1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Doanh nghiệp nhà nước và vấn đề cDoanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

33 634 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Doanh Nghiệp Nhà Nước Và Vấn Đề Cổ Phần Hóa Doanh Nghiệp Ở Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Nguyễn Việt Anh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Bài Viết
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 102 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo thực tập: Doanh nghiệp nhà nước và vấn đề cDoanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Trang 1

Tuy là lực lợng chủ đạo của nền kinh tế nhng trên lộ trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế hịên nay doanh nghiệp nhà nớc(dnnn) cung đang

đứng trớc nhiều thử thách cam go ,đòi hỏi phải nâng cao năng lực cạnh tranh

để đứng vững và phát triển.Nhằm tạo động lực cho doanh nghiệp năng dộng hơn trớc các cơ hội thị trờng,với chức năng là chủ sở hữu dnnn nhà nớc đã và

đang tiến hành đa dạng hoá sở hữu dnnn ,bằng các biện pháp sắp sếp ,đổi mới dnnn ,một trong các biện pháp đó là cổ phần hoá (cph) các dnnn.Để có thể tìm hiểu rõ nét hơn về quá trình đổi mới này,em đã chọn đề tài:

“ DNNN và vấn đề cổ phần hoá dnnn ở việt nam hiện nay “ cho bài

viết của mình.Trong đó tập trung đi vào các vấn đề dnnn và thực trạng dnnn

trong nền kinh tế thị trờng ,quá trình đổi mới ,sắp xếp và cổ phần hoá dnnn ở nớc ta ,những thành tụ và những hạn chế của quá trình cổ phần hoá dnnn các giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình cổ phần hoá DNNN

Tuy đây không phải là một đề tài mới nhng trong quá trình nghiên cứu cũng không thể tránh khỏi một số sai sót ,vì vậy rất mong thầy cô góp ý sửa chữa để em có thể hoàn thành đề tài này một cách tốt nhất

Em xin chân thành cảm ơn

Hà Nội ngày 30 tháng 3 năm 2004 Svth:Nguyễn việt Anh

Trang 2

Nền kinh tế nớc ta đã trải qua hai thời kỳ đổi mới và phát triển , cùng với nó dnnn cũng có những sự biến đổi cụ thể để phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn Trong điều kiện kế hoạch hoá tập trung dnnn (trớc đây gọi là các xí nghiệp quốc doanh )chiếm vai trò độc tôn trong nền kinh tế Về mặt sở hữu đó là doanh nghiệp do nhà nớc đầu t 100% , trực tiếp quản lý.

Khi chuyển sang nền kinh tế thị trơng định hớng xã hội chủ nghĩa , việc chuyển đổi cơ chế quản lý đối với dnnn luôn là vấn đề trung tâm Kết quả là các dnnn không những biến đổi về cơ chế quản lý nguyên tắc hoạt

động về hạch toán mà cả cơ cấu sở hữu mới Chính vì vậy luật dnnn ban hành ngày 30-5-1995 lần đàu tiên ở VIÊT NAM đã đa ra khái niệm mang tính pháp lý về dnnn nh sau :

“dnnn là tổ chức kinh tế do nhà nớc đầu t vốn , thành lập và tổ chức quản lý , hoạt động kinh doanh hoạc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế –xã hội do nhà nớc giao DNNNcó t cách pháp nhân , có các quyền và nghĩa vụ dân sự , tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi vốn do doanh nghiệp quản lý”

Định nghĩa trên hoàn toàn phù hợp với thực tế mục tiêu và hoạt động của các dnnn ở việt nam , từ đó giúp ta có thể khái quát đợc những đặc điểm

và vai trò chínhcủa dnnn nh sau :

thứ nhất : dnnn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân

Trang 3

thật vậy , nớc ta đang trong thời kỳ quá độ tiến lên cnxh , nền kinh tế của chúng ta là nền kinh tế nhiều thành phần định hớng xhcn , trong nền kinh tế phải đòi hỏi phải có vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nớc mà đại diện là dnnn Nó phải trở thành lực lợng vật chất và công cụ sắc bén để nhà nớc thực hiện chức năng định hớng , diều tiết và quản lý vĩ mô nền kinh tế Bởi lẽ trong nền kinh tế thị trơng mặc dù sự can thiệp của nhà nớc là cần thiết và đúng đắn nhng nếu không có một lực lợng kinh tế mạnh làm hậu thuẫn thì trong nhiều trờng hợp sự can thiệp đó có thể bị nền kinh tế thị trờng vô hiệu hoá , mặt khác , trong nền kinh tế thị trơng nhà nớc thờng xuất hiện

nh một chủ thể kinh tế có lợi ích độc lập với các chủ thể kinh tế khác và trong một số trờng hợp lợi ích của nhà nớc có thể đối lập với lợi ích cục bộ của các thành phần kinh tế khác đặc biệt là thành phần kinh tế t bản t nhân Chính vì vậy trong nhiều trờng hợp sự điều tiết của nhà nớc là không thuận chiều với

