Đôi khi, hai khái niệm nay bi nhằm lẫn với nhan, nhưng trên thực tế, lợi thế so sánh chỉ là những điều kiện đặc thù tạo ra ưu thế cho một khía cạnh nảo đó của một quốc gia hoặc ngành ki
Trang 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHOA LUAN TOT NGHIEP
Dé tai:
LOI THE CANH TRANH CUA CA PHE VIET NAM
TRONG THUONG MAI QUOC TE
Sinh viên thực hiện : Phạm Hoàng Miên Lớp : Anh 16
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU Thu êm "¬—— i CHƯƠNG F: LÝ THUYVÉT VỀ LỢI THẺ CẠNH TRANH 4
I/ Khai niém về lợi thệ cạnh tranh và vái trò của việc nghiên cứu lợi thể
cạnh tranh trong thương mại QUỐC TẾ ccc e 4
1 Khai niém foi thé camh tranh ccc nu na nga 4
2 Vai trd cha vide nghién citu loi thé canh trambo ca 6
1 Lý thuyết về loi thé canh tranh quéc gia ctia Michael Porter — ly thuyét N0 3/0 ¬ii'53Ả 7
L Yếu tô sản xuất đầu vào (Factor condiHiOnS) luc chen na 9
2 Điều kiện về cầu thị trường (Demand conditions) _¬— 14
3 Các ngành liên quan và hỗ trợ (related and supporting industries) 19
4 Chiến lược, cơ câu tế chức và môi trường cạnh tranh của doanh
nghiép (Firm strategy, structure and rivalry) 2]
3 Vat trò của Cơ hội và Chính phủ cetera 24
KET LUAN CHƯƠNG I ¬ tên "¬ ccanetivenvensasees 27 CHƯƠNG II: THỤC TRANG LOI THE CANH TRANH CUA CÀ PHÊ VIỆT NAM TRONG THƯỜNG MAT QUỐC TẾ 28
L/ Thực trạng lợi thể cạnh tranh của cà phê Việt Nam phân tích theo “mê
00383) AẴÊ4344 28
1 Yếu tô sản xuất đầu VÀO uc ¬ 28
2 Điều kiện về cầu thị ƯỜNg sả cu na 39
3, Các ngành liên quan và hố tỢ ác S2 xe 4I
3
4 Chién luge, co cau va mirc dé canh tranh cla nganh 44
Trang 4H Đánh giá chung về thực trạng lợi thể cạnh tranh của cả phê Việt Nam trong thương mại QUỐC TẾ 0 2n 2n 22822 rre 48
1 Thành tỰU uc nneereo HH 122 1121222221122 se 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG lÌ cu 022 erke $7 CHUGNG IH: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIÊN NGHỊ NHẬM NẴNG
CAO LỢI THẺ CANH TRANH CHO CÁ PHÊ LIỆT NAM 59
1/ Định hướng tổng quát để phát triển lợi thể cạnh tranh 59
1 Chuyên dịch cơ câu cây trong ¬ sọ
2 Hạ thấp giá thanh san xwate uc nu ng 60
3 Đôi mới công nghệ, thiết bị chế biển cả phê, nắng cao chat lượng cua
4 Đa dạng hoá sản phẩm cả phê uc n2 22a 63
$, Đây mạnh công tác xúc tiên thương mai nhằm mo réng thị trường
xuất khẩu và tăng tiêu dùng nội địA uc na erree 64
6 Phát triển một ngành cả phê bên VỮNG chua ra 65 [/ Miệt số giải pháp và Kiến nghị để nâng cao lợi thê cạnh tranh của cả phê Việt Nam trong thương mại quốc TẾ uc cua ñ6
1 Nhóm giải pháp nhằm phát triển các yêu tổ sản xuất đầu vao 66
2 Nhóm giải pháp nhằm phát triển các điều kiện về cầu thị trường 67
3 Nhóm giải pháp nhằm phát triển các ngành liên quan và hỗ trợ 72
4 Nhóm giải pháp nhằm phat trién chiên lược cơ câu doanh nghiệp va đáp ứng mức độ cạnh tranh cuc uc nh H2 tru nu rue 75
KET LUAN CHUONG LD occ uc "¬ SI HET LAAN oie ccc cccccccccscccseecssese essevsnseesesesiesssusenssvetavivesscrssseuerenesseseeee 82
Trang 5Khoả luận tốt nghiên Phạm Hoàng Miễn - Alé K43D
LOI MO DAU
TINH CAP THIET CUA DE TAI
Có thể nói, cả phê là một trong những loại cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao trong nhiều năm qua ở nước ta Cả phê đã trở thành mặt hàng xuất khâu chủ lực của Việt Nam, có đóng góp đáng kê vào kim ngạch xuất khẩn, tạo công ăn việc lâm, cái thiện đời sống của người nông dân Khi chất lượng cuộc sống ngày cảng được nâng cao thì nhu cầu của các quốc gia về các đồ uống xa xi ngây cảng gia tăng nhanh chóng, Đến cạnh trà, cả phê
luôn là thứ đồ uỗng lý tưởng giúp đem lại tỉnh thần hứng khởi và trở thành nét văn hoá không thể thiểu của nhiều nước trên thể giới Nắm bắt được nhu
câu đó, Việt Nam đã không ngừng mở rộng diện tích trồng cả phê, nâng cao sản lượng để lâm thoả mãn một lượng lớn người tiêu dùng Hiện nay, với gan 50.000 ha điện tích trỗng cả phê, Việt Nam đã trở thành nước sản xuất
cả phê đứng thứ hai thể giới sau Brazil và là nước đứng đầu thế giới về sản
xuất cả phê Robusta Do đó, Việt Nam là cái tên không thể thiểu trong việc
xem xét sự biến động của thị trưởng cả phê thé BIỚI Tuy nhiền, cô một sự
thật đáng buồn là sản lượng cả phê của Việt Nam thuộc hàng cao nhưng giá xuất khẩu cả phê Việt Nam lại rất thấp, có khi thấp hơn mức trung bình của thế giới tới 40 đô la; điều này làm cho tổng giá trị cả phê xuất khẩu nước ta
vẫn lả một con số khiêm tốn Trước thực tế đó, câu hỏi đặt ra là liệu cà phê Việt Nam có thực sự đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới đang diễn ra
ngày một khốc liệt? Làm thể nào để cả phê Việt Nam nâng cao được vị thể cạnh tranh so với các nước sản xuất và xuất khẩu cả phê lớn khác? Đề tìm lời giải đập cho những câu hỏi này, việc nghiền cứu van để về lợi thể cạnh
tranh của ngành cả phê Việt Nam là một việc làm không thể bỏ qua Đây
cũng chính là lý do người viết lựa chọn đề tài “Lợi thể cạnh tranh của cä phê Việt Nam trong thương mại quốc tÈ”,
Trang 6
Khoá luận tất nghiện Pham Hoàng Aliên —Al6 K43D
MUC BICH NGHIEN CUU
- Hé théng héa mét 4 van dé ly luận liên quan đến lợi thể cạnh tranh
- Banh gid vé toi thé canh tranh của cà phê Việt Nam
- Dé xuat mét sé giai phap co ban nham nang cao toi thể cạnh tranh của
cả phê Việt Nam
PHAM VI NGHIÊN CỨU
- _ Về mặt thời gian: Khoá luận đi sâu tìm hiểu tình hình sản xuất cả phê của Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến nay
- Về mặt không gian: Tỉnh hình sản xuất cả phê tại một số địa bản san xuất cả phê trọng điểm của Việt Nam như Tây Nguyên, Đák Lắk
- - Về nội dung: Các vấn đề có liên quan đến quá trình sản xuất cà phê ở
Việt Nam như điều kiện lao động, nguồn vốn, các chính sách của Chính
phủ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
-_ Phương pháp thống kê kinh tế: Tổng hợp, phân tích số liệu và rút ra ban chat van dé
- Phuong pháp phân tích tổng hợp: Phân tích vấn để dưới nhiều góc
cạnh, sau đó tổng hợp và tìm ra những đặc điểm nỗi bật
- Phuong pháp mô hình hoá: Phân tích nội dụng van đê dựa trên một
mồ hình nhất định để từ đó tạo ra tính lô-gic cho toàn bộ nội dung
ĐÓI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của khoá luân là các yếu tổ tạo nên lợi thế trong quá trình sản xuất cả phê ở Việt Nam, bao gồm cả yếu tố khách quan như vị trí địa lý, thời tiết, khí hậu và yêu tổ chủ quan như nguồn nhân lực, trình độ
công nghệ
Trang 7
Khoá luận tỗt nghiện Phạm Hoàng Miễn - A16 K43D
BO CUC CUA KHOA LUAN
Ngoài lời mở đầu, kết luận và đanh rnục tải liệu tham khảo, bỏ cục của khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về lợi thể cạnh tranh
Chương II: Thực trạng lợi thế cạnh tranh của cả phê Việt Nam trong thương mại quốc tế
Chương 1Ù: Một sẽ giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao lợi thế cạnh
tranh cho cả phế Việt Nam Pp
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn, Thạc sĩ Nguyễn Lệ Hãng, đã giúp em hoàn thành để tài này, Em cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới bạn bè, Hiệp hội Cả phê — Ca Cao Việt Nam Vieofa đã cung cấp tư liệu giúp
em thực hiện khoá luận
Do kiến thức có hạn, khoá luận tốt nghiệp của em khó có thể tránh
khỏi những sai sót, rất mong thầy cô và bạn bè có ý kiến đồng góp để khoá
luận được hoàn thiện hơn
Trang 8
Khod luận tết nghiện Phạm Hoàng Miễn - Ál6 K43 D
CHUONG I: LY THUYET VE LOI THE CANH TRANH
' Khái niệm về lợi thể cạnh tranh và vai trò của việc nghiên cứu lợi thể cạnh tranh trong thương mại quốc tẾ
1 Khái niệm lợi thể cạnh tranh
Từ điền Longman cia Anh định nghĩa cạnh ranh là sự nỗ lực để đạt thành công hơn những đổi thủ của mình (Longman Business English
Dictionary, 2000, compesition trang 8, wha Xuất bản Pearson Education),
còn đợi /hế là cải mà nhờ đó, chúng ta có được nhiều thành công hơn đối thủ
(nhu trén, advantage trang 88)
Từ điển tiếng Việt lại định nghĩa cạnh tranh là cỗ gắng gianh phan
hơn, phân thẳng về mình giữa những người, những tổ chức hoại động nhằm những lợi ích như nhau (theo Từ điển tiếng Việt, 2004, rang 112, nhà Xuất
bán Đà Nẵng) Còn (ớt rhế là thể có lợi, điều kiện có lợi hơn người khác
(như trên, trang 5§7)
Vậy tợi thể cạnh tranh là gì?
