1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện, thiết kế công nghệ lắp ráp dòng xe mini buýt thông dụng từ 6 + 8 chỗ ngồi mang nhãn hiệu Việt Nam

110 537 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện, thiết kế công nghệ lắp ráp dòng xe mini buýt thông dụng từ 6 + 8 chỗ ngồi mang nhãn hiệu Việt Nam
Tác giả Trịnh Minh Hoàng, Dương Ngọc Khánh, Nguyễn Khắc Huân, Nguyễn Quang Anh, Đào Ngọc Điệp, Lê Hồng Quân
Người hướng dẫn PGS.TS. Dư Quốc Thịnh
Trường học Học viện Kỹ thuật Quân sự
Chuyên ngành Cơ khí ô tô
Thể loại Báo cáo tổng kết khoa học kỹ thuật
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 4,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoàn thiện, thiết kế công nghệ lắp ráp dòng xe mini buýt thông dụng từ 6 + 8 chỗ ngồi mang nhãn hiệu Việt Nam

Trang 1

BCN VSAE CATD

Bộ Công nghiệp Hội Kỹ sư ô tô Việt Nam Trung tâm phát triển công nghệ ô tô

=====o0o=====

Báo cáo tổng kết khoa học kỹ thuật Dự án

Hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và lắp ráp dòng xe mini

buýt thông dụng 6 8 chỗ ngồi mang nh∙n hiệu Việt Nam

Bản quyền 2006 thuộc Trung tâm Phát triển Công nghệ Ô tô

Đơn vị sao chép toàn bộ hoặc từng phần tài liệu này phải gửi đến Giám đốc Trung

tâm Phát triển Công nghệ ô tô trừ trường hợp sử dụng với mục đích nghiên cứu

Trang 2

Danh sách những người thực hiện Dự án

1 Trịnh Minh Hoàng Thạc sĩ Trường ĐHBK Hà Nội Cơ khí ô tô

2 Dương Ngọc Khánh Thạc sĩ Trường ĐHBK Hà Nội Cơ khí ô tô

3 Nguyễn Khắc Huân Thạc sĩ NCS Học Viện kỹ thuật Quân sự Cơ khí ô tô

4 Nguyễn Quang Anh Thạc sĩ NCS Học Viện kỹ thuật Quân sự Cơ khí ô tô

5 Đào Ngọc Điệp Thạc sĩ NCS Học Viện kỹ thuật Quân sự Cơ khí ô tô

6 Lê Hồng Quân Tiến sĩ Trường ĐH Công nghiệp HN Cơ khí ô tô

Danh sách các đơn vị cùng tham gia phối hợp thực hiện Dự án

a) Công ty TNHH Đầu tư Trường Thịnh

b) Công ty Ô tô Sài Gòn (SAGACO) (trước là Xí nghiệp Cơ khí Giao thông quận 5)

Trang 3

Bài tóm tắt

Từ năm 1997 Bộ Giao thông Vận tải đã có Quyết định cấm các loại xe lam hoạt

động ở các thành phố nên UBND thành phố Hồ Chí Minh đã có yêu cầu đối với nhà máy cơ khí giao thông Quận 5 (nay đổi tên là Công ty ô tô Sài Gòn (SAGACO)) nghiên cứu đóng xe 6-8 chỗ ngồi Dự án "hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và lắp ráp dòng xe mini buýt thông dụng 6-8 chỗ ngồi mang nhãn hiệu Việt Nam" được xây dựng để đáp ứng trên một đơn vị yêu cầu sử dụng loại xe 6-8 chỗ ngồi ở Hồ Chí Minh,

Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng và nhiều thành phố khác đã được Bộ Khoa học phê duyệt

Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 498/CP-CN cho phép Công ty ô tô Sài Gòn thành phố Hồ Chí Minh được sản xuất và lắp ráp xe 6-8 chỗ ngồi theo loại hình CKDII tới năm 2004 và từ năm 2005 phải chuyển sang dạng IKD

Dự án đã hoàn thành các hạng mục theo Hợp đồng nghiên cứu Khoa học và Phát triển Công nghệ số 13/2004/HĐ-DACT-KC.05 ngày 01/01/2004 đã hoàn thiện 4 dây chuyền (hàn, sơn, lắp ráp, kiểm định) 20 xe mẫu của Dự án đã được Công ty ô tô Sài Gòn lắp ráp Sản phẩm đã được tiêu thụ và được thị trường chấp nhận Nhà máy ô tô Sài Gòn đã tạo được 150 việc làm, thu lãi từ việc sản xuất, lắp ráp hàng tỷ đồng Đơn

vị chủ trì Dự án đã đào tạo 10 cán bộ thiết kế và chuyển giao hàng chục phần mềm chuyên ngành tạo điều kiện cho Công ty tự thiết kế xe được Bộ Giao thông Vận tải- Cục Đăng kiểm Việt Nam xét duyệt cho lưu hành

Bên cạnh đó Dự án đã có đào tạo 5 Thạc sĩ (đã bảo vệ) và 3 Tiến sĩ kỹ thuật (01

đã bảo vệ cơ sở) với các Đề tài theo nội dung của Dự án Có 06 lượt cán bộ Dự án đi báo cáo khoa học tại các Hội nghị quốc tế tại Nhật Bản, Hàn Quốc Đã có 01 cuốn sách Danh mục phụ tùng ô tô và trên 20 bài báo được đăng trên các tạp trí quốc gia và quốc tế

Trang 4

Mục lục

Danh sách những người thực hiện Dự án 1

Danh sách các đơn vị cùng tham gia phối hợp thực hiện Dự án 1

Bài tóm tắt 2

Mục lục 3

Danh mục các chữ viết tắt .4

Các đại lượng và ký hiệu .4

Danh mục các hình vẽ .4

Danh mục các bảng biểu .5

Chương 1: Tổng quan .6

1.1 Tình hình nghiên cứu và triển khai ở nước ngoài .6

1.2 Tình hình nghiên cứu và triển khai trong nước 7

1.3 Luận cứ về xuất xứ và tính cấp thiết của dự án .9

1.3.1 Luận cứ về xuất xứ của Dự án 9

1.3.2 Luận cứ về tính cấp thiết của dự án .9

1.4 Mục tiêu của Dự án .11

1.5 Những thông tin chính của Dự án 11

1.6 Xuất xứ của Dự án từ các đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ 12

1.7 Nội dung của Dự án 13

1.8 Phương án triển khai 13

1.9 Sản phẩm của Dự án .14

Chương 2: Hoàn thiện dây chuyền hàn 15

2.1 Chuẩn bị .17

2.2 Gá lắp và hàng các mảng cơ bản .17

2.3 Gá lắp và hàn trên đồ gá tổng hợp 33

2.4 Hàn bổ sung 38

2.5 Hoàn thiện .38

2.6 Qui trình kiểm tra chất lượng hàn vỏ xe 39

2.7 Yêu cầu an toàn bảo hộ lao động .44

Chương 3: Hoàn thiện dây chuyền sơn 46

3.1 Tiền xử lý 48

3.2 Các bước sơn nhúng tĩnh điện (sơn nhúng điện ly âm cực) .52

3.3 Thiết bị chuyền tải 55

3.4 Tổ hợp thiết bị và nguyên lý làm việc yêu cầu kỹ thuật dây chuyền sơn nhúng điện ly 55

3.5 Danh mục hợp thành thiết bị dây chuyền sơn .68

3.6 Yêu cầu và chỉ tiêu năng lượng tiêu thụ .75

3.7 Nguyên tắc an toàn lao động .75

Chương 4: Hoàn thiện dây chuyền lắp ráp .78

4.1 Băng truyền lắp ráp Chassi .79

4.2 Dây chuyền lắp ráp hoàn thiện (nội thất) .80

Chương 5: Hoàn thiện dây chuyền kiểm định .82

5.1 Dây chuyền kiểm định theo Qui định của Cục Đăng kiểm Việt Nam .82

5.2 Đường thử xe theo Qui định 115 .85

Kết luận và kiến nghị 89

Lời cảm ơn 89 Phần phụ lục

Trang 5

Danh mục các chữ viết tắt

Hình 2.2: 05 chi tiết đầu tiên được đặt lên đồ gá của bước hàn thứ nhất

Hình 2.3: 05 chi tiết tiếp theo được đặt lên đồ gá của bước hàn thứ nhất

Hình 2.4: 04 chi tiết được đặt lên đồ gá của bước hàn thứ hai

Hình 2.5: 06 chi tiết được đặt lên đồ gá của bước hàn thứ ba

Hình 2.6: 03 chi tiết được đặt lên đồ gá của bước hàn thứ tư

Hình 2.7: Chi tiết được đặt lên đồ gá của bước hàn cuối cùng

Trang 6

Hình 2.18: Hàn 2 sườn bên

Hình 2.19: Mặt đỡ và kẹp tấm ngoài

Hình 2.20: Các chi tiết của tốm ốp bên trong

Hình 2.21: Các chi tiết của tấm bao bên ngoài

Hình 3.8 Cấu tạo bể điện nhúng

Hình 3.9 Sơ đồ của hệ thống quấy trộn dung dịch tuần hoàn Hình 4.1: Sơ đồ dây chuyền lắp ráp xe

