1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sản xuất giấy in sách chỉ dẫn sử dụng bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ nguyên liệu gỗ bạch đàn và keo tai tượng

49 558 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu sản xuất giấy in sách chỉ dẫn sử dụng bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ nguyên liệu gỗ bạch đàn và keo tai tượng
Tác giả Viện Công Nghiệp Giấy và Xenluylô
Người hướng dẫn Hoàng Mạnh Vinh, Kỹ sư công nghệ giấy
Trường học Viện Công Nghiệp Giấy Và Xenluylô
Chuyên ngành Khoa học và công nghệ giấy
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu chất lượng của mẫu giấy in niên giám điện thoại sản xuất tại Thụy Điển, Trung Quốc* Giấy Thụy Điển Giấy Trung Quốc Trong thực tế sản xuất, các chất độn vô c

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM VIỆN CÔNG NGHIỆP GIẤY VÀ XENLUYLÔ

**************&************

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI CẤP BỘ NĂM 2010

NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT GIẤY IN SÁCH CHỈ DẪN

(DIRECTORY PAPER) SỬ DỤNG BỘT GIẤY HIỆU SUẤT CAO

TẨY TRẮNG TỪ NGUYÊN LIỆU GỖ BẠCH ĐÀN

VÀ KEO TAI TƯỢNG

Cơ quan chủ quản: BỘ CÔNG THƯƠNG

Cơ quan chủ trì: VIỆN CÔNG NGHIỆP GIẤY VÀ XENLUYLÔ

Chủ nhiệm đề tài: Hoàng Mạnh Vinh

Kỹ sư công nghệ giấy

8234

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 PHẦN I TỔNG QUAN VỀ GIẤY IN SÁCH CHỈ DẪN,

NGUYÊN LIỆU VÀ HOÁ CHẤT SỬ DỤNG CHO SẢN XUẤT GIẤY IN SÁCH CHỈ DẪN

1.2.1 Xu hướng sản xuất bột hiệu suất cao tẩy trắng hiện

1.2.1.1 Xu hướng sản xuất bột hiệu suất cao tẩy trắng trên thế

giới

9

1.2.1.2 Xu hướng sản xuất bột hiệu suất cao tẩy trắng ở nước ta 10

1.2.2 Công nghệ sản xuất bột hiệu suất cao tẩy trắng theo

phương pháp peroxyt – kiềm (APMP)

1.3.4 Chất trợ bảo lưu 16

Kết luận và định hướng nghiên cứu 18

2.1 Nguyên liệu, hóa chất và thiết bị nghiên cứu 19

2.1.3 Thiết bị 19

2.2 Phương pháp nghiên cứu 20

3.1 Tính chất của bột giấy sử dụng cho nghiên cứu sản

Trang 3

3.1.1 Tính chất của bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ nguyên

3.1.2 Tính chất của bột giấy hoá học tẩy trắng gỗ cứng và gỗ

mềm

22

3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn bột giấy

hiệu suất cao tẩy trắng và bột giấy hóa tẩy trắng đến chất lượng của giấy in sách chỉ dẫn

22

3.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn bột hiệu suất

cao tẩy trắng và bột xơ sợi dài tẩy trắng 223.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn bột hiệu suất

cao tẩy trắng và bột xơ sợi ngắn tẩy trắng 233.2.3 Ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn bột hiệu suất cao tẩy

trắng,bột xơ sợi dài tẩy trắng và bột xơ sợi ngắn tẩy trắng

25

3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của độ nghiền bột giấy đến

chất lượng của giấy in sách chỉ dẫn

3.6 Lựa chọn quy trình công nghệ thích hợp trong phòng

thí nghiệm cho sản xuất giấy in sách chỉ dẫn

33

3.7 Sản xuất thử nghiệm 33 3.7.1 Sản xuất bột hiệu suất cao tẩy trắng 34

3.7.1.1 Nguyên liệu và quy trình công nghệ sản xuất 343.7.1.2 Vận hành dây chuyền 36

3.8 Chất lượng in của giấy sản xuất thử nghiệm 41 3.9 Ước tính chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho sản

Kết luận 43 Tài liệu tham khảo 44

Trang 4

1

MỞ ĐẦU

Sách chỉ dẫn là những quyển sách rất thông dụng trong đời sống con người Nó thường là các ấn phẩm như: Niên giám điện thoại, các bản mục lục, chỉ dẫn, các quyển sách nhỏ,… Ngày nay, cùng với sự phát triển của mạng internet toàn cầu, nhiều phương tiện tìm kiếm trực tuyến xuất hiện, tuy vậy, phương tiện tra cứu thông tin truyền thống từ sách chỉ dẫn vẫn là phương tiện được mọi người

ưa dùng bởi những ưu điểm riêng của nó Chẳng hạn, đối với người tiêu dùng, nó

là một nguồn thông tin chỉ dẫn chính xác và tương đối đầy đủ, hơn nữa lại rất dễ

sử dụng và tiện lợi, chỉ cần người sử dụng biết đọc là có thể tra cứu một cách dễ dàng ở bất cứ nơi nào Sách chỉ dẫn còn là một phương tiện quảng cáo hiệu quả đối với các doanh nghiệp, các ấn phẩm này có số lượng phát hành cao, số người

sử dụng lớn và có giá trị quảng cáo lâu dài với chi phí thấp vì người sử dụng có thể tra cứu trong suốt cả năm

Các cuốn sách chỉ dẫn thường được in trên loại giấy có định lượng thấp gọi là giấy in sách chỉ dẫn (directory paper) Loại giấy này có thành phần nguyên liệu gần giống với giấy in báo, nhưng có định lượng thấp hơn, chỉ trong khoảng

35 ÷ 40 g/m2 (định lượng của giấy in báo là 40 ÷ 65 g/m2 theo TCVN 5900: 2001), độ đục của giấy yêu cầu tương đối cao (không nhỏ hơn 85%) Về mặt sử dụng, giấy in báo phục vụ cho việc sản xuất các ấn phẩm hàng ngày, trong khi giấy in sách chỉ dẫn lại phục vụ cho việc sản xuất các ấn phẩm hàng năm và được

sử dụng thường xuyên

Hiện nay, trên thế giới, giấy in sách chỉ dẫn thường được sản xuất từ hỗn hợp bột giấy hóa học tẩy trắng, bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng như bột gỗ mài, bột nhiệt cơ tẩy trắng, bột hoá nhiệt cơ tẩy trắng, bột APMP và bột giấy tái chế

Ở Việt Nam, chưa thấy có cơ sở nào sản xuất giấy in sách chỉ dẫn Giấy dùng để in sách chỉ dẫn chủ yếu được nhập khẩu, phần còn lại được in trên các loại giấy in thông thường với các mức chất lượng khác nhau Mặt khác, nguồn nguyên liệu dùng để sản xuất loại giấy này là các loại bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng nhẹ Loại bột này hiện đang được nghiên cứu đầu tư sản xuất mạnh mẽ trong nước (Nhà máy bột giấy Phương Nam, tỉnh Long An, Dự án nhà máy bột giấy và giấy Tân Mai - Kontum, Dự án nhà máy bột giấy Tân Mai – Quảng Ngãi,