Trước hết, cần khẳng định khái niệm iợi /hỂ cạnh tranh hoàn toàn
khác khái niệm /ợi ;hế so sánh Đôi khi, hai khái niệm nay bi nhằm lẫn với nhan, nhưng trên thực tế, lợi thế so sánh chỉ là những điều kiện đặc thù tạo
ra ưu thế cho một khía cạnh nảo đó của một quốc gia hoặc ngành kinh doanh của quốc gia đó, như những điều kiện tự nhiên, tài nguyên hay con người, Ví
dụ nguồn nhân công rẻ, tài nguyên đổi đào thường được coi là lợi thế so sánh của các nước đang phát triên, Tuy nhiên, đây mới chỉ là cơ sở cho một lợi thể cạnh tranh tốt chứ chưa đủ là một lợi thê cạnh tranh đảm bảo cho sự
thành công trên thị trường quốc tế
Chang hạn, các nước nổi tiếng về du lịch như Ý và Thái Lan đã tận dụng lợi thể so sánh vệ thiên nhiên và các công trình văn hoá di tích lịch sử
Trang 9Khnả luận tất nghiệp Phạm Huàng Miễn - A16 K43D
để phát triển ngành công nghiệp không khói này rất thành công và hiệu quả Tuy nhiên, họ thành công không phải chỉ dựa vào những di sản văn hoá và thiên nhiên ban cho, mà vì họ đã tạo ra cả một nên kinh tế phục vụ cho du lịch với rất nhiều địch vụ gia tăng kèm theo, từ địch vụ khách sạn, nhà hang,
lễ hội đến các dịch vụ vui chơi giải trí, các trung tâm mua sắm và các chương trình tiếp thị toản cầu Điều đó đã tạo cho họ có lợi thể cạnh tranh quốc gia mà các nước khác khó có thể vượt trội
Như vậy, xét trên cấp độ quốc gia, di thê cạnh tranh là khả năng của quốc gia trong việc cải thiện thu nhập, tạo nhiều việc làm cho dẫn cư hoặc khả năng tăng năng suất tổng hợp của nên kinh tế quốc dân
Còn xét trên khía cạnh doanh nghiệp, loi thé canh tranh là những lợi thé ma nhờ đó, doanh nghiệp duy trì hoặc gia tăng lợi nhuận, thị phần trên thị trường cạnh tranh của sân phẩm Hay theo Bộ thương mại Hoa Kỳ, đợi
thể cạnh tranh của doanh nghiệp là kha nang tiêu thụ một cách bên vững, có
lợi nhuận những sản phẩm, dịch vụ của mình, và khách hàng sẵn sàng mua sản phẩm của mình hơn của các đối thủ cạnh tranh
Đôi với một mặt hàng cụ thê, tợi thể cạnh tranh là những lợi thé ma
nhờ đó, mặt hàng này có thê đứng vững trên thị trường, tiếp cận khách hàng, đem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp sản xuất
Tựu chung lại, cô thê nói /ợi thể cạnh tranh của doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng là khả năng tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế của đoanh nghiệp, của ngành, của quốc gia đó Vậy tợi thể cạnh tranh của cà phê Việt Nam là những lợi thế mà nhờ
đó, mặt hàng cà phê có thé đứng vững trên thị trường, đem lại việc làm vả thu nhập cao hơn cho người trồng cả phê cũng như những doanh nghiệp hoạt động trong các ngành liên quan rong điều kiện hội nhập ngây cảng sâu rộng
vào nên kinh tế thê giới
Trang 10
Khoa luận tốt nghiệp Phạm Hoàng Miễn - A416 K43D
2 Vai trò của việc nghiên cứu lợi thể cạnh tranh
Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh để cập đến một cách tiếp cận mới
nhằm trả lời những câu hỏi như: Tại sao các quốc gia lại thành công trong những ngành sản xuất nhất định? Tại sao một số đoanh nghiệp cạnh tranh thành công trong khí một số doanh nghiệp khác thì thất bại trong một ngành? Chính phủ cần phải làm gì để đoanh nghiệp có thể cạnh tranh được trên thị trường quốc tế?
Như vậy, việc nghiên cứu lợi thể cạnh tranh của doanh nghiệp, của ngành, của quốc gia vả vùng sẽ giúp cho các doanh nghiệp và các chính phủ tựa chọn được những chiến lược kinh doanh hiêu quả và phần bê hợp lý hơn nguồn lực của quốc gia Doanh nghiệp không thê đi đến tận cùng của sự
thành công trừ phi họ xây dựng chiến lược của mình trên cơ sở đổi mới và
cải thiện không ngừng, sẵn sảng tham gia cạnh tranh và hiểu biết thực tế về môi trường quốc gia cũng như cách thức để cải thiện môi trường đó Chính phủ của các quốc gia, với phận sự của mình, phải xây dựng các mục tiêu và mức năng suất hợp lý làm trụ cột cho sự phổn vinh của nên kinh tế Và như thé, sự phần thịnh về kinh tế của một quốc gia có được không nhất thiết phải dựa trên cơ sở những mắt mát của quốc gia khác, và nhiều quốc gia có thể hưởng thánh quả của mình trong một thể giới của sự đổi mới và cạnh tranh
rộng rãi
Khi quá trình toàn cầu hoá cạnh tranh trở nên khốc liệt, một số Tigười
đã cho tăng vai trô của các quốc gia đang ngày cảng giảm đi Nhưng trên thực tế, quá trình quốc tê hoá cùng với sự xoá bở các biện pháp bảo hộ cũng như các biện pháp bóp méo cạnh tranh khác cảng cho thấy yếu tổ quốc gia trở nên quan trọng Sự khác biệt giữa các nước về những nét đặc sắc và văn hoá không bị quá trình cạnh tranh toàn cầu đe doa chứng tẻ nó có sự gắn kết với thành công trong quá Hình cạnh tranh này, Như vậy, việc nghiên cứu lợi
Trang 11Khaá luận tốt nghiệp Phạm Hoàng Miễn - Al6 K43Ð
thể cạnh tranh cũng nhằm giúp các quốc gia hiểu được vai trò mới và khác nhau của mình trong cạnh tranh quốc tế
Vị thé, việc nghiên cứu lợi thể cạnh tranh của ca phê Việt Nam trong
thương mại quốc tế sẽ giúp các ngành cũng như Chính phủ nắm rõ được lợi thể của ngành mình, của quốc gia minh trong môi trường cạnh tranh toàn câu, qua đó có những đôi sách hợp ly để nâng cấp những lợt thế cạnh tranh, tạo ra vị thế cho cả phê Việt Nam trên thị trường quốc tế, không chỉ về số
má còn về chất Việc phân tích lợi thế cạnh tranh cùng sẽ góp phần chỉ ra những điểm yêu của cả phê Việt Nam so với các quốc gia cạnh tranh, để từ đây chúng ta để ra được những phương hướng hoạt động và mục tiêu phát triển, khắc phục điểm yếu và san bằng khoảng cách với đối thú của mình,
IU Ly thuyết về lợi thể cạnh tranh quốc gia cha Michael Porter — ly
thuyết “mô hình kim cương”
Trong lý thuyết lợi thể cạnh tranh quốc gia được đề xuất năm 1990, nhá kinh tế học người Mỹ Michael Porter cho rằng sự gia tăng mức sống và
sự thịnh vượng của quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào khả năng đối mới, khả năng tiếp cận nguồn vốn và hiệu ứng lan truyền công nghệ của nền kinh tế Nói tổng quát hơn, sức cạnh tranh cuả một quốc gia phụ thuộc vào sức cạnh tranh của các ngành trong nên kinh tế Sức cạnh tranh của một ngành lại xuất phát từ năng lực canh tranh của các đoanh nghiệp trong ngành: khả năng đổi mới công nghệ, sản phẩm, cung cách quản lý của ngành và môi trường kinh
doanh Các đầu vảo quan trọng đối với hoạt động sản xuất của nên kinh tế
không phải chỉ thuần là lao động, vên, tài nguyên thiên nhiễên mà cón là
những đầu vào do chính doanh nghiệp hoặc chính phủ tạo ra, Với cách nhìn nhận như vậy, Michael Porter cho rằng ban yéu tố quyết định lợi thê cạnh tranh của một quộc gia là: chiên lược, cơ câu tô chức và cạnh tranh của
Trang 12
Khoá luận tốt nghiệp Pham Huàng Miễn - Ai6 K43Ð
doanh nghiép (Firm strategy, structure and rivalry); yéu t6 san xuat dau vao (Factor conditions); cau thi truéng (Demand conditions); c4c nganh hé trợ
và có liên quan (Related and Supporting Industries), duge biểu thị bởi sơ đồ
structure and rivalry
(chién lược, cơ cầu
Quan hệ tác động trực tiếp ở đây có nghĩa là sự tôn tại của yên tế này
có tác động trực tiếp tới sự tôn tại của yến tô kia Nêu thiếu bất kỳ một yếu
Trang 13Khoá luận tất nghiệp Pham Hoang Mién - A16 K43D
tổ nào thì mô hình sẽ bị biến đạng và không còn nguyên giả trị nữa Đó cũng chính là lý đo tại sao mô bình các yếu tổ cạnh tranh của Michael Porter còn được gọi là “mô hình kưn cương” (Diamond model)
Còn quan hệ ảnh hưởng tức là mối quan hệ bên ngoài, có thể có hoặc không Nên có sẽ gây những tác động nhất định tới bến yếu tổ trong mổ hình, có thê là tác động tiêu cực hay tích cực, làm cho mỗi yêu tổ trong mô hình thay đổi theo chiều hướng xâu hoặc tốt, nhưng không thẻ nào làm biến
dạng được câu trúc của mộ hình
1, Vếu tổ sản xuất đầu vào (Factor conditions)
Michael Porter khẳng định vị thể của một quắc gia về các yếu tổ đâu vào của sản xuất như nhân công có tay nghề, cơ sở hạ tầng là yếu tổ rất
cân thiết để cạnh tranh trong một ngành cụ thê