Hình 5.1: Sơ đồ dây chuyền kiểm định xe

Danh mục các bảng biểu

Bảng 2.1: Thiết bị chủ yếu của trong mỗi dây chuyền hàn

Bảng 3.1: Qui trình tiền xử lý bao gồm các công đoạn sau Bảng 3.2: Các bước công nghệ sơn tĩnh điện

Bảng 3.3: Các thiết bị của bộ phận tuần hoàn chính

Bảng 3.4: Các thiết bị của hệ thống siêu lọc điện nhúng Bảng 3.5: Hợp thành thiết bị phản thẩm thấu

Bảng 3.7: Danh mục hợp thành thiết bị khác

Bảng 3.6: Danh mục hợp thành thiết bị sơn điện tĩnh điện Bảng 5.1: Thiết bị dây chuyền kiểm định

Trang 7

Chương 1 : Tổng quan

1.1 Tình hình nghiên cứu và triển khai ở nước ngoài:

Hàng năm trên thế giới các nhà sản xuất ôtô, sản xuất và tiêu thụ từ 60-75 triệu xe Trong đó xe mini buýt thì xe 7-8 chỗ ngồi được chú ý đặc biệt vì nó là loại xe đa dụng

có thể sử dụng như phương tiện giao thông công cộng, taxi đường dài phục vụ mục

đích du lịch, có thể dùng làm xe gia đình hoặc có thể cải tiến thành xe chuyên dụng như: xe cứu thương, xe bưu điện v.v Tuỳ mục đích sử dụng hoặc theo yêu cầu mà nhà sản xuất sẽ chế tạo xe 1 cầu chủ động hoặc 2 cầu chủ động với tính năng việt dã cao Dòng xe 6-8 chỗ ngồi loại 2 cầu chủ động rất nổi tiếng như xe Toyota Landcruiser, Ford Escape, Mitsubishi Pajero, Isuzu Trooper hoặc Nissan Patrol Đó là những loại

xe đắt tiền, đặc chủng có giá trị khoảng 50.000-60.000 USD/xe Bên cạnh đó các nhà sản xuất còn sản xuất những loại xe 6-8 chỗ ngồi 1 cầu chủ động như xe Toyota Previa, Honda Odysey, G.M Bruick hạng sang trọng có giá 50.000-70.000 USD/xe hoặc những

xe bình dân hơn như xe Toyota Zace hoặc Mitsubishi Jolie có giá trị trung bình 20.000 USD/xe

ở châu á, đặc biệt là ở 4 nước có ngành công nghiệp sản xuất và lắp ráp ôtô khá phát triển là Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippin thì các nhà sản xuất ôtô rất chú ý phát triển loại xe này Xe Toyota Zace được sản xuất, lắp ráp và tiêu thụ hàng năm hàng chục ngàn chiếc tại Indonesia hoặc Mitsubishi Jolie cũng sản xuất tại châu á hoặc xe Asia sản xuất tại Malaysia cũng được sản xuất và tiêu thụ với số lượng lớn

Đặc biệt là ở Trung Quốc, đất nước hiện nay đứng hàng thứ 4 trên thế giới về sản xuất ôtô thì hàng năm sản xuất tới gần nửa triệu loại xe này để phục vụ giao thông công cộng Chỉ tính riêng tập đoàn Changan đã sản xuất tới 300.000 xe năm 2002, tập

đoàn Wuling sản xuất tiêu thụ tới 200.000 xe năm 2002

Các xe loại 6-8 chỗ ngồi ngày càng được chú ý cải tiến để tăng tính tiện nghi, mẫu mã đẹp và tăng tính năng kỹ thuật như có hệ thống ABS, có túi khí, có hệ thống phun xăng điện tử EFI và trang bị hệ thống xử lý khí xả động cơ để giảm ô nhiễm môi trường nên càng ngày càng được ưa chuộng bởi tính năng đa dụng, tính kinh tế và giá cả hợp lý chỉ khoảng 6.000-8.000 USD/xe

Đối tượng nghiên cứu của Dự án là loại xe có nguồn gốc từ Asian, mẫu mã đẹp phù hợp thị hiếu người tiêu dùng Việt Nam có khả năng cạnh tranh với hàng ngoại, đủ điều

Trang 8

kiện để nội địa hoá, giá phổ thổng 6.000-8.000 USD/xe chỉ bằng 60-70% giá xe cùng tính năng được nhập ngoại

1.2 Tình hình nghiên cứu và triển khai trong nước:

ở Việt Nam, các nhà sản xuất và lắp ráp của 11 liên doanh có vốn FDI thì ngay từ

đầu khi mới thành lập đã chú ý tới các loại xe 6-8 chỗ ngồi loại 4x4 như Toyota Landcruiser, Isuzu Trooper, Mitsubishi Pajero và Nissan Patrol bán với giá khoảng 50.000-60.000 USD/xe Khoảng 2-3 năm trở lại đây do nhu cầu tăng vọt thì các hãng

đã sản xuất và lắp ráp các loại xe 6-8 chỗ ngồi loại 1 cầu chủ động như Toyota Zace, Mitsubishi Jolie hoặc nhập bán các loại xe như Hyundai Galooper, Toyota Previa, Honda Odysey Nhưng những loại xe này khá đắt nên số lượng bán không nhiều và những loại xe sang trọng này chỉ đáp ứng nhu cầu công vụ hoặc mục đích gia đình hoàn toàn không phù hợp với chương trình giao thông công cộng

Từ năm 1997, Bộ Giao thông Vận tải đã có quyết định cấm các loại xe lam loại 3 bánh lưu hành tại các thành phố lớn, trước mắt tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà nội Theo đó cần có hàng chục ngàn xe 6-8 chỗ ngồi thay thế xe lam tham gia vận tải công cộng tại các thành phố lớn Tháng 12/2002 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển ngành công nghiệp ôtô tới năm 2010 và tầm nhìn tới năm 2020 Theo quyết định này thì nhà nước sẽ cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước

được tham gia đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất và lắp ráp các dòng xe thông dụng với công nghệ phù hợp và giá thành hợp lý Sản phẩm ôtô chở khách là sản phẩm trọng điểm giai đoạn tới 2010

Trong 3 năm qua đã có hàng chục nhà máy đã được cấp giấy phép như nhà máy 1/5 được cấp phép sản xuất và lắp ráp xe khách từ 24 chỗ ngồi trở lên; nhà máy cơ khí

ôtô xe - máy công trình được cấp phép sản xuất và lắp ráp xe tải nhỏ1,5 - 3 tấn, nhà máy cơ khí ôtô Thanh Xuân, Bộ công an được cấp phép sản xuất và lắp ráp xe YAZ; nhà máy cơ khí động lực thuộc Tổng công ty Than được cấp phép sản xuất và lắp ráp

xe vận tải nặng Kraz của nước Nga v.v Nhà máy sản xuất và lắp ráp ôtô thuộc Công

ty ôtô Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị duy nhất được Thủ tướng quyết định cho phép sản xuất và lắp ráp loại xe 6-8 chỗ ngồi, hiện đang ở giai đoạn thử nghiệm loạt nhỏ cần thiết phải được hoàn thiện về mặt công nghệ từ khâu thiết kế tới sản xuất,

Trang 9

lắp ráp để đáp ứng những yêu cầu mới về một nhà máy sản xuất ôtô với công suất 1.000 xe/năm trở lên

Riêng thành phố Hồ Chí Minh hiện đang có nhu cầu thay thế hàng ngàn xe buýt lớn loại: 45-50 chỗ ngồi và 7.000 xe lam cần được thay thế bằng xe 6-8 chỗ ngồi và đó chính là điều kiện để Công ty ôtô Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh xây dựng nhà máy sản xuất và lắp ráp loại xe 6-8 chỗ ngồi thuộc dòng xe phổ thông để trước mắt đáp ứng nhu cầu cấp bách của thành phố Hồ Chí Minh trong việc thay 5.000-7.000 xe lam loại