Dự án nhà máy bột giấy Tân Mai – Lâm Đồng,…) đang cần có thị trường tiêu

thụ Vì vậy, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu sản xuất giấy in sách chỉ dẫn (directory paper) sử dụng bột hiệu suất cao tẩy trắng từ nguồn nguyên liệu gỗ bạch đàn và keo tai tượng” là rất cần thiết Mục tiêu của đề tài là xác lập quy

trình công nghệ sản xuất giấy in sách chỉ dẫn sử dụng bột giấy hiệu suất cao tẩy

Trang 5

trắng từ nguyên liệu gỗ bạch đàn và keo tai tượng trong nước đạt chất lượng tương đương với giấy in sách chỉ dẫn nhập ngoại:

+ Định lượng, (g/m2) :36 ÷ 38 + Chiều dài đứt trung bình theo 2 chiều; không nhỏ hơn, (m) :3000 + Độ bền xé trung bình theo 2 chiều; không nhỏ hơn, (mN) :210

+ Độ trắng ISO; không nhỏ hơn, (%) :60 + Độ đục; không nhỏ hơn, (%) :88

+ Độ tro không nhỏ hơn, (%) :4,0

+ Độ hút nước; Cobb60 không cao hơn, (g/m2) :47

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần tạo ra sản phẩm giấy sử dụng bột giấy từ các dự án, nhà máy nói trên đồng thời thúc đẩy quá trình đa dạng hóa mặt hàng giấy

Trang 6

PHẦN I TỔNG QUAN VỀ GIẤY IN SÁCH CHỈ DẪN, NGUYÊN LIỆU VÀ HÓA CHẤT SỬ DỤNG CHO SẢN XUẤT GIẤY IN SÁCH CHỈ DẪN

1.1 TỔNG QUAN VỀ GIẤY IN SÁCH CHỈ DẪN

1.1.1 Giới thiệu sơ lược về sách chỉ dẫn và giấy in sách chỉ dẫn

Ngày nay, trong thời đại bùng nổ của nghành công nghệ thông tin với sự kết nối không giới hạn về không gian và sự tương tác nhanh chóng, tiện ích của nó, thì sách chỉ dẫn vẫn giữ một vai trò, vị trí quan trọng trong nhu cầu truyền bá thông tin và cập nhật thông tin hằng ngày của con người Đây thực sự là “đại sứ thông tin” hoạt động hiệu quả, là cầu nối giữa các nhà sản xuất, các nhà cung ứng

và người tiêu dùng Sách chỉ dẫn là những ấn phẩm rất thông dụng trong đời sống của con người, nó bao gồm các quyển niên giám điện thoại (trang vàng, trang trắng), sách chỉ dẫn du lịch, các quảng cáo sản phẩm và dịch vụ (catalog, tờ rơi) Các ấn phẩm chỉ dẫn thường chứa một lượng thông tin lớn, do đó các ấn phẩm này cần in trên loại giấy có định lượng thấp (giấy mỏng), có thể in trên cả hai mặt để đảm bảo tính gọn, nhẹ và thông thường được đóng thành quyển để thuận tiện cho mục đích tra cứu

Hiện nay, ở nước ta, loại giấy này đang được các đơn vị trong ngành bưu điện và một số đơn vị khác nhập khẩu, chỉ tính riêng cho nhu cầu in danh bạ điện thoại của bưu điện, lượng giấy này đã hơn 500 tấn/năm (số liệu của năm 2009 do Vietnam Yellow Pages - thành viên của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam cung cấp)

Một số hình ảnh về sách chỉ dẫn:

Hình 1.1 Hai ấn phẩm: Niên giám điện thoại và Trang vàng tiêu dùng được

in trên giấy in sách chỉ dẫn.

Trang 8

1.1.2.1 Độ đục của giấy

Độ đục của giấy phản ánh khả năng nhìn từ phía bên này không thấy được hình ảnh, chữ viết ở phía mặt bên kia của tờ giấy Các loại giấy cần có độ đục cao

là giấy in, giấy viết, giấy photocopy, giấy làm phong bì,

Một số chỉ tiêu chất lượng của mẫu giấy in sách chỉ dẫn của nước ngoài cho thấy sản phẩm giấy in sách chỉ dẫn tuy có định lượng thấp nhưng lại có yêu cầu tương đối cao về độ đục (bảng 1.1)

Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu chất lượng của mẫu giấy in niên giám điện

thoại sản xuất tại Thụy Điển, Trung Quốc*

Giấy Thụy Điển

Giấy Trung Quốc

Trong thực tế sản xuất, các chất độn vô cơ và phẩm màu thường được sử dụng để làm tăng độ đục của giấy Thông thường, nếu sự khác biệt giữa hệ số khúc xạ ánh sáng của chất độn vô cơ và xơ sợi xenlulô càng lớn thì độ đục của giấy càng cao Hệ số khúc xạ ánh sáng của xơ sợi xenlulô, nước, không khí, một

số chất độn vô cơ và chất gia keo hữu cơ được giới thiệu trong bảng 1.2

Trang 9

Bảng 1.2: Hệ số khúc xạ ánh sáng của một số nguyên liệu, phụ gia thông

Từ bảng 1.2 cho thấy, giấy có độ đục cao nhất nếu sử dụng chất độn là titan

điôxít Không khí có hệ số khúc xạ ánh sáng thấp hơn nhiều so với xenlulô, do đó

các túi khí có trong giấy sẽ làm tăng độ đục của giấy vì sự có mặt của chúng làm

giảm tính đồng nhất quang học của môi trường Do đặc tính này nên trong quá

trình sản xuất một số loại giấy có độ trong suốt cao thường được ngâm tẩm với

một số chất dầu mỡ có hệ số khúc xạ ánh sáng gần với xenlulô nhằm mục đích

đuổi hết không khí Ngược lại, các loại giấy có yêu cầu cao về độ đục thường

được sản xuất với độ chặt tương đối thấp nhằm giữ lại các túi khí trong giấy Các

chất độn thông dụng và rẻ tiền như canxi cácbônát và cao lanh đều có hệ số khúc

xạ gần giống với xơ sợi xenlulô, nhưng thực tế thì canxi cácbônát cũng như các

chất độn khác có tác dụng làm tăng độ đục cho giấy, bởi vì sự có mặt của các hạt

canxi cácbônát sẽ làm tăng sự hình thành các túi khí trong giấy

Độ nghiền của bột cũng là một yếu công nghệ có ảnh hưởng quan trọng đến

độ đục của giấy, các loại giấy trong suốt thường được nghiền tới độ nghiền rất

cao (70 ÷ 80 oSR), trong khi giấy có yêu cầu về độ đục cao thường chỉ được

nghiền tới độ nghiền thấp nhất có thể [7]

1.1.2.2 Tính chất in của giấy

Tính chất in là khái niệm tương đối rộng liên quan đến rất nhiều các chỉ tiêu

chất lượng của giấy Thông thường, các kỹ thuật in khác nhau có các yêu cầu

Trang 10

khác nhau về chất lượng giấy, mặt khác ngay cả khi xác định một kỹ thuật in cụ thể thì các tính chất in của giấy cũng không thể biểu thị bằng một vài chỉ tiêu chất

lượng nào đó Một số chỉ tiêu chất lượng của giấy có ảnh hưởng đến các tính chất

in mà không phụ thuộc vào kỹ thuật in là:

* Độ đồng đều của tờ giấy

Độ đồng đều của tờ giấy là chỉ tiêu quan trọng cho phép đảm bảo đạt được chất lượng in cao (các nét in sắc nét, đồng đều, liên lục) Độ đồng đều của giấy liên quan đến quá trình hình thành giấy trên lưới xeo và chủng loại bột giấy sử dụng Thông thường, đối với các loại giấy định lượng thấp, tỷ lệ sử dụng bột giấy

xơ sợi ngắn càng cao sẽ càng làm tăng độ đồng đều của tờ giấy

* Khả năng bắt mực in của giấy

Khả năng bắt mực in của giấy là cần thiết, nhất là trong quá trình in nhiều màu Ở đây, mực có các màu khác nhau được in, lớp mực này in trên lớp mực kia

để nhận được độ sắc nét, độ sáng bóng nhất định mà không bị nhòe Để tăng khả năng bắt mực in thì giấy cần phải có cấu trúc tương đối xốp (khối lượng thể tích tương đối thấp) và có sức hút của các mao dẫn cao Giấy được sản xuất từ các loại bột giấy hiệu suất cao thường đáp ứng được các chỉ tiêu này

* Độ nhẵn của giấy

Độ nhẵn của giấy là một chỉ tiêu chất lượng cần thiết đối với tất cả các kỹ thuật in Độ nhẵn của giấy ảnh hưởng đến mật độ in và màu in Một tờ giấy có mật độ in cao và phạm vi màu rộng có yêu cầu rất cao về độ nhẵn

1.1.2.3 Độ bền cơ lý của giấy

Độ bền cơ lý của giấy biểu thị khả năng của giấy chịu được những lực tác dụng từ bên ngoài lên giấy Các chỉ tiêu cơ bản về độ bền cơ lý của giấy in chủ yếu là độ bền kéo và độ bền xé Đối với giấy in sách chỉ dẫn thì độ bền kéo (hay chiều dài đứt) và độ bền xé là hai chỉ tiêu quan trọng giúp cho giấy không bị đứt, rách khi giấy qua máy in tốc độ cao và tạo ra độ bền trong quá trình sử dụng các

Trang 11

ấn phẩm chỉ dẫn Dựa vào các số liệu trong bảng 1.3 ta thấy giấy in sách chỉ dẫn nhập ngoại đều có độ bền xé tương đối cao, đặc biệt là giấy của Thụy Điển

Bảng 1.3: Một số chỉ tiêu chất lượng của mẫu giấy in niên giám điện

thoại sản xuất tại Thụy Điển, Trung Quốc*

Giấy Thụy Điển STT Chỉ tiêu

Giấy trắng Giấy vàng GiấyTrung Quốc

Độ bền kéo của giấy phụ thuộc nhiều nhất vào liên kết giữa các xơ sợi, tiếp

đó là độ bền của bản thân xơ sợi và chiều dài xơ sợi Do vậy, giai đoạn đầu của quá trình nghiền, độ bền kéo của giấy tăng khi tăng độ nghiền của bột giấy, vì khi

đó xơ sợi được chổi hóa nhiều hơn làm tăng lực liên kết giữa các xơ sợi Độ bền kéo của giấy đạt cực đại khi độ nghiền đạt giá trị xác định tùy thuộc vào từng loại bột giấy, sau đó nếu tiếp tục nghiền thì xơ sợi sẽ bị phá hủy và cắt ngắn rõ rệt, do vậy độ bền kéo của giấy sẽ giảm

Độ bền xé của giấy phụ thuộc chủ yếu vào chiều dài xơ sợi và khả năng chịu giãn của giấy Giấy làm từ bột xơ sợi dài thường có độ chịu xé cao hơn giấy làm

từ bột xơ sợi ngắn Nếu giấy làm từ hỗn hợp bột có cả xơ sợi dài và xơ sợi ngắn thì khi tăng tỷ lệ bột xơ sợi dài sẽ làm tăng độ bền xé của giấy Xơ sợi xenlulô gỗ mềm có chiều dài cao hơn xơ sợi xenlulô gỗ cứng, do đó nếu trong thành phần nguyên liệu sản xuất giấy có bổ sung thêm một phần xơ sợi xenlulô gỗ mềm thì

sẽ làm tăng độ bền xé của giấy Khi tăng độ nghiền của bột, lúc mới nghiền thì độ bền xé của giấy tăng, sau đó nếu tiếp tục tăng độ nghiền thì độ bền xé của giấy lại giảm, vì khi đó xơ sợi bị cắt ngắn [7]

Thực tế sản xuất cho thấy độ bền xé của giấy còn phụ thuộc vào điều kiện công nghệ trong quá trình sấy giấy Khi giấy đạt độ khô 60 ÷ 85% , không nên kéo chăn sấy quá căng, vì sẽ làm giảm khả năng chịu giãn của giấy và kết quả là làm cho độ bền xé của giấy giảm

Trang 12

1.2 NGUYÊN LIỆU SỬ DỤNG CHO QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT GIẤY IN SÁCH CHỈ DẪN

1.2.1 Xu hướng sản xuất bột hiệu suất cao tẩy trắng hiện nay trên thế giới

và ở nước ta

1.2.1.1 Xu hướng sản xuất bột hiệu suất cao tẩy trắng trên thế giới [1]

Ngày nay, do sự đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng của sản phẩm giấy nên công nghệ bột hiệu suất cao đã có những thay đổi, song song với bột gỗ mài và bột cơ nghiền đã xuất hiện bột nhiệt cơ (TMP), bột nhiệt cơ tẩy trắng (BTMP) và bột hoá nhiệt cơ (CTMP), bột hoá nhiệt cơ tẩy trắng (BCTMP), bột cơ học peroxyt kiềm (APMP) và một số công nghệ cải tiến của nó… cho chất lượng bột tốt hơn như: tỷ lệ xơ sợi dài cao hơn, độ bền cơ lý của bột được cải thiện đáng kể

và độ trắng của bột rất cao Phần lớn các nhà máy bột hiệu suất cao có công suất lớn trên thế giới đều áp dụng công nghệ BCTMP, APMP, đặc biệt một số công nghệ cải tiến từ APMP như công nghệ: peroxyt kiềm có tiền xử lý hoá chất khi nghiền (P-RC-APMP) do công nghệ này tiết kiệm về đầu tư, chi phí điện năng, lượng COD thải ra môi trường thấp trong khi chất lượng bột cao, khả năng tẩy trắng tới độ trắng cao hơn, hệ số tán xạ ánh sáng tốt hơn (tại cùng một độ trắng,

độ bền)

Nguyên liệu dùng để sản xuất bột hiệu suất cao trên thế giới chủ yếu từ gỗ rừng với cả hai loại gỗ cứng và gỗ mềm Đối với gỗ mềm, bao gồm: gỗ cây vân sam (Norway spruce, Black spruce, White spruce ); gỗ cây linh sam (Blasam fir, Silver fir ); gỗ thông (Radiata pine, White pine, Red pine, Papula pine, Pitch pine, Longleaf pine ); gỗ cây độc cần (Hemlock) Bột hiệu suất cao làm từ nguyên liệu này cho chất lượng bột rất tốt, xơ sợi mảnh, dài, mềm mại, độ trắng cao Tuy nhiên, do công nghệ và thiết bị ngày càng phát triển và hoàn thiện nên một số loài gỗ cứng cũng đã được đưa vào sử dụng như: gỗ cây Dương (loài Populus tremuloides ở vùng Bắc Mỹ; loài Populus tremula ở Châu Âu); một số dòng bạch đàn Urophylla ở Nam Mỹ, Trung Quốc chất lượng bột khá tốt, không thua kém nhiều so với bột làm từ gỗ mềm, độ trắng của bột có thể đạt tới trên 80%ISO tuỳ thuộc vào công nghệ Các cải tiến mới đây trong quá trình thẩm thấu, nghiền và tẩy trắng đối với công nghệ P-RC-APMP (Công nghệ bột hiệu

