1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn tình trạng đô-la hoá tại việt nam – thực trạng và giải pháp

81 1K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình trạng đô-la hoá tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 736,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xét trên cả ba góc độ: việc sử dụng đô-la Mỹ trong xã hội, tỷ trọng tiền gửi và tỷ trọng dư nợ cho vay bằng đồng đô-la Mỹ trong cơ cấu nguồn vốn huy động và dư nợ của hệ thống ngân hàng

Trang 1

Luận văn Tình trạng đô-la hoá tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp

Trang 2

MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

LỜI CẢM ƠN

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐÔ-LA HOÁ 3

1.1 Khái niệm đô-la hoá 3

1.2 Phân loại đô-la hoá 4

1.2.1 Đô-la hoá không chính thức 4

1.2.2 Đô-la hoá bán chính thức 5

1.2.3 Đô-la hoá chính thức 5

1.3 Nguyên nhân của tình trạng đô-la hoá 6

1.4 Tác động của tình trạng đô-la hoá đến nền kinh tế 9

1.4.1 Những tác động tích cực của đô-la hoá 9

1.4.2 Những tác động tiêu cực của đô-la hoá 12

1.5 Kinh nghiệm quốc tế về đô-la hoá và bài học cho Việt Nam 20

1.5.1 Kinh nghiệm đô-la hoá ở Argentina 20

1.5.2 Kinh nghiệm đô-la hoá ở Campuchia 21

1.5.3 Bài học cho Việt Nam 23

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH ĐÔ-LA HOÁ TẠI VIỆT NAM 25

2.1 Diễn biến tình hình đô-la hoá tại Việt Nam trong thời gian qua 25

2.2 Phân tích những tác động của tình trạng đô-la hoá tới nền kinh tế Việt Nam 38

2.2.1 Tác động của đô-la hoá đến hệ thống Tài chính – Ngân hàng 38

2.2.1.1 Đô-la hoá tiền gửi trong hệ thống ngân hàng 38

2.2.1.2 Đô-la hoá cho vay 45

Trang 3

2.2.2 Tác động của đô-la hoá đến điều hành chính sách tiền tệ 50

2.2.3 Tác động của đô-la hoá đến người dân 51

2.3 Đánh giá chung về tình trạng đô-la hoá tại Việt Nam 53

2.3.1 Đánh giá những tác động của đô-la hoá đến nền kinh tế Việt Nam 53 2.3.2 Đánh giá những biện pháp mà NHNN đã sử dụng nhằm hạn chế tình trạng đô-la hoá trong thời gian qua 55

2.4 Nhận xét chung 58

CHƯƠNG III: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH TRẠNG ĐÔ-LA HOÁ TẠI VIỆT NAM 61

3.1 Định hướng nhằm cải thiện tình trạng đô-la hoá tại Việt Nam 61

3.1.1 Định hướng hình thành một đồng tiền chung khu vực ASEAN 61

3.1.2 Định hướng về hoạt động của hệ thống ngân hàng 62

3.2 Một số giải pháp nhằm cải thiện tình trạng đô-la hoá tại Việt Nam64 3.2.1 Giải pháp về chính sách quản lý ngoại hối 65

3.2.2 Giải pháp nhằm nâng cao tính chuyển đổi của đồng Việt Nam 67

3.2.3 Giải pháp trong lĩnh vực tiền tệ 69

3.2.4 Thực hiện tốt chủ trương “trên lãnh thổ Việt Nam chỉ sử dụng đồng tiền Việt Nam” 70

3.3 Một số đề xuất 70

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát, 1991 - 1996 26

Bảng 2: Lãi suất tiết kiệm USD và VND giai đoạn 1992 – 1996 27

Bảng 3: Lãi suất tiết kiệm USD & VND năm 1997 - 1998 29

Bảng 4: Lãi suất tiết kiệm USD & VND, 1999 - 2001 31

Bảng 5: Tình hình xuất nhập khẩu giai đoạn 1990 – 2000 32

Bảng 6: Tỷ lệ tiền gửi bằng đồng USD trên tổng phương tiện thanh toán 40

Bảng 7: Khối lượng tiền gửi ngoại tệ (FCDs) trong hệ thống ngân hàng 41

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán giai đoạn 2000 – 2005 42

Biểu đồ 2: Cơ cấu tiền gửi trong hệ thống ngân hàng từ 2004 - 2008 44

Biểu đồ 3: Cơ cấu cho vay nền kinh tế giai đoạn 2000 – 2004 47

Biểu đồ 4: Cơ cấu cho vay giai đoạn 2005 - 2008 48

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Đề tài kết quả của quá trình tìm hiểu và nghiên cứu của em trong một thời gian dài Đề tài được hoàn thành với sự cố gắng, nỗ lực hết mình của bản thân và sự giúp đỡ tận tình của cô Trần Thị Lương Bình

Đầu tiên em muốn gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Trần Thị Lương Bình – giảng viên khoa Tài chính Ngân hàng -Đại học Ngoại Thương, người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong khoa Tài chính Ngân hàng – Đại học Ngoại Thương đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành tốt đề tài này

Một lần nữa em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy cô giáo Kính chúc thầy cô mạnh khoẻ và hạnh phúc

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện tượng đô-la hoá là một hiện tượng không còn mới mẻ ở Việt Nam Xét trên cả ba góc độ: việc sử dụng đô-la Mỹ trong xã hội, tỷ trọng tiền gửi và tỷ trọng dư nợ cho vay bằng đồng đô-la Mỹ trong cơ cấu nguồn vốn huy động và dư nợ của hệ thống ngân hàng thương mại, phải thừa nhận thẳng thắn rằng nền kinh tế nước ta đang trong tình trạng đô-la hoá Đặc biệt tình trạng này càng trầm trọng khi chúng ta gia nhập WTO Gần đây, khi có một

số bài đăng tài trên báo, tạp chí, các phương tiện thông tin đại chúng về tình trạng đô-la hoá thì hiện tượng này mới thực sự được chú ý Vì vậy cần thiết phải có những nghiên cứu cụ thể để làm rõ một số vấn đề: Đô-la hoá là gì? Nó biểu hiện dưới các hình thức như thế nào? Đô-la hoá là tốt hay xấu, có nên loại bỏ hoàn toàn hiện tượng này khỏi nền kinh tế hay không? Nó có tác động thế nào đến nền kinh tế? Những chủ trương nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực mà tình trạng đô-la hoá mang lại cho nền kinh tế và cho đời sống xã hội?

Để có một cái nhìn tổng quan hơn về tình trạng đô-la hoá, cũng như tìm

ra được những giải pháp khắc phục tình trạng đô-la hoá ở Việt Nam vấn đề: “ Tình trạng đô-la hoá tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” được tác giả lựa chọn làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu của khoá luận

Mục đích nghiên cứu của khoá luận nhằm làm rõ những vấn đề cơ bản

về đô-la hoá, đồng thời đánh giá tình trạng đô-la hoá tại Việt Nam trong thời gian qua Trên cơ sở đó khoá luận đưa ra những định hướng và giải pháp nhằm cải thiện tình trạng đô-la hoá tại Việt Nam

Trang 8

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là hiện tượng đô-la hoá trong nền kinh tế Phạm vi nghiên cứu của khoá luận là tình trạng đô-la hoá tại Việt Nam giai đoạn 1990 – những tháng đầu năm 2010

4 Phương pháp nghiên cứu

Khoá luận kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh nhằm làm rõ những vấn đề được nghiên cứu

5 Kết cấu của khoá luận

Ngoài lời mở đầu và phần kết luận, nội dung của khoá luận gồm 3 chương:

Chương I: Tổng quan về đô-la hoá

Chương II: Thực trạng tình hình đô-la hoá tại Việt Nam

Chương III: Một số định hướng và giải pháp nhằm cải thiện tình trạng đô-la hoá tại Việt Nam

Trang 9

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐÔ-LA HOÁ

1.1 Khái niệm đô-la hoá

Ở Việt Nam khái niệm đô-la hoá được nhìn nhận là hiện tượng ngoại tệ (mà chủ yếu là đô-la Mỹ) được sử dụng rộng rãi để thay thế một hay nhiều chức năng của đồng nội tệ.①

Theo Tyler Moroney, một nhà khoa học của Quỹ Fulbright thì đô-la hoá là quá trình một nước bỏ hoàn toàn đồng nội tệ và sử dụng đồng tiền của một nước có tính ổn định hơn làm phương tiện thanh toán hợp pháp Mặc dù khái niệm này được gắn liền với đồng đô-la Mỹ (USD), nhưng việc chuyển đổi một đồng nội tệ ra bất kỳ đồng ngoại tệ nào có tính ổn định (ví dụ: đồng Euro, Yên Nhật…) đều được gọi là “đô-la hoá”.②

Theo tiêu chí của IMF, một nền kinh tế được coi là có tình trạng đô-la hoá cao khi tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ vượt quá 30% trong tổng khối lượng tiền tệ cung ứng mở rộng M2, bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi ngoại tệ Dựa trên cơ sở đó, theo thống kê của IMF hiện nay có rất nhiều quốc gia ở châu Á, châu Mỹ, châu Phi được coi là có tình trạng đô-la hoá nền kinh tế Đã có 3 nước chính thức tuyên bố đô-la hoá nền kinh tế là Panama, Elsanvaldo, Ecuardo Theo luật của các nước này thì đồng đô-la được phép sử dụng lưu hành đồng thời với đồng nội tệ trong chi trả tiền lương, trợ cấp, phúc lợi xã hội, Người dân được mua bán hàng hoá hoặc thực hiện các giao dịch thương mại, dịch vụ khác bằng đồng đô-la

Theo báo cáo của NHNN Việt Nam thì những năm gần đây tỷ trọng tiền gửi bằng đô-la Mỹ luôn ở mức cao Điều này cho thấy mức độ đô-la hoá

Trang 10

ở nước ta không phải là thấp Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, các quốc gia

đã xuất hiện nhu cầu sử dụng tiền tệ mạnh để thực hiện các chức năng của tiền tệ song song với đồng nội tệ Do đó hiện tượng đô-la hoá mặc nhiên được thừa nhận ở các nước này Việt Nam cũng nằm trong bối cảnh đó