Miỗi quốc gia đếu sở hữu những điều kiện mã các nhà kinh tế học gọi
18 peu 16 sản xuất đầu vào Vêu tô sản xuất không gì khác hơn là những đầu vào cần thiết đề cạnh tranh trong bất kỳ ngành nào, như nhân công, đất trong trọt, tải nguyên thiên nhiên, vốn vả cơ sở hạ tầng Lý thuyết thương mại căn ban dura trên các yếu tô đầu vào của sản xuất Theo thuyết này, các quốc gia
có các nguôn yếu tổ đầu vào khác nhau Một quốc gia sẽ xuất khẩu những hang hoá sử dụng tập trung các yếu tổ đần vào mà quốc gia đó có sẵn Những yếu tổ đầu vào có tác động quan trọng nhất tới lợi thế cạnh tranh ở trong hấu hết các ngành, đặc biệt là những ngành sống còn đối với các nền kinh tế phát triển, không phải là những yêu tô đầu vào do trời phú, do tự nhiên mà chính là những yêu tố đo mỗi quốc gia tự tạo ra thông qua các quá trình phát triển, và những quá trình này ở mỗi quốc gia lại khác nhau Do đó, các yêu tô đầu vào ở bất kỳ thời điểm nào cũng không quan trọng băng tốc
độ hình thành, phát triển và chuyên biệt hoá các yếu tế đó cho từng ngành cụ
Trang 14
Khoá luận tất nghiệp Phạm Hoàng Miễn - Al6 K43D
thể Điều ngạc nhiên hơn, là có rất nhiều yếu tế đầu vào có thể làm suy yếu
thay vỉ củng có lợi thế cạnh tranh Những bất lợi nhất định trong các yêu tổ
đầu vào này chỉ cô thể góp phân duy trì thành công cạnh tranh nếu có các chiến lược tác động và đối mdi
Đề đánh giả vai trò của các yeu tô đầu vào trong lợi thể cạnh tranh của
một quốc gia cần phải đánh giá ý nghĩa của yếu tổ đầu vào đối với cạnh
tranh theo ngành Các yếu tố đầu vào có thể được nhóm theo một số nhóm chính như sau:
- Nguồn nhân lực: bên cạnh yêu tổ số lượng lao động, Michael Porter đặc biệt nhân mạnh yếu tô chất lượng của nguồn nhân lực như kỹ năng, trình
độ đào tạo của người lao động, chỉ phí nhân sự (kế cả đội ngũ quản lý), giờ
làm việc tiêu chuẩn vả nội quy lao động Nguồn nhân lực có thé chia thành
hàng nghìn nhóm khác nhau như: thợ sản xuất công cụ, kỹ sư, các nhà lập
trình ứng dụng v.v
- Meuyên với liệu chính là nguồn lực có sẵn trong tr nhiên, bao gồm
số lượng, chất lượng, khả năng tiếp cận và chỉ phí sử dụng dat dai, nude, khoáng chất, gỗ, các nguồn thuỷ điện, đất nuôi trông thuỷ sản Các điều
kiện về khí hậu, vị trí địa lý, kích thước địa lý của một quốc gia cũng có thể
coi là một phần của nguồn nguyên vật liệu
- Nguồn lực trì thức: là quy mô trì thúc khoa học, kỹ thuật và thị trường của một quốc gia về hàng hoá và dịch vụ Nguẫn lực trí thức này thường được phát triên trong các trường đại học, các viện nghiên cứu của chính phú, các trung tâm nghiên cứu tư nhân, các cơ quan thông kê chính phú, sách báo, tạp chí kinh doanh và khoa học, các báo cáo và cơ sở dữ liện nghiên cứu thị trường Các nguồn lực trị thức của một quốc gia có thé
duce chia thanh hang rất nhiều ngành, nhóm khác nhau nhự âm học, khoa học vật liệu, thé nhường học v.v
SỈ
Khoa Kink tỆ và Xinh doanh Quốc tế
Trang 15Khoa luận tốt nghiệp Phạm Hoàng Miễn - A416 K43D
- Ngudn von: là lưu lượng và chỉ phí vốn để tài trợ cho các ngành Vốn không phải là nguồn lực đồng nhất mà có được từ nhiều hình thức khác
nhau như nợ không bảo đảm, nợ có bảo đảm, các khoản vay rủi ro cao, von
kinh doanh mạo hiểm Có rất nhiều điều kiện và hình thức khác nhau tuỳ theo từng loại vẫn Tổng nguồn vốn trong một nước và hình thức khai thác,
sử dụng vốn ở mỗi nước lại chịu sự tác động của tỷ lệ tiết kiệm và cầu trúc
thị trường vốn của nước đó, và hai yêu tổ này ở mỗi nước là khác nhau Quá trình toàn cầu hoá thị trường vốn và dòng vốn lưu chuyên giữa các quốc gia với quy mô lớn khiến cho các điền kiện giữa các quốc gia trở nên đồng nhất bơn Tuy nhiên, những điểm khác biệt đặc thù vẫn luôn tổn tại trên từng thị trường vốn và sẽ còn tiếp tục tạo sự khác biệt giữa các quốc gia
- Cơ sở hạ tổng: là hình thức, chất lượng và chỉ phí sử dụng các cơ sở
hạ tầng có tác động tới cạnh tranh, kế cá hệ thông giao thông, hệ thông viễn
thông, dịch vụ bưu chính, phương thức chuyên tiền hoặc thanh toán, chăm sốc sức khoẻ v.v Cơ sở hạ tâng cũng bao gồm những yếu tổ như nhà ớ, các
tổ chức văn hoá, đây là những yếu tổ có tác động tới chất lượng cuộc sống
và sự hấp dẫn của một quốc gia đối với vẫn để sống và làm việc
Tập hợp các yêu tế đầu vào (còn gọi là tỷ lệ yếu tố đầu vào) có sự khác nhau giữa các ngành Các doanh nghiệp của một quốc gia sẽ giành được lợi thể cạnh tranh nêu doanh nghiện có được yêu tô đầu vào với chi phí thấp hoặc với chất lượng đặc biệt cao Tuy nhiên, lợi thê cạnh tranh từ các yêu tê đầu vào này còn phụ thuộc vào mức độ hiệu quả và hiệu suất khai
thác chúng Điều này thê hiện các lựa chọn khác nhau của các doanh nghiệp
về việc huy động các yêu tổ đầu vào cũng như công nghệ được sử dụng, bởi
trên thực tế, giả trị của một số yêu tổ đầu vào nhất định có thể thay đổi đáng
kể theo công nghệ sử dụng Bên cạnh đỏ, các yêu tô nguồn nhân lực, trí thức
và vôn lại là các yếu tô có khả năng di chuyên giữa các quốc gia Nhân công
Trang 16Khoa luận tốt nghiệp Phạm Hoàng Miễn - A416 K43D
có tay nghệ cao có thể di chuyển giữa các nước cũng như các trị thức về khoa học và kỹ thuật Khả năng di chuyến này hiện nay cảng được tăng cường đo hệ thẳng thông tin liên lạc và đi lại ngày cảng thuận lợi Như vậy,
có thê thây rằng, sở hữu các yếu tố đầu vào chưa hắn là một lợi thể vì các yếu tố nảy rất để đảng đi chuyển Cần phải có các yếu tổ quyết định lợi thé cạnh ranh khác đẻ giải thích về trường hợp của những quốc gia biết thu hút
và khai thác các yếu tổ để đàng đi chuyển này
Ngay cả đối với những quốc gia sở hữu nguồn yếu tô đầu vào phong
phú, việc duy trí lợi thể cạnh tranh cũng phụ thuộc rất nhiều vào việc đầu
vào đó là đầu vào cơ bản bay cao cấp, chung hay chuyên biết hóa
Cáo yếu tô đầu vào cơ bản bao gom tai nguyên thiên nhiên, khi hậu,
vị trí địa lý, nhân công không có kỹ năng hoặc kỹ nắng trung bình và vốn vay nợ Các vẫu tổ đầu vào cao cấp bao pằm cơ sở hạ tầng viễn thông kỹ thuật số hiện đại, lực lượng lao động có trình độ cao như các kỹ sư cơ khí,
kỹ sư tin học, các viện nghiên cứu và các trường đại học trong các lĩnh vực
phát triển trình độ cao Trong giai đoạn phát triển ban đầu, đầu vào cơ bản lả
điều kiện cần thiết, tay nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế thể giới, nhụ
cầu sử dụng chúng giảm dân, khả năng cung ứng hoặc tiếp cận với chúng
được mở rộng, đo đó tâm quan trọng của các yếu tô này trong việc tạo ra lợi
thể cạnh tranh cũng giảm dẫn Trên thực tế, các yếu tổ đầu vào cơ bản hiện vẫn đóng vai trò quan trọng trong các ngành khai khoáng hoặc nông nghiệp cũng như trong những ngành mà yêu câu về kỹ năng và công nghệ không cao Tuy nhiên, các yếu tổ đầu vào cao cấp mới là những yếu tổ quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh Đó là lợi thế cạnh tranh dựa trên sự độc đáo, cải tiễn của sản phẩm và việc áp dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản
xuất Việc tạo ra và sử dụng đầu vào cao cấp đòi hỏi phải có đầu tư lớn và
lâu đải về nhân lực, vật lực và kết quả của nó thường tạo ra khả năng cạnh & C2
Trang 17
Khoá luận tất nghiệp Phạm tioàng NMiễn - 416 K3 D tranh cao và ôn định hơn Tuy nhiên, nếu không có các yếu tổ đầu vào cơ bản thì đầu vào cao cấp cũng không thể xuất hiện và phát trién được Các yếu tổ đấu vào chưng bao gồm hệ thông đường cao tốc, hệ thẳng cung cấp vốn vay nợ hoặc lực lượng nhân công được đảo tạo ở trình độ cao đẳng, các yếu tố này có thể được sử dụng, khai thác trong rất nhiều ngành khác nhau Các yếu tổ đầu vào chuyên biệt hóa bao gồm lực lượng lao động
có trình độ cao, cơ sở hạ tầng và cơ sở trị thức có tính chất chuyên biệt trong
từng ngành nhất định, chỉ có thể sử dụng trong một số ít hoặc chỉ trong một ngành rnà thôi Các yếu tổ đầu vào chung chỉ phục vụ cho các lợi thé ban đầu Những yếu tố này thường có ở rất nhiều nước và dễ đảng bị vô hiệu hóa, bị hóa giải hoặc có thê tiếp cân thông qua hệ thông doanh nghiệp toàn câu Còn các yêu tô đầu vào chuyên biệt đòi hỏi phải cô đầu tư xã hội và tư
