý tốt, ổn định kinh tế vĩ mô, Nhà nước pháp quyền và hạn chếtham nhũng sẽ dẫn đến tăng trưởng và giảm đói nghèo Qua các nghiên cứu của cácchuyên gia có thể thấy khó có thể nhận ra mối quan hệ giữa viện trợ mà các nước nhậnđược với trình độ chính sách của họ Tuy không có mối quan hệ về lượng giữa viện trợ
và chất lượng chính sách của nước nhận viện trợ nhưng trong một số trường hợp việntrợ vẫn có thể góp phần cải cách, thông qua các điều kiện đặt ra hoặc thông qua việcphổ biến ý tưởng mới
Tóm lại, viện trợ đã và đang có hiệu quả Tuy nhiên, nguồn vốn ODA chỉphát huy hết vai trò của nó khi có một cơ chế quản lý tốt, một thể chế lành mạnh vàmột môi trường chính trị hoàn thiện Nếu không chẳng những ODA không phát huyvai trò của nó mà còn đem lại gánh nặng nợ nần cho đất nước
Việt Nam là một nước đang phát triển, hiện đang mong muốn nhận đượcnhiều nguồn ODA và quản lý sử dụng ODA thật hiệu quả phục vụ cho phát triển đấtnước Việt Nam cần nhận thức rõ được vai trò của ODA, các điều kiện để ODA pháthuy vai trò của nó để từng bước hoàn thiện công tác thu hút, quản lý và sử dụng ODA
Trang 11
CHƯƠNG II TIẾP NHẬN VÀ SỬ DỤNG ODA TẠI VIỆT NAM
1, Cơ chế chính sách và khuôn khổ thể chế
1.1, Cơ chế chính sách.
Từ sau năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện việc chuyển đổi cơ chế quản
lý kinh tế từ cơ chế tập trung sang cơ chế thị trường Là một nước nông nghiệp lạc hậuvới thu nhập đầu người thấp, tích luỹ nội bộ nền kinh tế còn hạn chế, để đạt được mụctiêu đề ra về phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu vốn của nước ta rất lớn, đặc biệt là cácnguồn vốn từ nước ngoài trong đó có nguồn vốn ODA Văn kiện đại hội Đảng 8 đã chỉrõ: “ Tranh thủ thu hút nguồn tài trợ phát triển chính thức đa phương và song phương,tập trung chủ yếu cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, nâng cao trình độkhoa học công nghệ và quản lý, đồng thời dành một phần vốn tín dụng đầu tư cho cácngành nông- lâm ngư nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng, ưu tiên dành viện trợ khônghoàn lại cho những vùng chậm phát triển, các dự án sử dụng vốn vay phải có phương
án trả nợ vững chắc, xác định rõ trách nhiệm trả nợ, không được gây thêm gánh nặng
nợ nần không trả được Phải sử dụng nguồn vốn ODA có hiệu quả và có kiểm tra,
quản lý chặt chẽ chống lãng phí tiêu cực".
Nhờ thực hiện chính sách đa phương hoá, đa dạng hóa các quan hệ đốingoại, kể từ năm 1993 Việt Nam đã chính thức lập quan hệ ngoại giao và tiếp nhậnđược nhiều nguồn ODA từ các quốc gia, các tổ chức Quốc tế trên thế giới Khối lượngODA vào Việt Nam không ngừng tăng lên qua các năm Trong giai đoạn 1996-2000mục tiêu đặt ra về vận động nguồn vốn ODA cam kết là trên 10 tỷ USD
Trong quá trình tiếp nhận và sử dụng ODA, để có thể khai thác triệt để thếmạnh của ODA cũng như hạn chế những tác động xấu do ODA mang laị, Đảng và nhànước ta đã đưa ra hệ thống các quan điểm về quản lý và sử dụng ODA
Hệ thống các quan điểm của Đảng và nhà nước về quản lý và sử dụng ODA
Quan điểm 1: ODA là một nguồn ngân sách Việc điều phối quản lý và sử dụng
ODA cho có hiệu quả thuộc quyền hạn của Chính phủ và phải phù hợp với các thủ tụcquản lý ngân sách hiện hành
Quan điểm 2: Tranh thủ các nguồn vốn ODA không gắn với các ràng buộc về
chính trị, phù hợp với chủ trương đa phương hoá đa dạng hoá, quan hệ kinh tế đốingoại ở Việt Nam