3 bánh đã có quyết định hết hạn sử dụng và sau đó là các tỉnh phía Nam và nhiều thành phố khác trong toàn quốc

Bên cạnh sự đầu tư để xây dựng các nhà máy sản xuất và lắp ráp ôtô Nhiều nhà khoa học công nghệ cũng tập trung rất nhiều nỗ lực để tham gia đóng góp xây dựng ngành công nghiệp này Các đề tài cấp bộ như B91-03, B2001-35-21-TĐ đã có những nghiên cứu xây dựng các chương trình tính có sự trợ giúp của máy tính như các chương trình tính khả năng động lực học xe, chương trình tính, thiết kế và kiểm định các hệ thống phanh, lái, treo, dao động v.v Để giúp các cơ sở sản xuất trong quá trình thiết

kế và tính toán xe do cơ sở sản xuất và lắp ráp là FEM (phương pháp phần tử hữu hạn với sơ đồ lưới Monter - Carlo) và phương pháp phần tử cấu trúc đơn nguyên

Các nghiên cứu về tính bền vỏ xe với các phương pháp mới trước đây chưa được áp dụng đã được các nhà khoa học thuộc hai bộ môn ôtô-xe máy của trường Đại học Bách khoa Hà nội và Học viện Kỹ thuật Quân sự nghiên cứu triển khai, đó là điều kiện rất tốt để áp dụng vào việc hoàn thiện công nghệ thiết kế kỹ thuật xe mang thương hiệu Việt Nam Một số loại đồ gá linh hoạt sử dụng trong dây chuyền hàn vỏ xe đều có thể

được nghiên cứu tự thiết kế để sử dụng không cần nhập ngoại

Những kinh nghiệm có thể học tập từ các liên doanh như quá trình xử lý trước khi sơn vỏ xe bằng kỹ thuật DI (kỹ thuật Ion hoá) hoặc qui trình sơn tĩnh điện ED, đều có thể từng bước ứng dụng vào các nhà máy của Việt Nam v.v Như vậy có thể nói về mặt công nghệ và lực lượng lao động của Việt Nam đều có thể đảm đương được công việc của một nhà máy sản xuất và lắp ráp ôtô Đó cũng chính là những điều kiện rất tốt

để có thể hoàn thành dự án sản xuất và lắp ráp xe mang thương hiệu Việt Nam

Trang 10

1.3 Luận cứ về xuất xứ và tính cấp thiết của dự án

1.3.1 Luận cứ về xuất xứ của Dự án

b) Đáp ứng nhu cầu cấp thiết của thị trường nội địa

• Thủ đô Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố lớn có chủ trương sản xuất xe thông dụng 6-8 chỗ ngồi thay thế xe lam đã hết hạn sử dụng theo quy định của Bộ Giao thông

• Thành phố Hồ Chí Minh có nhu cầu thay thế 5.000-7.000 xe lam 3 bánh đã hết hạn sử dụng

• Các tỉnh đồng bằng Nam bộ, Tây Nguyên các khu du lịch rất cần các loại xe chở khách 6-8 chỗ ngồi có giá phổ thông 6.000-8.000 USD/xe để đầu tư mạng lưới giao thông công cộng

c) Phù hợp về tính pháp lý

• Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 498/CP-CN cho phép Công ty ôtô Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh được sản xuất và lắp ráp xe 6-8 chỗ ngồi

1.3.2 Luận cứ về tính cấp thiết của Dự án

• Hiện nay thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố lớn có nhu cầu thay thế hàng ngàn xe lam 3 bánh đã có quyết định hết hạn sử dụng từ năm 1997 cần thay thế

Để đảm bảo giao thông thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và các thành phố trong cả nước nói chung Đây là một vấn đề hết sức cấp bách cần xây dựng nhà máy để sản xuất loại xe 6-8 chỗ ngồi phục vụ giao thông công cộng theo yêu cầu của Nhà nước

Trang 11

• Sau khi Công ty ôtô Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện thành công Đề tài cấp thành phố số 191/TB-SKHCNMT ngày 15/07/2002 về đề tài "Thiết kế, lắp

đặt dây chuyền sản xuất và lắp ráp xe khách 07 chỗ ngồi (MEFA5 - LAVI) công suất 300 xe năm Dây chuyền sản xuất lắp ráp loại xe 6-8 chỗ ngồi đã được xây dựng và được Bộ Khoa học và Công nghệ xác nhận đủ điều kiện lắp ráp CKD theo quyết định số 1814/BKHCNMT-TDC

• Cục Đăng kiểm, Bộ Giao thông Vận tải có quyết định xác nhận các thiết bị dùng trong dây chuyền đã đủ điều kiện hoạt động, Công ty được Bộ Công nghiệp và Bộ Khoa học và Công nghệ đồng ý trình Thủ tướng ký duyệt về xây dựng nhà máy sản xuất và lắp ráp xe 6-8 chỗ ngồi cho Công ty ôtô Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh và ngày 21/4/2003 Thủ tướng đã chính thức phê duyệt theo công văn số 498/CP-CN ngày 21/04/2003 của Thủ tướng Chính phủ cho phép Công ty ôtô Sài Gòn được sản xuất và lắp ráp xe chở khách 7-8 chỗ ngồi

• Trước đây, dây chuyền sản xuất thử nghiệm chỉ được thiết kế cho 300 xe/năm không phù hợp với yêu cầu và tính chất của một nhà máy ôtô theo qui định của Bộ Công nghiệp về qui mô cho nhà máy có công suất 5.000 xe/năm và yêu cầu của thị trường, nên việc xây dựng Dự án "Hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và lắp ráp dòng xe mini buýt thông dụng 6-8 chỗ ngồi mang nhãn hiệu Việt nam" là vấn đề cấp bách để giúp cơ sở hoàn thiện công nghệ sản xuất và lắp ráp, để có thể sản xuất và lắp ráp xe 6-8 chỗ ngồi mang thương hiệu Việt nam với công suất của giai đoạn I là: 1.000 xe/năm Dự tính đến giai đoạn 2 là giai đoạn đầu tư, mở rộng, xây dựng nhà máy với công suất 5.000 xe/năm tại khu công nghiệp ô tô Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh

• Theo kinh nghiệm chung quanh việc chuyển giao công nghệ của 11 nhà máy thuộc liên doanh thì nhìn chung cũng có những khó khăn nhất định và phải trả những khoản tiền không nhỏ (khoảng 400.000-600.000 USD) vì vậy khi hình thành Dự

án là một dịp tập hợp đông đảo các nhà khoa học công nghệ từ khâu thiết kế công nghệ, vật liệu đến khâu điều hành nhà máy sản xuất và lắp ráp ôtô mang thương hiệu Việt nam chắc chắn qua các đề tài đã được triển khai trước những kinh nghiệm và khả năng của các nhà khoa học công nghệ Việt nam sẽ đóng góp những khả năng nhất định vào sự thành công của Dự án này

Trang 12

• Theo quyết định số 20/2003/QĐ-BKHCN thay thế quyết định 17/1992 thì các nhà máy sản xuất và lắp ráp ôtô của Việt nam phải thực hiện việc nhập khẩu bộ linh kiện CKD gồm 60 cụm, riêng vỏ xe là 21 mảnh rất khác biệt với quyết định cũ Như vậy, các dây chuyền cũ phải hoàn thiện theo quyết định mới Dự án hình thành để thực hiện nhiệm vụ trên

• Việc xây dựng nhà máy sản xuất và lắp ráp ôtô này sẽ tạo được động lực thúc đẩy một số ngành công nghiệp khác như: ngành công nghiệp sản xuất phụ tùng, sản xuất ắc qui, săm lốp, sơn và các hoá chất sử dụng cho công nghiệp ôtô, kính ôtô,

đệm ghế ôtô, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động có kỹ thuật

• Việc xây dựng nhà máy sản xuất và lắp ráp xe 6-8 chỗ ngồi mang thương hiệu Việt nam là hoàn toàn phù hợp với chiến lược phát triển nghành công nghiệp ôtô

được Thủ tướng phê duyệt 12/2002 và phù hợp với đường lối của Đảng về phát huy nội lực để tham gia vào quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước

1.4 Mục tiêu của Dự án

• Xây dựng bộ tài liệu hoàn thiện về Công nghệ thiết kế và chế tạo, lắp ráp ô tô

• Hoàn thiện dây chuyền thiết bị Công nghệ chế tạo và lắp ráp ô tô mini buýt với công suất 1000 xe/năm

