LỜI NÓI ĐẦU Đề án môn môn học LỜI NÓI ĐẦU Mỗi quốc gia khi tham gia vào nền kinh tế thị trường thì tất yếu phải tham gia vào quá trình hội nhập, trong đó bao gồm hoạt động xuất khẩu, bởi đây là vấn đề[.]
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Mỗi quốc gia khi tham gia vào nền kinh tế thị trường thì tất yếu phảitham gia vào quá trình hội nhập, trong đó bao gồm hoạt động xuất khẩu,bởi đây là vấn đề không những có ý nghĩa sống còn mà còn có ý nghĩa gópphần phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước Chính vì vậy mà hoạtđộng xuất khẩu là vấn đề không thể thiếu ở mỗi quốc gia, nhất là khi xu thếhội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mở rộng
Đối với Việt Nam ta cũng vậy, nhất là từ khi Việt Nam gia nhập Tổchức Thương mại thế giới WTO (7/11/2006), thì hoạt động xuất khẩu đượccoi là một chiến lược quan trọng hàng đầu trong xu thế hội nhập đượcĐảng và Nhà nước ta quan tâm Tuy nền kinh tế nước ta phát triển chưamạnh song kim ngạch xuất khẩu của ta cũng chiếm một tỷ lệ cao, đặc biệt
là các mặt hàng chủ lực như: Gạo, cà phê, thuỷ sản, may mặc, da giày Trong đó xuất khẩu cà phê là vấn đề được rất nhiều người quan tâm, bởi thịtrường cà phê của nước ta rất có tiềm năng, trong khi đó giá cà phê trên thếgiới gần đây là khá cao Nếu phát huy tối đa lợi thế của đất nước thì đây sẽ
là một trong những mặt hàng đem lại lợi ích cao cho đất nước
Nhận biết được xu thế này mà Đảng và Nhà nước ta cũng đã đưa ra cácchính sách nhằm khuyến khích việc gieo trồng, mở rộng diện tích, và cácbiện pháp nâng cao hiệu quả chế biến để có được sản phẩm cà phê có chấtlượng cao đưa ra thị trường, đặc biệt là thị trường thế giới Nhận thấy đượcvai trò quan trọng của cà phê Việt Nam trong hoạt động xuất khẩu nhất làtrong giai đoạn Việt Nam đã gia nhập WTO cho nên em đã chọn đề tài:
"Tác động của việc gia nhập WTO đến hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam" Đề tài của em bao gồm các nội dung chính sau:
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về hoạt động xuất khẩu cà phê
của Việt Nam
Chương II: Thực trạng hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam Chương III: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt
Nam
Tuy em rất thích đề tài này nhưng em thấy mình chưa có nhiều kinhnghiệm và kiến thức cho nên trong quá trình nghiên cứu sẽ không tránhkhỏi nhiều thiếu sót Vì vậy em mong thầy giúp đỡ em để em có thêm kiếnthức phục vụ cho quá trình nghiên cứu và học tập của em
Em xin chân thành cảm ơn thầy
Trang 2NỘI DUNG
Chương I : Những vấn đề lý luận chung về hoạt động xuất
khẩu cà phê của Việt Nam
I Khái niệm, vai trò của hoạt động xuất khẩu cà phê nói chung và hoạt động xuất khẩu cà phê nói riêng.
1 Khái niệm về xuất khẩu.
Xuất khẩu là hoạt động bán một sản phẩm hoặc dịch vụ ra nước ngoài
để thu ngoại tệ Xuất khẩu thuần tuý là một chức năng của hoạt độngthương mại
2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu nói chung và xuất khẩu cà phê nói riêng
Như đã nói ở trên thì hoạt động xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩachiến lược để phát triển kinh tế và thực hiện quá trình công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nước Xuất khẩu nói chung và xuất khẩu cà phê đều có vaitrò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Vai trò của xuấtkhẩu được thể hiện ở rất nhiều mặt, như:
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệphoá và hiện đại hoá đất nước Bởi xuất khẩu và nhập khẩu là hai nghiệp vụluôn đi song song với nhau Sẽ không có một quốc gia nào trên thế giới chỉtồn tại một trong hai yếu tố trên
- Xuất khẩu đóng góp chủ yếu vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúcđẩy sản xuất phát triển Khi nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối vớisản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế người ta có hai cách nhìn nhận :
Một là, xuất khẩu đơn giản chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do
sản xuất vượt quá nhu cầu nội địa Trong trường hợp nếu nền kinh tế cònlạc hậu và chậm phát triển như nước ta, nếu chỉ thụ động chờ ở sự "thừa ra"của sản xuất thì xuất khẩu sẽ vẫn cứ nhỏ bé và tăng trưởng chậm Sản xuất
và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm chạp
Hai là, coi trhị trường và đặc biệt là thị trường quốc tế là hướng quan
trọng để tổ chức sản xuất Quan điểm này chính là xuất phát từ nhu cầu thịtrường thế giới để tổ chức sản xuất Điều đó có tác động tích cực đến
Trang 3chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy sản xuất phất triển Sự tác động đếnsản xuất thể hiện ở :
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển thuận lợi
+ Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần cho sảnxuất phát triển ổn định
+ Xuất khẩu tạo ra những điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vàocho sản xuất trong nước
+ Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế, kỹ thuật nhằm cải tạo và nângcao năng lực sản xuất trong nước Điều này muốn nói đến xuất khẩu làphương tiện quan trọng tạo ra vốn và kỹ thuật, công nghệ từ thế giới bênngoài vào Việt Nam nhằm hiện đại hoá nền kinh tế của đất nước, tạo ra mộtnăng lực sản xuất mới
+ Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranhtrên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏichúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thíchnghi được với thị trường
+ Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoànthiện công việc quản trị sản xuất và kinh doanh
+ Xuất khẩu có tác động tích cực đến viẹc giải quyết công ăn việc làm vàcải thiện đời sống của nhân dân
+ Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đốingoại của nước ta
Ta có thể thấy được kết quả xuất khẩu tiếp tục là động lực phát triểnkinh tế với tốc độ tăng trưởng gấp hơn 2 lần tốc độ tăng trưởng GDP :Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá năm 2006 ước đạt 39,6 tỷ USD, vượthơn 5% so với kế hoạch 37,75 tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng đạt 22,1% sovới năm 2005 và xuất khẩu bình quân 3,3 tỷ USD/tháng Cơ cấu thị trườngxuất khẩu gần đây đã có nhiều biến chuyển tích cực, giảm dần sự phụ thuộcvào khu vực thị trường Châu Á, tăng mạnh đối với hàng hoá nhập khẩu vàothị trường Châu Âu (tăng 33% so với năm 2005) và thị trường Châu Mỹ(tăng 37% so với năm 2005), ngoài ra ta con thâm nhập được nhiều thịtrường Châu Phi với các sản phẩm xuất khẩu là gạo và đồ gia dụng
Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng xuất khẩu còn thấp so với tiềm năng; còn
Trang 4phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giá dầu thô và các sản phẩm nông nghiệpxuất khẩu thô khác; khả năng cạnh tranh và tiếp thị các sản phẩm hàng hoá,dịch vụ của các doanh nghiệp nhìn chung còn yếu kém cả về chất lượng vàgiá thành, thiếu tính hấp dẫn, kém đa dạng so với một số nước trong khuvực và trên thế giới Trong cơ cấu hàng xuất khẩu các nguyên liệu thô baogồm cả tài nguyên khoáng sản như : Mủ cao su, cà phê, than vẫn cònchiếm tỷ trọng cao.
Khi Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO thì vaitrò của xuất khẩu lại càng quan trọng hơn Bởi khi đã là thành viên củaWTO thì hàng rào thuế quan được mở rộng rất nhiều, hàng hoá cũng sẽ có
cơ hội đưa ra thị trường bên ngoài một cách tự do hơn trước Hơn thế nữa,đây là cơ hội để ta tự khẳng định mình Nhưng quan trọng hơn là ta phải cốgắng để kéo ngắn lại thời gian ta được công nhận là một nước có nền kinh
tế thị trường Để làm được điều này đòi hỏi phải có những chính sách hợp
lý sao cho hàng xuất khẩu của ta khi ra thị trường bên ngoài không những
đủ tiêu chuẩn mà còn để lại cho họ những ấn tượng tốt đối với thị trường vàngười tiêu dùng bên ngoài
II Hoạt động xuất khẩu cà phê.
1 Hoạt động kinh doanh thương mại.
Ở mỗi hoạt động kinh doanh, để đảm bảo thành công trong kinh doanh
ban lãnh đạo doanh nghiệp ngoài việc xây dựng chiến lược kinh doanh, tổchức bộ máy, hoàn thiện các chức năng quản lý còn phải chỉ đạo thực hiệncác nghiệp vụ kinh doanh của doanh nghiệp Vì quản trị các nghiệp vụ kinhdoanh có ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệpthương mại Bao gồm các hoạt động cụ thể : Nghiên cứu thị trường, tạonguồn - mua hàng, quản trị dự trữ hàng hoá, quản trị bán hàng, tổ chức thựchiện các hoạt động dịch vụ khách hàng, quản trị marketting trong hoạt độngkinh doanh Cụ thể là:
1.1.Nghiên cứu thị trường.
Nghiên cứu thị trường bao giờ cũng là nghiệp vụ quan trọng, đầu tiêntrong khi tiến hành hoạt động kinh doanh Ở nghiệp vụ này các nhà kinhdoanh phải tìm hiểu thị trường trong đó bao gồm cả thị trường cung ứng vàthị trường tiêu thụ
Trang 51.2 Tạo nguồn - mua hàng.
Tạo nguồn mua hàng là toàn bộ hoạt động nghiệp vụ nhằm tạo ra nguồnhàng phù hợp với nhu cầu thị trường trong kỳ kế hoạch Đây là nghiệp vụ
mở đầu nằm thực hiện chức năng lưu thông hàng hoá của doanh nghiệpthương mại Mục tiêu của tạo nguồn mua hàng là tạo ra nguồn hàng ổnđịnh, đồng bộ, đủ về số lượng, tốt về chất lượng, đúng thời hạn với giá cảhợp lý
1.5 Tổ chức thực hiện các hoạt động dịch vụ khách hàng.
Một trong những quy luật hoạt động kinh doanh thương mại là khi sảnxuất càng phát triển đời sống của người dân càng được nâng cao thì họkhông chỉ đòi hỏi về chất lượng hàng hoá mà họ còn có nhu cầu ngày càngtăng về dịch vụ Trong cơ chế thị trường thì dịch vụ là một phương tiệncạnh tranh mạnh mẽ để thuyết phục, lôi kéo và lưu giữ khách hàng Nhậnbiết được xu thế chung ấy nên các doanh nghiệp, các nhà cung cấp đều tìmcách thoả mãn một cách tốt nhất nhu cầu ấy Mục đích của quản trị hoạtđộng dịch vụ là trên cơ sỏ nghiên cứu thị trường để phát hiện ra nhu cầu đểtìm cách tổ chức thực hiênh các hoạt động dịch vụ nhằm nâng cao trình độthoả mãn nhu cầu khách hàng của doanh nghiệp thương mại
Trang 61.6 Quản trị marketing trong hoạt động kinh doanh.