nhân một cách tập trung và mạo hiểm hơn bởi các yếu tổ nay phải hiên được
gân với quá trình đổi mới và phát triển Khác với các yêu tổ đầu vảo chung
có thể được thực hiện tại một nơi cách xa nước chủ nhà, các yên tô đầu vào
chuyền biệt chỉ có thể tiếp cận tại nơi đoanh nghiệp đóng trụ sở chính va thường không có hiệu quả tại một địa điểm ở nước ngoài
Như vậy, có thể nhận thấy rằng lợi thể cạnh tranh quan trọng và bèn vững nhất chỉ có được khi một nước sở hữu các yếu tô đầu vào cần thiết cho quá trình cạnh tranh Khả năng sẵn có cũng như chất lượng của các yêu tổ
đầu vào cao cấp và chuyên biệt sẽ quyết định mức độ tỉnh vị của lợi thê cạnh
tranh có thể có được cũng như tốc độ nâng cấp lợi thể cạnh tranh đó Ngược lạt, lợi thể cạnh tranh chí dựa trên các yếu tổ đầu vào cơ bản / chun Ø thường không tỉnh vị và nhanh chóng bị mất Quốc gia sở hữu loại đầu vào này chỉ
có thể kéo đài lợi thể cạnh tranh cho đến khi có một quốc gia khác đuôi kịp
và nắm được phương thức tiếp cận các loại đầu vào đó
Trang 18
Khaá luận tốt nghiện Pham Hoang Mién —Al6é K43D
Bên cạnh đó, lợi thể từ yêu tố đầu vào có một đặc trưng rất quan
trọng Đó là tiếu chuẩn tạo nên một yếu tế đầu vao cao cap cũng như chuyển biệt luôn tăng dân khi trí thức, khoa học và thực tiễn phát triển Một yếu tổ đầu vào chuyên biệt / cao cấp của ngày hêm nay có thể trở thành yếu đầu vào chung / cơ bản của ngày mai Do đó, nếu không được thường xuyến cai tiên và phát triển, các yếu tố đầu vào thâm chí sẽ làm suy giảm lợi thế cạnh
tranh của mỗi quậốc gia
2 Điều kiện về cầu thị trwong (Demand conditions)
Yêu tô thứ hai của lợi thể cạnh tranh quốc gia trong một ngành theo
Michael Porter la các điều kiện về cầu trong nước đối với sản phẩm hay dich
vụ của ngành Yếu tổ này quyết định tới tốc độ và tính chất của hoạt động cải tiên cũng như đổi mới của các công ty trong nước đó Ba thuộc tính quan trọng của cầu trong nước là kết cấu của cầu (hay bản chất của nhụ cầu khách hàng), guy mô và cơ cấu lũHg truong cua cdu va ca ché guéc 1 hóa cứu frong Nuc,
- Kết cấu câu trong nước: Michael Porter khẳng định, tác động quan
trọng nhất của câu trong nước đổi với lợi thê cạnh tranh là thông qua kết cầu
và tính chất của nhu câu khách bàng trong nước Kết cầu của cầu trong nước
sẽ quyết định việc các công ty phát hiện, giải thích và phản ứng với nhu cầu khách hàng như thể nào Các nước sẽ có được lợi thể cạnh tranh trong những ngành hoặc phân ngành mà cầu trong nước giúp cho các công ty nhận ra nhu cầu của khách hàng sớm hơn vả rõ ràng hơn so với đối thủ cạnh tranh nước ngoài Các nước cũng có được lợi thế cạnh tranh nêu khách hàng trong nước gây áp lực khiến các công ty đổi mới nhanh hơn và đạt được những lợi thể
cạnh tranh tốt hơn các đổi thủ cạnh tranh nước ngoài Sự không tương xứng
giữa các nước về bản chảt của câu chính là nguyên nhân đem lại những lợi
Trang 19hoá luận tốt nghiệp Pham Heane Mién -Alé K43D
thể cạnh tranh này Kết cấu cầu trong nước có 3 tink chất có tâm quan trọng
đặc biệt đối với lợi thể cạnh tranh:
Thứ nhật là kế! cầu nhân đoạn nhu cẩu: trong hầu hết các ngành, cầu
thị tường đều được phân đoạn và một SỐ phân đoạn mang tính toàn cầu hơn
các phân đoạn khác Công ty của một nước có thể có được lợi thể cạnh tranh trong những phân đoạn toản cầu đại điện cho phần lớn cầu trong nước nhưng chiếm vị trí ít quan trọng hơn ở những nước khác Bên cạnh đó, kích thước của phân đoạn cũng quan trọng đổi với lợi thể quốc gia khi ngành do thé
hiện tính kinh tế theo quy mô
Vai trỏ quan trọng hơn của kết cầu phần đoạn ở nước chủ nhà thê hiển trong việc quyết định sự chú ý và ưu tiên của các công ty nước đó Những
phần đoạn tương đổi lớn trong nước nhận được sự chủ ý, quan tâm lớn và
sớm nhất của các công ty Những phân đoạn nhỏ hơn hoặc những phân đoạn được coi là ít hấp dẫn thường được xếp ở vị trí ưu tiên thấp hơn trong việc
thiết kế sản phẩm, sản xuất và phan b6 nguồn lực marketing, đặc biệt là
trong những ngành mới hay đang phát triển Những phân đoạn được coi là kém lợi nhuận (chẳng hạn như những phân đoạn năm ở cuối thị trường, những phân đoạn mà không có khả năng bán những dịch vụ bỗ sung) cũng
sẽ bị bỏ qua Những phần đoạn này có xu hướng sẽ do các công ty nước ngoài năm giữ Ngay cả khi nếu nó không bị chiếm giữ thì theo thời gian, các công ty trong nước cũng sẽ có xu hướng nhường những phân đoạn “kém hap dẫn” đó cho đối thủ cạnh tranh nước ngoài Như vậy, điều dễ đàng nhận thấy là nếu trong thị trường của một quốc gia xuất hiện những phân đoạn thị trường lớn thì những phân đoạn này sẽ tạo ra định hướng cho các công ty để
nâng cấp lợi thế cạnh tranh của mình Chính những phần đoạn lớn đó sẽ góp phan không nhỏ tạo ra lợi thê cạnh tranh của một quốc gia
Trang 20
Khoa luận tốt nghiệp Phạm Hoàng Miễn - A416 K43D Thứ hai là khách bàng sành sỏi và đài hỏi cao: Michael Porter khẳng định bản chất khách hàng trong nước quan trọng hơn kết cầu phân đoạn của câu Các doanh nghiệp của một quốc gia sẽ có được lợi thế cạnh tranh nêu khách hàng trong nước năm trong số những khách hàng cao cấp và khó tính
nhất trên thể giới đối với sản phẩm hay địch vụ đỏ, Những khách hàng nay
sẽ đưa đến cho các hãng cánh cửa để tiếp cận nhu cầu cao cấp nhất của
người mua Sự gần gũi cả về mặt địa lý và văn hoá đối với những khách
hàng như vậy sẽ giúp các công ty của nước đó nhận ra những nhu cầu mới
Né cũng đem lại sự gắn kết chặt chế trong quá trình phát triển và khi các khách hàng cũng chính là các đoanh nghiệp thì sẽ tạo cơ hội cho những kế hoạch phát triển chung khiến các công ty nước ngoài khó theo kịp
khách hàng sảnh sói và khó tính sẽ gây áp lực buộc các doanh nghiệp trong nước phải đáp ứng tiêu chuẩn cao về chất lượng, đặc điểm vá dịch vụ
của sản phẩm, Khách hàng có thể có như cầu đòi hỏi cao vì nhiều lý đo khác
nhau, bao gầm địa lý, khí hậu, tải nguyên thiên nhiên sẵn có, thuê, tiêu chuẩn bắt buộc chặt chẽ và các chuân mực xã hội hay thi hiểu dan tac Nhu
vậy, áp lực cạnh tranh thúc đây doanh nghiệp chú ý đến những sản phẩm
mới và nỗ lực bơn để kiểm soát chỉ phí, phản ảnh ở nhu cầu đặt ra cho các
nhà cung cấp
Thứ ba là nhà cấu khách hàng mạng tính dự báo: Các công ty của một nước sẽ có được lợi thể nêu nhu cầu của khách hảng trong nước dự bảo được
nhụ cầu của những nước khác Việc này nghĩa là nhụ câu trong nước sẽ đem
lạt một đầu hiệu sớm về nhu cầu chung của khách hàng ma sẽ trở nên phố biến sau đó Nếu nhu cầu trong nước chậm phán ánh những nhu cầu mới, đặc biệt là những nhủ cầu cao cấp thì doanh nghiệp nước đó sẽ ở vị trí bất
lợi trong cạnh tranh quôc tế
Trang 21
Khoá luận tốt nghiệp Pham Hoang Mién — A16 K43D
Nhu cầu khách hàng mang tính dự báo có thể xuất phát từ những giá trị xã hội hay chính trị báo hiệu trước những nhu câu sau này sẽ xuất hiện ở
những nơi khác, hoặc cũng có thể do các điều kiện về yếu tố đầu vào, hay
những quy định được ban hành đi trước các nước khác Tất cả những điều này đều có thể mang lại lợi thế cạnh tranh cho một số ngành nhất định ở một
quốc gia nhờ tính chất dự báo của nhu cau khách hàng
- Quy mô câu và cơ cấu tăng trưởng: Khi kết cấu cầu thuận lợi và có thể dự báo nhu cầu quốc tế chứ không chỉ nhu cầu trong nước thì quy mô và
cơ cầu tăng trưởng của cầu thị trường trong nước có thế củng cố và tăng cường lợi thế quốc gia trong một ngành Và trên thực tế, dung lượng thị trường tror + nước có tác động khá phức tạp tới lợi thế quốc gia và những khía cạnh khác trong cơ cầu của cầu trong nước cũng quan trọng không kém Thứ nhất Michael Porter xét đến yêu tố gwy mô cẩu trong nước: Thị trường trong nước lớn có thể dẫn đến lợi thể cạnh tranh trong những ngành thê hiện tính kinh tế theo quy mô bang việc khuyến khích các công ty của một nước tích cực đầu tư vào những cơ sở sản xuất quy mô lớn, phát triển công nghệ và cải thiện năng suất Như thế, dung lượng thị trường trong nước trở nên khá quan trọng Khả năng tiếp cận lượng khách hàng trong nước đông đảo có thể là một động lực thúc đây đầu tư của các công ty trong nước Dung lượng thị trường trong nước là quan trọng nhất đối với lợi thế cạnh tranh quốc gia trong một số ngành như những ngành có yêu cầu nghiên cứu phát triển lớn, tính kinh tế theo quy mô trong sản xuất hoặc có những bước nhảy vọt giữa các thế hệ công nghệ hay mức độ ồn định thấp