1.2 Phân loại đô-la hoá

Dựa vào trạng thái của việc sử dụng ngoại tệ, đô-la hoá được chia ra làm ba loại: Đô-la hoá không chính thức, đô-la hoá bán chính thức và đô-la hoá chính thức

1.2.1 Đô-la hoá không chính thức

Là trường hợp ngoại tệ được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế mặc dù không được quốc gia đó chính thức thừa nhận Ở những nước có nền kinh tế

bị đô-la hóa không chính thức, phần lớn người dân đã quen với việc sử dụng đồng đô-la nhưng Chính phủ vẫn cấm niêm yết giá hàng hóa bằng đô-la, cấm dùng đô-la đối với hầu hết giao dịch trong nước Thuật ngữ “đô-la hoá không chính thức” bao gồm các loại sau:

 Các trái phiếu ngoại tệ và các tài sản phi ngoại tệ ở nước ngoài

 Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài

 Tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nước

 Trái phiếu hay các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ cất trong túi

Đô-la hoá không chính thức được chia làm ba giai đoạn:

Giai đoạn đầu, các nhà kinh tế gọi là giai đoạn “thay thế tài sản” Trong giai đoạn này người dân giữ trái phiếu, ngoại tệ và các khoản tiền gửi ở nước ngoài như một phương tiện cất trữ nhằm tránh sự mất giá của tài sản do tác động của lạm phát trong nước

Giai đoạn thứ hai được các nhà kinh tế gọi là giai đoạn “thay thế tiền tệ” Trong giai đoạn này người dân giữ một khối lượng lớn các trái phiếu ngoại tệ và tiền gửi ngoại tệ tại hệ thống ngân hàng trong nước (nếu được

Trang 11

phép) Ngoại tệ vừa thực hiện chức năng là phương tiện thanh toán vừa thực hiện chức năng phương tiện cất trữ Tiền lương, thuế hay những chi tiêu hàng ngày được thanh toán bằng nội tệ Nhưng với những tài sản có giá trị lớn như

ô tô, đất đai, nhà cửa, thường được trả bằng ngoại tệ

Trong giai đoạn cuối cùng, giá cả hàng hoá được tính bằng nội tệ nhưng mọi người đều liên tưởng đến ngoại tệ thông qua tỷ giá hối đoái Đô-la hoá không chính thức rất phổ biến ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam

1.2.2 Đô-la hoá bán chính thức

Hay còn gọi là đô-la hoá từng phần, là những nước có hệ thống lưu hành chính thức hai đồng tiền Ở những nước này, đồng ngoại tệ là đồng tiền lưu hành hợp pháp, thậm chí còn có ưu thế trong các khoản tiền gửi ngân hàng Nhưng nó đóng vai trò thứ cấp trong việc trả lương, thuế và những chi tiêu hàng ngày Khác với các nước đô-la hoá chính thức, các nước trong tình trạng đô-la hoá bán chính thức vẫn duy trì Ngân hàng trung ương để thực hiện các chính sách tiền tệ của mình Trên thế giới có khoảng 12 nước như Bhamas, Haiti, Liberia, áp dụng đô-la hoá bán chính thức

Đô-la hoá chính thức không có nghĩa là chỉ có một loại ngoại tệ được lưu hành hợp pháp Tuy nhiên các nước đô-la hoá chính thức thường chọn một đồng ngoại tệ mạnh làm đồng tiền hợp pháp, chỉ có Andorra sử dụng cả Franc của Pháp và Peseta của Tây Ban Nha Hầu hết ở các nước đô-la hoá

Trang 12

chính thức, các đối tác tư nhân được phép ký hợp đồng bằng bất kỳ đồng tiền nào mà họ thoả thuận

Một số vùng lãnh thổ như Virgin Islands, Greenland và một số quốc gia độc lập như Panama sử dụng USD hoặc đồng tiền nước khác làm đồng tiền chính thức, trong đó có nước không còn đồng nội tệ, có nước vẫn duy trì đồng nội tệ, nhưng đóng vai trò phụ thuộc Điển hình là ngày 9/1/2000, Tổng thống Ecuado công bố quyết định lấy USD làm đồng tiền chính thức của nước này Đến năm 2001 thì có thêm El Salvador công bố chính thức đô-la hoá nền kinh

tế Trên thực tế, các nước này chỉ áp dụng đô-la hoá chính thức sau khi thất bại trong việc thực thi các chính sách ổn định kinh tế Lợi ích chủ yếu của đô-

la hoá chính thức là loại trừ rủi ro của việc phá giá tiền tệ

1.3 Nguyên nhân của tình trạng đô-la hoá

Nhìn ở nhiều khía cạnh khác nhau đô-la hoá bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân nhưng có thể nói rằng nguyên nhân sâu xa nhất dẫn đến tình trạng đô-la hoá là nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát cao, giá trị đồng nội tệ giảm liên tục làm mất lòng tin của người dân vào đồng nội tệ Từ đó người dân có xu hướng chuyển sang những ngoại tệ ổn định, có tính chuyển đổi cao để tiện cho việc giao dịch, cất giữ và tránh rủi ro khi đồng nội tệ bị mất giá

Bên cạnh đó xu thế hiện nay là toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại sẽ là cầu nối các quốc gia với nhau trên lĩnh vực kinh tế - tiền tệ Vì vậy đòi hỏi các quốc gia phải mở rộng quan hệ quốc tế, đặc biệt là ngoại thương Một khi quan hệ ngoại thương phát triển đòi hỏi phải có một đồng tiền chung để giao dịch Sẵn với vai trò, vị trí của mình đồng đô-la Mỹ đã đảm nhiệm vai trò đó Trong quan hệ đối ngoại nhất thiết đòi hỏi mỗi nước phải có một cơ chế quản lý ngoại hối để quản lý và kiểm soát các nguồn thu ngoại tệ nói chung và đồng đô-la Mỹ nói riêng Khi việc xây dựng và thực hiện cơ chế quản lý ngoại hối

Trang 13

còn chưa hoàn thiện và còn nhiều bất cập thì xu thế tất yếu sẽ xảy ra hiện tượng đô-la hoá

Mặt khác, các quốc gia có nền kinh tế mạnh và phát triển đặc biệt là

Mỹ luôn tìm cách để tăng cường và áp đặt sức mạnh kinh tế - chính trị lên toàn thế giới và nâng cao hơn nữa vai trò, vị trí của đồng tiền nước mình trong

hệ thống kinh tế - tiền tệ thế giới Do đó ảnh hưởng của đô-la Mỹ đối với nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới nói chung và với Việt Nam nói riêng là điều không thể tránh khỏi

Mức độ đô-la hoá ở mỗi nước khác nhau phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ phát triển nền kinh tế, trình độ dân trí, tâm lý người dân, trình độ phát triển của hệ thống ngân hàng, chính sách tiền tệ và cơ chế quản lý ngoại hối, khả năng chuyển đổi của đồng nội tệ, Những yếu tố trên ở mức độ càng thấp thì tình trạng đô-la hoá của quốc gia đó càng cao

Đối với Việt Nam, ngoài những yếu tố trên chúng ta cần để cập đến một số nguyên nhân quan trọng khác góp phần gia tăng tình trạng đô-la hoá ở nước ta trong những năm gần đây

Đầu tiên, phải kể đến nguyên nhân mang tính lịch sử đó là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á 1997 – 1998 Mặc dù cuộc khủng hoảng này không tác động trực tiếp đến nền kinh tế Việt Nam, nhưng đã tác động mạnh

mẽ đến tâm lý của người dân Việt Nam Hơn thế nữa, sau một thời gian ổn định, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ngày một tăng nhanh khiến người dân không mấy mặn mà trong việc chuyển từ ngoại tệ sang VND Người ta thích dùng đô-la Mỹ không chỉ vì tính ổn định mà còn vì tính gọn nhẹ, tiện lợi của nó

Thêm vào đó nguồn ngoại tệ tiền mặt ở nước ta ngày càng tăng nhanh, đặc biệt là USD bởi vì chúng ta có rất nhiều nguồn huy động:

 Nguồn kiều hối ngày càng có xu hướng tăng mạnh với mức tăng bình quân 10%/năm và tới năm 2010 dự tính sẽ lên tới 5 tỷ USD, chưa kể

Trang 14

đến lượng ngoại hối được chuyển ngoài luồng, ngoại tệ tiền mặt mà Việt kiều mang theo người khi nhập cảnh

 Lượng ngoại tệ chi tiêu ở Việt Nam của khách du lịch nước ngoài cũng tăng nhanh cùng với lượng du khách quốc tế đến Việt Nam

 Tiền lương và thu nhập của người Việt Nam làm việc trong các dự án liên doanh, dự án 100% vốn đầu tư nước ngoài, dự án quốc tế, cơ quan nước ngoài tại Việt Nam được trả bằng ngoại tệ

 Số lượng người nước ngoài đến Việt Nam làm việc, sinh sống, làm ăn, học tập v.v ngày càng gia tăng, chi tiêu ngoại tệ tiền mặt rất lớn, nhất

là tiền thuê nhà của các hộ gia đình người Việt Nam và chi trả các dịch

 Hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam bao gồm cả đầu tư trực tiếp

và đầu tư gián tiếp đang không ngừng tăng lên trong những năm gần đây

 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ngày một gia tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế

 Ngoại tệ từ các hoạt động buôn lậu và một số nguồn ngoại tệ qua các hoạt động kinh tế ngầm khác mà chính phủ Việt Nam chưa thể quản lý được

Với lượng tiền mặt ngoại tệ lớn như vậy đang ồ ạt đổ vào buộc Việt Nam phải đối mặt với tình trạng đô-la hoá nền kinh tế ngày càng trầm trọng

Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa lãi suất nội tệ và ngoại tệ, xu hướng biến đổi tỷ giá VND/USD là nguyên nhân quan trọng của xu hướng tích trữ

Trang 15

và gửi tiền bằng USD Giai đoạn từ 1999 – 2008 lãi suất tiền gửi bằng USD luôn ở mức cao, thậm chí có lúc lên tới 6,5%/năm Điều này càng khiến người dân và các doanh nghiệp sử dụng USD nhiều hơn trong việc cất trữ, gửi tiết kiệm