• Chế tạo và lắp ráp hoàn chỉnh 02 mẫu xe với số lượng tối thiểu 10 xe mỗi loại mẫu Chất lượng và giá thành cạnh tranh được với hàng nhập khẩu, được cơ sở sản xuất hợp đồng ứng dụng

• Góp phần đào tạo, nâng cao trình độ, tay nghề của cán bộ và công nhân trong nền công nghiệp chế tạo, lắp ráp ô tô

1.5 Những thông tin chính của Dự án

- Tên Dự án:

"Hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và lắp ráp dòng xe mini buýt thông dụng 6-8 chỗ ngồi mang nh∙n hiệu Việt nam"

- Thuộc chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước:

Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Chế tạo máy

Trang 13

- Mã số: KC.05.DA.13

- Cấp quản lý: Bộ Khoa học và Công nghệ

- Thời gian thực hiện: 24 tháng, từ tháng 01/2004 đến tháng 12/2005

- Kinh phí thực hiện dự án: 26.109,40 triệu đồng

Trong đó, từ ngân sách SNKH: 4.300,00 triệu đồng

- Thu hồi:

Kinh phí đề nghị thu hồi: 3.434,000 triệu đồng (80% kinh phí hỗ trợ từ ngân sách SNKH)

Thời gian đề nghị thu hồi (sau khi dự án kết thúc): Đợt 1: 12 tháng, Đợt 2: 36 tháng

- Tổ chức đăng ký chủ trì thực hiện Dự án: Trung tâm Phát triển Công nghệ ôtô

Địa chỉ: Số 109 (33cũ) A4 khu tập thể Khương Thượng, Đống Đa, Hà nội

Điện thoại/Fax: 04 5744535

- Cá nhân đăng ký chủ nhiệm Dự án: PGS TS Dư Quốc Thịnh

Học vị : Tiến sĩ kỹ thuật

Chức vụ : PGS TS, giảng viên chính

Địa chỉ : Bộ môn ôtô, C3/306 - Đại học Bách Khoa Hà Nội

1.6 Xuất xứ của Dự án từ các đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ:

a) Đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố "Thiết kế, lắp đặt dây chuyền sản xuất lắp ráp xe khách cỡ nhỏ MEFA5 - LA07CN, 300 xe/năm" Mã số: 191/TB- SKHCNMT thuộc sở Khoa học Công nghệ và Môi trường, thành phố Hồ Chí Minh

Trang 14

b) Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ mã số B91-03 thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo:

"Tối ưu hoá dao động ôtô nâng cao tính êm dịu chuyển động của các loại xe ca và xe tải cỡ nhỏ" đã được nghiệm thu và đánh giá suất xắc

c) Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ mã số B2001-35 -21-TĐ thuộc Bộ Giáo dục và

Đào tạo: "Nghiên cứu thiết kế và sản xuất lắp ráp một số mẫu ôtô tải nhỏ tải trọng từ 0.5-1.25 tấn phục vụ giao thông nông thôn và miền núi Việt Nam"

1.7 Nội dung của Dự án

a) Bộ tài liệu thiết kế gồm 12 tập tài liệu thiết kế, 3 tập tài liệu tính toán và công nghệ chế tạo lắp ráp hai mẫu xe mini buýt hoàn chỉnh đáp ứng yêu cầu của Bộ Giao thông Vận tải và Bộ Công nghiệp

b) Hoàn thiện 04 dây chuyền thiết bị công nghệ chế tạo và lắp ráp xe mini buýt công suất 1000 xe/năm (dây chuyền hàn, dây chuyền sơn, dây chuyền lắp ráp, dây chuyền kiểm định)

c) Sản xuất và lắp ráp 20 xe mẫu của Dự án (10 xe mỗi mẫu) với chất lượng tương đương chất lượng vùng và đảm bảo Tiêu chuẩn Việt Nam

1.8 Phương án triển khai

a) Phương án tổ chức sản xuất thử nghiệm

• Địa điểm thực hiện dự án: tại Công ty ôtô Sài Gòn, thành phố HCM

• Môi trường xây dựng đã được đánh giá về tác động môi trường đối với điều kiện thực hiện dự án

• Khi nhà máy xây dựng dây chuyền 5.000 xe/năm sẽ chuyển sang địa điểm tại Khu Công nghiệp với diện tích khoảng 120 ha cách trung tâm Thành phố 7 km rất thuận tiện về đường giao thông

• Vật tư thiết bị chủ yếu bảo đảm cho thực hiện dự án: vật tư nhập khẩu được tập

đoàn ChangAn và Hafie đảm bảo các đơn vị phối hợp thực hiện như Công ty TNHH Đầu tư Trường Thịnh Hà Nội và Công ty TNHH Vĩnh Hằng, Trung Quốc nhận trách nhiệm nhập khẩu

• Nhân lực triển khai dự án: ngoài các cán bộ tham gia chính thực hiện Dự án Dự án

có đủ điều kiện để huy động những nhà khoa học công nghệ và công nhân lành

Trang 15

nghề để thực hiện Dự án Dự án cũng được sự hỗ trợ về chuyển giao công nghệ và trợ giúp của các chuyên gia nước ngoài

b) Phương án tiêu thụ sản phẩm và quảng bá công nghệ để thị trường hoá kết quả

Dự án

• Dự án chế tạo thử nghiệm 20 xe để hoàn thiện công nghệ Đơn vị chủ trì Dự án chuyển giao công nghệ thiết kế để Công ty ô tô Sài Gòn tự thiết kế 02 mẫu xe trình Cục Đăng kiểm Việt Nam phê duyệt thông qua hợp đồng đào tạo 10 cán bộ thiết kế tại Công ty ô tô Sài Gòn

• Cơ quan tiếp nhận sản phẩm của dự án : Công ty Ô tô Sài Gòn thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị tiếp nhận sản phẩm của dự án và đã tiêu thụ toàn bộ xe của Dự án

1.9 Sản phẩm của Dự án

(1) Bộ tài liệu thiết kế và công nghệ chế tạo, lắp ráp hai mẫu xe mini buýt hoàn chỉnh

đáp ứng yêu cầu của Bộ GTVT và Bộ Công nghiệp

(2) Dây chuyền thiết bị công nghệ chế tạo và lắp ráp xe mini buýt công suất 1000 xe/năm

(3) 20 xe của Dự án (10 xe mỗi mẫu) với chất lượng tương đương chất lượng vùng và

đảm bảo tiêu chuẩn Việt Nam

(4) Đào tạo độ ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, kỹ thuật viên và công nhân lành nghề phục vụ cho ngành công nghiệp sản xuất lắp ráp ôtô Việt nam

Trang 16

Chương 2: Hoàn thiện dây chuyền hàn

Hình 2.1: Sơ đồ dây chuyền hàn vỏ xe Trên hình 2.1 vẽ sơ đồ dây chuyền hàn vỏ xe mini buýt, căn cứ vào sản lượng và tình hình đầu tư Nội dung chính của dây chuyền bao gồm: Đồ gá hàn chuyên dụng, thiết bị hàn, thiết bị phụ trợ

Gá hàn tổng hợp

Hàn bổ sung

Hoàn chỉnh

Dây chuyền sơn

Trang 17

Cơ sở hạ tầng của thiết bị tiền xử lý như điện, nước khí nén cũng phải dẫn đến những vị trí yêu cầu theo qui định

Kỹ thuật được chọn dùng trong phương án đều là những kỹ thuật nhuần nhuyễn tin cậy, và đã vận dụng thành công, không bao gồm bất cứ tính thử nghiệm nào

Dự kiến sản lượng: 1.000 xe/năm

* Những yêu cầu kỹ thuật đối với chất lượng vỏ xe sau khi hàn bao gồm:

- Tất cả các mối hàn phải thỏa mãn những yêu cầu kỹ thuật về hàn điểm và hàn MIG

- Các mối hàn, điểm hàn không bị bung trong quá trình chạy thử xe, không bị nghiến gây tiếng kêu Nếu có sự cố xảy ra thì bên xưởng hàn cần có các biện pháp khắc phục ngay

- Các vị trí lắp đặt các chi tiết cần được đo chính xác với dung sai nằm trong khoảng cho phép

- Các chi tiết không bị dập méo, các mặt phẳng không bị cong vênh, lồi lõm, xước để quá trình sơn không bị ảnh hưởng

