1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tốt nghiệp Triển vọng phát triển nghề giám đốc ở Việt Nam

42 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Triển vọng phát triển nghề giám đốc ở Việt Nam
Trường học Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 204,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU PAGE 42 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 3 PHẦN I Lý luận chung về giám đốc điều hành doanh nghiệp 5 I Khái niệm và phân loại 5 1 Khái niệm 5 2 Phân loại 5 II Vai trò của giám đốc doanh nghiệp 6 1 Vai trò khống[.]

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… 3

PHẦN I: Lý luận chung về giám đốc điều hành doanh nghiệp……… 5

I Khái niệm và phân loại……… ……….5

1 Khái niệm……… ……….5

2 Phân loại… ……… 5

II Vai trò của giám đốc doanh nghiệp……… ……….6

1 Vai trò khống chế……… ……….6

2 Vai trò thúc đẩy sự hợp tác……… ……… 6

3 Vai trò khích lệ,cổ vũ nhân viên hăng hái làm việc………… ………….6

4 Vai trò chỉ huy……… ……… 7

5 Vai trò về mặt tổ chức……… ……… 7

III Đặc điểm lao đông của giám đốc doanh nghiệp ……… 7

1 Giám đốc là một nghề 7

2 Lao động quản lý kinh doanh 7

3 Lao động cuả một nhà sư phạm… 8

4 Lao động của nhà hoạt động xã hội… 8

5 Sản phẩm lao động của giám đốc… 8

IV Tố chất cần thiết của giám đốc diều hành doanh nghiệp… ……… 9

1 Khát vọng làm giàu chính đáng…… 9

2 Kiến thức…… 9

3 Có năng lực quản lý và kinh nghiệm tích lũy,tạo dựng một ê kíp giúp việc 10

4 Óc sáng tạo 11

5 Quan sát toàn diện 12

Trang 2

6 Tự tin 12

7 Ý chí,nghị lực,tính kiên nhẫn và lòng quyết tâm 12

8 Phong cách 13

PHẦN II: Thực trạng nghề giám đốc ở Việt Nam hiện nay 14

I Đặc điểm của đội ngũ giám đốc điều hành ở Việt Nam 14

1 Điểm mạnh,điểm yếu và khó khăn… 14

2 Nguyên nhân… 18

II Cơ hội phát triển 20

1 Điều kiện quốc tế 20

2 Cơ hội riêng ở Việt Nam 21

III Một số xu hướng và đặc điểm của nghề giám đốc trong tương lai 27

PHẦN III: Những phương hướng và giải pháp phát triển nghề giám đốc ở Việt Nam 30

I Phương hướng phát triển 30

II Giải pháp… 31

1 Tiêu chuẩn hóa đội ngũ giám đốc 31

2 Tạo môi trường cho việc hình thành và phát triển đội ngũ giám đốc 34

3 Phát huy tính chủ động, sáng tạo của đội ngũ giám đốc hiện tại 35

4 Một số phương pháp được ứng dụng khi đào tạo giám đốc 38

KẾT LUẬN… 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

Trang 3

MỞ ĐẦU

Khơi dậy tinh thần kinh doanh của doanh nhân Việt Nam đang là một chủ đềđược xã hội quan tâm Hiện tượng này nảy sinh từ vai trò trung tâm củadoanh nhân trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Chính họ chứ khôngphải ai khác là người tổ chức và vận hành các tổ chức và các hoạt động kinhdoanh - hoạt động cơ bản và là công cụ tạo ra của cải vật chất cho xã hội.Trước đây doanh nhân chủ yếu bao gồm những giám đốc kiêm chủ sở hữudoanh nghiệp nhưng trong điều kiện một nền sản xuất hàng hóa đang tiếndần lên sản xuất lớn hiện nay, một mình người chủ sở hữu khó lòng tự mìnhđiều hành một doanh nghiệp ngày càng mở rộng về quy mô, nhất là trongđiều kiện họ không muốn trực tiếp quản lý hoạt động kinh doanh nữa Đápứng nhu cầu xã hội đó đồng thời theo quy luật về sự phân công lao động xãhội, một đội ngũ giám đốc - người đứng đầu doanh nghiệp chuyên nghiệp rađời và hình thành nên một nghề mới trong xã hội, nghề giám đốc Nền kinh

tế Việt Nam đang và sẽ phát triển thành một nền sản xuất hàng hóa lớn, do

đó nhu cầu về giám đốc chuyên nghiệp là một nhu cầu khách quan Để pháttriển nghề này một cách có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho hoạt động kinhdoanh của các doanh nghiệp và toàn xã hội, việc đưa ra những nhận định về

xu hướng phát triển của nghề này, những yêu cầu mà những người làm nghềnày phải thỏa mãn và đưa ra một số giải pháp để thúc đẩy sự phát triển cũngnhư tạo điều kiện để người giám đốc chuyên nghiệp có thể hội tụ đủ nhữngtiêu chuẩn cần thiết là một việc làm có ý nghĩa

Đó cũng chính là lý do vì sao em chọn đề tài “Triển vọng phát triển nghề giám đốc ở Việt Nam”.

Trang 4

Kết cấu đề tài gồm 3 phần:

I Lý luận chung về giám đốc diều hành doanh nghiệp.

II Thực trạng nghề giám đốc ở Việt Nam hiện nay

III Những phương hướng và giải pháp phát triển nghề giám đốc ở Việt Nam.

Em xin chân thành cảm ơn: Ts Nguyễn Thu Thủy đã tận tình giúp đỡ

em hoàn thành đề án này!

Trang 5

PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH DOANH NGHIỆP

I KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI ĐỘI NGŨ GIÁM ĐỐC

1 Khái niệm về giám đốc

Hiện nay tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về giám đốc doanh nghiệp

ở các quốc gia khác nhau, song nhìn chung các quan niệm đều thống nhất ởmột số điểm là:

Giám đốc là người được chủ sở hữu doanh nghiệp trao cho quyềnquản lý, điều hành doanh nghiệp theo chế độ một thủ trưởng, chịu tráchnhiệm trước người sở hữu về mọi mặt hoạt động và kết quả hoạt động đó;đồng thời được hưởng thù lao xứng đáng với kết quả người đó mang lại

Họ chính là người lãnh đạo cấp cao nhất trong điều hành doanhnghiệp, họ thường có quyền hành động nhân danh công ty trong mọi trườnghợp( trừ trường hợp quyền đại diện trước pháp luật thuộc về một thành viêntrong hội đồng quản trị)

2 Phân loại đội ngũ giám đốc

Trên cơ sở phân định giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng, điều hànhgiám đốc được chia thành 2 loại chính: giám đốc kiêm chủ sở hữu doanhnghiệp và giám đốc làm thuê

Đề án này xem xét giám đốc với tư cách là một nghề nghiệp, tức làcoi họ là những người lao động làm công ăn lương Với giác độ nghiên cứunhư vậy, theo thống kê ở Mỹ hiện nay có ít nhất 7 loại hay 7 mô hình giámđốc bao gồm:

Một là: giám đốc chủ quản nghiệp vụ của công ty có các chức năng

hoàn chỉnh

Trang 6

Hai là: giám đốc chủ quản nghiệp vụ nhiều nghành nghề với tư cách

pháp nhân của công ty có nhiều nghành nghề

Ba là: giám đốc tập đoàn doanh nghiệp

Bốn là: giám đốc công ty chi nhánh.

Năm là: giám đốc công ty con.

Sáu là: giám đốc của mô hình sản phẩm, kinh doanh, tiêu thụ.

Bảy là: giám đốc mô hình kinh doanh.

II VAI TRÒ CỦA GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH DOANH

NGHIỆP

Khi một chủ sở hữu quyết định đi thuê giám đốc thì sau đó ngườiđược thuê sẽ toàn quyền lãnh đạo doanh nghiệp với điều kiện duy nhất làlàm ra lượng lợi nhuận mong muốn Vì vậy không có gì đáng ngạc nhiên khigiám đốc có vai trò vô cùng to lớn đối với sự thành bại của doanh nghiệp.Vai trò to lớn đó được cụ thể hóa như sau:

1 Vai trò khống chế

Giám đốc cùng những người phụ tá của mình xây dựng nên các quyđịnh, quy chế của doanh nghiệp đế đảm bảo tính có thể kiểm soát được củacác hoạt động trong doanh nghiệp Gíam đốc có trách nhiệm điều chỉnh cáchoạt động vào trong khuôn khổ Mục tiêu này có thể thực hiện bằng cáchtuân thủ chặt chẽ những quy tắc song phải thực hiện hết sức linh hoạt Trọngtâm của vai trò khống chế là khả năng kết hợp giữa ‘mềm’ và ‘rắn’

2 Vai trò thúc đẩy sự hợp tác

Là khả năng phân công, bố trí lao động phù hợp với công việc, khảnăng và sở thích cũng như tiềm năng hợp tác với nhau của người lao động

để họ kết hợp với nhau ăn ý nhất đem lai hiệu quả cao nhất

3 Vai trò khích lệ, cổ vũ nhân viên hăng hái làm việc

Trang 7

Người giám đốc bằng tài năng của minh thuyết phục người lao động,đồng thời bằng những chính sách khuyến khích vật chất và tinh thần khơidậy nguồn động lực làm việc của họ.

4 Vai trò chỉ huy

Đây là một trong năm chức năng quản tri cơ bản, chính là việc ngườigiám đốc bằng mệnh lệnh cũng như nhiều biện pháp khác dảm bảo cho mọihành động của ngưới dưới quyền đều phải nhất trí và hướng vào mục tiêu đã

đề ra

5 Vai trò về mặt tổ chức

Vai trò về mặt tổ chức trong việc bao quát toàn cục và vai trò quyếtsách với tầm mắt nhìn xa trông rộng Với vai trò này giám đốc phải thônghiểu rõ hoạt động của doanh nghiệp về mọi mặt từ tài chính, nhân sự đến sảnxuất kinh doanh đồng thời giám đốc là người chịu trách nhiệm hoạch định

kế hoạch, chiến lược phát triển lâu dài của doanh nghiệp

III ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

1 Gíám đốc là một nghề

Lao động của giám đốc là lao đông chất xám, lao động quản lý, laođộng phức tạp và lao động sáng tạo Nghề giám đốc đòi hỏi quy trình đàotạo hết sức khắt khe nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng về kiến thức khoa họccông nghệ, kinh tế, quản lý, giao tiếp xã hội, ngoại ngữ

2 Lao động quản lý doanh nghiệp

Trước hết là quản lý nguồn vốn Nghề giám đốc không chỉ biết tạonguồn vốn mà còn phải biết sử dụng hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh.Nhiêm vụ của giám đốc là phải xác định được số vốn cần thiết để có biệnpháp giải quyết và xử lý Để có nguồn tài trợ trước hết giám đốc tính toán vàkhẳng định doanh nghiệp làm ăn có lãi, cần phải có kế hoạch trả nợ đảm bảocho các chủ nợ

Trang 8

3 Lao động của một nhà sư phạm

Người giám đốc biết truyền đạt ý kiến chính xác, biết thuyết phục đồngthời cũng là nhà quản lý con người, bảo đảm thu nhập cho người lao động,khơi dậy ý chí và khát vọng làm giàu cho doanh nghiệp, cho xã hội và cho

cá nhân… Người giám đốc phải gương mẫu, có đạo đức không chỉ trong đờisống cá nhân mà cả trong kinh doanh, giữ chữ tín với khách hàng, tôn trọngcấp trên, bao dung với cấp dưới, biết lắng nghe, quyết đoán mà không độcđoán, sáng tạo mà không tùy tiện

4 Lao động của nhà hoạt động xã hội

Biết tuân thủ, hiểu thấu đáo những vấn đề pháp luật, nhất là luật kinh

tế, các chính sách chế độ quy định của nhà nước liên quan đến chức năng,nhiệm vụ hoạt động - kinh doanh của doanh nghiệp Biết tham gia vào côngtác xã hội

5 Sản phẩm lao động của doanh nghiệp

Sản phẩm lao động của giám đốc khá đặc biệt đó là: các quyết định.Quyết định của giám đốc là hành vi sáng tạo mang tính chỉ thị, tác động vàođối tượng quản lý, nhằm giải quyết một vấn đề đã chín muồi trên cơ sở nắmvững quy luật vận động của đối tượng

Quyết định đúng sẽ là chính phẩm, quyết định sai sẽ là phế phẩm.Quyết đinh đúng, kip thời mang lai hiệu quả cao, quyết định sai và khôngkịp thời sẽ mang lại hậu quả nghiêm trọng Muốn nâng cao chất lượng quyếtđịnh thì bản thân giám đốc phải thực sự dân chủ trong quá trình nghiên cứu

và thực hiện quyết định, phải thu hút trí tuệ của tập thể, của các chuyên gia

để lựa chọn phương án tối ưu

Vì mỗi quyết định cần có độ chính xác và tính khoa học cho nên giámđốc cần áp dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật vào việc lựa chọn các quyếtđịnh như các mô hình toán kinh tế, tin học…

Trang 9

IV TỐ CHẤT CẦN THIẾT CỦA GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH DOANH NGHIỆP

1 Khát vọng làm giàu chính đáng

Con người ai cũng có mong muốn, cũng có hi vọng giàu sang Songmong muốn và hi vọng khác với khát vọng làm giàu nhất là làm giàu chínhđáng

Khác với mong muốn và hi vọng chỉ trông chờ vào những điều kiệnkhách quan mà không quen suy nghĩ, hành động, họ sợ thay đổi, khát vọng

là một thứ mong muốn đòi hỏi với một sự thôi thúc mạnh mẽ đến cháy bỏng,

là động lực nội tâm luôn luôn day dứt, thúc đẩy con người phải đạt tới.Những người có khát vọng làm giàu là những người không bao giờ chấpnhận và thỏa mãn với hiện tại, đặc tính của họ là luôn tìm tòi, suy nghĩ vàhành động, không sợ đổi thay, dám trả giá, dám đánh đổi để đạt được mụctiêu: ngày càng giàu có hơn

Tuy nhiên chỉ có khát vọng làm giàu chính đáng, làm giàu bằng sức lực

và tài năng của mình, làm giàu không phải bằng con đường “sống trên lưng

kẻ khác” mới là tố chất cần có của người giám đốc

2 Kiến thức

Kiến thức của giám đốc trước hết phải là kiến thức tổng quát để từ đó

có thể xác định được đầu tư vào đâu, vào lĩnh vực nào, khi nào là thuận lợi

và hiệu quả nhất… Điều này được thể hiện rất rõ qua các doanh nhân nướcngoài đầu tư vào Việt Nam Họ cần phải biết tình hình kinh tế xã hội như thếnào, ngành nào khu vực nào được ưu tiên, ưu đãi? Ở đâu có thể yên ổn làm

ăn lâu dài? Ngoài kiến thức tổng quát giám đốc còn phải có kiến thứcchuyên môn để cò thể hoạch định được các chiến lược, tổ chức, chỉ huy vàkiểm soát hoạt động của doanh nghiệp

Trang 10

Song không phải chỉ có kiến thức là trở thành giám đốc Kiến thức chỉ

là một tiềm năng, khi nào nó được biến thành những chương trình kế hoạch, hành động cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu, thì khi ấy kiến thức mới có sứcmạnh, mới là tiền đề để tạo dựng cơ nghiệp Không chỉ có vậy, nói đến kiếnthức của giám đốc, còn cần nói đến biết sử dụng người giỏi hơn mình về mộtlĩnh vực nào đó bởi kinh doanh là một hoạt động rất phức tạp, không ai cóthể tự hào cho rằng mình có đầy đủ kinh nghiệm, học vấn, kiến thức để vươntới tương lai Adrew Carnegie, một nhà kinh doanh sắt thép của Mỹ khôngchỉ nổi tiếng thế giới về kinh doanh mà còn nổi tiếng về việc sử dụng cácchuyên gia Khi ông chết người ta đã ghi trên nấm mồ của ông dòng chữ

“Đây là nơi yên nghỉ ngàn thu của một người biết cách thu dụng nhữngngười thông minh hơn mình”

3 Có năng lực quản lý và kinh nghiệm tích lũy, tạo dựng một ê kíp giúpviệc

Như trên đã nói, kinh doanh là một lĩnh vực phức tạp nên một giámđốc không thể làm hết mọi việc, ở mọi nơi cùng một lúc Vì vậy để thành đạtphải xây dựng được một ê kíp giúp việc ý hợp tâm đầu Đây là vấn đề có ýnghĩa sống còn đối với mọi giám đốc

Về nguyên tắc, để xây dựng được một ê kíp giúp việc có hiệu quả thìnhững thành viên của nó phải thực sự làm việc với nhau đó cùng thực hiệnmột công việc chung Cần lưu ý, khi một tập thể gồm nhiều thành viên có cátính, nhận thức và quan điểm khác nhau có thể nảy sinh xung đột, bất hòađến mức không chịu hợp tác điều đó sẽ dẫn đến sự nguy hại cho giám đốc.Trong trường hợp như vậy giám đốc phải có biện pháp ngăn chặn và loại trừcác xung đột Muốn giải quyết tốt giám đốc phải hiểu rõ hơn ai hết đặc điểm

cá tính của từng người và bằng sự cởi mở của mình tạo bầu không khí tincậy khuyến khích mọi người giải tỏa những bất bình uẩn khúc và tạo ra sự

Trang 11

thông cảm Khi lựa chọn từng người giúp việc cụ thể ngoài năng lực, sựthẳng thắn trung thực cũng không nên chọn những người chưa nếm mùi thấtbại chua cay, hoặc những người không quan trọng hóa sự thất bại Căn cứvào khảo sát người ta chia mẫu người quản lý ra bốn loại chính:

Thứ nhất, mẫu người quan liêu Những người này luôn chăm chăm làm

đúng quy định đã có, không dám làm khác đi, luôn sợ cấp trên quở trách.Công cụ quan trọng của người này trong quản lý là lập kế hoạch, điều hành,giám sát và báo cáo kết quả

Thứ hai, mẫu người năng động Những người này trong tư duy và hành

động của họ luôn ẩn dấu ý tưởng sáng tạo để đi đến mục tiêu Với họ điềuquan tâm chủ yếu là bằng cách nào để đi đến đích nhanh nhất, có lợi nhất.Công cụ quản lý quan trọng của họ là luôn phân tích tình huống, điều hành,đánh giá, lập kế hoạch thích ứng: thay đổi các hoạt động theo yêu cầu củahoàn cảnh

Thứ ba, mẫu người đề cao tinh thần dân chủ, tập thể Đây là mẫu người

luôn giữ tinh thần tập thể, sẵn sàng bênh vực và bảo vệ quyền lợi của cácthành viên, luôn giúp đỡ cấp dưới của mình Công cụ quản lý quan trọng làquyết định tập thể, lập ê kíp; giám sát động viên khuyến khích trưởng thànhtrong nghề nghiệp và củng cố lòng yêu nghề

Thứ tư, mẫu người độc tài chuyên chế Đây là mẫu người chủ yếu chỉ

quan tâm tới lợi ích của họ Công cụ quản lý quan trọng nhất của mẫu ngườinày là dự toán chi phí; quản lý hình thức (không thực chất); quyết định cánhân

4 Óc quan sát

Bên cạnh ê kíp giúp việc tốt, để tổ chức quá trình kinh doanh có hiệuquả, giám đốc cần tháo vát và có óc sáng tạo Việc tích cực thường xuyêntìm tòi cái mới trong hoạt động trí tuệ là những yếu tố không thể thiếu của

Trang 12

giám đốc Một vị giám đốc cần có sự thông minh, óc nhìn xa trông rộng, khảnăng tiên đoán và phân tích tình huống để hoạch định kế hoạch trong tươnglai Tuy nhiên sự thông minh ở đây cần được hiểu đó là khả năng phản ứngnhanh nhạy, khôn ngoan trước sự diễn biến của thị trường.

5 Quan sát toàn diện

Đây là một thuộc tính cơ bản của năng lực tổ chức ở người lãnh đạo

và đây là kĩ năng để nắm bắt được tình hình chung Với tầm nhìn bao quát,đầy đủ toàn diện người giám đốc sẽ thấy được cái chính, cái chủ yếu, đồngthời thấy được cái chi tiết, tỉ mỉ Với óc quan sát, người giám đốc nhanhchóng tìm ra nguyên nhân của những khó khăn và trí tuệ trong công việc

Tin tưởng là chất xúc tác của trí tuệ Khi lòng tin nung nấu trong contim sẽ trở thành động lực cực mạnh, đẩy con người đến quyết tâm Nó làkhởi điểm để tạo dựng cơ nghiệp, nó hóa giải mọi thất bại, là cơ quan duynhất của con người tạo nên sức mạnh vạn năng của khối óc và vô biên

7 Ý chí, nghị lực, tính kiên nhẫn và lòng quyết tâm

Kinh doanh là công việc cực kì khó khăn và phức tạp, là lĩnh vực hoạtđộng gắn liền với rủi ro và bất trắc Vì thế muốn trở thành giám đốc phải có

ý chí, nghị lực, tính kiên nhẫn và lòng quyết tâm

Khi là giám đốc không bao giờ được nản chí, đầu hàng ngoại cảnh,không bao giờ được bỏ dở ý định khi gặp phải khó khăn và trở ngại nhất thời

vì trên thương trường không có ai là chưa nếm mùi thất bại Bởi vậy, nếu có

Trang 13

gặp thất bại trong kinh doanh thì người giám đốc phải coi đó là chuyệnthường tình, không gặp may, và hãy coi thất bại là một kinh nghiệm quý giá,

là động lực thúc đẩy khiến ta phải xem xét lại một cách nghiêm túc hànhđộng của mình, để rồi xây dựng cho mình kế hoạch cần phải làm gì và làmnhư thế nào để đi đến thành công

Ông cha ta dạy rằng: “Có công mài sắt có ngày nên kim” Nhìn lại cácdoanh nghiệp thành đạt cho ta thấy, hầu hết đều xuất phát từ hoàn cảnh thực

tế rất ngặt nghèo, gặp vô vàn khó khăn, trở ngại Và nhiều khi, trước nhữnggiờ phút khủng hoảng họ nhận ra bản ngã của mình

8 Phong cách

Giám đốc không phải chỉ là nhà lãnh đạo, chỉ huy kinh doanh mà còn

là nhà “ngoại giao” thuyết khách Do đó trong những tư chất không kémphần quan trọng đối với giám đốc chính là “sức quyến rũ”, khả năng chếngự người khác thông qua phong cách của mình

Phong cách của giám đốc thường được biểu hiện dưới hai hình thức

là phong cách hữu hình và phong cách vô hình Phong cách hữu hình đượcbiểu lộ thông qua giọng nói, tiếng cười, cử chỉ tay, cách đi đứng… Cònphong cách vô hình phát lộ qua bên ngoài thông qua nhận thức mang tínhlinh cảm của người khác Phong cách cũng là lợi thế rất lớn đối với những aimuốn trở thành giám đốc

Những tố chất trên mang tính năng khiếu bẩm sinh Song nói như thếphải chăng giám đốc là thứ trời sinh Thực tế không hoàn toàn như vậy,trong mỗi con người chúng ta ít nhất đều có những tố chất ấy, và nó chỉ khácnhau ở mức độ và hình thức biểu hiện Có những người sinh ra đã phát lộnhững tố chất trên, đó là những người may mắn và họ có đủ điều kiện thuậnlợi để trở thành giám đốc Song cũng có những người, các tố chất trên còn ở

Trang 14

dạng tiềm ẩn, muốn trở thành giám đốc phải khổ công rèn luyện để hối thúccác tố chất đó phát lộ ra bên ngoài.

PHẦN II THỰC TRẠNG NGHỀ GIÁM ĐỐC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

I ĐẶC ĐIỂM VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA ĐỘI NGŨ GIÁM ĐỐCCHUYÊN NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1 Điểm mạnh, điểm yếu và khó khăn

Đội ngũ giám đốc hiện nay có nhiều điểm mạnh cũng là một tố chấtcần thiết để trở thành một giám đốc Họ có khát vọng làm giàu, khát vọngđưa gia đình mình, quê hương đất nước mình ra khỏi nghèo nàn lạc hậu, tiếnkịp trình độ phát triển chung trên thế giới Họ có trình độ văn hóa, bên cạnh

đó trình độ chuyên môn cũng ngày càng được nâng cao thông qua những nỗlực của bản thân họ và sự trợ giúp từ các tổ chức giáo dục, tổ chức hỗ trợdoanh nghiệp Họ cũng mang trong mình dòng máu Việt Nam và do đó cóđược đức tính kiên trì, bền bỉ, mặt khác nhờ quá trình hoạt động trong cơ chếthị trường và hội nhập kinh tế quốc tế mà họ đã trở nên nhanh nhạy đối với

cơ hội kinh doanh hơn rất nhiều lần so với thời kì trước đổi mới Đó lànhững đặc điểm nổi bật của những giám đốc chuyên nghiệp so với lực lượnglao động Việt Nam nói chung

Bên cạnh đó đội ngũ này còn có một số yếu điểm và gặp một số khókhăn như trình bày dưới đây:

Lực lượng giám đốc chuyên nghiệp ở Việt Nam hiện nay còn quá mỏng về số lượng Để chứng minh cho điều này xin đưa ra đây một vài con

số8: nước ta có khoảng 80 triệu dân mà mới có trên 50.000 doanh nghiệp Cóthể so sánh với nước Bỉ có 10 triệu dân nhưng có tới 700.000 doanh nghiệp;

Trang 15

nước Pháp có 60 triệu dân có tới 2,4 triệu doanh nghiệp; Đài Loan có 22triệu dân có 1,2 triệu doanh nghiệp Ở đây chúng ta không đề cập đếnnguyên nhân mà chỉ đưa ra con số để thấy rằng số doanh nghiệp còn ít ỏinhư thế thì chắc chắn số lượng giám đốc cũng tương xứng và đặc biệt giámđốc chuyên nghiệp lại càng ít hơn Theo quan điểm triết học, khi chưa có sựtích tụ đủ về số lượng thì chưa thể xảy ra sự chuyển hóa về chất Do đó vớimột đội ngũ nhỏ bé thì tính chuyên nghiệp, tính cạnh tranh chưa cao và tiếngnói của tầng lớp người mới này chưa được nhiều người quan tâm là điều dễhiểu Điều này sẽ tiếp tục làm rõ trong những phần tiếp theo.

Đội ngũ này vẫn đứng trước sự đánh giá không công bằng từ phía xã hội: Môi trường văn hóa xã hội là một trong những yếu tố quan trọng hàng

đầu tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất kinh doanh, trong đó có nghề giám đốc.Trong số các yếu tố cấu thành môi trường đó, quan niệm và ứng xử của cáctầng lớp dân cư lại giữ vai trò trụ cột Giám đốc cũng là một bộ phận củanhững người được gọi là doanh nhân, do đó qua những đánh giá về doanhnhân nói chung ta có thể thấy được phần nào sự nhìn nhận về nghề giámđốc Một phần do tư tưởng “trọng nông ức thương” còn rơi rớt, phần khác

do ảnh hưởng xấu của những giám đốc bê bối và do tầm quan trọng chưađược chứng minh mà tầng lớp giám đốc cũng như doanh nhân chưa nhậnđược nhiều thiện cảm từ đông đảo xã hội, đâu đó còn nhiều cái nhìn tiêucực, còn có những hành vi gây cản trở kinh doanh chính đáng của họ Theokết quả cuộc điều tra xã hội học “Hoàn thiện và nêu cao giá trị Việt Namtrong văn hóa kinh doanh như một lợi thế cạnh tranh và hội nhập kinh tếquốc tế” do trung tâm khoa hoc xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh,

có 35% cho rằng “đa số những người làm ăn bây giờ không biết trọng chữtín” , 42% cho rằng công ty tư nhân là nơi thường buôn lậu,trốn thuế, đútlót…chỉ có 59% nhận xét rằng nhà kinh doanh tư nhân hiện nay được nhiều

Trang 16

người tôn trọng Phải chăng họ cũng cần được tôn vinh như những conngười cao quý khác, mà theo một quan điểm có ba lớp người như thế, đó là:Cán bộ công chức bộ máy hành chính nhà nước có đủ tri thức và phẩm chấtđạo đức về quản lý nhà nước trong thể chế kinh tế thị trường; các nhà khoahọc và công nghệ và các doanh nhân thuộc mọi thành phần kinh tế.

Tuy nhiên tình hình này ngày càng được cải thiện rõ rệt thể hiện ở sựquan tâm của nhà nước trong các bằng khen cho những giám đốc có thànhtích kinh doanh tốt, ở việc ngày càng có nhiều giải thưởng tôn vinh nhữnggiám đốc thưc sự có tài năng như giải thưởng Sao Đỏ của Hội doanh nghiệptrẻ Việt Nam Cũng theo cuộc điều tra nói trên, nghề kinh doanh được nhìnnhận và người giàu không còn bị đố kị Tâm lí nhìn nhận vai trò cần thiết vàchính đáng của hoạt động kinh doanh đã được khẳng định mạnh mẽ trong ýthức người dân hiện nay, khác hẳn so với thời kì chưa đổi mới 94% sốngười được hỏi cho rằng “kinh doanh là một nghề có ích cho xã hội”, “kinhdoanh cũng là một thứ lao động” (97%) Tâm lí đố kị đối với người giàu,vốn phổ biến trong xã hộ Việt Nam cổ truyền cũng như trong thời kì bao cấptrước đây cũng đã bị đẩy lùi rõ rệt: 74% trả lời đồng ý với mệnh đề “ngườibiết làm giàu là người đáng quý trọng” và 77% phản đối ý kiến cho rằng

“người giàu chẳng bao giờ tốt với người khác”

Một đặc điểm khác đó là loại hình giám đốc khá phong phú nhưng phân bố không đều giữa các khu vực doanh nghiệp ở Việt Nam Với tư cách

là những người làm công ăn lương, đội ngũ giám đốc chuyên nghiệp ở ViệtNam bao gồm: giám đốc doanh nghiệp nhà nước, giám đốc chi nhánh vàcông ty con của các công ty nước ngoài; giám đốc liên doanh và một bộphận rất nhỏ làm việc cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trong đó, các giám đốc doanh nghiệp nhà nước có thể bao gồm một

số loại hình trong 7 mô hình giám đốc được liệt kê ở phần Vai trò (II) đó là:

Trang 17

giám đốc tập đoàn doanh nghiệp; giám đốc chủ quản nghiệp vụ của các công

ty có các chức năng hoàn chỉnh; giám đốc chủ quản nghiệp vụ với tư cáchpháp nhân của công ty có nhiều ngành nghề; giám đốc mô hình kinh doanh(giám đốc của một hay nhiều nhà máy)

Như vậy nghề giám đốc mới chỉ thức sự hình thành trong khu vựckinh tế nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Còn đội ngũquản lí trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ theo điều tra thì đa số vừa là chủ

sở hữu, vừa là người điều hành Tuy nhiên trong khu vực có vốn đầu tư nướcngoài, số lượng các quản trị viên Việt Nam được thuê làm tổng giám đốchay giám đốc còn rất ít, hầu hết những chức vụ này do người ở quê hươngcủa công ty mẹ sang để đảm nhiệm, người Việt Nam chỉ làm phụ tá Hơnnữa các doanh nghiệp đã trải qua một thời kì dài trì trệ và đang trong thời kìchuyển đổi nên tính cạnh tranh của môi trường phát triển nghề giám đốcchưa cao, chưa có tác dụng tốt tới sự phát triển nghề nghiệp này

Nhìn từ một góc độ bao quát nhất, đội ngũ giám đốc Việt Nam nói chung còn nhiều mặt hạn chế khác như:

Xuất phát từ quan điểm hoạt động quản lí của các nhà quản lí nóichung, đội ngũ giám đốc nói riêng là hoạt động có tính nghề nghiệp mà xétthì những yếu kém đó là: về trình độ nghề nghiệp, về năng lực quản lí, vềkiến thức pháp luật, về đạo đức kinh doanh mà đáng chú ý là thiếu tính cộngđồng, thiếu ý chí làm ăn lớn, chưa dám mạo hiểm và chịu rủi ro, chữ tínkém

Với những giám đốc làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nướcngoài, họ được đào tạo bài bản hơn nhưng rõ ràng chưa thể cạnh tranh đượcvới đội ngũ này ở các nước khác Bằng chứng là có nhiều người châu Á làmgiám đốc cho các công ty phương Tây ở Việt Nam, nhưng số người ViệtNam làm được điều này rất hiếm hoi Cho tới thời điểm này mới chỉ có một

Trang 18

giám đốc người Việt Nam làm việc cho một công ty toàn cầu, đó là Giámđốc Marketing của công ty Pepsi.

Như vậy, đội ngũ giám đốc chuyên nghiệp ở Việt Nam hiện nay chưađáp ứng được nhu cầu trong nước và đồng thời còn thua kém rất nhiều sovới những đồng nghiệp ở các nước phát triển

2 Nguyên nhân của tình trạng trên

Một là, những nguyên nhân khách quan:

Môi trường chính trị, kinh tế, xã hội đặc biệt là môi trường thể chế vớinhững điều kiện thuận lợi hoặc không thuận lợi của môi trường ấy đối vớidoanh nhân và do đó đối với nghề giám đốc

Nền kinh tế phát triển theo hướng thị trường chưa lâu Điều này dẫnđến hệ quả là các giám đốc chưa được tôi luyện trong môi trường cạnh tranhqua một thời gian dài do đó chưa có cơ hội để rèn luyện cho mình nhữngđức tính, những bản lĩnh cần thiết để tồn tại trong một môi trường như thế.Một hệ quả khác đó là khoảng thời gian nhắn ngủi ấy chưa đủ để chúng ta cóthể đúc kết những quy luật hay kinh nghiệm để truyền đạt trong nhữngtrường đào tạo

Những thay đổi về thể chế quản lý không giành đủ thời gian cho cácgiám đốc cũ thích nghi: Sau khi hòa bình được lập lại, nền kinh tế miền Bắcphát triển theo hướng kế hoạch hóa tập trung Miền Nam được giải phóngtiếp tục tăng cường sự nhất thể hóa cơ chế tập trung trên toàn quốc Nhữngbài học để hoàn thiện mô hình quản lý kiểu tập trung còn dang dở thì chúng

ta phải làm quen để tiếp cận với một thiết chế quản lý hoàn toàn mới mẻ củathị trường Đội ngũ quản lý vốn xuất thân từ công- nông mới học tập để theokịp yêu cầu cuả kiểu quản lý hành chính lại phải chuyển sang theo yêu cầucủa cơ chế thị trường hoàn toàn mới mẻ Trong bối cảnh đó sự thiếu thốnkiến thức cần được nhìn nhận như một tất yếu khách quan bởi các lý do sau:

Trang 19

Kiến thức kinh doanh theo cơ chế thị trường không hề có sự kế thừanào cho đội ngũ quản lý của chúng ta Do đó họ phải tiến hành các cuộc thửnghiệm mà trong đó sự trả giá cho sai lầm là không nhỏ, đôi khi là ấu trĩ.Hơn nữa họ lại không được đào tạo bài bản một cách có hệ thống.

Năng lực quản lý và điều hành yếu kém của cán bộ quản lý vĩ mô nềnkinh tế thể hiện trong chế độ bổ nhiệm, đề bạt, thuyên chuyển… Đặc biệt sựvận hành xơ cứng, mang nặng tính hành chính kéo theo tệ quan liêu, sáchnhiễu thực sự là cản trở đối với quá trình đổi mới kinh doanh của các doanhnghiệp

Yếu kém trong hệ thống đào tạo mà trước hết và cụ thể là sự thiếu hụtkiến thức của đội ngũ giáo viên đào tạo kinh doanh Một thời gian dài, hệthống dân doanh bị phủ định nên trên thực tế chỉ còn là những hoạt động cótính chất tiểu thương, hay còn gọi là thương mại vỉa hè Các hoạt động nàymang tính chất thị trường nhưng ở mức độ thấp, đến mức mà tự nó khó cóthể đúc kết thành các luận điểm khoa học Nói tóm lại kiến thức về nền kinh

tế thị trường như là bài học có tính bắt đầu

Một lý do khác được nhiều người nhắc đến đó là quan niệm về đồngtiền trong dân cư Quan niệm này dẫn đến thành kiến về nghề kinh doanh,nghề giám đốc Cuộc điều tra xã hội họ kể trên đã khám phá ra một vấn đề làquan niệm khinh miệt đồng tiền Phần lớn những người có thành kiến vớinhà kinh doanh tư nhân đều cho rằng “ người kinh doanh là người chỉ biếtchạy theo đồng tiền” và “sống theo nhân nghĩa thì khó mà làm giàu được”.Thực ra, suy nghĩ theo nghĩa này không có nghĩa là coi khinh bản thân đồngtiền, mà là e sợ và khinh miệt những hậu quả xấu về mặt xã hội mà quan hệtiền tệ có thể xảy ra Thái đội khinh miệt đồng tiền này có nguồn gốc nhậnthức từ quan niệm đế cao chữ “nhân”, chữ “nghĩa”, coi khinh chữ “lợi” trong

tư tưởng đạo đức Nho giáo Thái độ này còn có nguồn gốc kinh tế xã hội của

Trang 20

nó đó là bối cảnh xã hội cổ truyền tự cung tự cấp trong quá trình bị xâmchiếm và từng bị giải thể bởi sự tác động của các quan hệ tiền tệ trong nềnkinh tế thị trường Trong quá trình này, người ta cảm thấy các giá trị bị đảolộn, các quan hệ xã hội bị thay đổi không còn như trước nữa Vì không hiểu,không thích ứng kịp với quá trính chuyển động này của xã hội nên dẫn đếnngười ta coi đồng tiền chính là thủ phạm của tình trạng rối ren trên Trongkhi đó, đại biểu dễ thấy nhất của quá trình này lại là thương buôn Thànhkiến về nghề kinh doanh càng có cơ hội phát triển trong môi trường kinhdoanh hiện nay không thực sự thuận lợi cho những người có tài, có khả năngkinh doanh mà chỉ khuyến khích những người quan hệ giỏi Xoay sở vất vảnhất đối với doanh nghiệp không phải quan hệ giao dịch trên thị trường mà

là trong quan hệ với các cơ quan quản lý nhà nước

Hai là, những nguyên nhân chủ quan của các giám đốc: với những

giám đốc của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì hạn chế này íthơn vì hầu hết họ được đào tạo ở nước ngoài và phải thương xuyên hoànthiện mình để tồn tại trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, trở lực chính đốivới họ chưa tiếp xúc được trình độ quản trị cấp cao Còn với khu vực kinh tếnhà nước, dù đã đi qua hơn 10 năm đổi mới nhưng nhiều giám đốc vẫn giữthói quen tư duy cũ, không chịu học hỏi để đổi mới bản thân mình

II.CƠ HỘI PHÁT TRIỂN CHO NGHỀ GIÁM ĐỐC Ở VIỆT NAM

1 Điều kiện quốc tế nói chung

Hằng năm có nhiều doanh nghiệp bắt đầu thực hiện công việc kinhdoanh mới Nhiều doanh nghiệp mới ra đời là điều kiện thuận lợi cho sựphát triển nghề giám đốc vì số công ty có khả năng phát triển lên quy mô sẽtăng Một doanh nghiệp điển hình có quy mô lớn đến năm 2010 sẽ có cấpquản lý ít hơn một nửa so với các đối tác năm 1990 và có số cán bộ quản lýchỉ bằng khoảng 1\3 do hệ thống quản lý bằng máy tính có thể giúp mở rộng

Trang 21

phạm vi kiểm soát của một nhà quản lý từ 6 đến 21 nhân viên Phương thức

tổ chức dựa trên thông tin sẽ đòi hỏi các nhà lãnh đạo phải là các chuyên giatrong kinh doanh Do nhu cầu chuyên môn hóa tăng lên, việc tìm kiếmnhững nhà quản lý hàng đầu có kinh nghiệm để điều hành một doanh nghiệplớn trở nên khó khăn và việc tìm kiếm này ngày càng gia tăng

Khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng cùng với xu hướng quốc tếhóa đang tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc phát triển những ngành kinhdoanh có quy mô lớn Những tiến bộ khoa học kĩ thuật sẽ rất nhanh chóng bịlỗi thời do tốc độ cải tiến đáng kinh ngạc Trong điều kiện khó khăn đónhưng lại có một thuận lợi khác đó là thị trường toàn cầu, các doanh nghiệp

sẽ phải tổ chức sản xuất và phân phối ào ạt trên quy mô lớn Quy mô sảnxuất lớn là điều kiện đầu tiên cho việc thuê thêm những nhà quản trị chuyênnghiệp là giám đốc

2 Những cơ hội riêng có của Việt Nam

a Việt Nam sẽ tham gia tích cực vào xu thế toàn cầu, đặc biệt là gia nhập WTO và tác động của việc hội nhập.

Hiện nay Việt Nam đang tham gia vào một số định chế kinh tế khuvực như AFTA, APEC cùng những hợp tác trong khuôn khổ ASEM và tíchcực chuẩn bị để hội nhập vào một định chế kinh tế toàn cầu đó là WTO

Nhìn chung bên cạnh nhược điểm phải tốn thêm chi phí phát triển cơ

sở vật chất, công tác ở nhiều nơi, sửa đổi một chút hàng hóa để phù hợp vớithị trường mới, việc hội nhập kinh tế đem đến một số lợi ích cơ bản to lớnnhư sau:

Tăng khả năng cạnh tranh nội địa do tìm được nhà cung cấp rẻ hơn;tăng số lượng hàng bán và từ đó tăng lợi nhận; giảm sự lệ thuộc vào nhữngthị trường và nhà cung cấp hiện có; mở rộng tiềm năng bán hàng đối vớinhững sản phẩm hiện có nhờ những chi phí thấp; khắc phúc sự biến động

Ngày đăng: 23/03/2023, 11:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) Mô hình Holding company. Trích báo đầu tư 14/ 2006 Khác
2) Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX ( thông báo Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành TƯ khóa IX) Khác
3) Gíáo trình kinh tế và quản lý công nghiệp. Đại học kinh tế quốc dân.Nxb thống kê. 1999 Khác
4) Giáo trình Quản trị doanh nghiệp. Đại học kinh tế quốc dân.Nxb thống kê. 2003 Khác
5) Kinh tế trí thức trong quá trình CNH-HĐH thực hiện sự phát triển định hướng hiện đại, rút ngắn. Lê Cao Đoàn. Nghiên cứu kinh tế số 306 Khác
6) Một số ý kiến về việc thành lập tập đoàn doanh nghiệp Việt Nam.Phạm Quang Huấn. Nghiên cứu kinh tế số 306 Khác
7) Nền kinh tế Việt Nam chuẩn bị cho việc gia nhập WTO. Thời báo kinh tế Việt Nam số 34 Khác
8) Quan niệm của người Việt Nam về kinh doanh (thời báo kinh tế Sài Gòn). www.doanhnhan.com Khác
9) Nuôi dưỡng tinh thần doanh nghiệp ( thời báo kinh tế Sài Gòn).www.doanhnhan.com Khác
10) Lãnh đạo doanh nghiệp trong thời kỳ kinh tế bất ổn. Ram Charan.Nxb tổng hợp TP. Hồ Chí Minh Khác
11) Hiệu quả hoạt động quản lý doanh nghiệp công nghiệp. Đinh Tiến Dũng. Nxb thống kê Khác
12) FDI thực hiện không giảm nhiều so với năm 2008. Báo Đầu tư 2009 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w