Trang 13

suất cao peroxyt – kiềm có sử dụng hoá chất trong quá trình nghiền) cho phép sản xuất ra bột có chất lượng và độ trắng rất cao (trên 84%ISO) đối với nguyên liệu là gỗ cây Dương Cũng với công nghệ này, đối với nguyên liệu là cây bulô

(Birch) độ trắng của bột cũng đạt 84,8%ISO (với độ nghiền CSF 285ml )

1.2.1.2 Xu hướng sản xuất bột hiệu suất cao tẩy trắng ở nước ta

Ở Việt Nam, Công ty cổ phần Tập đoàn Tân Mai được đầu tư xây dựng một dây chuyền bột TMP (nay đã cải tạo thành BCTMP) công suất 40.000 tấn/năm với nguyên liệu đầu vào là gỗ thông nhập khẩu Tuy nhiên, hiện nay công ty đã chuyển sang dùng nguyên liệu gỗ keo, bột sản xuất ra được sử dụng chủ yếu cho sản xuất giấy in báo với hai loại sản phẩm là độ trắng 65%ISO và 75%ISO Hiện tại, công ty đang tiến hành triển khai 3 dự án: Dự án nhà máy giấy Tân Mai – Kontum với dây chuyền sản xuất bột BCTMP công suất 150.000 tấn/năm; Dự án nhà máy giấy Tân Mai – Quảng Ngãi với dây chuyền sản xuất bột BCTMP công suất 40.000 tấn/năm; Dự án nhà máy bột giấy Tân Mai – Lâm Đồng công suất 200.000 tấn bột TMP/năm Sản phẩm của các dự án nói trên được sử dụng làm nguyên liệu phục vụ cho sản xuất giấy tráng phấn, giấy in báo và giấy in, giấy viết

Bên cạnh công nghệ BCTMP, thì công nghệ P-RC-APMP lần đầu tiên được triển khai qua dự án của Nhà máy bột giấy Phương Nam (Long An) với nguyên liệu là cây đay Thiết bị cũng như công nghệ của nhà máy được cung cấp bởi hãng Andritz Các nghiên cứu ban đầu về loại nguyên liệu này cũng được hãng thực hiện tại phòng thí nghiệm cũng như dây chuyền pilot của hãng, kết quả khẳng định, bột cơ từ nguyên liệu cây sản xuất theo công nghệ P-RC-APMP cho chất lượng bột khá cao, hoàn toàn đáp ứng được tiêu chuẩn bột dùng cho sản xuất giấy in, giấy viết

1.2.2 Công nghệ sản xuất bột hiệu suất cao tẩy trắng theo phương pháp peroxyt – kiềm (APMP)

Ngày nay, phần lớn các dây chuyền mới xây dựng đều sử dụng công nghệ APMP và công nghệ cải tiến từ APMP như: P – RC – APMP Nhìn chung, các công đoạn của công nghệ APMP thường bao gồm [1]:

Trang 14

* Chuẩn bị nguyên liệu:

Từ bãi nguyên liệu, các khúc nguyên liệu được xe cạp vào mâm phân phối

Từ đây, nguyên liệu được cấp vào hệ thống băng tải xích, băng tải cao su chuyển tới tang bóc vỏ (kiểu ướt hoặc khô) Khúc nguyên liệu được chặt trong máy cắt dăm dạng mâm dao Mảnh nguyên liệu thoát ra từ máy cắt mảnh được tách bụi bởi xiclon và sàng trên hệ thống sàng Mảnh hợp cách được băng tải chuyển tới bãi chứa mảnh Mảnh quá cỡ được quay lại máy cắt mảnh, mảnh quá nhỏ cùng với bụi được thu gom tới đốt ở lò hơi

* Xông hơi mảnh nguyên liệu

Mảnh nguyên liệu từ bãi nguyên liệu được chuyển tới bình gia nhiệt sơ bộ bằng băng tải Tại đây mảnh nguyên liệu được xông hơi sơ bộ bằng hơi thu hồi từ

hệ thống nghiền và hơi áp suất thấp Tuỳ từng quy trình sản xuất bột hiệu suất cao, người ta có thể tiến hành xông hơi ở nhiệt độ từ 100 – 1500C Thời gian xông hơi từ 15 –20 phút

Tiếp đó, mảnh nguyên liệu được chuyển dần tới máy rửa mảnh bằng hệ thống vít tải Nguyên liệu sau rửa được vắt ép tách nước và qua hệ thống vít tải tới phễu nạp liệu vào bình gia nhiệt Tại đây, mảnh nguyên liệu được xông hơi trực tiếp trong một thời gian nhất định trước khi được vít nạp đặc biệt nạp vào thiết bị thẩm thấu hoá chất

* Thẩm thấu hoá chất

Thiết bị thẩm thấu hoá chất có dạng trụ hoặc dạng nghiêng với vít tải kép, nguyên liệu đi ngược từ dưới lên, dịch thẩm thấu được bơm vào liên tục, mức dịch trong thiết bị được khống chế tuỳ thuộc vào quy trình công nghệ

Thông thường, quá trình thẩm thấu thường tiến hành ở nhiệt độ dưới 1000C với thời gian từ 10 -25 phút

Mảnh nguyên liệu từ đỉnh thiết bị thẩm thấu được chuyển vào chứa trong tháp chứa Đối với công nghệ APMP, quá trình thẩm thấu thường tối thiểu là 2 giai đoạn, có dây chuyền, quá trình thẩm thấu lên tới 4 giai đoạn

Trang 15

*Nghiền bột

Máy nghiền dùng trong công nghệ APMP thường là máy nghiền đĩa công suất lớn với hệ thống đĩa nghiền và cơ cấu nạp liệu chuyên dụng Quá trình nghiền bột thường tiến hành với 2 giai đoạn Giai đoạn 1: nồng độ nghiền khoảng

35 – 50%, nhiệt độ nghiền 120 -1300C (2-3 at), giai đoạn 2: nồng độ nghiền 20 - 25%, áp suất môi trường Bột sau nghiền có độ nghiền khoảng 17 - 190SR được pha loãng và chứa trong bể ở nồng độ khoảng 3%

* Sàng chọn và làm sạch

Bột từ bể chứa tiếp tục được pha loãng trước khi được bơm tới sàng áp lực Các mảnh nguyên liệu còn sót lại và các búi xơ sợi được tách ra, qua hệ thống sàng cong, cô đặc và được nạp trở lại vào giai đoạn nghiền thứ 2 Bột tốt sau sàng được đưa tới hệ thống lọc cát nồng độ thấp (2 hoặc 3 cấp) nhằm loại bỏ cát sạn Bột sau khi đã được làm sạch được đưa tới hệ thống tẩy trắng bột Bột thô loại ra

từ sàng được đưa đến hệ thống nghiền lại

*Tẩy trắng bột

Tuỳ từng loại nguyên liệu cũng như yêu cầu chất lượng bột sử dụng cho các mục đích nhất định mà bột APMP sẽ được tẩy trắng thêm bằng H2O2, dithionit Bột từ bể chứa sau thiết bị cô đặc được chuyển tới thiết bị trộn hoá chất và gia nhiệt tới nhiệt độ nhất định theo yêu cầu kỹ thuật trước khi chuyển vào tháp tẩy Tuỳ công nghệ mà quá trình tẩy có thể được tiến hành tẩy một giai đoạn hoặc