- Các chi tiết trước khi hàn phải được kiểm tra, lau sạch dầu chống gỉ, mài hết bavia, sau khi hàn xong phải cắt bỏ các chi tiết thừa

- Dung sai lắp ghép các chi tiết như: cửa trước, cửa kéo, cửa lật phải thỏa mãn dung sai cho phép, vì khi lắp đặt các gioăng cần phải kín khít, tránh lọt nước và lọt gió Qui trình công nghệ hàn được thiết kế dựa trên nguyên tắc thoả mãn điều kiện yêu cầu cho phép về tình hình sản lượng và chất lượng, đơn giản hoá tối đa qui trình

Trang 18

Quá trình chuẩn bị trước khi hàn bao gồm các công đoạn sau:

- Các chi tiết trước khi hàn phải được kiểm tra chất lượng trước khi nhập kho và trước khi đưa vào khu vực xưởng hàn

- Đánh sạch dầu mỡ bụi bẩn

- Kiểm tra các đồ gá, các định vị, các tay kẹp hoạt động ổn định

- Kiểm tra các súng hàn, đầu hàn, các chế độ hàn làm việc ổn định bằng các phương pháp hàn thử

- Kiểm tra các điều kiện làm việc: chiếu sáng, hệ thống thông gió

- Kiểm tra các thùng vật liệu đã đạt yêu cầu chưa

- Kiểm tra các thiết bị bảo hộ lao động trong quá trình hàn:

+ Kính bảo hộ sử dụng để chống các tia có hại phát ra từ súng hàn khi hàn

+ Găng tay, quần áo bảo hộ: do công nhân làm việc với các tấm kim loại dập có bavia, cạnh sắc rất dễ gây tổn thương đối với công nhân

+ Mũ bảo hộ: Tránh hiện tượng công nhân bị va đầu vào súng hàn và các thiết bị treo trên cao

+ Giầy bảo hộ: giầy của lao động trong xưởng hàn cần có mũi cứng để tránh các vật nặng rơi vào chân trong quá trình sản xuất

2.2 Gá lắp và hàn các mảng cơ bản

Đây là quá trình gá lắp các chi tiết vỏ xe lên đồ gá trước khi hàn các mảng cơ bản, thông thường có các mảng cơ bản là đầu xe, nóc, hai thành bên, đuôi, sàn xe và satxi Ngoài ra có một số chi tiết phụ như các thanh giằng tăng cứng cho nóc xe, bản lề cửa,

Đối với các dây chuyền CKD, đây là những công đoạn bắt buộc Tại nhà máy có

Trang 19

5 đồ gá để hàn các mảng cơ bản, đặt cố định trên nền nhà xưởng (thông qua chân đế

được bắt chặt bằng bu lông), có thể di chuyển cho phù hợp với phạm vi không gian nhà xưởng nhờ bánh xe hoặc rãnh trượt

Dây chuyền sẽ bắt đầu từ hai bên sườn xe, do khó khăn trong vấn đề gá kẹp và

định vị nên mỗi sườn xe gồm hai đồ gá: gá các tấm gân tăng cứng bên trong và gá toàn

bộ mảng sườn, sau khi hàn xong, sườn xe sẽ được nhấc lên nhờ palăng, sau đó chuyển lên xe goòng rồi đưa tới đồ gá tổng hợp Tiếp theo là đầu xe, sau đó là đồ gá hàn nóc Hai đồ gá này tương đối đơn giản, chỉ hàn một số thanh giằng gia cố Nối tiếp là đồ gá hàn gầm xe, gồm có phần hàn satxi và hàn sàn xe, được bố trí chung trên một đồ gá, hàn satxi trước, sau đó mới đặt sàn lên, khoang động nằm dưới sàn xe, động cơ được gắn vào satxi Sau đó, gầm được nâng lên nhờ xylanh thủy lực, đưa xe goòng vào, hạ gầm xuống xe goòng, đẩy xe goòng thẳng vào đồ gá tổng hợp Quá trình hàn các mảng cơ bản được thực hiện bằng máy hàn điểm hoặc máy hàn điện cầm tay (đối với những mảng có kích thước nhỏ và ít chi tiết)

chiều đấu ngược cực dương đấu với vật hàn, cường độ dòng điện 150 - 180A Cho phép hàn đính trước để kiểm tra, mối hàn đính phải dài ít nhất 5mm

2.2.1 Các bước hàn mảng cơ bản

Như đã phân tích ở trên, chúng ta có năm mảng cơ bản chính gồm: mảng sườn trái, mảng sườn phải, mảng gầm, mảng đầu và mảng trần như đã giới thiệu ở trên Các mảng này gồm nhiều chi tiết lắp ghép với nhau, tuy nhiên, khi đưa lên đồ gá chính, chỉ

đưa vào những chi tiết lớn, có khả năng gá đặt, cũng những chi tiết nhỏ hơn được hàn trên các đồ gá nhỏ chuyên dụng sau khi chúng được dập xong Do cấu tạo và biên dạng của các chi tiết khác nhau, nên việc gá đặt, kẹp chặt và hàn các chi tiết lại cũng khác nhau Tại các vị trí khác nhau do đồ gá, do khoảng cách, do bề dày chi tiết khác nhau nên yêu cầu phương pháp hàn, loại súng hàn cũng khác nhau Do đó, chúng ta phải đưa

ra các phương án phù hợp với từng vị trí hàn cụ thể trên các mảng cơ bản

* Phân tích nguyên tắc định vị và gá kẹp khung vỏ xe trên đồ gá hàn:

- Chi tiết được định vị bằng 2 chốt (1 chốt trụ và 1 chốt trám) hạn chế 3 bậc tự do

Trang 20

và các mặt đỡ, mặt chặn hạn chế 3 bậc tự do đối với các chi tiết lớn

- Chi tiết được định vị bằng 1 chốt trụ hạn chế 2 bậc tự do và các mặt đỡ, mặt chặn hạn chế 3 bậc tự do đối với các chi tiết nhỏ

- Các chi tiết được kẹp chặt bằng các má kẹp

- Tuy nhiên sản phẩm của chúng ta là các chi tiết dạng vỏ mỏng được hàn với nhau, đồng thời chi tiết được đặt nằm trên các đồ gá nên bề mặt chân đế rộng tạo cho chi tiết nằm ở vị trí tương đối chắc chắn Đồng thời các chi tiết không chịu tác dụng của các lực gia công, các lực cắt dọc, lực đẩy ngang, mômen uốn xoắn nên yêu cầu về lực kẹp các chi tiết không khắt khe

- Các chi tiết đến 90% sử dụng phương pháp hàn điểm, đặc điểm của phương pháp này là chỉ gây nóng cục bộ tại vị trí hàn (với đường kính điểm hàn từ 8- 10 mm) nên khả năng gây biến dạng chi tiết là rất thấp (gần như không xảy ra) trong quá trình hàn khung vỏ xe

Vậy độ chính xác của sản phẩm hàn khung vỏ xe phụ thuộc rất nhiều vào độ chính xác gá đặt của các chi tiết trên đồ gá và các yếu tố chủ quan của công nhân gây

ra

*Phân tích việc căn chỉnh đồ gá hàn khung vỏ xe:

Trên mỗi đồ gá, việc căn chỉnh là yêu cầu bắt buộc trong kỹ thuật, bởi các sai số của chi tiết, của dụng cụ, các hiện tượng mòn, biến dạng của dụng cụ Tuy nhiên việc căn chỉnh là hết sức hạn chế, đặc biệt là trong sản xuất dây chuyền, cụ thể là dây chuyền hàn khung vỏ xe ô tô Vậy khi xảy ra lỗi của sản phẩm do quá trình hàn gây ra, phải tiến hành kiểm tra:

- Nếu trong loạt sản phẩm, số phế phẩm là nhỏ, xảy ra ngắt quãng không liên tục, các lỗi xảy ra tại nhiều vị trí khác nhau trên vỏ xe thì nguyên nhân chủ yếu là do nhân

tố chủ quan của con người đã làm sai quy trình, các chi tiết gia công không chính xác,

bị méo dập trong quá trình vận chuyển thì không thể căn chỉnh trên đồ gá Khi đã cần giám sát kiểm tra lại quy trình, thao tác của công nhân, khắc phục những sai sót mang tính chất cục bộ, đưa ra những chú ý, nhận xét cho công nhân tránh các lỗi hay gặp

- Nếu trong loạt sản phẩm, số phế phẩm là lớn, xảy ra hàng loạt, tại cùng 1 vị trí, lặp đi lặp lại nhiều lần trên sản phẩm thì lúc đó có thể can thiệp vào đồ gá Tuy nhiên,