động cơ lợi nhuận và lợi ích cá nhân của các chủ thể kinh tế khác Để đảm bảo hiệu lực điều tiết nhà nớc cần có một tiềm lực kinh tế đủ để hoặc đủ để

đền bù xứng đáng cho sự thua thiệt vềlợi ích của các chủ thể kinh tế hớng họ hoạt động theo mục tiêu nhà nớc định ra hoặc đủ sức cạnh tranh thắng thế các thành phần kinh tế khác , tiềm lực kinh tế ấy do khu vực doanh nghiệp nhà n-

ớc cung cấp một phần rất cơ bản

Mặt khác , có thể nói hoạt động của khu vực dnnn là nhằm mở đờng hỗ trợ , hớng dẫn , thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế khác (chức năng tạo lập môi trờng) Nó còn là lực lợng xung kích chủ yếu thực hiện cnh- hđh đất nớc mặc dù quan điểm cnh-hđh là sự nghiệp củatoàn dân , của tất cả các thành phần kinh tế nhng trong bối cảnh tiềm lực của khu vực dân doanh còn cha đủ mạnh để đảm đơng nhiệm vụ nặng nề do quá trình cnh đặt

ra nên trong giai đoạn hiện nay dnnn vẫn là lực lợng chủ chốt đi đầu trong quá trình chuyển nớc ta thành một nớc công nghiệp hiện đại , văn minh tiến

bộ

Nói dnnn đóng vai trò quan trọng , chủ đạo một phần vì nó nắm giữ các vị trí then chốt trong nền kinh tế nh công nghiệp sản xuất t liệu sản xuất

Trang 4

quan trọng , cá nghành công nghiệp mũi nhọn , kết cấu hạ tầng vật chất cho nền kinh tế nh giao thông , bu chính , năng lợng ,các nghành có ảnh hởng to lớn đến kinh tế đối ngoại nh các liên doanh lớn , xuất nhập khẩu quy mô lớn hoặc các lĩnh vực liên quan đến an ninh , quốc phòng , và trật tự xã hội Tuy nhiên quan điểm nắm giữ vị trí then chốt không có nghĩa là nhà nớc độc quyền cứng nhắc trong các lĩnh vực ấy mà còn có hợp tác liên doanh với các thành phần kinh tế khác , nhất là trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng , xuất nhập khẩu

và trong công nghiệp và sự cần thiết để nhà nớc kiểm soát đợc xem xét theo từng thời kỳ

Cũng chính từ đặc điểm này đã tạo ra tiền đề để dnnn có đặc điểm thứ hai cũng vô cùng quan trọng đó là:

Bộ máy quản trị đợc xây dựng theo mô hình chung của từng ngành Nếu ở các hình thức DN khác , bộ máy quản trị đợc thành lập do sự quyết định của chính những ngời tham gia điều hành DN sao cho phù hợp với những tiêu thức kinh doanh , mục đích hoạt động của DN thì ở DNNN bộ máy quăn trị của tong DN lại do nhà nớc quy định Nhà nớc đặt ra các khuân mẫu bộ máy quản trị chung cho tong ngành riêng biệt , khi một DNNN đợc thành lập thì tuỳ theo ngành nghề đăng ký kinh doanh mà DN áp dụng theo mô hình mà nhà nớc đã đặt ra ,nói cách khác các DN khi kinh doanh trong cùng một ngành nghề thì bộ máy quản trị của các DN đó đều giống nhau và hoàn toàn giống theo quy định của nhà nớc đặc điểm thứ ba cần nói tới khi xem xét DNNN là vốn và việc thành lập , giải thể theo quy định của nhà nớc

Đây chính là đăc điểm riêng biệt để phân biệt giữa dnnn và các doanh nghiệp thuộc khu vực dân doanh và có thể nói đây là đặc điểm đặc biệt nhất của dnnn

Là một bộ phận của nền kinh tế nhà nớc , dnnn đợc thành lập khi nhà nớc yêu cầu để phục vụ cho những mục tiêu kinh tế-xã hội mà nhà nớc đã hoạch định DNNNdo nhà nớc làm chủ sở hữu vì vậy vốn của dnnn là do nhà nớc chu cấp Vì ra đời và hoạt động theo kế hoạch nhà nớc giao vì vậy mục

Trang 5

tiêu kinh tế của dnnn không hoàn toàn giống với mục tiêu của các hình thức doanh nghiệp khác : mỗi doanh nghiệp khi dợc nhà nớc yêu cầu thành lập có thể là để phục vụ cho những nhu cầu kinh tế , tiến hành sản xuất ở các ngành kinh tế mũi nhọn hoặc cũng có thể là hoạt động vì những mục tiêu công ích ở nhũng ngành fục vụ chungcho toàn xã hội đó là những doanh nghiệp công ích Có thể nói đay là một đặc điểm hết súc quan trọng , nhờ nó mà xã hội dợc phục vụ hoàn thiện về mọi mặt , vì có nhiều ngành kinh tế mà không có bất

kỳ một doanh nghiệp dân doanh nào muốn hoặc là có đủ tiềm lực để kinh doanh nh các dịch vụ công cộng , môi trờng chỉ có dnnn đựoc nhà nớc