Việc người dân và các doanh nghiệp ưa chuộng USD hơn tiền đồng còn

vì tính gọn nhẹ của nó Đồng tiền Việt Nam mệnh giá còn nhỏ, cao nhất là tờ 500.000 đồng mới được đưa vào lưu thông năm 2003 Trong khi đó tờ 100 USD hiện nay lại có trị giá gần 2 triệu đồng Bởi vậy trong các giao dịch mang giá trị lớn như mua bán nhà cửa, đất đai, ô tô, USD vẫn chiếm lợi thế hơn

1.4 Tác động của tình trạng đô-la hoá đến nền kinh tế

Có quan điểm cho rằng đô-la hoá là một căn bệnh hiểm nghèo, cần phải triệt tận gốc, nhưng cũng có ý kiến lại cho rằng đô-la hoá là phương thuốc màu nhiệm đối với các quốc gia đang và chậm phát triển Cả hai quan điểm này đều chưa hoàn toàn đúng Bởi vì đô-la hoá có những mặt tích cực nhưng cũng có những mặt tiêu cực Chúng ta phải nhìn nhận rõ mặt lợi, mặt hại để

có hướng phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của tình trạng này đối với nền kinh tế

1.4.1 Những tác động tích cực của đô-la hoá

(i) Việc sử dụng đồng đô-la sẽ tạo cho nền kinh tế một cái “van giảm áp" của những mất cân đối, kết quả của tính không hiệu quả dưới cơ chế kế hoạch hoá tập trung, đồng thời cung cấp cho các tác nhân kinh tế một công

cụ tự bảo vệ chống lại lạm phát và phương tiện để mua hàng hoá trên thị trường phi chính thức cũng như phương tiện thanh toán hiệu quả

Từ những năm 80, USD đã xuất hiện và được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam Sau thất bại của "cuộc cải cách" và sự đổ vỡ của các tổ chức tín dụng Lạm phát không ổn định và gia tăng ở mức cao kéo theo VND cũng bất ổn và mất giá, đánh mất lòng tin của công chúng làm cho đô-la hoá tăng cao Một

Trang 16

mặt, đô-la hoá cao hơn là hậu quả của những yếu kém và mất cân đối kinh tế

vĩ mô Mặt khác, đô-la hoá lại được xem như "một cái van" nhằm giảm áp lực đối với những mất cân đối này

Khi sử dụng USD thay thế cho VND, các cá nhân và tổ chức kinh tế đã hạn chế được rủi ro giảm giá trị tài sản do lạm phát cao và thường xuyên biến động Ngoài ra, USD được sử dụng công khai như một phương tiện thanh toán hiệu quả trên thị trường tự do, đặc biệt là đối với những động sản cá nhân nhập khẩu có giá trị cao như ôtô, tủ lạnh, máy vi tính và những linh kiện khác

Ở các nước đô-la hoá chính thức, bằng việc sử dụng đồng ngoại tệ họ

sẽ duy trì được tỷ lệ lạm phát gần với mức lạm phát thấp làm tăng sự an toàn đối với tài sản tư nhân, khuyến khích tiết kiệm và cho vay dài hạn Hơn nữa,

ở những nước này Ngân hàng trung ương sẽ không còn khả năng phát hành nhiều tiền và gây ra lạm phát Đồng thời ngân sách Nhà nước sẽ không thể trông chờ vào nguồn phát hành này để trang trải thâm hụt ngân sách, kỷ luật

về tiền tệ và ngân sách sẽ được thắt chặt Do vậy các chương trình ngân sách

sẽ mang tính tích cực hơn

(ii) Đô-la hoá tiền gửi giúp ngân hàng có được khoản lớn ngoại tệ để

mở rộng các hoạt động đối ngoại, tạo công cụ liên kết thị trường nội địa với thị trường thế giới Khi đó, ngân hàng sẽ có thêm điều kiện thuận lợi để thực hiện cho vay ngoại tệ đối với nền kinh tế, như thế sẽ hạn chế được vay nợ nước ngoài và cũng tăng được tầm kiểm soát luồng ngoại tệ của NHTW

Nếu các NHTM không huy động được vốn ngoại tệ sẽ gây khó khăn cho các đề án hiện thời đòi hỏi vốn ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, trang thiết bị, nguyên liệu đầu vào chiến lược Khi vay vốn ngoại tệ từ các NHTM trong nước, lãi suất tương đối thấp (bằng lãi suất SIBOR 6 tháng cộng chênh lệch 0,8 - 1,2%/ năm).①

Tạp chí Kinh Tế, số 78, năm 2005

Trang 17

Sở dĩ NHTM có thể cho vay với lãi suất thấp như vậy là vì nó có khả năng huy động vốn ngoại tệ lãi suất thấp trong dân cư Nếu các NHTM không huy động được vì xét thấy không thuận lợi thì chắc chắn các đề án trên sẽ phải chịu lãi suất cao hơn Lý do là các ngân hàng sẽ phải vay vốn từ nước ngoài Nếu không thì các doanh nghiệp cũng phải trực tiếp đi vay Trong cả hai trường hợp, doanh nghiệp sẽ phải chịu mức lãi suất ít nhất là bằng lãi suất SIBOR cộng với 1,8 - 2%/năm

Từ tháng 11/2000, quy định tín dụng đã mở rộng đối tượng được vay vốn ngoại tệ hỗ trợ cho việc nhập khẩu còn có các dự án đầu tư được phê duyệt, dự án sản xuất, giao dịch phục vụ cho việc mở rộng thị trường xuất khẩu, đi lao động ở nước ngoài, Việc mở rộng đối tượng khách hàng tạo điều kiện thuận lợi để tăng các khoản vay ngoại tệ Tỷ lệ vay vốn ngoại tệ tăng từ 16,1% năm 1999 lên 21% năm 2001.①

Như vậy, việc huy động vốn ngoại tệ cho phép mở rộng tín dụng cho nền kinh tế, giảm được rủi ro tỷ giá và phí tổn lãi suất, điều quan trọng hơn là giảm được sự lệ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài

(iii) Đô-la hoá cũng giúp giảm các chi phí giao dịch và mức độ mở cửa sẽ lớn hơn

Vì sử dụng USD trong thanh toán những giao dịch nhất định, chi phí như chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán trong việc chuyển đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác giảm đáng kể Những chi phí nhằm chống lại rủi

ro tỷ giá cũng được giảm Điều này giúp giảm tổng chi phí nói chung, từ đó thúc đẩy tự do hoá thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và bên ngoài Ví dụ như, thông qua việc chấp nhận USD, Việt Nam có thể giảm được lượng lớn chi phí giao dịch với Nhật Bản hay các quốc gia Châu Á khác vì một bộ phận nhất định của quy trình chuyển đổi từ VND sang USD và ngược lại được loại

Tạp chí Ngân Hàng, số 5/2004

Trang 18

bỏ Kết quả cho thấy thương mại của Việt Nam liên tục tăng trưởng trong giai đoạn gần đây

Đô-la hoá góp phần thúc đẩy thương mại và đầu tư Các nước thực hiện đô-la hoá chính thức có thể loại bỏ rủi ro cán cân thanh toán và những kiểm soát mua ngoại tệ, khuyến khích tự do thương mại và đầu tư quốc tế Các nền kinh tế đô-la hoá chính thức có thể được hưởng chênh lệch lãi suất đối với các khoản vay nợ nước ngoài thấp hơn, nhờ đó sẽ giảm chi ngân sách nhà nước, thúc đẩy đầu tư và tăng trưởng kinh tế

Cuối cùng, khi một quốc gia đô-la hoá ở mức độ sâu rộng sẽ rút ngắn chênh lệch giữa tỷ giá thị trường ngoại hối chính thức và thị trường ngoại hối phi chính thức (thị trường chợ đen) Khi tỷ giá trên hai thị trường này sát nhau thì sẽ tạo động cơ để các hoạt động trên thị trường chợ đen (thị trường bất hợp pháp) chuyển sang thị trường chính thức (thị trường hợp pháp) Điều này giúp Nhà nước và các cơ quan chức năng dễ dàng hơn trong việc kiểm soát, quản

lý các hoạt động diễn ra trên thị trường

1.4.2 Những tác động tiêu cực của đô-la hoá

Bên cạnh một số tác động tích cực trên, hiện tượng đô-la hoá còn mang lại nhiều tác động tiêu cực đến nền kinh tế

(i) Thách thức lớn nhất của đô-la hoá liên quan đến tính an toàn của hệ thống ngân hàng và sự quản lý thận trọng Hạn chế vai trò "cứu cánh cho vay cuối cùng" của NHTW

Đô-la hoá có thể làm tăng tính dễ bị tổn thương của hệ thống ngân hàng, xuất phát từ sự bất tương xứng giữa khoản tiền gửi và hoạt động cho vay, và từ rủi ro tín dụng và hối đoái Khoản ngoại tệ cho vay khó đòi trên tổng vốn cho vay đã xấp xỉ 2 lần chỉ tiêu này đối với tiền đồng

Nhất là đối với NHTM quốc doanh, những biến động tiềm ẩn của FCDs

có thể làm tăng tính nan giải của bài toán tính lỏng và việc tái xuất hiện yêu cầu dự trữ chính thức của Việt Nam Khoản bảo đảm cho FCDs bằng tổng dự

Trang 19

trữ chính thức thực sự đã giảm trong hơn 5 năm qua từ hơn 140% vào cuối năm 1996 xuống 60% vào cuối tháng 8/2001.①