Tuy nhiên, quy mô thị trường trong nước lớn cũng có khả năng gây ra bất lợi cho lợi thế cạnh tranh quốc gia nếu các công ty cho rằng thị trường trong nước đem lại đủ cơ hội và không cần theo đuôi thị trường quốc tế
Việc này sẽ cản trở sự năng động và trở thành bắt lợi thế Những thành phần
Trang 22Khaá luận tốt nghiệp Pham Hoang Mién — Alé K43D khác, trong đó đáng chú ý là mức độ gay gắt của cạnh tranh trong nước sẽ
quyết định liệu dung lượng thị trường lớn tại nước chủ nhà sẽ là điểm mạnh hay điểm yeu của lợi thế cạnh tranh
Thứ hai là yêu tế số lượng khách hàng độc lập: Theo Michael Porter,
sự có mặt của nhiêu khách hàng độc lập trong một nước sẽ đem lại môi trường đổi mới tốt hơn là trường hợp chỉ có một hoặc hai khách hàng thông trị thị trường sản phẩm hay địch vụ trong nước Ngược lại, chỉ phục vụ một hay hai khách hàng có thể đem lại hiệu quả tĩnh nhưng sẽ hiểm khi tạo ra mức độ năng động như trường hợp trên Số lượng khách hang trong nước độc lập cũng thúc đấy sự xâm nhập và đầu tư trong ngành băng việc giảm
thiểu rủi ro một công ty bị đây ta khỏi thị tường và hạn chế quyền lực của Tigười mua trong việc đâm phán
Thứ ba là tác độ tăng trưởng của cầu trong nước: Tốc độ tăng trưởng của cầu trong nước có thể cũng sẽ quan trọng đối với lợi thế cạnh tranh như dung lượng tuyệt đối của thị trường Sự tăng trưởng nhanh chóng của thị trường trong nước sẽ giúp các công ty của nước đó đưa ra những công nghệ
mới nhanh hơn mà ít lo ngại rằng những khoản đầu tư hiện tại là không cần
thiết Ngoài ra, các công ty cũng sẽ xây dựng những cơ sở lớn, hiệu quả với
sự tin tưởng rằng những cơ sở này sẽ được sử dụng
Thứ tư là yêu tổ cẩu trong nước xuất hiện sớm: Nếu yêu tễ này giúp
dự báo nhụ cầu khách hàng ở những nước khác thì cầu trong nước về một sản phẩm hay dịch vụ xuất hiện sớm sẽ giúp các công ty ở một nước hành động sớm hơn các đối thủ cạnh tranh trong ngành
Thứ năm là yêu tố bão hoà sớm: Thị trường trong nước bão hoà sớm
sẽ buộc các công ty phải đổi mới và nâng cấp, đồng thời cũng tạo ra áp lực căng thăng buộc các công ty phải giảm giá, giới thiệu những sản phẩm mới, cất tiện hoạt động của sản phâm và đưa ra những khuyến khích mới để
Trang 23Khoả luận tỗt nghiệp Phạm Hoàng Miễn - Al6 K43D
khách hàng thay thể sản phẩm cũ với những mẫu mã mới hơn Bão hoà thị trường cũng đây mạnh cạnh tranh trong rước và loại bỏ những công ty yếu kém và hoạt động không hiệu quả Đặc biệt, sự bão hoà của thị trường trong
nước đặc biệt có lợi nếu nó đi cùng với sự tăng trưởng của thị đường HƯỚC
ngoài bởi lúc đó, các công ty sẽ có động lực mạnh mề để xuất khẩu sản phẩm và cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài vẻ sản phẩm đó
- Quốc tẾ hoá cứu trong nước: đây chính là yêu tô có thê giúp các điều kiện cầu trong nước tạo ra lợi thế cạnh tranh cho sẵn phẩm, dịch vụ ở thị trường nước ngoái Quốc tế hoá cầu trong nước có thể là nhờ những khách hàng trong nước lưu động hay những công ty đa quốc gia Khách hàng lưu động là những người thường xuyên ổi ra nước ngoài và là khách hàng trung thanh ở thị tường nước ngoài Trong trường hợp đó, cac cong ty trong nude
sẽ có được lợi thể bởi vì khách hàng trong nước cũng chính là khách hảng tước ngoài
Một cách khác mà các điều kiện về cầu trong nước có thể kéo theo
doanh số bán nước ngoài là khi cầu trong nước được chuyến sang hay khắc sâu vào những khách hàng nước ngoài Đó có thể là do những người nước ngoài đó đến để học tập hoặc do vấn đề di cư hay thâm chí du lịch Câu của khách hàng trong nước cũng được chuyên ra nước ngoài thông qua các mất hàng, địch vụ xuất khẩu truyền bá văn hoá như phim ảnh và những chương trình truyền hình
3 Các ngành liên quan và hỗ trợ (related and sunperting industries) Yêu tô thứ ba của lợi thế cạnh tranh quốc gia trong một ngành là sự có mặt ở nước đó các ngành hỗ trợ hay những ngành có liên quan có sức cạnh tranh quốc tế Ngành hỗ trợ là những ngành sản xuất cung ứng đầu vào cho chuối hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, còn ngành liên quan là
Trang 24Khoa luận tốt nghiệp Phạm Hoàng Miễn - A416 K43D những ngành mà công ty có thể phối hợp, chia sẻ các hoạt động thuộc chuối hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc những ngành ma sản phẩm của chúng mang tính chất bổ trợ việc chia sẻ hoạt động, thường diễn ra ở các khâu phát triển kỹ thuật, sản xuất, phân phối, tiếp thị hoặc dịch vụ Lợi thể cạnh tranh trong một số ngành cung cấp đã đem lại những lợi thể tiểm tàng cho các công ty của quốc gia bởi vì chúng sản xuất những đâu vào được sử dụng
rộng rãi và có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình đổi mới bay quốc tế hoá
Trong khi đó, sự có mặt của những ngành liên quan có sức cạnh tranh cũng không kém phần quan trọng
- Lợi thể cạnh tranh trong các ngành cung ứng: Michael Potter khang định rằng sự có mặt của những ngành cung cấp có sức cạnh tranh quốc tế
trong một nước sẽ tạo ra những lợi thể trong các ngành sử dụng theo nhiều
con đường, Đầu tiên là thông qua khả năng tiếp cận hiệu quả, sớm, nhanh,
có chất lượng và đôi khi ưa đãi đến những đầu vào chỉ phí thân Hơn nữa, doanh nghiệp còn được hưởng lợi từ quá trình phối hợp liên tục, và chính mỗi liên kết giữa chuỗi giá trị của các công ty với những nhà cung cấp trong trước sẽ góp phân không nhỏ cho việc tạo ra lợi thể cạnh tranh Việc xây dựng các liên kết này sẽ được thúc đây nhờ việc có được những hoạt động của những nhà cùng cấp bên cạnh Các nhà cung cấp nước ngoài hiểm khí thay thể được hoàn toàn các nhà cung cấp nội địa, ngay cả khi chúng có những chỉ nhánh địa phương Và một lợi thể quan trọng mả các nhà cung cấp trong nước đem lại nằm ở quá mình đổi mới và nâng cấp Những nha cung cấp giúp đỡ các công ty nhân ra các phương pháp và cơ hội để áp dụng
công nghệ mới và thậm chí trở thành cầu dân thông tin và đổi mới từ công ty
này sang công ty khác, mà thông qua đó, tốc độ đôi mới bên trong toản bộ ngành công nghiệp được thúc đây
Trang 25
Khoa luận tốt nghiệp Phạm Hoàng Miễn - A416 K43D
- Lợi thể cạnh tranh trong ngành liên quan: Sự có mặt trong nước của những ngành liên quan có sức cạnh tranh thường dẫn đến những ngành có sức cạnh tranh mới Những ngành có sức cạnh tranh là những ngành mà các công ty của nó có thê phối hợp bay chia sẻ hoạt động trong chuối giá trị mang tính bổ sung Chia sẻ hoạt động có thế diễn ra trong phát triển công
nghệ, sản xuất, phân phối, marketing va dich vu Vi du, may photo va may
fax sử dụng nhiều công nghệ giống nhau và các thành phần cũng như địch
vụ có thể được phân phối thông qua cùng một kênh phân phối
Sự có mặt của những ngành liên quan có sức cạnh tranh quốc tế trong một nước tạo ra cơ hội để trao đổi thông tin và kỹ thuật giống như trường hợp những nhà cung cấp trong nước Sự có mặt của những ngành liên quan cũng có thê nâng cao tỷ lệ nhận biết các cơ hội mới trong ngành, Nó cũng là nghỗn gốc để đem lại một phương pháp tiếp cận tới hoạt động cạnh tranh tử
các đôi thủ cạnh tranh mới thâm nhập thị trường
4 Chiên lược, cơ câu tô chức và môi trường cạnh tranh của doanh nghiép (Firm strategy, structure and rivalry)
Yêu tô thứ từ của lợi thể cạnh tranh quốc gia trong một ngành là bối cảnh mà các công ty được thành lập, tổ chức và quản trị cũng như bản chất của cạnh tranh trong nước, Mục tiêu, chiến lược và cách thức tổ chức công