2 giai đoạn với các loại hoá chất tẩy khác nhau Bột sau tẩy ở giai đoạn cuối cùng được rửa sạch và trung hoà bằng khí SO2 hoặc axit sunphuric trước khi tới bể chứa

* Tồn trữ bột

Đối với các nhà máy sản xuất bột APMP thương phẩm, bột sau rửa được sàng chọn – làm sạch một lần nữa bằng hệ thống sàng áp lực và lọc cát nồng độ thấp Bột sau cô đặc, vắt ép tới nồng độ khoảng 30 -35% sẽ được phun vào hệ thống hầm sấy để sấy khô Bột khô sẽ được ép, đóng bành và bao gói

Trang 16

1.2.3 Lựa chọn nguyên liệu sử dụng cho sản xuất giấy in sách chỉ dẫn ở nước ta

Trong điều kiện Việt Nam không có nguyên liệu gỗ mềm, bột giấy chủ yếu được sản xuất từ hai dòng cây nguyên liệu chính là bạch đàn (E.Urophylla) và các loại keo, đặc biệt là keo tai tượng Các dòng cây này rất phù hợp với nhiều khu vực trên cả nước, năng suất khá cao và đặc biệt là chu kỳ sinh trưởng khá ngắn (5 – 7năm/chu kỳ khai thác) Các cây nguyên liệu này đã được trồng đại trà tại các lâm trường trên cả nước, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho các nhà máy bột hiện tại, và chúng đang được quy hoạch trồng phục vụ cho các dự án sản xuất bột giấy trong tương lai như: dự án mở rộng công ty giấy Bãi Bằng giai đoạn II, Công ty

cổ phần giấy An Hoà (Tuyên Quang),… Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu keo và bạch đàn vẫn không được sử dụng hết, hàng năm nước ta vẫn xuất khẩu hàng triệu tấn dăm mảnh, do đó hiệu quả kinh tế không cao, lãng phí tài nguyên Năm

2007, Bộ Khoa Học và Công Nghệ đã giao cho Viện công nghiệp giấy và xenluylô thực hiện đề tài khoa học công nghệ cấp Nhà nước KC 08.06/06-10:

“Nghiên cứu công nghệ và dây chuyền thiết bị sản xuất bột giấy hiệu suất cao từ

nguồn nguyên liệu trong nước đạt tiêu chuẩn xuất khẩu” Kết quả nghiên cứu cho

thấy công nghệ APMP hoàn toàn phù hợp với hai loại nguyên liệu nói trên Chỉ với mức sử dụng 7-8% H2O2 đã cho sản phẩm có độ trắng trên 75% với các chỉ tiêu cơ lý tương đương các sản phẩm cùng loại đang lưu thông trên thị trường thế giới Điều đó cho thấy quy trình công nghệ đã nghiên cứu hoàn toàn có thể áp dụng sản xuất sản phẩm thay thế nhập khẩu và đáp ứng xuất khẩu

Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng hoàn toàn có thể sử dụng cùng một quy trình để sản xuất bột hiệu suất cao tẩy trắng cho từng loại riêng biệt hoặc hỗn hợp hai loại nguyên liệu bạch đàn và keo tai tượng mà sự thay đổi tính chất của sản phẩm không đáng kể Điều này rất quan trọng vì nó phù hợp với điều kiện thực tế của sản xuất , nhất là trong điều kiện Việt nam

Trang 17

Bảng 1.4 Một số chỉ tiêu chất lượng bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ

hỗn hợp nguyên liệu bạch đàn và keo tai tượng [1]

* Bột được nghiền tới 55 o SR trên máy nghiền Hà lan, xeo mẫu định lượng

36g/m 2 trước khi xác định độ bền cơ lý

Các kết quả được chỉ ra trong bảng 1.4 cho thấy bột hiệu suất cao tẩy trắng

sản xuất theo công nghệ APMP từ gỗ bạch đàn và keo tai tượng hoàn toàn có thể

dùng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất giấy in sách chỉ dẫn do loại bột này

cho giấy có độ đục cao, khả năng bắt mực in tốt Hơn nữa, bột giấy hiệu suất cao

tẩy trắng thường có giá thành thấp hơn so với các loại bột giấy hóa học tẩy trắng

Bột giấy hóa học tẩy trắng được bổ sung với một tỷ lệ nhất định để đảm bảo độ

bền cơ lý và một số chỉ tiêu chất lượng khác của giấy

1.3 HOÁ CHẤT SỬ DỤNG CHO SẢN XUẤT GIẤY IN SÁCH CHỈ DẪN

Trong quá trình sản xuất giấy, ngoài nguyên liệu cơ bản là bột giấy, người ta

còn sử dụng thêm các hóa chất bổ sung vào trong huyền phù bột giấy trước khi

xeo nhằm mục đích tăng cường một số chỉ tiêu chất lượng của giấy hoặc tạo cho

giấy những tính chất riêng biệt mà bột giấy không mang lại cho giấy Những hóa

chất đó được gọi là các chất phụ gia Các chất phụ gia thường được phân loại theo

tác dụng của chúng thành những nhóm chất sau đây:

1.3.1 Chất gia keo chống thấm nội bộ

Hầu hết các loại giấy (ngoại trừ giấy vệ sinh và một số loại giấy đặc biệt

khác) đều cần mang tính chống thấm nước ở mức độ nhất định Ngày nay, với xu

hướng xeo giấy trong môi trường trung tính và kiềm yếu do những ưu điểm vượt

trội của nó so với xeo giấy trong môi trường axít (như có thể sử dụng chất độn

CaCO3 thay cho cao lanh làm tăng độ trắng của giấy, máy móc, thiết bị hoạt động

trong môi trường trung tính và kiềm yếu ít bị ăn mòn hơn trong môi trường

axít,…), chất chống thấm được sử dụng phổ biến là ankylketendimer (AKD)

Trang 18

Đối với các chủng loại giấy in, việc sử dụng một tỷ lệ hợp lý chất chống thấm sẽ tạo cho giấy có tính chất in tốt Tùy từng phương pháp in khác nhau sẽ yêu cầu giấy có độ chống thấm khác nhau Giấy có độ chống thấm thấp mang tính hiếu nước nên có những ưu điểm là chỉ cần một thời gian ngắn đã ổn định độ ẩm của giấy, dễ dàng đạt được độ mềm mại, dễ trung hòa điện nếu trong quá trình in với tốc độ cao phát sinh sự tích điện Loại giấy này có thể sử dụng cho cả hai trường hợp mực in gốc nước và gốc dầu, nghĩa là có thể in theo phương pháp in lõm (mực in gốc nước) hoặc in nổi (mực in gốc dầu) Nhược điểm của loại giấy này là dễ bị biến dạng khi gặp ẩm nên không dùng trong phương pháp in offset Đối với loại giấy có độ gia keo chống thấm cao thì giấy mang tính kỵ nước, giấy này có ưu điểm là ít bị biến dạng khi gặp ẩm, khả năng bắt mực in gốc nước kém nhưng khả năng bắt mực in gốc dầu tốt Vì vậy, loại giấy này thích hợp sử dụng cho phương pháp in offset và in lito (mực in gốc dầu) Nhược điểm của loại giấy này là tốn nhiều thời gian để ổn định độ ẩm trước khi in, lâu đạt được độ mềm mại, khó khử tĩnh điện khi in [7]