Trong trường hợp tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ của dân cư cao như hiện nay, ngân hàng sẽ phải đối mặt với những khó khăn trong việc cân đối vốn khi có những biến động bất ngờ làm người dân đổ xô đi rút USD hoặc chuyển sang VND trong khi số ngoại tệ này đã được ngân hàng cho vay, đặc biệt là cho vay dài hạn Do đó, để giải quyết vấn đề cân đối vốn, nó cần phải vay mượn

và đương nhiên khả năng thanh toán của ngân hàng phụ thuộc khả năng vay mượn này Hơn nữa, nó cần phải tính đến rủi ro lãi suất tức là lãi suất này có thể cao hơn lãi suất mà ngân hàng đã cam kết cho vay dài hạn Ngoài ra, vốn

tự có của ngân hàng Việt Nam còn ở mức thấp Tuy nhiên mọi người tin tưởng vào sự an toàn của khoản tiền gửi tại ngân hàng vì có sự bảo lãnh ngầm của NHNN đối với các khoản vay này Sự bảo đảm này chỉ có thể thực hiện được đối với VND còn USD thì không Không có khả năng phát hành USD, NHTW không thể thực hiện chức năng "người cho vay cuối cùng" khi hệ thống ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn Rõ ràng một khi chức năng

"người cho vay cuối cùng" bị vô hiệu, khu vực ngân hàng càng trở nên dễ bị tổn thương hơn khi ngân hàng ngừng kinh doanh hay phá sản

(ii) Đô-la hoá làm giảm hiệu quả của việc kiểm soát tiền tệ của NHTW

Đô-la hoá không chính thức ở Việt Nam làm cho nhu cầu nội tệ không

ổn định và dễ nhạy cảm hơn với những thay đổi từ bên ngoài Một khi mọi người giữ lượng lớn tiền gửi ngoại tệ, lãi suất trong nước hay quốc tế thay đổi

có thể gây ra chuyển dịch lớn từ đồng tiền này sang đồng tiền khác tạo nên khó khăn cho NHTW trong việc dự đoán tổng phương tiện thanh toán, dẫn đến không đưa ra được những quyết định kịp thời và chính xác về việc tăng

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: http://www.sbv.gov.vn/vn/home/tintapchi.jsp?tin=305

Trang 20

hoặc giảm cung tiền Kết quả là chính sách tiền tệ bị phụ thuộc và bị ảnh hưởng lớn bởi những thay đổi từ bên ngoài

Trong một nền kinh tế có tỷ trọng ngoại tệ lớn, việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô đặc biệt là chính sách tiền tệ sẽ không được độc lập

mà chịu nhiều ảnh hưởng bởi diễn biến kinh tế quốc tế Hệ thống ngân hàng

tổ chức rộng rãi việc huy động USD dưới mọi hình thức, cạnh tranh nhau đưa lãi suất huy động hấp dẫn với người gửi, đồng thời sử dụng USD để cấp tín dụng cho các doanh nghiệp bao giờ cũng gắn liền với SIBOR, LIBOR Còn SIBOR hoặc LIBOR lại do chính sách tiền tệ của Mỹ quyết định

Thêm vào đó, một khoản tiền gửi ngoại tệ là một bộ phận của M2 nhưng có nhiều nhân tố tác động tới tiền gửi ngoại tệ mà NHNN không thể kiểm soát được hết các nhân tố này Vì lẽ đó, trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ, mục tiêu trung gian của M2 sẽ bị bóp méo, sai lệch Thứ nhất, vì

nó chịu ảnh hưởng của cán cân thanh toán quốc tế: cán cân thanh toán của Việt Nam thặng dư/thâm hụt dẫn đến vốn USD chảy vào/chảy ra và tăng/giảm tổng phương tiện thanh toán của Việt Nam

Ngoài ra, chiến lược huy động vốn của NHTM, danh mục đầu tư của các doanh nghiệp và hành vi tiết kiệm của hộ gia đình đều thay đổi Tiền gửi ngoại tệ của các doanh nghiệp thì có thể dự đoán được thông qua chính sách kết hối ngoại tệ① Tuy nhiên NHTW khó có thể đoán trước được thay đổi trong hành vi tiết kiệm của hộ gia đình Do đó, sự dao động thất thường của FCDs nằm ngoài tầm kiểm soát của NHNN

(iii) Đô-la hoá trên thị trường tự do càng tăng, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng hoạt động càng kém sôi động, gây ảnh hưởng đến sự cân đối cung cầu ngoại tệ

Là quy định của Nhà nước yêu cầu doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ phải bán lại một phần hoặc toàn bộ cho ngân hàng

Trang 21

Thị trường ngoại hối chủ yếu là mua bán ngoại tệ Nhưng đô-la hoá làm cho lượng ngoại tệ bị sức hút vào cất giữ trên các tài khoản của NHTM Lượng ngoại tệ này cũng là vốn khả dụng mà chủ sở hữu là người gửi tiền nên ngân hàng không thể đưa ra thị trường liên ngân hàng để mua bán Mặt khác, các NHTM lại cho vay trực tiếp bằng ngoại tệ, rất ít liên quan đến thị trường mua bán ngoại tệ Chính vì vậy mà thị trường ngoại hối không có sự hoạt động nhộn nhịp

Ngoài ra đô-la hoá còn làm cho thị trường này rất dễ rơi vào trạng thái mất cân bằng (thường là khan hiếm ngoại tệ) Điều đó cho thấy sự bất hợp lý trong luân chuyển ngoại tệ Đô-la hoá ngoài hệ thống ngân hàng cũng đồng nghĩa với việc nguồn ngoại tệ bị phân tán, không tập trung qua hệ thống ngân hàng để đáp ứng cho nền kinh tế Xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, cung cầu ngoại tệ không khó khăn nhưng do đô-la hoá làm cho hiện tượng căng thẳng ngoại tệ diễn ra khá phổ biến Do ngoại tệ trên thị trường khan hiếm, các ngân hàng chưa có đủ ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp nên cũng không có dư để bán trên thị trường Khi cầu ngoại tệ tăng mạnh mà cung ngoại tệ lại không tăng thì thị trường ngoại hối sẽ trở nên căng thẳng Theo số liệu thống kê năm 2000 về xuất nhập khẩu, kiều hối, nguồn phi thương mại, chiếm khối lượng lớn thì cán cân vãng lai của Việt Nam thặng dư Tuy nhiên căng thẳng ngoại tệ vẫn tiếp tục kéo dài Nguyên nhân là

do bộ phận dân cư nhận được kiều hối thì muốn rút USD tiền mặt rồi bán trên thị trường tự do mà không bán cho ngân hàng, vì tỷ giá ở thị trường tự do vẫn hấp dẫn hơn Nguồn thu ngoại tệ của hệ thống doanh nghiệp cũng chiếm tỷ trọng lớn nhưng các doanh nghiệp cũng không bán cho ngân hàng nên các ngân hàng cũng khan hiếm ngoại tệ, nên khó đáp ứng cho nhu cầu mua ngoại

tệ của các đơn vị khác Còn nguồn thu ngoại tệ của Nhà nước phần lớn là từ việc bán dầu thô nhưng lại tập trung vào Bộ Tài chính, sau đó Bộ Tài chính mới bán lại một phần cho NHNN để bán cho NHTM phục vụ nhập khẩu xăng

Trang 22

dầu Nhu cầu mua USD và gửi USD tại các NHTM ngày càng tăng cao, ai cũng muốn đô-la hoá phần tài sản của mình và đó là nguyên nhân của sự căng thẳng cung cầu ngoại tệ trong thời gian vừa qua

(iv) Đô-la hoá hạn chế tác động của chính sách tiền tệ nhằm thúc đẩy tăng trưởng, hạn chế tác dụng của tỷ giá như một công cụ khuyến khích xuất khẩu

Nỗ lực của NHTW nhằm kích cầu/giảm cầu thông qua tăng/giảm tín dụng sẽ mang lại ít hiệu quả khi sự thay đổi lãi suất ngoại tệ ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định phân phối tài sản của người giữ USD Nói cách khác, sự thay đổi lãi suất ngoại tệ ít nhiều ảnh hưởng đến tổng cầu nội địa vì khi lãi suất ngoại tệ tăng/giảm người giữ USD có xu hướng hạn chế/mở rộng tiêu dùng và đầu tư

Do đó khi NHTW thực thi chính sách lãi suất thấp trong trường hợp kinh tế suy thoái chưa chắc đã khuyến khích được tiêu dùng và đầu tư mà lại dẫn đến tâm lý chuyển đổi từ VND sang USD để hưởng "lãi kép" Năm 2000, thực thi chủ trương kích cầu của Chính phủ lãi suất VND được duy trì ở mức thấp, đồng lúc với lãi suất USD trên thị trường quốc tế đang tăng cao Các NHTM cũng đồng loạt đẩy lãi suất huy động USD làm cho tiền gửi USD của người dân trong hệ thống ngân hàng tăng rất nhanh Do đó càng làm trầm trọng thêm tình trạng giảm phát, chính sách kích cầu không phát huy tác dụng

và hàng ngàn tỷ đồng nằm "chết" trong hệ thống ngân hàng, gây ra sự lãng phí vốn nghiêm trọng (cả nội tệ lẫn ngoại tệ) trong khi nền kinh tế lại đang thiếu vốn để đầu tư

Cũng tương tự, trong khi sử dụng công cụ tỷ giá để khuyến khích xuất khẩu thì đô-la hoá lại làm tăng phản ứng phụ của chính sách phá giá Chính sách phá giá theo hướng làm giảm giá trị đồng bản tệ để cho các nhà xuất khẩu khi thu được ngoại tệ chuyển đổi qua đồng bản tệ sẽ được hưởng một giá trị lớn hơn cộng thêm lãi suất tiền gửi nội tệ, thu nhập của các nhà xuất

Trang 23

khẩu tăng cao tạo ra khả năng cạnh tranh giá cả hàng hoá trên thị trường quốc

tế Nhưng vì giai đoạn phá giá lại trong nền kinh tế bị đô-la hoá nên đã tạo ra phản ứng tiêu cực là càng khuyến khích sự găm giữ tích trữ ngoại tệ, tạo áp lực lên sự mất cân đối cung cầu ngoại tệ

(v) Đô-la hoá càng nặng, cơ hội để đồng nội tệ trở thành đồng tiền chuyển đổi càng xa vời