Trang 12Quan điểm 3: Phối hợp sử dụng ODA cùng với nguồn vốn FDI và các nguồn
vốn trong nước khác
Quan điểm 4: Ưu tiên sử dụng ODA để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế
xã hội, phát triển nguồn nhân lực và tăng cường thể chế
Quan điểm 5: Đầu tư vốn ODA để phát triển hạ tầng kinh tế có trọng tâm trọng
điểm
Quan điểm 6: Ưu tiên bố trí viện trợ không hoàn lại cho các dự án văn hóa xã
hội ở miền núi, vùng sâu vùng xa trên cơ sở định hướng chung và các quan điểm, mụctiêu của việc thu hút và quản lý sử dụng ODA
Tại hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ năm 1996, Chính phủ Việt Nam đãđưa ra ba định hướng ưu tiên trong giai đoạn 1996-2000 nhằm kêu gọi sự chú ý củacác nhà tài trợ như sau:
- Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội
- Đào tạo nguồn nhân lực, phát triển thể chế
- Chuyển giao công nghệ
Với ba hướng ưu tiên nói trên, nguồn ODA đã và sẽ sử dụng để trợ giúp thựchiện 11 chương trình phát triển kinh tế xã hội đề ra trong kế hoạch 5 năm 1996-2000,tập trung vào một số lĩnh vực như sau:
Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn: Đây là một lĩnh vực ưu tiên đầu
tư chính của Việt Nam Các lĩnh vực ưu tiên để phát triển nông nghiệp và kinh tế nôngthôn là chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệphoá, giải quyết các vấn đề đời sống xã hội, việc làm, xoá đói giảm nghèo và xâydựng hạ tầng cơ sở nông thôn
Trong lĩnh vực công nghiệp: Việt Nam là một nước kém phát triển, đặc biệt là
về công nghiệp Việt Nam dự kiến dành một phần ODA để xây dựng các nguồn điện lớn, khôi phục và phát triển các trạm và hệ thống đường dây phân phối, nhất là ở các thành phố, thị xã, thị trấn
Trong lĩnh vực hạ tầng cơ sở: ODA đặc biệt được ưu tiên cho phát triển hạ tầng
cơ sở, trước hết cho khôi phục và nâng cấp các tuyến trục đường quốc gia như quốc lộ
1, quốc lộ 5, quốc lộ 10 Phát triển giao thông nông thôn cũng được ưu tiên nhất là cho các tỉnh biên giới, miền núi, các tuyến đường đến các huyện xa xôi hẻo lánh
Trang 13 Ưu tiên phát triển nhân lực và thể chế sẽ được thể hiện ở việc ưu tiên
sử dụng nguồn vốn ODA cho giáo dục và đào tạo, bao gồm cả giáo dục phổ thông, dạynghề và đại học, đặc biệt chú trọng nâng cao trình độ giáo viên và cải cách chương trình đại học, tăng cường trang thiết bị, đồ dùng dạy học
Trong lĩnh vực văn hoá xã hội: Sẽ sử dụng ODA từ nhiều nguồn để trợ
giúp thực hiện các chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu, chương trình dân số và kếhoạch hoá gia đình, chương trình tiêm chủng mở rộng
1.2, Khuôn khổ thể chế
1.2.1, Giai đoạn trước năm 1993.
Trước 1993 Việt Nam chưa nối lại quan hệ với các tổ chức Quốc tế do Mỹ cấm vận và do quan niệm sai lầm cho rằng ODA là khoản cho không nên khối lượng ODA đến Việt Nam không lớn, hệ thống quản lý ODA chủ yếu là không có hiệu quả Trong thời kỳ này, Văn phòng Chính phủ là cơ quan đầu mối quản lý ODAphối hợp với một số cơ quan khác như Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính, BộNgoại giao và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhưng chức năng và nhiệm vụ của các
cơ quan liên quan này chưa được xác định rõ ràng Trong suốt thời gian này không cóquy chế rõ ràng về đấu thầu, mua sắm và giải ngân Các dự án ODA chủ yếu đượcthực hiện theo quy chế của từng nhà tài trợ cụ thể
1.2.2, Giai đoạn sau năm 1993.