1.3.2 Chất độn

Chất độn là những chất dạng bột mịn màu trắng, không tan trong nước, chúng thường là những chất khoáng có trong tự nhiên như bột đá vôi (CaCO3), cao lanh (Al2O3.SiO2), bột talc, hoặc bột nhân tạo như bột titan dioxit (TiO2), bột

đá vôi kết tủa (PCC) Công dụng của chất độn là làm tăng độ trắng, độ đục và độ nhẵn của tờ giấy, giảm sự biến dạng của tờ giấy nếu gặp nước

Các nghiên cứu về ảnh hưởng của chất độn lên tính chất in của giấy cho thấy: những hạt chất độn do có kích thước nhỏ nên lấp vào khoảng trống giữa các

xơ sợi làm tăng số lượng nhưng giảm kích thước của các lỗ mao dẫn, kết quả là tăng được khả năng thấm hút mực in của giấy Sự có mặt của chất độn còn làm giảm hiện tượng ngả vàng của giấy có sử dụng bột cơ do lớp chất độn có tác dụng ngăn cản ánh sáng và nhiệt dẫn tới sự hồi màu của bột cơ

Trong số các chất độn thì canxi cácbônát kết tủa (PCC, hay bột đá nhẹ) là chất độn thích hợp nhất cho các loại giấy in định lượng thấp vì nó làm cho giấy có

độ đục và độ trắng cao, không bị ngả vàng, độ bền với thời gian cao hơn hẳn so với sử dụng chất độn là bột cao lanh [7]

Tỷ lệ sử dụng chất độn trong giấy tùy thuộc vào chủng loại giấy in với những yêu cầu về độ nhẵn, độ trắng, khả năng bắt mực in và độ bền cơ lý của giấy Tỷ lệ dùng chất độn trong giấy được thể hiện qua độ tro của giấy Độ tro của giấy in cao cấp thường trong khoảng 18 ÷ 30%, của giấy in mỏng dùng để in từ

Trang 19

điển khoảng 25 ÷ 35%, của giấy in offset khoảng 10 ÷ 15% Thông thường, người

ta hướng tới tỷ lệ sử dụng chất độn hợp lý nhất để có thể giảm giá thành, tăng khả năng bắt mực in cho giấy

1.3.3 Chất tăng độ bền khô

Chất tăng độ bền khô là những chất làm tăng độ bền cơ lý của giấy khi tấm giấy ở trạng thái khô Một số chất thường được dùng để làm tăng độ bền khô cho giấy là [6]:

- Tinh bột nguyên thủy, tinh bột cation

- Chất kết dính có nguồn gốc thực vật

- Carboxy metyl xenlulô (CMC)

- Một số keo tăng bền khô là polyme tổng hợp

Trong các chất tăng bền khô trên thì tinh bột cation là chất được sử dụng rộng rãi nhất trong thực tế do hiệu quả tăng độ bền khô và khả năng cạnh tranh về giá so với các chất tăng bền khô khác Tỷ lệ sử dụng tinh bột cation so với bột giấy khô tuyệt đối dao động trong khoảng từ 0,2 – 2,5% tùy theo mức độ yêu cầu tăng độ bền khô của giấy Khi trong thành phần bột giấy có chất độn thì tỷ lệ tinh bột cation cần dùng phải tăng lên do tiêu tốn một phần tinh bột cation hấp phụ lên

bề mặt chất độn Thông thường, tỷ lệ sử dụng tinh bột cation từ 1 – 1,5% so với bột giấy khô tuyệt đối cho hiệu quả bảo lưu tinh bột cation cao nhất Một số tài liệu chỉ ra rằng không nên tăng tỷ lệ sử dụng tinh bột cation lên trên 2,5% so với bột giấy khô tuyệt đối vì dễ dẫn đến hậu quả là sự quá dư điện tích dương, làm giảm hiệu quả của các chất trợ bảo lưu [7]

Tinh bột cation sử dụng để gia keo nội bộ thì làm tăng độ bền của giấy nhiều hơn là khi sử dụng nó để gia keo bề mặt, vì diện tích tiếp xúc của xơ sợi với keo tinh bột cation khi gia keo nội bộ thì lớn hơn so với khi gia keo bề mặt

1.3.4 Chất trợ bảo lưu

Sự bảo lưu là sự giữ lại các hạt mịn như: các xơ sợi mịn, các hạt chất độn, các hạt keo chống thấm trên tấm giấy trong quá trình thoát nước của huyền phù bột khi đi qua bộ phận lưới của máy xeo Đối với một quá trình xeo giấy, sự bảo lưu tốt hay xấu được biểu thị bằng độ bảo lưu của các hạt mịn trên trong quá trình xeo

Độ bảo lưu được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của các hạt

Trang 20

dòng bột trước khi lên máy xeo Độ bảo lưu càng cao thì quá trình xeo đó càng hoàn thiện vì giữ lại được càng nhiều các hạt mịn trong quá trình xeo, như vậy vừa nâng cao chất lượng giấy, vừa tiết kiệm được hóa chất, vừa ít gây ô nhiễm môi trường Độ bảo lưu thường được tính riêng cho một thành phần hạt mịn nào

đó có trong dòng bột, thí dụ như: độ bảo lưu của các xơ sợi mịn, độ bảo lưu của chất độn, độ bảo lưu của chất keo chống thấm,…

Chất trợ bảo lưu: Một số hóa chất khi gia vào bột giấy có khả năng làm tăng

độ bảo lưu của các hạt mịn trong tấm giấy – các chất này được gọi là chất trợ bảo lưu Chất trợ bảo lưu thông dụng nhất trong quá trình xeo giấy là phèn nhôm và các polyme cation tự nhiên hay tổng hợp (polyacrylamit cation, polyamin, polyetylen imin,…) Ngày nay, người ta tìm ra được nhiều chất trợ bảo lưu có thể dùng một mình hoặc dùng kết hợp hai hay nhiều hóa chất với nhau để đạt hiệu quả bảo lưu cao đối với các hạt mịn trong quá trình xeo giấy

1.3.5 Chất bắt tạp chất “Anion”

Trong dòng bột thường có mặt các tạp chất anion, thí dụ như các phân tử nhựa cây, các ion Cl-, Trong bột hiệu suất cao và bột thu hồi thì tạp chất anion chiếm số lượng đáng kể Sự có mặt các anion này làm tiêu tốn thêm một lượng cation polyme dùng làm chất trợ bảo lưu, làm giảm hiệu quả sử dụng của chất trợ bảo lưu Các nghiên cứu đều cho thấy, nếu bột được phối trộn trước với các cation có mật độ điện tích dương cao như phèn nhôm thì có thể giảm thiểu được tác hại của các anion tạp chất đối với quá trình sử dụng chất trợ bảo lưu Vì những chất cation này khi gia vào dòng bột sẽ kết hợp trước với các tạp chất anion, tạo điều kiện cho các chất trợ bảo lưu sử dụng sau sẽ kết hợp tốt hơn với các anion không phải tạp chất như các hạt chất độn và các xơ sợi mịn, tăng cường hiệu quả

sử dụng của chất trợ bảo lưu[7]

Ngoài các hóa chất trên, một số hóa chất khác như chất tăng trắng quang học, phẩm màu cũng được sử dụng để tạo cho giấy những chỉ tiêu ngoại quan theo yêu cầu của khách hàng

Trang 21

Kết luận và định hướng nghiên cứu

+ Hiện nay, ở trong nước chưa thấy có cơ sở nào sản xuất giấy in sách chỉ dẫn, sách chỉ dẫn được in chủ yếu từ giấy nhập ngoại với giá thành cao

+ Các kết quả nghiên cứu tổng quan trong nước cho thấy, bột hiệu suất cao tẩy trắng sản xuất từ gỗ bạch đàn và keo tai tượng có các tính chất phù hợp làm nguyên liệu cho sản xuất giấy in sách chỉ dẫn: giấy làm từ nguyên liệu này cho độ đục cao, khả năng bắt mực in tốt

+ Với mục tiêu sản xuất giấy in sách chỉ dẫn đạt chất lượng tương đương với giấy in sách chỉ dẫn nhập ngoại từ nguồn nguyên liệu trong nước, nhóm đề tài tập trung nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất giấy in sách chỉ dẫn sử dụng bột hiệu suất cao tẩy trắng từ nguyên liệu gỗ bạch đàn và keo tai tượng

+ Phương pháp công nghệ được sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp xeo giấy trong môi trường trung tính và kiềm yếu, sử dụng các hóa chất thông dụng trong sản xuất giấy Quy trình công nghệ sản xuất đơn giản, chi phí sản xuất thấp, chất lượng giấy in sách chỉ dẫn đạt yêu cầu đề ra sẽ được sử dụng trong nghiên cứu sản xuất thử nghiệm

Trang 22

PHẦN II

NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nguyên liệu, hóa chất và thiết bị nghiên cứu

2.1.1 Nguyên liệu

Nguyên liệu sử dụng trong quá trình nghiên cứu bao gồm:   

- Bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ nguyên liệu gỗ bạch đàn và keo tai tượng sản xuất theo công nghệ APMP

- Bột giấy hoá học tẩy trắng

+ Bột giấy hoá học tẩy trắng gỗ cứng (bạch đàn) nhập khẩu từ Indonesia + Bột giấy hoá học tẩy trắng gỗ mềm (thông) nhập khẩu từ Mỹ

Hóa chất

* Tinh bột cation được công ty TNHH Thuận Phát Hưng cung cấp

* AKD dạng dung dịch 15% chất khô được cung cấp bởi công ty TNHH hoá chất Tân Phú Cường

* Canxi cácbônát kết tủa (PCC) được công ty Ba Nhất cung cấp, một số chỉ tiêu cụ thể của hóa chất này như sau:

- Độ trắng (%) : 98,0

- Độ tinh khiết (%) : 98,1

- Độ mịn qua sàng 0,125 mm (%) :99,8

* Trợ bảo lưu

Trang 23

Chất trợ bảo lưu được sử dụng có tên thương mại là Percol-182 do hãng Ciba cung cấp Đây là chất keo tụ polyacrylamit cation không độc tính, có trọng lượng phân tử lớn Một số chỉ tiêu cụ thể của hóa chất này như sau:

- Hệ thống gia nhiệt sinh hơi, xông hơi và thẩm thấu hóa chất

- Máy nghiền bột cơ học do Ấn Độ sản xuất

- Máy xeo Rapid-Kothen, hãng PTI của Áo sản xuất

- Máy đo độ nghiền Kothen, hãng PTI của Áo sản xuất

- Máy đo độ chịu xé Elmendorf do hãng Frank Prufgerate sản xuất

- Máy đo độ bền kéo Housfield sản xuất tại Anh

- Cân điện tử Metler độ chính xác ±0,0001g của Thụy Sĩ

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Mô tả phương pháp nghiên cứu

* Quá trình nghiền bột giấy: Bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng và bột giấy

hoá học tẩy trắng được nghiền riêng trên máy nghiền thí nghiệm Hà Lan dung tích 4,5 lít với nồng độ bột giấy nghiền 2% để đạt đến độ nghiền yêu cầu

* Quá trình phối trộn: Hỗn hợp bột hiệu suất cao tẩy trắng, bột giấy hoá

học tẩy trắng được phối trộn với nhau trong xô nhựa dung tích 5 lít theo các tỷ lệ nghiên cứu CaCO3, tinh bột cation, phèn nhôm, AKD, trợ bảo lưu Percol được phối trộn vào huyền phù bột với các tỷ lệ xác định theo thứ tự: CaCO3 – tinh bột cation – phèn nhôm – AKD – trợ bảo lưu

Trang 24

* Xeo giấy mẫu thí nghiệm: Huyền phù bột sau phối trộn được xeo thành

mẫu giấy thí nghiệm với định lượng 36g/m2 trên máy xeo Rapid – Kothen

2.2.2 Xác định các chỉ tiêu chất lượng của giấy

Tờ giấy mẫu xeo thí nghiệm được bảo quản trong điều kiện tiêu chuẩn, và sau đó xác định các chỉ tiêu chất lượng theo tiêu chuẩn tại Phòng thí nghiệm của Viện công nghiệp giấy và xenluylô:

+ Xác định độ khô : TCVN 4407 – 2001 +Xác định độ nhớt động học : TAPPI T230 om – 99 + Xác định kích thước xơ sợi : TAPPI T 11m – 59 + Xác định độ trắng ISO : TCVN 6729 – 2008 + Xác định định lượng : TCVN 1270 – 2008 + Xác định chiều dài đứt : TCVN 1862 – 2000 + Xác định độ bền xé : TCVN 3229 – 2007 + Xác định độ hút nước : TCVN 6726 – 2007 + Xác định độ đục : TCVN 6728 – 2007 + Xác định độ tro : TCVN 1864 – 2001 + Xác định độ nghiền : ISO 5267 – 1: 1999 Kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm được sử dụng làm cơ sở xây dựng phương án sản xuất thực nghiệm trên máy xeo dài tại Xưởng thực nghiệm – Viện công nghiệp giấy và xenluylô

PHẦN III

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Tính chất của bột giấy sử dụng cho nghiên cứu sản xuất giấy in sách chỉ dẫn

3.1.1 Tính chất của bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ nguyên liệu gỗ bạch đàn và keo tai tượng

Ngày đăng: 13/04/2014, 14:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Vũ Quốc Bảo và các cộng sự, Nghiên cứu công nghệ và dây chuyền thiết bị sản xuất bột giấy hiệu suất cao từ nguồn nguyên liệu trong nước đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, Báo cáo tổng kết đề tài cấp Nhà nước KC.06.08/06-10, Viện công nghiệp giấy và xenluylô, 2009 Khác
2. TS. Hoàng Quốc Lâm, Nghiên cứu xác định tiềm năng và công nghệ chế biến bột giấy chất lượng cao của 5 loài cây: thông Caribê, bạch đàn uro, keo tai tượng, keo lá tràm, keo lai, Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ, Viện công nghiệp giấy và xenluylô, năm 2004 Khác
4. TS. Đào Sỹ Sành, Nghiên cứu sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn nguyên liệu xơ sợi thực vật ở Việt Nam dùng cho sản xuất bột giấy, Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ, Viện công nghiệp giấy và xenluylô, năm 2006 Khác
5. Carla Gaiolas, M. Santos Silva, Ana Paula Costa, and Mohamed Naceur Belgacem, Influence of the combined use of cationic starch cation polyacrylamide on the quality of pringting paper, TAPPI Journal, 6/2006 Khác
6. Dan Eklund and Tom Lindstrom, Paper Chemistry, NXB Paper Science Publications, Finland 1991 Khác
7. David Moicevich Phlate, Tính chất giấy, NXB Công nghiệp rừng, Matxcơva, năm 1976 Khác
8. Eric C. Xu and Yajun Zhou, Synergistic efects between chemical mechemical pulps and chemical pulps hardwoods, TAPPI Journal, 11/2007 Khác
9. Hannu Paulapuro, Hensinki University of Technology, Book 18, Published in cooperation with the Finnish Paper Engieers’ Association and TAPPI Khác
10. Johan Gullichsen and Hannu Paulapuro, Papermaking Chemistry, Book 4, Published in cooperation with the Finnish Paper Engieers’ Association and TAPPI Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Hai ấn phẩm: Niên giám điện thoại và Trang vàng tiêu dùng được  in trên giấy in sách chỉ dẫn - Nghiên cứu sản xuất giấy in sách chỉ dẫn sử dụng bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ nguyên liệu gỗ bạch đàn và keo tai tượng
Hình 1.1. Hai ấn phẩm: Niên giám điện thoại và Trang vàng tiêu dùng được in trên giấy in sách chỉ dẫn (Trang 6)
Hình 1.2. Một hình ảnh về sử dụng sách chỉ dẫn. - Nghiên cứu sản xuất giấy in sách chỉ dẫn sử dụng bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ nguyên liệu gỗ bạch đàn và keo tai tượng
Hình 1.2. Một hình ảnh về sử dụng sách chỉ dẫn (Trang 7)
Hình 1.3. Hình ảnh quảng cáo sản phẩm và dịch vụ được in trên giấy in sách  chỉ dẫn (catalog, tờ rơi) - Nghiên cứu sản xuất giấy in sách chỉ dẫn sử dụng bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ nguyên liệu gỗ bạch đàn và keo tai tượng
Hình 1.3. Hình ảnh quảng cáo sản phẩm và dịch vụ được in trên giấy in sách chỉ dẫn (catalog, tờ rơi) (Trang 7)
Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu chất lượng của mẫu giấy in niên giám điện  thoại sản xuất tại Thụy Điển, Trung Quốc* - Nghiên cứu sản xuất giấy in sách chỉ dẫn sử dụng bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ nguyên liệu gỗ bạch đàn và keo tai tượng
Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu chất lượng của mẫu giấy in niên giám điện thoại sản xuất tại Thụy Điển, Trung Quốc* (Trang 8)
Bảng 1.3: Một số chỉ tiêu chất lượng của mẫu giấy in niên giám điện  thoại sản xuất tại Thụy Điển, Trung Quốc* - Nghiên cứu sản xuất giấy in sách chỉ dẫn sử dụng bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ nguyên liệu gỗ bạch đàn và keo tai tượng
Bảng 1.3 Một số chỉ tiêu chất lượng của mẫu giấy in niên giám điện thoại sản xuất tại Thụy Điển, Trung Quốc* (Trang 11)
Bảng 1.4. Một số chỉ tiêu chất lượng bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ  hỗn hợp nguyên liệu bạch đàn và keo tai tượng [1] - Nghiên cứu sản xuất giấy in sách chỉ dẫn sử dụng bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ nguyên liệu gỗ bạch đàn và keo tai tượng
Bảng 1.4. Một số chỉ tiêu chất lượng bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ hỗn hợp nguyên liệu bạch đàn và keo tai tượng [1] (Trang 17)
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn bột  hiệu suất cao tẩy trắng  và bột xơ sợi dài tẩy trắng lên một số chỉ tiêu chất lượng của giấy - Nghiên cứu sản xuất giấy in sách chỉ dẫn sử dụng bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ nguyên liệu gỗ bạch đàn và keo tai tượng
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn bột hiệu suất cao tẩy trắng và bột xơ sợi dài tẩy trắng lên một số chỉ tiêu chất lượng của giấy (Trang 27)
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của tỷ lệ trộn bột  hiệu suất cao tẩy trắng và bột  xơ sợi ngắn tẩy trắng lên một số chỉ tiêu chất lượng của giấy - Nghiên cứu sản xuất giấy in sách chỉ dẫn sử dụng bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ nguyên liệu gỗ bạch đàn và keo tai tượng
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của tỷ lệ trộn bột hiệu suất cao tẩy trắng và bột xơ sợi ngắn tẩy trắng lên một số chỉ tiêu chất lượng của giấy (Trang 28)
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn bột  hiệu suất cao tẩy trắng,  bột xơ sợi dài tẩy trắng và bột  xơ sợi ngắn tẩy trắng lên một số chỉ tiêu - Nghiên cứu sản xuất giấy in sách chỉ dẫn sử dụng bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ nguyên liệu gỗ bạch đàn và keo tai tượng
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn bột hiệu suất cao tẩy trắng, bột xơ sợi dài tẩy trắng và bột xơ sợi ngắn tẩy trắng lên một số chỉ tiêu (Trang 30)
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của độ nghiền bột tới chất lượng giấy - Nghiên cứu sản xuất giấy in sách chỉ dẫn sử dụng bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ nguyên liệu gỗ bạch đàn và keo tai tượng
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của độ nghiền bột tới chất lượng giấy (Trang 32)
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của mức dùng chất độn PCC - Nghiên cứu sản xuất giấy in sách chỉ dẫn sử dụng bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ nguyên liệu gỗ bạch đàn và keo tai tượng
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của mức dùng chất độn PCC (Trang 35)
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của mức dùng trợ bảo lưu Percol  Mức dùng chất trợ bảo lưu Percol, % STT Chỉ tiêu - Nghiên cứu sản xuất giấy in sách chỉ dẫn sử dụng bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ nguyên liệu gỗ bạch đàn và keo tai tượng
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của mức dùng trợ bảo lưu Percol Mức dùng chất trợ bảo lưu Percol, % STT Chỉ tiêu (Trang 36)
Bảng 3.9. Một số chỉ tiêu chất lượng bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ  hỗn hợp nguyên liệu bạch đàn và keo tai tượng (tỷ lệ 50/50) - Nghiên cứu sản xuất giấy in sách chỉ dẫn sử dụng bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ nguyên liệu gỗ bạch đàn và keo tai tượng
Bảng 3.9. Một số chỉ tiêu chất lượng bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ hỗn hợp nguyên liệu bạch đàn và keo tai tượng (tỷ lệ 50/50) (Trang 41)
Hình 3.2. Sơ đồ khối dây chuyền công nghệ sản xuất giấy in sách chỉ dẫn  Quá trình sản xuất bao gồm các giai đoạn sau: - Nghiên cứu sản xuất giấy in sách chỉ dẫn sử dụng bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ nguyên liệu gỗ bạch đàn và keo tai tượng
Hình 3.2. Sơ đồ khối dây chuyền công nghệ sản xuất giấy in sách chỉ dẫn Quá trình sản xuất bao gồm các giai đoạn sau: (Trang 42)
Bảng 3.10. Một số chỉ tiêu chất lượng của giấy in sách chỉ dẫn sản xuất thử  nghiệm. - Nghiên cứu sản xuất giấy in sách chỉ dẫn sử dụng bột giấy hiệu suất cao tẩy trắng từ nguyên liệu gỗ bạch đàn và keo tai tượng
Bảng 3.10. Một số chỉ tiêu chất lượng của giấy in sách chỉ dẫn sản xuất thử nghiệm (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w