ty trong các ngành khác nhau rất lớn từ nước này sang nước khác Lợi thế cạnh tranh quốc gia bắt nguồn từ sự phù hợp giữa những lựa chọn nảy với
nguồn gốc lợi thế cạnh tranh trong một ngành
- Chiến lược và cơ cầu tô chức của doanh nghiệp trong nước: Không
có hệ thông quản lý nào có thể áp dụng thích hợp trên phạm vị toàn cầu, Các quốc gia sẽ có xu hướng thành cêng trong những ngành mà cách quản trị và hình thức tổ chức thuận lợi do môi trường quốc gia hoàn toàn phù hợp với
Trang 26Khoa luận tốt nghiệp Phạm Hoàng Miễn - Al6 K43D
những nguồn gốc lợi thê cạnh tranh của ngành, Những khác biệt quan trọng
giữa các quốc gia về thực tiễn quân trị và những cách tiếp cận xuất hiện
trong các lĩnh vực như đào tạo, nguồn pốc xã hội và xu hướng của nhà lãnh
đạo, theo nhóm hay theo thứ bậc, sức mạnh của những sáng kiến cá nhân,
công cụ để đưa ra quyết định, bản chất mỗi quan hệ với khách hàng, khả
năng kết hợp hoạt động của các chức năng, quan điểm đối với các hoạt động quốc tế và quan hệ lao động Những khác biệt về phương thức quản trị và kỹ năng tổ chức tạo ra những lợi thế và bất lợi thể trong cạnh tranh ở những ngành khác nhau Quan hệ lao động đặc biệt quan trọng trong nhiều ngành bởi nó ảnh hưởng đến khả năng cái tiễn và đôi mới của công ty
- Các mục tiêu: Cô sự khác biệt rõ ràng bên trong cũng như giữa các quốc gia về những mục tiêu mà doanh nghiệp cễ gắng đề đạt được cũng như
động lực của các nhân viên và nhà quản trị của họ Các quốc gia sẽ thành
công trong những ngành mà các mục tiểu vá động lực này phù hợp với nguồn gốc của lợi thể cạnh tranh
Aục tiêu của doanh nghiệp: Các tục tiêu của công ty chủ yêu là do
cơ cầu sở hữu, động lực của người chủ sở hữu và chú nợ, bản chất của việc
quản lý công ty và những khuyên khích tác động đến động cơ làm việc của những nhà quản trị cao cấp quyết định
Muc tiêu của các cả nhân: Động lực của các cá nhân làm việc và điều
hành các công ty có thể nâng cao hay hạ thấp khả năng thành công trong
những ngành nhất định Mỗi quan tâm chủ yếu là liệu cả hai có được thúc
day dé phat triển những kỹ năng của mình cũng như có những nỗ lực cần thiết đề hình thành và duy trì lợi thê cạnh tranh hay không Một yếu tổ quan trọng quyết định hành vị và nỗ lực của các cá nhân là hệ thông thủ lao trả cho những người lao động Ngoài ra, một yêu tô cũng hét sire quan trong
Trang 27
Khaá luận tất nghiệp Phạm Hoàng Miễn - Al6 K43D
khac là cơ cầu thuế của nước đó Bên cạnh đó, môi quan hệ giữa người lao động va nhà quản trị trong một công ty cũng là một khía cạnh cần xem xét Ảnh hưởng của niềm tự hào và ưu tiên của quốc gia đối với các mục tiêu: Chất lượng nguồn nhân lực được thu hút vào những ngành cụ thể cùng
với động lực của những cá nhân và thậm chỉ cả các cô đông đều bị ảnh
hưởng bởi niềm tự hào hay ưu tiên của quốc gia Khi một ngành trở thành một nghề nghiệp sang trọng hay trở thành một ưu tiên của quốc gia thi lợi thể cạnh tranh thường ra đời
Vai trò của các cam kết bến vững: Mục tiêu của các công ty vả cá nhân được phản ánh trong bản chất cam kết về vốn và nguồn nhân lực đối
với ngành, đối với công ty và đối với nghề nghiệp của cá nhân, Theo
Michael Porter thi việc phân bổ, đi chuyển nguồn lực là một điều kiện cần
thiết để phái triển nền kinh tế, giúp cho các nguồn lực không bị đọng lại
trong các tình huỗng vô vọng, Tuy nhiên, việc duy trì lợi thể cạnh tranh đòi hỏi các nguồn lực chỉ được di chuyên sau khi đã cô găng tham gia cạnh tranh, Lý tưởng nhất là phải điều chỉnh chứ không phải là từ bỏ, theo đó, nhóm kết hợp lại các nguồn lực đã cam kết để thúc đây năng suất, thay vi bi đồng bang trong tình trang hiện tại do các sai lâm trong quản lý hay do các thoả thuận hạn chế
- Méi trường canh tranh trong nước: Porter nhận định rằng cạnh tranh
trong nước gay gắt và việc hình thành cũng như đuy trì lợi thê cạnh tranh trong một ngành có sự gần bó chặt chế Cạnh tranh trong nước trở nên quan trọng hơn cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài khi cải tiến và đổi mới, Cạnh tranh giữa một nhóm các công ty trong nước thường khác và có lợi hơn cho quốc gia so với cạnh tranh với các công ty nước ngoài Trong một nên kinh tế đóng cửa, vị trí độc quyền luôn roang lại lợi nhuận, tuy nhiên,
Trang 28
Khoá luận tốt nghiên Phạm Hoàng Niên —- Ál6 K43D
trong cạnh tranh toàn cầu, các hãng độc quyền hay cartel sẽ bị thua trước các
công ty đến từ những môi trường cạnh tranh hơn
Cạnh tranh trong nước, cũng như các hình thức cạnh tranh khác, sẽ tạo
ra áp lực buộc các công ty phải cải tiến và đôi mới Các công ty trong nước
buộc các đối thủ cạnh tranh phải hạ giá thành, cái thiện chất lượng, cải tiến
dịch vụ và tạo ra những sản phẩm rnới Mặc dù các công ty có thể không duy
trì được lợi thể trong một thời gian dài nhưng áp lực từ các đối thủ sẽ thúc đây đổi mới do tâm lự lo âu khi bị tụt hận Cạnh tranh trong nước không chỉ thúc đây lợi thể trong nước mà còn gây áp lực buộc các công ty trong nước
phải bán hàng ra nước ngoài để phát triển, Đặc biệt là khi có quy mô kinh tế,
các công ty có thể buộc các đổi thủ trong nước phải hướng ra bên ngoài để
theo đuổi hiệu quả lớn hơn và lợi nhuận cao hơn Được rẻn luyện bởi cạnh
tranh trong nước, các công ty mạnh sẽ được trang bị những gì cần thiết để chiến thắng ở nước ngoài
Cạnh tranh trong nước không chỉ tạo ra áp lực đổi mới mà còn đổi mới theo cách nâng cấp lợi thể cạnh tranh của các công ty trong một quốc gia Ngoài ra, một nhóm các đối thủ cạnh tranh trong nước sẽ thử nghiệm
các phương thức tiếp cận chiến lược khác nhan và tạo ra một loạt các sản phẩm và dịch vụ trên nhiều phần đoạn thị trường Điều nảy sẽ thúc đây quá
trình đổi mới vả với phạm vị sản phẩm rộng lớn, nhiều phương thức chiến lược sẽ tạo dựng hàng rào báo vệ trước sự xâm nhập của các công ty nước ngoat, nhờ đó mà lợi thê các ngành của quốc gia sẽ được tạo dựng bên vững
Š Vai trò của Cơ hội và Chính phủ
a Cơ hội
Cơ hội là những sự kiện xây ra it lién quan đến tình trạng hiện tại của
quốc gia và thường năm ngoài phạm vì ảnh hướng của các công ty (và thâm
Trang 29Khod luận tốt nghiệp Phạm Hoàng Miễn - Al6 K43D
chí của cả Chính phủ) Một số ví dụ về những cơ hội đặc biệt quan trọng ảnh
hưởng đến lợi thế cạnh tranh như sau:
- Hành vi can thiệp thuần tuý
- Sự thay đổi bất ngờ về công nghệ (như công nghệ sinh học, công
nghệ vị điện tử )
- Thay đôi về chỉ phí đầu vào như việc dầu mỏ tăng giá đột ngột
- Biến động thị trường chứng khoán thể giới hay tỷ giá hồi doai
- Tăng mạnh của câu thể giới hay khu vực
- Quyết định chính trị của các chính phủ nước ngoài
Yếu tổ cơ hội cũng thực hiện vai trò của mình một phan thong qua
việc thay đổi các điều kiện của mô hình kim cương Chẳng hạn những thay đổi về chỉ phí đầu vào hay tỷ giá hồi đoái tạo ra những bất lợi thể về yếu tổ
sản xuất đầu vào sẽ có tác dụng thúc đây sự đổi mới một cách mạnh mẽ
Cạnh tranh theo quan điểm này có thể nâng cao mức độ và tính khẩn cấp của các khoản đầu tư khoa học trong nước (yêu tô sản xuất đầu vào) và thay đổi
quan bệ khách hàng (các điều kiện về cau)
Mặc dù cơ hội có thể đem lại những thay đổi trong lợi thế cạnh tranh
ở một ngành, song thuộc tính của quốc gia lại giữ vai trò quan trọng trong
việc quyết định nước nào sẽ khai thác cơ hội đó Quốc gia với mô hình kim
cương thuận lợi nhất sẽ có khả năng lớn nhất đề chuyên cơ hội thành những nguôn lợi thể mới và các công ty phải nỗ lực đề năm bắt các cơ hội này
Khoa Kinh tệ và Kinh doanh Quốc lễ
Trang 30Khoa luận tốt nghiệp Phạm Hoàng Miễn - A416 K43D
b Chính nhủ
Chính phủ là một yếu to thường được nhắc đến khi thảo luận về cạnh
tranh quốc tế Chính phủ có thể ảnh hưởng (và bị ảnh hưởng) bởi từng yếu tổ
trong số bốn thành phần một cách tích cực hay tiêu cực Các điều kiện về
yêu tổ sân xuất thường bị ảnh hưởng bởi trợ cấp, chính sách đối với thị