Sự khác nhau có tính quyết định giữa đồng tiền mạnh và đồng tiền yếu

là dựa trên cơ sở sự ổn định danh nghĩa của nó Tiêu thức này liên quan đến chức năng làm phương tiện cất giữ và thanh toán Ở Việt Nam, đô-la hoá làm cho VND bị lấn át về chức năng này VND không làm được trọn vẹn chức năng của mình, đô-la hoá làm VND phải "cạnh tranh" trong thế yếu so với một đồng tiền mạnh như USD

(vi) Đô-la hoá đồng nghĩa với việc NHTW bị mất đi một khoản doanh thu từ việc phát hành tiền hay còn gọi là thuế đúc tiền

Trong khi có thể có được một số ưu quyền tiền tệ từ dự trữ ngoại tệ bắt buộc của NHTM tại NHTW thì nó lại bị mất đi khi nó lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng Như được đề cập ở trên, không có số liệu cụ thể về lượng ngoại tệ trong lưu thông tại Việt Nam Tuy nhiên, giả định tỷ lệ ngoại tệ trong lưu thông trên tiền gửi ngoại tệ là tương đương tỷ lệ tiền đồng trong lưu thông trên tiền gửi bằng đồng, ngoại tệ trong lưu thông sẽ xấp xỉ 42 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 10%GDP (tính theo số liệu cuối năm 2000) Với tổng tiền dự tính tăng trung bình 20%, khoản doanh thu mất đi theo cách này sẽ là khoảng

Mặt khác, cho lưu thông đồng thời hai đồng tiền sẽ dẫn đến lượng VND phát hành sẽ nhỏ hơn khi chỉ có duy nhất VND được lưu thông Điều này cũng dẫn đến việc giảm doanh thu từ phát hành tiền Ví dụ chi phí để in

Tổng cục Thống kê Việt Nam: http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=228&ItemID=1915

Trang 24

1000 tờ VND là 200 VND nhưng Chính phủ có thể mua hàng hoá trị giá 1000VND Đó là lợi nhuận ròng từ việc phát hành tiền Khi phát hành ít tiền hơn, lợi nhuận ròng sẽ nhỏ hơn

Khi phát hành tiền, Ngân hàng trung ương của quốc gia đó sẽ thu về được một khoản lợi nhuận không nhỏ từ việc phát hành các loại giấy bạc và tiền kim loại Khi một quốc gia bị đô-la hoá thì đồng đô-la giữ vai trò áp đảo hơn so với đồng nội tệ trong việc thực hiện ba chức năng của đồng tiền Chính

vì thế, khoản thu nhập mà lẽ ra Ngân hàng trung ương nước đó có được từ việc phát hành tiền sẽ chảy về Cục dự trữ liên bang Mỹ, nơi phát hành ra đồng đô-la Mỹ Chính phủ Mỹ hàng năm thu về khoảng 25 tỷ đô-la từ nghiệp vụ phát hành tiền Khi người dân các nước khác giữ đồng đô-la Mỹ trong tay, thì chính là đang góp phần làm giàu cho Bộ tài chính Mỹ Ví dụ tại Argentina – quốc gia có mức độ đô-la hoá cao hàng năm đã bị thiệt hại hơn 750 triệu đô-la

Mỹ từ việc phát hành giấy bạc Con số này quả là không nhỏ, nó chiếm tới 2% tổng thu nhập quốc dân của Argentina vào cùng thời điểm Đã có những cuộc thảo luận về việc chia lợi nhuận thu được từ ưu quyền tiền tệ cho các nước thực hiện đô-la hoá, nhưng cho đến nay việc này vẫn chỉ là dự thảo

(vii) Một nhược điểm nữa của đô-la hoá là lo sợ tiền giả mà ngay cả

Mỹ cũng khó phân biệt được tiền giả

Ngoài việc sản xuất cocaine, Colombia còn nổi tiếng về các “nhà máy” sản xuất đô-la Rủi ro về chính trị cũng có thể xảy ra Khi El Salvador tiến hành đô-la hoá, đảng đối lập gọi đó là hành động bán mình cho đế quốc Thuyết phục người dân bản xứ sử dụng một loại tiền không quen thuộc cũng không phải dễ Một trong những khó khăn Argentina gặp phải khi quyết định đô-la hoá sẽ là văn hoá: đô-la hoá có thể được coi là thua chủ nghĩa thực dân,

là dâng nộp biểu tượng niềm tự hào của đất nước

Trang 25

(viii) Khi một quốc gia bị ảnh hưởng của tình trạng đô-la hoá cao thì nền kinh tế của quốc gia đó sẽ bị phụ thuộc nhất định vào nền kinh tế Mỹ

Các chính sách về tỷ giá và lãi suất của Cục dự trữ liên bang Mỹ - FED

sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động của quốc gia đó Và khi đồng đô-la dao động so với các đồng tiền khác trên thế giới (và việc này xảy ra thường xuyên), đôi lúc khá mạnh, thì sẽ không có cách nào để đối phó với những khủng hoảng như vậy Vì nước thực hiện đô-la hoá hoàn toàn trao quyền kiểm soát và quyền đưa ra một chính sách tiền tệ tập trung và độc lập cho Ngân hàng trung ương của nước phát hành tiền Cục Dự trữ Liên bang Mỹ sẽ chỉ đưa ra những quyết định có lợi cho Mỹ và không quan tâm mấy đến tình hình

ở các nước thực hiện đô-la hoá

Cũng từ nguyên nhân trên, nước thực hiện đôla hoá sẽ không thể đối phó với các cú sốc kinh tế, ví dụ như dao động của giá dầu trên thị trường thế giới, bằng cách thay đổi tỉ giá hối đoái Đô-la hoá sẽ vô hiệu hoá phương thức

sử dụng chính sách tỉ giá hối đoái Các cú sốc ngoại biên, dao động của đồng đô-la chỉ là một trong số đó, sẽ không thể được đồng nội tệ hấp thụ bớt mà sẽ được truyền thẳng vào các hoạt động kinh tế

Thực tế thì các nước đang phát triển và Mỹ có chu kỳ tăng trưởng kinh

tế không giống nhau, vì thế các quốc gia này cần phải có chính sách tiền tệ, lãi suất độc lập mới có thể giúp nền kinh tế tăng trưởng bền vững Như chúng

ta đã biết cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á 1997-1998 bên cạnh lý

do là sự yếu kém của hệ thống tài chính – ngân hàng thì một nguyên nhân không kém phần quan trọng là các nước châu Á này cố định đồng nội tệ của mình vào đô-la Mỹ Vì thế khi FED tăng lãi suất, làm cho đồng đô-la tăng giá mạnh, dòng vốn đầu tư ở châu Á ồ ạt đổ về Mỹ Khi đó các nước châu Á đã không kiểm soát được lượng đô-la Mỹ trên thị trường, không đưa ra được

Trang 26

chính sách tỷ giá hợp lý, vì thế càng làm cho khủng hoảng kéo dài và gây nên những hậu quả nghiêm trọng như chúng ta đã biết

1.5 Kinh nghiệm quốc tế về đô-la hoá và bài học cho Việt Nam

1.5.1 Kinh nghiệm đô-la hoá ở Argentina

Từ trước khi tổng thống Carlos Menem đưa ra ý tưởng đô-la hoá nền kinh tế vào năm 1999 thì gần như toàn bộ nền kinh tế Argentina đã sử dụng rộng rãi đồng đô-la Hiện nay Argentina là quốc gia đô-la hoá bán chính thức

Trước khi đồng peso bị mất giá vào tháng 1/2001 thì phần lớn các giao dịch như vay mua xe, mua nhà đều được thanh toán bằng USD Hiện nay, khi đồng peso trượt giá quá nhanh thì “cơn sốt xanh” tràn ngập khắp đất nước Argentina, mọi người đổ xô đi mua USD để tiêu dùng và làm tài sản cất trữ

Tuy nhiên, Argentina là quốc gia chủ trương đô-la hoá nền kinh tế Từ trước đến giờ, Argentina không có một loại tiền tệ chính thống Khi Carlos Menem được bầu làm tổng thống vào năm 1989, tỷ lệ lạm phát của nước này

đã lên tới 78%/tháng Để giảm lạm phát, Quốc hội Argentina đã thông qua

“Luật chuyển đổi” vào tháng 3/1991, chính thức thiết lập tỷ lệ chuyển đổi từ đồng Austral (tiền tệ của Argentina kể từ năm 1985) sang USD là 10000 Austral đổi 1USD Chỉ sau đó 1 năm, tháng 1/1992 đồng Peso được dùng làm tiền tệ của Argentina thay cho Austral với tỷ lệ 10000 Austral đổi 1 peso Như vậy, NHTW Argentina phải sẵn sàng bán ra USD với tỷ giá USD/peso = 1 Khi mà những mối lo ngại về sự không ổn định của hệ thống tiền tệ cũng như tính chuyển đổi của đồng peso tăng lên đồng nghĩa với việc người dân ưa chuộng sử dụng USD hơn Điều này làm cho dự trữ ngoại hối của Argentina giảm sút và đồng nghĩa với việc NHTW mất đi tính chủ động trong việc điều hành chính sách tiền tệ, ổn định thị trường

Gần đây, thế giới lại đang bàn luận về quyết định đô-la hoá nền kinh tế của Argentina Vậy nguyên nhân nào khiến các nhà chức trách quyết định đô-

Trang 27

la hoá nền kinh tế, từ bỏ quyền tự do hoạch định chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá? Có 4 nguyên nhân chính:

 Rủi ro lãi suất lớn, bắt nguồn từ mối lo ngại về khả năng chuyển đổi của đồng peso Đây là nguyên nhân khiến các nhà đầu tư nước ngoài không mặn mà với việc đầu tư ở Argentina

 Sự mất niềm tin của người dân vào các nhà hoạch định chính sách vĩ

mô nói chung và vào hệ thống tiền tệ của Argentina nói riêng

 Lạm phát luôn ở mức cao dẫn đến giảm sức mua của đồng nội tệ và làm mất tính hiệu quả của các chính sách kinh tế

 Nền kinh tế Argentina vốn chịu tác động mạnh của những cú sốc ngoại biên (như khủng hoảng Brazil, khủng hoảng tài chính Châu Á, ) làm mất khả năng cạnh tranh của nền kinh tế