Trang 21

đây là giải pháp cuối cùng sau khi đã được kiểm tra và tìm hiểu rõ nguyên nhân Các đồ gá sẽ được đặt lên mặt chuẩn, được đo theo các tọa độ tương đối của bản

vẽ thiết kế

Các vị trí được điều chỉnh đồng loạt, bởi các chi tiết liên kết phụ thuộc vào nhau, nên khi vị trí này căn chỉnh, vị trí khác sẽ bị sai lệch (nên việc căn chỉnh đồ gá rất phức tạp, nên hạn chế)

- Trong thực tế sản xuất hàn vỏ xe minibus 8 chỗ ngồi, cần quan tâm hơn cả đến

Trang 22

Hình 2.3: 05 chi tiết tiếp theo được đặt lên đồ gá của bước hàn thứ nhất

Các chi tiết này được gá đặt và định vị theo đúng thứ tự lên đồ gá, sau đó được hàn theo đúng quy trình, tạo thành mảng gầm cơ bản cho sàn xe

Sau khi hàn xong 10 chi tiết trên, chúng ta tháo 1 số tay kẹp trên đồ gá, để quá trình gá đặt tiếp theo không bị vướng Gá các chi tiết tiếp theo lên đồ gá Bước hàn thứ hai gồm các chi tiết sau:

Hình 2.4: 04 chi tiết được đặt lên đồ gá của bước hàn thứ hai

6 Khung trái sau

8 Thanh ngang

tròn sau

7 Khung phải sau

9 Thanh ngang tròn giữa

10 Thanh ngang tròn trước

11 Miếng đệm trái buồng

động cơ

12 Miếng đệm phải buồng

động cơ

Trang 23

Sau khi các chi tiết từ 11- 14 được định vị và kẹp chặt, chúng ta tiến hành hàn các chi tiết theo các bước như trong quy trình hàn quy định Các chi tiết được hàn theo

đúng tiêu chuẩn đề ra Sau khi hàn xong các chi tiết này, chúng ta tháo các tay kẹp ra, tiếp tục thực hiện định vị và gá đặt các chi tiết theo Bước hàn thứ ba gồm các chi tiết sau:

16 Tấm đỡ mặt đầu phải

18 ụ bánh trước phải

Trang 24

Các chi tiết được hàn chặt với nhau theo hướng dẫn của quy trình hàn kèm theo, thỏa mãn các tiêu chuẩn đề ra Sau đó, một số tay kẹp được tháo ra để gá đặt các chi tiết khác lên đồ gá Bước hàn thứ tư gồm các chi tiết sau:

Hình 2.6: 03 chi tiết được đặt lên đồ gá của bước hàn thứ tư

21 Tấm bao trái

22 Tấm bao phải

23 Tấm sau buồng động cơ

Trang 25

Bước cuối cùng gồm 1 chi tiết là tấm sàn chính, tấm sàn này do tự trọng bản thân nặng, yêu cầu chính xác tương đối với các chi tiết khác không cao, chủ yếu chịu lực của hàng hóa và hành khách Đồng thời, chi tiết được hàn tại vị trí hàn sấp, nên chi tiết này có thể không cần kẹp chặt bằng các tay kẹp, mà chỉ cần đặt chi tiết lên sàn và định

vị theo biến dạng sàn Sau đó, ta tiến hành hàn một số vị trí định vị sàn, rồi hàn các

điểm còn lại

Hình 2.7: Chi tiết được đặt lên đồ gá của bước hàn cuối cùng

Sau khi mảng sàn được hàn xong, chúng ta tháo toàn bộ các tay kẹp ra khỏi các chi tiết, đồng thời dựng xylanh thủy lực nâng sàn lên (trong quá trình gá đặt, kẹp chặt

và hàn có sự xô lệch chi tiết gây nên ma sát giữa các chi tiết với đồ gá, do đó cần sử dụng xylanh thủy lực nâng mảng sàn lên) Đưa mảng sàn lên xe goòng, chuyển ra đồ gá tổng hợp Trong quá trình hàn, có một số vị trí không hàn được do vướng tay kẹp, nên trong quá trình chuyển mảng sàn trên xe goòng, ta có thể tiến hành hàn nốt một số

điểm còn lại để thỏa mãn những yêu cầu đề ra

* Đồ gá hàn gầm:

Số lượng tay kẹp và số chốt định vị trên đồ gá quyết định bởi số mảng cần hàn trên đồ gá đó, đồng thời phụ thuộc vào yêu cầu về độ chính xác tương đối giữa các mảng Mặt khác do các mảng trên đồ gá có độ cứng vững không cao nên việc hạn chế toàn bộ 6 bậc tự do đôi khi là không cần thiết mà nó còn có thể làm cong vênh chi tiết

đồng thời ảnh hưởng xấu đến độ chính xác của chi tiết Tại một số vị trí mảng có thể

24 Tấm sàn

Trang 26

không đảm bảo độ cứng vững do đó bố trí thêm các mặt đỡ mảng vỏ đó đảm bảo cho

Trang 27

Khung trước, khung sau do một đầu được đặt trong lòng máng của khung giữa nên chỉ sử dụng thêm 1 chốt định vị và máng kẹp tại đầu còn lại là đủ giảm được 4 tay kẹp tại các vị trí này Sử dụng luôn tay kẹp tại vị trí kẹp khung giữa để kẹp đầu của khung trước và khung sau

Trang 28

Tại vị trí này do khung sau đè lên trên thanh vuông sau này nên sau khi kẹp thanh kẹp khung sau sẽ làm cho thanh vuông sau còng bị ép xuống do đó không cần thiết phải có thêm tay kẹp tại vị trí này Do đối với thanh này chỉ cần định vị bằng máng kẹp

và chốt định vị là đủ

Trên satxi còn có 3 thanh ngang tăng cứng, do các tai trên các thanh ngang

được hàn bằng máy hàn thông thường nên để đơn giản trong việc lắp ráp cũng như trong quá trình hàn nên chúng được hàn sau Khi lắp trên satxi chúng được đưa qua lỗ

sẽ dễ dàng hơn

* Bước hàn thứ 2:

Hàn tấm ốp sau khung xe, tấm ngang đỡ dưới sàn, các miếng đỡ buồng động cơ

Trang 29

Hình 2.15: Đồ gá bước hàn thứ hai

Đối với tấm ngang đỡ sàn dưới, tấm này có chức năng tăng cứng cho sàn xe, yêu cầu về độ chính xác vị trí của tấm đỡ sàn dưới không cao nên để đơn giản chỉ sử dụng mặt chặn để đỡ chống trượt cho tấm này và được kẹp lên satxi bằng kìm chết

Hình 2.16: Mặt chặn tấm ngang đỡ sàn

Trang 30

Tấm ốp sau xe:

Hình 2.17: Kẹp tấm ốp sau xe

Do tấm này khó khăn trong việc định vị mặt phía dưới do việc lắp ráp phải từ phía sau của đồ gá vào không có khả năng cho từ trên xuống Mặt khác khi hàn xong chi tiết được lấy ra theo chiều thẳng đứng nên phải sử dụng chốt nằm trên tay kẹp

Sử dụng thêm tay kẹp ép chặt tấm ốp sau xe Đồng thời có mặt tựa đỡ để tăng cứng cho tấm ốp sau

Hàn hai bên sườn bên:

Hình 2.18: Hàn 2 sườn bên

Đặc điểm của tấm bao ngoài là dài, độ cứng vững kém, đồng thời chỉ có khả năng

định vị trên mặt bên Nhưng nếu trên mặt bên sử dụng chốt định vị cố định thì không

Trang 31

có khả năng tháo được gầm ra theo phương thẳng đứng do vậy ở các vị trí này sử dụng các chốt định vị nằm trên tay kẹp Mặt khác do độ cứng vững của 2 tấm bao này không cao nên trên mỗi tay kẹp có sử dụng thêm mặt đỡ để đỡ tấm ngoài này nhằm tăng cứng cho chúng

10 chi tiết, trong đó một số chi tiết đã được hàn trước với nhau trên các đồ gá chung dựng nhỏ sau khi dập xong, rồi sau đó được chuyển tới đồ gá chính

4 Tấm ốp phía sau

3 Tấm ốp phần giữa pillar

Trang 32

Các tấm ốp tăng cứng bên trong có nhiệm vụ:

- Gia tăng độ cứng vững cho hai bên sườn xe

- Cách âm và cách nhiệt giữa môi trường bên trong và bên ngoài xe

- Giảm các lực va chạm tác động tới người ngồi trong xe khi xảy ra tai nạn, nâng cao độ an toàn cho xe