trường vốn, chính sách giáo dục Các cơ quan chính phủ xây dựng các tiêu chuẩn sản phẩm hay những quy định điều chỉnh, tác động đến nhu cầu khách hàng Chính phủ cũng là một khách hàng lớn của nhiều sản phẩm trong một nước, trong đó bao gồm hàng quốc phòng, thiết bị viễn thông, máy bay cho các hãng hàng không quốc gia Theo cách này, chính phú có thể giúp đỡ hoặc làm tốn hại đến ngành công nghiệp quốc gia
Chính phủ cũng có thể tác động đến tình trạng của những ngành hỗ trợ
và có hiện quan theo nhiều cách, như kiểm soát các phương tiện quảng cáo hay quy định về những dịch vụ hỗ trợ Chính sách chính phủ cũng ảnh hưởng đến chiến lược, cơ cấu của doanh nghiệp và cạnh tranh thông qua những công cụ như quy định về thị trường vốn, chính sách thuê hay luật chỗng độc quyền
Đến lượt mình, chính sách cúa chính phủ cũng bị ảnh hưởng bởi các thành phần trong mô hình kim cương Những lựa chọn xem các khoản đầu
tư cho giáo dục được thực hiện ở đầu bị ảnh hướng bởi SỐ lượng các đội thủ
cạnh tranh địa phương đó Nhu cầu lớn trong nước đối với một sản phẩm có thể dân đến việc ban hảnh sớm các tiêu chuẩn an toàn của chính phủ Vai trò tích cực hay tiêu cực của chính phủ trong quá trình hình thành loi thé cạnh tranh được nhân mạnh và làm rõ bằng việc xem xét chính phủ như người tác động đến mô hình kim cương quốc gia Và trên thực tế, chỉnh phủ có ảnh hưởng quan trọng đến lợi thể cạnh tranh quốc gia mặc đù vai trỏ
của nó không tránh khói phiên diện, Chính sách chính phủ sẽ thất bại nếu nó
Trang 31
Khoa luận tốt nghiệp Phạm Hoàng Miễn - A416 K43D vẫn chỉ là nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh quốc gia Những chính sách
thành công có tác dụng trong những ngành mà những thánh phần của lợi thể
cạnh tranh đã có sẵn và chính phủ giúp tăng cường các thành phần này
KẾT LUẬN CHƯƠNG I:
Chương I đã nêu lên những khái niệm cơ bản vé loi thé cạnh tranh cũng như vai trò của việc tiên hành nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh Bên
cạnh đó, chương nảy cũng đã giới thiệu chỉ tiết về lý thuyết phân tích lợi thể
cạnh tranh quốc gia của Michael Porter hay còn gọi lá lý thuyết “mô hình kirn cương”
Trên cơ sở lý thuyết của chương này, người viết sẽ phân tích thực trạng lợi thể cạnh tranh của cà phê Việt Nam dựa trên bốn yếu tổ trong mô
“hình kửưn cương của Michael Porter tai chuong IL
Trang 32
Khaá luận tất nghiên Pham Hoàng Miễn - Alú K43D
CHƯNG Il: THỤỰC TRẠNG LỢI THẺ CẠNH TRANH CỦA
CÀ PHÊ VIỆT NAM TRONG THUONG MAI QUOC TE
1/ Thực trạng lợi thế cạnh tranh của cả phê Việt Nam phân tích theo
“mô hình kim cương”
1 Yếu tổ sân xuất đầu vào
a Nguén nhân lực
Việt Nam là nước có đân số trẻ, có nguồn lao động đội dào, hàng năm
có hơn Ì triệu người bước vào độ tuổi lao đông, Trong điều kiện nên kính tế
còn đang trong giải đoạn hoàn thiện cơ chế thị trường như nước ta, nguồn
lực con người vẫn đóng vai trỏ quyết định đối với sự phát triển của ngành
kinh tế nước nhà nói chung và ngành cả phê nói riêng
Nguôn nhân lực hoạt động trong ngành cả phê chủ yếu là nguồn lao động cơ bản, làm các công việc liên quan đến gieo trồng và thu hoạch cả phê Theo ước tỉnh của Viện Quy hoạch thiết kế Nông nghiệp, tính đến năm
2006, trên cả nước có gần 500 ngàn hộ gia đình lao động trong các lĩnh vực liên quan đến cả phê, tương đương với khoảng 2,6 triệu lao động làm việc cô
định trong ngành cả phê, Khi đến vụ mùa vào khoảng từ cuối tháng 10 đến
đầu tháng 1, số lao động vãng lai lại tăng lên do các hộ kinh doanh và các
chủ trang trại phải thuê thêm nhân công thu hái cả phê, rung bình cứ mỗi
hec-ta, người wong cà phê lại phải thuê thêm ít nhất một lao động để thu
hoạch Với số lượng nguồn nhân lực dội đào từ các tỉnh lân cận, lao động
cho các vụ mùa ít khi bị thiểu hụt, tuy nhiên điều này cũng gây ra khá nhiều
khó khăn cho việc thông kê số lượng lao động đang hoạt động trong ngành
cả phê
Khoa Kinh tệ và Kinh doanh Quậc tê 28
Trang 33Khoá luận tốt nghiệp Pham Hoàng Miên —- Al6 K43D
Bảng 1: Lao động làm việc cô định trong ngành cà phê phân theo tinh
Đơn vị: Hộ gia đình
Tỉnh Năm 2005 Năm 2006 Yên Bái 100 100
Trang 34Khoá luận tôi nghiệp Phạm Hoàng Miễn - Al6 K43D
Nhin vào bảng số liệu, ta nhận thay sơ với năm 2005, số lao động làm việc cô định trong ngành cà phê không có thay đổi đáng kê, ngoại trừ việc
tổng số lao động năm 2006 giảm di so với năm 2005, đặc biệt là ở Thanh
Hóa, số hộ gia đình làm việc trong ngành cả phê giảm đi tới 1000 hộ Nguyên nhân là do điện tích đất trồng cả phê ở Thanh Hoá giảm mạnh Cây
cả phê không thực sự hợp với chất đất tại đây nên đã chết hàng loạt, kéo theo
số hộ gia đình bỏ nghệ trồng cà phê tăng lên đột biển Bên cạnh đó, các tỉnh
có số hộ lao động trong ngành này tương đối lớn như Đăk Nông, Gia Lai,
Kon Tum, Đồng Nai, Bình Phước, con số hộ trong ca phé cing bat dau giảm
xuống đo điện tích đất trồng giảm dẫn nhằm đáp ứng chính sách của Chính
phủ là không tiếp tục mở rộng điện tích cả phê Đến năm 2007, theo ước tính
thì cả nước có khoảng 47 ngắn hộ lao động cổ định trong ngành cả phê, tức
là đã trở lại mức gần tương đương với năm 2005 và đã tăng hơn so với số hệ
lao động trong năm 2006
Có thê nói đầu vào lao động của Việt Nam hiện vẫn chỉ ở mức đầu
vào cơ bản với chủ yêu là lao động chân tay Tny nhiên, đối với việc gieo
trồng và thu hái cả phê thì lượng đầu vào cơ bản khá đổi đào với giá thánh
tương đổi rẻ vẫn đang mang lại cho cả phê Việt Nam một lợi thể cạnh tranh nhất định Tuy nhiên, việc trang bị kiến thức cho người trồng cả phế một cách đầy đủ vẫn là điều cần thiết để nâng cao chất lượng đầu vào cơ bản, để
đầu vào này có thể mang lại nhiều hơn lợi thể cho cà phê Việt Nam trong
công cuộc cạnh tranh toàn cau
b Nguồn nguyên vật liệu
Đối với ngành trồng cả phê, nguận nguyên liệu cơ bản nhất chính là đất đai (bao gồm cả điện tích, độ máu mỡ của đất, khả năng tải tạo đất và đặc biệt là sự phù hợp của đất đối với việc trồng cây cà phế) Kế tiếp là thời
Trang 35
Khoả luận tỗt nghiệp Phạm Hoàng Miễn - Al6 K43D
tiết, khí hậu có thuận lợi và thích hợp hay không đối với việc gieo trắng và
phát triển các giỗng cả phê,
Xét theo lý thuyết mô hình kim cương thì trên thực tế, hai yếu tổ nảy
đều là các đầu vào cơ bản, song riêng đối với cây cả phê, chúng lại trở thành những yếu tổ thiết yêu, ảnh hưởng trực tiếp tới sản lượng cả phê, và cho đến
thời điểm hiện tại, hai đầu vào cơ bản này vẫn đồng vai trò chính trong việc
tạo ra lợi thể cạnh tranh cho cả phê Việt Nam
Có hai loại cả phê được trồng ở Việt Nam hiện nay là cả phê Arabica (cà phê chè) và cả phê Robusta (cả phê vôi), Ngoài ra trên thể giới còn có giống cả phê rat, nhưng loại này không phô biển Và tuỳ theo từng giống
mà chúng lại đòi hỏi các điều kiện ngoại cảnh, đặc điểm đất đại và khí hậu khác nhau,
Arabica là giống cả phê được trồng và tiêu thụ nhiều nhất trên thể giới (chiếm khoáng 70% sản lượng toàn cầu) tập trung chủ yếu ở Nam Mỹ, châu Phi nhưng lại chiếm một tỷ lệ rất nhỏ ở Việt Nam (chỉ khoảng 5% điện tích) Giống cà phê này có yêu cầu sinh thái như sau:
- Ưa những nơi mát và hơi lạnh, phạm vị nhiệt độ biên động từ 18 đến
25%C, nhưng lý tưởng nhất là những vùng có nhiệt độ tir 20 dén 22°C
- Lượng mưa trung bình năm tử 1.300 đến 1.900mm
- Độ cao từ 800 đến 2500m so với mực nước biến, có một mùa khô
hạn nhẹ kéo dài từ 2 đến 3 tháng
~ Ua ánh sáng tán xạ, có cây che bóng
Côn Robusta la giống cả phê có điện tích trông và tiêu thụ đứng hàng
thứ hai (xấp xi 30% sản lượng toàn cầu) Ở Việt Nam đây là giống cà phê
được trồng chủ yếu (95% diện tích) Giống cà phê này đòi hỏi:
Trang 36Khoá luận tốt nghiện Phạm Hoàng Miễn - Alé K43D
- Ưa thích những vùng khí hậu nóng ấm, có ánh sáng trực Xã yêu,
không đòi hỏi về độ cao
Đối với điều kiện đất trồng, do cà phê là loại cây công nghiệp lâu
năm, có bộ rễ ăn sâu tới trên Ìm, vì vậy phải chọn các loại đất sau đây :
- Đất có tầng đất sâu từ 70 cm trở lên