đầu t vốn mới tiến hành kinh doanh để nhằm đem lại lợi ích cho xã hội ( chứ không vì mục đích lợi nhuận )

Từ những đặc điểm trên cho thấy các dnnn vứa là chủ thể tham gia kinh doanh , là lực lợng trực tiếp tạo cơ sở vật chất cho xã hội , vừa là lực lợng nòng cốt để nhà nớc dẫn dắt mở đờng cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển thế nhng , hiện nay trớc những đòi hỏi của nền kinh tế thị trờng không ít dnnn đang lúng túng tim lối thoát để thoát khỏi tình trạng làm ăn kém hiệu quả Tại sao các dnn lại làm ăn kém hiệu quả trong khi chúng đựoc hởng nhiều đặc quyền hơn các doanh nghiệp dân doanh khác ? Câu trả lời không phải hoàn toàn là do các nhà quản lý kếm năng lực ( có rất nhiều ngời trong số họ là những nhà quản lý giỏi , đợc đào tao có trình độ ) mà lý đo cơ bản của tình trạng đó là nh sau :

Một là : các dnn thờng đòi hỏi đáp ứng quá nhiều , trong đó có một số mục tiêu mâu thuẫn với nhau

Chẳng hạn các dnnn phải thu đợc lợi nhuận tối đa trong khi lại phải

đảm bảo việc làm cho một số lợng nhân viên thờng là vợt quâ mức cần thiết hoặc một số doanh nghiệp hoạt động công ích lại bị rằng buộc bởi yêu cầu vừa đạt đợc lợi nhuận tối đa vừa phải đảm bảo phục vụ lợi ích cộng đồng một cách tốt nhất , rõ ràng việc có quá nhiều mục tiêu đã gây ảnh hởng không tốt cho quá trình hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp và hậu quả của việc

đặt mục tiêu chồng chéo là làm cho các nhà quản lý khó tập trung vào hoạt

Trang 6

động quản tri ngoài ra nó cũng có thể trở thành cái cớ cho các nhà quản trị lợi dụng để biện hộ cho các hoạt động kém hiệu quả của dnnn

Hai là : các dnnn thờng phải chịu áp lực quản lý hoặc điều tiết của chính phủ nh giá bán , nguồn nguyên liệu , sự không tự chủ về vốn

điều đó đã dẫn tới việc các nhà quản lý không đợc chủ động lựa chọn mặt hàng kinh doanh và phơng án đầu t Hơn thế các dnn thờng chịu sự chi phối không chỉ của một cơ quan chủ quản , mỗi cơ quan lại có những yêu cầu riêng về quản lý Mà việc để một quyết định kinh doanh đợc thông qua khi

có quá nhiều cấp quản lý lại là việc cần tránh trong công việc kinh doanh

Ba là : các nhà quản lý dnnn không có đợc một cơ chế khuyến khích làm việc

đó là do những chính sách bắt cập hiện nay về cơ chế quản lý cũng nh chế độ lơng thởng cho cán bộ công nhân viên thuộc các dnnn.thực trạng của việc thởng lớn hơn lơng đã không gây đợc động lực sản xuất trong đội ngũ công nhân viên Ngoài ra còn có những bất cập khác nh sự không tách bạch giữa quyền chủ sở hữu và quyền quản lý ,việc buộc phải làm theo kế hoach …

đã là một rào cản cho việc phát triển các ý tởng kinh doanh của các nhà quản

lý cũng nh việc họ không phải chịu tráchd nhiệm nh sa thải_ giảm lơng khi dnnn bị thua lỗ

Tuy nhiên do vai trò quan trọng của dnnn nên dù làm ăn kém hiêụ quả

sự tồn tại của dnnn vẫn làkhông thể thiếu và không thể xoá bỏ hoàn toàn dnnn thế nhng cũng không thể kéo dài tình trạng hoạt động kếm hiệu quả hiện nay của chúng Do đó vấn đề đặt ra không phải là dnnn có nên tiếp tục tồn tại hay không mà là những dnnn nào nên tồn tại và nếu tồn tại thì nên tồn tại nh thế nào ? lĩnh vực nào dnnn phải đảm đơng ,lĩnh vực nào có thể cho phép t nhân thực hiện? Nói tóm lại là phải cải cách các dnnn nh thế nào? để trả lời cho câu hỏi này đảng và nhà nớc ta đã chỉ ra công việc phải làm đó là cổ phần hoá các dnnn

