Với đề tài “ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH ĐẾN VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM” , mong rằng bài viết sẽ có cái nhìn tổng quát về tác động của khủng hoảng tài chính
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Khu công nghiệp ở Việt Nam ra đời cùng chính sách đổi mới, mở cửa do Đạihôi VI của Đảng năm 1986 khởi xướng Phát triển khu công nghiệp được xác định
rõ tại Nghị quyết hội nghị đại biểu giữa nhiệm kì khóa VII tháng 01/1994, Nghịquyết Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996, Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 BCH TWkhóa VIII và Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX năm 2001
Từ khi khu công nghiệp đầu tiên là khu chế xuất Tân Thuận thành lập năm
1991 đến hết tháng 12/2000 đã có 67 khu công nghiệp, khu chế xuất thành lập ởcác tỉnh, thành phố (không tính khu công nghiệp Dung Quất) với tổng diện tích đất
tự nhiên 11250 ha, thu hút gần 1350 dự án đầu tư trong nước và nước ngoài vớitổng vốn đầu tư hơn 9,2 tỉ USD và hơn 31 tỉ đồng, tạo việc làm cho hơn 230 nghìnlao động, doanh thu năm 2000 đạt 3,5 tỉ USD, trong đó xuất khẩu gần 2,2 tỉ đạt63% giá trị xuất khẩu toàn khối FDI(trừ dầu khí) Khu công nghiệp trong thời gianqua đã thực sự góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp gắn liền với phất triển đôthị, tạo bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp, giảiquyết việc làm cho người lao động Cùng với việc tham gia vào sân chơi quốc tế và
cơ chế một cửa cho thủ tục của các dự án đầu tư, nước ta đã thu hút rất nhiều dự ánđầu tư của nước ngoài nhưng đồng thời cũng gắn nền kinh tế Việt Nam với sự biếnđộng của thị trường thế giới Những tác động tích cực của nó thì chúng ta có thểnhận thấy bằng tai bằng mắt, nhưng tác động tiêu cực thì hiện tại vẫn chưa có nhiều
công trình nghiên cứu có quy mô khẳng định Với đề tài “ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH ĐẾN VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM” , mong rằng bài viết sẽ có cái nhìn tổng quát về tác
động của khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Mĩ đến sự thất nghiệp trong các khu côngnghiệp ở Việt Nam Cảm ơn cô giáo Thạc sĩ Ngô Việt Nga đã hướng dẫn em trongquá trình hoàn thành bài viết này Dù có nhiều cố gắng nhưng tài liệu tham khảo cònhạn hẹp, kĩ năng còn thiếu nên không tránh khỏi sai sót, kính mong cô giáo và bạnđọc bổ sung , góp ý để bài nghiên cứu ngày càng hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Sinh viên Đậu Văn Tuấn
Trang 2I KHÁI NIỆM
1 Khái quát về khu công nghiệp ở Việt Nam
Theo quy chế khu chế xuất, khu công nghiệp ban hành kèm theo Nghị định
số 36/CP ngày 24/4/1997 Khu công nghiệp là “ khu tập trung các doanh nghiệp,khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ chosản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, doChính phu hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập Trong khu công nghiệp
có thể có doanh nghiệp chế xuất
Khu công nghiệp có đặc điểm có một cụm hay một số cụm công nghiệp phân
bố gần nhau trên lãnh thổ nhất định Các xí nghiệp công nghiệp trong các cụm côngnghiệp có thể có mối liên hệ trực tiếp ( mối liên hệ sản xuất, công nghệ chặt chẽ)hoặc chỉ có quan hệ gián tiếp ( sử dụng chung cấu trúc hạ tầng sản xuất và xã hội).Các khu công nghiệp luôn gắn liền với một thành phố công nghiệp
Trang 4Tính đến tháng 8/2008 Việt Nam có 186 khu công nghiệp, trên diện tích45.042 ha (diện tích cho thuê 29.469 ha), tạo việc làm cho gần 1 triệu lao động.Theo kế hoạch, đến năm 2010 thì về cơ bản diện tích các khu công nghiệp của ViệtNam sẽ đạt khoảng 60000 – 65000 ha ( với tỉ lệ lấp đầy là 60% thì số lượng laođộng sẽ là gần 3 triệu người, tăng thêm gần 2 triệu người).