Trong kinh doanh hiện đại các doanh nghiệp thương mại ngày càngnhận được vai trò và tầm quan trọng của hoạt động marketing trong kinhdoanh Nhiều doanh nghiệp đã tổ chức các phòng ban marketing của mìnhnhằm khởi thảo chiến lược marketing, thực hiện hiệu quả các yếu tố củamarketing hỗn hợp, tăng cường quảng cáo, xuác tiến bán hàng theo địnhhướng khách hàng trong hoạt động kinh doanh
2 Hoạt độmg kinh doanh xuất khẩu.
Đối với hoạt động kinh doanh xuất khẩu ngoài các nghiệp vụ của kinhdoanh còn bao gồm ba nội dung rất quan trọng và khong thể thiếu , đó là:
2.1 Giao dịch đàm phán ký hợp đồng.
Sau khi thấy được nhu cầu của mỗi bên có thể được đáp ứng, các bên sẽgặp nhau để giao dịch thoả thuận các điều khoản và đi đến kí kết hợp đồng.Đây là nghiệp vụ rất quan trọng bởi khi kinh doanh ai cũng mong có lợi íchcao nhất mà để có được lợi ích cao nhất thì tuỳ thuộc vào khả năng đàmphán của mình Khi mỗi bên đều thấy được lợi ích mà mình mong muốn họ
sẽ đi tới kí kết hợp đồng
2.2 Tổ chức thực hiện hoạt động xuất khẩu.
Mỗi bên sẽ phải thực hiện nghiêm túc các điều khoản đã kí kết trong hợpđồng về số lượng, chủng loại, phương thức giao nhận, địa điểm giao nhận
1 Những cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO.
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là tổ chức thương mại lớn nhấttoàn cầu, với 150 nước thành viên, không chỉ điều tiết thương mại hàng hoá
mà còn các lĩnh vực dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, chiếm 90% tổng kimngạch thương mại thế giới Việc gia nhập WTO tạo ra nhiều cơ hội thuậnlợi nhưng cũng đặt ra những thách thức đối với tất cả nền kinh tế và cácdoanh nghiệp Việt Nam
Trang 71.1 Cơ hội đối với Việt Nam khi gia nhập WTO.
Thứ nhất, gia nhập WTO sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh và tính hiệu
qủa trong nền kinh tế, đồng thời tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳngcho các doanh nghiệp Việt Nam Tự do hoá thương mại của WTO sẽ tạođiều kiện cho hàng hoá của các nước thành viên dễ dàng thâm nhập vào thịtrường nội địa Điều này gây sức ép lớn đối với các doanh nghiệp ViệtNam và các doanh nghiệp nước ngoài khi thâm nhập vào thị trường ViệtNam các doanh nghiệp này phải chấp nhận mức độ cạnh tranh khốc liệt,làm cho họ trở nên năng động hơn trong việc tạo ra nhiều sản phẩm mới,nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm và cải tiến các dịch
vụ Do vậy, người dân có thể mua nhiều được nhiều sản phẩm chất lượngcao hơn với cùng một số tiền Cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệptrong nước và các doanh nghiệp nước ngoài sẽ tạo điều kiện cho các doanhnghiệp Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn, các doanh nghiệp thực sự đủmạnh, hoạt động hiệu quả sẽ đứng vững trên thị trường, còn các doanhnghiệp yếu kém, không năng động sẽ bị loại bỏ Mặt khác, do cạnh tranhgay gắt, các doanh nghiệp sẽ tìm cho mình một ngành nghề, một quy môkinh doanh, một mặt hàng phù hợp, kéo theo là cơ cấu ngành nghề thayđổi, trên thị trường xuất hiện nhiều nhà phân phối lớn, nghĩa là một lần nữangười tiêu dùng sẽ được hưởng những dịch vụ cao và cuối cùng người tiêudùng sẽ được lợi Do đó, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao
Thứ hai, gia nhập WTO sẽ mở rộng cửa thị trường cho các doanh nghiệp
Việt Nam vươn ra thế giới theo một luật chung; những rào cản, những cáikhông thuận lợi cho doanh nghiệp sẽ không còn, mở rộng cơ hội lớn choxuất khẩu phần mềm và các dịch vụ công nghệ cao đồng thời thúc đẩythuơng mại phát triển Việt Nam sẽ có cơ hội xuất khẩu những mặt hàngtiềm năng ra thế giới nhờ được hưởng những thành quả của các vòng đàmphán giảm thuế và các hàng rào phi thuế, tăng cường tiếp cận thị trườngWTO, đặc biệt trong các lĩnh vực hàng dệt may và hàng nông sản Cơ hộixuất khẩu bình đẳng sẽ có những ảnh hưởng tích cực tới đến hoạt động củacác doanh nghiệp trong nước, sản xuất được mở rộng và tạo ra nhiều công
ăn việc làm cho người lao động Việt Nam Và về nông sản, Việt Nam làmột trong những nước xuất khẩu nông sản lớn trong khu vực và trên thế