Trang 7

1.2quan điểm của nhà nớc ta về vấn đề cổ phần hoá dnnn

1.2.1 một số vấn đề cơ bản về công ty cổ phần

từ lâu công ty cổ phần đã trở thành một hình thức công ty phổ biến trên thế giới do tính u việt của hình thức công ty này luôn đáp ứng đâỳ đủ những yêu cầu luôn biến đổi cuả môi trờng kinh doanh Tại việt nam ngay khi chuyển xang nền kinh tế thị trờng hình thức công ty cổ phần đã xuất hiện

và không ngừng chứng tỏ những thế mạnh của mình, đó cũng là lý do mà

đảng và nhà nớc ta quyết đinh cổ phần hoá các dnnn với hi vọng việc chuỷen đổi hình thức doanh nghiệp sẽ tận dụng đợc những u việt của hình thức công ty cổ phần giúp cho việc phát triển nền kinh tế

theo luật doanh nghiệp chơng 4 điều 51 công ty cổ phần đợc định nghĩa nh sau:

“ công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ đợc chia thành nhiều cổ phần do tối thiểu ba cổ đông sở hữu ,đợc phép phát hành chứng khnoán và có t cách pháp nhân.Các cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản

nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong số vốn mà họ đóng góp”

Vì sao nói công ty cổ phần là hình thức doanh nghiệp tiên tiến nhất ?

Đó là vì các lý do cơ bản sau:

Một là công ty chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong số vốn của mình Nói cách khác các cổ đông của công ty chỉ phải chịu trách nhiệm về số

nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi số vốn góp của mình Điều

đó làm cho công ty cổ phần thực sự trở thành hình thức công ty an toàn khiến nhiều ngời muốn đâù t Bởi vì bản năng của con ngời là tự bảo vệ và muốn đ-

ợc bảo vệ khi kinh doanh họ muốn đợc đảm bảo về tài sản của mình ,rất ít ngời có khả năng gánh chịu rủi do nên họ mong muốn chỉ phải mạo hiểm trong một phần tài sản nào đó mà mình bỏ ra kinh doanh chứ không phải là toàn bộ tài sản cá nhân mà mình có Vì vậy có thể nói khi thoả mãn đợc nhu càu này của con ngời thì hình thức công ty cổ phần đã có tới 40% cơ hội trở thành hình thức doanh nghiệp đợc các nhà đầu t lựa chọn

Trang 8

Hai là công ty cổ phần là hình thức công ty duy nhất có quyền phát hành cổ phiếu Việc phát hành cổ phiếu đã trở thành một hình thức vay vốn năng đông và nhanh gọn ,đáp ứng kịp thời nhu càu về vốn của doanh nghiệp Với đặc điểm này công ty cổ phần đã trở thành hình thức công ty tiên tiến nhất bởi nó đã giải quyết đợc vấn đề quan trọng nhất ,vấn đềmuôn thủa của một doanh nghiệp : vốn đàu t Nó giúp cho doanh nghiệp không còn phải chờ đơqị đẻ dợc vay vốn từ các ngân hàng bởi các thủ tục hành chính rờm rà ,giải quyết nhanh vấn đề viốn đầu t sẽ làm cho doanh nghiệp nắm bắt đợc các cơ hội kinh doanh đúng lúc giúp nhà quản lý tập chung đợc vào các kế hoạch sản xuất ,quản lý …

Mặt khác đặc điểm năy không chỉ đợc các nhà quản lý a chuộng vì có vốn quay vòng nhanh mà nó cũng đợc các nhà đầu t a thích vì việc phát hành

cổ phiếu sẽ kéo tới yêu càucác doanh nghiệp phải công khai tài chính trên thị truờng chờng chứng khoán ,nó giúp cho các nhà đầu t có các thông tin về tình hình hoạt động của từng doanh nghiệp từ đó sẽ da ra các quyết định

đúng đắn ,giảm thiểu sự rủi ro

Từ phân tích trên cho thấy việc chuyến đổi sang hình thức công ty cổ phần sẽ khắc phục đợc những yếu kém của dnnn ,giúp cho dnnn năng động hơn trong quá trình kinh doanh sản xuất

1.2.2 quan điểm của nhà nớc ta về cổ phần hoá dnnn

do nhiều năm thực thi một nền kinh tế kế hoạch hoá tập chung ,tuyệt

đối hoá kinh tế nhà nớc ,coi kinh tế nhà nớc đồng nhất với dnnn nên trong một thời gian dài đã phát triển hệ thống dnnn với số lợng lớn ,tràn lan nhng hầu hết đều hoạt dộng kém hiệu quả Chính vì vậy việtc đổi mới sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nớc là một đòi hỏi tất yếu Việc định hớng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trờng đòi hỏi phải tạo cho kinh tế nhà nớc một sức mạnh thực sự trong đó dnnn là nòng cốt để đủ khả năng dẫn dắt ,điều tiết và

định hớng các thành phần kinh tế khác Để làm đợc nh vậy đảng và nhà nớc

ta xác định phải có biện pháp đổi mới dnnn ,một trong những biện pháp hữu hiệu và phù hợp với thực tế đó là cổ phần hoá các dnnn Trong đó quá trình