Nếu như trước đây, mọi công việc trong lĩnh vực này áp dụng theo NĐ20/CP(Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng từ nguồn vốn ODA) và NĐ58/ CP ban hànhquy chế vay và trả nợ nước ngoài thì hiện nay chủ yếu áp dụng NĐ52/ CP và NĐ12/CP(Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng) và nghị định 17/2001/NĐ-CP( Quy chế quản
lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức)
Về phía quốc tế, Liên hiệp quốc đã đặt vấn đề dành 0,7% GDP cho ODA đốivới các nước phát triển Như vậy nguồn ODA sẽ trở thành một số vốn khá lớn phảihuy động và mục tiêu này rất khó đạt.Với Việt Nam càng khó khăn hơn vì hàng năm,chúng ta còn phải cân đối trong tổng số chi từ 3%-5% từ GDP để trả nợ nước ngoài Sau 1993, Việt Nam đã chính thức nối lại quan hệ với nhiều tổ chức và Quốcgia trên thế giới đánh dấu một giai đoạn mới trong tài trợ phát triển chính thức đối vớiViệt Nam Khối lượng ODA đến Việt Nam đã tăng nhanh lên nhanh chóng Nhận thứcđúng đắn về vai trò của ODA trong phát triển kinh tế xã hội, Chính phủ đã quan tâmnhiều hơn đến việc xây dựng và hoàn thiện các chính sách để quản lý và sử dụng ODA
Trang 14có hiệu quả Nhiều văn bản pháp quy đã ra đời nhằm đưa ra những hướng dẫn về quytrình, thủ tục thực hiện và quản lý ODA làm rõ trách nhiệm của từng cơ quan trongviệc quản lý và sử dụng ODA.
Nghị định 20/ CP tháng 3/1994 là lần đầu tiên Chính phủ Việt Nam đã thể chế hóa việc vận động thu hút và sử dụng ODA Trong quá trình thực hiện Nghị định 20/CP đã tỏ ra còn nhiều mặt phải hoàn thiện như nâng cao trách nhiệm của từng bộ, tỉnh, thành phố, xác định rõ hơn nhiệm vụ của từng cơ quan quản lý nhà nước, tạo điềukiện pháp lý thuận lợi hơn để lập quan hệ hợp tác lâu dài với các nhà tài trợ Phù hợp với phương hướng trên, ngày 5/8/1997 Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định 87/CP thay thế Nghị định 20/CP về quy chế quản lý và sử dụng ODA Trong nghị định87/CP có ba nội dung cốt lõi được xác định rõ ràng đó là:
Chính phủ thống nhất quản lý ODA trên cơ sở chủ trương chính sách đối vớinguồn hỗ trợ phát triển chính thức thông qua quy hoạch về thu hút và sử dụng ODA,danh mục các chương trình và dự án ưu tiên sử dụng ODA
Phân cấp cho các bộ, các tỉnh, thành phố phê duyệt một số loại dự án ODA tuỳthuộc vào nội dung và quy mô của dự án
Phân định rõ ràng nhiệm vụ của các cơ quan tổng hợp của Chính phủ, các Bộ,các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các Tỉnh, Thành phố trực thuộc TWcũng như của các đơn vị thụ hưởng ODA trong quá trình thu hút và sử dụng nguồn lựcnày
Để phối hợp có hiệu quả và xử lý nhanh những vướng mắc của dự án ODA,tại điều 27 Nghị định 87/CP, chính phủ đã quyết định thành lập “ Ban công tác ODA”
do Bộ Kế hoạch và Đầu tư là trưởng ban Đồng thời với việc ban hành các Nghị địnhnói trên, Chính phủ cũng đã ban hành các nghị định 92/CP và 93/CP nhằm bổ sung vàhoàn chỉnh Nghị định 42/CP về quản lý đầu tư xây dựng và Nghị định 43/CP về côngtác đấu thầu và xét thầu đã ban hành trước đây theo hướng phân cấp và đơn giản hoáthủ tục
1.2.3, Giai đoạn từ 2005 đến nay
Trong giai đoạn này Việt Nam đã gia nhập WTO khối lượng vốn ODA vào ViệtNam là rất lớn , nhằm đáp ứng sự thay đổi cũa tình hình nguồn vốn ODA để đảm bảoquản lý nguồn vốn có hiệu quả và thu hút nguồn vốn tốt nhất Nhiều văn bản pháp quy
đã ra đời,và chỉnh sữa nhằm đưa ra những hướng dẫn về quy trình, thủ tục thực hiện