Tuy nhiên, việc Argentina nên đô-la hoá nền kinh tế hay chọn giải pháp thả nổi tỷ giá hối đoái đang là vấn đề còn nhiều tranh cãi Nói chung, Argentina phải cân nhắc kỹ lưỡng giữa cái được và cái mất khi quyết định đô-

la hoá nền kinh tế

1.5.2 Kinh nghiệm đô-la hoá ở Campuchia

Campuchia là quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á và là láng giềng thân thiết với Việt Nam Campuchia đã đạt được những thành tựu kinh tế - xã hội rất ấn tượng trong lịch sử phát triển của mình Tăng trưởng GDP hàng năm đạt gần 10%, chỉ số giá tiêu dùng CPI giảm từ 56% trong giai đoạn 1990 – 1998 xuống trung bình 3,5% trong những năm gần đây

Tuy nhiên, hiện nay Campuchia vẫn là quốc gia có tình trạng đô-la hoá cao, nếu không muốn nói là cao hơn so với 10 năm trước Ở Campuchia, USD

đã thực hiện cả 3 chức năng tiền tệ: phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện cất trữ giá trị

Trang 28

NHNN Campuchia ước tính tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán đã tăng mức kỷ lục đạt 75% vào năm 2006 và hiện nay là 97%

Tại Campuchia, trong khi đồng Riel rất ít được sử dụng thì USD lại rất được ưa chuộng Có đến 90% các giao dịch thương mại được thực hiện bằng USD Hơn nữa, hầu hết giá cả mọi hàng hoá, dịch vụ đều được quy đổi ra USD Người dân mua bán, trao đổi đều bằng USD Hiện nay tình trạng đô-la hoá cao đang làm đau đầu các nhà chức trách ở Campuchia Mới đây nhất là việc khó khăn khi quyết định đồng tiền nào sẽ được sử dụng cho sàn chứng khoán sắp khai trương của Campuchia Chính phủ thì muốn sử dụng đồng Riel nhằm mục đích quảng bá cho đồng nội tệ và thực hiện mục tiêu chống đô-la hoá Tuy nhiên, theo quan điểm của giới đầu tư và thị trường thì lại muốn sử dụng USD do tính an toàn của nó và thói quen sử dụng của thị trường

Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đô-la hoá cao và dai dẳng tại Campuchia? Đó chính là sự mất niềm tin của người dân vào đồng Riel trong một thời gian dài, dẫn đến việc sử dụng một ngoại tệ khác an toàn hơn

để thay thế Nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ một hệ thống tiền tệ kém phát triển, bất ổn chính trị, sự yếu kém của hệ thống pháp lý và buông lỏng quản lý của các cơ quan chức năng

Nhưng tại sao gần đây khi chính sách kinh tế, hệ thống luật pháp và sự quản lý của các cơ quan chức năng đã được cải thiện mà tình trạng đô-la hoá

ở Campuchia vẫn không ngừng gia tăng? Vậy lý do giải thích cho tình trạng đô-la hoá dai dẳng ở Campuchia là gì? Có 2 nhân tố quyết định: mức độ cải cách và vấn đề lịch sử

Về mức độ cải cách, vấn đề không nằm ở việc Campuchia đã tiến bao

xa trong thời gian qua mà nằm ở chỗ Campuchia cần đạt được những gì Mặc

dù Campuchia đã có sự tăng trưởng ngoạn mục, nhưng hiện nay vẫn là quốc

Trang 29

gia có thu nhập thấp, nghèo nàn, và mức độ chênh lệch giàu nghèo lớn, thường xuyên xảy ra bất ổn chính trị, tệ nạn tham nhũng Đặc biệt là sự yếu kém của hệ thống ngân hàng, tiền tệ Campuchia đang phải đối mặt với thách thức phát triển một hệ thống ngân hàng độc lập với một khung pháp lý chặt chẽ Tóm lại, những thành tựu về kinh tế, xã hội, chính trị mà Campuchia đã đạt được vẫ chưa đủ để bắt đầu quá trình chống đô-la hoá hiệu quả

Về vấn đề lịch sử, Campuchia có một độ trễ khá lớn so với các nền kinh tế khác Đô-la hoá ở Campuchia là hậu quả của nền kinh tế và tài chính

bị tàn phá nặng nề sau những năm 70 của thế kỷ XX, sự yếu kém trong quản

lý kinh tế vào những năm 80 và một lượng lớn USD được chuyển vào nước này trong thời kỳ UNTAC① ở những năm 90, chưa kip gượng dậy thì nền kinh tế lại chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 – 1998 khiến tình trạng đô-la hoá càng trầm trọng Không giống các quốc gia khác, nơi mà sự không ổn định của nền kinh tế vĩ mô và lạm phát cao làm gia tăng tình trạng đô-la hoá, thì ở Campuchia đô-la hoá là hậu quả của một loạt những bất ổn về chính trị và yếu kém trong quản lý Nhà nước

Tóm lại, tình trạng đô-la hoá ở Campuchia đang ở mức cao và chưa có dấu hiệu thuyên giảm Campuchia muốn khắc phục tình trạng này thì phải giải quyết triệt để những vấn đề còn đang tồn tại Quá trình này đòi hỏi phải kiên trì thực hiện trong thời gian dài chứ không thể một sớm một chiều mà giải quyết hết được

1.5.3 Bài học cho Việt Nam

Từ thực trạng quá trình đô-la hoá của Argentina và Campuchia, chúng

ta cũng rút ra được những bài học kinh nghiệm quý báu về chống đô-la hoá

Thứ nhất, cần phải xây dựng được một hệ thống ngân hàng vững mạnh,

độc lập và một khung pháp lý hoàn chỉnh Trong đó phát triển đa dạng các

Phái bộ chuyển tiếp của Liên Hiệp Quốc tại Campuchia

Trang 30

dịch vụ ngân hàng, tạo điều kiện tốt nhất cho phát triển kinh tế Vì hệ thống ngân hàng chính là trung gian trung chuyển vốn cho nền kinh tế Nếu hệ thống ngân hàng yếu kém thì nền kinh tế sẽ trì trệ và buộc phải huy động từ các nguồn trên thị trường tự do Điều này lại dẫn đến việc Nhà nước mất kiểm soát trong hoạt động tài chính tiền tệ Đây là điều nguy hiểm đối với nền kinh

tế Hơn nữa, phải nâng cao vai trò của NHNN và các cơ quan chức năng trong việc điều hành chính sách tiền tệ, ổn định thị trường, quản lý và điều tiết nền kinh tế vĩ mô Vì nếu công tác quản lý, điều hành không tốt thì thị trường sẽ giống như rắn mất đầu, không xác định được phương hướng, mục tiêu Đây là dấu hiệu nguy hiểm dẫn đến khủng hoảng và sự bất ổn định của nền kinh tế

Thứ hai, phải xây dựng niềm tin của người dân vào đồng nội tệ bằng

cách duy trì một hệ thống tiền tệ ổn định và vững mạnh Muốn thực hiện được điều này thì trước tiên phải phát triển kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và duy trì ở mức chấp nhận được từ đó ổn định giá trị của đồng nội tệ

Thứ ba, cần phải ổn định chính trị bởi có an cư thì mới lạc nghiệp

Chính trị có ổn định thì người dân mới tin tưởng vào Nhà nước và tuân theo

sự điều hành của Nhà nước Bên cạnh đó cần nâng cao chất lượng quản lý của

bộ máy Nhà nước từ trung ương xuống địa phương, bài trừ nạn quan liêu, tham nhũng

Trang 31

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH ĐÔ-LA HOÁ

TẠI VIỆT NAM

2.1 Diễn biến tình hình đô-la hoá tại Việt Nam trong thời gian qua

Hiện tượng nền kinh tế Việt Nam sử dụng rộng rãi đồng đô-la Mỹ trong giao dịch, buôn bán, bắt đầu được chú ý đến từ năm 1988 khi các ngân hàng được phép nhận tiền gửi bằng đồng đô-la Đến năm 1992, tình trạng đô-la hoá

đã tăng mạnh với hơn 41% lượng tiền gửi vào các ngân hàng là bằng đô-la Trước tình trạng này, NHNN Việt Nam đã cố gắng đảo ngược quá trình đô-la hoá nền kinh tế và đã khá thành công khi giảm mạnh mức tiền gửi bằng USD vào các ngân hàng xuống còn 20% vào năm 1996 Nhưng tiếp theo đó cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á 1997 đã khiến cho đồng tiền Việt Nam giảm giá trị, và Việt Nam lại tiếp tục chịu sức ép của tình trạng đô-la hoá

Sau đây là chi tiết diễn biến quá trình đô-la hoá ở nước ta trong các giai đoạn từ năm 1990 đến nay:

(41%) bắt nguồn từ siêu lạm phát

Ở nước ta đô-la hoá bắt đầu xuất hiện từ khi tiến hành cải cách nền kinh tế, chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường vào cuối những năm 80 đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX

Năm 1985, Việt Nam thực hiện cuộc cải cách giá - lương - tiền mà đỉnh cao là sự kiện đổi tiền vào tháng 9/1985 và lạm phát cũng đã bùng nổ ngay sau đó Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/1986 đã tăng lên đến 775%, hai năm tiếp theo lạm phát cũng ở mức rất cao với 3 chữ số Từ 1989 đến 1991 lạm phát tuy có giảm nhưng vẫn còn khá cao với mức tăng hơn 67% liên tiếp trong hai năm 1990 - 1991

Trang 32

Hậu quả tai hại là nền kinh tế bị chao đảo, đồng tiền mất giá mạnh, niềm tin vào giá trị đồng bạc Việt Nam không còn, gây tâm lý chạy trốn khỏi tiền giấy mất giá bằng cách đổ xô nắm giữ vàng, USD, hay bất động sản Mọi người có lúc đã chứng kiến cảnh giá vàng và USD tăng lên đến chóng mặt (tăng tới 10 - 11%/1tháng) Lúc đó rút tiền tiết kiệm chưa đến hạn ra mua vàng hay USD dù có bị mất lãi 3,5%/tháng vẫn được lời gấp đôi số thiệt Mặt khác, hệ thống tài chính chưa đáp ứng được yêu cầu chu chuyển vốn cũng như các phương tiện của nền kinh tế đang trong quá trình đổi mới Chính hệ thống thanh toán còn quá yếu, đôi khi đã gây nên hiện tượng thiếu tiền mặt một cách vô lý, đã buộc người ta phải dùng vàng và ngoại tệ đưa vào lưu thông làm phương tiện thanh toán

Rõ ràng vì tránh rủi ro lạm phát và đảm bảo sức mua thực tế của đồng tiền cũng như hy vọng kiếm lời đã dẫn tới tâm lý sính dùng vàng và đô-la, hầu hết đều lấy USD làm chuẩn mực để cất giữ và thanh toán trong nước

24%) trong thời gian này là nhờ lãi suất VND đã ở mức thực dương, tâm lý phá giá đồng nội tệ thấp, lạm phát tiền tệ hạ thấp xuống 1 chữ số

Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát, 1991 - 1996

Trang 33

Bảng 2: Lãi suất tiết kiệm USD và VND giai đoạn 1992 – 1996

Lợi tức VND tính theo USD

Lợi tức USD (lãi suất tiết

kiệm USD trong nước)

Chênh lệch lợi tức

Nguồn: Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương, 2002

Đầu những năm thập kỷ 90, NHTW đã sử dụng chính sách tiền tệ mới, đặc biệt đã áp dụng chính sách lãi suất thực dương, do vậy đã hấp dẫn hướng mọi người tích luỹ VND Thực tế đã có nhiều người rút tiền gửi USD chuyển qua gửi vào ngân hàng bằng VND được hưởng lãi cao hơn, dẫn đến tỷ lệ tiền gửi USD trong tổng tiền gửi của hệ thống ngân hàng lúc đó chỉ còn 18% (năm 1996)

Trong hệ thống ngân hàng đã triển khai thực hiện tốt QĐ396/TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý ngoại hối NHTW điều hành tốt việc cung ứng tiền phục vụ cho mục tiêu mua bán ngoại tệ, vàng và một số hàng hoá khác đã giảm xuống

Năm 1992, Việt Nam đã phát hành thêm hàng ngàn tỷ đồng để mua USD trôi nổi mà lạm phát lại được kéo xuống một chữ số từ tháng 3/1992 Tác dụng kép của việc mua USD vào là vừa thay thế USD lưu thông bằng tiền giấy, vừa tăng khối dự trữ ngoại tệ của Nhà nước

Trang 34

Hơn nữa, đây là thời kỳ có tốc độ tăng trưởng bình quân cao nhất kể từ khi chúng ta tiến hành cải cách đến lúc đó, tạo dựng niềm tin của người dân vào công cuộc đổi mới và tin tưởng vào giá trị của VND Bước đầu coi như

đã thiết lập VND thành đồng tiền ổn định giá trị cả về đối nội và đối ngoại VND ngày càng đáp ứng được vai trò là phương tiện thanh toán

hoảng tài chính - tiền tệ Châu Á năm 1997 đã liên đới làm tăng tình trạng đô-la hoá

Ngày 2/7/1997, ngòi nổ của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu

Á bắt đầu bung ra từ Thái Lan và nhanh chóng lan ra các nền kinh tế trong khu vực

Cuộc khủng hoảng làm cho giá trị đồng tiền của các nước này giảm nhanh và mạnh: đồng Rupiah Indonesia mất giá 130%, đồng Bath Thái Lan mất giá 100%, đồng Ringgit Malaysia mất giá 60% ① Là một nước nằm trong khu vực, lại cùng thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu và có cơ cấu xuất khẩu tương đối giống nhau đã tạo áp lực phá giá lên VND và ảnh hưởng bất lợi đến kinh tế trong nước Có thể nói chính sự phá giá của các đồng tiền trong khu vực, sự lên giá của các đồng tiền mạnh và xuất khẩu trong nước suy giảm do khủng hoảng kinh tế đã dẫn đến tâm lý cho rằng tiền Việt Nam sẽ còn tiếp tục mất giá

Ngoài ra, do năm 1996 khối lượng L/C trả chậm khá lớn và phần lớn đến hạn trả vào năm 1997 đã làm tăng nhu cầu mua ngoại tệ trong nước để trả

nợ Đồng thời, nguồn cung ngoại tệ từ nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam cũng giảm sút (trong đó có nguyên nhân bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng) nên cũng góp phần gây áp lực giảm giá VND

Bách khoa toàn thư mở: http://vi.wikipedia.org/wiki/Khủng_hoảng_tài_chính_châu_Á_1997

Trang 35

Điều đáng chú ý là trong giai đoạn này, chênh lệch lãi suất VND & USD đã thu hẹp khoảng cách đến mức thấp nhất Chênh lệch lợi tức sau đó đã khiến tiền gửi ngoại tệ có lợi hơn tiền gửi nội tệ dẫn đến xu hướng các nhà đầu tư và dân chúng rút tiền VND để chuyển sang ngoại tệ tăng lên

Về cơ bản, điều này phản ánh sự phá giá tiền đồng sau hậu quả của khủng hoảng Đông Á, vì lẽ đó đã làm gia tăng tỷ lệ đô-la hoá từ 21% tháng 9/1997 lên 26% vào năm sau

Bảng 3: Lãi suất tiết kiệm USD & VND năm 1997 - 1998

Lợi tức VND tính theo USD

Lợi tức USD (lãi suất tiết

kiệm USD trong nước)

Chênh lệch lợi tức

(1) (2) (3) = (2) – (1) (4) (5) = (3) - (4)

1997 11,57 9,60 -1,97 5,00 -6,97

1998 12,70 9,60 -3,10 5,00 -8,10

Nguồn: Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương, 2002

kinh tế vĩ mô đã có sự ổn định tương đối dược đánh giá là mang tính đa diện, trong đó có 4 nhân tố đóng vai trò chính yếu

(i) Nhân tố đầu tiên là việc tái trung gian hoá ngoại tệ trước đây nằm ngoài hệ thống ngân hàng

Trong xu hướng gia tăng tình trạng đô-la hoá gần đây thì bộ phận tăng mạnh nhất được ghi nhận cho đến nay là trong các hộ gia đình Cụ thể, trong

cả năm 2000, lượng tiền gửi ngoại tệ của hộ gia đình tăng gần gấp đôi, lên đến 3,1 tỷ USD Hơn một năm rưỡi (12/1998 - 8/2001), tỷ lệ tiền gửi của các

hộ gia đình chiếm tới 80% trong tổng lượng gia tăng FCDs

Trang 36

Tuy khối lượng tiền được chuyển thông qua ngân hàng dần được tăng nhiều hơn, nhưng qua so sánh cho thấy nó chỉ góp một phần vào sự tăng mạnh của FCDs Hơn nữa, với sự kiểm soát chặt chẽ các giao dịch trên tài khoản vốn, dòng vốn chảy vào có lẽ cũng bị hạn chế

Nhìn chung, FCDs của hộ gia đình tăng mạnh được coi là một sự phản ánh lòng tin đối với hệ thống ngân hàng đã khôi phục trở lại, và điều này còn do các quy định về việc mở tài khoản ngoại tệ được nới lỏng hơn trong năm 1999

Cũng đáng chú ý là vai trò của lòng tin được nâng lên thể hiện qua việc toàn bộ sự gia tăng FCDs của hộ gia đình giai đoạn gần đây là theo hình thức tiền gửi có kỳ hạn Cuối cùng, có thể sự ưa thích FCDs trong các hộ gia đình cũng phần nào phản ánh hoạt động tương đối trầm lắng của thị trường tài chính

và còn thiếu các công cụ tài chính được hưởng lãi để họ có thể chọn lựa

(ii) Nhân tố chính yếu thứ hai là chênh lệch lợi tức thực dự tính và động cơ đa dạng hoá danh mục đầu tư và rủi ro

Đặc biệt, những dự tính về sự phá giá tiền Đồng định kỳ - một phần bị tác động mạnh lên bởi sự lên giá thực của tiền Đồng kể từ đầu năm 2000 có

xu hướng đồng nhịp với tình trạng đô-la hoá Vì có dự tính về phá giá, các hộ gia đình và các doanh nghiệp cố gắng tìm kiếm sự bảo vệ sức mua thông qua tiền gửi ngoại tệ Với gần 80% trong tổng số FCDs là gửi có kỳ hạn, có lẽ những động cơ đầu tư và đa dạng hoá như vậy đóng vai trò chính và đối lập với nhân tố cầu tiền - có quan hệ mật thiết với chênh lệch lợi tức hiện hành

Hơn nữa, có dự đoán rằng các doanh nghiệp - bộ phận nắm giữ khối lượng lớn tiền gửi ngắn hạn bằng VND - vẫn đang chuyển từ tiền gửi bằng tiền Đồng sang tiền gửi ngoại tệ, đặc biệt là trong tháng 4 đầu năm 2001, khi

mà tiền Đồng lên giá thực khoảng 2,2%

Trang 37

Bảng 4: Lãi suất tiết kiệm USD & VND, 1999 - 2001

Lợi tức VND tính theo USD

Lợi tức USD (lãi suất tiết

kiệm USD trong nước)

Chênh lệch lợi tức

(1) (2) (3) = (2) – (1) (4) (5) = (3) – (4)

1997 11,57 9,60 -1,97 5,00 -6,97

1998 12,70 9,60 -3,10 5,00 -8,10

Nguồn: Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương, 2002

(iii) Nhân tố thứ ba là kết quả hoạt động xuất khẩu khả quan trong giai đoạn 1999 - 2001, xuất khẩu tính theo quý tăng gần gấp đôi so với mức bình quân của giai đoạn ba năm trước

Nhân tố này kết hợp với quy định giảm tỷ lệ kết hối bắt buộc (đầu tiên giảm từ 80% xuống còn 50% vào năm 1999, sau đó còn 40% vào năm 2000) cho phép nhiều nhà xuất khẩu, đồng thời cũng là những nhà nhập khẩu có được nhiều ngoại tệ hơn để tự tài trợ cho hoạt động nhập khẩu đang tăng lên

và giảm rủi ro tỷ giá

Trong điều kiện đó cũng đáng chú ý là vào cuối tháng 8/2001, ngân hàng Vietcombank, ngân hàng chủ chốt trong lĩnh vực giao dịch thương mại quốc tế, đã nắm giữ hơn 40% tổng lượng FCDs Hơn nữa trong vài tháng gần đây, ngân hàng này cũng thu hút được hơn 2/3 lượng FCDs gia tăng trong hệ thống ngân hàng

Trang 38

Bảng 5: Tình hình xuất nhập khẩu giai đoạn 1990 – 2000

(tr USD)

Nhập khẩu (tr USD) Tỷ lệ nhập/xuất

Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam

(iv) Nhân tố thứ tư là không còn chênh lệch lãi suất giữa VND và USD,

mà trước đây sự chênh lệch này rất lớn và thiên về tiền gửi bằng VND

Tỷ lệ chênh lệch đã giảm từ 3% vào giữ năm 1999 xuống còn 0 - 0,25% từ đầu năm 2000, làm cho FCDs hấp dẫn hơn

Lãi suất tiền gửi bằng VND thấp hơn một phần giúp ngân hàng duy trì được khoản lợi nhuận, đặc biệt là khi các khoản cho vay khó đòi đang tăng lên, và một phần là do khả năng thanh khoản của hệ thống ngân hàng vào cuối năm 1999 được nâng lên Những hạn chế trong sức cạnh tranh của ngân hàng

có thể cũng góp phần vào sự giảm chung của lãi suất tiền gửi bằng đồng, vì

Trang 39

các ngân hàng nước ngoài không được phép nhận tiền gửi bằng đồng vượt quá 25% vốn tự có

tiền gửi bằng đô-la ngày càng tăng, cho thấy mức độ ngày một trầm trọng của tình trạng đô-la hoá

Đến cuối năm 2001, tỷ lệ tiền gửi vào các NHTM tăng lên đến 31,7%

Tỷ lệ này có xu hướng giảm đáng kể trong những năm tiếp theo Đến năm

2003 còn 23,6% và năm 2004 là 22% Đây có thể nói là một dấu hiệu tích cực cho thấy tình trạng đô-la hoá tài sản nợ trong hệ thống NHTM đang được kiềm chế một cách có hiệu quả Người dân đã có niềm tin hơn vào đồng nội

tệ Tuy nhiên về số tiền gửi tuyệt đối bằng đô-la thì không ngừng tăng lên, hiện nay con số đạt xấp xỉ 10 tỷ USD Con số này một mặt cho thấy tiềm lực nguồn vốn nhàn rỗi trong dân mà hệ thống ngân hàng có thể huy động được cho đầu tư phát triển kinh tế, nhưng mặt khác cũng cho thấy sự đáng báo động

ở tình trạng đô-la hoá

Trái với xu hướng biến đổi của cơ cấu tiền gửi, tỷ trọng dư nợ cho vay bằng đô-la Mỹ so với tổng dư nợ và đầu tư của hệ thống ngân hàng thương mại lại có xu hướng tăng lên, cao hơn cả tiền gửi đô-la Đặc biệt là tại Thành phố Hồ Chí Minh dư nợ cho vay bằng USD cuối tháng 9 năm 2004 đã tăng gấp hai lần so với năm 2002 Thông qua việc quan sát niêm yết giá và bán hàng hoá, dịch vụ thu ngoại tệ hiện nay, quan sát giao dịch mua bán ngoại tệ của dân cư tại nhiều cửa hàng vàng bạc quy mô lớn ở Hà Nội, thông tin ghi nhận được từ các giao dịch kinh tế ngầm, có thể thấy mức độ sử dụng đô-la

Mỹ trong xã hội nước ta rất đáng quan tâm Có thể nói Việt Nam là một nền kinh tế bị đô-la hoá một phần Tuy vậy, mức độ chính xác của đô-la hoá là số liệu rất khó xác định Trong một số năm khi lãi suất tiền gửi đồng đô-la ở các ngân hàng nước ngoài ở mức cao, để sử dụng những đồng tiền đô-la mà người dân đã gửi vào ngân hàng, các ngân hàng trong nước đã đem phần lớn nguồn

Trang 40

đô-la gửi ra các ngân hàng nước ngoài, chủ yếu là ở Singapore và Hong Kong

để kiếm lãi suất cao

Đến năm 1992, lãi suất đồng đô-la giảm mạnh, các ngân hàng Việt Nam không còn thu lời được từ các tài khoản ở nước ngoài nên đành rút một lượng lớn ngoại tệ về, con số đó khoảng từ 3 đến 4 tỷ USD Lượng tiền gửi ở nước ngoài giảm đi chỉ còn một nửa tính đến thời điểm cuối năm 2003 Sau khi rút tiền đô-la từ ngân hàng nước ngoài về, các ngân hàng Việt Nam bắt đầu cho các doanh nghiệp trong nước vay bằng đồng đô-la để sinh lợi Tính đến cuối năm 2008, khoản tiền mà các ngân hàng cho vay bằng USD đã chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 28% Nếu nhìn về hình thức bên ngoài thì điều này có vẻ yên ổn đối với các ngân hàng, bởi vì họ nhận tiền gửi và cho vay đều bằng ngoại tệ nên có ít rủi ro Nhưng nếu xem xét kỹ, chúng ta nhận thấy các doanh nghiệp đi vay sẽ gặp khó khăn khi đồng tiền Việt Nam bị giảm giá Các doanh nghiệp này chủ yếu có doanh thu bằng đồng Việt Nam, nhưng họ phải trả nợ bằng đồng USD Họ phải đứng trước các rủi ro về sự thay đổi tỷ giá giữa đồng USD và đồng tiền Việt Nam mà không có những công cụ phòng tránh rủi ro

Nếu đồng đô-la tăng giá, nhiều doanh nghiệp Việt Nam sợ mất khả năng thanh toán nợ Khi đó các ngân hàng chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng và từ đó dẫn đến khủng hoảng kinh tế

Nhưng trong thời điểm năm 2009, diễn ra tình trạng đồng đô-la Mỹ bị sụt giá nhanh chóng Tỷ giá hối đoái của đô-la với Euro trong 4 năm qua đã sụt giảm 40%, riêng năm 2003 sụt giá 20%, các nhà quan sát cho rằng đồng đô-la Mỹ sụt giá với mức độ nghiêm trọng trong thời gian này vì các lý do sau: nước Mỹ đã bị thâm hụt ngân sách nặng nề (459 tỷ USD, bằng 3,8% tổng GDP của cả nước); tổng số nợ của Chính phủ Mỹ trong năm tài chính 2004 là 7.586 tỷ USD (bằng 67,3% GDP cả nước) vượt quá mức báo động quốc tế; thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai năm 2003 tăng vọt lên đến 530,7 tỷ

Ngày đăng: 13/04/2014, 16:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Frederic S. Mishkin – Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính - NXB Khoa học và kỹ thuật, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính -
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
2. Nguyễn Văn Tiến – Lý thuyết tiền tệ, NXB Thống kê, 2007 3. Song Hong Bing – Chiến tranh tiền tệ, NXB Trẻ, 2009 4. Chiến tranh lạm phát, NXB Lao động, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết tiền tệ", NXB Thống kê, 2007 3. Song Hong Bing – "Chiến tranh tiền tệ", NXB Trẻ, 2009 4. "Chiến tranh lạm phát
Nhà XB: NXB Thống kê
16. Anne-Marie Gulde, David Hoelscher, Alain Ize, David Marston, Gianni De Nicoló - Financial Stability in Dollarized Economies, IMF, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial Stability in Dollarized Economies
13. Reem Heakal - Dollarization Explained http://www.investopedia.com/articles/04/082504 Link
11. Neil R. Ericsson & Steven B. Kamin - Dollarization in Argentina Khác
12. Michael Goujon - University of Auvergne - Fighting inflation in a dollarized economy: the case of Vietnam Khác
14. Andreas Hauskrecht - Kelley School of Business, India University - Dollarization in Vietnam Khác
15. David Altig & Owen Hampage - Federal Reserve Bank of Cleveland - Dollarization - The case of Argentina Khác
17. Kiwon Kang - Is Dollarization Good for Cambodia Khác
18. Jayant Menon - Asian Development Bank - Cambodia’s Persistent Dollarization – Causes & Policy options Khác
20. Wantanabe Shinichi - International University of Japan - De facto dollarization and its effect on finacial development and economic growth of Cambodia, Laos PDR and Vietnam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát, 1991 - 1996 - luận văn tình trạng đô-la hoá tại việt nam – thực trạng và giải pháp
Bảng 1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát, 1991 - 1996 (Trang 32)
Bảng 2: Lãi suất tiết kiệm USD và VND giai đoạn 1992 – 1996 - luận văn tình trạng đô-la hoá tại việt nam – thực trạng và giải pháp
Bảng 2 Lãi suất tiết kiệm USD và VND giai đoạn 1992 – 1996 (Trang 33)
Bảng 3: Lãi suất tiết kiệm USD & VND năm 1997 - 1998 - luận văn tình trạng đô-la hoá tại việt nam – thực trạng và giải pháp
Bảng 3 Lãi suất tiết kiệm USD & VND năm 1997 - 1998 (Trang 35)
Bảng 4: Lãi suất tiết kiệm USD & VND, 1999 - 2001 - luận văn tình trạng đô-la hoá tại việt nam – thực trạng và giải pháp
Bảng 4 Lãi suất tiết kiệm USD & VND, 1999 - 2001 (Trang 37)
Bảng 5: Tình hình xuất nhập khẩu giai đoạn 1990 – 2000 - luận văn tình trạng đô-la hoá tại việt nam – thực trạng và giải pháp
Bảng 5 Tình hình xuất nhập khẩu giai đoạn 1990 – 2000 (Trang 38)
Bảng 6: Tỷ lệ tiền gửi bằng đồng USD trên tổng phương tiện thanh toán - luận văn tình trạng đô-la hoá tại việt nam – thực trạng và giải pháp
Bảng 6 Tỷ lệ tiền gửi bằng đồng USD trên tổng phương tiện thanh toán (Trang 46)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w