Trang 9

cổ phần hoá dnnn đợc hiểu là quá trình chuyển đổi dnnn thành công ty cổ phần trong đó nhà nớc có thể vẫn giữ t cách là một cổ đông , tức là nhà nớc vẫn có thể là chủ sở hữu một bộ phận tài sản của doanh nghiệp cổ phần hoá

dnnn không chỉ là quá trình chuyển sở hữu nhà nớc sang sở hữ cuả các cổ

đông mà còn c ó cả hình thức doanh nghiệp nhà nớc thu hút thêm vốn thông qua hình thức bán cổ phiếu để trở thành công ty cổ phần

Ngay từ đầu thập kỷ 90 đảng đã có chủ trơng chuyển một bộ phận dnnn thành công ty cổ phần cụ thể nh sau:

- Nghị quyết hôị nghị Tw đảng lần 2 khoá VII (11-1991) nêu

rõ :”chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có diều kiện thành công ty cổ phần và thành lập một số côngty quốc doanh cổ phần mới ,phải làm thí điểm chỉ đạo chặt chẽ ,rút kinh nghiệm chu đáo trớc khi mở rộng phạm vi thích hợp “

- nghị quyết hội nghi đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (11- 1994) đã nêu mục đích ,hình thức cổ phần hoá và mức dộ sở hữu nhằ n-

ớc tại dnnn cổ phần hoá :’’để thu hút thêm vốn ,tạo thêm động lực ,ngăn chặn tiêu cực thúc đẩy doanh gnhiệp nhà nớc làm ăn có hiệu quả cần thực hiện các hình thức cổ phần hoá có mức độ thích hợp với tính chất và linh vực sản xuất kinh doanh, trong đó sở hữu nhà nớc chiếm tỷ lệ cổ phần chi phối”

- Nghị quyết của bộ chính trị về tiếp tục đổi mới để phát huy vai trò chủ đạo của DNNN (số 10 / NQ-TW ,ngày 17-3-1995) đã bổ xung thêm

về phơng châm tiến hành cổ phần hoá ,tỷ le4ẹ bán cổ phần cho ngời trong và ngoài doanh nghiêp:” thực hiện từng bớc vững chắc cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp mà nhà nớc không cần giữ 100% vốn, tuỳ tính chất loại hình doanh nghiệp mà tiến hành bán một tỷ lệ cổ phần cho công nhân viên chức làm việc tai doanh nghiệp để tạo động lực bên trong trực tiếp thúc đẩy phát triển và bán cổ phần cho các tổ chức hoặc cá nhân ngoài doanh nghiệp

để thu hút thêm vốn ,mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh “

Trang 10

- Hội nghị lần thứ 4 ban chấp hành TW khoá VIII (12-1997) nêu

rõ giải pháp cổ phần hoá nh sau: “ phân loại doanh nghiệp công ích và doanh nghiệp kinh doanh ,xác định danh mục loại doanh nghiệp nhà nớc cần giữ 100% vốn ,loại doanh nghiệp nhà nớc cần nắm giữ cổ phần chi phối ,loại dnnn chỉ nắm giữ cổ phần ở mức thấp “ và ” đối với doanh nghiệp mà nhà nnớc không cần nắm 100% vốn cần lập kế hoạch cổ phân hoá để tạo động lực phát triển ,thúc đẩy làm ăn có hiệu quả”

- Nh vậy chủ trơng của đảng về cổ phần hoá dnnn là nhất quán và ngày càng đợc cụ thể hoá về mục tiêu ,phơng thức ,đối tợng và giải pháp cổ phần hoá.đồng thời cũng luôn tiến hành dám sát sát sao tiến trình cổ phần hoá, có các biện pháp quán triệt và tuyên truyền giải thích cho nhân dân chủ trơng , chính sách của đảng về cổ phần hoá dnnn Đảng luôn nhấn mạnh mục đích yêu cầu của chủ trơng cổ phần hoá dnnn có chính sách khuyến khích ngời lao động tại doanh nghiệp cổ phần hoá mua cổ phần ,hỗ trợ công nhân nghèo mua cổ phần nhằm góp phần xoá đói giảm nghèo cấp cho ngời lao động trong công ty một số cổ phần tuỳ theo thời gian cống hiến cuả mỗi ngời ,có cơ chế để hàng năm gọi thêm cổ phần

- Nói tóm lại đảng đã nhận định cổ phần hoá là con đờng tất yếu

để giúp cho các dnnn đứng vững và phát triển trong nên kinh tế thị trờng hiện nay Bởi vì với tốc độ phát triền chóng mặt của nền kinh tế thế giới nói chung và tại việt nam nói riêng ,nó đòi hỏi các doanh nghiệp để có thể tồn tại và phát triển phải luôn năng động ,có một tiềm lực đủ mạnh đồng thời doanh nghiệp đó phải thực sự có năng lực và làm chủ bản thân Mà các DNNN hiện nay laị khó có thể đáp ứng đợc các yêu cầu đó ,chỉ có con đờng

cổ phần hoá các dnnn mới trút bỏ đợc tấm áo cũ để có thể bắt kịp tốc độ phát triển của nền kinh tế thị trờng , bắt kịp đợc những thay đổi không ngừng của nền công nghiệp hiện đại