Trang 8giới với nhiều sản phẩm đặc trưng như cà phê, điều, hồ tiêu, chè và đặc biệt
là gạo Khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội xuất khẩu mặthàng này hơn, vì hạn ngạch nhập khẩu gạo và các nông sản khác sẽ đượcthay thế bằng thuế và thuế sẽ phải được cắt giảm theo lộ trình quy định củaWTO Việt Nam có lợi nhiều khi các thị trường gạo mở cửa, đặc biệt làcác thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc So với các nước đang phát triển khác,Việt Nam sẽ có lợi hơn từ các hiệp định của vòng đàm phán Uruguay, vìtheo quy định của WTO, hàng xuất khẩu dưới dạng sơ chế của các nướcđang phát triển sang các nước phát triển thường không phải chịu thuế hoặcthuế thấp Việt Nam là nước xuất khẩu nhiều hàng sơ chế , do đó sẽ có lợi
từ quy định này
Bên cạnh việc mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hoá trong nước, ViệtNam còn tận dụng được cơ hội lựa chọn những mặt hàng chất lượng, giáthành rẻ, công nghệ tiên tiến để phát triển các ngành có công nghệ cao,ngành mũi nhọn, nhanh chóng đuổi kịp các nước trên thế giới Hơn nữa, dothuế nhập khẩu nguyên, phụ liệu nhập khẩu sẽ giảm trong khi nguồn cungcấp phong phú hơn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam lựa chọn đầuvào một cách hợp lý, giảm chi phí sản xuất, và do đó nâng cao khả năngcạnh tranh của hàng hoá trên thị trường quốc tế
Thứ ba, khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ có điều kiện thu hút vốn đầu tư,
kinh nghiệm quản lý, công nghệ tiên tiến Sẽ có nhiều nhà đầu tư nướcngoài đầu tư vào Việt Nam vì ta là nước có nguồn nhân lực dồi dào, nhiềutài nguyên thiên nhiên và là một thị trường tiêu thụ lớn Đầu tư nước ngoài
đã tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam Nguồn đầu tư trựctiếp từ nước ngoài có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, chiếm khoảnggần 30% vốn đầu tư xã hội, 35% giá trị sản xuất công nghiệp, 20% xuấtkhẩu và giải quyết hàng vạn việc làm cho người lao động Khu vực có vốnđầu tư nước ngoài, từ lâu đã trở thành một trong những động lực tăngtrưởng sản xuất công nghiệp Việt Nam Các doanh nghiệp có vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài đã góp phần quan trọng vào việc chuyển giao côngnghệ, đầu tư nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam trong những năm qua Sựxuất hiện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng có tác độngtích cực như: tăng tốc độ cạnh tranh trên thị trường, giúp các doanh nghiệp
Trang 9và các nhà quản lý sản xuất, tiếp thị, tiếp thu công nghệ, kiểu dáng sảnphẩm, phục vụ khách hàng.
Thứ tư, gia nhập WTO sẽ nâng cao tính pháp lý của Việt Nam trên trường
quốc tế, không còn bị phân biệt đối xử trong buôn bán quốc tế, khônggiống như thời gian trước chúng ta luôn bị kiện bán phá giá Đặc biệt cácHiệp định của vòng đàm phán Uruguay đã đem lại cho Việt Nam nhiều lợiích như: Đẩy mạnh thương mại và quan hệ của Việt Nam với các thànhviên khác trong WTO và đảm bảo nâng cao vai trò quan trọng của ViệtNam trong các hoạt động kinh tế và chính trị toàn cầu Hơn nữa, gia nhậpWTO còn cải thiện hệ thống giải quyết tranh chấp có quan hệ với cáccường quốc thương mại chính Cho phép Việt Nam cải thiện vị trí của mìnhtrong các cuộc đàm phán thương mại, có điều kiện tiếp cận các quy tắccông bằng và hiệu quả để giải quyết các tranh chấp thương mại Nhữngnguyên tắc của WTO đối với các nước đang phát triển, trong đó có ViệtNam, cũng sẽ có lợi vì sẽ nhận được một số ưu đãi đặc biệt như được miễntrừ sự ngăn cấm trợ cấp xuất khẩu Tuy nhiên, nếu hàng hoá thuộc loạicạnh tranh, sự miễn trừ này sẽ bị loại bỏ trong thời gian 8 năm
Thứ năm, Việt Nam sẽ có lợi gián tiếp từ yêu cầu của WTO về việc cải
cách hệ thống ngoại thương, bảo đảm tính thống nhất của các chính sáchthương mại quốc tế Các quy định của WTO sẽ loại bỏ dần những bất hợp
lý thương mại, thúc đẩy cải thiện hệ thống kinh tế và đẩy nhanh quá trìnhchưyển đổi từ hệ thống kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường
1.2 Thách thức đối với Việt Nam khi gia nhập WTO.
Xuất phát từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, bây giờ bắt đầu hộinhập kinh tế thế giới, đặt ra cho Việt Nam hàng loạt vấn đề cần xử lý.Thách thức lớn nhất khi Việt Nam gia nhập WTO là sự cạnh tranh gay gắtgiữa hàng hoá trong nước và hàng hoá nước ngoài Hiện nay, Việt Namchưa đủ năng lực về vốn, chưa có kinh nghiệm quản lý, ngoại ngữ hạn chế,chưa hiểu rõ luật pháp quốc tế, chưa có chính sách toàn diện để nâng caokhả năng cạnh tranh của nền kinh tế để có thể đương đầu với các thách thứctrước mặt Ví dụ như ngành dày dép, may mặc xuất khẩu do chưa đủ lực để
tự sản xuất, kinh doanh, nên đại bộ phận các công ty đều là liên doanh vớinước ngoài, hoặc của nước ngoài, doanh nghiệp Việt Nam chỉ làm gia
Trang 10công, như vậy quyền lợi lớn thuộc về thổ chức nước ngoài Mở cửa ngànhtài chính, các ngân hàng Việt Nam sẽ tồn tại như thế nào khi ngân hàng lớnnhất của ta còn hạn chế nhiều về vốn Với nông nghiệp, hiện Việt Nam làmột nước 69% lực lượng lao động vẫn thuộc nông nghiệp và 45% dân sốsống tại nông thôn, sống dưới mức nghèo Những thách thức lớn như mức
độ cạnh tranh thấp, hay phải đương đầu với trợ cấp xuất khẩu của các nướcgiàu, năng lực của Việt Nam thực thi các điều khoản cam kết, việc cắt giảmthuế quan và việc Việt Nam không được tiếp cận đối với cơ chế tự vệ đặcbiệt cho các sản phẩm chăn nuôi Hiện tại, Việt Nam là một trong nhữngnước xuất khẩu nông sản lớn trong khu vực và thế giới với nhiều sản phẩmđặc trưng như cà phê, điều hồ tiêu, chè, gạo Thế nhưng khả năng chuyển
từ sản xuất thô lên chế biến các doanh nghiệp nội địa có thương hiệu riêng,tăng giá trị gia tăng trong sản phẩm đang là một quá trình chậm chạp, khókhăn
Khó nhất vẫn là lĩnh vực dịch vụ, lĩnh vực này với chúng ta còn quá mới
mẻ, nhiều lĩnh vực còn bỏ trống, thậm chí chưa có kiến thức, chưa có hiểubiết Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, (là lực chiếm đại đa số: 97%trong tổng số 200.000 doanh nghiệp trên toàn quốc, đóng góp 26% vàoGDP, 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, 49% việc làm phi nôngnghiệp ở nông thôn và 26% lực lượng lao động), thì sự chuẩn bị cho tiếntrình gia nhập WTO còn chưa được quan tâm đúng mức
Đa số doanh nghiệp, hiện nay có quy mô nhỏ, vốn ít, khả năng cạnhtranh chưa cao, nên sau khi gia nhập WTO, việc phá sản của một số doanhnghiệp và một số người lao động mất việc làm là điều khó có thể tránhkhỏi
Tiếp đến, là môi trường pháp lý, còn một khối lượng công việc lớn,chồng chất, cần phải làm Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đều không
có luật sư riêng cho mình, nên khi tham gia vào thị trường quốc tế, họ rất
dễ mắc lỗi mà không biết Do vậy, môi trường pháp lý chưa hoàn thiện làmột trong những khó khăn lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam khi gianhập WTO Thứ ba, các doanh nghiệp đang sống quen trong môi trườngbảo hộ, không năng động, luôn nằm trong thế độc quyền, nếu không nhanhchóng thay đổi cơ chế quản lý và các kinh doanh thì sẽ dẫn đến hậu quả
Trang 11khó lường Thứ tư, về cơ cấu ngành, chắc chắn thay đổi, điều này ảnhhưởng đến đào tạo nguồn nhân lực và sự chuẩn bị kỹ năng, kiến thức củatừng người lao động một cách hợp lý Ví dụ, một số lĩnh vực sử dụngnhiều lao động thì có lợi, những lĩnh vực sử dụng nhiều vốn bất lợi hơnhoặc một số lĩnh vực đó lại gặp khó khăn và đối mặt với những thách thức
và sự cạnh tranh ghê gớm trong cuộc chạy đua này Hiện nay, phần lớn cácsản phẩm chúng ta đang sản xuất hết sức manh mún, tuỳ tiện và ẩn chứatrong các sản phẩm đó là vấn đề được coi là hiểm hoạ đó là vấn đề vệ sinhthực phẩm, cho nên các sản phẩm này sẽ khó tiêu thụ trên thị trường quốctế
Bên cạnh đó, Việt Nam phải thực thi đầy đủ các cam kết của mình, đặcbiệt là ở một số lĩnh vực như dịch vụ, an toàn vệ sinh thực phẩm, vấn đề về
sở hữu trí tuệ, các biện pháp đảm bảo công bằng trong thương mại, các vấn
đề về kiểm dịch động thực vật và hàng rào kỹ thuật trong thương mại Đốivới Việt Nam việc thực thi các vấn đề này cũng khó khăn trong việc thựcthi Điều này không chỉ yêu cầu Việt Nam phải thông qua các luật lệ, quyđịnh phù hợp với WTO và nền kinh tế thị trường, mà còn đòi hỏi tình hìnhthực tiễn phải đáp ứng được các yêu cầu của WTO, như: Việt Nam phảinâng cao đáng kể đáng kể năng lực cho các cơ quan có liên quan cũng nhưthay đổi cơ bản về quản lý và tổ chức, đầu tư đáng kể cho nguồn nhân lực,hợp lý hoá các công tác tổ chức thương mại và phân bổ ngân sách
2 Tác động của WTO tới hoạt động xuất khẩu nói chung.
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) bao gồm 150 nền kinh tế thànhviên chiếm 97% giá trị GDP và 95% giá trị thương mại toàn cầu Bởi vậy,
tổ chức này có thể đem lại nhiều cơ hội phát triển cho các nước thành viên,các nước là thành viên của WTO sẽ có cơ hội gắn kết hơn nữa nền kinh tếtrong nước với nền kinh tế thế giới, thu hút đầu tư nước ngoài nhiều hơn vàchung nhất là sử dụng tư cách thành viên của WTO như là sự công nhậnchính thức của cộng đồng kinh tế quốc tế Có thể nói, những quốc giamuốn trở thành thành viên của WTO đã và đang kỳ vọng rất nhiều ở tổchức này Vậy khi đã chính thức là thành viên của WTO, vị trí này sẽ đemlại cơ hội gì cho hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam ?
Trang 122.1 Khái quát về hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trước "ngưỡng cửa" gia nhập WTO.
Theo đánh giá chung, những năm vừa qua, hoạt động xuất nhập khẩu(XNK) của Việt Nam đạt mức tăng trưởng cao và có đóng góp quan trọngvào công cuộc "Đổi mới kinh tế" của đất nước Thống kê của Bộ Thươngmại cho thấy tổng kim ngạch XNK của cả nước trong các năm 2001 là31.198 triệu USD; năm 2002: 36.493 triệu USD; năm 2003: 45.403 triệuUSD; năm 2004: 57.526 triệu USD Trong đó, giá trị nhập khẩu (NK) hànghoá ở Việt Nam luôn tăng nhanh hơn tốc độ tăng giá trị xuất khẩu (XK) vàthâm hụt thương mại vẫn tồn tại Tỷ lệ và giá trị hàng hoá nhập siêu tăngnhanh : Năm 200: là 1.135 triệu USD; năm 2002: 3.027 triệu USD; năm2003: 5.057 triệu USD bằng 25,03% kim ngạch xuất khẩu; năm 2004:5.520 triệu USD bằng 20,6% kim ngạch xuất khẩu Nếu tính chung giaiđoạn 2001 - 2004, mức nhập siêu bình quân của Việt Nam là 19,14% Chỉtrong 4 tháng đầu năm 2005, mức nhập siêu của Việt Nam đã là 1.776 triệuUSD (bằng 18,2% kim ngạch xuất khẩu)
Điều đáng quan tâm là hiện tượng nhập siêu chủ yếu xuất hiện tại khuvực kinh doanh có vốn 100% trong nước, và được tập trung vào các doanhnghiệp sản xuất hàng XK song họ lại phụ thuộc quá nhiều vào nguyên liệunhập khẩu từ nước ngoài như: Dệt may, da giầy, gỗ và các sản phẩm gỗ Ngoài ra, nhiều mặt hàng tiêu dùng và các mặt hàng trong nước có khảnăng sản xuất nhưng vẫn được NK
Từ thực tế trên, cho thấy để cải thiện cán cân thương mại cũng như thuhẹp khoảng cách trong hoạt động XNK cần phải có nhiều giải pháp Khichính thức trở thành thành viên của WTO, Việt Nam sẽ có được nhiều lợiích trong hoạt động NK cũng như XK
2.2 Tác động của việc gia nhập WTO đến hoạt động xuất khẩu.
Có thể nói những năm gần đây nền kinh tế nước ta cũng có nhiều biếnchuyển nhất định Trên thực tế, việc gia nhập WTO thúc đẩy XK quốc giahay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, xét về mặt khách quan có thể baogồm hai yếu tố sau:
- Sự thay đổi các rào cản nước ngoài mà các nhà XK ở nước gia nhậpWTO có thể nhận được
Trang 13- Các nhà XK hoặc là không nhận thấy hoặc là không có khả năng khaithác được lợi thế tiếp cận thị trường tốt hơn ở nước ngoài.