- Đất có cầu lượng tốt, tơi xốp, giàu chất hữu cơ
- Không bị ủng nước trong mùa mưa (thoát nước tốt)
Với yêu câu như trên, các loại đất thuộc nhóm đất đỏ như đất bazan là loại đất rất quý để trằng cả phê, Ở Việt Nam loại đất này có nhiều nhất ở các tỉnh Tây nguyên, miền Đông Nam bộ, Quảng Trị, Nghệ An v.v Ngoài đất bazan, còn nhiều loại đất khác có khả năng trồng cả phê như; đất phủ sa cổ,
đất dốc tụ, đất sa phiến thạch, đất đá vôi miễn là chúng có các đặc điểm đã nêu ở trên vả có điều kiện sinh thái phủ hợp (chế độ mưa, chế độ nhiệt ) Hàm lượng chất hữu cơ trong đất có từ 3% trở lên (đối với đất đỏ bazan) và trên 2,5% đội với các loại đất khác là phù hợp đối với cà phê
Với các tiên chuẩn như vậy, rõ ràng không phải nơi nào trên Trái đất cùng có khả nắng trồng cả phê Chỉ những nước ở trong vành đai nhiệt đới
và có điều kiện đất đại phù hợp, cây cả phê mới phát triển được
Năm trong vành đai khí hậu nhiệt đới giỏ mùa, lại được thiên nhiên phú cho một nguồn tài nguyên đất phong phú với diện tích 1.980.000 ha, trong đó có 704.000 ha phân bé trên hai cao nguyên Buôn Ma Thuột và Dak Nâng, Việt Nam có một tiểm năng lớn trong việc trồng cây công nghiệp dài ngày và rừng, đặc biệt là cà phê
Theo Tổng Cục Thống kê, cho đến năm 2007, diện tích #leO trồng cả
phê chỉ đứng thứ 2 trong số các loại cây công nghiệp lâu năm, sau cao Su:
Trang 37
Khoá luận tốt nghiệp Pham Hoàng Miên — Al6 K43D
Bảng 2: Diện tích gieo trông một số cây công nghiệp lâu năm
Don vi: nghin ha
Caosu | Caphé | Điều Dừa Chè Hồ tiêu
2007 331,1 497,0 392,9 128,9 129,3 48,7
Nguôn: Niên giám Thông kê
Chỉ trong vòng 27 năm, kể từ năm 1990 đến 2007, diện tích gieo trồng
cà phê trên cả nước đã tăng lên tới 377.700 ha Năm 1990, diện tích trồng cà
phê chỉ là 119.300 ha trên cả nước thì năm 2007 đã là 497.000 ha Điều này
minh chứng cho tiềm năng về nguồn tài nguyên đất của Việt Nam Chính vì
thế, có thể nói rằng, nguồn nguyên liệu đầu vào thuộc loại đầu vào cơ bản này, cho đến nay vẫn mang lại lợi thế cạnh tranh lớn cho Việt Nam so với nhiều đồi thủ cạnh tranh ở các nước châu Phi và Nam Mỹ
Tuy nhiên, sau năm 2000 đạt đỉnh về diện tích trồng cây cà phê trên
cả nước (561.900 ha) thì từ đó trở lại đây, diện tích cà phê lại liên tục giảm Mặc dù trong năm 2007, diện tích trồng cà phê đã bắt đầu tăng trở lại song
vẫn còn thấp hơn nhiều so với năm 2000 Điều này có thê lý giải bằng việc
người nông dân chặt cây cà phê để trồng các loại cây công nghiệp khác do giá cà phê thế giới giảm trong những năm vừa qua nhưng một phân cũng là
do phương pháp quản lý và quy hoạch đất canh tác chưa tốt, dẫn đến việc
Trang 38
Khoá luận tt nghiệp Pham Hoàng Miên - Al6 K43D
thất thoát và giảm chất lượng tài nguyên đất, đặc biệt là nguồn đất đỏ bazan rất quan trọng đối với ngành cà phê
c Nguồn vốn
Cà phê ở Việt Nam hiện nay là một mặt hàng xuất khâu có giá trị kinh
tê lớn Kết quả thu ngoại tệ của những năm vừa qua thường diễn biến ở mức
380 đến 590 triệu đô la một năm, chỉ đứng sau mặt hàng nông sản xuất khẩu
là lúa gạo So với nhiều loại cây trồng khác, có thê nói nguồn vốn đầu tư vào cây cà phê luôn đạt hiệu quả kinh tế cao hơn
Bảng 3: Hiệu quả sử dụng vốn ở các loại cây trông (trên 1 ha thời giá 2007)
Chỉ tiêu Dv Loại cây trông
tính | Cà phê | Cao su Mia Bông Ngô
1 Vốn dâu tư ban đâu | J000đ| 33.000 32.155] 13.540
2 Tuôi cây Năm 8-10 7-10 1
Nguồn: Viện Quy hoạch thiết kê Nông nghiệp -
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Nhìn vào bảng trên ta có thể thây rằng cà phê thực sự là cây trồng có
ưu thế, lợi nhuận trên mỗi ha là 22 triệu, hệ số sinh lãi là 1,02 so với các giống cây khác hệ số chỉ chưa đến 1 Tuy nhiên, nguồn vốn cân thiết dé đầu
tư phát triển cây cà phê cũng tương đối lớn với sô vốn đầu tư ban đầu lên tới
33 triệu đồng và chi phí hàng năm cũng đạt đến gần 22 triệu
Trang 39
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Hoàng Miễn —- Al6 K43D Vấn đầu tư vào ngành cả phê hiện nay có thể chia làm ba nguằn chính
là vốn đầu tư của Nhà nước, vốn đầu tư nước ngoai va vốn tự có trong dân Vốn Nhà nước và vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu tập trung cho đầu tư cơ bản ban đầu như đầu từ về thuỷ lợi, tưới tiên, nghiên cứu phát triển giống, mua dây chuyên sản xuất Nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào ngành cả phê Việt Nam đáng kế nhất là nguồn vốn từ Cơ quan phát triển Pháp (AFD) Năm 1997, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Dự án phát triển 40.000 ha cả phê Arabica với tổng số vốn đự án lên tới 365 triệu Franc Pháp, trong đó
Tiêng: vốn từ AFD đã là 212 triệu Franc (160.645 triệu cho cơ sở hạ tang
nông thên, máy xay xát nhỏ, trạm sơ chế và cơ sở kiểm tra chất lượng; 50.676 triệu cho các nhà máy chế biến và chỉ phí nghiên cứu, đào tạo, chỉ phí quan ly va chi phi dự phòng), Tuy nhiên, dự án này đã không mang lại kết quả như mong đợi do người đân còn chưa quen với việc trồng cả phê Arabica Tổng công ty Cả phê Việt Nam (Vinacafe), đơn vị chủ quản của dự
án cho biết tỷ lệ diện tích cả phê thuộc dự án bị chết khá cao ở các tỉnh Tuyên Quang, Yên Bái, Sơn La, Hà Giang, ty lệ vườn cả phê xấu còn nhiều (Ha Giang: 30%, Son La: 25%, Tuyén Quang: 20%, Yén Bai: 10%)
Tuy nhiên, cho đến nay, khi ngành cả phê đã dan đi vào én dinh,
nguồn vẫn chủ yếu bây giờ không còn là nguồn vốn từ Chính phủ hay đầu tư nước ngoài nữa mà là nguồn vốn tự có trong dân cư Theo tỉnh toán của
Hiệp hội Cả phê - Ca cao Việt Nam Vicofa thì 85 đến 95% vẫn phát triển cả
phê ở nước ta hiện nay xuất phát trực tiếp từ người trồng cà phê Đó là các chí phí đành cho việc duy trí và chăm sóc hàng năm đối với cây cả phê và chỉ phí thu hoạch cũng như chế biến sản phẩm
d Cơ sở hạ tầng và nguồn lực trí thức
Về van đề cơ sở hạ tẳng, hệ thông đường sá của nước ta chưa tốt, chưa
tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp nói chung và cho
Trang 40
Khoa luận tốt nghiệp Phạm Hoàng Miễn - A416 K43D ngành cả phê nói riêng, Giao thông đi lại khó khăn ảnh hưởng rất lớn tới vẫn
đề tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt cả phê lại thưởng được trồng ở những vùng cao nguyên, địa hình không băng phẳng Đường giao thông kém sẽ làm tăng
chi phi van chuyén, giảm pia thu mua tại các diém thu mua ca phê khác
nhau, nhất là tại các vùng sân, vùng xa, đường cảng xấu thì giá cảng thấp Hơn nữa, chỉ phí sử dụng mạng Internet hiện nay ở rước ta vẫn còn cao hơn các nước khác trong khu vực Vân để cơ sở ba tầng nảy nếu không sớm khắc phục sẽ lâm suy giảm lợi thế cạnh tranh của cả phê Việt Nam
Nguôn trí thức ở đây chính là trình đệ phát triển và ứng dụng khoa
học công nghệ vào trồng trọt và chế biển cả phê cũng như trình độ am hiểu
của các cán bộ chuyên gia về cả phê
Về vẫn để giống cây trồng, ngoài Robusta thì đối với Arabica, phần
lớn hiện nay người dân trông giống cà phê Catimor (F6) Giống Catimor
thuộc chủng loại Arabica có các đặc tính thích ứng cao với điều kiện sinh thai, chéng chin sau bénh, yéu cầu thâm canh cao và cho năng suất cao, thy
vậy có hạn chế ít nhiều về hương vị so với một số giống cả phê chè khác va không phải là loại sản phẩm được thị trường thể giới ưa chuộng nên giá bán tương đối thấp, Các giông cả phê Arabica nỗi tiếng hơn về hương vị như Bourbon, Typica, Caturra chỉ được trồng ở vùng Đã Lạt, Lâm Đông nhưng điện tích cũng đang thụ hẹp dân đo sâu bệnh và giả côi, Hiện nay, Chính phủ, mà cụ thể là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đang tích cực chỉ
đạo việc lựa chọn địa bản thích hợp dé trồng cả phê Arabica, rồi tuy theo
từng loại đất sẽ bố trí trồng các loại giống phù hợp nhu Catimor, Bourbon, Typica, Cahura, KH33 và một sô giông lại mới có triên vọng như TNI, TN2, TN3, TN4
Vẻ vẫn đề công nghệ chế biên, hiện nay nước ta áp dụng hai phương
pháp là chế biển khô đối với Robusta và chế biển ướt đối với Arabica
Khoa Kinh té va Kink doanh Qube té