- Mặt khác có thể nói cổ phần hoá các DNNN sẽ làm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nớc ,phù hợp với su thế chung của thời đại Trong nhiều năm qua nhà nớc đã phải thờng xuyên sử dụng ngân sách trợ

Trang 11

cấp trực tiếp và gián tiếp cho các dnnn làm ăn thua lỗ điều đó dẫn tới việc các dnnn ngày càng ỷ lại ,.mất dần đi động lực kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời cũng làm cho ngân sách nhà nớc ngày càng thiếu hụt

Từ đó cho thấy cổ phần hoá các dnnn là một quyết định đúng đắn của đảng ,quyết định đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu chung của quá trình phát triển kinh tế trên thế giới cũng nh tại viêt nam

1.2.3 kinh nghiệm các nớc trên thế giới

từ những năm 70 của thế kỷ XX trên thế giới đã diễn ra quá trình giảm bớt sự can thiệp của nhà nức vào nền kinh tế thông qua t nhân hoá và

cổ phần hoá dnnn Nó bắt đầu từ nớc anh rồi lan xang các nớc công nghiệp phát triển và các nớc đang phát triển khác Đến đầu những năm 90 quy mô tnhân hoá và cổ phần hoá dnnn diễn ra cha từng thấy trở thành hiện tợng phổ biến :” đến những năm 1995 đẫ có hơn 100000 doanh nghiệp nhà nớc đợc t nhân hoá và cổ phần hoá ,hơn 80 nớc cam kết thực hiện t nhân hoá và cổ phần hoá dnnn “

có thể nói cổ phần hoá dnnn đã trở thành xu thế chung của nền kinh

tế thế giới và từ đó công ty cổ phần đã trở thành hình thức doanh nghiệp phổ biến tại các nớc

Nhiều nớc trên thế giới đã đi theo con đờng cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc và họ đã gặt hái đợc những thành công nhất định Đầu tiên ta

có thể nói tới quá trình cổ phần hoá dnnn tại cộng hoà SEC

Chơng trình cổ phần hoá dnnn đã chứng tỏ là biện pháp hữu hiệu nhằm chuyển nhợng taì sản của nền kinh tế bằng khoản tiền tiết kiệm hạn chế mà vẫn đảm bảo đợc sự ủng hộ rộng rãi và tránh đợc sự chỉ chích rằng cổ phần hoá chỉ mang lại lợi ích cho một số cá nhân thay vì đa số Chơng trình này rất

đơn giản :mỗi ngời có đăng ký và trả một khoản phí hành chính 1,035kr(khoảng 35 USD) sẽ đợc nhận một tập phiếu (voucher) trị giá 1000

điểm đầu t Các điểm có thể đợc sử dụng để mua trựcc tiếp cổ phần hay thông qua các quỹ đầu t thu gom điểm từ nhiều cá nhân Về vấn đề giá cả

Trang 12

chung cho các cuộc chào bán ban đầu, các cổ phân trong giai đoạn đầu đấu thầu đợc định giá theo điểm dựa vào giá trị kế toán của hãng Nếu số lợng đặt giá cho cổ phần với giá ban đầu bằng hoặc nhỏ hơn nguồn cung cổ phần thì tất cả các nhà đấu thầu đợc chia các cổ phần của mình và các cổ phần còn lại

đợc mời với giá thấp hơn trong vòng hai cuộc đấu thầu.Nếu cầu vợt quá cung lớn hơn 25% ,các cổ phần không đợc phân phối mà đợc tiếp tục chào bán với giá cao hơn Nếu cầu vợt quá cung nhỏ hơn 25% các cổ phiếu đợc phân phối

và các cá nhân đopực u tiên hơn các nhà đầu t thể chế Các quỹ đầu t ,t nhân hoá (PIF) ra đời tự phát đứng ra quản lý các voucher thay mặt những ngời sở hữu để chon mua các xí nghiệp bằng số điểm cuả họ Năm 1994 có khoảng

290 PIF với 13 quỹ lớn nhất kiểm soát khoảng 35% các cổ phần đợc t nhân hoá Trong số 7 PIF lớn nhất có 6 quỹ do các ngân hàng quản lý

Bản thân các ngân hàng đó cũng là đối tợng của chơng trình cổ phần hoá bằng voucher Đa số các PIF do t nhân quản lý và đợc điều tiết chặt chẽ

Kết qủa của quá trình là trong đợt cổ phần hoá đầu tiên năm 1992 nhà nớc đã giải thể 946 công ty với giá trị sổ sách là 208 tỷ kr ( 7 ty USD) gần 6 triệu ngời hay khoảng 75 % số ngời trởng thành trở thành cổ đông Trong