- Kết hợp với thành bên ngoài tạo thành các khoang cho các đường dây, hệ thống

điều hòa nhiệt độ phân phối tới toàn xe

Các chi tiết tấm ốp tăng cứng bên trong được hàn trên 1 đồ gá, gọi là đồ gá inner Sau khi hàn xong, chúng được chuyển tới đồ gá chính, hàn với tấm bao ngoài, tạo thành mảng sườn hoàn chỉnh

* Tấm bao bên ngoài gồm có:

Hình 2.21: Các chi tiết của tấm bao bên ngoài Chức năng của các tấm bao bên ngoài:

- Các tấm bao ngoài là thành phần chịu lực chủ yếu của mảng sườn, chúng tạo lên

7 Tấm ốp

phía đầu

8 Tấm ốp trần giữa

9 Tấm ốp phía trên

10 Tấm ốp tăng cứng phía sau cửa

lùa

Trang 33

biên dạng bên của xe, đồng thời phải thỏa mãn tính chất khí động học của xe

* Đồ gá hàn mảng sườn

Với những phân tích như trên, đồ gá hàn sườn xe có hình dáng, kết cấu như sau:

Hình 2.22 Đồ gá hàn sườn bên

Trang 34

Nếu khi gá lắp thấy không đảm bảo kỹ thuật (như khó định vị, kẹp chặt) thì cần phải kiểm tra lại các mảng cơ bản Nếu sai sót nhỏ thì có thể sửa chữa nhỏ bằng nguội, nếu sai lệch hình học lớn cần phải loại bỏ ngay phế phẩm để đảm bảo độ thẩm mĩ và kín khít các mối hàn Nếu liên tục gặp sự cố khó gá lắp cần chỉnh lại ngay các cơ cấu

định vị, kẹp trên đồ gá Công việc này nhất thiết phải do cán bộ kỹ thuật có thẩm quyền đảm nhiệm

* Qui trình hàn trên đồ gá tổng hợp

Số công nhân thao tác trên đồ gá tổng hợp: thường 3-4 công nhân trong đó có 1 thợ cả Tổng thời gian thao tác trong cả quá trình hàn thường 40-60 phút đối với 1 vỏ

xe

Bước 1: 2 công nhân chuyển mảng bệ sàn lên xe goòng chính từ nơi tập kết mảng sàn

ở gần đó, định vị và di chuyển xe goòng đó trên 1 xe goòng phụ khác vào đồ gá

Bước 2: 1 Công nhân khác điều khiển xylanh nâng sàn xe lên, 2 công nhân đẩy xe

goòng tới sẽ kéo xe goòng ra

Sau đó điều khiển xylanh hạ sàn xe xuống, định vị và kẹp chặt mảng sàn nhờ các chốt đỡ, chốt tỳ và các khoá kẹp sàn

Bước 3: Mảng sườn phải được 1 công nhân di chuyển nhờ dầm cầu trục hạ xuống sườn

phải đồ gá, các công nhân còn lại tiến hành định vị và kẹp chặt mảng này lên sườn đồ gá bằng các chốt định vị, khoá kẹp sườn

Sau đó di chuyển khối sườn phải vào áp sát mảng bệ sàn nhờ điều khiển xylanh

đẩy giá, được dừng lại nhờ cơ cấu hạn chế hành trình

Trang 35

Bước 4: Làm tương tự đối với mảng sườn trái như bước 3

Tiến hành dùng súng hàn và khoá kẹp tay hàn các vị trí cần hàn giữa mảng sườn trái, phải với mảng sàn Thường có 2 - 3 công nhân thao tác trên súng hàn, số còn lại là

đỡ và thao tác phụ trợ Tuy nhiên một số vị trí do đặc điểm kết cấu vỏ xe mà dùng máy hàn tay để hàn do đó cần có 1 công nhân đỡ đệm lót ở phía kia của mối hàn

Bước 5: Đầu xe do trọng lượng nhẹ nên được 2 công nhân bê tới và đặt vào, lắp ghép

định vị và hàn với các mảng trên đồ gá: sàn và 2 mảng sườn

Bước 6: Tiến hành hàn các thanh giằng giữa 2 mảng sườn, các thanh giằng phía trước

có thể hàn bằng cách kẹp chặt bằng các khoá kẹp tay Còn thanh giằng sau ngoài tác dụng đảm bảo khoảng cách giữa 2 sườn như 2 thanh giằng trước, thì nó còn ảnh hưởng tới quá trình lắp ráp mảng đuôi do vậy quá trình định vị và kẹp chặt thực hiện bởi cơ cấu tay quay

Bước 7: Mảng trần có thể được 2 công nhân đặt lên do kích thước nhẹ (có bệ để chỗ

công nhân đứng, bố trí ngay ở cạnh 2 bên giá sườn) hoặc có thể được chuyển tới nhờ hệ thống palăng Sau đó định vị và kẹp chặt bằng các cơ cấu khoá kẹp trần, khoá tay Tiến hành hàn bằng súng hàn hay hàn tay giữa mảng trần và mảng đầu, 2 mảng sườn trái phải

Bước 8: Sau khi quá trình hàn các mảng xong, tiến hành mở khoá kẹp trần, kẹp sàn,

khoá sườn, khoá sàn, các khoá tay trên đồ gá

Điều khiển xylanh ra 2 giá sườn

Điều khiển xylanh nâng toàn bộ vỏ xe lên

Hai công nhân đẩy xe goòng vào, luồn dưới sàn vỏ xe, điều khiển hạ xylanh thuỷ lực xuống, tiến hành di chuyển toàn bộ vỏ ra khỏi đồ gá, kết thúc quá trình hàn trên đồ gá tổng hợp

Trang 36

* Đồ gá hàn tổng hợp

Trên đồ gá gồm rất nhiều chi tiết, dựa vào chức năng của từng cụm, ta có thể chia làm một số cụm chi tiết chính như sau:

* Cụm chi tiết bệ:

- Tác dụng: đỡ và bắt các cụm chi tiết khác lên nó, tạo độ cứng vững cho toàn bộ đồ gá và độ chính xác cho quá trình hàn

- Cấu tạo: gồm có tấm phẳng được hàn với các tấm thép chịu lực tiết diện khác nhau, cả khối này có thể thay đổi độ cao nhờ các cơ cấu điều chỉnh

* Cụm giá sườn và giá xoay

- Tác dụng: để bắt toàn bộ các cụm khoá sườn, khoá trần, vấu, chốt và đỡ 2 mảng sườn, mảng trần và thanh giằng trong toàn bộ quá trình hàn

- Cấu tạo: hàn bởi các thép hộp rỗng tiết diện hình chữ nhật, hình dáng giống như biên dạng mảng sườn

Hình 2.23: Đồ gá tổng hợp

Trang 37

* Cơ cấu dẫn hướng:

- Tác dụng: dẫn hướng cho 2 giá sườn di chuyển theo 1 phương nhất định

- Cấu tạo: con lăn, ray dẫn hướng, giá dẫn hướng, các bulông định vị và cơ cấu chống lật sườn

* Cơ cấu định vị và kẹp chặt:

Tác dụng: định vị và kẹp chặt các mảng vỏ trong quá trình hàn đảm bảo độ chính xác, cứng vững cho đồ gá và mối hàn Bao gồm các loại khoá, vấu đỡ và chốt định vị

- Các loại khoá như khoá trần, khoá sàn, khoá giá, khoá giá xoay, khoá giá sườn có thể điều chỉnh vị trí theo nhiều phương

- Các chốt định vị bao gồm định vị mảng sàn, mảng sườn có thể điều chỉnh theo nhiều phương

- Các vấu đỡ dùng để đỡ các mảng vỏ xe và để bắt các loại khoá, có thể điều chỉnh được theo các phương khác nhau

* Cơ cấu điều khiển thuỷ lực:

- Tác dụng: giúp công nhân thao tác một số công việc nặng nhọc một cách nhẹ nhàng hơn: ra vào giá sườn và nâng hạ sàn

- Cấu tạo: gồm các bộ piston xylanh đặt trên các giá đỡ bắt cố định trên bệ

đồ gá nhờ các bulông Chúng được cấp áp suất nhờ bơm dầu, qua một số van an toàn, ống dẫn và cụm van điều khiển để có thể di chuyển theo một hành trình yêu cầu

* Một số cơ cấu phụ trợ:

+ Cơ cấu chống lật sườn: trong quá trình giá sườn chuyển động nhanh, có

quán tính để đảm bảo an toàn cần có kết cấu này, nó giúp con lăn luôn tiếp xúc với ray trượt mà không bị rời khỏi vị trí

+ Cơ cấu hạn chế hành trình: để đảm bảo chính xác vị trí của các mảng sau khi hàn thì các cụm trên đồ gá luôn làm việc chính xác ở 1 vị trí nào đó, đặc biệt

Trang 38

là cụm giá sườn, đây là cụm có ảnh hưởng lớn tới nhiều cụm khác Vì vậy cần có một cơ cấu để hạn chế chính xác vị trí của nó khi điều khiển

* Một số đặc điểm khi vận hành

* Trước khi vận hành:

- Kiểm tra bao quát toàn bộ vấn đề vệ sinh trên toàn đồ gá, nếu bẩn phải vệ sinh sạch sẽ, đặc biệt có vật dụng không liên quan tới đồ gá mà ảnh hưởng tới quá trình làm việc của các cụm chi tiết thì cần loại bỏ khỏi vị trí làm việc

- Kiểm tra nhanh chóng các cụm chi tiết chính trên đồ gá:

+ Cơ cấu dẫn hướng: xem có vật cản trở trên bề mặt lăn và con trượt hay không, nếu có cần loại bỏ ngay

+ Các cum khoá: khả năng làm việc và thao tác

+ Các đường ống, dây dẫn dầu thuỷ lực kiểm tra sự rò gỉ, dập nát, méo và đảm bảo nằm đúng vị trí cho phép

+ Kiểm tra làm việc cả các bơm dầu, các xylanh thuỷ lực (rò gỉ, áp suất dầu không đủ)

* Trong khi vận hành:

- Khi mảng sàn chưa được đưa vào hay toàn bộ vỏ xe chưa được đưa ra thì 2 giá sườn phải nằm toàn bộ về hai phía xa nhất có thể trên bệ đồ gá Khi đó cả cơ cấu giá xoay cũng ở vị trí không làm việc

- Trước khi các mảng của vỏ được đưa vào thì các khoá phải ở trạng thái mở (chưa làm việc)

- Sau khi các giá sườn ở vị trí làm việc thì các khoá giá sườn phải được đóng lại ở

vị trí làm việc

- Trước khi xylanh điều khiển giá sườn làm việc thì các khoá sườn bắt buộc phải ở trạng thái mở

- Khi xylanh nâng hạ sàn làm việc thì các khoá sàn bắt buộc ở trạng thái mở

- Các cụm chi tiết hỏng hóc thì nên thay cả cụm để đảm bảo khả năng làm việc

- Khi cho mảng trần vào hàn cần chú ý điều khiển chính xác các thao tác mở

Trang 39

khoá trần: xoay mặt tựa, cho mảng trần vào sau đó mới khoá

- Khi tiến hành cho các mảng vỏ vào đồ gá hay cho toàn bộ vỏ xe ra khỏi đồ gá cần dừng tất cả các công việc khác trên đồ gá

Bảng 2.1: Thiết bị chủ yếu của trong mỗi dây chuyền hàn

chuyển trong không gian

Trang 40

thiết bị và nhà xưởng

2.6 Qui trình kiểm tra chất lượng hàn vỏ xe

2.6.1 Mục đích của việc quản lý chất lượng sau khi hàn

- Đảm bảo cho sản phẩm sau quá trình hàn đảm bảo được yêu cầu kỹ thuật, đảm

bảo cho công đoạn lắp ráp sau đó

- Kiểm soát được lỗi, các hư hỏng có thể dẫn đến sản phẩm bị loại trong sản xuất

từ đó tìm ra nguyên nhân và khắc phục sự cố

- Đưa ra những phương pháp, các tiêu chuẩn đánh giá, kiểm tra mối hàn cho phù

hợp với công việc của mỗi công nhân, tại từng vị trí

- Hướng dẫn mỗi công nhân vừa làm ra sản phẩm, vừa là giám sát quản lý, đánh

giá và chịu trách nhiệm về sản phẩm mình làm ra

- Đây là một khâu thiết yếu trong trong dây chuyền sản xuất, nó sẽ là biện pháp

tốt nhất đánh giá sản phẩm cũng như công việc trong từng công đoạn, đó là cơ sở để

đánh giá khả năng sản xuất của từng đội, cũng như quy trách nhiệm trong quá trình sản

Ngày đăng: 13/04/2014, 20:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.7: Chi tiết được đặt lên đồ gá của bước hàn cuối cùng - Hoàn thiện, thiết kế công nghệ lắp ráp dòng xe mini buýt thông dụng từ 6 + 8 chỗ ngồi mang nhãn hiệu Việt Nam
Hình 2.7 Chi tiết được đặt lên đồ gá của bước hàn cuối cùng (Trang 25)
Hình 2.8: Đồ gá hàn b−ớc thứ nhất. - Hoàn thiện, thiết kế công nghệ lắp ráp dòng xe mini buýt thông dụng từ 6 + 8 chỗ ngồi mang nhãn hiệu Việt Nam
Hình 2.8 Đồ gá hàn b−ớc thứ nhất (Trang 26)
Hình 2.15: Đồ gá b−ớc hàn thứ hai - Hoàn thiện, thiết kế công nghệ lắp ráp dòng xe mini buýt thông dụng từ 6 + 8 chỗ ngồi mang nhãn hiệu Việt Nam
Hình 2.15 Đồ gá b−ớc hàn thứ hai (Trang 29)
Hình 2.16: Mặt chặn tấm ngang đỡ sàn. - Hoàn thiện, thiết kế công nghệ lắp ráp dòng xe mini buýt thông dụng từ 6 + 8 chỗ ngồi mang nhãn hiệu Việt Nam
Hình 2.16 Mặt chặn tấm ngang đỡ sàn (Trang 29)
Hình 2.18: Hàn 2 s−ờn bên - Hoàn thiện, thiết kế công nghệ lắp ráp dòng xe mini buýt thông dụng từ 6 + 8 chỗ ngồi mang nhãn hiệu Việt Nam
Hình 2.18 Hàn 2 s−ờn bên (Trang 30)
Hình 2.19: Mặt đỡ và kẹp tấm ngoài - Hoàn thiện, thiết kế công nghệ lắp ráp dòng xe mini buýt thông dụng từ 6 + 8 chỗ ngồi mang nhãn hiệu Việt Nam
Hình 2.19 Mặt đỡ và kẹp tấm ngoài (Trang 31)
Hình 2.23: Đồ gá tổng hợp - Hoàn thiện, thiết kế công nghệ lắp ráp dòng xe mini buýt thông dụng từ 6 + 8 chỗ ngồi mang nhãn hiệu Việt Nam
Hình 2.23 Đồ gá tổng hợp (Trang 36)
Hình 3.1: Quy trình công nghệ sơn vỏ xe - Hoàn thiện, thiết kế công nghệ lắp ráp dòng xe mini buýt thông dụng từ 6 + 8 chỗ ngồi mang nhãn hiệu Việt Nam
Hình 3.1 Quy trình công nghệ sơn vỏ xe (Trang 47)
Hình 3.2: Quy trình công nghệ sơn vỏ xe - Hoàn thiện, thiết kế công nghệ lắp ráp dòng xe mini buýt thông dụng từ 6 + 8 chỗ ngồi mang nhãn hiệu Việt Nam
Hình 3.2 Quy trình công nghệ sơn vỏ xe (Trang 48)
Hình 4.1: Sơ đồ dây chuyền lắp ráp xe - Hoàn thiện, thiết kế công nghệ lắp ráp dòng xe mini buýt thông dụng từ 6 + 8 chỗ ngồi mang nhãn hiệu Việt Nam
Hình 4.1 Sơ đồ dây chuyền lắp ráp xe (Trang 79)
Hình 5.1: Sơ đồ dây chuyền kiểm định xe - Hoàn thiện, thiết kế công nghệ lắp ráp dòng xe mini buýt thông dụng từ 6 + 8 chỗ ngồi mang nhãn hiệu Việt Nam
Hình 5.1 Sơ đồ dây chuyền kiểm định xe (Trang 84)
Hình 5: Sơ đồ dây chuyền kiểm định xe - Hoàn thiện, thiết kế công nghệ lắp ráp dòng xe mini buýt thông dụng từ 6 + 8 chỗ ngồi mang nhãn hiệu Việt Nam
Hình 5 Sơ đồ dây chuyền kiểm định xe (Trang 104)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm