Chính vì vậy, em xin nghiên cứu đề tài “Tiềm năng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư song phương Việt Nam CHLB Đức và các giải pháp thúc đẩy” nhằm làm rõ thêm tầm quan trọng của đố
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-*** -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Thương mại quốc tế
TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI
VÀ ĐẦU TƯ SONG PHƯƠNG VIỆT NAM – CHLB ĐỨC
VÀ CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY
Họ và tên sinh viên: Phạm Tài Nguyên
Mã sinh viên: 0851020167 Lớp: Nhật 4 – Khối 5 KT Khóa: 47
Người hướng dẫn khoa học: Th.S Nguyễn Thị Xuân Hường
Hà Nội, tháng 05 năm 2012
Trang 2Mục lục
Lời mở đầu 1
Chương 1 Khái quát về quan hệ kinh tế, thương mại giữa Việt Nam – CHLB Đức 3
1.1 Vài nét về lịch sử quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và CHLB Đức 3 1.1.1 Vài nét về lịch sử quan hệ ngoại giao, kinh tế - xã hội giữa hai nước 3
1.1.2 Sơ lược về quan hệ thương mại, đầu tư giữa hai nước 4
1.2 Phát triển quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam – CHLB Đức là xu thế tất yếu 9
1.2.1 Vài nét lịch sử về nền kinh tế CHLB Đức 9
1.2.2 Xu thế tất yếu của quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam – CHLB Đức 13
1.3 Những cơ sở cho sự phát triển quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam – CHLB Đức 15
1.3.1 Những cơ sở chung cho mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam – EU 15
1.3.2 Những cơ sở riêng của quan hệ hợp tác giữa Việt Nam – CHLB Đức 17
Chương 2 Thực trạng quan hệ thương mại và đầu tư song phương Việt Nam – CHLB Đức giai đoạn 2005 - nay 20
2.1 Thực trạng quan hệ thương mại song phương Việt Nam – CHLB Đức 20
2.1.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều 20
2.1.2 Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu 21
2.1.3 Một số nhận xét, đánh giá chung 24
2.2 Thực trạng quan hệ đầu tư song phương Việt Nam – CHLB Đức 26
2.2.1 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam 26
2.2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của CHLB Đức tại Việt Nam 30
2.2.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam tại CHLB Đức 33
2.2.4 Một số nhận xét, đánh giá chung 38
2.3 Một số vấn đề về hợp tác phát triển toàn diện 40
2.3.1 Viện trợ ODA của CHLB Đức tại Việt Nam 40
2.3.2 Hợp tác phát triển trong các lĩnh vực 42
2.4 Những tác động của quan hệ thương mại và đầu tư với CHLB Đức tới tình hình phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam 46
2.4.1 Tác động tương hỗ thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển 46
2.4.2 Thúc đẩy phát triển khoa học - công nghệ 49
2.4.3 Thúc đẩy phát triển và nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam 50
2.4.4 Thúc đẩy giao lưu văn hóa, giáo dục 51
Trang 3Chương 3 Tiềm năng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư song phương Việt
Nam – CHLB Đức 53
3.1 Mục tiêu và phương hướng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư song phương giữa hai nước trong thời gian tới 53
3.1.1 Những quan điểm cơ bản 53
3.1.2 Những mục tiêu và phương hướng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư song phương giữa hai quốc gia trong thời gian tới 54
3.2 Một số giải pháp từ phía Việt Nam nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại và đầu tư song phương giữa hai nước 58
3.2.1 Những giải pháp, chính sách vĩ mô 58
3.2.2 Những giải pháp, chính sách vi mô 63
3.2.3 Một số giải pháp khác 67
Kết luận 69
Tài liệu tham khảo 70
Trang 4Danh sách các từ viết tắt
Chữ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
ASEAN Association of Southeast Asian
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
EC European Commission Ủy ban châu Âu
EU European Union Liên minh châu Âu
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài FTA Free Trade Area Hiệp định thương mại tự do GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
GSP Generalized System of
Preferences Ưu đãi thuế quan phổ cập
KFW Kreditanstalt für Wiederaufbau
(Tiếng Đức) Ngân hàng Tái thiết Đức
ODA Official Development
Assistance Viện trợ phát triển
PCA Partnership and cooperation
Agreement
Hiệp định đối tác và hợp tác toàn diện
S&D Special and Differencial
Treatment Đối xử đặc biệt và khác biệt
VCCI Vietnam Chamber of
Commerce and Industry
Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 5Lời mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu thế tất yếu định hình nên nền kinh tế và thương mại toàn cầu Không nằm ngoài xu hướng đó, Việt Nam – một quốc gia đang phát triển đã có những bước đi mạnh mẽ và dần dần hội nhập sâu rộng hơn với kinh tế toàn cầu Điều đó đang tạo đà thúc đẩy cho Việt Nam đạt được mức tăng trưởng kinh tế vô cùng nhanh chóng trong thập kỷ vừa qua, đưa Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình thấp với GDP bình quân mỗi người đạt 1.400 USD/năm (số liệu từ Tổng cục thống kê công bố ngày 29/12/2011) Đóng góp vào
sự phát triển đầy ấn tượng đó thì không thể không kể đến mối quan hệ thương mại, đầu tư với liên minh châu Âu (EU), một đối quan trọng bậc nhất của Việt Nam Trong số 27 quốc gia thành viên EU thì không thể không nhắc tới nền kinh tế lớn nhất khu vực, đó là Cộng Hòa Liên Bang (CHLB) Đức Có thể nói CHLB Đức là quốc gia có nền kinh tế vững mạnh và ổn định nhất EU từ trước tới nay Chính vì vậy, Việt Nam luôn luôn coi trọng tiềm năng phát triển quan hệ thương mại với CHLB Đức, khi mà cuộc khủng hoảng tài chính 2008 vẫn còn những tàn dư và khủng khoảng nợ công châu Âu đang diễn ra chưa có hồi kết thì việc thúc đẩy quan
hệ kinh tế với những nước như CHLB Đức đang ngày càng trở nên quan trọng và mang tính chiến lược đối với Việt Nam Chính vì vậy, em xin nghiên cứu đề tài
“Tiềm năng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư song phương Việt Nam
CHLB Đức và các giải pháp thúc đẩy” nhằm làm rõ thêm tầm quan trọng của đối
tác kinh tế lớn mạnh nhất châu Âu này với Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu
Bài khóa luận nhằm làm rõ lịch sử phát triển, thực trạng quan hệ thương mại
và đầu tư song phương giữa Việt Nam và CHLB Đức, từ đó đánh giá tiềm năng phát triển trong quan hệ hai nước và kiến nghị một số giải pháp từ phía Việt Nam nhằm tăng cường, thúc đẩy quan hệ hợp tác thương mại, đầu tư và các lĩnh vực khác với CHLB Đức
Trang 63 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Bài khóa luận đi sâu, tập trung nghiên cứu quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và CHLB Đức Ngoài ra còn nghiên cứu các mối quan hệ hợp tác phát triển toàn diện trong các lĩnh vực giữa hai nước như viện trợ phát triển (ODA), hợp tác khoa học công nghệ, giao lưu văn hóa, giáo dục…
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng dựa trên các phương pháp nghiên cứu khoa học: phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp thống kê và so sánh, phương pháp quy nạp
5 Cấu trúc khóa luận
Chương 1 : Khái quát về quan hệ kinh tế, thương mại giữa Việt Nam – CHLB
Em xin cảm ơn thạc sĩ Nguyễn Thị Xuân Hường, giảng viên khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế trường đại học Ngoại Thương đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành
đề tài khóa luận tốt nghiệp này
Trang 7Chương 1 Khái quát về quan hệ kinh tế, thương mại giữa Việt Nam – CHLB Đức.
1.1 Vài nét về lịch sử quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và CHLB Đức
1.1.1 Vài nét về lịch sử quan hệ ngoại giao, kinh tế - xã hội giữa hai nước
Việt Nam và CHLB Đức chính thức thiết lập quan hệ Ngoại giao cấp Đại sứ ngày 23/9/1975 Thời gian đầu mối quan hệ chính trị giữa hai nước chỉ phát triển một cách chậm chạp, vì trong các vấn đề liên quan đến CHLB Đức và châu Âu Việt Nam theo đường lối của Liên Xô trước kia.Từ đầu những năm 1990 đến nay, quan
hệ giữa hai nước phát triển rất tốt khi có nhiều đoàn cấp cao giữa chính phủ hai nước tích cực viếng thăm, giao lưu lẫn nhau Nhiều năm qua, CHLB Đức và Việt Nam đã xây dựng và duy trì mối quan hệ hợp tác song phương hết sức bền chặt Ngay từ năm 1955, những thiếu niên Việt Nam đầu tiên đã sang CHLB Đức học tập Đến nay, cộng đồng người Việt đang sinh sống và làm việc tại CHLB Đức đã lên tới khoảng 100.000 người Đây là nhịp cầu quan trọng kết nối tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước
Về quan hệ kinh tế - xã hội, gần đây nhất là chuyến viếng thăm của Thủ tướng
Đức, bà Angela Merkel tới Việt Nam với “Tuyên bố chung Hà Nội: Việt Nam - Đức
- đối tác chiến lược vì tương lai" được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng
Đức Angela Merkel ký ngày 11/10/2011 tại Hà Nội đã thực sự tạo ra một bước chuyển lớn về chất Đặc biệt tuyên bố chung có đoạn "Việt Nam và Đức nhất trí thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, tăng cường hợp tác chặt chẽ trong thời gian tới, đặc biệt là trong những lĩnh vực then chốt" Với 5 lĩnh vực then chốt được nêu rõ trong Tuyên bố chung Hà Nội gồm có: hợp tác chính trị chiến lược; thương mại và đầu tư; tư pháp và pháp luật; phát triển và bảo vệ môi trường; giáo dục, khoa học, công nghệ, văn hóa, truyền thông và xã hội Điều này được kỳ vọng sẽ tạo đà thúc mạnh mẽ mối quan hệ song phương, phù hợp với mong đợi của lãnh đạo và người
Trang 8dân hai nước, là bước tiến mới vô cùng quan trọng làm cơ sở cho sự phát triển quan
hệ giữa hai quốc gia trong thời gian tới
1.1.2 Sơ lược về quan hệ thương mại, đầu tư giữa hai nước
Từ khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới thì quan hệ giữa hai nước đã được cải thiện liên tục so với thời điểm thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1975 và có một sự cải thiện rõ rệt khi nước Đức được thống nhất Phía Việt Nam đã sẵn sàng hợp tác chặt chẽ với nước Đức thống nhất (CHLB Đức) như với Cộng hòa dân chủ Đức trước kia Từ đầu những năm 1990 đến nay, quan hệ giữa hai nước phát triển tốt Hai nước có quan điểm tương đồng trong các vấn đề quốc tế lớn, thường xuyên trao đổi, phối hợp trong các diễn đàn đa phương Không có vướng mắc hoặc những vấn đề cần giải quyết do lịch sử để lại Hai nước đã ký kết một số hiệp định tạo cơ
sở pháp lý cho quan hệ hợp tác kinh tế như: Nghị định thư về hợp tác và phát triển, Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, các Hiệp định hợp tác hàng hải, hàng không… Cũng từ đầu thập niên 1990, các đối tác CHLB Đức đã bắt đầu quan tâm tới đầu tư tại Việt Nam với một số dự án của các tập đoàn hàng đầu của Đức như Siemens, DHL
CHLB Đức hiện nay là đối tác thương mại lớn nhất trong các nước thành viên
EU của Việt Nam, với kim ngạch thương mại hai chiều tăng trưởng khoảng 15% mỗi năm trong giai đoạn 2007-2009, khi mà kinh tế toàn cầu gặp không ít khó khăn khi phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính Những năm gần đây kim ngạch thương mại hai chiều bắt đầu tăng mạnh, cụ thể năm 2009 đạt 3,4 tỷ USD, năm
2010 đạt trên 4,1 tỷ USD, và đạt 5,5 tỷ USD trong năm 2011 (số liệu của Tổng cục thống kê), bằng tổng kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và nhiều nước châu Âu khác cộng lại Theo số liệu của Đức có tính cả sự trung chuyển qua nước thứ ba, kim ngạch song phương thậm chí lên tới 6 tỷ USD
Cho tới nay với gần 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, CHLB Đức luôn là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam trong liên minh châu Âu, mặc dù kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Đức còn nhỏ so với nhiều nước khác trong khu vực tuy nhiên mức độ tăng trưởng đạt khá, cùng với sự nâng tầm quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước vào năm 2011 sẽ hứa hẹn một mức độ phát triển tốt trong
Trang 9quan hệ hai nước, giúp mở rộng hợp tác trên tất cả các lĩnh vực ở tầm cao chiến lược mới
Về lĩnh vực đầu tư, từ những năm 1990 khi bắt đầu mở cửa, Việt Nam đã thu hút được mối quan tâm lớn từ các nhà đầu tư CHLB Đức với các dự án hợp tác đầu
tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, thủy điện, thiết bị y tế… đến nay đầu tư của CHLB Đức khá đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác như chế biến chế tạo, công nghiệp phụ trợ, công nghệ thông tin, các ngành dịch vụ… Những dự án đầu tư của CHLB Đức
có tầm quan trọng trong sự phát triển các ngành kinh tế Việt Nam theo hướng hiện đại Có thể kể đến các đại diện tiêu biểu như:
- Công ty TNHH Siemens Việt Nam
Bắt đầu vào thị trường Việt Nam từ năm 1979 khi cung cấp và lắp đặt hai tua bin khí công nghiệp và thiết bị điện cho Công ty giấy Bãi Bằng, nhưng công ty thực
sự mở rộng hoạt động kinh doanh từ năm 1989 với việc xây dựng đường truyền số kết nối Hà Nội, Đà Nẵng với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, với tốc độ truyền
140 Mbits/giây Năm 1993 Siemens khai trương văn phòng đại diện tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Kể từ khi thành lập tại Việt Nam, Siemens đã tham gia vào nhiều dự án về cơ sở hạ tầng của Việt Nam như cung cấp hai hệ thống chụp cộng hưởng từ đầu tiên năm 1996, cung cấp hệ thống điệu trị bệnh ung thư tiên tiến nhất cho bệnh viện K tại Hà Nội năm 2000… Hiện Siemens hoạt động trong nhiều lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế quốc gia như năng lượng, công nghiệp, y tế và cơ sở
hạ tầng Siemens đang từng bước khẳng định vị trí là nhà cung cấp giải pháp toàn diện hàng đầu thế giới, sẵn sàng cung cấp giải pháp cho mọi thách thức của Việt Nam
Năm 2002, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Siemens Việt Nam chính thức được thành lập Hoạt động trên 3 lĩnh vực chính là công nghiệp (tự động hóa công nghiệp, công nghệ truyền động, giải pháp công nghiệp, công nghệ tòa nhà, giao thông và vận chuyển, chiếu sáng OSRAM); năng lượng (năng lượng hóa thạch và tái tạo, dầu khí, dịch vụ năng lượng, truyền tải điện, phân phối điện); y tế (chẩn đoán hình ảnh và giải pháp công nghệ thông tin, quy trình thăm khám và giải pháp, chẩn đoán xét nghiệm), Siemens Việt Nam luôn đi tiên phong trong cung cấp các thiết bị, công nghệ hiệu quả và tiết kiệm năng lượng, hiệu suất công nghiệp cao, giải
Trang 10pháp y tế chất lượng với giá cả hợp lý, các giải pháp cơ sở hạ tầng thông minh Không chỉ là nhà cung cấp thiết bị chính cho Nhà máy Điện chu trình hỗn hợp Nhơn Trạch 2 tại tỉnh Đồng Nai, trong năm tài khóa 2010, Công ty TNHH Siemens Việt Nam còn được lựa chọn cung cấp dịch vụ bảo trì dài hạn cho nhà máy này; được lựa chọn cung cấp các thiết bị và vật liệu chính (gồm thiết bị sơ cấp và thứ cấp) lắp đặt Trạm biến áp 500 KV Quảng Ninh phục vụ kết nối truyền tải điện; cung cấp trạm đóng, cắt trung thế cách điện khí (GIS) Tây Hồ 220 KV lớn nhất và đầu tiên tại Hà Nội, góp phần đảm bảo an toàn và ổn định điện cho thủ đô chào mừng 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội Trong năm tài khóa 2010, bộ phận giải pháp công nghiệp của Siemens Việt Nam cũng đã thắng thầu cung cấp toàn bộ các sản phẩm thuộc hệ thống tối ưu hóa xi măng cho dây chuyền sản xuất mới tại Nhà máy Xi măng Công Thanh (Thanh Hóa) công suất 12.000 tấn clinker/ngày, là dây chuyền xi măng sản xuất đơn có công suất lớn nhất châu Á từ trước đến nay; bộ phận công nghệ tòa nhà đã ký được hợp đồng cung cấp các hệ thống thanh dẫn Sivacon 8PS và tủ điện Sivacon 8PS có độ an toàn và chính xác cao theo tiêu chuẩn châu Âu cho Dự án Tòa nhà trụ sở Bộ Công an; bộ phận hệ thống vận chuyển ký được hợp đồng cung cấp hệ thống xử lý hàng hóa cho Sân bay Tân Sơn Nhất với các hạng mục thiết kế kỹ thuật, cung cấp, bàn giao, lắp đặt, chạy thử, đưa vào vận hành thiết bị cơ khí, xe nâng tự hành (ETV), băng tải, phần mềm điều khiển, phần
mềm quản lý và các cụm thiết bị điện tử PLC Năm 2011, Công ty Trách nhiệm hữu
hạn Siemens Việt Nam giành được giấy phép kinh doanh đầy đủ Giành được hợp đồng cung cấp hàng loạt các thiết bị chẩn đoán hình ảnh cho bệnh viện Vinmedicare
- bệnh viện 5 sao đầu tiên tại Hà Nội Trong năm 2010, doanh thu của Siemens Việt Nam đã đạt 241 triệu euro, lợi nhuận thu được 4,7 triệu euro, lưu lượng tiền mặt đạt 9,8 triệu euro…, góp phần đáng kể vào thành công của Siemens toàn cầu
- Công ty TNHH Metro Cash & Carry Việt Nam
Metro Cash & Carry là bộ phận kinh doanh của tập đoàn Metro, một trong những công ty thương mại quốc tế lớn hoạt động trong lĩnh vực phân phối bán lẻ có trụ sở tại Dusseldorf CHLB Đức Metro Cash & Carry hiện đang có mặt tại 29 quốc gia với hơn 650 trung tâm bán sỉ Với hơn 100.000 nhân viên trên toàn thế giới, năm 2008 công ty đạt doanh số 33.1 tỷ Euro Tiếp theo sự thành công của mô hình
Trang 11Cash & Carry trên toàn thế giới, công ty Metro tiếp tục mang những lợi ích của mô hình này đến Việt Nam Metro Cash & Carry bắt đầu hoạt động phân phối tại Việt Nam năm 2002 Bốn trung tâm phân phối được khánh thành đầu tiên, hai tại TP.HCM vào ngày 28/03/2002 (Metro Bình Phú) và 05/12/2002 (Metro An Phú), một tại thủ đô Hà Nội vào ngày 30/07/2003 (Metro Thăng Long) và một trung tâm khác tại thành phố Cần Thơ vào ngày 23/12/2004(Metro Hưng Lợi) Tiếp theo đó sẽ
là sự ra đời hàng loạt các trung tâm Metro ở các thành phố lớn khác Hiện nay công
ty có 17 trung tâm bán bán sỉ cash & carry tại TP HCM, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Biên Hoà - Đồng Nai, An Giang, Bình Định, Bình Dương, Quảng Ninh, Vũng Tàu, Vinh, Nha Trang, Buôn Ma Thuột và hai trạm trung chuyển phân phối tại Bình Dương và Lâm Đồng
Công ty có mô hình kinh doanh đơn giản và hiệu quả Phân phối sỉ cash & carry được định nghĩa trên cơ sở đối tượng khách hàng: chỉ có khách hàng làm kinh doanh mới được mua hàng tại Metro Cash & Carry, tất cả khách hàng cần được đăng ký và được cấp thẻ khách hàng Điều này có nghĩa Metro Cash & Carry không phục vụ nhu cầu người tiêu dùng cá nhân Trung tâm Metro Cash & Carry không phải là một siêu thị hay chuỗi đại siêu thị dành cho tiêu dùng cá nhân mà là mô hình bán sỉ hiện đại, được thiết kế theo nhu cầu của các công ty và doanh nghiệp Khách hàng trọng tâm là những nhà buôn lẻ, nhỏ và vừa như các khách sạn, nhà hàng và nhà cung cấp suất ăn công nghiệp Công ty cung cấp cho khách hàng kinh doanh danh mục hàng hoá đa dạng, phong phú với việc cung cấp hơn 7,000 mặt hàng thực phẩm và hơn 8,000 mặt hàng phi thực phẩm, được đóng gói theo những kích cỡ khác nhau để đáp ứng được nhu cầu kinh doanh cụ thể của các khách hàng tại một địa điểm duy nhất của Metro Metro Cash & Carry sẽ tạo ra một điểm chuẩn mới về
sự lựa chọn mua sắm và sự thỏa mãn của các khách hàng doanh nghiệp
- Công ty TNHH Robert Bosch Việt Nam
Công ty TNHH Robert Bosch Việt Nam là chi nhánh của tập đoàn Bosch có trụ sở tại Gerlingen, là một trong những tập đoàn lớn trên thế giới về kỹ thuật, dịch
vụ trong lĩnh vực ô tô, kỹ thuật công nghiệp, hàng tiêu dùng, và kỹ thuật xây dựng Tập đoàn bao gồm Công ty Robert Bosch GmbH và 300 chi nhánh, công ty ở 50 quốc gia Năm 2007, Bosch đạt doanh số 46,1 tỉ euro
Trang 12Ngày 23-4, Tập đoàn Bosch (Đức) đã ra mắt Công ty TNHH Robert Bosch Việt Nam, đồng thời công bố dự án xây dựng nhà máy sản xuất linh kiện ô tô tại khu công nghiệp Long Thành, Đồng Nai Đây là dự án đầu tiên của Bosch tại Việt Nam Nhà máy đặt tại khu công nghiệp Long Thành này sẽ có diện tích 160.000 m2, sản xuất dây truyền lực dùng trong hộp số tự động biến đổi liên tục CVT (Continuously Variable Transmission), phù hợp cho động cơ của các loại xe từ cỡ nhỏ cho đến xe địa hình thể thao chạy bằng dầu diesel, xăng hoặc nhiêu liệu hỗn hợp Từ tháng 6/2008, Công ty Robert Bosch Việt Nam đã bắt đầu triển khai lắp ráp sản phẩm dây truyền lực tại một phân xưởng thuê ở khu công nghiệp Long Thành Trong năm đầu tiên, sản lượng của nhà máy dự kiến đạt 100.000 sản phẩm và theo
kế hoạch, con số sẽ tăng lên 2,3 triệu sản phẩm/năm vào năm 2015 Tổng vốn đầu
tư cho dự án tính đến năm 2015 là 55 triệu euro Theo như tiến sĩ Rudolf Colm, phụ trách hoạt động của Bosch tại khu vực châu Á Thái Bình Dương, sản phẩm làm ra tại Việt Nam hướng đến phục vụ cho thị trường châu Á và sẽ được xuất khẩu toàn
bộ ra khu vực
Đến ngày 11/5/2011, tại TP.HCM, Tập đoàn Bosch chính thức thành lập Công
ty TNHH Robert Bosch Engineering and Business Solutions Việt Nam (RBVH) Đây là Trung tâm công nghệ và phần mềm đầu tiên của Tập đoàn Bosch ở Khu vực Đông Nam Á RBVH là cơ sở mở rộng của Công ty Robert Bosch Engineering and Business Solutions (RBEI) tại Ấn Độ, có vốn đầu tư ban đầu là 4,5 triệu USD RBVH chủ yếu cung cấp phần mềm kỹ thuật cao và các giải pháp kỹ thuật như phần mềm nhúng, thiết kế cơ khí và nhiều dịch vụ khác trong lĩnh vực công nghệ thông tin Hoạt động của RBVH còn được biết đến với một số dự án phần mềm cho các hệ thống kiểm soát điện tử dầu và xăng, hệ thống thắng và các dự án quản trị thông tin trong lĩnh vực quản trị doanh nghiệp…
Theo Tổng Giám đốc RBVH - Ông Sudhakar Kunte, RBVH sẽ phát triển cơ sở
hạ tầng, tuyển dụng, đào tạo nhân sự tại địa phương, góp phần vào các chương trình, dự án kế hoạch góp phần đưa Việt Nam ngày càng phát triển, như một trung tâm phần mềm lớn trong khu vực Đông Nam Á Với sự có mặt của RBVH đã minh chứng Việt Nam không chỉ là điểm đến của gia công lắp ráp mà còn mở ra rất nhiều hoạt động khác trong lĩnh vực công nghệ thông tin
Trang 13Về đầu tư của Việt Nam tại CHLB Đức hiện nay còn thấp với một số dự án trong lĩnh vực dịch vụ, tuy nhiên trong thời gian tới hứa hẹn sẽ có nhiều doanh nghiệp Việt Nam quan tâm và đầu tư tại CHLB Đức nhờ những hợp tác chiến lược giữa hai nước
CHLB Đức cũng là một nhà viện trợ phát triển (ODA) lớn cho Việt Nam Từ năm 1990 CHLB Đức bắt đầu viện trợ phát triển cho Việt Nam với số vốn từ hàng chục tới hàng trăm triệu Mác Đức (đơn vị tiền tệ của CHLB Đức) với trọng tâm là
hỗ trợ cải cách kinh tế, xây dựng kinh tế thị trường; hỗ trợ ngành y tế; hỗ trợ phát triển môi trường và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế thế giới hiện nay, Đức cam kết viện trợ phát triển
400 triệu USD cho Việt Nam
Theo Tuyên bố chung Hà Nội (2011) mà thủ tướng chính phủ hai nước đã đặt ra: Trong khuôn khổ đối thoại chiến lược về kinh tế, hai bên dự định trao đổi quan điểm về các vấn đề trọng tâm trong chính sách kinh tế và thương mại, bao gồm phát triển thương mại, thị trường mở và cạnh tranh bình đẳng, tuân thủ những tiêu chuẩn lao động quốc tế và củng cố Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Ngoài ra, hai bên mong muốn tăng cường quan hệ hợp tác đối tác nhằm hỗ trợ quá trình chuyển đổi kinh tế tại Việt Nam, với mục tiêu tăng cường giá trị cho ngành công nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện tốt hơn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa, cải thiện cơ sở hạ tầng của Việt Nam và góp phần vào tăng trưởng mang lại lợi ích xã hội, bền vững môi trường và thân thiện với khí hậu
1.2 Phát triển quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam – CHLB Đức
là xu thế tất yếu
1.2.1 Vài nét lịch sử về nền kinh tế CHLB Đức
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, nền kinh tế Đức bị ảnh hưởng nghiêm trọng, hơn một nửa năng lực công nghiệp của nước Đức đã bị phá huỷ, đất nước chia làm hai miền Ở Đông Đức, kinh tế phát triển rất chậm chạp Còn Tây Đức bước vào giai đoạn tái thiết đất nước chủ yếu được trang trải bằng cách vay nợ nước ngoài
Trang 14đặc biệt từ Mỹ Nhờ đó là kinh tế Tây Đức đã vượt qua những khó khăn và trải qua giai đoạn phát triển kinh tế thần kỳ trong những năm 1950 Kết quả là nền kinh tế Tây Đức bước vào thời ổn định, nạn thất nghiệp được giải quyết vào năm 1959, đến cuối thập niên 1950, sản xuất công nghiệp tăng 130% Một số nhân tố góp phần vào
sự thành công này như: kế hoạch Marshall do Mỹ khởi xướng đã bơm một lượng viện trợ rất cần thiết trong suốt thời kỳ tái thiết, một cuộc cải cách tiền tệ mạnh dạn
đã khôi phục lại giá trị đồng tiền và chống được lạm phát, chế độ kiểm soát giá cả
và tiền lương bị huỷ bỏ, cơ sở hạ tầng được phục hồi và cuộc chiến Triều Tiên những năm 1950 đã làm gia tăng nhu cầu đối với các hàng hóa của Đức Từ những năm 1990 tỷ lệ tăng trưởng kinh tế thần kỳ của Đức đã bị suy giảm, do ảnh hưởng của sự suy thoái toàn cầu và do những chi phí rất lớn để sắp xếp lại dân cư và những ngành công nghiệp không hiệu quả của Đông Đức cũ khi hai miền được hợp nhất
Hiện nay, CHLB Đức là nền kinh tế lớn nhất khối EU và thứ 4 thế giới, là quốc gia luôn có những bước tiến vững chắc trong phát triển kinh tế với GDP tăng trưởng bình quân 1% trong giai đoạn 2005-2010 trong đó năm 2009 tăng trưởng -5% do suy thoái kinh tế và phục hồi mạnh mẽ vào năm 2010 với mức tăng trưởng
ấn tượng 3,3%
Mộ̣t số chỉ số cơ bản năm 2010
Dân số (nghìn người) 81.702 Xếp hạng
thế giới Thu nhập bình quân người (USD) 35.679
Xuất khẩu hàng hóa (triệu USD) 1.268.874 3
Nhập khẩu hàng hóa (triệu USD) 1.066.839 3
Xuất khẩu dịch vụ (triệu USD) 232.394 2
Nhập khẩu dịch vụ (triệu USD) 259.737 2
Nguồn: WTO – 10/2011
Về cơ cấu các ngành trong nền kinh tế có sự phân bố không đồng đều, trong khi lĩnh vực nông nghiệp chiếm chưa đến 1% tổng sản lượng thì các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm lần lượt 27,9% và 71,3% tổng sản lượng
Trang 15Phân bố GDP theo ngành
Nguồn: theo VCCI – hồ sơ thị trường Đức
- Nông nghiệp: Cũng như hầu hết các nuớc phương Tây khác, tỉ lệ lao động trong
nông nghiệp của CHLB Đức ngày càng giảm đi Nhiều trang trại vừa và nhỏ ngày càng bị thu hẹp do lợi nhuận thấp Các trang trại ngày càng lớn hơn và thường liên kết với nhau, mặc dù nhiều trang trại nhỏ vẫn làm thêm nhiều công việc phụ bán thời gian nữa Phần lớn diện tích nước Đức được dùng cho nông nghiệp, nhưng chỉ
có 2% - 3% dân số Đức làm việc trong ngành này Các vùng đất được chuyên môn hoá vào các lĩnh vực canh tác Vùng bờ biển phía bắc rất thích hợp cho việc nuôi bò sữa và ngựa Vùng chân núi Anpơ có nhiều cánh đồng cỏ, nơi đây các ngành chăn nuôi gia cầm, lợn, bò và cừu rất phát triển Dải đất màu mỡ dọc theo sườn nam vùng đất thấp là nơi gieo trồng lúa mì, lúa mạch, ngũ cốc, củ cải đường, cây ăn trái, khoai tây và nho Đức là một trong số các nước sản xuất sữa, sản phẩm bơ sữa và thịt nhiều nhất thế giới Nông nghiệp ở Đức được điều tiết theo chính sách nông nghiệp của liên minh châu Âu
- Công nghiệp: cũng như lĩnh vực nông nghiệp, tỉ lệ lao động trong công nghiệp ở
Đức đã giảm do sự phát triển nhanh của các ngành dịch vụ Đức phải nhập khẩu hầu hết nguyên vật liệu và năng lượng, mặc dù có những mỏ than đá ở vùng Ruhr và dọc theo sông Saar Đức cũng có quặng sắt, dầu mỏ và khí đốt, song trữ lượng không nhiều Kỹ nghệ hoá chất là một trong những ngành quan trọng nhất của Đức, trong đó có những công ty như Bayer AG, BASF và Hoechst Ngành công nghiệp
xe hơi của Đức là ngành có quy mô lớn nhất ở châu Âu Thành công lớn nhất của
Trang 16nước Đức là trong ngành sản xuất xe hơi chất lượng cao Có lẽ các nhãn mác xe hơi sang trọng nhất thế giới ngày nay hầu như đều có nguồn gốc từ Đức: Bayerische Motoren Werke AG (BMW), DaimlerChrysler AG (Mercedes-Benz), Porsche, Audi, Volkswagen, Bugatti, Lamborghini, Mini, Rolls-Royce, Bentley…
Các ngành công nghiệp quan trọng khác gồm chế tạo máy bay, máy xây dựng, máy móc nông nghiệp, máy phát điện, điện tử, các thiết bị văn phòng Mặc dù có những ngành công nghiệp rất thành công, song một số ngành truyền thống, chẳng hạn như luyện thép và đóng tàu, lại đang sa sút nghiêm trọng Sự cạnh tranh từ Nhật và công nghệ mới đã làm giảm lợi nhuận của nước Đức Đức là trụ sở chính của nhiều công
ty đa quốc gia khổng lồ như BASF, Robert Bosch GmbH, Deutsche Telekom và Siemens AG Tuy có nhiều tập đoàn công nghiệp lớn, nhưng xuơng sống của kinh
tế Đức lại là các công ty loại trung với quy mô dưới 1000 nhân viên Hiện nay Đức
là một trong số các nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hàng hóa
- Dịch vụ: Lĩnh vực dịch vụ đã tăng đều đặn trong những năm gần đây và hiện đóng
góp nhiều nhất vào tổng sản phẩm quốc nội gồm cả du lịch Năm 2004, lượng khách nước ngoài đến Đức du lịch nhiều nhất là từ Hà Lan, kế đó là Vương quốc Anh và
Mỹ Frankfurt là trung tâm ngân hàng của nước Đức và là trung tâm tài chính lớn trên thế giới Thị trường chứng khoán Frankfurt cũng là một trong những thị trường chứng khoán hàng đầu trên thế giới
- Thương mại: Tổng mức bán buôn của Cộng hoà Liên bang Đức liên tục tăng lên
Doanh số bán lẻ cũng ngày càng tăng và hình thức doanh nghiệp tự bán hàng đang thay thế ngày càng nhiều cho các cơ sở trong ngành thương nghiệp bán lẻ truyền thống Ngoại thương là một trong những nhân tố chủ yếu trong sự thành công của kinh tế Đức Đức là một trong số các quốc gia xuất khẩu hàng hóa lớn nhất thế giới , xuất khẩu đóng vai trò thiết yếu trong nền kinh tế Đức chiếm 1/3 sản lượng quốc gia Các mặt hàng xuất khẩu chính của Đức gồm máy móc, hàng điện tử, ô tô, các sản phẩm hoá chất, thực phẩm, hàng dệt may, dụng cụ quang học và điện năng Là một nước phụ thuộc nhiều vào ngoại thương nên Đức đồng thời cũng nhập nhiều loại hàng hoá và là một trong số nước nhập khẩu lượng hàng hóa lớn trên thế giới Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc, phương tiện vận chuyển, hoá chất, thuốc lá, lương thực, đồ uống, kim loại và các sản phẩm dầu mỏ
Trang 17Trong cơn bão nợ công đang “càn quét” khắp khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) thì Đức là một trong số ít ỏi các nền kinh tế còn đứng vững và là trụ cột trong việc giải cứu các quốc gia đang ngập chìm trong nợ nần tại khu vực
1.2.2 Xu thế tất yếu của quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam – CHLB Đức
Việt Nam là một nền kinh tế đang nổi trong khu vực và thế giới với tiềm năng phát triển vô cùng to lớn, là điểm đến đầy hứa hẹn trong mắt các nhà đầu tư, kinh doanh quốc tế Kể từ khi gia nhập WTO (01/2007), cánh cửa ấy đang dần mở rộng hơn rất nhiều Với dân số khoảng 90 triệu người, sức tiêu dùng cao, các doanh nghiệp Việt Nam còn non trẻ, quy mô nhỏ và lợi thế cạnh tranh còn thấp thì đây chắc chắn là “mảnh đất màu mỡ” cho các công ty nước ngoài, công ty đa quốc gia muốn thâm nhập và phát triển sản phẩm của mình Đặc biệt, với các doanh nghiệp Đức với lợi thế trong ngành sản xuất các sản phẩm công nghệ và kỹ thuật cao như hóa chất, xe hơi, máy móc, thiết bị điện, điện tử… những ngành công nghiệp mà Việt Nam còn rất hạn chế và yếu kém thì việc thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường là một xu thế tất yếu Không những thế, với những cam kết khi gia nhập WTO, những rào cản thâm nhập thị trường được hạn chế rất nhiều, những cải cách trong hệ thống luật pháp và sự mở cửa thu hút đầu tư của chính phủ Việt Nam đã, đang và sẽ là những yếu tố vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy hợp tác, đầu tư của các đối tác CHLB Đức
Đi cùng với đó thì sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, sự vươn ra tầm quốc
tế của các doanh nghiệp Việt Nam trong sân chơi khu vực và toàn cầu đang diễn ra nhanh chóng hơn bao giờ hết Một nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu với giá trị kim ngạch lên tới 69% GDP vào năm 2008 (64% năm 2009 và 61% năm 2005) (theo VCCI) thì một thị trường như CHLB Đức là một trong số mục tiêu quan trọng cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam Là quốc gia có thế mạnh to lớn về nông nghiệp thì các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam đã thâm nhập và chiếm lĩnh hầu hết các thị trường lớn trên thế giới Trong đó thì liên minh châu Âu là một trong số các đối tác lớn và quan trọng bậc nhất của Việt Nam Và trong số các quốc gia thành viên EU thì xuất khẩu của Việt Nam sang CHLB Đức chiếm tỷ trọng cao,
Trang 18bằng nhiều nước châu Âu cộng lại, điều đó cho thấy vai trò và tiềm năng vô cùng to lớn của nền kinh tế lớn nhất EU này với kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Mặt khác các doanh nghiệp Việt Nam đang dần có những bước tiến ra khu vực và thế giới và Đức chắc chắn sẽ là một trong số các địa điểm đầu tư hấp dẫn với các doanh nghiệp Việt Nam Chuyến viếng thăm của Thủ tướng Đức, bà Angela Merkel hồi tháng 10/2011 là sự khẳng định và nâng tầm quan hệ đầy ý nghĩa trong sự phát triển quan hệ thương mại, đầu tư song phương giữa hai nước
Mặt khác trong những năm qua, CHLB Đức đặc biệt quan tâm tới phát triển quan hệ đối tác với các nước châu Á, đặc biệt là các quốc gia tại khu vực châu Á Thái Bình Dương và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), một trong những khu vực kinh tế năng động bậc nhất thế giới Nằm trong số đó, lại có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, Việt Nam là điểm đến vô cùng hấp dẫn cho các nhà đầu
tư đến từ CHLB Đức với mức độ ổn định về chính trị cao, được hưởng nhiêu ưu đãi của chính phủ dành cho các nhà đầu tư nước ngoài, người dân cần cù, ham học hỏi
và chính sách luôn mở cửa đón đầu tư thì cơ hội cho các nhà đầu tư CHLB Đức là rất lớn Hơn nữa với trình độ phát triển cao, nằm trong số các quốc gia phát triển nhất thế giới, với một nền tảng công nghiệp, khoa học kỹ thuật cao thì các đối tác CHLB Đức sẽ có rất nhiều lợi thế về kiến thức, kinh nghiệm và khả năng thích nghi khi đầu tư tại một thị trường còn mới mẻ và đang phát triển như Việt Nam
Với những điều kiện và lợi thế riêng của từng nước, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế thế giới thì củng cố và phát triển quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư song phương của hai quốc gia là một xu thế tất yếu Đặc biệt, khi nền kinh tế thế giới còn đầy rẫy những khó khăn như hiện tại thì thúc đẩy quan hệ song phương có thể là một trong số các nhân tố quan trọng giúp hai quốc gia nhanh chóng thoát ra được những khó khăn hiện tại và có những bước phát triển mạnh mẽ và vững chắc
Trang 191.3 Những cơ sở cho sự phát triển quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam – CHLB Đức
Nằm trong khối thị trường chung châu Âu, những cơ sở cho sự phát triển quan
hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với CHLB Đức cũng bắt đầu từ những cơ sở từ mối quan hệ với EU
1.3.1 Những cơ sở chung cho mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam – EU
1.3.1.1 Hiệp định khung về quan hệ hợp tác Việt Nam - Ủy ban châu Âu (EC) Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU) chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào tháng 10-1990 Năm năm sau, vào ngày 17-07-1995, Hiệp định khung về quan
hệ hợp tác giữa Việt Nam và Ủy ban Châu Âu (EC) được ký kết và bắt đầu có hiệu lực vào ngày 01-06-1996, cung cấp cơ sở pháp lý và từng bước mở rộng quan hệ thương mại và đầu tư song phương Hiệp định khung đề ra bốn mục tiêu:
- Tăng cường đầu tư và thương mại song phương
- Hỗ trợ phát triển kinh tế lâu dài của Việt Nam và cải thiện các điều kiện sống cho người nghèo
- Hỗ trợ những nỗ lực của Việt Nam trong việc cơ cấu lại nền kinh tế và tiến tới một nền kinh tế thị trường
- Bảo vệ môi trường
Hiệp định khung là tiền đề thiết lập Ủy ban Hỗn hợp EC - Việt Nam, một diễn
đàn cho các hội đàm cao cấp về sự phát triển kinh tế và chính trị, bao gồm cả những tiến bộ của các cải cách kinh tế, hành chính, luật pháp và pháp lý của Việt Nam và việc thực hiện các chương trình hợp tác của Liên minh Châu Âu, là cơ sở cho quan
hệ hợp tác giữa Việt Nam và các quốc gia khu vực liên minh châu Âu
1.3.1.2 Hiệp định đối tác và hợp tác toàn diện (PCA) Việt Nam – Liên minh châu
Âu (EU)
Nếu Hiệp định khung quan hệ hợp tác Việt Nam - EC ký năm 1995 được xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa một bên là các nước cung cấp viện trợ phát triển và một bên là nước nhận viện trợ thì Hiệp định đối tác và hợp tác toàn diện (PCA) là
Trang 20Hiệp định tổng thể được xây dựng giữa hai bên đối tác bình đẳng, có nhiều lợi ích gắn bó với nhau Hiệp định được ký tắt năm 2010 sau hơn 2 năm đàm phán
Qua 9 vòng đàm phán và nhiều cuộc trao đổi kỹ thuật, hai bên đã thỏa thuận và
ký tắt PCA với 8 chương, 65 điều, trong đó khẳng định các nguyên tắc cơ bản của quan hệ hai bên, xác định khuôn khổ hợp tác toàn diện trong tất cả các lĩnh vực, từ hợp tác phát triển, thương mại, đầu tư, đến hợp tác tư pháp, bảo vệ hòa bình, an ninh quốc tế, khoa học công nghệ, nghiên cứu, hợp tác chuyên ngành PCA cho thấy hai bên rất coi trọng lĩnh vực hợp tác phát triển và thương mại, đầu tư khi dành
2 chương riêng cho những lĩnh vực này Về thương mại - đầu tư, hai bên đạt được các thỏa thuận quan trọng cho phép Việt Nam có thể tiếp cận thuận lợi hơn thị trường EU như: cam kết tăng cường tham vấn tăng hiệu quả sử dụng các ưu đãi của chế độ GSP, dành cho Việt Nam sự đối xử đặc biệt và khác biệt (S&D), hợp tác hướng tới sớm công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường.PCA sẽ tạo điều kiện thuận lợi để hai bên có thể khai thác được tốt hơn lợi thế so sánh và bổ sung lẫn nhau
Với các thỏa thuận trong PCA, hai bên có thể hợp tác trên phạm vi rộng lớn hơn nhiều so với Hiệp định khung 1995 Hiệp định PCA đã thực sự thể hiện bước phát triển to lớn, sâu rộng của quan hệ Việt Nam - EU sau 20 năm, đưa quan hệ bước sang một giai đoạn mới với phạm vi rộng lớn và mức độ hợp tác sâu sắc hơn 1.3.1.3 Đàm phán ký kết Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam – EU
EU là một đối tác thương mại quan trọng nhất của Việt Nam Năm 2010, EU đứng thứ hai trong các nước xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và đứng thứ năm trong nhập khẩu vào Việt Nam Ngược lại Việt Nam vẫn là một đối tác nhỏ của EU, đứng thứ 31 trong nhập khẩu vào EU và đứng thứ 41 trong xuất khẩu vào thị trường này (theo số liệu của “Hội thảo đàm phán Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam – EU” do VCCI tổ chức) Nhưng EU lại coi Việt Nam là một thị trường tiềm năng và phát triển năng động nhất thế giới, một thị trường dân số trẻ với sức hấp thụ hàng hóa, dịch vụ lớn, một địa chỉ đầu tư hấp dẫn, ổn định Chính vì những điều này
đã thúc đẩy mạnh mẽ hai bên tiến tới đàm phán nhằm ký kết Hiệp định thương mại
tự do (FTA) với cơ sở tiền đề là Hiệp định đối tác và hợp tác toàn diện (PCA) Trong năm qua, cả hai phía đã có các cuộc thảo luận nhằm xác định những lĩnh vực,
Trang 21vấn đề để đàm phán, và quá trình này sắp kết thúc Hiện cả hai phía đang gấp rút cho các khâu chuẩn bị kỹ thuật cho các vòng đàm phán FTA, và các cuộc thảo luận chuẩn bị và mang tính xây dựng cũng liên quan đến quy chế nền thị kinh tế thị trường và ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) cho Việt Nam nhằm đi đến thống nhất các vấn đề đàm phán cho hiệp định FTA để có thể bắt đầu vòng đàm phán một cách sớm nhất, dự kiến có thể khởi động trong năm 2012 này
Nếu FTA giữa Việt Nam và EU được ký kết thì sẽ là động lực thúc đẩy cả xuất khẩu và nhập của Việt Nam và EU gia tăng, đồng thời thúc đẩy khả năng và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp hai bên Đồng thời việc ký kết này sẽ giúp cho vị trí của Việt Nam được cải thiện nhiều trên kinh tế thế giới, tăng cường khả năng xuất khẩu khi mà nhiều mặt hàng quan trọng của Việt Nam không còn được hưởng
ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP)
Nhận xét:
Những cơ sở quan trọng trong mối quan hệ hợp tác với EU này cũng đồng thời
là cơ sở không thể thiếu khi Việt Nam muốn thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại
và đầu tư với bất kỳ quốc gia nào trong khu vực, đặc biệt là CHLB Đức, nền kinh tế lớn nhất EU Đây là những tiền đề cho sự phát triển quan hệ hợp tác của Việt Nam với CHLB Đức, đồng thời thúc đẩy hai nước tiến tới những quan hệ hợp tác sâu rộng hơn
1.3.2 Những cơ sở riêng của quan hệ hợp tác giữa Việt Nam – CHLB Đức
Việt Nam và CHLB Đức chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 23/09/1975 Trong những năm qua, quan hệ giữa hai nước phát triển tốt đẹp, không ngừng được củng cố và mở rộng cùng với sự trao đổi nhiều đoàn cấp cao Trong các cuộc trao đổi, tiếp xúc, phía Đức luôn hoan nghênh và ủng hộ đường lối đổi mới của Việt Nam, đánh giá cao vai trò và vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế Việt Nam là một đối tác quan trọng của CHLB Đức trên nhiều lĩnh vực Việt Nam coi trọng và đánh giá cao vai trò và vị trí của Đức - “trái tim châu Âu” - trong EU và trên thế giới Quan hệ ngoại giao, chính trị tốt đẹp giữa Việt Nam và Đức là nền tảng vững chắc để hai nước thúc đẩy, tăng cường quan hệ kinh
Trang 22tế, thương mại và đầu tư Điều đó được khẳng định bằng một số những văn bản, hiệp định:
1.3.2.1 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư lẫn nhau
Được ký kết ngày 03/04/1993, đây là Hiệp định đầu tiên giữa Việt Nam và CHLB Đức mở ra một chương mới trong quan hệ kinh tế hai nước Đây cũng là cơ
sở pháp lý quan trọng điều chỉnh mối quan hệ về đầu tư nhằm giúp các doanh nghiệp hai nước xúc tiến các cơ hội đầu tư Những nội dung chính của hiệp định:
- Đối xử công bằng với các hoạt động đầu tư thuộc sở hữu của công dân hay công ty của Bên ký kết kia (Đối xử không kém thuận lợi hơn so với công dân, công ty nước mình hoặc bên thứ 3)
- Đảm bảo sự an toàn cho hoạt động đầu tư của Bên ký kết kia
- Đảm bảo cho các bên khi đầu tư được tư do luân chuyển các khoản thanh toán
- Các nội dung liên quaan tới giải quyết tranh chấp
1.3.2.2 Một số văn bản quan trọng khác
Trên cơ sở quan hệ hợp tác của Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư lẫn nhau năm 1993 thì Việt Nam và CHLB Đức còn ký kết nhiều văn bản mở rộng quan hệ hợp tác khác như:
- Tuyên bố chung về tăng cường mở rộng và tăng cường quan hệ Việt Nam - CHLB Đức (năm 1995)
- Nghị định thư về hợp tác và phát triển (năm 1995)
- Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (năm 1995)
- Hiệp định hợp tác hàng hải, hàng không
Ngoài những hiệp định và văn bản tăng cường và mở rộng quan hệ giữa hai nước thì mộ sự kiện quan trọng không thể không kể đến là chuyến viếng thăm của thủ tướng Đức, bà Angela Merkel tới Việt Nam hồi tháng 10/2011 Đứng trên phương diện song phương, có thể dễ dàng nhận thấy chuyến thăm Việt Nam của nữ Thủ tướng Đức Merkel không nằm ngoài mục đích thúc đẩy quan hệ giữa hai nước tiếp tục phát triển tích cực và sâu rộng trên nhiều lĩnh vực Thực tế cho thấy tiềm năng hợp tác giữa Việt Nam và Đức hiện là rất lớn và mức độ hợp tác hiện nay vẫn chưa tương xứng Trong khuôn khổ chuyến thăm, bà Merkel còn thúc đẩy việc ký kết Hiệp định tự do thương mại (FTA) giữa EU và Việt Nam Và thành quả quan trọng
Trang 23của chuyến viếng thăm này là “Tuyên bố chung Hà Nội: Việt Nam - Đức - đối tác
chiến lược vì tương lai" hai nước ký ngày 11/10/2011 tại Hà Nội nhằm khẳng định
và nâng tầm quan hệ hai nước lên tầm cao mới
Nhận xét:
Mối quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư giữa hai nước được xây dựng khá lâu dài, bền vững trên những cơ sở của quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với EU nói chung và CHLB Đức nói riêng Từ những cơ sở đó, mối quan hệ hợp tác giữa hai nước đang phát triển không ngừng và hứa hẹn sẽ có nhiều chuyển biến tích cực
và mở rộng nhanh chóng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu khi mà Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam – EU đang được thúc đẩy các vòng đàm phán Hơn thế
nữa, tầm cao quan hệ “đối tác chiến lược vì tương lai” giữa Việt Nam và CHLB
Đức đã được khẳng định bằng chuyến viếng thăm của Thủ tướng Đức tới Việt Nam vào tháng 10/2011 Tất cả điều này sẽ tạo đà thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại
và đầu tư song phương giữa hai nước
Trang 24Chương 2 Thực trạng quan hệ thương mại và đầu tư song phương Việt Nam – CHLB Đức giai đoạn 2005 - nay
2.1 Thực trạng quan hệ thương mại song phương Việt Nam – CHLB Đức
Kể từ khi thiết lập quan hê ngoại giao, quan hệ thương mại Việt Nam và Đức ngày càng có xu hướng phát triển nhanh chóng, đặc biệt là từ khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, quan hệ thương mại Việt Nam – CHLB Đức càng có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn
2.1.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều
Kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam – CHLB Đức gia tăng đều đặn hàng năm trong giai đoạn 2001 – 2004 mỗi năm tăng trung bình 100 triệu USD, năm 2001 đạt mức 1,1 tỷ USD đến năm 2004 đạt 1,5 tỷ USD Tuy nhiên từ năm
2005 trở đi kim ngach thương mại hai chiều gia tăng mạnh mẽ từ mức 1,7 tỷ USD năm 2005 lên 5,5 tỷ USD năm 2011, tăng 5 lần so với năm 2001, chiếm 2,7% tổng kim ngạch thương mại của cả nước năm 2011 Đi liền với đó thì Đức cũng là một trong số các thị trường xuất siêu quan trọng của Việt Nam, năm 2011 Việt Nam xuất siêu sang Đức hơn 1,1 tỷ USD trong khi kim ngạch thương mại của Việt Nam thâm hụt tới hơn 9,8 tỷ USD (theo số liệu của Tổng cục thống kê)
Kim ngạch thương mại Việt Nam – CHLB Đức (Đơn vị: triệu USD)
Trang 25Trong khoảng thời gian từ 2005-2010, xuất khẩu của Việt Nam sang Đức tăng trưởng hàng năm khoảng từ 200-500 triệu USD thì trong năm 2011, xuất khẩu tăng khoảng 1 tỷ USD so với 2010, là mức tăng lớn nhất từ trước tới nay, góp phần đưa kim ngạch thương mại hai chiều tăng hơn 1,4 tỷ USD so với năm trước Giải thích cho điều này có thể xuất phát từ những vấn đề nội tại của liên minh châu Âu và Eurozone(khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu), đó là tình hình nợ công tại
Hy Lạp và nhiều nước lớn tại châu Âu đang diễn ra phức tạp, nhiều nước buộc phải
áp dụng chính sách “thắt lưng buộc bụng” dẫn tới nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước giảm và giảm nhập khẩu hàng hóa Do đó mà các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam phải tìm những thị trường thay thế mà Đức là một thị trường quan trọng trong EU vẫn đứng vững trước cơn bão nợ công tại khu vực này, nhu cầu đối với hàng hóa vẫn tăng
Trong liên minh châu Âu EU, CHLB Đức là đối tác thương mại số một của Việt Nam, chiếm hơn 20% tổng lượng hàng hóa xuất khẩu sang EU và hơn 28% tổng lượng hàng nhập khẩu từ EU năm 2011 Trong khi đó, Việt Nam hiện vẫn chỉ chiếm một tỷ trọng tương đối nhỏ trong tổng kim thương mại của Đức, khoảng gần 0.2% trong năm 2010, được Đức xếp hạng đối tác thương mại thứ 40/144 nước xuất khẩu hàng hóa vào Đức, hạng 55/144 nước nhập khẩu hàng hóa từ Đức và hạng 47/144 nước đối tác thương mại chính trên kim ngạch hai chiều Tuy nhiên Việt Nam hiện đang là điểm hướng đến quan trọng khi mà EU nói chung và CHLB Đức nói riêng đang thúc đẩy quan hệ với các nước thuộc khu vực ASEAN, khu vực kinh
tế năng động bậc nhất của châu Á và thế giới với hơn 600 triệu người và nhiều nước
có tốc độ phát triển kinh tế trung bình nhiều năm gần đây đạt trên 5% và vẫn vững vàng trước cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008
2.1.2 Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu
2.1.2.1 Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang CHLB Đức khá đa dạng, các mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao tập trung vào các lĩnh vực có thể mạnh của Việt Nam như hàng dệt may, giày dép, hàng nông thủy sản…
Trang 26Giá trị các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Đức (Đơn vị: USD)
Mặt hàng xuất khẩu 2011 2010
Hàng dệt may 601.150.697 445.850.781 Điện thoại các loại và linh kiện 600.214.746 0 Giầy dép các loại 410.258.711 356.774.795
Gỗ và sản phẩm gỗ 125.934.720 116.864.802 Sản phẩm từ chất dẻo 102.161.730 70.399.387 Túi xách, ví, vaili, mũ & ô dù 101.451.938 85.197.408 Sản phẩm từ sắt thép 93.333.841 75.367.277 Máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng khác 80.278.533 52.051.134
Máy vi tính và linh kiện 51.851.111 35.467.483 Phương tiện vận tải và phụ tùng 37.762.881 96.168.189 Sản phẩm mây, tre, cói & thảm 27.857.950 27.178.977 Sản phẩm gốm sứ 24.494.204 28.004.490
Trang 27loại đạt 410 triệu USD, cafe, cao su, hàng thủy sản, đồ gỗ đếu có giá trị xuất khẩu cao từ hơn 100 triệu tới gần 300 triệu USD Ngoài những mặt hàng có thế mạnh, Việt Nam còn xuất khẩu khá nhiều các sản phẩm thủ công mỹ nghệ như hàng mây tre đan, gốm sứ, đồ da…là những mặt hàng truyền thống
Nhìn chung các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Đức chủ yếu là các mặt hàng tiêu dùng, có hàm lượng công nghệ kỹ thuật thấp do trình độ khoa học công nghệ của Việt Nam còn thấp, khó có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp Đức vốn là nước đi đầu về kỹ thuật và công nghệ cao
2.1.2.2 Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu
Việt Nam nhập khẩu từ Đức chủ yếu là máy móc, thiết bị với giá trị hơn 1 tỷ USD năm 2011, kế đến là phương tiện vận tải, đồ điện, điện tử, hóa chất, dược phẩm, sắt thép… cũng được nhập khẩu với giá trị lớn
Giá trị các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Đức (Đơn vị: USD)
Mặt hàng nhập khẩu 2011 2010
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác 1.025.000.426 906.155.522 Phương tiện vận tải khác và phụ tùng 225.953.458 12.075.222
Sản phẩm hoá chất 109.156.471 78.641.324
Ô tô nguyên chiếc các loại 75.614.168 65.874.505 Linh kiện, phụ tùng ô tô 59.318.777 65.855.852 Sản phẩm từ sắt thép 49.207.736 48.853.203
Thuốc trừ sâu và nguyên liệu 44.315.665 29.071.516 Chất dẻo nguyên liệu 42.931.987 40.916.970 Máy vi tính, sp điện tử và linh kiện 41.403.890 24.217.627
Sắt thép các loại 27.908.874 22.373.036 Sữa và sản phẩm sữa 25.278.795 9.922.744 Sản phẩm từ chất dẻo 24.723.358 13.955.900
Trang 28NPL dệt may da giày 20.710.216 17.980.265 Kim loại thường khác 14.500.299 24.609.592
Gỗ và sản phẩm gỗ 11.161.021 11.554.886 Sản phẩm từ cao su 10.693.678 9.845.285
2.1.3 Một số nhận xét, đánh giá chung
2.1.3.1 Những kết quả đạt được
- Kim ngạch thương mai song phương tăng trưởng đều đặn qua các năm, đặc biệt gia tăng nhanh chóng từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, cao nhất vào năm 2011 với hơn 5,5 tỷ USD so với mức 1,7 tỷ USD năm 2005 và 2,3 tỷ USD năm 2006, thời điểm trước khi Việt Nam gia nhập WTO
Trang 29- Mở rộng quan hệ thương mại với CHLB Đức giúp Việt Nam tiêu thụ được nhiều hàng hoá là thế mạnh như nông sản, hải sản, dệt may, hàng thủ công mỹ nghệ sang thị trường lớn, giúp đẩy mạnh sản xuất trong nước
- Thu hút được nhiều thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động sản xuất, ngoại thương, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, góp phần nâng cao mức sống, cải thiện đời sống kinh tế xã hội
- Đức là thị trường xuất siêu quan trọng của Việt Nam, do vậy tăng cường trao đổi thương mại giúp cải thiện cán cân thương mại, giảm nhập siêu
- Phát triển quan hệ kinh tế thương mại với CHLB Đức góp phần thúc đẩy các hoạt động cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm do Đức là một thị trường tương đối khó tính
- Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn và bất ổn thì xuất khẩu sang thị trường Đức là một trong số các mối quan tâm hàng đầu của Việt Nam do sự sụt giảm trong nhu cầu tiêu dung của các thị trường khác
2.1.3.2 Một số khó khăn còn tồn tại
- Mặc dù tốc độ tăng trưởng kim ngạch thương mại song phương gia tăng khá nhanh trong những năm gần đây nhưng vẫn còn chiếm một tỷ trọng tương đối nhỏ trong tổng kim ngạch thương mại của cả hai nước Trong khi kim ngạch thương mại hai chiều giữa hai nước chiếm 2,7% tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam năm
2011 thì đối với CHLB Đức chỉ chiếm 0,2% tổng kim ngạch thương mại năm 2010
Cả hai con số đều khá nhỏ và chưa thật sự xứng tầm với tiềm năng của hai nước CHLB Đức là đối tác thương mại lớn nhất trong EU và lớn thứ 9 của Việt Nam, trong khi đó Việt Nam xếp thứ 47 trong tổng số 144 đối tác thương mại của CHLB Đức Điều đó cho thấy hai nước vẫn còn rất nhiều việc cần phải làm thúc đẩy và phát huy tiềm năng của mình
- Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam còn nhiều hạn chế, hàng hóa xuất khẩu tập trung chủ yếu vào các mặt hàng nguyên liệu thô, mặt hàng dùng nhiều lao động, kỹ thuật và giá trị gia tăng thấp Trong khi đó hàng nhập khẩu từ Đức phần lớn là các mặt hàng kỹ thuật cao, gần một nửa là máy móc thiết bị Giải thích cho điều này là tốc độ phát triển kinh tế nhanh của Việt Nam đòi hỏi nhiều máy móc thiết bị tiên tiến trong khi sản xuất trong nước chưa đủ đáp ứng thì việc nhập khẩu
Trang 30từ một nước có trình độ khoa học kỹ thuật cao như Đức là điều dễ hiểu Tuy nhiên Việt Nam cần có các giải pháp nhằm nâng cao năng lực và học hỏi kỹ thuật, công nghệ để dần hướng tới là quốc gia có nền công nghiệp phát triển, tránh phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu hàng hóa giá trị cao
Nhìn chung quan hệ thương mại Việt Nam – CHLB Đức đang trên đà phát triển với xu thế và triển vọng tích cực hơn bao giờ hết, cho đến nay sau hơn 5 năm gia nhập WTO, Việt Nam có thể học hỏi được nhiều kinh nghiệm để có thể cải thiện
và thúc đẩy quan hệ thương mại với các đối tác quan trọng như CHLB Đức Với tiềm năng sẵn có, cùng với một quốc gia có nền kinh tế phát triển vào bậc nhất thế giới, chắc chắn Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội để học hỏi và phát triển, đồng thời cải thiện và thúc đẩy quan hệ thương mại với CHLB Đức sẽ đem lại cho cả hai nước những động lực mạnh mẽ hơn để phát triển và phát huy lợi thế, tiềm năng của mình
2.2 Thực trạng quan hệ đầu tư song phương Việt Nam – CHLB Đức
2.2.1 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam
2.2.1.1 Tình hình thu hút vốn đầu tư qua các năm
Việt Nam với mục tiêu, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, phấn đấu duy trì mức tăng trưởng kinh tế cao Để đạt được những mục tiêu này, một mặt cần huy động tối đa các nguồn nội lực và sáng tạo của mọi thành phần kinh tế trong nước, mặt khác tiếp tục tăng cường hợp tác quốc tế và khu vực, trong đó có đầu tư nước ngoài Việt Nam luôn coi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế Quan điểm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là nhất quán, lâu dài và được cụ thể hoá trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các văn bản pháp quy có liên quan Thực tế trong những năm qua, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng góp một phần không nhỏ cho sự nghiệp phát triển kinh tế của Việt Nam
Theo số liệu từ Tổng cục thống kê cho thấy từ năm 1988 – 2010 cả nước có hơn 13,000 dự án được cấp phép đầu tư với tổng số vốn đăng ký hơn 214 tỷ USD
và dải ngân khoảng 78 tỷ USD, tức khoảng hơn 36% tổng số vốn đăng ký Từ năm
2007 lượng vốn FDI đổ vào Việt Nam tăng đáng kể do đây là năm Việt Nam chính
Trang 31thức bước vào “sân chơi” WTO, khi mà Việt Nam bắt đầu thực thi các cam kết mở cửa thị trường và đầu tư, đỉnh điểm là năm 2008 khi số vốn đăng ký lên tới hơn 71
tỷ USD, một con số kỷ lục từ trước tới nay Tuy nhiên đây cũng là năm bắt đầu xảy
ra khủng hoảng kinh tế nên lượng vốn giải ngân chỉ đạt hơn 11 tỷ USD, chiếm khoảng 15% tổng số vốn đăng ký
Năm 2011, cả nước có 1091 dự án mới được cấp giấy phép đầu tư với tổng vốn đăng ký và tăng thêm vào khoảng 14,7 tỷ USD, giảm 26% so với năm 2010, giải ngân 11 tỷ USD (tương đương năm 2010) đạt 95% so với mục tiêu đề ra là giải ngân khoảng 11,5 tỷ USD (theo số liệu của Cục đầu tư nước ngoài)
2.2.1.2 Cơ cấu thu hút đầu tư nước ngoài theo ngành
Theo số liệu từ Cục đầu tư nước ngoài, cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài theo ngành những năm trước tập trung rất lớn vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản, với
1 dự án kinh doanh bất động sản có quy mô vốn 4 tỷ USD được cấp vào tháng 12
2010, lĩnh vực kinh doanh bất động sản vươn lên đứng thứ nhất Trong đó có 27 lượt dự án cấp mới và 6 dự án tăng vốn, tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm
là 6,8 tỷ USD, chiếm 36,8% tổng vốn đầu tư đăng ký vào Việt Nam Dự án có quy
mô lớn được cấp phép trong tháng 12 là Công ty TNHH phát triển Nam Hội An (Khu nghỉ dưỡng Nam Hội An) vốn đầu tư 4 tỷ USD do nhà đầu tư Singapore đầu
tư tại Quảng Nam Tiếp đến là ngành công nghiệp chế biến chế tạo là lĩnh vực thế mạnh và luôn thu hút được sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài Lĩnh vực này dẫn đầu về số lượt dự án đăng ký cấp mới và dự án tăng vốn đầu tư trong năm 2010 Tiếp theo là lĩnh vực sản xuất phân phối điện, nước và ngành xây dựng Ngành dịch
vụ lưu trú và ăn uống năm 2009 thu hút một lượng vốn đăng ký cao kỷ lục thì sang năm 2010 đã giảm đáng kể, từ mức 8,7 tỷ USD năm 2009 xuống 39 triệu USD năm
Trang 32Công nghiệp chế biến, chế tạo 478 5.979 245 2.969 Sản xuất và phân phối điện, khí
đốt, nước nóng, hơi nước và
điều hoà không khí
Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô
tô, mô tô, xe máy và xe có động
Thông tin và truyền thông 73 107 63 93
Hoạt động chuyên môn, khoa
Cung cấp nước, hoạt động quản
lý và xử lý rác thải, nước thải 6 10 5 8
Hoạt động hành chính và dịch
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài - Bộ kế hoạch đầu tư
Năm 2011 thì cơ cấu vốn FDI theo ngành kinh tế đã có sự thay đổi lớn, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của
Trang 33nhà đầu tư nước ngoài với 435 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 7,123 tỷ USD,chiếm 48,5% tổng vốn đầu tư đăng ký trong 12 tháng Lĩnh vực sản xuất phân phối điện đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 2,53 tỷ USD, chiếm gần 17,2% tổng vốn đầu tư Đứng thứ 3 là lĩnh vực xây dựng với 140 dự án đầu tư mới, tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 1,25 tỷ USD, chiếm 8,5% Trong khi đó kinh doanh bất động sản có sự giảm sút đáng kể với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 845,6 triệu USD, chỉ còn chiếm hơn 5% vốn đăng ký từ mức chiếm 36% năm 2010
Cơ cấu vốn FDI phân theo ngành kinh tế năm 2011 (Đơn vị vốn đăng ký:
Dvụ lưu trú và ăn uống 19 475
Thông tin và truyền thông 70 886
Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa 154 428
Trang 34Ngoài những ngành công nghiệp thu hút một lượng lớn FDI thì một số ngành dịch vụ cũng ngày càng được đầu tư và quan tâm như thông tin và truyền thông cấp nước, xử lý chất thải bán buôn, bán lẻ, sửa chữa… Tuy nhiên các lĩnh vực này còn chiếm một lượng vốn tương đối nhỏ so với tổng vốn đăng ký đầu tư vào Việt Nam
2.2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của CHLB Đức tại Việt Nam
CHLB Đức là một nền kinh tế lớn, là quốc gia đi đầu trong lĩnh vực thương mại và hợp tác đầu tư trên thế giới, hàng năm lượng vốn FDI của CHLB Đức đầu tư trên toàn thế giới lên tới hàng trăm tỷ USD đóng góp rất lớn vào sự phát triển của các nền kinh tế khu vực Các quốc gia đầu tư quan trọng nhất của CHLB Đức là nội
bộ khối EU, Bắc Mỹ và châu Á Ở khu vực châu Á thì Nhật Bản, Trung Quốc là những quốc gia thu hút được một vốn FDI khá lớn từ Đức
Tỷ trọng vốn đầu tư ra nước ngoài của CHLB Đức so với GDP
Nguồn: Ngân hàng thế giới (WB)
Năm 2010, lượng vốn đầu tư ra nước ngoài của Đức chiếm 3,3% GDP đạt khoảng 110 tỷ USD, trong số đó thì lượng vốn FDI vào Việt Nam chỉ hơn 46 triệu USD với 22 dự án, chiếm 0,04% tổng lượng vốn FDI đầu tư ra nước ngoài của CHLB Đức Năm 2011, tổng lượng vốn FDI đăng ký mới và tăng thêm vào Việt Nam là 56,24 triệu USD với 13 dự án được cấp mới Lũy kế hết năm 2011 Việt Nam thu hút được 175 dự án từ CHLB Đức với tổng số vốn đăng ký đầu tư hơn 900 triệu USD từ Đức
Trang 35Tình hình thu hút vốn FDI từ CHLB Đức một số năm gần đây
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài - Bộ kế hoạch đầu tư
Có thể thấy lượng vốn FDI từ Đức chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ trong tổng số vốn FDI vào Việt Nam, năm 2010 chiếm 0,23% trong tổng số 19,8 tỷ USD và năm
2011 chiếm 0,38% trong tổng số 14,7 tỷ USD vốn FDI đăng ký, đứng thứ 24 trong tổng số 94 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư FDI vào Việt Nam
Hiện có khoảng hơn 200 doanh nghiệp và văn phòng đại diện các công ty của Đức hoạt động tại Việt Nam với 3/4 tổng số dự án và 2/3 tổng số vốn đầu tư của Đức ở Việt Nam tập trung chủ yếu vào các ngành có thế mạnh và khả năng cạnh tranh cao, như: cơ sở hạ tầng, công nghiệp chế biến và chế tạo, công nghệ cao, năng lượng, giao thông, xử lý môi trường, dịch vụ ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, dịch
vụ kỹ thuật, công nghệ phần mềm, thông tin truyền thông, nhằm phục vụ thị trường nội địa Một phần khác là các doanh nghiệp định hướng xuất khẩu tập trung
rõ rệt vào lĩnh vực may mặc, giày dép
Nhìn vào sự phân bổ khu vực của các công trình đầu tư có thể thấy hầu hết doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tập trung ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận như Bình Dương và Đồng Nai Ngược lại, các liên doanh lại phân bố đều cho toàn miền Nam và miền Bắc, trong khi ở các tỉnh khác hầu như không có một đầu
tư nào của Đức Điều này được giải thích ở chỗ, sự phát triển kinh tế trong khu vực rộng lớn như thành phố Hồ Chí Minh là năng động nhất và nó cuốn hút những doanh nghiệp nào có thể tự do lựa chọn địa điểm cho mình Nhiều nhà đầu tư không chỉ đánh giá cao sự phát triển kinh tế năng động của phía Nam mà còn cho rằng cả chính quyền địa phương ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai rất dễ hợp tác và không phức tạp Điều này nói lên tầm quan trọng của công tác
Trang 36quản lý tốt của chính quyền địa phương đối với FDI Ngược lại, các liên doanh trong việc lựa chọn địa điểm của mình lại phụ thuộc vào đối tác ở địa phương Điều này giải thích tại sao các doanh nghiệp liên doanh lại tập trung tại Hà nội Một lý do nữa của việc tập trung tại Hà nội là gần chính quyền trung ương, vấn đề này đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực đầu tư vào cơ sở hạ tầng và hoạt động của các văn phòng đại diện
Theo báo cáo “Các yếu tố đầu vào và cơ sở chiến lược nhằm thúc đẩy đầu tư
trực tiếp của CHLB Đức tại Việt Nam” của chuyên gia thẩm định Axel Mierke,
nhiều doanh nghiệp khi tham gia đầu tư tại Việt Nam có nhận xét về từng địa phương như:
- Thành phố Hồ Chí Minh: thị trường to lớn nhất, năng động nhất, cung cấp đội ngũ chuyên môn kỹ thuật lớn, mạng lưới cơ sở hạ tầng giao thông tốt (bến cảng, sân bay, đường phố), tập trung khách hàng và các đối tác quốc tế hiện có, tiếp cận chính quyền không phức tạp, mức sống cao cho người nước ngoài
- Bình Dương và Đồng Nai: khu công nghiệp, khu chế xuất được khai thác tốt với giá rẻ, đăng ký đơn giản, chính quyền dễ hợp tác, lao động có giá cả hợp lý, cán bộ chuyên môn, kỹ thuật được điều động từ thành phố Hồ Chí Minh, sử dụng cơ sở hạ tầng của thành phố Hồ Chí Minh, tránh được các vấn đề về giao thông của các thành phố lớn
- Hà Nội: đối tác liên doanh ở Hà Nội, gần chính quyền trung ương và các doanh nghiệp nhà nước, thị trường tương đối lớn
- Miền Trung: trong một vài năm tới, khi lương ở các tỉnh lân cận thành phố Hồ Chí Minh tăng lên thì các tỉnh miền Trung sẽ có khả năng cạnh tranh hơn do lương bổng
và giá đất thấp hơn và vì cũng tại đó quanh Đà Nẵng mạng lưới giao thông đang và sắp hoàn thành có thể chấp nhận được Các tỉnh khác, ví dụ như Bình định, cũng cho thấy tình hình tương tự
Từ những nhận định đó khiến cho các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đều tập trung tại miền Nam và thành phố Hồ Chí Minh và chỉ thành lập chi nhánh hoặc liên doanh ở Hà Nội và một số tỉnh phía Bắc
Trang 372.2.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam tại CHLB Đức
2.2.3.1 Vài nét về tình hình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam
Theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2011 có khoảng 950 triệu USD được giải ngân cho các dự án đầu tư ra nước ngoài của tập đoàn, doanh nghiệp Việt Nam Đứng đầu về giải ngân vốn đầu tư ra nước ngoài trong năm qua là Tập đoàn Dầu khí với tổng vốn chuyển ra khoảng 347 triệu USD Tiếp theo là Tập đoàn Viettel với 185 triệu USD Tập đoàn Cao su Việt Nam 134,6 triệu USD Tập đoàn Sông Đà khoảng 161 triệu USD Hoàng Anh Gia Lai 39 triệu USD và Công ty cổ phần Đông Dương Xanh 23,7 triệu USD.Về vốn đăng ký, năm
2011 đã có 75 dự án đầu tư ra nước ngoài được cấp mới và 33 dự án điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 2,12 tỷ USD Các dự án quy mô lớn chủ yếu tập trung trong các lĩnh vực công nghiệp năng lượng, truyền thông…Lũy kế đến thời điểm cuối năm 2011, các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài tổng cộng 627 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 10,8 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện ước đạt khoảng 2,7 tỷ USD Tại 55 quốc gia, vùng lãnh thổ có dự án của doanh nghiệp Việt Nam, vốn đăng ký tập trung lớn nhất tại Lào với 3,4 tỷ USD (vốn thực hiện khoảng 480 triệu USD) Campuchia 2,1 tỷ USD (vốn thực hiện trên
200 triệu USD) Venezuela 1,8 tỷ USD Nga 776 triệu USD Peru 508 triệu USD Malaysia 412 triệu USD Mozambique 345 triệu USD
Các dự án đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam xét theo giá trị vốn thường tập trung trước hết vào lĩnh vực công nghiệp khai khoáng hay năng lượng, trong đó có một số dự án quy mô vốn lớn hơn 100 triệu USD, ví dụ dự án đầu tư Thủy điện Xekaman 3 tại Lào có tổng vốn đầu tư 273 triệu USD, dự án thăm
dò khai thác dầu khí tại Angieri có tổng vốn đầu tư 243 triệu USD, hay tại Madagascar có tổng vốn đầu tư khoảng 117 triệu USD Lĩnh vực quan trọng thứ hai
là nông - lâm - ngư nghiệp - vốn là thế mạnh của các doanh nghiệp Việt Nam, hay các sản phẩm cung cấp cho nông nghiệp như phân bón, trong đó đáng kể nhất là dự
án hợp tác trị giá 600 triệu USD giữa Công ty Cổ phần Phân đạm và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo) thuộc Tập đoàn dầu khí Việt Nam với Tập đoàn Phốt phát Cherifie (Office Cherifien des Photphates - OCP), tại Casablanca, Morocco để hình thành nhà máy sản xuất phân bón DAP và Amonia nhằm cung cấp cho thị trường Việt