đợt cổ phần hoá thứ hai bắt đầu vào cuối năm 1993 với khoảng 861 công ty với giá trị sổ sách khoảng 150 tỷ kr (5 tỷ USD) đợc cổ phần hoá Sự phổ biến của cổ phần hoá có thể đo đợc bằng thực tế rằng có thêm khoảng 230000 ng-

ời tham gia vào làn sóng cổ phần hoá thứ hai so với lan sóng cổ phần hoá thứ nhất

Đất nớc thứ hai mà ta có thể học hỏi kinh nghiệm đó là trung quốc ,Việc tiến hành cổ phần hoá dnnn ở trung quốc dựa trên những luân điểm cơ bản của chủ nghĩa mác coi cổ phần hoá một bộ phân dnnn là một phần hữu cơ trong tổng thể đôỉ mới dnnn ,luôn khẳng đinh đây là con đờng tìm kiếm một cơ chế kinh doanh có hiệu quả chứ không phải là tìm kiếm các hình thức sở hữu khác nhau ,đổi mới DNNN là khâu then chốt của cải cách kinh tế coi tiền đề cải cách doanh nghiệp là xây dựng đồng bộ cơ chế thị tr-ờng Cổ phần hoá ở trung quốc đợc tiến hành dới ba hình thức :

Trang 13

- dnnn cùng các doanh nghiệp trong nền kinh tế thăm gia nắm giữ cổ phần hình thành công ty cổ phần Hình thức này có lợi cho việc áp dụng hợp tác kinh tế theo chiều ngang có lợi cho việc di chuyển hợp lý và kết hợp tối u các yếu tố sản xuất nên phát triển rất nhanh

- bán cổ phiếu cho ngời lao động trong nội bộ doanh nghiệp Hình thức này phát huy tốt vai trò làm chủ của ngời lao động nhng cũng nảy sinh những mâu thuẫn giữa thu nhập trớc mắt của họ với sự phát triển lau dài của doanh nghiệp

- cổ phần hoá dnnn bằng cách phát hành công khai cổ phiếu ra xã hộ trong đó các doanh nghiệp trực tiếp phát hành cổ phiếu trên thị trờng để tập chung vốn ,có doanh nghiệp phát hành qua hệ thống ngân hàng

- Trung quốc tiến hành cổ phần hoá dnnn theo thứ tự doanh nghiệp có quy mô nhỏ trớc quy mô vừa và lớn sau gắn với hình thành tập đoàn công ty cổ phần Trong chơng trình sắp xếp lại các doanh nghiệp loại nhỏ trung quốc rất coi trọng hình thức chuyển một phần sở hữu nhà nớc thành kinh tế hợp tác sở hữu của tập thể côn ng nhân viên chức (ngay từ những năm 1990 nhiều chính quyền địa phơng ở trung quốc đã đem bán hoặc đóng cửa hàng vạn dnnn có quy mô nhỏ trong

đó 40-50% đợc bán cho công nhân hoặc giám đốc đây đợc coi là cách làm khá an toàn về chính trị với chế độ sở hữu tập thể làm đại diện bảo

đảm việc làm và ảnh hởng của giám đốc trong doanh nghiệp ) Ngoài

ra trung quốc cũng coi trọng hình thức công ty cổ phần mà nhà nớc nắm cổ phần chi phối trong các doanh nghiệp lớn, nghành kinh tế quan trọng ,trụ cột Trung quốc coi đây là hình thức hợp lý để chắp nối mối quan hệ giữa chính phủ và doanh nghiệp, gữa kinh tế nhà nớc và kinh

tế t nhân Là hình thức tổ chức có thể đa các dnnn tham gia cạnh tranh quốc tế có hiệu quả ,bảo vệ lợi ích quốc gia trên thị trờng quốc tế

Trang 14

.Trung quốc quy định rõ loại dnnn cần cổ phần hoá riêng các dnnn hoạt

động trong nghành quốc phòng ,dầu mỏ ,năng lợng nguyên tử , hàng không ,cấp nớc ,điện lc nhà n… ớc cânf nắm giữ không thực hiện cổ phần hoá các loại doanh nghiệp khác đều đợc cổ phần hoá tuỳ tính chất ngành nghề mà qui đinh tỉ lệ cổ phần của nhà nớc ,trong công nghiệp nhà nớc có thể nắm giữ 25-30% cổ phiếu

- Tuy nhiên trung quốc coi cổ phần hoá chỉ là một trong những giải pháp để nâng cao sức sống của dnnn và tăng cờng vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nớc trong nền kinh tế nhiều thành phần vì vậy đơng nhiên cổ phần hoá dnnn ở trung quốc gặp không ít khó khăn phức tạp