Điều này có thể do thiếu thông tin, do cơ sở hạ tầng đắt đỏ hoặc khônghiệu quả ở nước xin gia nhập, hoặc thiếu kinh nghiệm trong việc vậnchuyển hàng hoá ra nước ngoài Mặt khác, về chủ quan việc gia tăng XKtrong điều kiện gia nhập WTO còn phụ thuộc vào những bước đi cần thiết
mà chính phủ và các doanh nghiệp ở nước xin gia nhập tiến hành
Trong trường hợp của Việt Nam, những năm qua mặc dù cán cân thươngmại chưa được cải thiện hiệu quả, nhập siêu vẫn còn ở mức cao nhưng khảnăng XK vẫn chiếm tới gần 50% GDP và việc thúc đẩy mạnh XK đã vàđang có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế
Hiện tại hàng loạt các mặt hàng chủ lực trong XK của Việt Nam vẫnkhông ngừng tăng về số lượng và mở rộng quy mô thị trường như sảnphẩm đồ gỗ XK của nước ta được đánh giá là một trong những nhóm hàng
XK có tốc độ tăng trưởng cao và kim ngạch lớn Trong vài năm gần đây,kim ngạch XK sản phẩm gỗ của Việt Nam tăng trung bình 30% /năm, từ
320 triệu USD năm 2000 lên 1,054 tỷ USD năm 2004 và đạt khoảng 1,6 tỷUSD năm 2005 Với đà tăng trưởng này và xét điều kiện nguyên liệu trongnước hạn chế, Bộ Thương mại chủ trương mở rộng nhập khẩu gỗ từ các thịtrường mới có tiềm năng; đồng thời, xem xét khả năng cho phép các doanhnghiệp trong nước có khả năng và có đầu mối được NK gỗ để bán cho cácnhà sản xuất trực tiếp Giải pháp này vừa góp phần tạo thị trường gỗnguyên liệu, mà về lâu dài cũng phù hợp với yêu cầu mở cửa lộ trình gianhập WTO của nước ta
Bên cạnh mặt hàng gỗ, các sản phẩm thuỷ sản cũng là một bức tranhkhá sáng sủa.Tổng sản lượng thuỷ sản Việt Nam 7 tháng đầu năm 2005 ướctính đạt 1,8 triệu tấn, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm 2004 Về kim ngạchxuất khẩu 7 tháng đầu năm cả nước ước đạt 1.167 triệu USD, tăng trên8,4% so với cùng kỳ năm ngoái Mặt khác EU cũng công nhận thêm 20doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam, nâng tổng số doanh nghiệp
đủ tiêu chuẩn XK sang thị trường EU lên 170 doanh nghiệp Có thể nói,triển vọng của XK thuỷ sản rất lớn nhất là khi Việt Nam chính thức thamgia WTO
Trang 14Mặt hàng gạo cũng đạt mức XK cao Tính đến thời điểm hiện tại cácdoanh nghiệp Việt Nam đã ký hợp đồng XK 3 triệu tấn gạo Giá gạo XKcủa Việt Nam hiện vẫn đứng ở mức khá cao so với giá của hồi đầu năm vàtheo dự báo, mặt hàng này cũng có triển vọng lớn trong thời gian tới.
Như vậy, có thể nói hoạt động XK của Việt Nam hiện đang nắm giữnhững thành quả đáng khích lệ trong lĩnh vực thương mại Và với đà tăngtrưởng như hiện nay thì khi Việt Nam chính thức là thành viên của WTO,chắc chắn khả năng XK của Việt Nam sẽ không ngừng lớn mạnh về cả kimngạch lẫn quy mô thị trường Sở dĩ, có thể khẳng định như vậy là vì:
Thứ nhất, khi tham gia WTO Việt Nam có cơ hội XK các mặt hàng mà
đất nước có thế mạnh, như nông sản, thuỷ sản, may mặc, giầy dép, thủcông mỹ nghệ, các hàng hoá sử dụng nhiều lao động Bởi khi đó các hàngrào thuế quan sẽ hầu như được dỡ bỏ khi đã là thành viên của WTO, chúng
ta sẽ công còn phải chịu thiệt thòi bởi hạn ngạch như trước, mà ở đây đángnói nhất là với mặt hàng dệt may - một mặt hàng rất có tiềm năng nhưng lại
bị kìm hãm bởi các hàng rào thuế quan
Thứ hai, hoạt động xuất khẩu của ta sẽ được mở rộng ở phạm vi toàn cầu
chứ không như trước chỉ là các Hiệp định song phương hay khu vực Theođiều kiện đối xử tối huệ quốc (MFN) và đối xử quốc gia (NT) các doanhnghiệp và hàng hoá của ta sẽ không bị phân biệt đối xử so với các doanhnghiệp và hàng hoá của các nước khác Do đó, thị trường xuất khẩu của ta
sẽ không ngừng được mở rộng Thị trường đã mở cửa nhưng tồn tại đượctới đâu và phát triển như thế nào đều phụ thuộc vào các sản phẩm và cácdoanh nghiệp của chúng ta hay nói cách khác là để cho các sản phẩm vàcác doanh nghiệp tự khẳng định mình trên thị trường thế giới Điều này đòihỏi mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành nghề phải có chiến lược hội nhập sao chohiệu quả
Thứ ba,hệ thống kinh tế - thương mại dựa trên nguyên tắc chung chứ
không phải dựa vào sức mạnh của quốc gia từ đó hoạt động kinh doanh sẽ
dễ dàng hơn với tất cả các nước thành viên WTO có cơ chế giải quyếttranh chấp tạo điều kiện cho các nước nhỏ có thể nói lên tiếng nói và bảo
vệ lợi ích của mình Khi đã là thành viên của WTO Việt nam sẽ không cần
lo các vụ kiện chống bán phá giá như trước đồng thời các vụ kiện chống
Trang 15bán phá giá cá tra và cá ba sa đã có thể đưa lên WTO để giải quyết côngbằng hơn.
Thứ tư, khi tham gia vào WTO sẽ góp phần làm cho hệ thống chích sách,
pháp luật của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và phù hợp với thông lệ quốc
tế hơn Từ đó tăng khả năng thu hút vốn đầu tư, công nghệ, giúp ta học hỏiđược kinh nghiệm quản lý và gia tăng thương mại đẩy mạnh hoạt động XKcủa các doanh nghiệp Bên cạnh đó khi chính sách pháp luật được mở rộng
và hoàn thiện sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, các đối tác kinh doanhđầu tư mạnh mẽ vào nước ta
Nhìn chung gia nhập WTO sẽ mở ra một thị trường lý tưởng cho thươngmại của Việt Nam nói chung và XK nói riêng Tuy vậy, do chúng ta lànước còn kém phát triển, kinh nghiệm còn chưa có nhiều vì thế sẽ cần phảihọc hỏi nhiều kinh nghiệm và kiến thức để đương đầu với những thử thách
mà không chỉ đối với cả nền kinh tế mà còn cả lĩnh vực XK
3 Tác động của gia nhập WTO tới hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam.
Vấn đề nông sản thế giới những năm gần đây luôn được coi là vấn đềnóng bỏng bởi nó có tính rất nhạy cảm về cả kinh tế và xã hội đối với nhiềuquốc gia Chính vì vậy nhiều vòng đàm phán của WTO những năm vừa qua
đã diễn ra nhiều cuộc tranh cãi, nhất là vòng đàm phán Tokyo, Uruguay Sau nhiều vòng đàm phán gay cấn cuối cùng các thành viên của WTO đã diđến thống nhất và ký kết Hiệp định nông nghiệp (AoA) và năm 1994 vàchính thức có hiệu lực kể từ tháng 2 năm 1995
Để mở cửa thị trường nông sản thế giới Hiệp định nông nghiệp hướng tớibốn vấn đề cơ bản, đó là:
- Sự mất cân đối giữa cung và cầu đối với nông sản, trên cơ sở đó xoá đi sựchênh lệch về giá cả thị trường nội địa và thị trường thế giới
- Xoá bỏ chủ nghĩa bảo hộ sản phẩm nông nghiệp nội địa thông qua nhữngchính sách hỗ trợ nhằm giảm đi những tác động tiêu cực đối với nhữngquốc gia đang phát triển
- Giảm gánh nặng về mặt tài chính đối với các nước phát triển trên cơ sởcắt giảm hỗ trợ sản xuất nông sản
- Nâng cao vị thế của WTO trong việc giải quyết tranh chấp về vấn đề sản
Trang 16phẩm nông nghiệp giữa các nước thành viên.
Các cam kết mở cửa thị trường nông sản trong AoA tập trung vào ba lĩnhvực chủ yếu: tiếp cận thị trường; hỗ trợ sản xuất nội địa; trợ cấp xuất khẩu Đối với mặt hàng cà phê - một trong những nông sản xuất khẩu chiếm
tỷ trọng cao trong nền kinh tế nước ta và là một trong 9 mặt hàng có kimngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD Đồng thời cà phê của ta được xếp hàngthứ hai trên thế giới, chỉ đứng sau Braxin, với thị phần khoảng 10%
Trang 17Chương II: Thực trạng hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam
1 Thực trạng xuất khẩu cà phê của nước ta.
Từ thời điểm Việt Nam gia nhập WTO thì nhìn chung thị trường xuất
khẩu của ta được mở rộng rất lớn đối với hầu hết tất cả các mặt hàng, trong
đó có cả cà phê, nhờ hàng rào thuế quan được cắt giảm Tuy vậy cà phê làloại cây công nghiệp ưa khí hậu nhiệt đới nên không phải nước nào cũngtrồng được Vì thế cà phê hầu như luôn trong tình trạng cầu vượt cung Đốivới nước ta, một nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới, thì việc gianhập WTO cũng không ảnh hưởng quá nhiều tới hoạt động xuất khẩu mặthàng này Tuy vậy, việc gia nhập WTO cũng sẽ là điều kiện rất thuận lợi đểkhẳng định hàng hoá của ta Bên cạnh đó, gia nhập WTO còn giúp ta cótiếng nói trên trường quốc tế, bảo vệ cho hàng hóa xuất khẩu của nước tađược bình đẳng trên sân chơi chung
Tại New York, giá cà phê Arabica năm 2006 giảm 19% so với nămtrước, còn 2.382 USD/tấn Giá chào bán cà phê robusta loại 2 của ViệtNam cũng tăng gần 45% so với năm trước, lên 1.254 USD/tấn, FoB Mặc
dù giá cà phê có giảm, tuy vậy trong suốt các năm vừa qua giá cà phê cácloại đều có xu hướng tăng mạnh Tại New York, giá cà phê Arabica giaongay hai tháng cuối năm 2006 đạt 2.726 USD/tấn, tăng 16,5% so với haitháng đầu năm 2006 Tại Luân Đôn, giá cà phê robusta giao ngay tại thờigian này đã tăng 23,1% lên 1.497 USD/tấn; tại Việt Nam tăng 19,5% lên1.385 USD/tấn FoB Thị trường cà phê thế giới vụ 2005 – 2006 ở trongtình trạng thiếu cung là nguyên nhân chủ yếu làm giá cà phê các loại năn
2006 tăng nhanh
Theo tổ chức cà phê quố tế (ICO), sản lượng cà phê quốc tế vụ 2005 –
2006 đạt 109,29 triệu bao (1 bao = 60 kg), giảm 5,4% so với vụ trước.Trong đó, sản lượng cà phê arabica giảm gần 13%, còn 69,2 triệu baonhưng sản lượng cà phê robusta tăng 11%, lên 40,044 triệu bao Đặc biệtsản lượng cà phê vụ 2005 – 2006 giảm chủ yếu ở ba nước sản xuất và xuấtkhẩu cà phê lớn nhất là Braxin, Việt Nam và Colombia Nhu cầu tiêu thụ
cà phê trên thế giới niên vụ 2005 – 2006 đạt 116,566 triệu bao, tăng 1,7%
so với vụ trước và cao hơn 7,3 triệu bao so với sản lượng Lượng tồn kho
cà phê cuối vụ 2005 – 2006 ở các nước sản xuất đã giảm 9,6% so với cuối