2 Thất nghiệp
Thất nghiệp là gì ?
Trên thực tế có rất nhiều loại hình thất nghiệp,chúng ta không thể đưa ra mộtđịnh nghĩa cụ thể nào về thất nghiệp,song đây là một vấn đề nan giải cần được thảoluận và trên thực tế đã đưa ra rất nhiều loại thất nghiệp khác nhau :
Các loại thất nghiệp :
a) Phân theo loại hình thất nghiệp
Thất nghiệp chia theo giới tính (nam, nữ)
Thất nghiệp chia theo lứa tuổi (tuổi, nghề)
Thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ (thành thị, nông thôn)
Thất nghiệp chia theo ngành nghề (ngành kinh tế, nông nghiệp…)
Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc
b) Phân theo lý do thất nghiệp
Bỏ việc: Tự ý xin thôi việc vì những lý do khác nhau như cho rằng lươngthấp, không hợp nghề, hợp vùng
Do mất việc: Các hãng cho thôi việc do những khó khăn trong kinh doanh
Do mới vào: Lần đầu bổ sung vào lực lượng lao động nhưng chưa tìm đượcviệc làm (thanh niên đến tuổi lao động đang tìm kiếm việc, sinh viên tốtnghiệp đang chờ công tác…)
Quay lại: Những người đã rời khỏi lực lượng lao động nay muốn quay lạilàm việc nhưng chưa tìm được việc làm
Như vậy thất nghiệp là con số mang tính thời điểm nó luôn biến đổi khôngngừng theo thời gian Thất nghiệp kéo dài thường xảy ra trong nền kinh tế trìtrệ kém phát triển và khủng hoảng
c) Phân theo nguồn gốc thất nghiệp
Thất nghiệp tạm thời
Thất nghiệp tạm thời xảy ra khi có một số người lao động trong thời gian
Trang 5tìm kiếm công việc hoặc nơi làm việc tốt hơn, phù hợp với ý muốn riêng (lương caohơn, gần nhà hơn )
Thất nghiệp cơ cấu
Thất nghiệp cơ cấu xảy ra khi có sự mất cân đối cung cầu giữa các thị trường laođộng ( giữa các ngành nghề,khu vực ) loại này gắn liền với sự biến động cơ cấukinh tế và khả năng điều chỉnh cung của các thị trường lao động Khi sự lao độngnày là mạnh kéo dài, nạn thất nghiệp trở nên trầm trọng và kéo dài
Thất nghiệp do thiếu cầu
Do sự suy giảm tổng cầu.Loại này còn được gọi là thất nghiệp chu kỳ bởi ở cácnền kinh tế thị trường nó gắn liền với thơì kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh, xảy
ra ở khắp mọi nơi mọi ngành mọi nghề
Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường
Nó xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các lực lượng thị trường vàcao hơn mức cân bằng thực tế của thị trường lao động
Như vậy thất nghiệp là con số mang tính thời điểm nó luôn biến đổi khôngngừng theo thời gian Thất nghiệp kéo dài thường xảy ra trong nền kinh tế trì trệkém phát triển và khủng hoảng
3 Khủng hoảng tài chính
3.1 Khái niệm
“Khủng hoảng Tài chính tiền tệ chính là sự đổ vỡ trầm trọng các bộ phận của
thị trường Tài chính tiền tệ kéo theo sự vỡ nợ của hàng loạt ngân hàng và tổ chức tàichính do sự sụt giảm nhanh chóng về giá tài sản mà kết quả cuối cùng của nó là sựđông cứng và bất lực của thị trường tài chính sự sụt giảm nghiêm trọng các hoạtđộng kinh tế”
Khủng hoảng tài chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nềnkinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình Khủnghoảng tài chính xảy ra khi nhu cầu tiền vượt quá so với nguồn cung Nhu cầu tiềnmặt của người dân hay của nhà đầu tư nước ngoài đã gây sức ép cho hệ thống ngânhàng và thị trường tài chính khiến cho hệ thống ngân hàng và thị trường chứngkhoán có thể sụp đổ Trong nền kinh tế thế giới hiện đại sự lây lan của khủng hoảngtài chính thường đi kèm với sự khủng hoảng kinh tế kéo dài
Khủng hoảng tài chính bao gồm khủng hoảng tiền tệ, khủng hoảng ngân hàng và khủng hoảng nợ nần.
Trang 6Khủng hoảng tiền tệ : Theo nghĩa hẹp khủng hoảng tiền tệ gắn liền với chế
độ tỷ giá hối đoái cố định, tức trong hoàn cảnh hết sức bị động như kinh tế đi xuốnghoặc vấp phải lan sóng đầu cơ cực lớn Một quốc gia đang áp dụng chế độ tỷ giá cốđịnh sẽ phải tiến hành điều chỉnh chế độ này ở trong nước và phải chuyển sang ápdụng tỷ giá hối đoái thả nổi và mức độ tỷ giá mà thị trường quyết định thường caohơn rất nhiều so với mức độ tỷ giá mà chính phủ cố gắng duy trì Mức biến đổi của
tỷ giá hối đoái thường rất khó kiểm soát Hiện tượng này chính là khủng hoảng tiền
tệ Theo nghĩa rộng, khủng hoảng tiền tệ chỉ sự biến động của tỉ giá hối đoái vượtquá phạm vi mà một quốc gia có thể gánh chịu
Khủng hoảng ngân hàng: là hiện tượng ngân hàng can thiệp quá sâu hoặc
cho vay vốn đối với các doanh nghiệp đầu tư vào các hoạt động kinh doanh có độrủi ro cao như bất động sản, chứng khoán Tín dụng được đầu tư quá nhiều cho bấtđộng sản và lĩnh vực phi sản xuất sẽ dẫn đến tình trạng mất cân đối tài chính kinh
tế Tỉ lệ nợ xấu quá lớn khiến hoạt động kinh doanh trì trệ dẫn đến nguy cơ phá sản
Khủng hoảng nợ nần : là cuộc khủng hoảng xảy ra ở các nước đang phát
triển vào thập kỷ 80 thể kỷ XX Có nhiều khả năng đánh giá khả năng thanh toánnguồn vay nước ngoài của một quốc gia, trong đó chỉ tiêu quan trọng nhất là tỷ lệthanh toán nợ nước ngoài tức là tỷ lệ giữa nguồn vay nước ngoài cả gốc và lãi màquốc gia đó trả trong một năm trên tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia đó trongnăm đó hoặc trong năm trước đó Bình thường chỉ tiêu này nằm dưới 20%, nếu chỉtiêu này lớn hơn 20% chứng tỏ lượng vốn vay nước ngoài của quốc gia đó quá lớn
Các cuộc khủng hoảng đã xảy ra
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ gắn liền với cuộc đại suy thoái kinh tế thếgiới 1929 – 1933:
Cuộc khủng hoảng Tài chính tiền tệ quốc tế năm 1967:
Cuộc khủng hoảng USD và sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods
Cuộc khủng hoảng Tài chính tiền tệ Mexico
Cuộc khủng hoảng Tài chính tiền tệ Châu Á 1997
Khủng hoảng kinh tế Achentina 2001-2002
4 Cuộc khủng hoảng tài chính Mĩ 2008
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 tại Mỹ lần này thực chất là biểu hiện
rõ nét nhất của một quá trình “khủng hoảng” rất lâu trước đó Điểm lại những mốc
Trang 7sự kiện chính trong chuỗi này để thấy khủng hoảng đã diễn ra như thế nào.
Năm 2002-2004: Giá cả ở các bang Arizona,California, Florida, Hawaii, và
Nevada tăng trên 25% một năm Sự bùng nổ nhà đất ở Mỹ bắt đầu
Năm 2005: Bong bóng nhà đất ở Mỹ vỡ vào tháng 08/2005 Thị trường bất
động sản tạm gián đoạn trên một vài bang ở Mỹ vào cuối mùa hè năm 2005 khi tỷ lệlãi suất tăng từ 1% lên đến 5.35% do có nhiều nhà kinh doanh bất động sản đã đánhgiá thấp thị trường
Năm 2006: Thị trường bất động sản tiếp tục suy giảm Giá giảm, kinh doanh
bất động sản, dẫn đến một lượng nhà dư thừa đáng kể. Chỉ số Xây dựng Nhà ở tại
Mỹ hồi giữa tháng 08 giảm hơn 40% so với một năm trước đó
Năm 2007: Kinh doanh bất động sản tiếp tục thất bại Số lượng nhà tồn ước
tính cao nhất từ năm 1989 Ngành kinh doanh bất động sản suy giảm với hơn 25 tổchức cho vay dưới chuẩn tuyên bố phá sản Gần 1,3 triệu bất động sản nhà ở bi tịchthu để thế chấp nợ, tăng 79% từ năm 2006
Ngày 05/02 Công ty Mortage Lenders Network USA đứng thứ 15 trong sốcác nhà cho vay dưới chuẩn nhiều nhất ở Mỹ, với tổng dư nợ 3.3 tỷ đô la thời điểmquý 3 năm 2006, tuyên bố phá sản
Ngày 02/04 New Century Financial, nhà cho vay dưới chuẩn lớn nhất Mỹ,tuyên bố phá sản
Ngày 19/07: Chỉ số Dow Jones đóng cửa với mức 14.000 điểm, lần đầutiên trong lịch sử
Tháng 8: Khủng hoảng tín dụng toàn cầu, mà chính xác là chứng khoán dựatrên các khoản nợ thế chấp dưới chuẩn, được phát hiện trong các danh mục vốn đầu
tư và quỹ trên khắp thế giới từ BNP Paribas cho đến Ngân hàng Trung Quốc.Nhiều nhà cho vay ngừng cho vay tín dụng mua nhà Cục dữ trữ liên bang đã chocác ngân hàng vay 100 tỷ đô la với lãi suất thấp
Ngày 16/08: Tập đoàn tài chính Countrywide, đơn vị cho vay thế chấp lớn nhấtnước Mỹ, đã phải tránh phá sản bằng cách vay khẩn cấp 11 tỷ đô la từ một nhómcác ngân hang khác
Ngày 17/08: Cục dự trữ liên bang đã phải hạ mức hệ số chiếu khấu 50 điểm cơbản từ mức 6.25% xuống 5.75%
Ngày 14/09: Ngân hàng Northern Rock (Anh) đã gặp vấn đề nghiêm trọng về khảnăng thanh khoản liên quan đến khủng hoảng cho vay dưới chuẩn Ngày 15–17/10: Liên minh các ngân hàng Mỹ được hỗ trợ bởi chính phủ thông
Trang 8báo lập một siêu quỹ trị giá 100 tỷ đô la để mua lại các chứng khoán được đảm bảobằng tài sản thế chấp mà giá trị thị trường đã bị sụt giảm do khủg hoảng vay dướichuẩn Chủ tịch Cục dự trữ Liên bang Ben Bernake và Bộ trưởng Bộ tài chính Mỹđều đưa ra những cảnh báo về mối nguy hiểm của việc vỡ bong bóng bất động sản. Ngày 31/10: Cục dự trữ liên bang hạ lãi suất quỹ liên bang 25 điểm xuống 4,5% Tháng 11: Cục dự trữ liên bang bơm thêm 41 tỷ đô la cho các ngân hàng
vay với lãi suất thấp Đây là lần xuất tiền lớn nhất của cục dự trữ liên bang kể từ 19tháng 9 năm 2001 (50.35 tỷ đô la)
Thứ nhất, từ đầu năm 2001, đặc biệt là sau cuộc khủng bố 11 tháng 9, khi mà
sau vụ khủng bố giá các cổ phiếu mỹ sụt giảm ,để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ,Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngânhàng cũng hạ lãi suất cho vay tiền mua bất động sản Vào giữa năm 2000 thì lãi suất
cơ bản của Fed là trên 6% nhưng sau đó lãi suất này liên tục được cắt giảm, cho đếngiữa năm 2003 thì chỉ còn 1%
Hai là, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo có nhà ở của
Chính phủ lúc bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo được vaytiền dễ dàng hơn để mua nhà Việc này phần lớn được thực hiện thông qua hai công
ty được bảo trợ bởi chính phủ là Fannie Mae và Freddie Mac Hai công ty này giúp
đổ vốn vào thị trường bất động sản bằng cách mua lại các khoản cho vay của các
Trang 9ngân hàng thương mại, biến chúng thành các loại chứng từ được bảo đảm bằng cáckhoản vay thế chấp, rồi bán lại cho các nhà đầu tư ở Phố Wall, đặc biệt là các ngânhàng đầu tư khổng lồ như Bear Stearns và Merrill Lynch.
Ba là kế ước nhận nợ của người mua nhà trở thành một loại chứng khoán (chứng
khoán phái sinh), được ngân hàng thông qua người môi giới đưa vào giao dịch muabán lại trên thị trường (thị trường thứ cấp) Trên thị trường mua đi bán lại, nhiềungười đầu tư cá nhân thông qua người môi giới đã bỏ tiền ra mua loại chứng khoánnày mà họ không hiểu được nó là cái gì, chỉ biết hàng năm được tiền lãi
Vì vậy thị trường bất động sản trở nên rất xôi động, có rất nhiều người thu nhậpthấp hoặc không có tín dụng tốt nhưng vẫn đổ xô đi mua nhà Để có thể được vay,nhóm người này thường phải trả lãi suất cao hơn và thường được cho mượn dướihình thức lãi suất điều chỉnh theo thời gian, khoản tiền cho vay dành cho nhóm này
đã tăng vùn vụt Theo các ước tính thì nó tăng từ 160 tỉ USD ở năm 2001 lên 540 tỉvào năm 2004 và trên 1.300 tỉ vào năm 2007( 10% GDP của MỸ) Fannie Mae đãmạnh tay hơn trong việc mua lại các khoản cho vay đầy mạo hiểm do phải đối đầuvới cạnh tranh nhiều hơn từ các công ty khác, chẳng hạn như Lehman Brothers
Vì dễ vay cho nên nhu cầu mua nhà lên rất cao, kéo theo việc lên giá bất độngsản liên tục Giá nhà bình quân đã tăng đến 54% chỉ trong vòng bốn năm từ 2001đến 2005 Việc này cũng dẫn đến vấn đề đầu cơ và ỷ lại là giá nhà sẽ tiếp tục lên
Hệ quả là người ta sẵn sàng mua nhà với giá cao, bất kể giá trị thực và khả năng trả
nợ sau này vì họ nghĩ nếu cần sẽ bán lại để trả nợ ngân hàng mà vẫn có lời Do đó,một bong bóng đã thành hình trong thị trường bất động sản
Nhưng từ 2 năm trở lại đây, giá bất động sản không ngừng giảm xuống, giá trịcác căn hộ ngày càng thấp hơn các khoản tín dụng đã cấp Hạn mức tín dụng giảmxuống thì ngân hàng thu hồi nợ, nhưng người mua nhà không có khả năng thanhtoán
Cho vay dưới chuẩn - nguyên nhân của sụp đổ thị trường bất động sản và cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ.
Từ nhiều năm qua, các ngân hàng đầu tư Mỹ đã nới lỏng tối đa chính sách tín
Trang 10dụng cho các công ty và cá nhân mua bất động sản trả chậm Làm nảy sinh nhữngdòng vốn vay giá rẻ và gia tăng một lượng lớn người đi vay tiền Trên thực tế, vốnvay rẻ sẽ làm mất đi ý thức phòng ngừa rủi ro của người đi vay Người đi vay dểdàng trong việc định giá lại tài sản để tiếp tục một khoảng vay mới nhằm trả chokhoản vay cũ Bên cạnh đó, việc cung cấp tín dụng dễ dàng như: không cần tài sảnthế chấp, tỷ lệ trả trước rất thấp, chỉ cần có mã số thuế Hoạt động cho vay này thật
sự không đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn để được cấp tín dụng nhưng vẫn đượcvay đã làm gia tăng rủi ro cho các ngân hàng, và bất động sản tăng giá họ sẽ đượchưởng lợi Về phía ngân hàng, tuy hình thức cho vay này rủi ro rất lớn, nhưng cácngân hàng vẫn chấp nhận để đổi lại một mức lãi suất rất cao Mặt khác các công tytài chính cũng thực hiện hình thức cho vay này một cách rộng rãi và chuyển rủi roqua ngân hàng và nhà đầu tư thông qua một sản phẩm tài chính gọi là “mua lại cáckhoản nợ hay khoản phải thu”