- Tóm lại kinh nghiệm của các nớc cho chúng ta cả những bài học thành công và không thành công ,từ đó giúp ta có thể học hỏi những u điểm cũng nh tránh đợc những sai lầm mà các nớc đã mắc phải để có thể tiến hành quá trình cổ phần hoá một cách nhanh tróng và

có hiệu quả hơn ,đạt đợc những mục tiêu ,kế hoạch đã đặt ra ,góp phần phát triển nền kinh tế theo xu hớng chung của nền kinh tế thế giới

Trang 15

định kinh tế vĩ mô ;là lực lợng chính trong việc đảm bảo các sản phẩm dịch vụ công íchchủ yếu của xã hội Và trong nhiều năm qua Đảng vẫn luôn xác định “DNNN là thành phần kinh tế chủ đạo ” vì vậy DNNN không ngừng đợc đầu t phát triển mạnh mẽ về quy mô , tính

đến năm 1990 cả nớc đã có 12084 DNNN , khu vực này chiếm giữ hầu hết các ngành kinh tế quan trọng nh năng lợng , khai khoáng , hoá chất , chế tạo máy trong các ngành sản xuất hàng tiêu dùng chủ lực DNNN cũng chiếm tỷ trọng áp đảo (70% vải ,58% giấy , 70% xe đạp ,60% xà phòng) các ngành xây dựng ,vận tải , xuất nhập khẩu , thơng nghiệp cũng có tỷ trọng tuyệt đối

Tuy nhiên mặc dù đã đạt đợc những thành công nhất định , cũng nh luôn đợc đề cao trong nền kinh tế nhng DNNNcungx luôn gặp phải những vớng mắc đáng kể , tiêu biểu là những khó khăn sau :

- Thứ nhất : Trong công tác điều hành quản lý còn nhiều bất cập

Từ lâu việc không tách bạch giữa chủ sở hữu và ngời quản lý đã trở thành một rào cản đối với quá trình đi lên của DNNN Ta có thể so sánh một DNNN giống nh một chiếc xe hơi Chiếc xe có ngời chủ , ai đó bỏ tiền ra xắm xe , chiếc xe phải có ngời cầm lái Ông chủ cũng có thể đích thân lái chiếc xe , đó là một cách , cách khác là thuê tài xế Quyền của

Trang 16

ông chủ là khi chiếc xe vỡ hộp số thì đuổi ngời tài xế , không có chuyện anh tài xế không bao giờ bị đuổi Khiến nảy sinh vấn đềcần phải tách bạch giữa ngời chủ xe và anh tài xế Thế nhng trên thực tế đôi khi ngời tài xế lại ít phải chịu trách nhiệmvề những hỏng hóc của xe vì anh ta viện

đợc nhiều lý do xác đáng , và cũng có cả chuyện ngời chủ can thiệp quá sâu vào công việc của anh tài xế , bắt anh ta phải theo ý mình dù ông ta không có chuyên môn bằng anh tài xế Điều đó cũng giống nh tình hình các DNNNhiện nay với các bộ chủ quản của nó Mặc dù đã có nhiều chủ trơng xoá bỏ chủ quản nhng hiện trạng có quá nhiều cấp nhiều ngành trực tiếp can thiệp vào công việc kinh doanh của doanh nghiệp vẫn còn tiếp diễn Tình trạng phân cấp trên dới , ngang dọc cha rõ ràng đã gây ra tình trạng doanh nghiệp phải chiu sự kiểm tra , thanh tra , “tăng cờng quản lý” chồng chéo của quá nhiều ngành , nhiều cấp , gây ảnh hởng tới hoạt động của doanh nghiệp Hơn nữa lại không có sự phân định rõ ràng giữa các quyền nh : quyền quản lý của nhà nớc đối với doanh nghiệp , quyền sử dụng vốn với quyền chủ động kinh doanh của doanh nghiệp , quyền của

đại diện chủ sở hữu Mặc dù điều 27 luật DNNN quy định : quyền chủ

sở hữu đối với DNNN do chính phủ thống nhất thực hiện nhng hiện nay lại cha có nghị định hớng dẫn nên quyền chủ sở hữu đợc thực hiện theo các quyết định , thông t không ít các quy định của những văn bản này cha nhất quán với nhau , do vậy trên thực tế việc thực hiện quyền chủ sở hữu DNNNchuwa đợc thực hiện tốt , đôi khi chủ sở hữu buông lỏng nhiệm vụ giám sát của mình lại can thiệp quá sâu vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Bên cạnh đó hiện tợng đội ngũ cán bộ quản lý thiếu trình độ nghiệp vụ cũng là một vấn đề bức xúc cần giải quyết của DNNN

Theo Bộ Tài Chính thì ngay đội ngũ giám đốc các DNNN(theo thống kê năm 2000) có tới 67% khong biết đọc bản báo cáo tài chính hàng năm của doanh nghiệp , vậy làm sao họ có thể quản lý và sử dụng

đồng vốn có hiệu quả hơn Mặt khác đa số lại dợc đào tạo từ thời kỳ nền

Ngày đăng: 24/12/2012, 14:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w