Các công ty tài chính bán các khoản phải thu cho ngân hàng với một chiếc khấucao, ngân hàng và các tổ chức tài chính chuyên biệt sẽ chứng khoán hoá các khoảnphải thu, nghĩa là phát hành các chứng khoán để vay tiền với lãi suất rất cao Rõràng là rủi ro chồng rủi ro, và đương nhiên là các chứng khoán có mức độ xếp hạngtín nhiệm càng thấp thì tỷ suất sinh lợi càng cao, thậm chí có chứng khoán không cómức độ xếp hạng tín nhiệm nhưng vẫn được nhà đầu tư trên toàn thế giới chấp nhận
do lãi suất siêu hạng
Một lượng vốn đầu tư khổng lồ trên thế giới đã đổ vào thị trường bất động sản
Mỹ và khi thị trường đóng băng vào giữa năm 2007, các vụ đổ vỡ dây chuyền đãxảy ra Các nhà đầu tư bất động sản vay tiền không đủ khả năng trả lãi vay, bất độngsản không bán được, chứng khoán phát hành trên các khoản phải thu này sụt giá thêthảm, các ngân hàng không đủ khả năng trả các khoản nợ lâm vào tình trạng phásản
Sản phẩm tài chính hiện đại nhưng nhiều rủi ro này chính là nguyên nhân chocuộc khủng hoảng tài chính cho vay dưới chuẩn
Trang 11Một số nguyên nhân khác:
a) Mua bán khống
Khi giới đầu cơ đoán chắc rằng cổ phiếu của những tập đoàn dính líu đến chovay dưới chuẩn sẽ sụt giảm, họ ồ ạt vay những cổ phiếu này rồi ồ ạt bán ra, tạo nênmột áp lực giảm giá lớn không gì cứu vãn nổi Sau khi giá giảm đến một mức nào
đó, họ sẽ mua và trả lại nơi cho vay cộng thêm một ít phí, còn bao nhiêu tiền chênhlệch họ sẽ hưởng trọn.Thậm chí, họ còn áp dụng cách thức mua bán khống đến hailần (naked short sale), tức là không thèm vay chứng khoán nữa mà cứ ra lệnh bántheo kiểu “đánh xuống” vì lợi dụng khe hở, mua bán ba ngày sau mới giao cổ phiếu
b) Thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ
Có tiền, các công ty cứ thoải mái cho người vay bằng tiền của các ngân hàng đầu
tư cung cấp thông qua mua lại danh mục cho vay của các công ty này Các ngânhàng này trên cơ sở danh mục cho vay vừa mua lại sẽ phát hành CK để vay tiền.Danh mục cho vay được chia ra, ít rủi ro, rủi ro cao, tùy định mức tín nhiệm, nhàđầu tư tha hồ lựa chọn theo sự mạo hiểm của mình Có loại CK không cần định mứctín nhiệm, có thể thu lãi cao nhưng rủi ro cũng lớn
Như vậy, rủi ro trong cho vay đã được chuyển từ bên cho vay là công ty tàichính sang NH đầu tư Nhà đầu tư trên thế giới đã đổ tiền mua CK này, nhờ vậy đãcung cấp một lượng vốn khổng lồ cho thị trường bất động sản ở Mỹ tăng nóng Giáo sư kinh tế Joseph Stiglitz, người được giải thưởng kinh tế Nobel kinh tế
2001, kết luận: “Hệ thống tài chính của Mỹ đã không thực hiện được hai tráchnhiệm chính của mình đó là quản lý rủi ro và phân chia vốn Cả hệ thống tài chính
Mỹ đã không làm những gì mà nó đáng ra phải làm - chẳng hạn như tạo ra các sảnphẩm để giúp người Mỹ quản lý được những rủi ro nguy hiểm nghiêm trọng củamình, như là giữ lại được nhà khi mức lãi suất cho vay tăng cao hoặc khi giá nhà rớtgiá”
c) Khủng khoảng niềm tin
Sự sụp đổ của một loạt các ngân hàng hàng đầu trong lĩnh vực đầu tư của Mỹ
đã làm người dan Mỹ và tiêu dùng ảnh hưởng nghiẹm trọng, nhất là khi ở các nước